Tập Truyện Nguyễn Quang Sáng

Tập Truyện Nguyễn Quang Sáng

Lượt đọc: 5401 | 5 Đánh giá: 8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chị Xã Đội Trưởng

❊ ❊ ❊

Cô nữ giao liên trẻ khoảng hai mươi tuổi, đầu đội mũ giải phóng màu xanh lá cây ngồi dựa lưng vào cột nhà hai chân duỗi thẳng trên đệm, cây CKC gác ngang quá vế, nhìn ra dòng sông ngó mông một lúc lâu rồi nhìn lại chúng tôi và tiếp tục nói.

          - Nếu trận vừa rồi, chị xã đội của em mà có được cây CKC thì xã em được huy chương vàng rồi! Tiếc quá! Cái thằng trực thăng đó nó bay sà qua chỗ chị xã đội, cửa nó mở toác hoác, có một thằng Mỹ ló đầu ra dòm dòm, kiếm kiếm, chị xã đội của em “đế” cho nó một loạt cạc bin. Nó liền bay niểng niểng lên rồi bắn nát ngay chỗ đó. Chị xã đội của em ức lắm. Chị ôm cây cạc bin cứ cắn răng mà chịu. Chị cằn nhằn tụi em hoài. Chị nói tụi em ham diện, CKC không chịu mang, ham mang cạc bin cho gọn, cho đẹp. Mấy anh đổi cây CKC này cho xã em thiệt nhá?

          Cô vừa nói vừa xòe năm ngón tay vỗ khe khẽ vào bá súng và ngước nhìn chúng tôi. Cây CKC đó là cây súng của đồng chí bảo vệ tôi. Trên đường đi, cô cứ òn ì xin đổi. Thấy xã quá cần thiết và anh bảo vệ của tôi cũng đang thích cạc bin - cạc bin vừa nhẹ, vừa gọn, tiện việc đi đường hơn, - nên tôi đồng ý cho đối. Cô mừng lắm. Về đến trạm, cô liền sai một em nhỏ chạy đi tìm chị xã đội.

          Anh bảo vệ tôi cũng là anh bạn trẻ, khoảng hai mươi. Sắp được cạc bin, anh thích lắm, tôi biết, nhưng anh lại làm ra vẻ không thật hài lòng, anh tìm cách chọc, ghẹo cô nữ giao liên:

          - Đổi thì đồng ý đổi, nhưng còn phải xem cây cạc bin tốt mới đổi. Chị có cái gì bù thêm cho tôi không? - Anh vừa nói vừa nhìn tôi, khẽ nheo một bên mắt - Cái chàng này muốn sanh chứng rồi! Tôi thầm nghĩ và cũng thấy vui. Tôi nằm im cho hai người nói chuyện. Cô giao liên đang mê cây CKC, cô không để ý đến câu nói có ngụ ý đùa giỡn của anh, cô hỏi:

          - Anh muốn tôi bù lại cái gì?

          Anh bảo vệ của tôi lại nói lập lờ:

          - Phải cái gì xứng đáng lắm mới được!

          - Một chút nữa chị xã đội của tôi tới, anh muốn bù cái gì chị xã đội của tôi sẽ giải quyết.

          - Thiệt không đó?

          - Thiệt!

          Hình như cô nữ giao liên muốn dùng cái thành tích của chị xã đội để thuyết phục anh bạn bảo vệ tôi. Cô lại tiếp tục kể về chị xã đội. Chị xã đội của cô chẳng những chỉ huy du kích chặn càn, bắn máy bay, chị còn lãnh đạo cả việc đi cấy, đi gặt, đi đấu tranh chính trị, chuyện gì chị xã đội trưởng cũng làm.

          - Chị là xã đội nhưng chị không quân sự thuần túy đâu! - Cô giao liên kết luận như vậy và tiếp tục nói. Cô kể chuyện chị xã đội với một giọng đầy tự hào. Cô đang kể, giọng thao thao thì anh bạn của tôi chợt hỏi:

          - Chị xã đội của cô có đẹp không?

          - Đẹp chớ! - Như giật mình cô giao liên ngẩng đầu, mở tròn mắt nhìn anh bạn tôi, nói một cách tự nhiên như vậy rồi lại kể tiếp:

          - Nếu chị không đẹp là chị chết rồi.

          - Đẹp dữ vậy? - Anh bạn tôi nhướn mày hỏi lại.

          - Đẹp thiệt! Chuyện đó như vầy, hôm đó chị dẫn gần một ngàn người kéo ra chợ quận đấu tranh chính trị, bắt buộc tụi đồn không được bắn pháo vào làng. Chị lãnh đạo, nhưng lãnh đạo bên trong thôi. Người lãnh đạo công khai là má chiến sĩ. Bà má chiến sĩ đi trước. Hễ bà làm bộ xổ tóc ra bới thì phía sau cứ tiến lên. Khi bà vừa mở tóc thì thiếu úy đồn Trương Phi Hùng nó biết. Thằng Phi Hùng móc súng lục định bắn. Nó vừa móc súng ra thì chị xã đội của tôi giỏi thật, chẳng hiểu tại sao mà chị biết tên “cúng cơm” của nó. Từ trong đám đông chị chạy tuôn ra, chị hét lên - “Xê” - Thằng đồn trưởng nghe có người gọi tên cúng cơm của mình, nó giật mình, ngó lơ láo. Chị tiến thẳng, đứng ngay trước mặt nó, nhìn thẳng vào hai con mắt nó, rồi gằn giọng nói với nó: “Anh Xê, anh không được quyền bắn!” - Cái thằng đồn trưởng đó nó giương hai con mắt ếch mà nhìn chị. Thấy chị đẹp quá, nó mất hết hồn vía. Bọn lính đứng chung quanh nó, thằng nào củng ngơ ngác. Còn thằng thiếu úy thì môi cứ tái lại - Nó hỏi lập bập: “Cô... cô ở đâu mà... biết tôi”. Chị xã đội vẫn cứ nhìn thẳng hai con mắt nó mà nói: “Anh thì còn nhớ đến ai nữa, sau này rồi anh sẽ biết!”. Chị vừa nói vừa khoát tay rồi dẫn một ngàn người lướt qua mặt nó tiến vô dinh quận. Sau này, thằng đồn trưởng đó nói với bọn lính: “Tao biết nó không quen với tao - Tao có gặp nó lần nào đâu - Tao muốn bắn, nhưng cái cổ của nó trắng quá, tao không bắn được”.

