Sử Ký I. Bản Kỷ

Lượt đọc: 138 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 1 NGŨ ĐẾ BẢN KỶ

❊ ❊ ❊

Hoàng Đế là con cháu của Thiếu Điển1, họ Công Tôn, tên là Hiên Viên, sinh ra thần dị, chớm sinh biết nói, nhỏ thì thông minh, lớn thì đôn hậu, trưởng thành thì sáng suốt. Vào thời Hiên Viên, họ Thần Nông suy yếu, chư hầu xâm chiếm lẫn nhau, bạo ngược trăm họ, vậy mà họ Thần Nông không thể chinh phạt được. Bấy giờ Hiên Viên bèn dùng vũ lực, chinh phạt kẻ không đến chầu, chư hầu đều thần phục theo. Riêng Xi Vưu bạo ngược nhất, không ai đánh nổi. Viêm Đế muốn xâm chiếm chư hầu, chư hầu đều quy thuận Hiên Viên. Hiên Viên bèn sửa sang đức chính, chấn chỉnh quân đội, thuận theo khí của ngũ hành, gieo trồng ngũ cốc, vỗ về muôn dân, đo đạc bốn phương, huấn luyện gấu, beo, hổ, báo, tỳ, hưu2, rồi cùng Viêm Đế đánh nhau ở cánh đồng Bản Tuyền, qua ba trận mới thắng. Xi Vưu dấy loạn, không theo lệnh vua. Vậy là Hoàng Đế liền trưng tập quân chư hầu, cùng Xi Vưu đánh nhau ở cánh đồng Trác Lộc, sau đó bắt Xi Vưu mà giết đi. Chư hầu đều tôn Hiên Viên làm thiên tử, thay họ Thần Nông, đây chính là Hoàng Đế. Trong thiên hạ có kẻ không quy thuận, Hoàng Đế liền tới chinh phạt, dẹp yên rồi bỏ đi, đến đâu cũng xẻ núi mở đường, chưa từng sống yên một chỗ.

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/3/33/Yellow_Emperor.jpg

Hoàng Đế (tranh đời Minh)

Hoàng Đế đi về phía đông đến biển, lên Hoàn Sơn và Đại Tông; đi về phía tây tới Không Đồng, lên núi Kê Đầu; đi về phía nam tới Trường Giang, lên Hùng Sơn, Tương Sơn. Lên phía bắc đuổi bọn Huân Dục, hội chư hầu ở Phủ Sơn, định độ ấp ở bình nguyên Trác Lộc, nhưng di dời, đi lại thường xuyên, không ở nơi nào cố định, sắp đặt quân đội thành vòng tròn xung quanh mình để bảo vệ. Tên của bá quan đều lấy chữ ‘Vân’ để đặt, quân đội gọi là ‘Vân sư’, đặt ra chức tả, hữu Đại Giám, giám sát muôn nước. Muôn nước hòa hợp, việc cúng tế quỷ thần, sông núi, trời đất rất thịnh. Hoàng Đế từng có được đỉnh báu; bói cỏ thi để dự đoán ngày tháng, cắt cử Phong Hậu, Lực Mục, Thường Tiên, Đại Hồng để trị dân. Thuận theo quy luật của trời đất, suy đoán sự biến hóa của âm dương, đặt ra lễ nghi sinh tử, gieo trồng cỏ cây bách cốc theo thời vụ, thuần dưỡng muông thú côn trùng, đức của Hoàng Đế lan tỏa rộng khắp tới nhật nguyệt, tinh tú, cùng sông ngòi, đất đá, vàng ngọc. Ngài lao tâm khổ tứ, lại tiết kiệm tài vật, có nét đẹp của thủ đức, nên được gọi là Hoàng Đế.

