Chim Khách - Kêu

Lượt đọc: 40 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những hạt cỏ
Giếng xưa

❊ ❊ ❊

Mãi về sau này tôi mới biết chị Giếng không phải là con đẻ của già tôi. Già tôi nhặt được chị, lúc ấy còn đỏ hỏn, bọc trong manh áo rách, vứt giữa bụi cây ngã ba đồng. Đúng năm làng đào được cái giếng, già tôi đặt tên cho chị là Giếng. Già tôi lấy chồng làng bên, góa chồng sớm, không sinh nở bận nào, lại nhất định ở vậy, coi con nuôi như ruột thịt. Già tôi không bao giờ nhắc đến, cũng không cho ai nhắc đến cái gốc gác lạ lùng, như có trời run rủi để hòn máu rơi từ đâu không rõ, lại rơi vào tay già. Tôi nhỏ hơn chị Giếng cả chục tuổi. Chị em tôi quấn quýt bên nhau suốt ngày. Tôi thường xách cái gàu mo cau, theo chị Giếng ra cái giếng đầu làng gánh nước. Cái giếng tròn, sâu hút, thành giếng xây cao bằng thứ gạch cổ ngả mầu gan gà. Trong lúc chị Giếng đứng khom mình, thả dây gàu xuống lòng giếng, thì tôi cố đu người, thò đầu trên gờ thành giếng mắt thao láo nhìn cái hình bóng của chị Giếng rung rinh trong sóng nước ở dưới sâu. Tôi ngẩn ngơ nói: "Chị Giếng ơi, chị đẹp tuyệt trần!". Chị kéo tôi xuống, vả nhẹ vào má tôi, khẽ gắt: "Thôi, đừng có huyên thuyên, đi về!"

Trong làng có hai anh con trai vẫn rình lúc chị Giếng đi gánh nước để gặp chị. Cả hai đều khỏe mạnh, đẹp đẽ. Chỉ có điều khác nhau là, anh xóm dưới rụt rè nói: "Giếng ơi..." còn anh xóm trên thì cứ xấn xổ: "Này, mình ơi...".

Đêm mùa đông, tôi được ngủ ổ rơm với chị Giếng. Tôi thủ thỉ:

– Em biết có hai người phải lòng chị. Chị ưng ai?

Chị Giếng vờ ngủ say, không nghe thấy tôi nói. Tôi lay chị, giật giật đuôi tóc chị:

– Chị đừng có tảng lờ với em. Chị ưng ai?

Chị Giếng vờ cựa mình, nói ú ớ:

– Sao bỗng dưng em lại hỏi chị ưng ai? Chị chẳng ưng ai!

– Chị giấu em.

– Không, chị không giấu em một tí ti gì!

Tôi không tin lời cả quyết của chị Giếng nhưng đành phải im lặng.

Mùa xuân năm sau, tôi lại được theo mẹ về quê ngoại. Và lại được theo chị Giếng ra gánh nước ở cái giếng đầu làng. Chị Giếng của tôi, sang năm mới đẹp hẳn ra, mắt đen lấp láy, má đỏ tưng bừng. Nhưng chị ít nói hẳn. Tôi lại được ngủ với chị Giếng trên chiếc chõng tre kê gần cửa sổ, ngoài song cửa có tàu lá chuối đẫm ánh trăng, rung lật phật. Tôi trở lại câu chuyện cũ và lại hỏi:

– Chị Giếng ưng ai?

Chị trở mình, quay mặt về phía tôi:

– Thôi, chị không giấu em nữa. Trong hai người ấy, chị ưng một người. Nhưng chị không dám nói thẳng ra đâu. Chị sợ lắm.

Tôi nhổm dậy:

– Chị sợ gì?

Chị vít đầu tôi xuống, giọng lào phào:

– Chị sợ anh chàng chị không yêu, anh chàng vẫn xấn xổ gọi chị là "mình ơi" ấy. Anh ta tự cho mình cái quyền buộc chị phải ưng thuận và dọa chị, nếu chị ưng ai khác, anh ta sẽ giết người ấy liền!

Lúc bấy giờ tôi còn bé dại, tôi chưa biết có điều vô lý trên cõi đời này, lòng tôi đầy hăm hở:

– Chị đừng sợ. Đừng sợ... Bao giờ đám cưới chị, em sẽ đòi mẹ em cho về ăn cỗ cưới chị liền?

Bẵng đi nhiều năm tôi không có dịp về quê ngoại. Đến khi có dịp trở về thì mọi sự đã đổi khác. Già tôi đã thành một bà lão gầy khô, tóc bạc, mắt mờ. Già tôi sờ nắn cánh tay tôi, sờ khuôn mặt tôi để xem có thực là tôi không rồi âm thầm rên rỉ:

– Cháu ơi, già mất con Giếng rồi!

