Chương 1
Giải
Mã Vũ Trụ – Quy Luật Tiến Hóa
Mã Vũ Trụ – Quy Luật Tiến Hóa
Từ khi thuyết tiến hoá của
Darwin ra đời (1859) và mặc dù được đa số các nhà khoa học
danh tiếng công nhận là hợp lý đúng theo khoa học, được giảng
dạy khắp nơi trên thế giới,
nhưng vẫn chưa có một mô
hình Toán hay thực nghiệm nào khác đưa ra để minh chứng cụ
thể, hoặc để làm sáng tỏ ý nghĩa thêm cho phần lý thuyết. Do
đó, đã có một thắc mắc nói chung về khoa học: Nếu trong
vũ trụ này có những định luật vật lý về chuyển động (Laws
of Motion) được diễn tả theo một công thức tính toán gần như
chính xác của luật hấp dẫn trọng trường, lực đẩy (Archimede)
của nước, hay sự truyền dẫn nhiệt năng v.v, thì tại sao chúng
ta không thể có một quy luật hay một công thức nào đó để tính
toán thời gian, áp dụng cho sự thay đổi và tiến hoá của vũ
trụ nói chung, hay cho trái đất và các loài sinh động vật nói
riêng, kể cả cho con người? Nên nhớ là không phải tất cả các quy
luật khoa học hay công thức tính toán nào cũng đều phải có độ
chính xác cao như khoa Vật Lý, nhất là khi áp dụng cho các
bộ môn khoa học về nhân văn hay kinh tế tài chánh.
Một suy luận bình thường cho
thấy: Nếu tất cả vật thể rơi tự do trong không gian đều phài
chịu chi phối bởi lực hấp dẫn trọng trường nói chung, thì
sự tiến hoá của các loài Sinh-Động
Vật trên trái đất này, nếu
nói theo ngôn ngữ vật lý, đã và đang “rơi tự do” từ lúc vũ trụ mới
khai sinh cho đến hiện tại, cũng có thể phải chịu tác động
theo một trật tự hay quy luật nhất
định nào đó (?). Suy diễn từ ý tưởng trên đã
cho ra một kết luận khá lô-gích là: Phải có một quy luật về thời
gian vật lý nào đó để áp dụng cho sự thay đổi và tiến hóa cuả
các loài Sinh-Động-Vật trên trái đất này. Nếu không, thì có lẽ
sự tiến hóa cuả vạn vật đã trở thành rối loạn, mất trật tự
và không cân bằng, biến trái đất thành một hành tinh chết, hay ngay đến
cả vũ trụ này cũng chưa chắc tồn tại và vận hành như chúng ta
thấy được hiện nay(!?)
Kết quả từ suy luận đó cho
ra, như đã giới thiệu sơ lược ở trên, một sự liên kết và so sánh
khá ấn tượng giữa luật hấp dẫn trọng trường cuả vật thể rơi
tự do, và quy luật tiến hoá cuả các
loài Sinh-Động-Vật nói
chung, kể cả con người, dựa vào một số dữ kiện chính sau đây:
Trước khi phát hiện ra lực
gia tốc G, Newton đã quan sát các vật thể hay trái táo rơi và
có thắc mắc là tại sao tất cả các trái táo đều rơi xuống đất mà
không có cái nào rơi ngược trở lại ra ngoài không gian. Kết luận của
Newton khá đơn giản là phải nhờ có một lực nào đó kéo
trái táo về hướng trái đất. Một cách giống tương tự như vậy nếu
chúng ta quan sát lịch sử tiến hoá của các loài Sinh-Động-Vật,
tất cả đều cho thấy có sự thay đổi liên tục sau mỗi thế hệ, để
cho ra các hậu duệ mới kế tiếp và thường là tốt đẹp và tiến bộ
nhiều hơn theo chiều hướng tương lai. Nghĩa là nếu nói theo
cách khác, xã hội con người nói chung, càng ngày càng văn
minh và tiến bộ với một tốc độ thay đổi nhanh hơn so với tiền
nhân cuả mình. Đây phải là tiến trình thay đổi nhất định và
không thể làm cho đảo ngược lại được. Cụ thể minh chứng cho
thấy lịch sử của 1000 năm trong thiên kỷ thứ 2 đã thay đổi
khá nhiều trong hai thế kỷ cuối cùng nếu so với 8 thế kỷ trước
đó, nhất là về phương diện khoa học
và kỹ thuật. Ngay cả tuổi thọ
trung bình của con người cũng đã gia tăng nhanh chóng đáng kể,
nếu so sánh thế kỷ 20 với những thế kỷ trước.
Đồng thời và ngược lại,
trong quá khứ mấy ngàn năm lịch sử, tập thể hay xã hội nào chọn
con đường quá bảo thủ hay không muốn thay đổi nhiều để theo
kịp đà tiến bộ, thì chắn chắn hầu hết đã bị chậm tiến và tụt hậu,
rồi cuối cùng cũng đưa đến hậu quả là bị chiếm đoạt hay mất
luôn chủ quyền quốc gia vào tay các xã hội văn minh và tiến
bộ hơn. Cụ thể như là số phận của các bộ tộc hùng mạnh trước
Công Nguyên ở Phi Châu và Trung Đông, đã bị tụt hậu
trong thiên niên kỷ đầu tiên, hay các nước Á Châu bị chậm tiến
trong hai thế kỷ 19, 20,v.v.