          - Chị xã đội đẹp dữ vậy à?

          - Đẹp.

          - Chị có chồng chưa?

          Nghe câu hỏi đó, cô giao liên không còn giữ được cái vẻ hồn nhiên nữa, cô đâm ngượng, cô cúi nhìn xuống, đỏ mặt, cô vừa đưa tay vuốt bá súng vừa lắc đầu, nói:

          - Cái đó tôi không biết!

          Sợ anh bạn hỏi thêm những lời quá lố, và không muốn để cô giao liên trẻ thêm ngượng, tôi tìm cách ngăn câu chuyện. Tôi nói:

          - Hay là cô cứ về mang cây cạc bin lại, cần gì phải có mặt chị xã đội.

          - Như vậy cũng được, nhưng chị xã đội của tôi muốn gặp anh.

          - Gặp tôi để làm gì? - Tôi lấy làm lạ và hỏi. Cô giao liên không trả lời ngay câu hỏi của tôi, cô mỉm cười và hỏi lại:

          - Anh về đơn vị Girông, phải không?

          - Phải.

          - Tôi có nhắn với chị xã đội của tôi, thế nào chị cũng tới, chị ấy biết anh.

          - Ở làng này, tôi đâu có quen với ai.

          Anh bạn của tôi lại nói chen vào:

          - Coi chừng chị xã đội lại biết cả tên cúng cơm của anh nữa đó.

          Cô giao liên cười và nhìn ra dòng sông. Cô bật đứng dậy, reo lên:

          - Chị xã đội tới kìa.

          Trên dòng sông, nắng chan đầy, sông dài hun hút. Theo như cô giao liên nói thì trước đây, ngày cũng như đêm, xuồng gắn máy đuôi tôm lên xuống dập dìu. Từ một năm nay, bọn Mỹ thường hay cho trực thăng bắn dọc theo sông. Ban ngày, xuồng ghe không dám đi nữa. Nhà cửa hai bên bờ rời sâu vô đồng, dòng sông vắng lặng, chỉ có những giề lục bình trôi lên, trôi xuống.

          Từ xa, một chiếc xuồng hai chèo đang thẳng tới. Người đứng chèo là một cô gái, mặc bộ quần áo bà ba đen.

          Chiếc vải dù bông choàng qua vai bay phất phới. Xuồng cập lại bến, chị xã đội kéo miếng vải dù bông quấn qua cố, mang cây cạc bin qua vai, nhìn vào nhà, cúi chào chúng tôi. Không để chị bước lên nhà, cô giao liên cầm lấy cây CKC, bảo chúng tôi cùng xuống bến.

          Cô giao liên nói quả không sai - Chị xã đội quả là một cô gái đẹp. Chị khoảng độ hai mươi bốn tuổi. Chị không có cái vẻ đẹp phơi phới của một cô gái dậy thì, chị đẹp một cách chín chắn và đậm đà. Dáng chị mảnh khảnh, nhưng không có vẻ gầy yếu mà tầm thước đều đặn. Mặt trái xoan mũi thắng, mắt hơi sâu, mày rậm, nước da trắng mịn, môi mỏng và đỏ như son. Vẻ đẹp của chị không phải là vẻ đẹp lộng lẫy khiến cho người chung quanh phải vồ vập, vẻ đẹp của chị sắc sảo, nghiêm trang, khiến cho mọi người chung quanh phải kính nể. Có lẽ vì thế mà anh bạn bảo vệ của tôi cứ đứng lùi ở phía sau nhìn một cách tò mò mà không nói một lời gì. Còn cô giao liên, một chân để lên mũi xuồng, vai mang cây CKC, nhìn chị xã đội rồi nhìn lại anh bảo vệ của tôi, ý như muốn nói: “Chị xã đội của tôi đấy, anh muốn nói gì thì nói đi”.

          Chị xã đội nhìn tôi và nói, giọng nhỏ nhẹ:

          - Nghe nói đồng chí đồng ý cho tôi cây CKC, tôi mừng quá!

          - Xã chị không có CKC sao? - Tôi hỏi cho có chuyện để nói.

          - Dạ có, nhưng chỉ có hai cây thôi, toàn là cạc bin, cạc bin bắn máy bay không xuể, mà dạo này tụi nó bắn phá dữ quá.

          Chị vừa nói vừa đưa cây cạc bin cho tôi rồi nhìn cô giao liên.

          - Ánh, đưa cây CKC cho chị xem.

          Chị cầm lấy cây CKC, xòe tay chẽ cơ bẩm, lên nòng, bóp thử. Chị nhìn cây súng, mỉm cười một mình rồi nhìn tôi với vẻ cám ơn.

          Cuộc trao đổi súng ống xong, chị vừa định từ giã tôi thì cô giao liên kéo xuồng lại, rỉ nhỏ vào tai chị cái gì đó, chị bỗng đỏ mặt.

          - Thôi, đồ quỷ!

          Cô giao liên liếc nhìn tôi và nói:

          - Chị không tin thì thôi vậy - Giấy tờ tôi cầm trong tay đây nè.

          - Mầy chỉ có tài phá tao. Thôi tao về đây. - Chị vừa nói vừa xô xuồng ra. Nhưng nghĩ thế nào chị lại cầm lấy chèo, quạt ngược lại cho xuồng cập vào bến và khẽ hỏi:

          - Có người về đó thật hả?

          - Người thì người thiệt chớ người giả được à? - Cô giao liên có ý trêu chọc và nói to.

          Chị xã đội lại tỏ ra giận dỗi, đưa tay xô xuồng, có vẻ dứt khoát hơn lần trước. Cô giao liên liền nắm lấy be xuồng kéo lại và như sợ chị xã đội bỏ đi thật, cô trở giọng thật thà và nhỏ nhẹ:

          - Thiệt! Có người về thiệt - Viết thư đi!

          - Mình viết thư rồi.

          - Gởi theo đường dây còn lâu mới tới, người ta đem đến tay cho mà không sướng hơn à?