Bấy giờ tôi mới hiểu trên đời này còn có điều vô lý. Một đêm kia, anh con trai xóm dưới được chị Giếng đem lòng thương yêu, bị một nhát dao đâm từ phía sau lưng, xuyên suốt ngực, ở ngay trên nền cái giếng đầu làng. Dân làng ngờ anh con trai xóm trên, vì nổi máu tranh giành, ghen tức đến mức điên khùng đã phạm tội ác. Nhưng không có tang chứng gì... Máu của người xấu số rỉ qua kẽ nứt thành giếng, ngấm vào lòng giếng sâu. Cái giếng đành bỏ hoang, mạch nước ngầm biến mất, đất cát và rác rưởi phủ đầy dưới đáy giếng làm cái giếng khô đi. Chị Giếng âm thầm đau đớn. Kẻ điên khùng, nuôi âm mưu chiếm đoạt vẫn sống nhăn răng giữa làng. Chị được nuôi nấng trong tình thương yêu, đến tuổi đương thì như đóa hoa bừng nở, không phải để cho kẻ ác chiếm đoạt. Già tôi nói với chị Giếng:

– U nhìn vào mắt con thì u biết, con thương u. Nhưng u thương con còn hơn nhiều. Con không thể sống yên ở làng. Thôi, con đi đi...

Chị Giếng òa khóc nức nở. Rồi chị ra đi. Già tôi không khóc, chỉ ra vào ngẩn ngơ như cái bóng.

Đến bây giờ tôi vẫn nhớ về chị Giếng của tôi, có chút gì như huyền hoặc. Trời gửi chị xuống cõi đời này để thử thách cõi đời này chăng? Nay em muốn tìm chị, biết tìm ở nơi nào?

Thằng Còi bạn tôi

Thuở tôi còn là một chú nhóc, tôi có một người bạn, cả bọn trẻ làng tôi đều gọi là thằng Còi. Còi gầy nhom, lẻo khẻo, chân đi tập tễnh, hai cánh tay lòng khòng. Nó có vẻ như hơi ngớ ngẩn nhưng đôi mắt của nó mở to, sáng lấp lánh đến lạ lùng. Khi bọn trẻ chúng tôi chơi những trò náo động, thằng Còi thường bị xô đẩy, ngã lăn quay. Nó chỉ nhăn nhó tí chút chứ không hề giận chúng tôi. Trái lại, nhiều lúc nó đã đem lại cho chúng tôi những niềm vui bất ngờ. ấy là những lúc thằng Còi hé mở ra cái thế giới riêng mà nó tưởng tượng ra, với tất cả lòng say mê và tin chắc. Có đàn kiến bò tíu tít dọc theo chân tường. Thằng Còi nói: "Những con kiến bò ngược chiều, hễ gặp nhau là chúng đụng đầu nhau một cái, ấy là chúng chào nhau". Điều ấy thì chú nhóc nào cũng biết. Nhưng thằng Còi còn nói: "Tao nghe thấy chúng nó nói chuyện với nhau...". Cả lũ chúng tôi hét lên: "Ê, ê, bịa! Mày chỉ bịa!". Thằng Còi hết sức nghiêm trang, nó cúi xuống, nghiêng tai lắng nghe rồi thì thầm, y hệt như con kiến đang thì thầm: "ở trong kẽ hòn đá kê chân cột có hạt ngô vàng. Chúng mày cứ chờ xem, bọn kiến đang rủ nhau, thế nào chốc nữa chúng nó cũng khiêng hạt ngô vàng đi qua đây!". Quả nhiên chỉ một lát sau, cả một lũ kiến xúm xít, con kéo, con đẩy một hạt ngô to đùng, dọc theo chân tường về tổ. Mà đúng hạt ngô vàng chứ không phải ngô trắng hoặc một hạt gì khác. Trên nóc hồi nhà, một con chim sẻ đột ngột bay sà xuống cành bưởi, nó xù lông, kêu "chách! chách!" liên hồi. Từ cành bưởi, con chim sẻ bay sang cành chanh rồi từ cành chanh nó sà xuống đám cỏ góc vườn, bộ lông càng xù lên gần như dựng ngược, tiếng kêu "chách! chách!" càng mau và đanh gắt hơn. Thằng Còi nói: "Khổ thân con sẻ mẹ. Nó bị mất con. Nó đi tìm con. Nó kêu cuống quýt, ới con ơi, con lạc chỗ nào?". Cả lũ chúng tôi còn đang ngơ ngác, nửa tin nửa ngờ thì Còi bỗng huơ tay, hét toáng lên: "Tao với chúng mày đi tìm con sẻ con cho con sẻ mẹ đi. Đi ngay. Nào...". Bị lôi cuốn bởi sự sốt sắng của Còi, cả lũ chúng tôi túa đi khắp các ngóc ngách, xó xỉnh trong vườn, quanh bể nước, ra tới tận cầu ao. Chẳng thấy có con sẻ con nào. Mà con sẻ lớn thì biến đâu mất. Chúng tôi quây lấy thằng Còi, vừa giằng kéo nó vừa cười cợt "Ê, ê... làm gì có sẻ mẹ với sẻ con. Mày chỉ tào lao láo toét, Còi ơi!" Thằng Còi có vẻ hơi lúng túng, nó nhớn nhác ngó quanh, khuôn mặt đang nhăn nhó chợt tươi tỉnh lên. Nó tiến lên một bước, dáng đàng hoàng như là không thèm chấp sự ngốc ngếch của chúng tôi: "Con sẻ mẹ đã tìm thấy con sẻ con. Con nó bị rơi xuống lòng cái máng nước bắc dưới giọt gianh kia kìa. Sẻ mẹ đang kêu, ối giời ôi, con tôi hư lắm! Hư lắm! Nó chỉ kêu nho nhỏ thôi, vừa đủ để tỏ rõ là nó đang mắng yêu con nó thôi. Rồi nó sẽ mớm mồi cho con nó. Chúng mày hãy cứ giương mắt lên mà chờ...". Chúng tôi không phải chờ. ở trên cao, sát giọt gianh mái nhà, trong lòng cái máng nước, nghe có tiếng "chách! chách!" quen thuộc và đầu con sẻ con nhô lên, mỏ há rộng. Đúng là con sẻ con vì mép mỏ còn tươi một vệt vàng. Cả lũ chúng tôi đều nín thinh, đành chịu thua thằng Còi.

