Những bữa cơm của người Nam Hà - Giao thiệp với nhà vua trẻ xứ Bắc Hà - Quà tặng của nhà vua cho ngài đại sứ. Tiệc chiêu đãi ở Đà Nẵng nhân ngày sinh nhật vua nước Anh - Các vở diễn và những trò giải trí khác - Hoạt động của người dân Nam Hà - Họ giống và khác người Trung Quốc như thế nào - Cách họ đối xử với phụ nữ - Hệ quả của nó - Những điều kiện dễ dàng của việc chuyển giao phụ nữ cho người nước ngoài - Những ví dụ về việc đó - Y phục - Việc xây cất - Thức ăn hằng ngày và những phương tiện sinh sống - Việc sử dụng rộng rãi hải sản làm thức ăn - Tình trạng thấp kém của kỹ thuật và công nghệ - Sự vượt trội nhất của ngành đóng tàu biển - Ngôn ngữ - Tôn giáo - Luật pháp giống như luật pháp Trung Quốc - Những hình phạt xảy ra không thường xuyên.
Như đã nhận xét ở chương trước, khi lòng ghen ghét và nỗi lo sợ gây nên bởi việc đoàn tàu của chúng tôi xuất hiện, và do Manuel Duomé tung ra những lời nói ám chỉ vô căn cứ, nay đã tạm lắng dịu, đồ ăn uống bổ dưỡng ngày qua ngày đã được cung ứng tốt hơn nhiều từ các khu chợ, các quan chức chính quyền bớt thận trọng, và hình như mọi người đã có phần hiểu biết nhau hơn. Cũng như sự giao tiếp thường xuyên đã được thiết lập giữa những người dân ở cảng với những người trong hạm đội của chúng tôi, quan chức trên tàu và những quý ông làm việc trong sứ quán mà do công việc hay do lòng hiếu kỳ, cả ngày ở trên bờ biển đã được khoản đãi những bữa cơm công cộng. Về phía họ, một vài người lãnh đạo hằng ngày đã đến thăm tàu, mặc dù họ cảm thấy rất ít hứng thú đối với cách nấu nướng của chúng tôi trong những bữa cơm họ được mời. Họ không ham thích những loại bia hoặc rượu vang của chúng tôi, nhưng họ lại rất mê loại rượu rum nguyên chất, rượu brandy hay bất kỳ một loại đồ uống nào có cồn, đến mức sau lần thăm viếng đầu tiên của họ, người ta thấy rằng không nên để họ tùy ý uống quá nhiều, vì cả đoàn người khi đó đã ra khỏi con tàu trong tình trạng say xỉn…
Vì không một ngôi nhà nào trong thành phố đủ rộng rãi để thích hợp cho một bữa tiệc có quá đông người tham dự như vậy, viên thống đốc đã ra chỉ thị cho dựng một lều rạp rất lớn bằng tre, là thứ cây ở đây có sẵn và rất tiện ích; chiếc rạp đã được hoàn thành chỉ trong vài giờ; mái và vách được che phủ bằng những tấm chiếu liếp khít dày. Bên trong rạp, người ta bày một dãy bàn nhỏ, sắp xếp cho mỗi bên từ 20 đến 24 người có thể ngồi thoải mái. Ở Trung Hoa có phong tục là phủ kín các đĩa thức ăn lên những chiếc bàn nhỏ hình vuông, hay đúng hơn là những chiếc bát, đến nỗi trên bàn không còn chỗ trống nào. Nhưng hình như người Nam Hà lại hào phóng hơn những ông bạn láng giềng rất chi lịch thiệp của họ, khi không chỉ phủ kín mặt bàn mà còn chồng xếp những chiếc bát lên cao thành từng dãy, mỗi chồng có tới ba bốn chiếc. Tôi cho rằng hiếm khi chúng tôi ngồi trước một đống bát ít hơn 200 cái, không kể tới những bát cơm được chuyền tới tay các vị khách để dùng thay bánh mì. Đời sống của người dân Nam Hà, cũng như ở Trung Quốc và hầu hết các quốc gia phương Đông, đều chủ yếu dựa vào thóc gạo. Họ không dùng đến khăn trải bàn, dao, nĩa, chai và cốc; nhưng trước mặt mỗi người đặt một chiếc thìa bằng gốm, một đôi que nhỏ bằng tre, gỗ hồng đào hoặc gỗ trầm, đôi khi bịt bạc hoặc loại bạch đồng Tootanague[1], giống hệt như kiểu mà người Trung Hoa đã dùng, người Anh gọi chúng là “chop-sticks” [đũa]. Trong các bát, người ta chuẩn bị các món thịt bò, thịt lợn, thịt gia cầm và cá, thái ra từng miếng nhỏ, trộn với rau, nấu thành canh và nước dùng, cho thêm nhiều gia vị và chế biến bằng các nguyên liệu khác nhau. Chúng tôi không thấy những món quay nướng, hoặc những món được làm theo lối đồ ăn khô. Trong khi ăn, chúng tôi không được phục vụ rượu vang hoặc rượu mạnh, cũng không có các loại đồ uống có hơi men, ngay cả đến nước cũng không có. Nhưng sau khi ăn xong người ta đã đưa cho chúng tôi những chén sứ nhỏ trà Tàu (Seau-choo).
Vì không biết tiếng nói của nhau nên chúng tôi không thể trao đổi chuyện trò và thấy ít có lý do để ngồi lại lâu ở bàn. Viên thống đốc hoặc viên tướng lĩnh chỉ huy cảng Đà Nẵng dĩ nhiên đã không hạ cố để ngồi với chúng tôi, nhưng thường trong những dịp này, ông ta nằm tựa vào một cái đệm gối trải trên một chiếc chiếu ở trong phòng, hút thuốc lá hay ăn trầu cau, trong khi hai gã vóc người cao lớn quạt cho ông ta suốt trong thời gian đó với những chiếc quạt kéo lớn làm bằng lông của loại gà lôi Argus.
Từ bàn ăn, chúng tôi thường kéo đến rạp hát, cũng là một cái lán làm bằng tre. Ở đây, cũng như ở Trung Quốc, chúng tôi vẫn luôn luôn thấy các đào kép bận rộn tham gia biểu diễn mọi lúc, nhiệt tình diễn bất kể là khi đó có khán giả xem hay không. Họ được thuê diễn trọn cả ngày; những diễn viên không phân biệt đông hay ít khán giả; họ chỉ quan tâm đến việc nhận thù lao sau khi làm xong công việc.
Toàn bộ phân khu này của xứ Nam Hà, trong đó có vịnh Đà Nẵng, lúc này do nhà vua Quang Trung trẻ[2] chiếm giữ, con trai của tướng giặc đã đánh bại Phó vương Quảng Châu, và sau đó đã dàn dựng một mẹo lừa đối với Hoàng đế Trung Hoa, mà tôi đã kể lại trong chương bên trên. Ông ta ở trong đô thành Huế, cách Đà Nẵng khoảng 40 dặm về phía Bắc. Chẳng bao lâu sau khi tin tức về sự đón tiếp ân cần của những người bạn của chúng tôi - đúng ra theo sát nghĩa là những người trung lập - tới kinh đô, thì một viên quan đại thần đã được phái đến gặp ngài đại sứ, với lời mời ngài đến triều đình. Tuy nhiên, ngài đại sứ thấy mình nên khước từ thì tiện hơn, do nhiều lý do, đặc biệt là việc đến Huế như vậy sẽ có thể làm cuộc hành trình bị chậm trễ. Mặc dù vẫn ao ước có cơ hội được tới kinh đô của bắc phần xứ Nam Hà, như là một dịp để thấy được tình hình trong nội địa của đất nước, nhưng có vẻ việc không được nhìn thấy tận mắt những nghi lễ, tiệc tùng trong cung đình Huế để thỏa mãn tính hiếu kì cũng không thật đáng tiếc cho lắm, nhất là chúng tôi lại sắp sửa có mặt ở triều đình Bắc Kinh, tuy cùng một kiểu, nhưng chắc phải lộng lẫy hơn nhiều so với những điều trông thấy được ở triều đình Nam Hà.
Có lẽ sẽ thích thú hơn nếu ta có dịp tự mình sống vài ngày tại những thị trấn, ở những làng mạc và trong những mái nhà tranh. Như Tiến sĩ Johnson đã nhận xét: “Thực trạng của mọi quốc gia là cuộc sống thực tế của dân thường. Hạnh phúc của công chúng không phải được đánh giá bằng những cuộc tụ họp hoan hỷ, những buổi tiệc tùng của người giàu có”. Đông đảo quần chúng của các quốc gia “không giàu có mà cũng chẳng hoan lạc”. Điều này đối với các nước phương Đông lại càng đúng. Ở đây, chỉ có hai sự miêu tả về con người: người cai trị và những người bị cai trị. Tuy nhiên, một thú vui chơi có lẽ là đã được xác nhận là rất thú vị, mà hình như các nhà vua xứ Nam Hà thường tiêu khiển với những sứ thần ngoại quốc: đó là cuộc du ngoại vào rừng để săn voi, hổ hoặc trâu rừng; vào những dịp này, nhà vua thường thết tiệc thịt voi. Do vậy, người ta đã nói rằng người Nam Hà ăn thịt voi, nhưng có thể là kích thước đồ sộ của con vật biểu lộ tính lạ thường của buổi liên hoan hơn là sự ngon lành của thức ăn, mà tôi cho là nó rất tầm thường. Trong những cánh rừng xứ Nam Hà và những xứ sở lân cận, những con voi được cho là có thân hình to lớn hơn bất kỳ ở nơi nào khác trên thế giới. Con voi đầu tiên mà tôi từng trông thấy là ở Đà Nẵng, sự xuất hiện của nó đã gây ra trong tâm trí tôi một ấn tượng thật mạnh mẽ. Tôi có thể nói chắc chắn rằng những con voi xứ Nam Hà, đỉnh núi Teneriffle[3] và cơn bão biển là ba thứ đặc hữu trong thiên nhiên đã vượt quá những điều tôi có thể hình dung trong trí tưởng tượng.
Bức thư của nhà vua trẻ tràn đầy những lời lẽ thán phục của ông đối với nước Anh. Để minh chứng điều đó, như ta thấy, ông đã cử một viên quan đem đến món quà tặng nhỏ như lời ông nói, để đoàn thủy thủ dùng. Món quà gồm 10 con nghé, 50 con lợn thiến và khoảng 300 con gà vịt, cùng với hoa quả, bí ngô, cà, hành và những loại rau khác, những trái quả tươi mát đang mùa, được chở trong những chiếc thuyền buồm, đi trước là một đoàn quan chức ngồi trên những chiếc thuyền chèo tay lớn, sơn màu sặc sỡ và được trang hoàng cờ hiệu và cờ đuôi nheo. Ngài đại sứ đã gửi thư phúc đáp, kèm theo một khẩu súng hai nòng xinh xắn với đầy đủ phụ kiện, một đôi súng lục bằng đồng thau có lắp lưỡi lê lò xo, một thanh gươm có chuôi thép, nhiều tấm vải bông to và những tấm vải khổ rộng màu đỏ tươi. Người mang thư mặc một áo dài lụa, thêu hình hổ và rồng, giống như những áo mặc ở Trung Quốc, nhưng khi lên con tàu Lion, người đó đã cởi chiếc áo ấy ra và mặc vào hai hay ba chiếc áo dài bằng vải mỏng trắng.