Trở lại chủ đề chính, đa số
chúng ta đều biết là muốn xác định được luật hấp dẫn trọng trường
hay còn gọi là luật rơi tự do của một vật thể, các nhà
khoa học đã làm những thí nghiệm cụ thể và đơn giản để chứng
minh như sau: Thả một vật rơi tự do trong một môi trường lý tưởng
và xác định vị trí cuả vật thể đó sau một khoảng thời gian bằng
nhau nhất định. Vị trí của những vật rơi xác định nói
trên tại mỗi thời điểm được ghi nhận và gọi là “Dữ kiện khoa
học”. Kế đến, dùng kết quả thí nghiệm đó để nghiên cứu và tìm ra mô hình toán
cho những liên hệ vật lý của sự rơi, dựa trên những dữ kiện có được . Cụ thể
như hình A sau đây cho thấy:

Các nhà khoa học đã thả một
vật rơi và chụp hình vị trí cuả vật thể đó sau mỗi 1/20 giây. Kết
quả nhận xét cho thấy khoảng cách hay vị trí của vật rơi
tự do là một hàm số tỷ lệ thuận với bình phương của thời
gian. Tương tự giống như thí nghiệm vật lý về vật rơi tự do nói
trên, công việc đi tìm một quy luật cho thuyết tiến hoá gồm có ba
công đoạn chính:
1. Nhận diện và xác định các
nền văn minh chính của nhân loại, dựa trên những dữ kiện
lịch sử đã có và đáng tin cậy trong mấy ngàn năm qua. May
mắn là chúng ta đã có ít nhất
hơn hai ngàn năm lịch sử thế
giới được ghi chép khá đầy đủ, và ít nhất là thêm vài ngàn
năm nữa với các di tích văn hoá đã được phát hiện hay tìm thấy
mới đây như lăng mộ, cổ vật, xương cốt và dụng cụ sinh hoạt
hàng ngày. Lịch sử thế giới qua mấy ngàn năm cũng cho thấy,
một nền văn minh lớn thường là được thừa hưởng
hay kế thừa từ các nền văn minh nhỏ hơn trước đó quy tụ lại.
Từ đó, theo định nghĩa thực tế, một nền văn minh chính và lớn
nhất, đại diện cho một thời đại, phải là một nền văn minh dẫn
đầu thế giới trong cả ba lãnh vực trọng yếu: Kinh tế, Quân sự
và Khoa học-Kỹ thuật.
2. Dựa trên các dữ kiện đã
có và được kiểm chứng nói trên, chúng ta sẽ thử đi tìm một
mô hình toán cơ bản, biểu thị tổng quát cho sự liên kết của các
dữ kiện lịch sử lại với nhau một
cách hợp lý, để có thể gọi
chung là quy luật Tiến Hoá.
3. Sau cùng, mô hình toán
tìm thấy sẽ được áp dụng trong phương pháp tính ngược trở lại
cho tới thời điểm khai sinh ra Vũ trụ, Thái dương hệ, và tất
cả các nguyên đại kế tiếp theo
sau đó. Mục đích chính là
dùng để kiểm chứng lại phần lý thuyết đưa ra của mô hình
Toán đã được trình bày.
1.1 Nhận diện các nền Văn
Minh Chính
Trong lịch sử được ghi chép
lại hơn mấy ngàn năm của thế giới, chúng ta thấy có sự hiện
diện của hàng trăm nền văn minh lớn nhỏ khác nhau. Một
số ít các nền văn minh này thường tập trung vào trong một
vùng miền địa lý riêng biệt nào đó, thường là trong những
vùng châu thổ gần các con sông chính, hay trên các bình
nguyên rộng lớn xuất hiện sau đó. Nhờ vậy, cũng không khó để
nhận diện ra được một số các nền văn minh chính và lớn nhất,
dựa vào một yếu tố duy nhất mà hầu hết đa số các sử gia đều
công nhận: Đã từng một lần quản lý hay cai trị nhiều lãnh thổ
có tổng số diện tích lớn hơn rất nhiều, nếu so với tất cả các
nền văn minh khác trong cùng một thời gian đang nói đến. Sở
dĩ chỉ cần có yếu tố nói trên là vì nếu muốn chiếm đóng được nhiều
đất đai làm thuộc địa và để bảo vệ quyền hành cai trị
lâu dài, phải cần có khả năng tài chánh để duy trì một quân đội
thật hùng mạnh với vũ khí tối tân hơn đối phương, và dĩ
nhiên trên hết là còn phải có một nền tảng khoa học và kỹ thuật
tiên tiến.