          Tôi thấy đôi mi dài của chị xã đội hạ xuống, chị nghĩ ngợi một lúc rồi giương mắt nhìn cô giao liên rồi cười, khe khẽ lắc đầu:

          - Thôi! Trước sau gì người ta cũng được.

          - Tôi hổng biết ảnh mà biết cái thư đó tôi viết giùm chị, ảnh lóc tôi không còn một miếng xương cho coi.

          - Có người về thiệt hả? - Chị xã đội lại hỏi.

          - Không tin thì hỏi thử xem.

          Chị xã đội nhìn lên chúng tôi, mặt bỗng ngượng ngùng, cười mủm mỉm một mình rồi mới hỏi được:

          - Xin lỗi, hình như anh về đơn vị Girông?

          - Dạ phải, tôi về đơn vị Girông, đơn vị chủ lực của Đồng Tháp.

          - Xin lỗi, anh công tác ở đơn vị...

          - Dạ không, tôi mới được thuyên chuyển về đó và đang trên đường về.

          - Đó, có đúng không! Viết thư đi, viết mau lên, tôi kêu khách xuống đi ngay bây giờ. - Cô giao liên nói chen vào. Thấy chị vẫn trù trừ tôi giục thêm:

          - Chị viết thư đi, tôi sẽ đưa đến tận tay cho.

          - Dạ, anh làm ơn chờ tôi một chút - Chị vừa nói vừa giở lá ngụy trang, kéo lấy cái túi nho nhỏ bằng vải hoa màu tím, rút quyển vở học trò hiệu “Hoàng tử trong rừng xinh” kê lên gối cắm cúi viết. Trong lúc đó, cô giao liên bước lên nhà, xin vài hột cơm cho chị dán bao thư. Trên chiếc xuồng của chị, lá ngụy trang là một lớp tranh tươi được trải ra một cách đều đặn, một giàn lưới ni lông trắng được cuộn lại cẩn thận, dưới khoang có một vài con cá nhảy lách chách.

          Chị viết rất nhanh, những dòng chữ ấy như bị nghẹn từ lâu, nay mới được tuôn ra, loáng một cái đã tràn đầy cả trang. Chị vừa viết xong, cô giao liên liền xòe cả bàn tay đưa ra, trong lòng bàn tay có vài hột cơm.

          Chị xã đội đưa lá thư cho tôi vẻ ngượng ngùng:

          - Anh làm ơn đưa giùm tôi.

          Chị nói rồi bỗng cúi mặt, cười một mình, rồi lại ngẩng nhìn tôi.

          - Mà anh nhớ là đừng có nói gặp tôi nhé!

          - Nếu không gặp chị thì làm sao tôi có được lá thư này? - Tôi hỏi.

          - Bộ anh không biết nói dóc à?

          Không biết trả lồi sao và chẳng hiểu sao tôi lại phì cười. Chị nhìn tôi cố nín cười, nhưng mắt cứ lấp lánh rồi đưa mắt nhìn cô giao liên.

          - Anh cứ nói là cái con Ánh này nó nhờ anh chuyển giao chớ đừng nói là gặp tôi.

          Cô giao liên lại giãy nảy lên, lắc đầu lia lịa:

          - Thôi thôi thôi, bà đừng có hại tôi nữa. Bà định gây thắc mắc để người ta về hả? Bà nhớ, bà muốn người ta về thì bà cứ nói thẳng ra không được sao?

          - Thôi đi, đồ quỷ, tao về đây! - Chị vừa nói vừa đưa tay đẩy xuồng ra và vội vàng từ giã tôi.

          - Tôi về nghen anh, anh đi mạnh giỏi nhá!

          Cô giao liên với tay chộp lấy một nắm tranh đưa lên:

          - Anh nhớ giữ nắm tranh này cho anh ấy nhé!

          Hình như cô giao liên cũng mê cái vẻ đẹp của chị. Cô có vẻ sung sướng được chọc ghẹo chị. Còn chị xã đội thì chỉ biết phản ứng bằng một câu: “Thôi, đồ quỷ”!

          Nhìn bao thư tôi biết chị tên Dung, người nhận thư là anh đại đội phó Lê Văn Khương.

          Nhìn lên tôi thấy xuồng chị đã bung ra giữa sông, chị so lại mái chèo rồi nhìn lại tôi, dặn thêm:

          - Anh nhớ là đừng nói gặp tôi nhé! Nhớ nhé!

          Như xấu hổ với điều mình vừa nói, chị quạt mạnh mái chèo, xuồng lao đi như con thoi.

          Buổi chiều, sau hai ngày, tôi về đến đơn vị. Tôi nhờ đơn vị chuyển ngay lá thư. Và ngay trong đêm đó, đang nằm trong nhà, tôi nghe bên kia con sông nhỏ, có tiếng người hỏi tên tôi. Tôi đoán biết người đó là anh Lê Văn Khương. Tôi ngồi dậy nhìn ra, qua ánh trăng thượng tuần, tôi thấy một người con trai khỏe mạnh, đang quay mũi xuồng hướng qua nhà tôi. Thấy mũi xuồng chập chờn dập sóng, tôi đoán biết anh đang sốt ruột. Nước đang dâng cao, nước lé bé (1) dưới sàn nhà. Anh cho xuồng đi thẳng vào sân. Xuồng lao nhanh quá, anh không kịp rà lại, mũi xuồng đụng vào sàn nhà đánh “cốp” một tiếng. Sóng tạt lên sàn nhà rung rinh khiến anh em trong nhà phải kêu lên. Anh rối rít xin lỗi, hỏi tôi là ai, và sốt sắng mời tôi:

          - Mời anh xuống xuồng chơi cho mát.

          Một anh trong nhà nói chen vào:

          - Thì anh lên nhà ngồi một chút không được sao?

          - Một chút nữa. Mình muốn hỏi chuyện riêng một chút mà. - Anh đáp với giọng đầy phấn khởi.

          Hình như anh ngồi không yên. Mũi xuồng cứ nhảy lên nhảy xuống như muốn giục tôi. Tôi vừa bước xuống thì anh cũng vừa rà mái dầm cho xuồng quay mũi ra sông. Anh vừa bơi vừa hỏi tôi mấy câu để làm quen, công tác, sức khỏe và chuyện đi đường. Trăng không sáng lắm, nên tôi thấy anh không được rõ, đoán anh khoảng độ hai mươi tám. Đặc biệt anh có một đôi mắt rất sáng, mày rậm, đầu hớt cao, mặt chữ điền. Qua cái vốn kinh nghiệm của tôi, tôi dám đoán anh là con người sôi nổi, dũng cảm và lòng đang rộn rã với một niềm vui.