Sự hiểu biết lẫn nhau đến nay có được giữa người dân bản xứ và chúng tôi bỗng gián đoạn tạm thời do một hành động thiếu thận trọng của chúng tôi. Vì muốn có một cái nhìn tổng quan chính xác về cảng biển và vịnh biển tuyệt vời này, một buổi sáng một số người trong chúng tôi đã chèo thuyền cập bến ở bờ phía đông. Ở đó, bằng cách đo một đường cơ bản trên dải cát và tính toán những góc cần thiết, chúng tôi có thể xác định vị trí của những điểm trọng yếu nhất. Căn cứ vào việc chúng tôi thực hiện dự định đó vào lúc sáng tinh mơ, họ kết luận rằng chúng tôi đã bỏ trốn mà không báo trước. Một viên quan đã lập tức đi thuyền đến, mang theo một bức thư của quan thống đốc, bày tỏ sự không hài lòng về cách cư xử của chúng tôi, và mong muốn rằng những hành động đo đạc như vậy sẽ không tái diễn nữa. Một tình thế khó xử khác đã xảy ra, càng giúp cho việc xác nhận sự nghi ngờ rằng chúng tôi có những ý đồ khác với những điều mà chúng tôi đã tuyên bố. Một sĩ quan của tàu Lion vì rất nhiệt tình muốn thăm dò dòng sông dẫn đến Hội An, bỏ qua sự thận trọng, đã bị bắt vào lúc ban đêm, bị giam vào trong một pháo đài nhỏ, với toàn bộ thủy thủ trên thuyền. Không nghe thấy tin tức gì về những việc đã xảy ra, chúng tôi phán đoán rằng chiếc thuyền đã bị đắm và mọi người trên đó đều đã chết. Tuy nhiên, cuối cùng, một số quan chức chính quyền cũng đem tin tức tới tàu Lion, với lời phàn nàn gay gắt rằng chúng tôi không cư xử thành thật đối với họ. Ngài đại sứ chối là không hề biết gì về sự việc, nhưng mong muốn rằng viên sĩ quan sẽ được thả ngay ra và gửi trả về tàu, để phải trả lời về hành xử của ông ta với sĩ quan thượng cấp và việc đã dám liều lĩnh bất tuân thượng lệnh. Có thể tội thiếu thận trọng của ông ta sẽ bị trừng phạt nặng. Ông quan đã bắt viên sĩ quan - hầu như thường xuyên trong tình trạng say sưa - lúc đó bèn ra lệnh cho dẫn viên sĩ quan đến trước mặt, thỉnh thoảng lại tự mua vui cho mình bằng cách vung một thanh đao cong (scyhmitar) lớn trên đầu viên sĩ quan, đôi lúc lại đặt quanh cổ anh ta một tấm bảng nặng bằng gỗ và sắt, giống như cái gông của người Trung Quốc. Tuy vây, sự việc đó đã được giải thích thỏa đáng và chúng tôi có lý do để tin rằng lúc đầu họ có nghi ngờ bất lợi cho chúng tôi về những động cơ khi đi vào vịnh Đà Nẵng, nhưng chẳng bao lâu sau họ đã tin rằng chúng tôi không có ý đồ sâu xa là can thiệp vào những công việc có liên quan đến các bên đang đánh nhau. Trong bức thư thứ hai của nhà vua, một vài đề nghị gián tiếp đã được đưa ra nhằm thiết lập mối giao dịch buôn bán với những phần đất phía bắc của xứ Nam Hà. Món quà tặng kèm theo bức thư gồm có một cặp ngà voi và 10 bao hạt tiêu cho ngài đại sứ và 3.000 bao gạo (mỗi bao nặng chừng 70 pound, như vậy lên tới chừng 100 tấn) để cho thủy thủ dùng[4].
Ngài đại sứ vẫn chưa lên bờ ở thành Đà Nẵng và khi các quan chức chủ yếu ở địa phương rất mong muốn bày tỏ lòng kính trọng của mình bằng một buổi liên hoan công cộng nhân dịp này, ngài đã ấn định vào ngày 4 tháng 6 sẽ làm lễ kỷ niệm sinh nhật đức vua của mình trên bờ cùng với những người Nam Hà. Hoặc là qua sự biến hoặc do hậu quả của những mối nghi ngờ trước đây, hoặc là để làm nổi bật tiếng tăm của buổi liên hoan, vào buổi tối hôm trước, tuy chúng tôi không trông thấy có hoạt động gì, nhưng chúng tôi quan sát được một sự náo động bất thường và số quân đã tăng lên bên trong và ngoài thành phố, kèm theo nhiều voi chiến khổng lồ. Vì vậy, về phần chúng tôi, để đề phòng đã cử hai thuyền buồm có vũ trang đi ngược sông tới chỗ đối diện thành phố, để trong trường hợp cần thiết có thể rút lui an toàn. Tuy nhiên, ngày hôm đó đã qua đi trong thuận hòa vui vẻ. Chúng tôi được dẫn từ bờ biển tới một tòa nhà tạm, có kích thước rộng hơn cái lán mà cho đến lúc này chúng tôi thỉnh thoảng có tới. Hai mái dốc của nhà được đỡ bằng một hàng cột tre chạy dọc ở giữa, chia tòa nhà thành hai phần. Hai bên mái được lợp bằng hai lần thảm dày, bên trong có lót các loại bông thô Manchester. Hình như những thứ này là hàng mới nhưng ít nhiều bị hư hại, có thể đã bị từ chối ở thị trường Trung Quốc và được tay lái buôn người Bồ Đào Nha mang đến đây. Trong gian đầu tiên của tòa nhà đặt một chiếc bàn dài có phủ khăn, trên bày nhiều đĩa, dao ăn và nĩa theo phong cách châu Âu. Hình như để chuộc lại phần nào việc làm tổn hại của ông ta gần đây đối với chúng tôi, mặc dù có thể là không do ác ý, ông bạn người Bồ Đào Nha đã thuyết phục những người xứ Nam Hà cho phép ông ta được làm người chủ trì buổi lễ ngày hôm đó, trong thâm tâm nghĩ rằng chúng tôi sẽ coi việc ăn uống là phần hay nhất của buổi liên hoan, và về mặt này ông ta sẽ có thể chiều theo khẩu vị của chúng tôi tốt hơn là người Nam Hà. Với suy nghĩ này, công bằng mà xét thì ông ta đã không quản ngại vất vả và tiêu pha tốn kém để làm cho bữa ăn được hoàn hảo trong những điều kiện cho phép. Như vậy, do lòng nhiệt tình không đúng chỗ của ông, một buổi tiệc ngon của người Nam Hà đã bị phá hỏng hoàn toàn bởi một bữa ăn tồi theo kiểu Bồ Đào Nha.
Có một tình huống nhỏ đã xảy ra khi chúng tôi mới bước vào tòa nhà, làm cho các quan chức Nam Hà khá lúng túng. Những viên quan này, trong hầu hết mọi trường hợp đều tuân theo các phong tục Trung Hoa, đã chuẩn bị một bức màn trướng bằng lụa màu vàng, có đề những chữ Hán, sơn thiếp viết tên nhà vua trẻ tuổi ở Huế. Hoặc là họ coi việc đó như điều đã được chấp nhận, hoặc là ông Manuel Duomé đã nói cho họ biết rằng những người Anh, để cư xử đúng lẽ, sẽ bái lạy như thông lệ hình bóng của hoàng thượng, chúng tôi không dò hỏi điều này, nhưng rất rõ ràng là họ đã chờ đợi hành động đó. Vi khi viên tướng chỉ huy cảng Đà Nẵng, ngồi bắt chéo chân trên ghế tràng kỷ như một nhân vật được vua ủy quyền, thấy rằng sau khi chúng tôi cúi chào, đã lần lượt đi theo hàng lối tới chỗ ngồi của mình, mà không để ý đến bức trướng màu vàng, ông ta tỏ ra rất bối rối và có thể nói hầu như đã không lấy lại được bình tĩnh được trong suốt ngày hôm đó. Nỗi thất vọng của ông vì thấy thiếu mất chín cái quỳ lạy đã tác động sâu sắc đến tinh thần ông đến nỗi ông tỏ ra rất trầm ngâm suy nghĩ, đánh giá về những người sĩ quan anh em của mình. Ông ít chú ý đến khi người ta giới thiệu cấp bậc và cương vị của từng người chúng tôi nắm giữ trong đại sứ quán, mặc dù riêng bản thân ông rất muốn. Tới khi người phiên dịch Trung Quốc tuyên báo rằng Đại úy pháo binh Parish là “người trông nom các khẩu súng đại bác”, thì ông ta bỗng nhiên rất chú ý đến người này, và suốt ngày hôm đó hình như ông ta đã nhìn viên sĩ quan đó như một con người thật khủng khiếp và rất nguy hiểm.
Ở khu cách xa tòa nhà, khi chúng tôi đi vào thì một đoàn diễn viên đang diễn đến đoạn giữa của một vở tuồng lịch sử. Nhưng khi thấy chúng tôi vừa ngồi xuống, họ bèn ngừng lại và tiến xuống trước mặt, tỏ lòng tôn kính, quỳ xuống vái lạy chín lần, điều mà trước đó chúng tôi tỏ ra hết sức thất thố quên không làm đối với vị quan và bức trướng lụa có vẽ hoa kia. Sau đó, họ trở lại tiếp tục công việc, tạo nên một cảnh ồn ào náo nhiệt không ngớt trong suốt thời gian chúng tôi ở đó. Sức nóng của ngày hôm đó theo nhiệt kế lên tới 81°F [~27,2°C] trong bóng râm ngoài trời, và cao hơn ít nhất 10° khi ở bên trong tòa nhà [~32,8°C]. Những đám đông xúm xít tới xem những người ngoại quốc, tiếng đập gõ khủng khiếp của chiêng, trống, chũm chọe, kèn, sáo đinh tai nhức óc, choáng váng khó chịu đến mức chỉ có cảnh lạ mắt trên sân khấu mới giữ nổi chúng tôi ngồi lại một lúc. Phần gây thích thú nhất và cũng là ít ồn ào nhất của vở diễn là một đoạn giữa vở do ba cô đào trẻ biểu diễn để mua vui cho nữ diễn viên chính, vai này ngồi như một khán giả trong trang phục và cung cách của một bà hoàng hậu nào đó xưa kia. Trong khi đó, một viên quan hoạn già, ăn mặc rất kỳ cục, pha trò khôi hài khoác lác theo kiểu chú hề Harlequin vui nhộn. Cảnh đối thoại trong đoạn diễn này hoàn toàn khác lối ngâm, vịnh rầu rĩ và gần như đơn điệu của người Trung Hoa, nhẹ nhàng và hài hước, đôi lúc lại xen vào các làn điệu vui tươi, thường được kết thúc bằng một bản đồng ca chung. Những làn điệu đó mới nghe như thô kệch và không trau chuốt, lại tỏ ra đã được phối hợp rất đều và được hát hoàn toàn đúng nhịp điệu. Một khúc nhạc đặc biệt đã thu hút được sự chú ý của chúng tôi, âm điệu chậm chạp u sầu, rất giống với những làn điệu ủy mị não nùng, đặc trưng cho người dân xứ Scotland. Giọng hát của những người phụ nữ khi cất lên lanh lảnh véo von, nhưng đôi lúc xuống giọng cũng không kém phần du dương uyển chuyển. Mỗi khi ngưng nghỉ, các nhạc cụ đã chơi một vài đoản khúc ngẫu hứng, cho tới khi dần dần bị át đi bởi tiếng cồng chiêng chát chúa. Vì không biết tiếng nói của họ, tất nhiên chúng tôi không hiểu được chủ đề vở diễn, cũng như phần lớn những khán giả người Anh trong buổi diễn nhạc kịch Ý. Tuy nhiên, trong chiếc lán dựng làm rạp ở Đà Nẵng, hệt như trong nhà hát Haymarket, người ta thưởng thức bằng mắt cũng như bằng tai. Mỗi lần chơi lặp lại một bản đồng ca, ba nàng kiều nữ xứ Nam Hà đã để lộ ra những thân hình mảnh mai trong những điệu múa lắt léo, tuy nhiên, trong đó người ta ít sử dụng đến đôi chân nhất. Bằng những điệu bộ của đầu, thân mình và cánh tay, họ đã giả cách làm ra nhiều nét mặt khác nhau, và mọi động tác của họ đều phù hợp chính xác với nhịp điệu âm nhạc. Điệp khúc của bản đồng ca khá thú vị, và người ta vẫn còn nhớ mãi nó trên sàn lái của con tàu Lion, cho tới khi nó bị xóa đi khỏi ký ức bởi một điệu nhạc mới tiếp theo sau ở Trung Hoa. Tuy nhiên, ở Trung Quốc, chúng tôi không thấy đàn ông hay đàn bà nhảy múa, điều đó có lẽ do đoạn ca vũ giải trí này là sáng tạo của riêng người Nam Hà hoặc du nhập từ phía Tây của Ấn Độ. Người ta có thể hiểu được tương đối kỹ hình thức của sân khấu và đoạn biểu diễn này từ bức tranh minh họa.