Một hôm có một gã lạ hoắc, không biết từ đâu tới câu cá ở ao đình làng tôi. Gã lạ hoắc ngồi dưới lùm tre thưa, quãng bờ ao um tùm cỏ rậm, mặt nước ao loáng thoáng cánh bèo. Gã nhúm một ít thính rang, vung xuống mặt nước. Gã mắc mồi câu vào lưỡi câu rồi buông cần. Chỉ giây lát sau, mẩu phao bằng gỗ bấc trắng xốp đã nháy nháy liên hồi rồi một đầu phao chúi hẳn xuống mặt nước. Gã lạ hoắc giật cần, được con cá rô, gã gỡ con rô ra khỏi lưỡi câu, bỏ vào giỏ. Lũ nhóc chúng tôi đang chơi lảng vảng gần đấy, liền xúm lại xem. Cái giỏ thưa, hom giỏ cũng thưa, lại gãy mấy cái nan, nhìn rõ con rô vừa mắc câu, bị quẳng vào trong giỏ. Nó là con rô cụ, lưng nổi mầu xanh đen, vây dài, đuôi xòe lớn. Nó cong người, nhảy thách lên, miệng nó cứ há ra, ngáp ngáp. Cứ y như là con rô cụ muốn kêu lên điều gì đó. Chúng tôi bảo thằng Còi, mày tài giỏi thì hãy nghe xem con rô cụ kêu gì? Thằng Còi nhòm vào trong giỏ, bàn tay nó khum lại, che lên vành tai, nét mặt căng thẳng. Một lúc sau, Còi ngẩng lên, nói ngập ngừng: "Tao đoán là nó bị lưỡi câu móc rách mép, nó đau, nó muốn kêu lên với các bạn nó ở dưới ao là chớ có tham ăn, chớ có ham cái mồi câu đung đưa trước mũi kẻo mà toi đời!". Vừa lúc đó gã lạ hoắc lại giật cần câu và gỡ ra khỏi lưỡi câu một con rô, bỏ vào trong giỏ. Con rô này béo múp, bụng vàng ươm. Nó cũng cong người, nhảy thách lên, miệng há ra ngáp ngáp... Cả lũ chúng tôi cười vào mũi thằng Còi: "Lần này thì mày trật lấc rồi, Còi ơi. Con rô ở trong giỏ biết kêu lên với bạn nó như thế sao bạn nó ở dưới ao vẫn còn bị mắc câu nào?". Thằng Còi đần mặt ra, nó không tranh cãi, chỉ nói lửng lơ: "Thì tao đã bảo là tao nhìn cái miệng cá ngáp ngáp, tao đoán thế chứ tao có nghe thấy gì đâu. Loại cá sống dưới nước, chúng nó chỉ nói chuyện được với nhau ở dưới nước chứ đã bị bỏ giỏ, nằm ở trên cạn thì chỉ còn ngáp ngáp thôi!". Chúng tôi vẫn cố cười vào mũi thằng Còi, mặc dầu nó láu lỉnh khiến chúng tôi không sao bẻ được nó.

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, với bao nhiêu biến đổi. Nhớ lại thằng Còi bạn tôi thuở thiếu thời, hóa ra là nó có lý.