          Anh quay lái xuồng cặp sát lại cây ô môi mà nước đã ngập đến nửa thân cây, cành lá là đà dưới mặt nước, anh buộc dây vào một cành to để chiếc xuồng lửng lơ ngoài trăng. Anh bước xuống khoang, vứt đi một cành lá ngụy trang. Đến lúc đó tôi mới để ý thấy một bình tích, hai chén chung (2) sành cỡ lớn, một phong kẹo lạc và một gói thuốc “rubi”. Anh rót nước. Thấy tôi có vẻ lớn hơn, ngại gọi tên không tiện, anh hỏi tôi thứ mấy và mời:

          - Anh Năm uống nước, ăn kẹo, hút thuốc anh Năm! - Rót nước xong, anh mở phong kẹo, xé bao thuốc, trông thật lăng xăng.

          Trong khi tôi cầm chung uống nước, anh cứ nhìn tôi với đôi mắt sáng ấy, anh nhìn tôi với mặt rạng rỡ thân thiệt như vừa gặp lại người thân. Khi tôi vừa để chung nước xuống thì anh hỏi:

          - Ghé qua nhà Dung, anh thấy Dung đang làm gì anh?

          Nhớ lại lời dặn của Dung và cũng muốn trêu anh, tôi lắc đầu:

          - Tôi không ghé qua nhà và cũng không gặp cô ấy.

          - Sao? - Khương như giật mình, hỏi cái giọng đầy kinh ngạc, vẻ rạng rỡ trên gương mặt anh liền tan biến đi, anh nhìn tôi với vẻ sững sờ. Tôi không ngờ anh có vẻ khổ sở đến như thế. Tôi hối hận, nhưng đã lỡ nói dối rồi, biết sao? Và cái tính tò mò lại kích thích tôi, tôi hỏi:

          - Có chuyện gì đấy anh?

          - Chuyện dài lắm anh ạ! - Khương nói với giọng bực dọc.

          Anh bưng chung uống ừng ực mấy ngụm liền, như cố nuốt cố đè lại cơn giận, nhưng cứ bứt rứt. Anh đưa tay mở túi áo, hai tay cầm lấy áo quạt “phành phạch” trên lồng ngực to lớn của mình, và cựa mình quay qua quay lại ngồi không yên. Xuồng tròng trành, những làn sóng nhỏ nối nhau lan dài ra mỗi lúc mỗi xa.

          - Dung là vợ chưa cưới của tôi. - Sau một lúc trù trừ nghĩ ngợi, Khương mới bắt đầu kể và mở đầu như vậy, anh tiếp:

          - Hai đứa tôi là người cùng làng. Làng tôi anh biết rồi đó. Làng bắt đầu từ ngã tư, nằm dài theo sông. Nhà tôi ở cuối làng, nằm sâu trong ruộng. Nhà Dung ở giữa làng. Hồi kháng chiến chín năm, ba của Dung là xã đội trưởng, hy sinh trong mùa nước năm năm mươi hai. Năm hòa bình lập lại, Dung được đi tập kết, nhưng Dung xin ở lại, vì Dung là con lớn, Dung còn mẹ và ba đứa em nhỏ. Gia đình Dung cũng như hầu hết dân làng đều sống bằng nghề ruộng và cá. Trong làng, hầu như ngày nào cũng có người bị bắt, bị tù đày hoặc bị giết. Người tốt còn lại ngày càng ít, còn bọn phản bội, bọn xấu, bọn gián điệp thì nổi lên loi nhoi, lúc nhúc như dòi. Một số cô gái, một số trai làng vốn sống bằng nghề ruộng, sau một vài mùa đi buôn, đi chợ thì trở nên hư hỏng. Từ chỗ ăn chơi, đàng điếm, dần dần làm tay sai cho giặc. Người ta đâm ra nghi ngờ lẫn nhau. Trong lúc đó, Dung cũng bắt đầu đổi khác. Dung làm bánh tằm xe (3) đi bán rong. Dung bắt đầu ăn diện. Dung thường mặc chiếc áo bà ba viền “đăng ten” cổ hở, đeo dây chuyền vàng và hai tai thì lại đeo bông tòn teng. Bánh tằm nước cốt dừa của Dung chẳng có gì đặc biệt, nhưng lại đắt khách, hầu như cả làng đều ăn nhất là bọn lính trong đồn và dân ăn chơi. Một số bọn mất dạy thường hay nói với nhau “bánh tằm con Dung nó xe trên bắp vế non của nó nhờ vậy mà béo”. Bọn nó thách đố nhau, đứa nào chiếm được Dung thì sẽ được thưởng một tiệc “la ve”. Tôi không phải là bạn của Dung, nhưng nghe người ta bàn tán về cô, tôi cứ thấy mình như bị xúc phạm vậy - Tôi chẳng bao giờ ăn bánh tằm của cô.

          Một hôm cũng đang mùa nước nổi như thế này, Dung đâm xuồng vào sát tận nhà tôi. Vì đang bực đang giận, tôi muốn đuổi cô ta đi. Tôi nằm trên sàn, nói vọng ra, giọng rất xẵng.

          - Tôi không ăn bánh tằm.

          - Ủa! Không ăn sao mà lại gọi.

          Tôi gọi hồi nào đâu - Rõ ràng là cô muốn trêu chọc mình. Lâu nay, tôi nghe bọn con trai bàn tán về Dung, còn Dung thì tôi chưa thấy, chưa nghe Dung có điều gì xấu, tôi hy vọng Dung hãy còn là người tốt. Nay sự thật đã quá rõ rồi, tôi đâm nổi nóng, tôi ngồi bật dậy, nhìn thẳng vào mặt Dung, gằn từng tiếng:

          - Cô Dung! Cô làm cái nghề này một ngày cô lời được bao nhiêu? Cô không nghe người ta nói gì về cô hay sao?