Cụ thể như Tây Ban Nha (TBN)
trong hai thế kỷ 16, 17 cũng được coi là một nền văn minh
lớn của Âu Châu, trong thời kỳ “Phục Sinh” (Renaissance) vì
đã từng tiên phong đi thám hiểm chiếm đóng đất đai và có nhiều
thuộc địa ở Châu Mỹ, v.v. Dù vậy, TBN không được coi là một
nền văn minh lớn nhất và đại diện của châu Âu, do tổng số
diện tích lãnh thổ cai trị không bằng 1/4 nếu so với lãnh thổ
của đế quốc Anh trong thời kỳ cực điểm sau đó. Nhưng lý do
chính trên hết và quan trọng nhất là vào thời kỳ cực thịnh
trong thế kỷ 17, TBN vẫn còn chưa bỏ xa hay vượt qua được
Trung Hoa về quân sự cũng như khoa học và kỹ thuật. Có thể ví TBN cũng giống
tương tự như Hy-Lạp trước đó, chỉ đóng vai trò của một nền văn
minh tiên phong đi khai phá, để sau cùng chuyển giao lại cho
các nền văn minh kế thừa lớn mạnh hơn, tiếp nối theo sau ở
Âu châu. Tóm lại, không khó để nhận
diện ra một vài nền văn minh chính và lớn nhất của nhân loại trong quá khứ, nếu
chỉ dựa trên yếu tố đã từng một thời cai trị hay quản lý một
diện tích đất đai rộng và lớn nhất trong vùng điạ lý chính trị
có ảnh hưởng trên thế giới, theo thứ tự thời gian như sau:
Văn Minh Đế Quốc Diện Tích Cực Điểm Văn Hóa
(Km2) (Năm)
*Phi Châu Ai Cập ??? 2540 BC Bàn Tay - Xây dựng
*Trung-Đông La Mã 6.5 Tr. 117
AD SinhDục - Thẩm mỹ
*Á Châu Nguyên-Mông 33.0 Tr. 1279
AD Ruột - Bụng - Ẩm thực
*Âu Châu Anh 33.7 Tr. 1919
AD Ngực - Trái tim - Ái tình
Trong các nền văn minh nói
tṛên, chỉ có đế quốc Ai-Cập là thiếu tài liệu ghi chép đầy
đủ về sự hùng mạnh hay thời kỳ cực thịnh của các vương triều
cai quản. Lý do chính vẫn là phương tiện ghi chép còn quá hạn hẹp
và thô sơ vào thời đại này. Tuy nhiên, với nhóm Kim-Tự-Tháp
vĩ đại để lại cho hậu thế, trở thành kỳ quan số 1 của nhân
loại với nhiều ngưỡng mộ và thán phục từ các chuyên gia về kỹ
thuật xây dựng hiện nay, thì có thể khẳng định được đó là thời
kỳ cực đỉnh nhất của nền văn minh Phi Châu, dưới sự cai
trị của đế quốc Ai Cập thời bấy giờ. Do đó, thời gian hoàn tất
xong Kim-Tự-Tháp lớn nhất ở Giza vào khoảng năm 2540 BC,
có thể coi như thời kỳ cực điểm nhất được chọn. Ngoài
ra, ngay cả nếu có sai số vài chục năm hay ngay cả trăm năm đối
với chiều dài lịch sử cách đây hơn mấy ngàn năm thì vẫn còn
có thể chấp nhận được, chưa nói đến ba dữ kiện lịch sử
còn lại khá chính xác và đúng hơn rất nhiều, sẽ ưu tiên được
dùng để làm chuẩn mực so sánh.

Tất cả các dữ kiện nói trên
được đưa vào đồ thị biểu diễn theo hai trục chính là thời gian
với con số Năm chỉ thời điểm cực đỉnh, số thứ tự của các nền
văn minh chính và lớn nhất, như được phác họa ra một cách
chi tiết trong hình B sau đây:

Từ các con số chỉ khoảng cách (mảu đỏ) cực điểm của hai nền văn minh kế tiếp nhau, bắt đầu từ trên cùng là đế quốc Anh xuống Nguyên-Mông, v.v, cho ra các con số sai biệt sau: 640,1162 và 2657. Nhìn vào kết quả nói trên, chúng ta có thể thấy ngay là đã có một sự liên hệ gần như thẳng đường (tuyến-tính) giữa ba số với nhau theo cấp số nhân trung bình là 2, nếu dùng phương pháp chỉnh đường tuyến-tính (Linear Regression) trong khoa Thống-kê.
Kết quả tạm thời ở trên cho thấy là khoảng cách thời gian để chuyển giao quyền lực giữa hai nền văn minh chính và lớn nhất trên thế giới càng ngày càng rút ngắn lại gần một nữa
(1/2). Nói cách khác cho dễ hiểu, các nền văn minh chính và lớn nhất trên thế giới đã và đang chuyền tay nhau với tốc độ nhanh hơn bằng hai lần trước đó. Đồng thời, cũng có thêm minh chứng cụ thể cho lý thuyết tiến hoá là thế giới con người càng ngày càng văn minh tiến bộ nhanh hơn sau mỗi thế hệ.