Cầu đá xanh

Cậu Tần, em họ mẹ tôi, bị mù sau một trận đau mắt nặng, từ ngày còn nhỏ. Nhà cậu ở kề nhà bà ngoại tôi. Mỗi lần sang nhà cậu, tôi cố đi rón rén nhưng tai cậu thính lắm, cậu nghe được bước chân không hề phát ra tiếng động của tôi và cậu à lên ngay: "à, cháu cậu. Lại đây với cậu. Lại đây!". Cậu Tần thường ngồi ở đầu hiên nhà, đan lát, chẻ đóm hút thuốc lào, vót tăm hoặc một việc gì đại loại như thế, mò mẫm mà khéo léo. Cậu gảy đàn bầu, tiếng đàn của cậu mộc mạc, buồn não nùng. Cũng có lúc cậu ngồi im lặng, tấm lưng còng, cái cổ gầy nổi gân xanh, đôi tròng mắt lờ đờ chỉ một mầu trắng đục cứ chớp giật lên, như là cậu đang chăm chú nhìn cái gì đó. Cậu Tần đã lớn tuổi nhưng vẫn thơ ngây như trẻ con. Những hình ảnh ít ỏi cậu thu lượm được khi còn là chú bé sáng mắt, ngày càng lấp lánh trong cái vùng đen tối mênh mông bủa vây đời cậu. Cậu rì rầm kể lại với tôi những trò nghịch ngợm, lội ao, trèo cây hoặc bắt rắn, hun chuột ở ngoài đồng. Rồi cậu bỗng náo nức:

– Cậu muốn ra cái cầu đá xanh ở đồng Ngà. Cháu đưa cậu ra nhé.

Đoạn đường từ nhà ra tới cổng làng, cậu Tần đã quen, cậu vừa đi vừa gõ gõ hoặc lia lia cái đầu gậy về phía trước là có thể nhận biết những chỗ lồi lõm, những khúc quanh. Ra tới đường đồng, thành đường lạ nhưng cậu không cho tôi dắt cậu, chỉ được đi bên cậu, cái đầu gậy của cậu không ngừng gõ gõ, lia lia và cậu quả quyết:

– Cháu chỉ cần đưa cậu đi dăm ba bận là cậu nhớ đường, cậu có thể đi một mình. Rồi cháu xem!

Đồng Ngà ở xa làng, có con ngòi chảy ngoằn ngoèo, nhịp cầu đá xanh không biết được bắc từ thuở nào, các phiến đá đều mòn nhẵn. Đầu cầu nổi một gò đất, sườn gò có gian quán nhỏ, mái ngói lên rêu, không có tường vây, gió lùa thông thống. Cậu Tần buông cái gậy, nằm dài ra trên nền quán, nói thảng thốt như trong mơ:

– Đồng Ngà nhiều cua lắm. Ngày trước, cứ giấc trưa cậu ra đây lội bì bõm bắt cua, nắng há miệng nhưng vào cái quán này, nằm dài một lúc là tỉnh.

Rồi cậu lần ra cầu, sờ soạng từng phiến đá, bàn tay lần theo những vết nứt hoặc những chỗ sứt mẻ.

– Cái cầu này vẫn y nguyên, chẳng có gì suy xuyển. Cả vùng, chỉ có mỗi làng mình có cái cầu đá xanh. Mà lại ở giữa đồng. Hay thật...

Tôi rời quê ngoại, trở về nhà, quê nội. Dù không có tôi, cậu Tần cứ một mình dò dẫm ra tận cầu đá xanh đồng Ngà. Một lần, cậu nhặt được con chó con, không biết từ đâu lạc đến, nằm rên ư ử trong bụi cây ven quán Ngà. Con chó ốm o, đầy mụn ghẻ, hai mắt đùn rử xanh. Mặc cho cả nhà phàn nàn, ca cẩm, cậu Tần tắm rửa cho con chó, cho nó ăn, vỗ về nó. Con chó lành bệnh, béo ra, sủa nhanh nhách, nó luôn quấn quýt bên cậu Tần. Tôi lại có dịp về chơi quê ngoại. Lúc ấy, con Vện của cậu Tần đã lớn, chỉ sau mấy ngày nó thấy cậu Tần yêu quý tôi, hễ tôi sang nhà cậu là nó chạy ra, vẫy đuôi rối rít. Cậu Tần ngồi gảy đàn bầu, con Vện dù đang chơi nhởi đâu đâu cũng chạy vội về, ngồi chầu hẫu trước cây đàn. Vện ngồi im phăng phắc, chỉ hai vành tai dựng đứng của nó thỉnh thoảng hơi rung rung. Con Vện biết nghe đàn, vẻ như nó thấm thía tiếng đàn buồn não nùng của người chủ mù. Nó còn biết canh cây đàn bầu, cậu Tần thường móc vào cái mấu tre, treo lên vách. Hễ ai vô ý đụng vào cây đàn là Vện xông tới, sủa ầm lên.