          Dung nhìn tôi, mặt câng câng, cười cười chế giễu tôi, khiến tôi giận đến lộn cả ruột gan, tôi tiếp:

          - Cô không nhớ cái chết của bác hay sao? - Nói đến đó, tôi bỗng giật mình và đâm ra sợ cho những điều mình nói. Nếu cô ta xấu thật rồi thì sao! Tôi không nói được nữa, cứ lập bà lập bập. Trong lúc đó, Dung cúi nhìn xuống, mắt ửng đỏ, như muốn khóc. Tôi lại thấy hối hận và muốn an ủi Dung, tôi nhỏ giọng:

          - Thôi, tôi xin lỗi cô, tôi quá giận nên lỡ lời, cô bỏ qua cho.

          Dung ngước nhìn tôi, mặt buồn rầu, mắt đỏ hoe:

          - Sao anh lại xin lỗi. Tôi thích anh chửi tôi hơn anh Khương à. Nếu tất cả người làng đều chửi tôi như anh thì tốt biết mấy.

          Nói xong, Dung khoác nước rửa tay, xếp bánh tằm vào đĩa rưới qua một gáo nước cốt dừa, chan một muỗng nước mắm đưa cho tôi. Tôi không muốn ăn, còn bụng dạ đâu mà ăn. Tôi chưa kịp từ chối thì cô bảo:

          - Anh cho tôi gởi đĩa bánh.

          - Gởi cho ai? - Tôi vặn hỏi.

          - Gởi cho người lạ mặt trong nhà anh.

          Nghe cô nói tôi đâm hoảng và mất bình tĩnh. Quả là nhà tôi đang giấu một anh kháng chiến cũ. Nếu bị lộ thì cả nhà tôi phải bị hy sinh. Trời, tại sao cô này lại biết được chuyện đó. Do thám đến nhà mình chăng? Tôi cố lấy lại bình tĩnh và xẵng giọng.

          - Cô đừng có nói giỡn. Người lạ mặt nào ở đây?

          Dung liền nghiêm nét mặt, tròn mắt nhìn thẳng vào tôi, mắt Dung như bốc cháy, luồng mắt của Dung như muốn đốt cháy người tôi. Dung nói gằn từng tiếng:

          - Anh đem cái đĩa bánh này cho đồng chí, nhanh lên!

          Cái nhìn của Dung giống cái nhìn của người có uy quyền bắt người tôi phải phục tùng. Nói xong, Dung để đĩa bánh lên sàn nhà rồi xô xuồng bơi thẳng.

          Dù muốn dù không tôi cũng phải cho đồng chí mình hay mới được - Đồng chí ấy bây giờ là Ủy viên Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh Long Châu Sa, tỉnh nhà của tôi. Tôi để bánh xuống xuồng, giả đi câu, và chống băng qua ruộng, chui sâu vào một cụm đế (4) già. Đồng chí cán bộ bẻ hai cọng để làm đũa, xới xới từng cọng bánh, gắp ra một lá thư nhỏ. Xem thư xong đồng chí cán bộ liền nhờ tôi đưa qua một làng khác. Trở về, tôi nghe nói bọn biệt kích vừa ruồng qua cụm đế đó.

          Từ đó, hầu như ngày nào tôi cũng mong Dung. Hễ nghe tiếng mái dầm “lạch bạch” của chiếc xuồng nào đó tôi cũng đều giật mình. Nhưng Dung chẳng bao giờ đến nhà tôi nữa. Chú ý nhìn những nhà mà Dung mang bánh đến, tôi đoán biết ai là người tốt, người xấu. Nhờ đó, tôi cảm thấy đỡ ngột ngạt. Hai đứa tôi thực sự quen nhau là từ đầu năm sáu mươi. Lúc ấy làng tôi đang chuẩn bị đồng khởi. Ngày nào tháng nào tôi không còn nhớ rõ nữa. Chỉ nhớ đó là mùa khô, lúa đã gặt xong. Buổi trưa, bọn chúng tôi họp trong một cụm đế già. Cuộc họp ấy có Dung. Ngoài việc trừ bọn gián điệp, bắt ác ôn, cuộc họp còn quyết định phải đánh lấy cả cái đồn đầu vàm (5) nữa. Mới nghe ai cũng hăng. Nhưng đi sâu vào kế hoạch cụ thể thì bị bế tắc. Cái đồn đó có mười hai tên lính, đầy đủ súng ống. Còn chúng tôi, cả làng chỉ có một cây súng, súng lại cũ, mười một viên đạn rỉ xanh, chẳng biết có nổ không. Càng bàn, càng thấy không lối ra. Có người đề nghị hội nghị rút cho cái quyết định ấy để chờ vào một dịp khác. Trong lúc mọi người đang bối rối thì Dung xòe cả bàn tay đưa lên xin nói.

          - Cái đồn đó cứ giao cho tôi, tôi lấy được.

          Tất cả đều dồn mắt nhìn Dung như muốn hỏi lại.

          - Được! Tôi bảo lãnh! - Dung nói rõ ràng, dứt khoát như đinh đóng cột.

          Sau đó, Dung trình bày kế hoạch. Kế hoạch của Dung có vẻ như phiêu lưu, nhưng mọi người đều thấy có lý. Tất cả đều đồng ý nhất trí bầu Dung làm chỉ huy trưởng. Dung không khiêm tốn từ chối mà trang trọng nói:

          - Tôi đồng ý nhận làm chỉ huy trưởng. Ngày nào tôi cũng vô đồn bán bánh tằm cho chúng, cho cả gia đình vợ con chúng, tôi biết rõ từng đường đi nước bước của chúng. Tôi đánh được. Nhưng tôi có một nhược điểm. Làm chỉ huy phải la, phải hét cho bọn nó nghe. Nhưng khi bọn nó nghe tiếng của tôi, biết là tiếng của cô bán bánh tằm, bọn nó không sợ.

          Nghe Dung nói, tôi vừa thương, vừa muốn bật cười. Dung tiếp:

          - Tôi đề nghị có một người bọn nó ít biết, nói tiếng cho thật to, nói như hét ra lửa vậy, đồng chí đi kèm với tôi, cái gì mà tôi nói thì đồng chí ấy phải hét lên.

