📢 Hướng dẫn đăng bài viết Xem chi tiết »
📢 Diễn đàn Việt Nam Thư Quán đã hoạt động trở lại! Xem chi tiết »

Diễn Đàn » Thơ Sáng Tác

Tập hợp các bài thơ của tôi- Trương Đình.

4 trả lời, 1.223 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-01-10 05:49:39tdhien>
Đây là lần đầu tiên tôi post thơ của mình lên đây. Nay xin gửi trước 4 bài để quý vị cho nhận xét. Nếu có gì sai sót mong quý vị bỏ qua. Xin cám ơn.
 
MÔI EM LÀ TRIỆU ĐOÁ HOA HỒNG NỞ
(cảm tặng LTCN)
Em sinh ra trong gia đình cách mạng,
Khi Bắc Nam dã an định cõi bờ.
Sự nghiệp đang lên, địa vị đang chờ,
Chưa ba mươi, thành luật sư tên tuổi.

Nhưng thế giới đang từng ngày thay đổi,
Chủ nghĩa nào lại: Vô địch muôn năm?
Một chính quyền không xuất phát từ dân
Thì tham nhũng độc tài là tất yếu!
Người đi trước bị giáo điều vướng víu,
Người đi sau phải dũng cảm vượt lên.
Là thanh niên không thụ động, ươn hèn:
“Để ca ngợi bất công và bạo ngược,
Uốn gối trước cường quyền và mong được
Lượm hương thừa, phấn thải để qua ngày...” (1)
Khi hạ tầng cơ sở đã chuyển thay
Thì kiến trúc thượng tầng phải đổi mới (2)

Em đấu tranh để chúng ta đi tới
Thực sự tự do, dân chủ, công bằng.
Để ngoại bang hết can thiệp xâm lăng:
“Coi vi phạm nhân quyền là khủng bố”
Cô lập, ngục tù, em không run sợ,
Vẫn nụ cười kiêu hãnh trước công an.
Ôi! Nụ cười quá đẹp, đáng ngàn vàng,
Cả triệu đóa hoa hồng trên môi nở.
Nhìn em cười, lòng GIÀ vui tở mở
Đất Việt ơi! chưa vắng bóng anh hùng
những anh hùng coi thành bại như không
sẵn sàng chết cho quê hương đổi mới. 


                                                                        Cuối tháng 5/2007

(1): Trích thơ “Là thi sĩ” của tác giả Sóng Hồng (bút hiệu của cố Tổng Bí thư Trường Chinh).
(2): Theo CácMác thì hạ tầng cơ sở (kinh tế) quyết định cho việc xây dựng thượng tầng kiến trúc (văn hoá, chính trị).
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-01-10 05:46:35tdhien>
Gửi phi hành gia Dương Lợi Vỹ
 
Hoan hô Vỹ lái phi thuyền Thần-Châu bay 14 vòng quanh quả đất
Cả dân tộc Trung Hoa hả hê mà chúng tôi cũng vui mừng.
Con sư tử phương Đông đã vùng mình thức giấc:
Ngoại giao, kinh tài, khoa học, kỷ thuật … đại thành công.

Vỹ đã làm các nước Tây Âu xấu hổ
Vì nghiên cứu nhiều mà chưa lên được không gian
Gián tiếp trả lời tên đế quốc Anh kiêu ngạo:
“Cấm chó và người Tàu bén mãn đến công viên” (1)

Nhưng Vỹ ơi! Trung Quốc còn lắm điều trăn trở:
Một tràng pháo nổ vang không át được ngàn vạn tiếng thở dài.
Giải quyết làm sao liên tục có những người:
Rời bỏ quê hương, chết trong hầm tàu, xe đông lạnh?
Giải thích thế nào vụ Thiên An Môn bất hạnh (2)
Biết bao sinh viên ưu tú gục ngã trước họng súng các binh đoàn?
Trách nhiệm về ai, khi gần năm chục triệu hồn oan,
Không siêu thoát nỗi qua hai lần cách mạng? (3)
Từ cha con Đặng Tiểu Bình đến người dân trung sản,
Bị cưỡng bách đi cải tạo, đấu tố, nhục hình.
Còn nhớ Liên Xô: nước đầu tiên trên thế giới phóng được vệ tinh,
Với hai chục triệu Đảng viên vẫn không cứu nỗi chàng khổng lồ tan rã.
Ở Việt Nam, một thời Diệm rồi Thiệu cho mình ưu việt, anh minh hơn tất cả,
Lập Đảng kết bè thao túng giang san, tham nhũng độc tài. (4)
Bánh xe lịch sử quay không ngừng, chẳng kiêng nể một ai,
Làm lãnh đạo phải nhìn rõ xu thế toàn cầu, đừng duy ý chí.