Rồi tôi đi xa. Đi kháng chiến. ở rừng Việt Bắc kháng chiến, tôi vẫn nhớ về làng quê, nhớ cậu Tần của tôi. Không ngờ, ngày trở về cậu Tần không còn nữa. Một trận giặc càn, dân làng chạy nháo nhác. Cậu Tần mù, không thể chạy đi đâu. Cậu ở nhà, nấp sau cái cót thóc. Còn con Vện, cậu xua nó ra vườn. Lính Tây và lính bảo hoàng lùng sục khắp làng, chúng xông vào nhà cậu Tần, ngó nghiêng, không thấy có gì khả nghi, chúng định bỏ sang nhà khác. Một tên lính nhìn thấy cây đàn bầu treo trên vách, táy máy gảy vào dây đàn, nẩy một tiếng "phừng!". Con Vện rúc kín ở góc vườn lập tức xông ra, nó cứ quẩn vào chân bọn lính, sủa ăng ẳng. Do thế mà bọn lính tiếp tục xăm xoi, chúng tìm thấy cậu Tần nấp sau cái cót thóc. Chúng lôi cậu ra sân đình. Rồi chúng lùa một số dân làng, trong đó có cậu Tần, lên bốt Mỗ. Số dân làng bị giam lại qua đêm ở bốt Mỗ. Còn cậu Tần, bọn giặc đã chắc chắn là người mù thật, đến xế chiều thì chúng thả cho về. Khổ thân cậu, mù lòa, thoát khỏi đồn giặc nhưng biết đường nào mà đi? May còn con Vện. Con Vện chui lủi ngoài đồng, vẫn theo dõi chủ nó, trong đoàn người lam lũ bị sa vào tay giặc. Con Vện quẩn quanh bên ngoài bốt Mỗ. Nó chạy lại bên cậu Tần, cọ người vào chân cậu, đuôi nó vẫy rối rít. Cậu Tần dò dẫm đi theo con Vện, con Vện thỉnh thoảng lại dừng chân, quay đầu, khẽ rên lên ư ử, như để báo hiệu và khuyến khích cậu. Cố lên, cố lên, thầy trò ta sắp về đến cầu đá xanh đồng Ngà rồi!

Cậu Tần về đến cầu đá xanh thì phía bên kia đồng, bọn lính đi càn xa bấy giờ mới trở về. Nắng chiều chênh chếch suốt cánh đồng vàng hoe, cánh đồng chết. Bọn lính thấy giữa đồng có bóng người di động chậm chạp. Chẳng cần biết người đó là ai, chúng chỉ trỏ rồi giơ súng ngắm và nổ cả một băng đạn dài.

Cậu Tần nằm vắt ngang bờ ruộng, máu chảy ra chan hòa. Con Vện chạy quanh cậu, tru lên thảm thiết... Con Vện nhất định không chịu về nhà. Bà con đi làm đồng thỉnh thoảng lại thấy con Vện xuất hiện bên mộ cậu Tần, nó đi quanh nấm đất, mũi cúi xuống hít hít. Nó gầy rạc, lông xác xơ. Rồi con Vện biến đâu mất. Có thể nó thành con chó hoang, cũng có thể nó đã chết vùi ở nơi nào...

Huyền

Chất là thằng bạn cùng quê, có chung một thời thơ ấu với tôi. Hàng năm, cũng như tôi, Chất thường có dịp được theo mẹ về quê ngoại. Chất còn bé tý, được mẹ cõng trên lưng. Lớn hơn một chút, Chất bám vạt áo mẹ, chạy lon ton trên đường đồng, đến nhà bà ngoại thì hai ống quần của nó găm đầy hoa cỏ may. Bà ngoại ở với dì út, nhà chỉ có hai mẹ con thành ra rộng tuềnh toàng. Chất theo mẹ đi chào bà con họ hàng rồi lũ trẻ những nhà ấy kéo đến nhà bà ngoại chơi với Chất. Chúng giở ra đủ các trò vui nhộn, làm vương rơm rạ khắp sân, đánh đổ kềnh những thúng mủng vò lọ trong góc nhà góc buồng. Mẹ mắng Chất hư, làm nhà cửa lộn bậy cả lên, mất công dì út dọn dẹp, lại còn toang toác cái mồm, bà già rồi, bà không chịu được. Nhưng dì út chỉ cười, xoa đầu Chất, khen cháu dì ngoan. Còn bà ngoại thì nhai trầu bỏm bẻm, kéo Chất ngồi vào lòng, nựng cháu có cháu bà về chơi, nhà cửa vui vẻ, bà trẻ lại như thời bà còn con gái ấy!

Năm Chất mười ba tuổi, dịp đầu xuân, Chất muốn về quê ngoại nhưng mẹ bận việc nhà không đi được, nó liền xin mẹ cho nó đi một mình. Nó kể ra vanh vách đường đi qua những đâu, đến đâu thì rẽ rồi đi tắt qua cánh đồng nào. Mẹ véo nhẹ vành tai nó: "Thôi, thôi... đừng có lém!". Chất đeo cái tay nải toòng teng trên vai, trong đựng quà mẹ nó gửi biếu bà và dì út, đi đẫy buổi thì về đến quê ngoại. Lũy tre làng nhảy nhót những đốm nắng vàng hoe, đường làng lấm tấm hoa xoan mầu tím nhạt.