          Nghe Dung nói có lý, anh em chúng tôi nhìn nhau. Đang lúc chưa biết chọn ai thì Dung nhìn thẳng vào tôi.

          - Tôi đề nghị đồng chí Khương - Dung đề nghị nhưng lại nói với giọng quyết định. Hình như chẳng ai muốn làm cái nhiệm vụ máy phát đó, nên khi nghe Dung chỉ tôi, tôi chưa kịp từ chối, thì mọi người đều đưa cả hai tay đồng tình. Tôi ngượng và khổ tâm, nhưng chẳng biết làm cách nào hơn, đành phải cười cho đỡ ngượng...

          Hội nghị giải tán, khi mọi người tản ra về, Dung bỗng reo lên:

          - Trời ơi, cờ! Đẹp quá!

          Bọn chúng tôi hết sức ngạc nhiên, liền vạch đế nhón gót xem, chúng tôi không thấy cò đâu cả. Trong lúc bọn tôi đang ngẩn ngơ, Dung lại nhìn chúng tôi nói:

          - Các anh quả không thấy màu cờ thật à?

          À! Cờ mà Dung nói đó là màu đỏ của hoa ô môi (6). Trong ánh nắng chói chang, hoa ô môi đỏ rực như những lá cờ lớn trải trên tàn cây, nối tiếp nhau từ đầu làng đến cuối làng. Làng bỗng rực rỡ, sáng đẹp lạ lùng. Màu đỏ thắm của hoa ô môi như kích thích chúng tôi khiến chúng tôi thấy yêu tha thiết cái làng của mình. Còn Dung, Dung cứ đứng lặng nhìn về làng với vẻ mặt đầy xúc động.

          Hình như tôi yêu Dung bắt đầu từ đó.

          Rồi, đêm đánh đồn đã xảy như sau. Bộ đội mình thường hay đánh đồn vào những đêm tối trời. Còn đêm đánh đồn của chúng tôi là đêm trăng, trăng rất sáng. Nhờ cái đêm trăng ấy mà chúng tôi đánh thắng.

          Đúng giờ đã định, cả làng liền nổi mõ, nổi trống, cả làng cùng la hét. Đúng là một đêm kinh thiên động địa anh ạ! Theo kế hoạch của Dung, một số anh em lấy thân đu đủ sơn bằng lọ chảo vác trên vai, nện chân, đi qua đi lại xóm nhà của bọn vợ lính. Dãy nhà của bọn vợ lính nằm rải rác chung quanh đồn. Dung vào từng nhà chỉ những cây đu đủ sơn đen ấy, bảo với vợ lính, đó là “badôka”. Dung bảo vợ lính chạy vào đồn kêu chồng ra hàng. Đang khiếp vì tiếng trống mõ và tiếng gào thét của dân làng, bọn vợ lính càng hoảng hơn. Các bà ấy vừa khóc, vừa nhờ Dung bảo với chỉ huy đừng bắn rồi lần lượt kéo nhau chạy vào đồn. Trong đồn, bọn vợ lính kêu khóc như đám ma. Nhưng bọn lính vẫn chưa chịu ra. Có một thằng hét lên:

          - Tao không đầu hàng! Bắn đi!

          Nó bắn xả vào chúng tôi. Và nó dọa bọn lính của nó:

          - Thằng nào đầu hàng, bước ra khỏi đồn, tao bắn nát óc.

          Nó chửi bới bọn vợ lính, chửi hết sức thô tục. Tiếng súng trong bót lại bắn rải ra.

          Lúc đó, Dung đâm lo. Hai đứa tôi đứng nép trong nhà của bọn vợ lính. Dung thì thào hỏi tôi:

          - Găng quá! Cái thằng đó ngoan cố lắm, nó là sếp. Làm sao bây giờ anh?

          Tôi chẳng biết tính sao, nhưng lại vẫn cứ cương quyết:

          - Phải nổ (7) nó trận nữa.

          - Ừ, phải!

          Dung lại ra lịnh và tôi lại hét lên:

          - Anh em trong đồn, tôi biết trong đó chỉ một thằng ngoan cố thôi. Chúng tôi không vì một người mà giết hết cả gia đình anh em. Anh em hãy đầu hàng đi!

          Thằng sếp chửi lại:

          - Con c...! Giỏi thì bắn đi.

          Trong lúc đó, bọn vợ lính lại kêu khóc và chửi rủa lẫn nhau. Theo lịnh của Dung, tôi lại thét lên:

          - Badôka đâu, chuẩn bị bắn!

          Nếu có bắn thì chúng tôi sẽ cho nổ khí đá, rồi nói là bắn cảnh cáo. Tôi vừa hét xong, trong đồn bỗng có tiếng đàn bà hét vang lên:

          - Khoan! Đừng bắn.

          Trong ánh trăng, tôi thấy chị ta tay cầm cây súng, tay nắm lấy áo chồng kéo ra. Kéo chồng chạy ra khỏi đồn, chị kêu:

          - Các anh ơi! Rồi! Bắn! Bắn cho chết mẹ nó đi.

          Như ong vỡ tổ, vợ lính và lính chen lấn nhau đổ tuôn ra. Theo lịnh của Dung, tôi hét:

          - Đơn vị súng máy, tước khí giới!

          Nhoáng một cái, hơn ba chục anh em mang súng bập dừa từ trong các hốc cây, thét “xung phong” chạy xổ ra.

          Trong lúc đó, tên sếp nhảy ra, vụt chạy.

          Dung quên mình là chỉ huy, Dung hét lên và đuổi theo. Tôi cũng tức tốc chạy theo Dung. Hai chúng tôi cứ đuổi theo nó. Nó quay lại, bắn liền mấy phát, Dung té nhào xuống. Tôi cúi xuống, xốc Dung dậy. Dung xô tôi ra:

          - Làm gì vậy? - Và Dung lại đuổi theo tên sếp.

          Giữa tôi và Dung như có một sợi dây buộc dính giữa hai người, tôi cứ chạy theo Dung mà chẳng biết làm gì. Tên sếp bị rượt nà (8), nó trèo lên ngọn cây ổi, định trốn. Nhưng Dung đã thấy nó. Dung đứng dưới gốc cây ổi, kêu nó:

          - Nè! Xuống. Từ nãy giờ tao không bắn là tao muốn tha cái mạng sống của mày. Tao đếm một, hai, ba, mày không xuống thì tao bắn thiệt, không tha nữa đâu.          - Đếm đi! - Dung quay lại bảo tôi.