Hoàng Đế có hai mươi lăm người con trai, nhưng người được ban họ chỉ có mười bốn người. Hoàng Đế sống ở gò Hiên Viên, lấy con gái nước Tây Lăng làm vợ, đây chính là bà Luy Tổ. Bà Luy Tổ là chính phi của Hoàng Đế, sinh được hai người con trai, con cháu sau này đều có được thiên hạ. Người thứ nhất tên là Huyền Hiêu, chính là Thanh Dương, Thanh Dương được phong ở Trường Giang; người thứ hai tên là Xương Ý, được phong ở Nhược Thủy. Xương Ý lấy con gái họ Thục Sơn, tên là Xương Bộc, sinh ra Cao Dương. Cao Dương có đức của bậc thánh nhân. Hoàng Đế băng, táng ở Kiều Sơn. Cháu nội, con trai của Xương Ý là Cao Dương lên ngôi, đây chính là Đế Chuyên Húc vậy.

Để Chuyên Húc Cao Dương là cháu nội của Hoàng Đế, con trai của Xương Ý. Ngài thâm trầm, sâu sắc mà có mưu lược; sáng suốt, thông đạt mà hiểu thấu lễ nghĩa. Trồng trọt chăn nuôi tận dụng địa lợi, phân chia thời tiết hợp với tự nhiên, dựa vào quỷ thần để đặt ra lễ nghĩa, nghiền ngẫm khí của tử thời, ngũ hành để giáo hỏa muôn dân, dùng sự thanh khiết, thành khẩn để tế tự. Ngài từng phía bắc đến U Lăng, phía nam đến Giao Chỉ, phía tây đến Lưu Sa, phía đông đến Phiên Mộc. Mọi vật động hay tĩnh, thần linh lớn hay nhỏ, phàm những nơi có ánh sáng mặt trời, mặt trăng soi tới, không đâu không quy thuận ngài.

Đế Chuyên Húc sinh được người con tên là Cùng Thiền. Chuyên Húc băng, cháu nội của Huyền Hiêu là Cao Tân lên ngôi, chính là Đế Khốc.

Chuyên Húc (Tam Tài đồ hội)

Đế Khốc Cao Tân là chắt của Hoàng Đế. Cha của Cao Tân là Kiều Cực, cha của Kiều Cực là Huyền Hiêu, cha của Huyền Hiêu là Hoàng Đế. Huyền Hiêu và Kiều Cực đều không được ở ngôi, đến Cao Tân mới lên ngôi vua. Cao Tân là cháu họ của Chuyên Húc. Cao Tân sinh ra đã thần dị, tự nói được tên mình. Ngài rộng ban ơn huệ, chẳng vì bản thân. Ngài thông minh nên biết được việc xa, sáng suốt nên nhận ra điều nhỏ, trên thì thuận theo đạo nghĩa của trời, dưới thì hiểu nỗi khốn khó của dân, nhân hậu mà uy nghiêm, hiền từ mà thành thật. Ngài tu thân khiến thiên hạ đều kính phục. Ngài sử dụng tài vật mà tiết kiệm, vỗ về muôn dân mà bảo ban, quan sát mặt trăng, mặt trời mà sửa sang lịch pháp, xét rõ quỷ thần mà kính thờ. Thần thái thì trang nghiêm, đức độ thì cao vọi, cử chỉ thì đúng mực, ăn vận thì phải chừng. Đế Khốc giữ đạo trung dung, đem ân đức tưới khắp thiên hạ, phàm những nơi nhật nguyệt chiếu soi, gió mưa gội tới, không nơi đâu không thần phục ngài.

Đế Khốc lấy con gái họ Trần Phong, sinh ra Phóng Huân, lại lấy con gái họ Tu Tử, sinh ra Chí. Đế Khốc băng, Chỉ nối ngôi. Đế Chí lên ngôi, chính trị suy yếu, sau khi băng, em là Phỏng Huân lên ngôi, đây là Đế Nghiêu.