– Bà ơi, dì út ơi, cháu Chất về thăm bà với dì đây!

Nhà bà ngoại vắng tanh. Chất đang ngơ ngẩn trước sân thì có một cô bé lạ hoắc từ trong bếp chạy ra:

– Bà với dì út đi lễ chùa. Tớ là Huyền, mẹ tớ bán hàng ngoài chợ, quen dì út, được bà cho ở nhờ. Tớ vẫn được nghe bà và dì út nói về cậu. Cậu vào nhà đi.

Những ngày ở chơi nhà bà ngoại, Chất và Huyền dần dần thân nhau. Cái Huyền bảo cả nhà toàn đàn bà, bây giờ có người đàn ông, vui ghê. Chất ngượng chín người, còn lâu nó mới đáng được gọi là đàn ông nhưng nó cũng ngầm hãnh diện. Huyền láu táu, thích nói chuyện. Nó hỏi Chất: "Mùa xuân, cậu thích nhất cái gì?". Chất thích đủ thứ, nó chưa kịp phân biệt cái nào là nhất thì Huyền đã nhanh nhảu trả lời: "Tớ thích nhất mưa bụi!". Mưa bụi thấp thoáng rơi, nhẹ hơn cả mưa phùn. Những hạt mưa li ti như có như không, màn mưa phảng phất mơ hồ như sương khói. Cái Huyền đứng giữa trời mưa bụi, mặt ngửa lên, im phắc rồi nó khẽ reo lên: "Ôi, thích quá, có hạt mưa đậu trên mi mắt tớ này!". Chất háo hức: "Đâu? Đâu?". Cái Huyền chớp mắt: "Nó tan rồi!". Chất rủ Huyền đi chơi, hai đứa dạo khắp làng, ra cả khu văn chỉ có cái bệ thờ giữa khoảnh đất um tùm cây dại. Cái Huyền lảng xa cái bệ thờ, nấp kín sau một bụi cây, gọi ơi ới: "Chất ơi, lại đây tớ bảo cái này hay lắm!". Nó đổi giọng thì thầm, vẻ bí mật: "Cậu biết không, mấy đứa lớn ở trong xóm vẫn rủ tớ đi chơi nhưng tớ không đi. Tớ ghét chúng nó, chúng nó hay kể chuyện ma để dọa tớ...". Chất tò mò: "Chuyện thế nào?". Cái Huyền gạt đi: "Toàn những chuyện quái dị, tớ không kể lại đâu, sợ lắm! Thế còn cậu, cậu có sợ ma không?". Chất có sợ ma nhưng nó nghĩ mình là con trai, mình sẽ lớn lên, sẽ là đàn ông nên phải ra vẻ cứng cỏi: "Vớ vẩn, chúng nó đem chuyện ma ra dọa, nếu mình sợ tức là mình chịu thua chúng nó à?".

Mùa xuân, các làng trong vùng lần lượt mở hội hè, đình đám. Mẹ Huyền vừa gánh hàng đi chợ bán lại vừa đi bán rong khắp các đám hội hè. Bà quá vất vả. Một buổi chiều, bà gánh hàng về đến nhà thì mặt mày sa sầm, phải nằm vật ra giường. Cái Huyền vội xoa dầu, đi rang cám đánh gió cho bà nhưng bà lên cơn sốt mê man. Huyền rủ Chất sang thôn bên lấy thuốc giải cảm của cụ lang Lủ. Nghe nói cụ lang có môn thuốc gia truyền rất hay. Hai đứa vừa đi vừa chạy qua dải đồng hẹp ngăn cách hai thôn. Cụ lang Lủ đi vắng, chờ người nhà gọi được cụ về, bốc thuốc cho thì trời đã nhập nhoạng tối. Dải đồng hẹp ngăn cách hai thôn mờ mịt, quãng bờ chuôm giữa đồng nổi một khối lù lù đen sẫm. Lúc đi, vội quá, hai đứa không chú ý đến bụi tre già ở khúc đường vòng theo bờ chuôm. Bây giờ cái bóng của nó lòa xòa, nghiêng ngả còn con đường thì mất hút trong vùng tối thui. Cái Huyền nói qua hơi thở đứt quãng: "Nguy rồi, Chất ơi... Mấy đứa lớn ở xóm mình chúng nó bảo bụi tre già kia có ma. Con ma bụi tre. Đêm tối thế này, hễ có người đến gần là nó kêu cót két...". Huyền nép sát vào Chất, hai đứa đều rùng mình vì luồng gió thổi qua mặt chuôm rộng, ào vào bụi tre, nghe tiếng thân tre cọ vào nhau "cót két, coót keét!". Cái Huyền khẽ giật giật gấu áo Chất: "Dừng lại đi. Con ma bụi tre nó ngả một cây tre qua đường kìa. Nếu mình dại mình chui qua, nó sẽ đè mình xuống đấy!". Chất cảm thấy cái Huyền run, hay là chính nó run, chịu không phân biệt được. Nhưng lúc này nó phải trở thành người lớn, tức là trở thành người đàn ông đích thực, nó giương mắt nhìn chòng chọc vào bóng đen lùm tre: "Cậu đứng yên. Để tớ thử chui qua. Chắc là cây tre bị gió lay bật gốc, nó ngả xuống chứ chẳng có con ma nào ngả nó xuống đâu!". Cái Huyền đứng yên rồi nó bỗng tiến lên, nắm lấy bàn tay Chất: "Hượm đã, cậu định thử thì tớ cũng sẽ cùng thử với cậu". Hai đứa nắm tay nhau cùng chui qua cây tre ngả. Chẳng thấy con ma đâu. Cái Huyền vẫn nắm tay Chất, nó đột ngột kéo Chất cùng chui trở lại chỗ cũ. Chất kêu: "Ơ, cậu điên à?". Cái Huyền cười khúc khích: "Tớ không điên. Mấy đứa lớn ở xóm mình chúng nó còn bảo con ma bụi tre biết dử người trèo qua cây tre ngả, nó sẽ bật cây tre hất người văng tít ra xa, còn đáng sợ hơn là bị nó đè. Chúng mình thử trèo qua xem sao nào!". Hai đứa vẫn nắm tay nhau, cùng trèo qua cây tre ngả. Cây tre rung rinh. Lại nghe trong bụi tre tiếng kêu "cót két! coót keét!". Nhưng chẳng thấy con ma nào...