Kết luận tạm thời có được nói trên, thật ra cũng không phải là mới lạ gì. Đó chỉ thuần là một khái niệm cơ bản về năng suất làm việc của các công ty hay hãng xưởng. Năng suất càng tăng lên cao thì thời gian công việc càng giảm xuống. Thật vậy, nếu coi các loài sinh động vật trên thế giới kể cả con người, đều có đóng góp công sức vào cho những tiến bộ và thay đổi của cả thế giới, thì rõ ràng là thế giới phải thay đổi và tiến bộ ngày càng nhanh hơn, với lý do đơn giản là năng suất và dân số của cả thế giới ngày càng tăng nhiều và nhanh hơn. Cụ thể thí dụ đơn giản là nếu 1 người thợ xây bức tường gạch mất 2 ngày thì
2 người thợ cùng làm sẽ chỉ mất khoảng 1 ngày, v.v. Còn lý do tại sao là con số 2, mà không là 3 hay 4, vv? Câu trả lời đơn giản chỉ vì số 2 là con số Nguyên lớn hơn và gần nhất
với con số 1. Nhưng lý do chính yếu là nguyên tắc quân bằng trong triết học Nhị nguyên của Dịch lý: Sự quân bằng của vạn vật tồn tại khi hai thế lực Âm Dương gần bằng nhau. Nếu có một bên Dương hay Âm quá mạnh và nhiều hơn, thì cơ cấu sẽ bị mất quân bằng và đưa đến thay đổi hay sụp đổ toàn diện. Thí dụ cụ thể giống như cơ cấu chính trị trong các xã hội dân chủ tiến bộ như quốc hội của Hoa kỳ. Nếu phe thiểu số hay chống đối trong quốc hội dành được đa số ghế nhiều hơn chỉ một phiếu thôi, thì coi như phe thiểu số đã làm cuộc “cách mạng”, thay thế đảng đang nắm quyền lập pháp.
1.2 Dữ Kiện Lịch Sử-DịchLý
Lấy thí dụ hình ảnh cuả con người sau một giấc ngủ dài thức dậy, thấy mình đang ngồi trên một con tàu chạy giữa đại dương mênh mông, chỉ biết hướng đi và tốc độ của con tàu,
nhưng dữ kiện quan trọng nhất cần biết là làm sao định vị được con tàu đang ở đâu (?). Để giải quyết được vấn nạn trên, chúng ta cần phài biết đến lộ trỉnh hay bản đồ di chuyển của con tàu. Nói cách khác, để biết được lịch sử của nhân loại đã và đang di chuyển đến vị trí nào thì chúng ta cần phải dùng đến lý thuyết cơ bản từ một nền khoa học chân chính và cổ xưa nhất của Đông Phương Học, Dịch lý. May mắn đặc biệt xuất hiện ở đây là đã có sự trùng hợp ngẫu nhiên và liên hệ khá tốt đẹp giữa thuyết tiến hoá và bộ môn khoa học đáng tin cậy nhất của phương Đông. Dịch lý cơ bản hay còn gọi là Kinh Dịch (I-Ching, Book of Change, *1-*9 ), giải thích hiện tượng tạo thành vũ trụ qua biểu tượng của quẻ Dịch gồm có tất cả hai (2) quái hay sáu (6) hào, sắp theo thứ tự và thay đổi từ hào 1 dưới chót, dần lên trên cao nhất là hào thứ 6, và dựa vào theo cấp số nhân 2 (Xin chú ý: Vì những giới
hạn về hình thức trình bày nội dung của chương 1 này, người viết xin dời phần giải thích chi tiết vể sự tạo thành vũ trụ trong chương theo sau, cùng những minh chứng cụ thể khác cho
những biểu tượng về văn hoá của các Hào trong Dịch lý, qua phân đoạn nói về các nền văn minh nhân loại.)
Trước hết, xin nhắc lại sơ qua lý thuyết căn bản của Dịch lý trong việc giải thích sự thành vũ trụ và vạn vật. Theo Dịch lý thì khởi đầu của vũ trụ là một khối đồng nhất hỗn mang mù mịt, không có là gì cả, mà là tất cả và đươc gọi là Thái cực, biều tượng bằng một vạch Dương nằm ngang, còn goi là hào 1 đầu tiên trong 6 hào của một quẻ Dịch (*2, *3, *4). Tiếp theo, Dịch lý cho là do duyên khởi mà sinh ra cái gọi là Dương, thì đồng thời và lập tức cả khối thái cực còn lại tự nhiên cũng trở thành Âm. Dương lớn dần cho đến bằng với
Âm là chấm dứt giai đoạn 1 gọi là Lưỡng Nghi (*5). Thời kỳ này hiểu theo Dịch lý cũng là lúc vũ trụ đang được “thai nghén” thành hình, trước khi “khai hoa nở nhuỵ” bằng một hiện tượng mà các khoa học gia ngày nay gọi là “Big Bang” hay vụ nổ lớn khai sinh ra vũ trụ (Hình 11).
Thời kỳ thứ hai tiếp tục, cả hào Dương và Âm cùng lớn dần và thay đổi, cho ra hai (2) hào bao gồm 4 thành phần kết hợp gọi là Tứ Tượng. Biểu tượng cho 4 thành phần trên còn gọi là
Kim, Hỏa, Phong(hay Mộc), và Thủy. Thời kỳ này tương đương với việc thành lập giải ngân hà hay các hành tinh khác trong Thái Dương Hệ (Hình 12). Chưa có hành Thổ vì trái đất chỉ mới xuất hiện trong tình trạng phôi thai chưa có gì, giống như một khối cầu còn quá nóng, đang kết tụ lại và nguội dần.
Thời kỳ kế tiếp hào thứ Ba (3) sinh ra Bát Quái gồm 8 đặc tính gọi là: Thiên, Trạch, hỏa, Lôi, Phong, Thủy, Sơn, và Ðịa. Ở đây trong giai đoạn này, tám (8) đặc tính trên gợi ý cho thấy
khái niệm về núi, sông, đất, các loài thảo mộc, và sau cùng là những sinh vật hạ đẳng sống trong đại dương đã thành hình như các loài sứa hay giun biển (Hình 13). Cuối thời kỳ này các vi-sinh vật bắt đầu xuất hiện do kết hợp và thay đổi của một hay nhiều tế bào hữu cơ.