Đế Nghiêu tên là Phóng Huân, nhân từ như trời, trí tuệ như thần. Gần gụi thì thấy ngài như mặt trời, đoái trông thì ngỡ ngài như áng mây. Giàu có mà không kiêu căng, cao sang mà không ngạo mạn. Ngài đội mũ vàng, vận áo đen, đi xe đỏ, cưỡi ngựa trắng. Ngài có thể làm rạng đức tốt để khiến chín họ hòa thuận. Chọn họ đã hòa thuận rồi, ngài tỏ đức tốt cho cả trăm họ. Trăm họ sáng tỏ rồi, ngài hòa hợp với cả muôn nước chư hầu. Ngài bèn sai hai họ Hy, Hòa kính thuận phép trời, xem xét sự vận hành của mặt trời, mặt trăng và các vì sao, rồi kính cẩn truyền cho dân gian biết thời vụ cấy gặt. Sai Hy Trọng đến ở Úc Di, gọi là Dương Cốc, kính cẩn đón mặt trời mọc, đôn đốc vụ xuân. Ngày Xuân phân thì ngày đêm bằng nhau, lúc hoàng hôn sao Điểu ở chính nam, lấy đó để định tháng Trọng xuân. Dân tản ra đồng, muông thú sinh nở. Lại sai Hy Thúc đến ở Nam Giao, đôn đốc vụ hè, kính cẩn làm tốt việc gieo trồng. Ngày Hạ chí là ngày dài nhất, lúc hoàng hôn sao Hỏa ở chính nam, lấy đó để định tháng Trọng hạ. Dân thảy làm đồng, muông thú thưa lông. Lại sai Hòa Trọng đến ở phương Tây, gọi là Muội Cốc, kính cẩn tiễn mặt trời lặn, đôn đốc vụ thu. Ngày Thu phân thì đêm ngày bằng nhau, lúc hoàng hôn sao Hư ở chính nam, lấy đó để định thảng Trọng thu. Dân chúng vui tươi, thú thay lông mới. Lại sai Hòa Thúc đến ở phương Bắc, gọi là U Đô, đôn đốc thu hoạch. Ngày Đông chỉ là ngày ngắn nhất, lúc hoàng hôn sao Mão ở chính nam, mới lấy đó để định tháng Trọng đông. Dân mặc áo ấm, muông thú lông rậm. Một năm có ba trăm sáu mươi sáu ngày, lại đặt ra tháng nhuận để bốn mùa được chính xác. Bá quan cần mẫn, mọi sự hưng thịnh.

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/4/47/Ma_Lin_-_Emperor_Yao.jpg

Đế Nghiêu

Đế Nghiêu hỏi: “Ai có thể nối ngôi ta?” Phóng Tề đáp: “Thái tử Đan Chu thông minh sáng láng!” Đế Nghiêu nói: “Ôi dào! Bướng bỉnh hay cãi, không được!” Đế Nghiêu lại hỏi: “Ai được nhỉ?” Hoan Đâu đáp: “Cộng Công biết tập trung nhân lực, lại có công lớn, có thể dùng được” Đế Nghiêu nói: “Cộng Công nói hay nhưng trong lòng tà vạy, tưởng cung kính nhưng ngạo mạn ngất trời, không được!” Đế Nghiêu lại nói: “Này! Bốn vị Tứ nhạc3! Giờ nước lũ cuồn cuộn ngang trời, mênh mông nhấn nuốt núi đồi, muôn dân sợ hãi, sai ai trị thủy được?” Mọi người đều nói Cổn có thể làm được. Đế Nghiêu nói: “Cổn hay làm trái lệnh, lại tàn sát người trong họ, không được!” Bốn vị Tứ nhạc đáp: “Không phải vậy đâu! Đức vua cứ thử, không được thì thôi vậy?” Thế rồi Đế Nghiêu nghe lời bốn vị đại thần dùng Cổn. Nhưng suốt chín năm, Cổn chẳng làm được gì.