_180.jpg)
Xem kịch hát ở Trung Quốc cũng như ở Nam Hà không bao giờ phải mất tiền vào cửa. Các diễn viên hoặc là được thuê để biểu diễn trong các cuộc vui tư nhân với một số thù lao được ấn định cho cả ngày, hoặc là họ xuất hiện trước công chúng trong một lán rạp dựng tạm, mặt trước hoàn toàn để trống. Trong những trường hợp này, thay vì chỉ vỗ tay hoan nghênh, khán giả đã ném cho họ những đồng tiền đồng. Để làm điều này, những viên quan đã đem đến cho chúng tôi hàng trăm đồng tiền xâu buộc vào dây, cũng như kiểu thường thấy ở Trung Quốc. Đối với những người Nam Hà, vở kịch thường được gọi là Troien [truyện] nghĩa là “những câu chuyện kể”. Đối với những đoạn ngâm vịnh xen giữa vở, làn điệu ca vũ, họ gọi tên là Song-sang và một dàn hợp ca lớn đi kèm với chiêng, trống, chũm chọe, kèn và những nhạc cụ ồn ào khác được gọi là Ring-rang. Ngài đại sứ đã ra lệnh cho những người trong đoàn được phép tham gia trên bãi diễn, họ đã biểu diễn ở đó vài làn điệu nhẹ nhàng, nhưng những người xứ Nam Hà không quen tai nghe những bài hòa tấu du dương, êm dịu của âm nhạc châu Âu. Theo sự đánh giá của họ, Ring-rang và Song-sang hay vô cùng và chúng càng ầm ĩ thì họ càng hoan nghênh nhiệt liệt.
Rời khỏi chỗ những diễn viên đang diễn hài kịch, chúng tôi đi ngang qua những bãi cỏ xanh quanh làng, cũng là nơi họp chợ, ở đó chúng tôi được tiêu khiển với nhiều trò vui chơi thể thao, chạy nhảy khác nhau. Ngày 4 tháng 6 là một ngày hội lớn ở vùng này của xứ Nam Hà. Ở một chỗ chúng tôi quan sát thấy hơn chục thanh niên đang chơi đá bóng với một cái bong bóng súc vật, ở một nơi khác, họ đang trổ tài khéo léo nhảy qua một chiếc sào ngang, chỗ này một đám người đang chơi chọi gà, chỗ kia những cậu thiếu niên đang bắt chước những đàn anh lớn của chúng huấn luyện những chú chim cút và những loài chim nhỏ khác, thậm chí cả những con châu chấu đánh xé nhau. Ở mọi góc đều thấy có nhiều người đang chơi bài hoặc gieo xúc xắc. Trò chơi thu hút sự chú ý của chúng tôi nhất là một đám thanh niên đang đá cầu, dùng lòng bàn chân của mình tung quả cầu lên không trung. Quả thực, không có gì hơn được sự hoạt bát và sinh lực của những người dân Nam Hà.
Một thủy thủ của tàu Lion, sau khi cãi nhau với một người dân trong xứ, cứ nhất định đòi đấu quyền tỉ thí. Trong khi người thủy thủ còn đang khuỳnh tay, thận trọng thăm dò và tìm điểm chính xác để có thể thoi một quả đấm hạ gục đối thủ, thì người Nam Hà kia, với nụ cười nhạt hiện trên nét mặt, rất điềm tĩnh quay gót chân, hoàn toàn bất ngờ tặng cho anh ta một cú đá thốc thật mạnh vào quai hàm, dõng dạc bỏ đi, để lại anh chàng thủy thủ hoảng hốt giữa tiếng cười hớn hở của đám đông.
Rất linh hoạt khi sử dụng đôi chân, sự khéo léo của đôi tay họ cũng không kém phần đáng chú ý. Những người làm trò tung hứng, ảo thuật và nhào lộn thường hành nghề để mua vui cho đám đông và cũng để kiếm sống. Chúng tôi đã phải trả giá để thấy được rằng những người không công khai hành nghề tung hứng chuyên nghiệp thì lại là chuyên gia trong nghệ thuật móc túi. Ít có ngày nào mà vài người trong đoàn về được đến tàu lại không bị móc túi lấy mất khăn tay, thứ vật phẩm mà hình như họ đặc biệt ưa thích. Chúng tôi thấy tất cả bọn họ, từ người cao sang nhất cho tới kẻ thấp hèn nhất, đều là những kẻ ăn xin nhũng nhiễu, thèm khát không còn giữ ý tứ gì đối với mọi vật có thể hợp với sở thích của họ. Đơn giản bị từ chối họ cũng không bằng lòng, mà có được những thứ mình đòi hỏi họ cũng chưa thỏa mãn, nói chung người cho càng hào phóng họ càng ráo riết yêu cầu. Và một khi chưa có được bằng cách đi xin, thì họ thường xoay ra ăn cắp để lấy cái đó. Thậm chí họ cũng không có được đức tính của dân thành Sparta xưa kia, biết đỏ mặt thẹn thùng khi bị phát hiện. Họ cũng tỏ ra không biết sợ sệt khi bị trừng trị vì là kẻ ăn cắp hoặc bị phát hiện ăn cắp. Thói hay ăn cắp đó phổ biến đến mức chúng tôi thấy cần thiết phải theo dõi chặt chẽ các viên chức chính quyền khi họ lên các con tàu.
Trong khi thử vẽ một bức phác họa rất tổng quát về đặc tính của một quốc gia, tôi cũng biết rằng rủi ro tôi có thể vẽ sai lệch. Nói cho chính xác cả về phong tục và quan điểm của các dân tộc ngoại quốc, vạch ra những động cơ hành động của họ và những cơ sở cho thành kiến của họ, xem xét những hệ quả của các thiết chế dân sự và tôn giáo tác động tới tính tình và tâm thức của dân chúng, điều tra những tư tưởng, đạo đức của họ cái nào đúng cái nào sai, những quan niệm của họ về thị hiếu, thẩm mỹ hoặc nhận thức và nhiều chủ đề khác cần khảo sát trước khi có được sự hiểu biết đầy đủ về bản chất tính cách và lâu dài tại nước đó, mà còn phải quen biết thân thuộc với mọi giai cấp khác nhau trong xã hội; và sau tất cả mọi thứ đó, họa chăng mới vẽ được một bức chân dung xác thực. Còn gì có thể nực cười hơn việc một người Pháp cố gắng miêu tả phong tục Anh hay một người Đức lại đi dựng kịch về tính cách của người Anh? Tuy nhiên, cũng có một số nét biểu lộ rõ rệt, nổi trội lên trong khối quần chúng nhân dân có thể ghi lại một cách chắc chắn như những đặc tính của dân tộc, và tôi cũng chỉ rút ra từ đó một vài nhận xét như vậy để miêu tả về con người xứ Nam Hà. Thực tế là một vài tính cách có lẽ chỉ hoàn toàn mang tính địa phương, chỉ áp dụng cho vùng bờ biển mà chúng tôi cập bến.
Không thực cần thiết để nhận xét rằng những điều mà tôi lĩnh hội được thì nhìn chung mọi người đều biết, rằng xứ Nam Hà cho đến một vài thế kỷ sau kỷ nguyên Cơ Đốc, đã là một phần của đế quốc Trung Hoa, và rằng những nét chung của người dân bản địa, nhiều tập quán, chữ viết, những quan điểm về tôn giáo và lễ nghi mà họ vẫn duy trì đã chỉ ra rõ rệt là có nguồn gốc Trung Hoa. Tuy nhiên, những đặc trưng đó vẫn có thể còn thấy được tuy ở mức độ mờ nhạt hơn ở Xiêm (gọi đúng ra là Se-yang) hoặc ở vùng phía tây, trong xứ Pe-gu (có thể là Pe-quo) hoặc ở tỉnh phía bắc, và ở Ava và phần còn lại của các tiểu quốc ngày nay thuộc đế quốc Miến Điện, Tuy nhiên, ở những nơi đó, do sự pha trộn với những người Mã Lai ở Malacca và những người Hindu ở vùng phía đông và mạn trên Ấn Độ, mà những dấu vết của đặc tính Trung Hoa về nhiều khía cạnh gần như đã bị xóa sạch. Mặc dù tính cách của phụ nữ ở đây khá phóng đãng mà tôi có dịp ghi lại ngay sau đây và xu hướng của tất cả các cuộc cách mạng trong chính quyền đều làm thay đổi tính cách của dân tộc ở mức độ nhiều hay ít, thì người Nam Hà ở Đà Nẵng vẫn giữ lại được trong nhiều phương diện những nét tương đồng gần gũi với nguồn gốc ban đầu của họ, tuy rằng ở một vài điểm họ đã khác đi rất xa. Ví dụ, về hình thức họ hoàn toàn chấp thuận những quy trình, nghi lễ trong hôn nhân và tang ma, phần lớn là những yếu tố tôn giáo mê tín dị đoan như trong việc thường xuyên dâng lễ vật lên các tượng thần, trong sự tìm đến hỏi han các thầy bói toán, trong xu hướng phổ biến là tìm hiểu những sự kiện tương lai bằng cách xóc thẻ bốc thăm, trong cách xua đuổi tà ma bệnh tật, trong những món ăn thường ngày và cách chuẩn bị nấu nướng, tính chất của hầu hết các trò vui và giải trí công cộng, trong cách thức làm và đốt pháo bông, trong các nhạc cụ, các trò bài bạc, thú chọi gà và chọi chim cút. Tuy dựa trên cùng một nguyên lý, nhưng tiếng của người dân Nam Hà đã thay đổi quá nhiều từ nguyên gốc của nó, đến nỗi hầu như, nếu không phải là toàn bộ ngôn ngữ đó trở thành không thể hiểu được đối với một người Trung Hoa, nhưng chữ viết vẫn cùng một dạng. Tất cả những đền chùa mà chúng tôi quan sát được đều là những ngôi nhà rất tầm thường, và chúng tôi không trông thấy những mẫu mái nhà uốn cong, nặng nề hoặc những chùa cao ngất thường hay gặp ở Trung Quốc. Nhưng hình như ở nhiều nơi trong xứ đã có những tu viện được đông người cúng hiến, những tòa kiến trúc này thường rộng rãi và có tường bao quanh để được an toàn hơn. Nhìn chung, những nhà ở vùng phụ cân vịnh Đà Nẵng chỉ gồm bốn bức vách đất, mái lợp tranh, và vì những ngôi nhà đó nằm ở những nơi đất thấp gần các dòng sông, nền thường được dựng trên bốn cột gỗ hoặc trụ đá để ngăn ngừa những loại chồn, cáo, chuột, bọ hoặc nước lụt tràn vào.
Y phục của người dân Nam Hà không chỉ trải qua một cuộc biến cách, mà còn được rút bớt đi rất nhiều. Họ không xỏ những đôi giày nặng nề, cũng không đi những đôi tất chân bông hoặc những đôi ủng sa tanh thô vụng hoặc mặc những váy chẽn nhồi bông, mà thường để bắp chân trần và luôn luôn đi chân đất. Mái tóc đen dài giống như tóc của người Mã Lai thường được búi gọn lại thành lọn trên đỉnh đầu. Thật vậy, đó là cách búi tóc xưa kia của người Trung Quốc, đến khi người Tartars chinh phục được nước này, họ đã bắt dân chúng phải chịu nhục mà cạo trọc đầu, chỉ để lại một nhúm tóc phía sau.
Cũng giống như ở Trung Hoa, hệ thống luân lý dùng cho những quy tắc ứng xử đã dựa trên nền tảng là những lời giáo huấn của Khổng Tử. Tuy nhiên, ở đây, hình như các hình thức bên ngoài của luân lý rất ít được chú ý. Ở Trung Hoa, những lời giáo huấn này được phô trương lòe loẹt bằng những chữ thiếp vàng trong mọi nhà, trên đường phố và ở những nơi công cộng, nhưng ở đây người ta hiếm nhìn thấy và chưa bao giờ nghe thấy những lời giáo huấn đó. Thực vậy, nếu những lời đó được nhắc đến bằng ngôn ngữ gốc của nó (và rất ít khi được dịch), thì chẳng thể nào hiểu được, nhìn chung cách ứng xử của dân chúng hình như ít bị ảnh hưởng bởi những lời giáo huấn trang nghiêm về tôn giáo hoặc về luân lý. Người dân Nam Hà cũng giống như người Pháp, luôn luôn vui vẻ và luôn miệng chuyện trò, người Trung Hoa thì luôn luôn nghiêm nghị như thể đang suy tưởng, những người trước thì cởi mở và thân thiện, những người sau thì kín đáo và dè dặt. Người Trung Hoa sẽ coi là ô nhục nếu người phụ nữ phạm phải bất kỳ điều gì cấm kỵ. Còn theo cách đánh giá của người Nam Hà, gia đình là nơi thích hợp nhất với phụ nữ và do đó họ được giao phó quán xuyến việc nhà. Những luật lệ về lễ giáo ở Trung Hoa cấm đoán người phụ nữ chuyện trò nếu không phải là để trả lời, chỉ được cười mỉm và không được hát trừ phi được yêu cầu. Còn về nhảy múa, sự hạn chế về thể chất khiến họ không thể làm được loại hình vận động này. Trong khi đó, ở Nam Hà, người phụ nữ hoàn toàn được vui chơi không hạn chế, cũng như người đàn ông. Và người ta có thể rút ra một kết luận tương đối xác đáng về tình hình xã hội của họ từ tính cách phụ nữ. Ở đây, tôi đặc biệt muốn miêu tả về những bổn phận mà họ gánh vác hơn là về những điểm khác, chí ít trong phạm vi mà những phương cách hạn hẹp đã giúp chúng tôi có được cơ hội quan sát.