Qua mùa xuân năm ấy, Huyền theo mẹ đi làm ăn nơi khác, Chất không còn dịp gặp lại Huyền. Nhưng Chất nhớ suốt đời cái lần đầu tiên được nắm bàn tay nhỏ mềm và ấm áp của người bạn gái. Khi hai đứa nắm tay nhau cùng đi trên đường thì dù đêm vắng, lại thêm lời dọa nạt về con ma bụi tre, hay bất kể con ma gì đều không đáng sợ.

Cái đuôi cáo

Làng Ngò thuộc vùng quê tôi nhưng thuở tôi còn nhỏ tôi chỉ được nhìn một vệt xanh lũy tre ở xa tít bên kia cánh đồng. Làng vốn nghèo, ở khuất nẻo, gần như cách biệt với chung quanh. Vậy mà xưa kia làng có ngôi đình to, hàng năm vào đám linh đình, lại có màn diễn trò vui lạ, thiên hạ thường rủ nhau nô nức đến xem. Một thời kỳ dài, người ta bỏ việc thờ cúng, ngôi đình trở nên hoang phế. Bây giờ, những làng thờ thành hoàng là bậc có công đức, lần lượt được phục hồi. Thành Hoàng làng Ngò cũng là bậc có công đức, dân làng Ngò đóng góp, sửa sang lại tàm tạm ngôi đình rồi bàn việc vào đám. Chuyện tế lễ, rước xách miễn ở lòng thành, thôi cứ tùy liệu. Chỉ còn băn khoăn cái màn diễn trò lúc giã đám, người làng không ai nhớ rõ màn trò ấy ra sao. May quá, trong hàng bô lão còn cụ Từ Viết, xưa từng là ông từ coi đình, đến thời đình làng biến thành kho hợp tác xã thì là ông coi kho. Cụ Từ Viết sống dai, có nhẽ chỉ còn thiếu mấy tháng là đầy trăm tuổi. Cụ vẫn khỏe mạnh nhưng đầu óc lẫn lộn, vừa ăn cơm xong cụ kêu chưa ăn, chưa ăn cụ lại bảo ăn rồi. Mấy ông ban tổ chức hội làng đến hỏi cụ Từ Viết về cái màn trò giã đám. Cụ ngồi ngây ngây rồi nói ngẩn ngơ như con trẻ: "Làng sắp vào đám ư? Vui quá! Tôi phải bắt thằng cu Đột, chắt tôi nó dẫn tôi đi xem!". Cố gặng hỏi thêm cũng vô ích, thôi đành gác lại màn diễn trò.

Sự thực, thằng cu Đột không có họ hàng, cháu chắt gì với cụ Từ Viết. Nó là đứa trẻ tính khí thất thường lúc thông minh, lém lỉnh, lúc lại như ngu dại, lù đù. Hôm làng vào đám, thằng cu Đột còn mải đi tát vũng ngoài cánh đồng gần bờ sông. ở đình làng, đèn hương đã thắp, chiêng trống nổi lên, cờ ngũ sắc bay phấp phới. Đám rước kiệu thành hoàng làng đi từ đình ra miếu - miếu dựng trên một gò đất có cây đa già và nhiều cây bụi mọc lúp xúp. Đám rước nhộn nhịp kéo qua chỗ thằng cu Đột đang tát vũng. Cu Đột đứng dầm chân trong bùn, ngó lên. Mặt nó đờ ra, đôi mắt chớp giật, như nhớ lại điều gì. Khoảng xế chiều, kiệu thành hoàng lại được rước từ miếu về đình. Phường kèn tấu nhạc, chiêng trống dàn ra, sắp nổi hiệu tan đám thì bỗng có tiếng trẻ con hét lớn:

– Khoan đã, đám chưa thể tan! Ta còn phải trừ mối họa cho dân rồi ta mới về trời!