Tiếp tục gia tăng theo thứ tự thay đổi và tiến hoá lên 4, 5 rổi 6 hào để thành quái thứ 2, hợp nhau với quái thứ 1 để hoàn tất quẻ Dịch gồm có tổng cộng 2 quái và 6 hào. Hai quái vừa nói cũng còn được gọi là Tiên Thiên và Hậu Thiên (*6). Đến đây, tưởng cũng cần sơ lược qua hai ứng dụng thuộc về không gian theo vị trí sắp đặt của hai quái, ám chỉ hai đặc tính quan trọng của Dịch lý dựa vào khoa Hình-Tượng học như sau:
Thứ nhất, nghĩa rộng của hai quái Tiên và Hậu thiên ám chỉ văn minh trái đất bao gồm hai Kỷ Nguyên; một Kỷ Nguyên ở đại dương hay cao độ âm dưới mặt biển, nếu chọn mặt nước
biển là số không(0), và một Kỷ Nguyên trên đất liền hay ở cao độ dương. Thứ hai, dựa vào môn cơ thể học, ám chỉ những thay đổi tiến hóa về thể xác của các loài động vật, kể cả con người, xuyên qua việc thay đổi và làm cho hoàn hảo dần các bộ phận trong cơ thể. Lập thuyết từ Dịch lý (*5, *6, *7) cho rằng vì con người được coi như là giống sinh vật thượng đẳng sau cùng trong chuổi tiến hóa của các loài sinh động vật, nên đồ hình dịch lý gồm có tất cả sáu hào (tính cho tới thời điểm trước khi xuất hiện bộ sách Chu Dịch, cách đây hơn 3000 năm), biểu thị tượng trưng cho các bộ phận chính của cơ thể con người, được hoàn chỉnh và phát triển trong mỗi chu kỳ thời đại.
Nhớ lại bài học cách trí sơ đẳng là cơ thể người ta chia ra làm ba (3) phần: Đầu, Mình, và Chân Tay như thế nào, thì sáu (6) hào trong hai quái Dịch cũng nằm theo vị trí gần giống y như vậy (Hình C).

Ngoài ra, còn có một sự liên tưởng và trùng hợp rất ấn tượng là trong kinh Cựu-Ước của Thiên Chúa Giáo xuất hiện cách đây hơn 7000 năm, cũng có viết là “Thượng Đế” hay Thiên
Chuá đã tạo dựng ra vũ trụ và con người trong vòng 6 “Ngày”, và đến “Ngày” thứ 7 thì Chúa nghỉ! Phải chăng cũng có một ý nghĩa tương tự giống như 6 Hào hay 6 Nguyên Đại
trong Dịch Lý(?).
Mặt khác, dưới góc nhìn triết lý hay thần học của tôn giáo, có khi nào đó cũng là một thông điệp từ “Thượng Đế” cho thấy con người văn minh hiện đại phải bắt đầu chịu trách nhiệm tội lỗi trong các việc làm của mình. Giống như những con cái đã trưởng thành và đủ sự thông minh để quyết định cho số phận của chính mình, mà “Đức Cha Trời” không cần phải làm giùm hay áp đặt ý muốn khuyên răng như lúc con cái còn thơ ấu(!?). Bởi chỉ có như vậy thì con người mới phải chịu trách nhiệm những tội lỗi do chính mình gây ra.
Sau cùng, lời giải thích còn lại là một sự trùng hợp ngẫu nhiên về nghiên cứu khoa học thời bấy giờ giữa hai nền văn minh cách xa nhau hàng ngàn dậm, và cũng có thể đã là kết quả của những thông tin truyền giáo chính thức qua con đường tơ lụa (Silk Road)? Nhưng dù bằng cách nào thì sự trùng hợp về sáu (6) giai đoạn nói trên cũng rất là có ý nghĩa theo đúng với thời gian. Tiếp theo như đã trình bày trong lý thuyết về Dịch lý, mọi sự vật trong vũ trụ này đều phải chuyển động và thay đổi không ngừng. Ðiều mà thuyết tiến hóa của Darwin đã khẳng định, được kiểm chứng theo khoa học hiện đại và không còn gì để nghi ngờ nữa. Nhưng chắc sẽ gây ngạc nhiên và thắc mắc cho đa số các nhà nghiên cứu về Dịch lý. Quẻ Dịch chỉ có tất cả là 6 hào, mà hào 6 xuất hiện cuối củng lại là biểu tượng cho thời đại thuộc về người tiền sử, trước khi bộ sách Chu Dịch hay Dịch lý có mặt cách đây đã hơn 3000 năm, thì thời đại tiếp theo sau đó cho tới hiện nay của thế giới con người văn minh trong hơn 30 thế kỷ vừa qua, sẽ nằm ở đâu trong 6 hào nói trên, sau khi bộ sách Chu Dịch đã ra đời? Câu trả lời sẽ là kết quả đương nhiên từ một câu hỏi: Nếu những diễn tiến của vũ trụ này, từ lúc mới khai sinh cho đến khi bắt đầu xuất hiện giống người văn minh, đã được gia tăng từ hào số 1 đến hào số 6 rồi (nghĩa là có tất cả 2**6 = 64 quẻ), thì tại sao lại không thể tiếp tục gia tăng lên đến các hào thứ 7, 2**7 = 128 quẻ (*7, *13, *14), hay xa hơn là 8, có 2**8 = 256 quẻ, và 9, có 2**9 = 512 quẻ, hoặc các giai đoạn kế tiếp theo sau và cao hơn nữa?