Ở một số tỉnh của Trung Hoa, đàn bà thường bị giao cho những việc thấp kém và khó nhọc như kéo cày và mặt khác, họ còn được sử dụng trong nhiều công việc lao dịch khác. Ở Nam Hà, số phận của phái yếu có vẻ cũng như vậy. Họ bị buộc làm những công việc đòi hỏi mà nếu không phải cố gắng hết sức lực có thể thì chí ít cũng cần rất mực kiên nhẫn, cần cù. Chúng tôi quan sát thấy họ ngày này qua ngày khác, từ sáng tinh mơ đến tới khuya, đứng giữa những ruộng nước ngập tới đầu gối để cấy lúa. Trên thực tế, tất cả mọi công việc đồng áng và nhiều công việc khác nhau liên quan đến nghề nông dường như đều dồn lên vai người phụ nữ nông dân. Những phụ nữ ở Đà Nẵng ngoài việc quản lý công việc gia đình còn phải trông nom mọi công việc buôn bán. Thậm chí họ còn tham gia công việc cất dựng và tu sửa những ngôi nhà tranh đắp bằng đất bùn, chỉ đạo việc sản xuất các đồ bát đĩa bằng gốm thô; quản lý thuyền bè trên sông, cảng; đem các sản phẩm ra chợ bán; lấy sợi bông ra khỏi vỏ, bỏ hạt đi, xe thành sợi, dệt thành vải, nhuộm màu sắc thích hợp rồi may thành quần áo cho bản thân và gia đình. Hầu hết thanh niên trai tráng buộc phải đăng lính, còn những người được miễn trừ quân dịch đôi khi tự đánh cá, thu lượm tổ chim yến và hải sâm (Biches de mer)[5] trong những hòn đảo lân cận, dùng làm vật phẩm xa xỉ cho những ông lớn của họ, nhưng đặc biệt nhiều hơn là làm hàng xuất khẩu sang thị trường Trung Hoa. Họ còn đốn gỗ, đóng và sửa chữa tàu thuyền, và một vài công việc khác. Tuy nhiên, họ chú ý sao cho những công việc đó không chiếm hết thời gian của họ, trù liệu dành một phần thời gian đáng kể không phải làm việc, hoặc chỉ dùng vào việc theo đuổi những trò vui chơi được ưa thích, vì họ không thu xếp để làm bất kỳ điều gì trong thời gian nhàn rỗi. Nhưng sự năng nổ và cần cù của những người phụ nữ thì không hề giảm sút, họ theo đuổi những nghề nghiệp khác nhau, và lúc nào họ cũng ở trong tình trạng mệt mỏi. Những người dân Nam Hà đã dùng một câu ngạn ngữ 9 nút thắt để miêu tả một người đàn bà có 9 cuộc sống [vía] nên phải chịu nhiều nỗi cực nhọc. Thực vậy, xuất phát từ cách ứng xử mang tính kẻ cả của mình, những người đàn ông, thậm chí ở những tầng lớp bình dân đều coi phái nữ được dành cho họ sử dụng, còn những người ở địa vị cao hơn thì coi họ là những kẻ hầu hạ mua vui cho mình. Một người đàn ông khi xét ra có lợi thì có thể lấy bao nhiêu bà vợ hay nàng hầu cũng được, không luật lệ hay quy tắc nào giới hạn số lượng. Nhưng ở đây cũng như ở Trung Hoa, người vợ đầu tiên có quyền đòi hỏi sự ưu tiên và chỉ đạo mọi việc trong gia đình. Những điều kiện để hai bên đi đến hôn nhân cũng không dễ dàng hơn những điều kiện khi họ chia tay. Trong giới nông dân ở một vài địa hạt nước Anh, việc bẻ đôi một đồng sáu xu giữa đôi tình nhân lúc xa nhau được coi như lời tuyên bố và cam kết về lòng chung thủy không thay đổi. Nhưng ở Nam Hà, việc bẻ đôi một đồng tiền đồng hoặc một đôi đũa giữa một cặp vợ chồng trước những người làm chứng hợp thức được xem như sự hủy bỏ hôn ước trước đấy và là hành động ly hôn.
Ở Trung Hoa, những người đàn ông được khắc sâu vào tâm trí điều giáo lý cho rằng một người phụ nữ gia giáo sẽ không bao giờ bước chân ra ngoài; họ phải luôn luôn cấm cung trong những gian phòng của họ; khi có mặt những người đàn ông cho dù có quan hệ gần gũi nhất với mình, họ cũng không được để hở cổ và tay. Để phòng ngừa điều đó, áo dài của họ được cài khuy lên tới tận cằm và cánh tay áo thì rủ xuống tận đầu gối. Và họ đã bày đặt ra những lời răn dạy với nhiều mưu mẹo đến nỗi những người đàn bà khờ dại thực sự bị thuyết phục rằng nhược điểm về thể chất khiến họ phải giam mình trong nhà. Về mặt này, ở đây đã có một sự khác nhau hoàn toàn khi quan niệm về giới tính. Về ý kiến cho rằng người phụ nữ Nam Hà đã bị tước quyền tự do sử dụng chân tay hoặc không được tự do, chúng ta thấy rằng thực ra họ đã hưởng cả hai thứ đó một cách đầy đủ nhất. Rõ ràng Nam Hà không phải là nơi mà Eudoxus trong những cuộc du hành của mình đã quan sát thấy bàn chân của phụ nữ rất nhỏ, đến mức nó có thể phân biệt được bằng tên gọi là “bàn chân đà điểu”, vì đi chân đất làm việc quần quật khiến bàn chân họ trở nên to bè khác thường. Nhưng tên gọi đó có thể thích hợp khi áp dụng cho đôi bàn chân của các quý bà Trung Quốc; hình dáng bàn chân của họ giống với bàn chân đà điểu.
Những cái cực đoan lại thường dễ gần nhau. Cùng một nguyên nhân khi ở Trung Hoa đã đưa nữ giới đến chỗ hoàn toàn cấm cung, sống tách khỏi xã hội và làm giảm đi thể lực, thì ở Nam Hà đã tạo nên một hiệu ứng hoàn toàn ngược lại, cho phép họ tự do hưởng mọi thú vui với mọi loại trò phóng túng. Nguyên nhân chính là việc dư luận công chúng đã hạ thấp địa vị của người phụ nữ, coi họ là những người có bản chất kém cỏi hơn những người đàn ông. Ở vào địa vị như vậy, bản thân họ và những người khác đã coi nhẹ những giá trị của danh giá, và xét về mọi lý do, họ hoàn toàn cảm thấy vấn đề này là không quan trọng. Hệ quả của điều này là ta có thể gặp được ở vùng xung quanh vịnh Đà Nẵng những người đàn bà ít chịu giữ gìn và những người đàn ông tính dễ dãi hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới. Tuy nhiên, người ta hy vọng rằng tính cách chung của một quốc gia có thể sẽ không hoàn toàn trùng hợp với tính cách nổi trội ở một trong những cảng thị có nhiều người năng lui tới nhất. Đặc ân kỳ cục được bộ luật Solon thừa nhận, cho phép những người phụ nữ trẻ được thực hiện quan hệ tình dục riêng tư với mục đích kiếm được những vật phẩm thiết yếu cho bản thân và gia đình mình, đã được người Nam Hà tán thành mà không có bất kỳ hạn chế nào về tuổi tác, địa vị hoặc đối tượng. Người chồng hay người cha không hề tỏ ra áy náy, ngần ngại gì khi bỏ mặc vợ hay con gái mình cho những người đàn ông đến ve vãn họ. Trường hợp Galba (như Plutarch đã kể lại) đã giả vờ nằm ngủ, tạo điều kiện cho Mecænas và quở trách người đầy tớ làm rơi vỡ những chiếc đĩa một cách cố tình khiến ông thức dậy, do đó nhìn thấy điều gì đang xảy ra, cũng không thể hơn trường hợp một ông chồng người Nam Hà mà những dòng thơ sau của Horace có thể áp dụng để mô tả, khi nói về tính phóng đãng của người La Mã:
“Ông chồng khôn ngoan đã nâng giá lên
Khi một khách thương giàu có ve vãn sắc đẹp vợ mình
Và gọi người vợ dâm đãng đến tay ông ấy
Sau đó tiêu sài của cải và thanh danh
Để phải trả giá cao khi mua lấy nỗi nhục nhã”
(The conscious husband bids her rise,
When some rich factor courts her charms,
And calls the wanton to his arms,
Then prodigal of wealth and fame,
Profusely buys the costly shame.)
Những nhận xét trên đây là về sự thờ ơ của những người đàn ông trước danh dự và trinh tiết của người phụ nữ, cũng như dẫn đến hệ quả tất yếu là tính buông thả và phóng đãng của những người đàn bà, hoàn toàn không chỉ có trong đám dân thường, mà thật ra còn được áp dụng một cách mạnh mẽ tới những tầng lớp thượng đỉnh trong xã hội, trong nhiều quan chức chính quyền. Những viên quan này cũng hoàn toàn đồi bại như quan lại Trung Hoa, thậm chí họ không cần giữ cái vẻ bề ngoài đứng đắn đối với những người mà họ thấy cần giữ. Về điều kiện dễ dãi để những người đó chuyển nhượng những người đàn bà của mình cho người ngoại quốc thì đoàn chúng tôi đã gặp nhiều trường hợp kỳ quặc. Ví dụ sau đây trong số nhiều trường hợp đã nói lên quan niệm lý tài của họ về giá trị của người phụ nữ. Một hôm một viên sĩ quan tàu Lion được cử lên bờ để mua một đôi bò đực thiến cho đoàn thủy thủ. Vì giá cả đã được ấn định trước là 10 đô la một con, viên sĩ quan chỉ cần trao tiền cho một trong những pháp quan ở đấy. Nhận được tiền, ông quan bèn cử đi hai thuộc hạ của mình, một lát sau họ trở về đem theo một cô gái trẻ đẹp, ông quan liền giao cô gái cho viên sĩ quan. Hoặc là viên sĩ quan nhã nhặn này đã quá sửng sốt trước một vụ việc giao dịch bất lịch sự và trơ tráo đến như thế, hoặc là ông ta không có đủ tiền để bù thêm vào giá tiền đôi bò đực, điều đó không quan trọng. Chỉ biết ông ta muốn hoàn thành nhiệm vụ của mình hơn là mua người phụ nữ kia, mà viên sĩ quan biết đó là vợ hoặc con ông quan, trước sự giả bộ ngạc nhiên của ông này. Một quý ông khác của chúng tôi, một hôm từ thành phố trở về đến bờ sông đã bị một người đàn bà đứng tuổi chạy ra níu lại, làm hiệu cho ông ta theo bà vào ngôi nhà tranh của bà. Ở đó, bà giới thiệu ông ta với con gái của mình, gần như trong tình trạng lúc mới lọt lòng, đôi mắt bà già hớn hở ngời sáng lên khi nhìn thấy một đồng đô la Tây Ban Nha.