DÂN QUÝ nhất, ĐẤT NƯỚC thứ hai, KẺ CẦM QUYỀN là NHẸ (5)
Có thật sự tự do, dân chủ, đồng thuận thì chế độ mới vững bền.
                                                                   02 / 2004
 
(1): Đây là yết thị tại các công viên ở Thượng Hải (thuộc tô giới Anhtrước1950).
(2): Năm 1988 sinh viên thanh niên Bắc Kinh biểu tình đòi tự do dân chủ tại Thiên An Môn nhưng bị các binh đoàn ở Tây Bắc về đàn áp.
(3): Hai lần cách mạng là cách mạng văn hoá và cách mạng ruộng đất
(4): Ngô Đình Diệm lập Đảng CẦN LAO, Nguyễn Văn Thiệu lập Đảng DÂN CHỦ.
(5): Dẫn lời Mạnh Tử: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”
Đăng nhập để trả lời
0
AI VIẾT LẠI SỬ VÀNG
 
Sửng sốt, bàng hòang, đau buồn, uất hận:
Thanh Hóa ơi! quê Tổ của ta ơi! (1)
Tàu Hải Nam gây tội ác tày trời,
Cướp ngư thuyền, giết ngư dân vô tội.
Vịnh Bắc Việt đã phân chia ranh giới,
Sao có người còn nuôi mộng xâm lăng,
Kìa gương sông Lô, Như nguyệt, Bạch đằng.
Kìa Lý Thường Kiệt, Ngô Quyền, Hưng Đạo.
Hợp tác tòan phần, láng giềng hữu hảo,
Là khởi đầu khối Đông Á thành công. (2)
Huống hồ Việt Trung nhiều điểm tương đồng,
Về chủ thuyết, về văn phong, xã hội.
Xu thế tòan cầu: tầm nhìn phải mới,
Ổn định lâu dài hướng đến tương lai.
 Vì lê dân, vì sinh mạng mỗi người,
Mọi tranh chấp giải quyết bằng thương thuyết.
Mất Hòang Sa, Ngụy Văn Thà tuẫn tiết, (3)
Hận Nam quan ai viết lại sử vàng.
Tháng 01/ 2005 


1. Thanh Hóa là quê Tổ của tác giả.
2. Các nước Asean, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn quốc dự định thành lập khối Đông Á. 
3. Tháng 01/1974 được sự thỏa thuận ngầm của Mỹ, hải quân Trung Quốc bao vây quần đảo Hòang Sa, thiếu tá Ngụy Văn Thà (VNCH) chỉ huy chiến trường xin lệnh chiến đấu, người quyết định cuối cùng là Nguyễn Văn Thiệu bảo phải chờ phối hợp với Hạm đội 7 của Mỹ đóng gần đó. Nhưng Hạm đội 7 lại bảo phải chờ ý kiến của Washinton. Mất tiên cơ lại thiếu tiếp viện nên Hòang Sa bị thất thủ, thiếu tá Thà tự tử, 54 chiến sĩ VNCH tử trận.
Đăng nhập để trả lời
0
THĂM LẠI SÓC TRĂNG
 
Năm mươi năm kỷ niệm ngày thành lập,
Hòang Diệu ơi! Ta về lại thăm trường.
Cũng con đường qua Bến Lức, Trung Lương,
Qua Mỹ  Thuận, Cần Thơ rồi Mỹ Tú.
Xưa, chật hẹp bị đào mương, đắp ụ,
Nay, khang trang như xa lộ trời Tây.
Trên tầng cao mây trắng nhởn nhơ bay,
Dưới sông rạch dòng phù sa bồi lắng,

Những khuôn mặt của một thời xa vắng,
Thoáng hiện ra trước dãy lớp, sân trường.
Nào Ngọc, Xuân, Răng, Lộc, Lục, Trúc, Sơn;
Nào Hoa, Phượng, Cường, Vân, Tâm, Phến, Sáu…
Hội nhập, về hưu, lưu đày, ẩn náu …
Mỗi cuộc đời một hoàn cảnh khác nhau.
Hạnh ngộ hôm nay, còn mấy người đâu?
Đêm nguyệt tận, hoa cuối mùa rồi nhỉ!
Người đưa đò, sau gần năm thập kỷ,
Về bến xưa nhớ lại khách sang sông.
Câu chuyện khuya, tình bạn cũ thêm nồng,
Chiếc bánh pía, ly trà sen thêm đậm.
Đây có phải lần cuối cùng đối ẩm?
Trên đât Sóc Trăng: Dấu ấn một thời.