          Tôi hét:

          - Một! Ha...a...i.

          Thằng sếp ngồi trên cây liền lập bập kêu lên:

          - Dạ... Dạ... Để em xuống!

          Tôi hét:

          - Bỏ súng xuống!

          Cây tiểu liên liền rơi xuống. Tôi lượm lên, kéo “rốp rốp”. Dung liền hét tôi:

          - Không được bắn! Đã bảo tha thì tha!

          Làng tôi được giải phóng, Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng xã được thành lập. Qua thành tích cướp đồn của Dung, Ủy ban cử Dung làm tiểu đội trưởng du kích. Dung nói, trong lúc gay go, người chỉ huy là tôi, Dung khiêm tốn nhường nhiệm vụ ấy cho tôi, Dung xin làm công tác phụ nữ. Nghe nói, có người không tin, bảo là Dung khiêm tốn, Dung sợ tôi ngượng. Bởi vì sau trận đánh, anh em hay nói đùa, tôi là cái máy phát của Dung. Bàn đi cãi lại, cuối cùng, anh em vẫn tín nhiệm Dung. Còn tôi, tôi làm công tác thanh niên.

          Bước qua đầu năm sáu mươi mốt, tôi đi tòng quân. Hai năm sau, mãi đến mùa mưa sáu mươi ba, tôi mới trở về. Nhưng không phải về phép mà về với đơn vị để đánh lấy cái đồn ở đầu vàm. Đầu năm sáu mươi hai, bọn Mỹ - ngụy mở một trận càn lớn và đóng đồn lại đó.

          Trận đánh đó, chúng tôi đánh không được gọn. Một trái bộc phá bị lép. Bọn địch còn sống sót lần lượt dồn vào công sự, bắn trả lại dữ dội. Bọn tôi, năm lần bảy lượt xông vào đều bị đánh bật trở lại. Cây đại liên của địch bắn rất ác, đạn cứ rà sát trên mặt đất, khiến chúng tôi cứ nằm dán xuống mặt đất, không sao ngóc đầu lên được. Nếu để ổ súng đó còn sống đến sáng thì rất nguy. Ban chỉ huy chúng tôi lại tổ chức xung phong liền mấy đợt, một đợt tiến thẳng, một đợt đánh tạt sườn và một đợt đánh bọc hậu. Sau khi ổ súng đó bị tiêu diệt, dân làng vác chày vồ, vác búa xông vào san đồn. Trời cũng vừa sáng, và pháo ngoài chợ quận bắt đầu nã vào. Giữa lúc đó, trung đội tôi được lịnh đứng lại chặn địch cho đại bộ phận rút lui.

          Sau trận đánh, hầu như bao giờ cũng có phút hỗn độn, dù là trận đánh thắng. Rào gai, gạch đổ, xác chết, mùi thuốc súng còn nồng nặc. Trong sương sáng, trên cái nền bót đổ nát ấy, bộ đội, dân làng, già trẻ bé lớn đều có, người cáng thương, người mang trên vai hai ba cây súng, người gánh đạn, người đội, người khiêng, người qua kẻ lại như đan vào nhau và như quấn lấy nhau, kêu, nói, cười, chửi rủa ồn lên bàng đủ thứ giọng ồn ào hơn vỡ chợ. Trong lúc tiếng pháo rít qua đầu, nổ “bùng bàng”, mảnh pháo ào ào như mưa, trong lúc mọi người đang mở đường rút, trong cái phút hỗn độn ấy, tôi đang điều quân đi chặn viện thì bỗng có tiếng thét sau lưng tôi:

          - Anh Khư... ơ... ng!

          Tôi quay lại, thấy một cô em ở làng, cô tên Ánh, chưa kịp mừng tôi, cô quay lại sau kêu to:

          - Chị Dung ơi, anh Khương đây này.

          Từ xa, tôi thấy một người đưa hai tay vẹt người xung quanh, đi ngược về phía tôi.

          Dung! Dung đang bươn bả như lao tới, thấy tôi, Dung liền đứng sựng lại. Dung không còn đeo dây chuyền, đeo bông tòn teng nữa. Dung mặc bộ quần áo bà ba đen cũ, lưng thắt băng đạn, vai đeo súng cạc bin. Dung đẹp một cách rắn rỏi và gọn gàng. Lúc đó, Ánh nhìn tôi, nheo một con mắt, bụm miệng cười rồi quay lưng chạy vụt theo đoàn người... Nếu lúc đó không có tiếng pháo nổ, không có mảnh đạn bay qua đầu, tôi không phải điều quân chặn địch, nếu không có đàn người đang xô đẩy, chen lấn lướt qua chúng tôi, chắc chúng tôi sẽ nói với nhau nhiều lắm. Dung đứng lặng, nhìn tôi với con mắt... tôi khó nói quá, anh cứ tưởng tượng ra thì hiểu. Cái nhìn của Dung làm cho tôi thấy mình như có lỗi và tôi cũng nhìn thấy hạnh phúc của tôi trong cái nhìn ấy.

          - Anh em rút lui hết rồi, sao anh còn ở đây? - Sau một lúc đứng lặng, Dung chợt hỏi tôi.

          - Anh phải đi chặn viện bây giờ đây!

          - Cho em đi theo với!

          Dung đi hòa trong đơn vị của tôi.