_181.jpg)
Một nhóm người Nam Hà
Nhìn chung, dáng vẻ bề ngoài và tính cách người Nam Hà ít gây được ấn tượng. Phụ nữ không mấy kiêu sa về sắc đẹp, nhưng sự thiếu hụt về duyên dáng hình thể ở một mức độ nào đó lại được bù đắp bởi tính tình hoạt bát, vui vẻ, hoàn toàn không giống người phụ nữ Trung Hoa chậm chạp, u sầu và sống khép kín. Người ta khó có thể hy vọng tìm thấy ở Nam Hà một dáng vẻ đoan trang, vì đó thường là kết quả của sự giáo dục, những cảm xúc cũng như sự tập hợp tinh tế của tính cách và làn da mịn màng, bắt nguồn từ sức khỏe, sự nhàn hạ, không phải làm những công việc vất vả, dãi dầu nắng gió. Trên thực tế, cả hai giới đều có những nét thô kệch, nước da của họ sẫm màu gần giống với người Mã Lai. Phong tục phổ biến của người dân xứ này là nhai trầu cau, làm đỏ môi và đen răng, khiến cho dáng vẻ của họ có phần kém tao nhã hơn là để tự nhiên. Quần áo của giới nữ không có gì là hấp dẫn. Nhìn chung một chiếc áo vải bông dài lụng thụng màu nâu hoặc xanh, buông rủ xuống tận giữa bắp đùi, một chiếc quần đen bằng vải thô dày, may rất rộng là y phục thông thường của họ. Họ hoàn toàn không dùng bít tất và đi giày, nhưng tầng lớp trên đi một loại dép thoáng nhẹ. Vào những dịp lễ đặc biệt, một quý bà thường mặc bộ lễ phục cùng lúc mang ba, bốn chiếc áo màu sắc, dài ngắn khác nhau, chiếc ngắn nhất ở trên cùng. Một phụ nữ ăn mặc như vậy xuất hiện trong bức vẽ kèm theo, là bức miêu tả một nhóm người Nam Hà, có thể được coi là đại diện cho dáng vẻ bên ngoài phổ biến của họ. Mái tóc đen dài của họ đôi khi được buông lỏng thành những lọn tóc rủ xuống sau lưng, thường là tới tận mặt đất. Để tóc ngắn không những bị coi như dấu hiệu của sự thô tục, mà còn là biểu thị sự thoái hóa. Y phục của người đàn ông ít phân biệt với y phục nữ giới, nếu có là một chiếc áo khoác và đôi ống quần dài. Một số người chít khăn quấn đầu, có hình dáng giống như chiếc khăn quấn đầu của người Hồi giáo. Một số khác đội nón, mũ có hình dáng khác nhau và làm bằng những chất liệu khác nhau, nhưng hầu hết đã được tính toán sao cho mặt được che khỏi ánh mặt trời. Nhằm mục đích đó, họ đã sử dụng cả những chiếc ô làm bằng giấy bồi cứng Trung Quốc, hoặc những màn che làm bằng lá cây Borassus hay lá cọ và những cây khác trong họ cọ, cùng những chiếc quạt làm bằng lông chim. Tóm lại, ta không nhìn thấy được điều gì gây ấn tượng mạnh với tâm trí một người nước ngoài để có thể đánh giá cao về điều kiện sống hạnh phúc của dân tộc này.
Tuy nhiên, có một sự khác nhau thật sự lớn lao giữa những điều kiện cư trú của một người châu Âu với người dân vùng khí hậu nhiệt đới, đến mức một người châu Âu lần đầu sống giữa những người dân vùng nhiệt đới sẽ rất có thể sai lầm khi cố thử đánh giá qua so sánh về những điều kiện sống tương ứng của họ. Đối với người này, chất đốt, quần áo mặc, nhà ở kín đáo và chắc chắn là rất cần thiết, không chỉ cho sự tiện nghi của họ, mà ngay cả cho sự sinh tồn của họ. Đối với người kia, ngọn lửa không có ý nghĩa gì hơn là một viên than hồng để nấu cơm hoặc chuẩn bị đồ cúng lễ cho thần thánh. Họ không thích thú mà cũng chẳng cần đến những công trình kiến trúc đồ sộ, lộng lẫy, những quần áo dày chắc, kín đáo - những thứ vẫn được coi là tiện nghi thì đối với họ là rất khó chịu, vướng víu. Ngay cả chút ít vải vóc mà có những lúc họ thấy cần phải khoác lên người, thì nhiều khi họ cũng quẳng đi. Vì ở đâu mà việc để lộ thân thể không bị khinh ghét thì ở đó mọi lúc, mọi nơi người ta vẫn ăn mặc tùy theo ý thích và hoàn cảnh, miễn là không cảm thấy bối rối, một điều tiện lợi mà người châu Âu không chấp nhận.
Mặc dù chúng tôi chưa bao giờ thấy một thành phố rộng lớn hay những lâu đài tráng lệ ở vùng phụ cận của vịnh Đà Nẵng, tuy xưa kia nơi này từng nổi tiếng là một thị trường chủ yếu của những hoạt động buôn bán giữa nước này với Trung Hoa và Nhật Bản, chúng tôi vẫn cảm thấy phần nào thất vọng khi chỉ nhìn thấy một ít làng mạc, làng lớn nhất thì số nhà cửa cũng không vượt quá một trăm, mà chủ yếu lại là những ngôi nhà lợp tranh. Rõ ràng rằng, qua cơn binh lửa của những cuộc nổi dậy vừa qua, vùng này đã phải hứng chịu nhiều tàn phá. Bằng chứng là những đống đổ nát của những tòa nhà còn trông thấy được hiện nay; là mặt đất gồ ghề chứng tỏ rằng trước đây ở đó đã tồn tại những thành quách, đồn lũy mà theo một viên sĩ quan của chúng tôi từng bị bắt giữ kể lại thì ở Hội An những công trình đó vẫn còn trông thấy được và còn rộng lớn hơn; là những gì còn lại của vườn tược và đồn điền trồng hoa và cây ăn quả. Tất cả giờ đây đã trở nên hoang phế, không còn để lại dấu tích gì của sự trù phú trước đây hoặc gợi cho chúng ta ấn tượng về một cảnh huy hoàng đã tàn lụi.
Thực vậy, các di tích của đô thị phương Đông, khi đã ở trong tình trạng hư nát, chẳng mấy chốc sẽ bị biến mất. Những ngôi nhà tốt đẹp nhất cũng chỉ có một tầng lầu, thường được xây dựng bằng gỗ hoặc gạch, chỉ được phơi khô dưới ánh nắng mặt trời, đòi hỏi thường xuyên phải chú ý tu bổ để bảo tồn chúng khỏi biến thành cát bụi. Những bức tường thành được xây bằng những vật liệu nhẹ và không hoàn hảo, dễ bị sụp đổ thành những đống gạch vụn nát, bị vùi lấp dưới những cỏ cây nhanh chóng mọc lên um tùm. Phương pháp dùng để xây dựng tường thành kém được tính toán cho độ bền vững. Khối đất xốp nhồi vào giữa tường thành có xu hướng đẩy lớp vỏ bọc gạch đá sụp đổ xuống hào, một vài năm sau tan biến trong mặt đất bằng. Nếu thành Bắc Kinh rộng lớn và đông dân, có lẽ rộng lớn nhất và đông dân nhất trên toàn địa cầu, do một biến cố nào đó bị hoang phế, thì chẳng cần đến nhiều thế kỷ để mọi di tích sẽ bị xóa sạch khỏi những vị trí của nó. Vì vậy, không lấy gì làm ngạc nhiên rằng vào thời của Alexander Đại đế, mọi vết tích của nhiều cung điện được cho là nguy nga tráng lệ của thành Troy đã không còn và đô thị Babylon kiêu hãnh một thời đã là bá chủ thế giới thì sau nhiều thế kỷ đã bị chôn vùi dưới tầng cát bụi.
Nhìn chung, những căn nhà tranh ở Đà Nẵng kín đáo và sạch sẽ, đủ chắc chắn để bảo vệ người dân khỏi nắng nóng trong mùa này và tránh được những cơn mưa lớn trong mùa kia. Người ta thấy bán ở chợ khá nhiều vải bông và tơ lụa để may quần áo. Xứ này đã sản xuất một số lượng lớn và phong phú các vật phẩm khác nhau nuôi sống dân chúng và dùng làm đồ xa xỉ cho những người giàu có.
Người ta thấy ở đây có rất nhiều loài gia súc, trừ cừu, họ có trâu bò sừng ngắn, lợn chân ngắn, dê non và rất nhiều vịt, gia cầm. Cũng như ở Trung Quốc, họ ăn thịt chó và ếch như là món ăn thường ngày. Biển cả cũng như đất liền đã cung cấp biết bao nhiêu nguồn sản phẩm cho những người ở đây cũng như dân chúng miền duyên hải. Ngoài một số lớn những loài cá ngon đặc biệt, họ còn có ba loài cá Balistes [cá bò], cũng như loài cá Chaetodon [cá bướm], nhất là loài cá có vạch đỏ tía và vàng, trông rất đẹp mắt. Họ đánh cá bằng lưới, và dùng những chiếc hom giỏ đan như những chiếc bẫy chuột, để một khi cá vào bên trong không thể ra được nữa. Chúng tôi cũng trông thấy họ bắt một số con cá chuồn, bằng cách thả xuống biển các bình gốm cổ hẹp, móc theo mồi là những miếng thịt lợn hoặc cá.
Ở Nam Hà, người ta dùng một phần lớn các loài sâu biển làm thức ăn, mà các nhà tự nhiên học gọi chúng là lớp Mollusca (nhuyễn thể). Ví dụ như những giống khác nhau của các loài Medusa [sứa], Holothuria [hải sâm], Actinia [thủy tức?], Ascidia [san hô?] và Doris, họ dùng để chế biến ra những thực phẩm cao cấp hoặc mặt hàng buôn bán như loài hải sâm, thường được gọi là Trepan, thuộc giống Holothuria hoặc Actinia. Họ dùng làm thức ăn mọi chất keo có nguồn gốc động vật hoặc thực vật lấy được từ biển. Trên nguyên tắc đó, họ ăn mọi loại rong, tảo biển thuộc giống Algœ, đặc biệt là những loài được biết với tên gọi là Fuci và Ulvœ.
Trên các hòn đảo đông dân của Nhật Bản, những thổ dân ở ven biển một phần đã sống bằng những loại tảo biển khác nhau, nhiều nhất là một loài tảo Fucus [tảo thạch y] có tên Saccharinus. Theo mô tả của ông Thunberg, lá của loài tảo này được dùng để trang trí và làm đẹp những gói hoa quả hoặc những tặng phẩm khác đem biếu cho người nước ngoài; thứ cây cỏ này ở đó được đánh giá cao, có thể coi như nguồn thức ăn tiêu biểu mà biển cả đã cung cấp dồi dào cho các nước đó, đến mức người ta có thể chọn nó khi cần dùng để chế biến ra những sản phẩm khác nhau. Thứ thạch nấu Chin~chou [Khâm Châu?] của Trung Quốc rất có thể được làm một phần từ loài tảo Fucus Saccharinus, vì từ những mẫu hàng mang sang nước Anh, người ta đã thấy rằng, những lá dùng để nấu thạch đông đã lấy từ ba đến bốn loại riêng biệt của giống tảo có nhiều chủng loại này.
Quả thực người ta có lý do để tin rằng phần lớn các loại của thứ rong, tảo biển Fuci và Ulvœ có thể dùng vào những mục đích tương tự. Trên các bãi biển của đảo Robben ở mũi Hảo Vọng, những người nô lệ có thói quen mang đi những giỏ đựng loài tảo Fucus, lá hình lưỡi gươm có răng cưa, dài khoảng 6 inch (~15,24cm). Trước tiên, những lá đó được rửa sạch và phơi đủ khô để không bị thối mục, sau đó ngâm vào trong nước ngọt khoảng độ 5, 6 ngày, được thay nước mỗi buổi sáng. Tiếp theo lá rong được nấu chín trong vài giờ đồng hồ với một ít nước, trở thành một loại thạch trong suốt. Người ta hoà thứ thạch ấy với một ít đường và nước chanh hoặc cam, ăn rất thú vị và mát như bất kì loại thạch đông nào. Và vì có ít nước có thể lấy làm kiêu hãnh vì đã có nhiều loại tảo Fuci và Ulvœ hơn thứ được tìm thấy trên bờ biển của những hòn đảo thuộc Anh, những thế hệ mai sau có thể phát hiện ra nhiều loại tảo có chứa những chất dinh dưỡng này, và không chỉ giới hạn dùng một số ít loại trong số đó làm thực phẩm như tình trạng hiện nay. Ấy là chưa kể đến những loại tảo Esculentus hay Tangle, loại Saccharinus, được biết đến trong xứ Iceland nhiều hơn là ở nước Anh, loại Palmatus hay Dulse, mà người dân Scotland nói là không chỉ giàu dinh dưỡng và chất gelatin làm đông, mà còn tạo nên mùi hương thơm của hoa violet khi hòa trộn với các thứ rau khác, cùng loại tảo Ulva được biết nhiều trên bờ biển xứ Wale với tên gọi Laver. Ngoài ra, mọi loại còn lại hình như đều chưa được chú ý tới.