Đồng nghiệp già, thế hệ trẻ ta ơi!
Hãy phấn đấu nâng tầm cao lên nữa.
Dù giáo dục còn lắm điều trăn trở:
Thì học chăm, dạy tốt vẫn làm đầu.
Lớp này qua, truyền kinh nghiệm lớp sau.
Cho Hòang Diệu sánh vai TRƯỜNG QUỐC TẾ.
(Tháng 11/2007)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-01-22 06:19:50tdhien>
CHUYỆN HAI PHẾ BINH BÁN VÉ SỐ
Tôi gặp hai anh một chiều mưa gió,
Kẻ xe lăn, người chống tó bên thềm,
Thân thẳng khiu, quần áo bạc ướt nhèm,
Xấp vé số còn trong tay dầy quá
Nhìn đôi mắt hai anh như hóa đá,
Nỗi xót xa tủi hận ngập lòng tôi
Đây những người từng ngang dọc một thời,
Từng dâng hiến đời trai cho tổ quốc
Cùng tranh đấu giành tự do hạnh phúc
Mà phân chia thành Quốc, Cộng, Chính, Tà
Lý tưởng nào gây bão táp phong ba
Các thế lực đối đầu nhau can thiệp
Lọt vào guồng máy chiến tranh khủng khiếp
Thân phận mỗi người như chiếc ốc con,
Hai mươi năm bao trận đánh kinh hồn:
Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài, Thường Đức,
Đường chín, Đắc Tô, Phước Long, Xuân Lộc …
Máu người Nam đẫm ướt đất Việt Nam
Sáu triệu ta đổi mấy vạn ngoại nhân
Nay còn đó bốn triệu người thương tật
Huynh đệ tương tàn, quê hương rách nát
Hai lăm năm thù hận vẫn chưa tan,
Hai lăm năm trong tụt hậu, nghèo nàn
Nợ, cũ mới thêm mỗi ngày chồng chất,
Hai anh ngày  xưa: trời Nam, đất Bắc,
Sau bể dâu trở thành bạn của nhau,
Thời buổi cạnh tranh: lắm kẻ mau giàu,
Một chữ ký có khi vô bạc tỷ.
Tội nghiệp hai anh ngày đêm không nghỉ,
Bán từng tờ vé số kiếm trăm đồng
Ở quê nhà vợ lam lũ ng ngóng trông,
Con thất học ăn bữa no, bữa đói
Tuy biết thế, nhưng làm sao bạn hỡi!
Vì chính tôi cũng nhiều nỗi lo toan
Trong túi này còn được chín mươi ngàn,
Mua giúp hết gọi là duyên tri ngộ
Nếu may mắn, ta giúp nhau vượt khó,
Hy vọng ngày: “Tất cả tốt đẹp hơn”
Đã có hòa bình thống nhất giang sơn,
Thì sớm muộn dân mình không nghèo nữa.
                                                     Noel 1999


TRONG NGHĨA TRANG GIA TỘC
Da trời tím, ánh hoàng hôn nhợt nhạt,
Gió hắt hiu, chim thoi thót gọi đàn.
Mấy tuần hương theo khói đá tỏa lan,
Ta thờ thẩn ngắm nhìn trong ảo giác…
Đây ngôi mộ Trương Quý Công VĂN THUẬN
Ba trăm năm đại phái nhất khởi đầu;
Sinh Đình Tri, truyền mười một đời sau,
Nay Minh Đức đích tôn là mười tám (1)
Đây phần mộ của Trương Hòe tổ phụ,
Thuở ấu thơ, cháu được nội dắt dìu.
Dẫn đi chơi, tập đọc sách, làm thơ
Chỉ phải, trái dở hay từng điển cố .
Đây phần mộ của người cha liệt sĩ,
Năm mươi năm khí tiết vẫn sáng ngời;
Cha dạy con sống: trọng nghĩa, khinh tài;
Biết yêu nước thương nòi là chân lý.
Góc phía trái là dãy mồ huynh đệ,
Tìm diệt nhau trong cuộc chiến tương tàn,
Cộng sản, quốc gia, tự do, nô lệ?
Càng nhìn ra, càng chua xót bẽ bàng.
Và lớp lớp các bà con thân thuộc,
Đã ít nhiều góp sức với quê hương.
Khi nhắm mắt, chỉ một niềm mơ ước:
Sao cháu con khỏi lạc hậu nghèo nàn
Hỡi những người từng cùng ta đối mặt,
Những mảnh đời từng u uất đắng cay.
Những oan hồn chưa đầu thai, siêu thoát,
Xin về đây chứng giám tấm lòng này.
Ta là gì trong cuộc đời này nhỉ,
Một nối ngang, ba dấu chấm … di truyền,
Chết thanh xuân hay sống tròn thế kỷ,
Vẫn tự hào mang dấu ấn Rồng Tiên.
Rồi mai mốt trong nghĩa trang gia tộc
Sẽ góp thêm một viên  đá mộ phần.
Làng Ái Nghĩa, xứ Thi Liên, Đại Lộc:
Có con về nằm bên cạnh tiền nhân.
                                                                                           Tháng 02/2002
(1) Ông Trương Văn Thuận đời thứ 6 của đại phái 1 Tộc Trương Ái Nghĩa sinh Đình Tri (đời thứ 7), truyền đến đời thứ 18 có cháu đích tôn là Minh Đức (năm nay đã 18 tuổi) là mười một đời. 
  