Thằng cu Đột nhảy ra giữa sân đình, đầu tóc nó dính đầy bùn đất, sợi dây đay nó thắt ngoài lưng áo từ lúc nó đi tát vũng, vẫn y nguyên. Đôi mắt nó nhìn nảy lửa, tay chỉ về phía trước:

– Tên kia, ngươi có biết ta là ai không? Sao ngươi dám quấy nhiễu dân làng?

Lúc bấy giờ cụ Từ Viết đang ngơ ngẩn ở tận góc sân đình. Nghe tiếng quát, cụ giật nảy mình rồi cụ cuống quýt lách qua đám đông, vào đứng ở cái khoảng trống thằng cu Đột vừa chỉ:

– Bẩm ngài, đất này là đất của tôi, hà cớ gì ngài quát nạt tôi?

Thằng cu Đột dậm chân:

– Này con hồ li tinh, con tinh cáo, hãy nghe đây. Ta đi đánh giặc giúp vua. Giặc tan, vua phong cho ta đất này để ta phá hoang, mở mang làng xóm. Ngươi đào hang ẩn trong bụi tre, đêm ngươi hiện hình người, đến từng nhà dân dọa dẫm, bắt hết gà trong chuồng của người ta. Ta phải trừng trị ngươi!

Cụ Từ Viết cúi lom khom, nói ấp úng:

– Bẩm ngài, ngài nhầm. Tôi cũng là người...

– Ha ha, ngươi không che mắt được ta đâu. Ngươi cố giấu cái đuôi nhưng ta vẫn trông thấy nó ve vẩy đằng sau đít ngươi kia kìa - Thằng cu Đột bỗng cởi sợi dây đay thắt ngang lưng áo, vứt cho cụ Từ Viết - Này, cầm lấy cái đuôi, chắp nó vào sau đít đi. Ta với ngươi quyết đấu một phen!

Thằng cu Đột biến đổi hoàn toàn, mặt đỏ bừng, mắt sáng quắc. Nó chạy vòng quanh cụ Từ Viết, lúc tiến gần, lúc lùi xa. Cụ Từ Viết cũng lật đật chạy vòng quanh, tay cầm sợi dây đay kéo lê ở phía sau. Thằng cu Đột tóm được sợi dây đay. Nó giằng co với cụ Từ Viết rồi nó đột ngột nhảy dựng lên, huơ tay làm một nhát chém, thu sợi dây đay về. Cụ Từ Viết nhào ra khỏi đám đông và cụ lại trở lại ngẩn ngơ, cụ đi về nhà. Còn thằng cu Đột đứng oai phong lẫm liệt giữa sân đình, chân dẫm lên sợi dây gai, giọng sang sảng:

– Nổi trống to lên! Tấu kèn vang lên! Ta đã chặt đứt đuôi con hồ ly tinh, con tinh cáo. Nó sẽ cút, không dám bén mảng đến vùng ta!

Sau ngày hội làng, mọi người xúm lại hỏi thằng cu Đột:

– Sao mày biết sự tích đức thánh hoàng, mày dám nhảy ra diễn trò đuổi bắt con hồ ly tinh?

Thằng cu Đột cười ngây thơ:

– Hồi đình làng mình biến thành kho hợp tác, cụ Từ Viết coi kho, hồi ấy cháu còn bé tý, cháu vẫn ra kho ngủ với cụ. Đêm nào cụ cũng vừa kể chuyện vừa diễn trò cho cháu xem. Cháu thuộc làu. Cụ Từ bảo, ngày xưa vẫn có cái đuôi cáo thật đặt dưới chân ngai thờ. Hội làng hàng năm, diễn trò xong, cứ để cái đuôi cáo giữa sân đình, cho dân làng dẫm đạp lên.

Các bô lão đến hỏi cụ Từ Viết về cái đuôi cáo. Cụ ngây ngây hỏi lại: "Các vị phải hỏi đức thành hoàng chứ sao lại hỏi tôi!". Cụ Từ Viết đã lẫn nhưng như thế cũng đủ để dân làng Ngò quyết định làm một cái đuôi cáo giả, đặt dưới chân ngai thờ thành hoàng làng.

Về phần tôi, tôi kể lại chuyện này vì một lẽ nữa: Đức thành hoàng làng Ngò quả là có công đức lớn. Nhưng ngài mới chỉ chém được đứt đuôi con hồ ly tinh, trừ hại một thời cho một làng Ngò. Biết đâu con tinh cáo ấy chẳng vẫn sống, nó chịu cụt đuôi hoặc cũng có thể đã mọc ra cái đuôi mới và nó hiện còn quanh quẩn đâu đây...

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.