Loại tảo Chin-chou của Trung Quốc, tên gọi đúng ra là Hai-tsai hoặc rau biển (sea-vegetable), (còn gọi là rau câu), không những được dùng như một món ăn, mà còn được sử dụng ở cả Trung Hoa, Nhật Bản và xứ Nam Hà như một thứ hồ keo dính làm tăng độ sáng trong cho những tờ giấy khổ rộng hoặc vải thô dùng che cửa sổ hoặc làm đèn lồng. Đôi khi đèn lồng làm bằng nan tre đan chéo nhau, thường có những khe hở hình thoi, được trát kín bằng thứ hồ keo Hai-tsai trong suốt.
Mặt khác, người Nam Hà còn thu lượm nhiều loại cây nhỏ mọng nước và có lá mập dày, thường sinh sản trong những đầm lầy cát và nước lợ, như các loại Salicornia, Arenaria, Crithmum, Maritimum, hay cây rau Samphire và nhiều thứ khác nữa mà họ dùng để nấu canh hoặc hầm với thịt, hoặc ăn sống để bữa cơm thêm phần ngon miệng, mà trên thực tế, cơm gạo là nguồn thức ăn chính cho sự sinh tồn của họ. Từ loại gạo này, họ có kỹ thuật để làm ra một thứ miến, thường được gọi là Lock-soy, hoàn toàn trong suốt, rất được ưa chuộng ở Nhật và Trung Quốc, và ở Trung Hoa, thứ miến này được xuất khẩu với số lượng lớn. Nó làm cho món canh quánh lại, nhưng đồng thời vẫn giữ được hình dáng và độ trong suốt, những tính chất đó khiến người ta nghi ngờ rằng liệu thứ miến đó có phải chỉ làm bằng gạo thôi không. Loại Lock-soy ở Trung Hoa màu trắng đục.
Đối với cư dân bản địa ở những vùng khí hậu ấm nóng, thức ăn bằng thịt động vật ít khi được xếp vào các loại vật phẩm thiết yếu hàng đầu và được dùng một cách dè xẻn. Mặc dù cá là thức ăn thông dụng của những cư dân sống ở cùng bờ biển, nhưng đối với đông đảo dân chúng các nước phương Đông, bữa cơm sẽ ngon miệng hơn nếu có thêm một ít muối, ớt, hoặc hạt tiêu, hoặc một vài lá rau chua ở biển như đã kể trên. Ngoài những vật phẩm đó và những gia vị kèm theo thì tất cả mọi thứ ngay đến trầu cau, thuốc phiện và rượu mạnh cũng có thể bị coi là đồ xa xỉ. Về lúa gạo ở xứ Nam Hà, hầu như chắc chắn là mỗi năm có hai mùa thu hoạch lớn, một vụ gặt vào tháng 4, vụ kia vào tháng 10. Các loại hoa quả khác nhau như cam, chuối, vải, dứa, ổi, lựu và một vài thứ kém ngon hơn được trồng ở khắp mọi nơi trong nước. Họ có những loại khoai môn rất ngon và rất nhiều khoai lang. Giống trâu bò nhỏ được nuôi tỏ ra không cung cấp được nhiều sữa. Nhưng cũng giống như người Trung Hoa, họ dùng sữa rất tiết kiệm, thậm chí còn không dám dùng làm thức ăn nuôi trẻ nhỏ. Ở Đà Nẵng có rất nhiều trẻ con, trông khá khỏe mạnh, và cho đến 7, 8 tuổi vẫn còn ở trần truồng. Hình như thức ăn của chúng chủ yếu gồm cơm, mía và dưa hấu. Giống như người dân thường Trung Quốc, đông đảo dân chúng xứ Nam Hà ngày chỉ ăn có hai bữa: một bữa vào khoảng 9, 10 giờ sáng, bữa kia vào lúc xế chiều. Trong mùa khô, họ thường ăn cơm ở trước của những ngôi nhà tranh, trên những chiếc chiếu trải ở ngoài trời, ở đâu mọi người cũng ăn uống giống nhau, không ai cảm thấy xấu hổ khi bày ra bữa cơm đạm bạc.
Ở vùng phụ cận của Đà Nẵng, chúng tôi quan sát thấy nhiều đồn điền trồng mía và thuốc lá. Nước mía ép, một phần trở thành những bánh mật, được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Những bánh mật này có màu sắc, bề dày và rỗ lỗ chỗ giống như những tảng mật ong. Thuốc lá tiêu thụ ở trong nước, trẻ già trai gái đều có thói quen hút thuốc. Tuy nhiên, bộ mặt đất nước đã phơi bày ra những dấu hiệu yếu kém về canh nông, còn kỹ nghệ, thủ công rõ ràng ở trong tình trạng tồi tệ. Những ngôi nhà tranh có ít đồ đạc, và những đồ đạc ít ỏi đó được chế tạo thô sơ như thể chỉ dùng tạm thời. Chiếu để che phủ sàn nhà được dệt tinh xảo với những màu sắc khác nhau, nhưng vì kỹ nghệ dệt chiếu, thảm đã phổ biến ở mọi nước phương Đông, nên những tấm đẹp nhất cũng ít khi được chính bản thân họ thán phục. Những đồ dùng trong nhà chủ yếu gồm một lò đốt đắp bằng đất, một nồi sắt nấu cơm, một cái chảo dùng để xào rau với dầu ăn và một vài chén bát bằng sứ. Chất lượng những bình, chậu đúc bằng sắt cũng ngang bằng đồ Trung Quốc nhưng đồ gốm sứ lại rất kém. Họ tỏ ra khá tinh xảo trong nghề chế tác kim loại. Đốc kiếm của những võ quan hầu hết làm bằng bạc và khá trau chuốt, và những đồ vàng bạc chạm trổ cũng tinh xảo như hàng Trung Quốc. Thực vậy, người thợ của hai quốc gia đó đều có những tài năng sắc sảo về nhiều mặt; và nếu được khuyến khích xứng đáng, họ đã ở trong một giai đoạn cao để có thể tiến bộ nhanh chóng về kỹ nghệ khoa học và chế tạo sản xuất. Sống trong điều kiện của một chính quyền tồi, tài năng khéo léo của họ đôi khi đã bột phát ra một cách đáng ngạc nhiên. Một người ở Quảng Châu chỉ mới nhìn lần đầu đã có thể tạo ra một chiếc đồng hồ hẳn đầu óc không phải kém cỏi và đôi tay cũng chẳng vụng về.
Tuy nhiên, những kỹ nghệ và nền sản xuất thủ công của họ đã không được cải thiện liên tục. Trong mọi chính quyền phương Đông, có một khuyết điểm căn bản mà những lợi thế về đất đai, khí hậu hay những điều kiện thuận lợi khác không thể nào bù lại được, khuyết điểm đó luôn có tác dụng chống lại họ vươn tới tư cách và địa vị của một dân tộc lớn và hạnh phúc. Điều cản trở không thể vượt qua để tiến tới sự vĩ đại và hạnh phúc chính là do không có sự đảm bảo thường trực cho quyền sở hữu. Ở đâu mà thực trạng chiếm hữu vẫn mạnh hơn sự đòi hỏi quyền thừa kế, ở đâu mà uy quyền độc đoán trong bất cứ lúc nào, không cần đến những thể thức quy trình luật pháp vẫn có thể truất quyền của một người khỏi mảnh đất mà anh ta và gia đình anh ta đã hoàn toàn dựa vào đó, ở đâu mà chỉ có luật lệ của kẻ mạnh nhất được thừa nhận và ở đâu mà con người và tài sản không hề có sự bảo vệ hữu hiệu nào nhằm chống lại những mưu toan của những kẻ gây thù oán hoặc những quân tham tàn được giao cho quyền lực, thì làm sao có thể khuyến khích người dân xây dựng một ngôi nhà khang trang, cải tiến sự trồng trọt trên mảnh đất của mình, chuyên tâm hoàn toàn vào một ngành kỹ nghệ nào đấy hoặc mở rộng kỹ xảo, kỹ nghệ của mình vượt ra khỏi vòng cung ứng đơn thuần những sản phẩm thiết yếu cho cuộc sống. Một nhà hiền triết phương Đông đã từng nhận xét rằng: “Bằng chứng của một chính quyền đúng đắn và một nền trị an điều hành tốt là khi một người phụ nữ đẹp mang trên người đồ nữ trang vẫn có thể đi chơi một cách an toàn tuyệt đối”. Vậy thì nhà hiền triết đấy sẽ có thể nói được gì về một chính quyền và một nền trị an mà ở đó một bà lão giàu có nhưng không tự lo liệu được, xung quanh là một đám đầy tớ nghèo khó và lực lưỡng, vẫn có thể điềm nhiên và tin cậy phó thác bản thân và tài sản của mình cho họ và cho mọi người, như thể sức vóc của bà không thua kém họ chút nào; hay ở một nơi mà tài sản của một đứa trẻ thơ côi cút không những được đảm bảo cho đến lúc đứa trẻ đó có thể tự định đoạt được khi đến tuổi thành niên, mà còn được sinh sôi nảy nở, đôi khi tăng đến gấp đôi so với giá trị ban đầu? Điều kể trên có thể tỏ ra thật dị thường đối với một người dân ở các nước phương Đông, tuy nhiên, chúng tôi hài lòng để biết rằng nó hoàn toàn có thật trong nhiều nước ở thế giới phương Tây, và không nơi nào có thể được đánh giá ưu ái cao hơn đảo quốc Anh Cát Lợi.
Ngành kỹ nghệ đặc biệt mà ngày nay có thể nói là người xứ Nam Hà nổi trội hơn cả là kỹ thuật đóng tàu biển của họ: chẳng thiếu loại kích cỡ nào cũng như có đủ các loại chất lượng gỗ dùng để đóng. Những du thuyền dùng mái chèo là những chiếc thuyền thật xinh đẹp. Những chiếc thuyền này, chiều dài từ 50 đến 80 bộ (tức 15,2 m - 24,4 m), đôi khi được ghép bằng năm tấm ván gỗ nguyên bản, trải dài từ đầu đến cuối, các gờ lắp mộng đóng khít bằng chốt gỗ, buộc chặt bằng các lạt tre xoắn, mà không cần đến những thanh chống hoặc những loại xà ngang nào, mũi thuyền và đuôi thuyền được nâng lên khá cao, chạm trổ cầu kỳ những hình thù rồng rắn kỳ dị, trang trí sơn thếp. Một số cột và các thanh long đao có cắm cờ hiệu và cờ đuôi nheo, các giáo mác trang hoàng các chùm lông đuôi bò nhuộm đỏ, đèn lồng và dù lọng, cùng các biển hiệu khác ghi phẩm trật của những người đi thuyền, được dựng lên ở đầu và cuối thuyền. Vì rằng dân tộc này, cũng giống như người Trung Quốc, đã rất khác trong hầu hết quan niệm so với phần lớn các nước trên thế giới, nên các du khách luôn luôn ngồi ở phần trước của thuyền. Nhưng vì sẽ là bất lịch sự nếu những người chèo thuyền quay lưng lại với du khách, nên họ đã đứng hướng mặt về phía mũi thuyền, đẩy mái chèo ra thay vì kéo mái chèo lại, kiểu vẫn như thường làm trong các nước phương Tây.