Để Nghiêu nói: “Ôi! Tứ nhạc! Ta ở ngôi đã bảy mươi năm rồi, ai có thể nhận mệnh trời, bước lên ngôi vua?” Bốn vị Tứ nhạc đáp: “Đức mọn e làm bẩn ngôi vua!” Đế Nghiêu nói: “Cất cử người thân thích hay ẩn sĩ ở xa cũng được!” Mọi người đều nói với Đế Nghiêu rằng: “Có một người chưa vợ trong dân gian, tên là Ngu Thuấn” Đế Nghiêu nói: “Đúng, ta cũng nghe nói, người đó thế nào?” Bốn vị Tứ nhạc nói: “Người đó là con một gã mù. Ông bố thì ngang ngạnh, bà mẹ thì điêu ngoa, thằng em thì xấc xược, thế mà có thể dùng lòng hiếu thảo dàn hòa mọi việc, xử trí êm ru, không làm gì gian ác” Đế Nghiêu nói: “Ta thử hắn xem sao?”

Thế rồi Đế Nghiêu gả hai cô con gái cho Thuấn, để qua đó xem đức hạnh của Thuấn thể nào. Thuấn bèn đưa hai vợ xuống ven sông Vị, theo đúng đạo làm vợ. Đế Nghiêu hài lòng, bèn sai Thuấn cẩn thận điều hòa năm mối nhân luân4, mọi người đều tuân theo cả; Đế Nghiêu bèn vời vào triều điều khiển bá quan, bá quan mới có trật tự; lại sai ra bốn cửa tiếp đón tân khách, việc tiếp đón ở bốn cửa đều cung kính, hòa mục, tân khách ở các nước chư hầu phương xa đều kính cẩn. Đế Nghiêu sai Thuấn vào rừng núi đầm lầy, gặp mưa gió bão bùng, Thuấn vẫn đi không lạc. Đế Nghiêu cho vậy là bậc thánh, bèn vời Thuấn lại nói: “Ngươi mưu sự rốt ráo, hễ nói là làm được, ba năm rồi, ngươi hãy lên ngôi vua!” Thuấn khiêm nhường từ chối, bởi nghĩ đức mình chưa vẹn. Mồng một tháng Giêng, Thuấn nối ngôi tại miếu Văn Tổ. Văn Tổ, chính là thủy tổ của Đế Nghiêu vậy.

Bấy giờ, Đế Nghiêu đã già, lệnh cho Thuấn thay mình xử trí chính sự của thiên tử để xem mệnh trời. Thuấn bèn dùng máy Toàn Cơ, Ngọc Hành5 để điều hòa sự vận hành của Thất chính6. Thứ đến dùng lễ tế Loại để tế thượng đế, lễ tế Nhân để tế Lục tông7, lễ tế Vọng để tế núi sông và tế tự khắp cả bách thần. Ngài thu về năm loại ngọc, chọn ngày lành tháng tốt, hội kiến bốn vị Tứ nhạc cùng các châu lục, rồi lại ban ngọc cho mọi người8. Tháng Hai cùng năm, ngài đi tuần thú phương Đông, đến núi Đại Tông, làm lễ tế Sài để tế thượng đế, sau đó lần lượt tế vọng các thần sông núi. Ngài tiếp kiến các quân trưởng phương Đông, định lại bốn mùa, tháng, ngày cho phù hợp, thống nhất âm luật, đo lường, sửa sang năm loại lễ9, năm loại ngọc, ba loại lụa10, hai vật sống, một vật chết11 để làm lễ vật gặp mặt. Như năm loại ngọc, sau khi tế lễ hoàn tất thì trả lại cho chư hầu. Tháng Năm ngài tuần thú phương Nam, tháng Tám tuần thú phương Tây, tháng Mười một tuần thú phương Bắc, đều như lần tuân thủ đầu tiên. Khi trở về, ngài tới Tổ miếu và Nễ miếu12, giết trâu đực tế lễ. Năm năm một lần tuần thú, các vua chư hầu lần lượt vào chầu trong bốn năm. Ngài nghe họ tâu bày việc trị lý, xét rõ chính tích của từng người, rồi tùy theo công trạng mà bạn thưởng cho xe cộ, áo mão. Ngài bắt đầu chia nước làm mười hai châu, khơi thông sông ngòi. Công bố những hình phạt mà pháp luật đã định. Người bị tội ngũ hình, có khi được khoan giảm thành xử lưu đày13. Dùng roi xử các quan, dùng thước phạt học trò, cho dùng vàng để chuộc tội. Vô tình phạm tội thì tha, gian ác đến cùng thì phải trừng trị. Cẩn thận thay! Cẩn thận thay! Riêng việc dùng hình phải thận trọng thay!