Dĩ nhiên, câu trả lời là phải đúng như vậy, vì thế giới và con người hiện nay đang trên đà phát triển và tiến bộ không ngừng, nên không có lý do gì để bị chận đứng hay ngừng hẳn lại, chỉ trừ trường hợp có những thiên tai khủng khiếp hay tận thế. Nhưng xác xuất để những chuyện đó xày ra là quá nhỏ cho thời gian trong vòng năm trăm năm nữa. Từ đó suy ra, thế giới văn minh loài người hiện sống trong nguyên đại thứ Bảy, hay đang trong vòng ảnh hưởng hào 7 của Dịch lý, giai đoạn đang được hình thành nhưng chưa hoàn tất.
Ðây có thể là một trong số rất ít những nghiên cứu và khám phá quan trọng chính yếu về “Biến-Động” của Dịch lý mà các nhà nghiên cứu từ xưa đã mơ hồ cảm thấy được, nhưng có thể vì một lý do lịch sử nào đó, đã không truyền lại được cho các thế hệ đời sau, và coi như bị thất truyền luôn (!? *6, *7). Điều trùng hợp ở đây là 6 hào hay hai quái đầu tiên đã ứng dụng vào 2 kỷ nguyên thuộc Đại Dương và Mặt Đất, còn hai quái sắp tới sẽ xuất hiện trong tương lai gồm có các hào 7, 8, 9, và 10, 11, 12, chắc chắn sẽ thuộc về hai kỷ nguyên của Không Gian (7, 8, 9) và Thời Gian (10, 11, 12). Một sự tương đồng của hệ thống liên kết 4 quái nói trên có thể được so sánh giống như 4 trục chính X, Y, Z, và T trong toán học. Dĩ nhiên là trí tuệ của các bậc “Thánh Nhân” trong tương lai còn có thể đi xa và hiểu hơn nữa.
Chìa khóa chính cuối cùng để mở ra và hiểu luật tiến hóa là đi tìm cột mốc thời gian nối liền các nền văn minh hiện đại với các hào của quẻ Dịch, qua các biểu tượng về văn hoá. Đó là kết quả sau cùng của một thắc mắc hay sự tò mò trí tuệ xuất hiện, khi có ai đó đã tình cờ nhận thấy tại sao đa số người gốc châu Á thường biểu lộ tình cảm trung thực bằng cách dùng những từ ngữ chứa đựng nhiều hình ảnh thuộc về thân thể của phần Bụng như: Lòng, Ruột, Gan,v.v. Cụ thể như: “Xin hiểu cho 'lòng' anh..”; “Trời hởi! 'lòng dạ' con người thật là ...”; “Ai dám cả 'gan'...”, “Buồn thúi 'Ruột'”,v.v. Trong khi đó thì các sắc dân châu Âu lại dùng các biều tượng văn hóa về “Trái Tim” như:“..Từ tận đáy 'tim' anh...”; “... hứa sẽ làm bằng cả 'trái tim' ...”; “'Trái tim' ngọt ngào của em...”, v.v. Ngay cả khi có những cảm xúc cực đoan như tự tử theo truyền thống hy sinh thì các Kiếm-sĩ Trung quốc hay các Samurai Nhật dùng cách mổ bụng moi gan ruột ra ngoài, trong khi các Hiệp sĩ bên châu Âu thì dùng gươm đâm thẳng vào ngực, hay bắn ngay trái tim!
Thêm vào cho những minh chứng cụ thể nói trên bằng các hình ảnh khác, chúng ta còn thấy nền văn minh Hy-Lạp hay Ấn-Độ chịu ảnh hưởng của La-Mã thường chú trọng nhiều về vấn đề Sinh lý, qua các bức tượng điêu khắc bộ phận sinh dục Nam Nữ, hay tượng khỏa thân như thần Vệ-Nữ hay thần Tính-Dục làm biểu tượng văn hoá chính. Chính những biểu tượng tình dục gợi cảm và tốt đẹp đó đã đóng góp rất nhiều vào ý thức vệ sinh cá nhân và khuyến khích cho những khế ước lâu dài về hôn nhân hay công việc làm gia tăng dân số thế giới.
Trước đó xa hơn nữa, nền văn minh Ai-Cập lại chủ động tôn thờ “Bàn Tay” của các vị thần như là phép lạ của thần linh ban cho con người, qua sự khéo léo chế tạo các sản vật, làm thức ăn và đồ dùng mang lại sự giàu sang thịnh vượng cho xã hội. Kim Tự Tháp đã là một kỳ quan được xây dựng hoàn toàn dựa trên những kỹ thuật xây dựng bằng Tay của nền văn minh Ai-Cập. Tục lệ đeo nữ trang vòng vàng trên cổ tay, hay những vũ nữ muá tay khéo léo truyền lại cho đến ngày nay, đều đã bắt đầu xuất hiện từ thời đại này. Ngay cả trong thời kỳ đó, luật lệ hình phạt tội nặng nhất sau cái chết là bị chặt luôn cả hai tay.