          Sau đó, Dung chánh thức là vợ chưa cưới của tôi. Hai đứa tôi định hết mùa nước này, sau mùa gặt, sẽ làm đám cưới. Nhưng sự đời lại không được trôi chảy như ý muốn. Cách đây ba tháng, có một người đi qua làng tôi, cho tôi biết, làng tôi vừa bị máy bay Mỹ bỏ bom na pan, nhiều nhà bị cháy. Trong trận bom, có một cô gái đã xông vào một ngôi nhà cứu trẻ em, cô đó bị cháy cả mặt và hai tay. Người ấy không biết cô đó tên là gì. Tôi hết sức lo. Tôi liền gởi thư về hỏi. Hơn một tháng sau tôi nhận được thư Dung với tuồng chữ khác lạ. Dung bảo, người bị cháy mặt, cháy tay chính là Dung. Dung đang nằm bệnh viện, tay không viết được, phải nhờ cô y tá. Dung bảo, Dung không còn như trước nữa, bảo tôi hãy quên đi. Nhận được thư, tôi vừa đau khổ, vừa buồn, vừa thương, vừa giận. Tôi liền viết lại một lá thư rất dài, có đoạn hỏi, tại sao lại bảo tôi hãy quên đi. Tôi hỏi với lời lẽ tức giận và nói Dung dù có tàn tật đến thế nào, tôi cũng vẫn yêu. Tôi đinh ninh Dung bị tàn tật thật. Nói cho thật lòng, chẳng biết anh có tin tôi không? Sau khi nhận thư, tình cảm của tôi đối với Dung chẳng có gì phai nhạt mà ngược lại tôi càng thấy yêu thương Dung hơn. Tôi nghĩ, nếu Dung bị tàn phế đến mức không còn làm gì được thì sau khi đánh Mỹ xong, tôi sẽ về làm ruộng nuôi Dung đến suốt đời. Tôi đang nghĩ như vậy thì lá thư này đến. Thư hết sức ngắn, bảo là đã gởi cho tôi một lá thư dài, lá thư đã nói rất rõ. Còn thư này... Cuối cùng, tôi chẳng rõ hư thật ra sao cả. Chẳng biết có phải thật như vậy hay không? - Tôi tưởng là anh có gặp cô ấy...

          Nói đến đấy, Khương dừng lại, rót nước, nước tràn qua cốc mà anh vẫn không hay. Thấy anh bực dọc, khó chịu, tôi muốn nói thật ngay với anh. Nhưng tôi nghĩ, chẳng vội gì. Anh khổ tâm bao nhiêu thì một lát nữa đây, khi tôi kể lại buổi sáng gặp Dung, anh sẽ vui sướng bấy nhiêu thôi. Tôi nhìn cái vẻ băn khoăn của anh một cách thú vị. Hơi ác, tôi hỏi:

          - Thư không nói rõ à?

          Khương móc túi trên, lấy lá thư đưa cho tôi:

          - Thư chẳng có gì bí mật, anh đọc thử xem.

          Tôi cầm lá thư, đưa ra ánh trăng. Nhưng trăng không sáng lắm. Tôi phải bấm đèn pin soi vào, thư viết:

          “Anh,

          Sau khi nhận được thư anh, em rất cảm động và... em viết thư lại cho anh ngay. Thư đó dài lắm, em nói rất rõ, thư đó sẽ làm anh vui lòng hơn, nhưng chắc chưa đến. Em không bị cháy gì hết, vẫn y nguyên. Hôm được thư anh hỏi ai bị cháy, em muốn trả lời ngay để anh yên lòng. Nhưng em nghĩ, làm như vậy té ra mình quá mừng vì được thoát nạn hay sao. Trong cái quá mừng đó, có ẩn cái sợ, em nghĩ như vậy. Bởi vì, nếu hôm đó, nhà cháy gần chỗ em, em cũng chạy chữa thôi, biết đâu em cũng bị cháy. Bom đạn của Mỹ nó có chừa ai, có phải không anh? - Vì nghĩ mình cũng có thể bị cháy nên em muốn thử thách một chút. Đừng giận em. Bọn Mỹ định tát dân ra vùng nó. Làng mình bị bom đạn nhiều hơn trước. Chị Hạnh bị cháy, em thương chị ấy quá. Hôm đó, bọn nữ của em nhiều cạc bin hơn súng trường, mang cạc bin gọn hơn, đẹp hơn, nhưng bắn máy bay thì không được kết quả. Máy bay rà qua đầu, ôm cạc bin, em cứ cắn răng mà chịu, ức quá. Em vừa đổi được cây CKC. Chừng về, anh nhớ nói các anh đổi cho xã mình vài cây súng trường. Nhớ nhá! Dạo này, đánh với máy bay nhiều hơn. Em không phải nhờ người la hét nữa, em chỉ cần CKC thôi. Anh yên tâm, cả nhà đều mạnh và..”

          Khi nghe anh Khương kể, tôi biết Dung bày chuyện để thử thách. Tôi thoáng hơi giận chị. Bày vẽ câu chuyện thử thách ấy làm gì cho thêm rắc rối! Nhưng sau khi xem thư, nỗi giận nho nhỏ ấy của tôi bỗng tan đi. Lá thư, tâm trạng của chị khiến tôi xúc động. Tôi không dám luận bàn về tình yêu, nhưng tôi nghĩ, điều mà chị xã đội bày ra cho thêm rắc rối đó là cái chất trẻ đẹp của tình yêu mà bom đạn của giặc Mỹ không thể nào giết chết được. Đứng trong cuộc sống chiến đấu đầy bom đạn, chẳng biết lúc nào mình hy sinh, bị tàn tật, nhưng điều đó không ám ảnh được chị. Chị vẫn sống một cách bình thường, vẫn yêu, yêu một cách rắc rối và hồn nhiên như vậy đó. Và đó là sức mạnh của chị.

          Tôi đưa thư lại cho Khương và hỏi:

          - Thư rõ quá, có gì anh phải thắc mắc!

          - Anh lật qua bên kia xem, còn một dòng nữa.

          Tôi lật lá thư lại, thấy một dòng:

          Tái bút: Chừng anh về, biết đâu em là người bị cháy thật!

          Có lẽ Khương hãy còn thắc mắc là tại cái dòng tái bút này.

          Tôi chợt nhớ, lúc chị sắp sửa dán phong thư, chị rút ra, viết thêm một dòng. Viết xong, chị đỏ mặt, hơi ngượng và mỉm cười một mình.

Tháp Mười, 11-10 -1966

Chú thích:

(1) Mấp mé.

(2) Chén mắt trâu.

(3) Một loại bánh tằm làm bằng bột gạo, tròn và dài như con tằm.

(4) Loài sậy.

(5) Cửa sông.

(6) Một loại cây to như cây me, hoa có chùm đỏ như hoa đào, có nhiều ở Nam Bộ.

(7) Dọa.

(8) Bị đuổi sát.

Đánh máy: hoi_Ls
Nguồn:
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 10 tháng 9 năm 2024

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.