Hoan Đâu tiến cử động công, vua Nghiêu bảo không được, song lại cho thử làm Công sư, Cộng công quả nhiên tàn ác. Tứ nhạc tiến cử Cổn trị lũ lụt, vua Nghiêu cho rằng không được, Tứ nhạc vẫn gắng xin cho thử, nhưng khi làm thử lại không có công tích gì, còn khiến dân thêm bất tiện. Tam Miêu nhiều lần nhiễu loạn ở Giang Hoài, Kinh Châu. Thế rồi, Thuấn trở về tâu lên vua Nghiêu, xin đày Cộng Công tới U Lăng, để biến đổi bọn người Bắc Địch; đày Hoan Đâu tới Sùng Sơn để biến đổi bọn người Nam Man; dời Tam Miêu tới Tam Nguy để biến đổi bọn người Tây Nhung; đày Cổn tới Vũ Sơn để biến đổi bọn người Đông Di. Xử bốn tội như vậy, thiên hạ đều cảm phục.

Vua Nghiêu ở ngôi bảy mươi năm thì có được Thuấn, hai mươi năm sau nữa thì cáo lão, lệnh cho Thuấn nhiếp chính thay

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/7c/%E5%B8%9D%E8%88%9C.png

Đế Thuấn (Tam Tài đồ hội).

thiên tử, tiến cử Thuấn với trời. Vua Nghiêu rời ngôi hai mươi tám năm thì băng. Trăm họ đau buồn như mất cha mẹ. Trong ba năm, bốn phương không nơi nào tấu nhạc, để tưởng nhớ vua Nghiêu. Vua Nghiêu biết con mình là Đan Chu kém cỏi, không xứng trao cho thiên hạ, bèn trao quyền cho Thuấn. Trao cho Thuấn thì lợi cho thiên hạ nhưng khổ cho Đan Chu; trao cho Đan Chu thì khổ cho thiên hạ mà riêng Đan Chu được lợi. Vua Nghiêu nói: “Suy cho cùng không thể bắt cả thiên hạ khổ để làm lợi cho một người được” Vua Nghiêu, trao thiên hạ cho Thuấn rồi mất. Vua Nghiêu băng, sau khi hết tang ba năm, Thuấn nhường ngôi cho Đan Chu mà lánh về phía nam vùng Nam Hà. Chư hầu triều kiến không tới chầu Đan Chu mà lại tới chầu Thuấn. Những kẻ kiện tụng, không tới tìm Đan Chu mà lại tới tìm Thuấn. Những kẻ ca hát, không ca tụng Đan Chu mà lại ca tụng Thuấn. Thuấn nói rằng: “Đó là ý trời vậy” Sau đó vào kinh đô, lên ngôi thiên tử. Đây chính là Để Thuấn.

Ngu Thuấn, tên là Trung Hoa. Bố của Trung Hoa là Cổ Tẩu, bố của Cổ Tẩu là Kiều Ngưu, bố của Kiều Ngưu là Câu Vọng, bố của Câu Vọng là Kinh Khang, bố của Kính Khang là Cùng Thiền, bố của Cùng Thiền là Đế Chuyên Húc, bố của Chuyên Húc là Xương Ý, đến Thuấn là được bảy đời. Từ Cùng Thiền tới Đế Thuấn đều là dân mọn.