Như vậy tính ra trước khi có con người văn minh hiện đại xuất hiện vào nguyên đại 7 (Hào thứ 7 trong hình vẽ), thì đã có tổng cộng 21 nền văn minh hay Kỷ-Nguyên Tiến-Hoá (KNTH) của tất cả 6 nguyên đại đã từng xuất hiện trong vũ trụ và thế giới của các loài sinh-động vật. Do mỗi nguyên đại đều phải có tối thiểu một số KNTH bằng với số thứ tự của nguyên đại đó. Cụ thể: Nguyên đại 6 phải qua hết tất cả 6 KNTH; Nguyên đại 5 có tất cả 5 KNTH, v.v. Tổng cộng các KNTH từ nguyên đại 1 đến 6 là: 1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6 = 21. Từ đó, nếu liên kết và xác định rõ được vị trí của các KNTH qua biểu tượng văn hóa của các bộ phận chính trong cơ thể con người, chúng ta có thể tiếp tục khẳng định được luôn vị trí tiếp theo của các nền văn minh chính và lớn nhất theo thứ tự như sau:
Văn minh Anh-Quốc là nền văn minh thứ 5 của nguyên đại 7, hay còn là KNTH thứ 26 kể từ khi vũ trụ khai sinh ra đời. Suy từ đó ra văn minh Á Châu là nền văn minh hay KNTH thứ 25, văn minh Trung Đông (Địa Trung Hải-La Mã) là KNTH thứ 24, văn minh Phi châu (Ai-Cập) là KNTH thứ 23, và văn minh xích đạo, khởi đầu cho con người văn minh tiến bộ là KNTH thứ 22.
1.3 Mô Hình Toán
Trở lại với hình ảnh thí dụ của con tàu đang chạy giữa đại dương mênh mông. Ngoài thông tin đã biết về hướng đi cùng với vận tốc con tàu, nếu chúng ta còn biết thêm được vị trí con tàu đang chạy ở đâu, thì chắc chắn với số nhiên liệu đã tiêu thụ và còn lại, chúng ta cũng sẽ tính ra và biết chắc được hai chuyện: Một, con tàu đã bắt đầu cuộc hảnh trình từ lúc nào? Hai là, sẽ đưa chúng ta về đâu trong một khoảng thời gian nhất định nào đó trong tương lai (?) Tóm tắt lại những dữ kiện lịch sử đã có:
Khoảng cách thời gian cực đỉnh của nền văn minh Âu châu-Đế Quốc Anh được lấy làm chuẩn, đi ngược xuống lại các nền văn minh trước đó như Á châu- Đế Quốc Nguyên-Mông; Trung Đông-Đế Quốc La-Mã; và Phi Châu- Đế Quốc Ai-Cập lần lượt theo thứ tự là: 640 (1919-1279), 1802 (1919-117) và 4459 (1919-(2540 BC)=1919+2540)năm.
Lý thuyết được đưa ra đây là: Thời điểm chuyển giao giữa hai nền văn minh kế tiếp và liên tục với nhau, từ lúc khai sinh ra vũ trụ cho đến hiện tại, đều thay đổi và tiến hoá nhanh hơn
theo cấp số nhân 2, nghĩa là nhanh hơn trước đó chừng gấp hai lần, hay với thời gian rút ngắn lại chỉ còn khoảng chừng một nữa (1/2). Theo quy ước thứ tự của các kỷ nguyên tiến hoá, nguyên đại hay thời kỳ đã được suy tính ra từ sáu Hào của quẻ Dịch lý, các nền văn minh Phi Châu, Trung-Đông, Á Châu và Âu châu có vị trí theo đúng thứ bậc là 23, 24,25 và 26.
Bây giờ nếu dùng một phép toán đơn giản: Gọi X là “Tổng số thời gian” có được của vũ trụ và các nền văn minh trên trái đất, nghĩa là toàn thể thời gian từ lúc khai sinh ra vũ trụ này
cho đến khi nền văn minh nhân loại chấm dứt trên trái đất; Và nếu dùng các dữ kiện đã được tìm thấy ở trên, chúng ta có được ba (3) phương trình và ba lời giải khác, nhưng gần bằng nhau của X như sau:
(1) X1 (1 /( 2**25) - 1 / (2**26)) = 640 ==> X1 = 640 x (2**26)
(2) X2 (1 / (2**24) - 1 / (2**26)) = 1802 ==> X2 = 600.67 x (2**26)
(3) X3 (1 / (2**23) - 1 / (2**26)) = 4459 ==> X3 = 637.0 x (2**26)
Chọn trung bình cộng của ba lời giải X1, X2 và X3 trên cho ra
kết quả là X = 625.89 x (2**26) , hay X = 42.002.766.888
năm, và làm tròn con số chẳn là 42.0 tỷ năm.