Những người hầu và hành lý chiếm phần khoang đuôi thuyền. Những tàu thuyền này được dùng trong công việc buôn bán ở vùng duyên hải và đánh cá. Và những tàu thuyền đi thu lượm giống Trepan và những tổ chim yến trong quần đảo có tên gọi là Paracels [Hoàng Sa] thuộc nhiều loại được mô tả khác nhau. Nhiều chiếc trong số đó giống như những thuyền sampans [tam bản] của Trung Quốc, dựng chòi phủ chiếu, bạt, cả gia đình thường xuyên ở dưới mái che. Những chiếc khác giống như những thuyền buồm proa thông dụng của người Mã Lai ở cả thân thuyền lẫn dây chão neo thuyền. Những tàu buôn với nước ngoài của họ được đóng theo cách tương tự như các thuyền mành Trung Quốc, hình thức và cách thức đóng thuyền chắc hẳn không được đưa ra làm những mẫu mực hoàn hảo của kỹ thuật đóng tàu biển. Tuy vậy, vì chúng đã từng tồn tại vài nghìn năm nay mà không thay đổi nên chí ít chúng có quyền được kính nể đôi chút về tính cổ xưa của việc phát minh. Cũng vì người ta chưa bao giờ có ý định dùng những tàu thuyền này làm tàu chiến, nên không cần thiết nó phải thật mau lẹ để truy đuổi hoặc trốn chạy, mà mục đích của người chủ tàu chỉ là sự an toàn hơn là tốc độ. Và vì cá nhân không có những số vốn lớn dùng trong buôn bán, và người thương nhân đồng thời là người chủ tàu và nhà hàng hải chỉ huy tàu, một tải trọng hạn chế cũng đủ chở số hàng hóa của riêng họ, nên vì thế để khỏi bất tiện, con tàu được chia thành những khoang riêng biệt, sao cho một con tàu có thể thích hợp cho nhiều thương nhân. Những vách ngăn tạo thành sự phân chia đó gồm có những phiến gỗ dày tới 2 inch (~5 cm), được trám bịt kỹ lưỡng để đảm bảo cho nước không thể thấm qua được.
Mặc dù người ta có thể đưa ra những lời phản đối chống lại việc phân chia lòng tàu, và có thể việc trở ngại khi chất hàng hóa vào tàu là dễ nhận thấy nhất, nhưng không thể phủ nhận rằng nó đã đem lại cho những chiếc tàu lớn nhiều lợi thế. Một con tàu, khi đã được củng cố bằng những vách ngăn ngang như vậy, có thể va đập vào đá mà không bị hư hại nghiêm trọng. Nước rò rỉ vào một khoang ngăn của lòng tàu sẽ không gây thiệt hại cho những hàng hóa đặt trong các khoang ngăn khác. Và bởi vì con tàu được ghép nối chặt chẽ với nhau như vậy, nó sẽ trở nên đủ vững chắc để chịu đựng một cú va chạm mạnh hơn bình thường. Những người đi biển đều biết rõ rằng, khi một con tàu lớn đụng phải mặt đáy, dấu hiệu đầu tiên của sự vỡ ra từng mảnh là khi những gờ mép sàn tàu bắt đầu bong ra từ hai bên sườn. Nhưng sự tách rời sẽ không bao giờ xảy ra một khi hai bên sườn và sàn thuyền đã được đóng ghép chặt chẽ vào nhau bằng những vách ngăn như vậy. Thực vậy, phát minh cổ xưa này của người Trung Hoa ngày nay đang được hải quân Anh áp dụng như một sự thể nghiệm mới. Hơn nữa, ở trong nước, nhiều kế hoạch khác cũng được dự kiến nhằm đẩy cho tàu chạy khi trời lặng gió, bằng những mái chèo đôi lớn, bằng bánh xe nước đặt ở hai bên sườn tàu hoặc dưới bụng tàu và còn bằng nhiều cách thức khác nhau nữa. Tất cả những điều đó, mặc dù được mang tên là những phát minh, nhưng thực ra chúng đã được dùng phổ biến bởi người Trung Hoa từ hơn 2.000 năm về trước.
Bức tranh in phụ bản sẽ cho ta một ý niệm tương đối chính xác về các tàu thuyền của người Đàng Trong thường qua lại nhánh sông Hội An để vào vịnh Đà Nẵng.
_182.jpg)
Hình 4: Cochin-chinese Shipping on the River Faifo
(Thuyền bè trên sông Hội An)
Nhà vua hiện thời của đất nước này, ở mức độ nào đó, đã phá vỡ những xích xiềng trói buộc của tập quán liên quan đến công việc đóng tàu chiến, cho dù khi làm việc đó, ông ta đã bỏ qua những định kiến của người dân, mà ở các quốc gia châu Á, đặc biệt ở những nơi người dân hoàn toàn bị dẫn dắt bởi dư luận, thì những định kiến đó đã bám chặt trở thành thiêng liêng, không dễ gì nhổ bật rễ ngay một lúc được.
Không chiều theo định kiến này, ông đã sai sửa đổi riêng phần thân tàu chìm trong nước, còn các bộ phận bên trên như cột buồm và những dây chão neo tàu vẫn giữ nguyên theo kiểu Nam Hà. Tất nhiên có thể đặt ra câu hỏi rằng liệu có ích gì hơn không khi dùng những thanh gỗ cứng thay cho những cây tre dễ uốn, vốn đã dùng để tạo ra những bộ phận trọng yếu của phần trên con tàu, mà tre lại nhẹ hơn và bền chắc như gỗ. Không thể không khâm phục trí óc giỏi giang của ông hoàng khôn ngoan và năng nổ này, biết chọn hướng đi vào con đường trung gian, có được một lợi ích thực tế mà không phải đưa ra những thay đổi nào rõ rệt.
Nói về sự cố chấp, bám vào những tập quán cũ, có một ví dụ thú vị về Hoàng đế Nhật Bản, khi vài năm trước đây, những người Hà Lan từ Batavia đã đem dâng lên vị quân vương này một vài món quà tặng, trong đó có một mô hình chiếc tàu chiến. Viên đại sứ tình cờ quan sát thấy vị Hoàng đế đưa mắt nhìn vào mô hình đó, và ông ta cho rằng đấy là cơ hội có lợi cho những nhân viên của mình, bèn đánh bạo đưa ra một đề nghị xin được gửi tới Nhật Bản một số thợ chuyên môn từ Hà Lan, để chỉ dẫn cho những thần dân của nhà vua kỹ thuật đóng tàu theo cách làm của châu Âu. Hoàng đế muốn hỏi bao lâu nữa thì các thần dân của ông có thể làm quen với kỹ thuật đóng tàu dựa theo mô hình được mang đến. Viên đại sứ đáp là khoảng 300 năm nữa. “Vậy thì hãy bảo ông ấy rằng - hoàng đế nói - từ hàng nghìn năm nay thần dân của ta đã đóng được những con tàu như ông ta thấy trong các cảng của ta, và ta chưa hề nghe thấy một lời phàn nàn gì về sự hữu ích của chúng. Vì vậy, ta phải tỏ lời khen ngợi bản thân ta hoặc thần dân của ta vì trong suốt nhiều thời đại đã không bỏ qua một phát minh trong quá khứ. Tàu Hà Lan có thể thích hợp với người Hà Lan, nhưng không phải với người Nhật Bản. Do đó, hãy bảo ông ấy rằng ta khuyên ông ấy nên mang món quà đó về”.
Những người Nam Hà đã bảo tồn một cách có hiệu quả chữ viết Trung Hoa. Chúng tôi không thấy có khó khăn nào trong khi giao tiếp với họ về mọi vấn đề bằng phương tiện trung gian này, thông qua các nhà sư Trung Quốc. Tuy nhiên, tiếng nói đã trải qua một sự biến đổi rất đáng kể. Điều đó khiến ta không lấy gì làm lạ khi các cư dân ở các tỉnh miền Bắc và miền Nam Trung Quốc không hiểu được nhau. Tuy thế, mặc dầu đã bị biến đổi đi, nhưng nó đã tỏ ra là chẳng hề có được sự cải tiến nào, bằng cách tự bổ sung hoặc đưa thêm vào những từ nước ngoài. Bằng việc so sánh một bảng ngắn các từ Trung Quốc mà tôi đã cung cấp trong một công trình khác, với các từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ của người Nam Hà, ta có thể có được một ý niệm về hai tiếng nói trên giống nhau hoặc khác nhau như thế nào.
Chú thích bảng dưới[6] [7] [8] [9]
_125.jpg)
_126.jpg)
_127.jpg)
_128.jpg)
_129.jpg)
_130.jpg)
_131.jpg)
Ta có nhận xét rằng người Nam Hà đã đưa vào những phụ âm B, D và R mà họ phát âm không khó khăn gì, nhưng một người Trung Quốc dù có cố gắng bao nhiêu cũng không thể đọc được một âm tiết trong đó có một phụ âm kể trên. Trong cách đặt câu, cũng có sự khác nhau đáng kể giữa hai ngôn ngữ. Khi tạo nên dạng số nhiều của những đại từ nhân xưng, người Trung Quốc dùng âm tiết muen (nhiều) như trong từ:
_132-1.jpg)
Nhưng người Nam Hà dùng âm tiết chung (chúng) nghĩa là nhiều, như trong:
_132-2.jpg)
Đối với những người dân này, chúng tôi gặp ít khó khăn trong việc làm cho họ hiểu được mình hơn là với những người Trung Quốc nghiêm trang, trịnh trọng mà chúng tôi giao thiệp sau đó. Những người này nghĩ rằng họ sẽ bị giảm phẩm giá khi phải hạ cố dùng bút vẽ tả ra những đồ vật, tuy những hình tượng này thường có liên quan đến cách viết chữ của họ; hoặc khi dùng dấu hiệu và cử chỉ để diễn đạt những ý tưởng có thể trao đổi với nhau mà không cần đến sự giúp đỡ của ngôn ngữ. Đây không phải là trường hợp đối với những người Nam Hà, dường như họ luôn luôn lo lắng để nắm được ý kiến của chúng tôi và tạo điều kiện để hai bên hiểu biết lẫn nhau một cách thuận lợi. Tuy nhiên, những người Trung Quốc giao dịch hoặc phục vụ người châu Âu ở Quảng Châu thì vẫn sẵn lòng, khéo léo và có nhiều sáng kiến để có thể hiểu những khách hàng hoặc những ông chủ của họ, và trong việc chiều ý những người mà họ sẽ có lợi nếu làm hài lòng những người đó, như bất kỳ một người dân nào khác vẫn có thể làm như vậy. Chẳng hạn có viên thuyền trưởng của một con tàu thuộc Công ty Đông Ấn, một hôm ngồi ở bàn ăn, đã chỉ vào một đĩa thức ăn mà ông cho là món thịt vịt thái nhỏ, muốn người hầu Trung Quốc phục vụ cho mình một ít thịt quaak-quaak [quạc quạc, chỉ con vịt]. Người hầu đó, mới biết được một ít tiếng lóng mà những ông chủ thường ra hiệu khi nói với anh ta, sau khi nhìn vào đĩa thức ăn, bèn lắc đầu và để sửa chữa sự lầm lẫn của ông chủ, đã nhận xét một cách đầy ý nghĩa rằng đó không phải là quaak-quaak mà là bow-wow [gâu gâu] vì đĩa thức ăn đó là món thịt chó chứ không phải là thịt vịt.