Bố Thuấn là Cổ Tẩu bị mù, mẹ Thuấn mất, Cổ Tẩu lấy vợ khác sinh ra Tượng. Tượng xấc xược. Cổ Tẩu yêu chiều con vợ hai, thường muốn giết Thuấn, Thuấn phải né tránh, khi có lỗi nhỏ thì cam tâm chịu phạt. Thuấn hiếu thuận mà thờ cha, mẹ kế và em trai, hằng ngày cung kính cẩn trọng, không dám lơi là.

Thuấn là người Ký châu, cày ruộng ở Lịch Sơn, bắt cá ở Lôi Trạch, làm gốm ven Hoàng Hà, làm đồ đạc ở Thọ Khưu, buôn bán ở Phụ Hạ. Bố Thuấn là Cổ Tẩu ngang ngạnh, mẹ kế điêu ngoa, em trai xấc xược, đều muốn giết Thuấn. Thuấn vẫn hiếu thuận, không mất đạo con, hiền với huynh đệ. Cả nhà muốn giết nhưng không được, lúc nào cần tìm đến Thuấn thì Thuấn đều ở bên. Năm Thuấn hai mươi tuổi đã nổi tiếng hiếu thảo, năm ba mươi tuổi, Đế Nghiêu hỏi xem có ai có thể dùng được thì bốn vị Tứ nhạc cùng tiến cử Ngu Thuấn, nói rằng Thuấn dùng được. Thế rồi vua Nghiêu bèn đem hai con gái gả cho Thuấn để xem cách Thuấn tề gia, lại sai chín con trai qua lại với Thuấn để xem cách Thuấn xử thế. Thuấn sống ở ven sông Vị, cử chỉ trong nhà lại càng nghiêm cẩn khiến hai cô con gái của vua Nghiêu không dám lấy sự cao quý, kiêu mạn đối đãi với người thân của Thuấn, mà lại rất giữ đạo làm vợ. Chín người con trai của vua Nghiêu cũng đều ngày một thuần hậu, kính cẩn. Thuấn cày ở Lịch Sơn thì người Lịch Sơn đều nhường bờ ruộng; bắt cá ở Lôi Trạch thì người Lôi Trạch đều nhường chỗ ở; làm gốm ven Hoàng Hà thì đồ gốm ven Hoàng Hà đều không còn thứ thô xấu. Sau một năm thì nơi Thuấn ở thành thôn xóm, sau hai năm thành thành ấp, sau ba năm thành đô thị. Vua Nghiêu bèn ban cho Thuấn áo bằng vải sắn mịn cùng đàn cầm, xây cho kho đụn, tặng cho trâu dê. Cổ Tẩu vẫn muốn giết Thuấn, sai Thuấn lên trát kho, Cổ Tẩu ở dưới phỏng hỏa đốt kho, Thuấn lấy hai chiếc nón che mình mà xuống, rồi bỏ chạy, thoát được chết. Sau đó, Cổ Tẩu lại sai Thuấn đào giếng. Thuấn đào giếng rồi đào riêng một đường hầm ở mé bên để chui ra. Khi Thuấn ở sâu dưới giếng, Cổ Tẩu và Tượng cùng đổ đất lấp giếng, Thuấn liền chui vào đường hầm chạy thoát. Cổ Tẩu và Tượng đều mừng, tưởng Thuấn đã chết. Tượng nói: “Mưu này của Tượng”. Tượng chia chác với bố mẹ, nói: “Vợ Thuấn, hai con gái vua Nghiêu, với đàn thì Tượng lấy. Trâu dê, kho đụn thì cho bố mẹ.” Tượng bèn tới nhà Thuấn, vỗ đàn. Thuấn quay về. Tượng ngạc nhiên, không vui nhưng nói: “Ta đang nhớ Thuấn da diết lắm!” Thuấn nói: “Ngươi như vậy mới là phận em!” Thuấn lại thờ Cổ Tẩu, yêu em trai, càng thêm kính cẩn. Thế rồi vua Nghiêu mới thử để Thuấn điều hòa năm mối, khảo sát trăm quan, Thuấn đều làm được.