1.4 Kiểm chứng kết quả
Trong phương thức tìm lời giải cho tuổi thời gian của vũ trụ và con người với ẩn số X nói trên, cỏn có thêm một vấn đề thắc mắc khác như sau : Giả sử là tất cả các dữ kiện nói trên đều
phải được diễn giải theo đúng nghĩa đen như Kinh Thánh hay sách cổ Chu Dịch khẳng định là: Thế giới vũ trụ này sẽ kết thúc hay chấm dứt ngay tại hào thứ 6 của nguyên đại 6 mà
thôi. Nghĩa là chúng ta đang sống trong hào 6 của nguyên đại 6 cuối cùng, và như vậy thì nền văn minh Anh tính theo thứ bậc chỉ là KNTH thứ 20. Nếu như vậy, thì phương trình trên sẽ là: X = 625.89 x (2**20); Hay X = 656.293.232. Nghĩa là vũ trụ chỉ mới được khai sinh ra cách đây hơn 650 triệu năm! Một kết quả hoàn toàn không hợp lý theo dữ kiện lịch sử thực tế khoa học, và cho thấy giả thuyết nêu trên không thể tồn tại hay đúng được.
Trở lại với kết quả có được trước đây là 42 tỷ năm, và liệu rằng có quá sai lắm không, nếu so sánh với con số được công bố chính thức gần đây nhất là khoảng 13.5 tỷ năm, dựa vào kết
quả đo được từ các bức xạ nền mà các nhà khoa học cho là "dư âm" còn sót lại từ vụ nổ lớn hay “Big Bang”(!?) Hãy tạm cho là những kết quả đo được từ những bức xạ nền đáng tin cậy, thì sự khác biệt giữa hai kết quả lý thuyết và thực nghiệm vẫn có thể phù hợp và liên kết với nhau một cách khá ấn tượng, dựa vào một số các hiện tượng được giải thích bằng
khoa học thống kê và xác xuất như sau:
Những bức xạ nền đo được có phải là sớm nhất chưa, hay còn có những dư âm thật sự từ “Vụ Nổ Lớn” (VNL) hay “Big Bang” còn sót lại, nhưng vì quá yếu hơn nên chưa phát hiện được, do giới hạn vật lý của các máy dò tìm, cũng như với khả năng có được của khoa học và kỹ thuật hiệntại? Theo mô hình toán của Dịch lý, thì các VNL đã có thể xuất hiện trước đó khá lâu, trong vòng khoảng từ 21.0 - 10.5 tỷ năm cách đây. Liệu những kết quả của bức xạ nền đó có phải hoàn toàn là do VNL hay “Big-Bang” gây ra không, hay có thể là do từ hàng ngàn ức tỷ các vụ “Nổ Siêu Sao” (Supernova) để tạo ra các chòm sao và giãi ngân hà (Galaxy) đầu tiên trong vũ trụ, cách sau VNL chỉ có vài trăm triệu năm? Nên biết là mới đây, các nhà vật lý thiên văn đã vừa phát hiện và khẳng định một cách chắc chắn là trong vũ trụ không gian chứa dầy đặc những “Bụi Nguyên Tử”, và do đó, có thể ảnh
hưởng đến sự sai biệt của những hình ảnh từ bức xạ nền của vũ trụ đã chụp ảnh hay phát hiện được!
Kết luận, con số kết quả cho ra 42 tỷ năm là thích đáng và hợp lý, không chỉ phù hợp với thuyết “Big Bang”dựa trên những công bố chính thức (Hình 11) mới đây cuả NASA, mà còn cho thấy đúng hoàn toàn theo lý thuyết về sự tạo dựng vũ trụ của Dịch Lý, nếu tính theo quy ước từ thời điểm mới bắt đầu giản nỡ ra của vũ trụ là 0, trước khi có VNL. Nên nhớ là con số 13.5 tỷ năm, chỉ là một con số phỏng đoán tuổi “ỉt nhất” của vũ trụ, có nghĩa là tuối của vũ trụ có thể lớn hơn rất nhiều!
Cuối chương sách này là các bảng ghi tóm lược về thời gian thay đổi của vũ trụ và các loài Sinh-Động-Vật, theo thuyết tiến hoá cuả khoa học hiện đại, so sánh với thời điểm chính xác theo thứ tự cấp bậc của các Hào trong Dịch lý. Tóm lại kết quả sơ lược tìm thấy về Quy-Luật Tiến-Hoá của thế gíới con người như sau:
Thế giới con người hiện tại đang sống với nền văn minh hay KNTH thứ Sáu (6) của Nguyên-Đại 7, bắt đầu từ đầu thế kỷ 20 (1919) cho tới khoảng năm 2230. Nước Mỹ chắc chắn sẽ không là Cường Quốc số 1 cuối cùng trong KNTH thứ 6 của nền văn minh châu Mỹ này.
Bắt đầu từ khoảng năm 2230 cho tới 2390, sẽ có nhiều Cường Quốc mới xuất hiện trong nền văn minh Úc Châu thuộc KNTH thứ Bảy (7), cuối cùng của Nguyên Đại 7. Các Tân Siêu-Cường này sẽ kiểm soát và điều hành xã hội con người bằng sức mạnh “Mềm”, dựa trên sự tự nguyện và chọn lựa của mỗi công dân. Biên giới ngăn chia vật lý hay rào cản về lãnh thổ, ngôn ngữ và chủng tộc sẽ từ từ biến mất dần và không còn có ý nghĩa thực tế nữa.
Trong hai Nguyên-Đại cuối cùng 8 và 9, kéo dài từ khoảng năm 2390 đến 2549, con người sẽ lần lượt từ bỏ trái đất để vào sống trong không gian.