  
BẮC DU
(Tặng Bình, Xuân, Ngọc, Kim và các bạn VK chung tour)
Cuối đời ra Bắc thăm chơi,
Giữa xuân, phi cảng Nội Bài còn mưa.
Mơ hồ cảnh lạ, hồn xưa,
Chương Dương cầu mới, tháp Rùa hồ Tây.
Rượu mơ, chả cá no say,
Ngã kia Ngưng Bích, lối này Gia Lâm.
Phố khuya, hoa sữa hương thầm,
Gió lay lăng miếu, mưa dầm cửa Ô.
Một ngày Phát Diệm, Hoa Lư,
Một ngày Hương tích, mấy giờ Đồ sơn.
Bốc đồng chẳng tính thiệt hơn,
Gặp già Hương Cảng, cò con Hải Phòng.
Dong thuyền khắp vịnh Hạ Long
Trời thanh nước biếc, trứng rồng mượt xanh.
 Cùng nhau tâm sự, ghi hình
Sóng êm biển hận, gió lành nội thương
(Nước nòi qua buổi nhiễu nhương,
Nỗi đau lận đận, đoạn trường khôn khuây).
Mai này trở lại trời Tây,
Bạn ơi! Hãy nhớ những ngày quê hương.                                                  
 30/ 03/2001 
 


 
TIỄN CHÁU
Bốn mươi năm về trước:
Tiễn người yêu du học,
Bác vừa buồn, vừa vui
Thu vàng Tân Sơn Nhất
 
Buồn đời mình dang dỡ,
Đi tình cũng bay xa
Trót hai vai nặng nợ,
Đâu giữ được thiên nga.
 
Vui: bạn sang đất Pháp
Chóng phát triển tài năng,
 Vì quê hương học tập,
Thành đạt về giúp dân …
 
Hôm nay bác tiễn cháu,
Lên đường về Đài Loan
Nắng thu như nhuộm máu
Tim vỡ kẻ sang ngang
 
Bên người chồng xa lạ,
(Lạ phong tục, ngôn từ …)
Cháu như bị cống Hồ,
Chân bước xiêu muốn ngã
 
Đất nước mình giàu có:
Lắm nguyên liệu, nhân tài
Thống nhất bao năm rồi,
Dân vẫn nghèo vẫn khổ!
 
Xã hội đầy tệ nạn
Đầy ma quỷ liên minh;
Kẻ thất cơ: bi thảm,
Người quyền thế: giàu nhanh
 
Xưa bác trọng cha cháu:
Lòng tự hào Việt Nam;
Hãy không ngừng tranh đấu
Cho quốc thái, dân an
 
 Ai ngờ gia đình cháu:
Sống thanh bạch bao đời
Nay ngặt nghèo cơm áo,
Đành gã con xứ người

Cháu đi qua bên nớ,
May: được trồng lúa ngô;
Bán bánh: tiêu, bò, phở
Rủi: thành gái giang hồ
 
Cháu vào phòng cách ly,
Khuất rồi còn nghe khóc
Bác nghẹn ngào che mặt:
“Ta chẳng làm được gì”
Máy bay rền phi đạo,
Bác lủi thủi về nhà.
Ôi! Một đời con gái,
Giá hai ngàn đô la.
 
Cháu đã sống tận hiếu,
Như nàng Kiều trong thơ
Hồn bác còn lẻo đẽo,
Mộng Quang Trung thắm cờ.
                        1998-1999
Đăng nhập để trả lời
0