Xưa họ Cao Dương có tâm tài tử, người đời được lợi, gọi là “Bát Khải”. Họ Cao Tân có tám tài tử, người đời gọi là “Bát Nguyên”. Mười sáu họ này, đời đời thành tựu đức tốt, không làm mất đi danh tiếng. Vào thời vua Nghiêu, vua Nghiêu chưa thể cất nhắc, nay Thuấn cất nhắc Bát Khải, sai làm chủ việc đất đai, cai quản trăm việc, việc nào cũng ngăn nắp trật tự; cất nhắc Bát Nguyên, sai truyền bá năm điều giáo hóa ra bốn phương: cha nhân nghĩa, mẹ hiền từ, anh thân thiện, em cung kính, con hiểu thảo, trong yên bình, ngoài vô sự.

Xưa họ Đế Hồng có con bất tài, ruồng bỏ đạo nghĩa, nham hiểm hung tà, ưa làm việc ác, thiên hạ gọi là Hỗn Độn. Họ Thiếu Hạo có con bất tài, ghét bỏ trung tín, chuộng lời ác độc, thiên hạ gọi là Cùng Kỳ. Họ Chuyên Húc có con bất tài, không thể dạy dỗ, chẳng biết nói năng, thiên hạ gọi là Đào Ngột. Ba tộc này khiến người đời lo lắng. Vào thời vua Nghiêu, nhà vua chưa thể đuổi đi. Họ Tấn Vân có con bất tài, ham ăn uống, mê của nả, thiên hạ gọi là Thao Thiết. Thiên hạ đều ghét họ, ví với Tam hung. Thuần đảm nhiệm việc tiếp đón tân khách ở bốn cửa, bèn lưu đày bốn tộc hung hãn này tới bốn miền xa xôi để chế ngự những tộc người tàn ác. Thế là bốn cửa rộng mở, không còn kẻ dữ.