_183.jpg)
Lễ dâng cúng hoa quả cho đức Fo (Phật)
Không thật cần thiết để nhận thấy rằng tôn giáo của người Nam Hà, cũng như ở hầu hết các nước phương Đông, là sự biến cách của giáo lý nhà Phật được truyền bá rộng rãi. Tuy nhiên, qua ít nhiều những gì chúng tôi được biết trong một dịp chứng kiến lòng sùng tín của họ, thì tôn giáo của họ tỏ ra đơn giản hơn và ít bị che phủ bởi những điều thần bí và những lễ thức về cúng bái, bói toán như nó đã được thực hành phổ biến ở Trung Hoa. Từ lòng nhân từ đến tinh thần từ bi, bác ái, người Nam Hà cũng giống như người Do Thái thời xưa, biểu lộ lòng thành kính của mình bằng cách dâng cúng lên ảnh tượng của vị thần linh bảo trợ những lứa đầu của gia súc, gia cầm còn sống hoặc những hoa quả đầu mùa. Những bông lúa chín đầu tiên, quả cau chín đầu tiên, chén đường đầu tiên, hoặc bất cứ vật phẩm gì sản xuất ra, sẽ được mang đến điện thờ có những ảnh tượng thiêng liêng, đặt ở đó với lòng sùng kính như một vật tạ ơn nhỏ mọn đối với lòng tốt của thánh thần. Tôi đã rất hài lòng vì được có mặt tại một buổi lễ dâng cúng theo kiểu này. Vào một buổi tối biển lặng khi rời tàu lên bộ ở một vụng biển nhỏ phía bờ bắc vịnh Đà Nẵng, tôi quan sát thấy một người mặc áo thụng màu vàng, dài chạm đất, đầu cạo trọc để trần, bước đi khoan thai tới một cây to cành lá xum xuê, theo sau là một vài người nông dân. Khi tới gốc cây, tất cả mọi người đều dừng lại. Ngay ở thân cây chính (vì đó là một loại cây thuộc loại Ficus Indica, người Nam Hà gọi là Dea [cây đa], cành rủ xuống bám rễ vào đất trở thành thân), tôi quan sát thấy một cái lồng lớn đan kiểu mắt cáo, có hai cánh cửa gấp, buộc chặt giữa hai chạc cành cây, một phần bị lá cây che lấp. Bên trong có một bức tượng Budha [Bụt] hay Fo [Phật] bằng gỗ, thân hình mập mạp đang ở tư thế ngồi thường thấy tương tự như trong các đền chùa Trung Hoa. Một chú tiểu đi theo đứng ngay phía trước nhà sư, mang theo một đĩa bằng đồng thau đựng than đang cháy. Một người trong đám nông dân mang một chiếc thang tre, anh ta đặt thang tựa vào thân cây; một người khác trèo lên thang, đặt vào trong lồng, phía trước bức tượng Phật hai bát cơm, một chén đường, một chén muối. Đúng lúc đó, nhà sư dang tay ra và mắt hướng nhìn lên trời, ông hạ thấp giọng khấn lầm rầm một điều gì đó, trong khi người đàn ông mang chiếc thang quỳ gối xuống đất, cúi mình vái 9 vái, theo phong tục người Trung Hoa. Nhiều đàn bà, trẻ con đứng cách đó một quãng, như thể họ bị cấm không cho lại gần, mặc dù người ta nói rằng các sư nữ vẫn thường thấy ở xứ này, và chắc chắn là không có sự hạn chế nào với nữ giới.
Vì cái thang là của nhà sư, nên chúng ta không còn nghi ngờ gì rằng đến một lúc thuận tiện, nhà sư sẽ thận trọng đến lấy những đồ cúng được gửi ở đó để dùng riêng cho mình, giống như những thầy tu thờ cúng tượng thần Bel[10] thời xưa đã được kể lại trong những cuốn ngụy thư, nhưng trong câu chuyện này, đồ cúng chí ít cũng là biểu hiện của lòng thành kính và biết ơn của người dâng cúng. Và mặc dù về phía nhà sư, ông ta sẽ xứng đáng được kính trọng hơn nếu ông ta lấy chỗ lộc đó một cách rõ ràng, công khai, bởi có lẽ không có hạng người nào khác xứng đáng được hưởng những phần thưởng cho công việc phục vụ của mình hơn là những người dành toàn bộ thời gian cho công việc thực hành những nghĩa vụ tôn giáo. Ở mọi thời đại và trong mọi quốc gia, quyền sử dụng những hoa trái đầu mùa hình như đã được giao cho các thầy tu. Trong huyền sử rõ ràng có một phần nói về thứ quyền được ban phát của người Do Thái. Và chúng ta đã được Pliny cho biết rằng không một ai dám nghĩ đến việc nếm các hoa quả tươi hoặc thứ rượu nho mới cho đến khi các thầy tu bắt đầu tiến hành lễ vẩy rượu để tế thần theo tục lệ.
Bên rìa một lùm cây nhỏ gần vịnh Đà Nẵng, người ta đã treo hoặc đặt cố định vào giữa các cành những hộp nhỏ bằng gỗ hoặc những giỏ đan bằng dây liễu gai, một số chứa những ảnh tượng làm bằng các vật liệu khác nhau, một số khác chứa những tờ giấy vẽ hoặc thếp vàng cắt ra thành những hình thù khác nhau, những tấm gỗ nhỏ trên viết những chữ Hán, và nhiều chỉ dẫn về các thần linh được cúng tế. Thực vậy, cây cối đã là một loại đền miếu đầu tiên được dành cho các thần linh. Đối với con người khi mới thoát khỏi trạng thái tự nhiên nguyên sơ, những đối tượng to lớn nhất hiện ra trước mắt họ tỏ ra là những vật được chú ý đến nhất đáng để thờ phụng. Như vậy là dưới đồng bằng có những cây cổ thụ đáng được tôn thờ, thì trên núi là những tảng đá rắn chắc trên đỉnh cao. Nhưng con người, khi càng văn minh họ càng kiêu căng và có nhiều tham vọng hơn, bèn dự định xây ngọn tháp Babel[11] mà đỉnh có thể vươn tới tận trời xanh. Những đền miếu nguy nga lộng lẫy đã được dành cho các thần linh ở hầu hết các quốc gia văn minh thời cổ đại, và các giáo đồ Thiên Chúa giáo đã chấp nhận việc thờ cúng đó một cách phổ biến. Nhưng người Trung Quốc và những láng giềng của họ đã quan niệm không giống với phần còn lại của nhân loại về vấn đề này cũng như hầu hết các vấn đề khác. Họ lấy làm mãn nguyện được thờ phụng ở mọi nơi và trong mọi hoàn cảnh
“Vị thần quý trọng hơn
Trái tim chính trực và trong sáng
Trước mọi đền đài”
(…that Spirit that does prefer
Before all temples the upright heart and pure,)[12]
Một cái tráp nhỏ không lớn hơn một hộp đựng thuốc hít là nơi thường xuyên cất giữ trân trọng một vị thần. Thực vậy, lòng mộ đạo đơn độc không đòi hỏi không gian cần thiết cho việc thờ cúng của một giáo đoàn. Một vị thần linh phù hộ có thể đặt ở bất kỳ góc nào của ngôi nhà hoặc đem theo trong túi.
Người Nam Hà cực mê tín, và cũng như người Trung Quốc, việc thờ cúng của họ được thực hiện rất thường xuyên với quan niệm là để ngăn ngừa tội lỗi trong tâm tưởng hơn là hy vọng đạt được một điều tốt lành trong thực tế. Nói cách khác, người ta sợ ma quỷ ác độc hơn là những thánh thần tôn kính. Ở nhiều nơi trong nước, họ dựng lên những cọc tiêu hay cột gỗ, không chỉ nhằm mục đích đánh dấu nơi xảy ra một tai họa lớn của đông người hay của cá nhân như một cuộc thất trận, một vụ giết người hay những sự cố bất hạnh khác, mà còn được coi như để làm dịu đi cơn giận dữ của những hung thần được coi là có ảnh hưởng đến việc xảy ra tai họa. Vì vậy, khi một trẻ sơ sinh chết đi, cha mẹ của nó cho là đã làm phật ý một quỷ thần ác độc nào đó, và họ đã gắng sức làm cho vị thần kia nguôi giận bằng những đồ cúng lễ như cơm gạo, dấu ấn, trà uống, tiền bạc hoặc bất cứ thứ gì mà họ nghĩ ra cho là thích hợp nhất đối với vị thần nóng giận. Từ những tình cảm như vậy, người ta có thể dám hy vọng rằng tục lệ khủng khiếp giết trẻ sơ sinh không nằm trong số những phong tục tê hại mà họ đã giữ lại của người Trung Quốc.
Bên cạnh đổ cúng lễ mà các cá nhân thấy cần thiết phải dâng trong những dịp khác nhau, hình như có một khoản đóng góp hàng năm do chính quyền thu, để trả cho việc hỗ trợ một số tu viện mà ở đó các nhà sư đã cầu khấn các vị thần linh phù hộ, ban phúc lành cho công chúng. Khoản đóng góp đó có thể là hiện vật như thóc gạo, hoa quả, đường, cau và những loại sản phẩm khác. Ở các đô thị, thay vào đó người ta thu tiền bạc, kim loại, quần áo và những thứ tương tự. Cũng như ở Trung Quốc, các nhà sư ở đây được coi là những thầy thuốc giỏi nhất, nhưng các mánh lới nghề nghiệp của họ thường là những bùa chú, trò thôi miên hơn là việc dùng thuốc men một cách đúng đắn để chữa lành bệnh.
Có thể suy ra rằng những nguyên lý cơ bản của chính quyền Nam Hà cũng là những nguyên lý của chính quyền Trung Hoa, họ có cùng một hệ thống pháp luật và những cách thức trừng phạt, nhưng về vấn đề này tôi không thể nói gì hơn. Trong tòa nhà trống trải tiếp giáp với dinh của viên quan trị nhậm, chúng tôi trông thấy cả hai thứ Tcha và Pan-tsé (cái gông và cây gậy tre). Nhưng liệu việc thi hành pháp luật ở đây được áp dụng có phần kém nghiêm ngặt hơn hoặc đạo đức của dân chúng ít đồi bại hơn ở Trung Quốc hay không thì tôi không dám chắc. Tuy nhiên, có thể nhận xét rằng chúng tôi chưa trông thấy một hình phạt nào, trong khi ở Trung Quốc hiếm có thị trấn hoặc làng mạc nào chúng tôi đi qua lại không đập vào mặt hình ảnh chiếc gông hoặc réo vào tai những tiếng kêu khóc của những người đang chịu hình phạt đánh đòn bằng gậy tre. Quả thực, ở nơi đó những quan lại, mặc dù đồi bại và sa đọa trong đời sống riêng tư, nhưng ở chốn công cộng vẫn tỏ thái độ nghiêm nghị khi ban ra một hình phạt cải hóa dân chúng. Nhưng một ông quan ở Nam Hà, khi đã công khai vi phạm các quy tắc chuẩn mực, và bản thân ông ta trở thành tấm gương xấu về khinh suất và phóng tùng, thì chỉ có thể điều khiển và quan sát một cách miễn cưỡng việc trừng phạt một người khác phạm tội còn nhẹ hơn bản thân mình. Trong bất kỳ trường hợp nào, tinh thần dân chúng ở Turon dường như không phải chịu đựng tình trạng suy nhược do sự ra tay quá khắc nghiệt của chính quyền.
❀ ❀ ❀
[1] Tootanague (tutenague), còn gọi là bạch đồng. Một loại hợp kim bao gồm kẽm, đồng và sắt, một mặt hàng nhập khẩu chính vào Việt Nam trong những thế kỷ XVII-XVIII, chủ yếu dùng để đúc tiền.
[2] Ý muốn nói đến nhà vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản.
[3] Đỉnh núi lửa ở đảo Teneriffle trong quần đảo Camary ở ngoài khơi Đại Tây Dương, phía Tây Nam Marocco, cao 3.716 m.
[4] Theo nhật ký của Macartney, số gạo mà Quang Toản tặng cho phái bộ Anh quá nhiều, dùng không hết. Do đó, khi tới Quảng Châu, họ đã đem bán lại, lấy tiền sung vào quỹ của Công ty Đông Ấn Anh.
[5] Trepan (trepang), loài hải sâm. Tên gọi trong giao dịch buôn bán của loài holothurian, lớp động vật không xương sống ngành da gai. Các tên thông thường khác: sea-cucumber (dưa chuột biển). Tiếng Pháp: concombre de mer, biche de mer. Hải sâm hình dáng giống con sên, con đỉa, có nhiều nốt sần trên mình (giống như quả dưa chuột), thường bám chặt vào các tảng đá ở đáy biển. Có ở vùng ven biển miền Nam Việt Nam, quần đảo Hoàng Sa, biển Đông, vùng biển phía bắc nước Úc. Phơi sấy khô, làm lương thực bổ dưỡng cao cấp đắt giá hoặc làm vị thuốc Đông y, được người Trung Quốc rất ưa chuộng.
[6] Theo nguyên văn (BT).
[7] Omega+ biên soạn.
[8] Theo nguyên văn (BT).
[9] Omega+ biên soạn.
[10] Trong thần thoại Babylone (Lưỡng Hà), Bel là vị thần của Trời Đất và việc thờ cúng thần Bel bị người Do Thái Cơ Đốc coi là tà đạo.
[11] Babel: tòa tháp mà theo Kinh Thánh, những người con của ông già Noé muốn xây cao lên đến tận trời, nhưng Thượng đế đã ngăn cản việc xây dựng đó bằng cách làm cho họ nói nhiều thứ tiếng khác nhau, không hiểu được nhau.
[12] Thơ của thi sĩ Anh John Milton (1608-1674).