Thuấn vào rừng sâu, gió mưa dữ dội mà không lạc đường, vua Nghiêu thời biết Thuấn là người xứng đáng trao cho thiên hạ. Vua Nghiêu cáo lão, sai Thuấn làm thay chính sự của thiên tử, đi tuần thú. Thuấn được cất nhắc làm việc trong hai mươi năm, vua Nghiêu sai nhiếp chính, nhiếp chính tám năm thì vua Nghiêu mất. Hết tang ba năm, Thuấn nhường ngôi cho Đan Chu, nhưng thiên hạ lại theo về Thuấn. Vũ, Cao Dao, Tiết, Hậu Tắc, Bá Di, Quỳ, Long Thủy, Ích, Bành Tổ từ thời vua Nghiêu đều đã được cắt cử, nhưng chưa phân rõ chức phận. Thế rồi Thuấn bèn tới miếu Văn Tổ, bàn với Tứ nhạc, mở rộng bốn cửa, thông suốt tai mắt bốn phương, lệnh cho mười hai châu mục luận bàn đức của vua Nghiêu, rồi thi hành ơn đức, xa kẻ xiểm nịnh, man di đều thần phục. Thuấn nói với Tứ nhạc: “Có ai gắng gỏi làm việc, khiến đức nghiệp của vua Nghiêu được rạng rỡ thì cho giữ việc quan tướng?” Tứ nhạc đều đáp: “Bá Vũ làm Tư không, có thể làm rạng rỡ công tích của vua” Thuấn nói: “Ồ, đúng! Vũ, người đẹp yên nước lũ, thật gắng gỏi thay!” Vũ chắp tay dập đầu, nhường Tắc, Tiết và Cao Dao. Thuấn nói: “Vậy là đúng rồi, ngươi làm đi!” Thuấn nói: “Khí này, lê dân bắt đầu đói kém, ngươi làm quan Hậu tắc, gieo trồng bách cốc đi?” Thuấn nói: “Tiết này, trăm họ không thân, năm phẩm14 không thuận, người làm quan Từ đồ, kính cẩn thực thi năm điều giáo hóa, phải nên khoan hậu?” Thuấn nói: “Cao Dao này, Man Di quấy rối Hoa Hạ, cướp bóc tàn sát, ngươi làm chức Sĩ15, dùng năm hình phạt theo năm cấp độ, thi hành ở ba chỗ16, dùng năm cách lưu đày theo năm cấp độ, thi hành ở ba nơi17. Xét xử rõ tội, mọi người tín nhiệm.” Thuấn nói: “Ai có thể đảm đương được việc Công (các nghề thủ công) cho ta?” Mọi người đều đáp Thùy có thể làm. Thế rồi Thuấn cho Thủy làm chức Cộng Công. Thuấn nói: “Ai có thể cai quản rừng núi đầm sông, cỏ cây muông thú cho ta?” Mọi người đều đáp ích có thể làm. Thế rồi Thuấn cho Ích làm chức Trẫm ngu. Ích chắp tay dập đầu, nhường các bề tôi là Chu Hổ, Hùng Bi. Thuấn nói: “Làm đi! Ngươi là hợp rồi?” Đoạn liền cho Chu Hổ, Hùng Bi phò tá Ích. Thuấn nói: “Hỡi Tứ nhạc! Có ai có thể chủ trì ba lễ cho trẫm?” Mọi người đều đáp Bá Di có thể làm. Thuấn nói: “Này Bá Di, cho người làm chức Trật tông, sớm hôm kính cẩn, thẳng thắn trong sạch đấy!” Bá Di nhường cho Quỳ và Long. Thuấn nói: “Được. Cho Quỳ coi về âm nhạc, dạy dỗ con em, phải ngay thẳng ôn hòa, khoan hậu nghiêm cẩn, cương trực mà không thô bạo, giản dị mà không kiêu căng. Thơ nói ý chí, hát kéo dài lời, thanh âm nương giọng, nhạc luật quận thanh, bát âm hài hòa, không cùng tranh lấn, thần người mới hòa hợp.” Quỳ nói: “Ôi! Tôi đánh đá gõ đá, trăm muông đều đến nhảy múa.” Thuấn nói: “Long, trẫm ghét bọn sàm tấu gian ngụy, kinh động mọi người, lệnh người làm chức Nạp ngôn, sớm hôm truyền lệnh của trẫm, phải thành thật đấy!” Thuấn nói: “Này! Hai mươi hai người các ngươi, phải kính lấy đấy, theo thiên thời mà hành sự?” Ba năm một lần xét công, qua ba lần xét để định thăng thưởng, phế truất, mọi việc xa gần đều hưng thịnh, đồng thời phân trị được rợ Tam Miêu ở phương Bắc.

Hai mươi hai người này đều có công trạng: Cao Dao làm Đại Lý (nằm việc Tư pháp), giữ phép công bình, dân đều phục tính chân thực. Bá Di giữ việc Lễ, trên dưới nhún nhường; Thùy làm Công sư, trăm nghề tấn tới; Ích làm Trẫm ngu, núi đầm mở rộng; Khí làm Hậu tắc, bách cốc tốt tươi; Tiết làm Tư đồ, trăm họ hòa thuận; Long giữ việc tiếp đón tân khách, người phương xa tới; mười hai châu mục hành sự khiến chín châu không ai dám gian manh phạm pháp; riêng công của Vũ lớn nhất, Vũ xẻ chín núi, thông chín đầm, khơi chín sông, đặt chín châu, chư hầu đều đến triều cống theo chức phận, không hề mất quy củ. Đất vuông năm nghìn dặm, trải đến các vùng hoang viễn. Phía nam vỗ về rợ Giao Chỉ, Bắc Phát. Phía tây vỗ về vợ Nhung, Tích Chi, Củ Sấu, Đê Khương. Phía bắc vỗ về rợ Sơn Nhung, Phát, Tức Thận. Phía đông vỗ về rợ Trường, Điểu Di. Khắp bốn bể đều đội công ơn của Đế Thuấn. Thế rồi, Vũ bèn cho tấu nhạc Cửu Thiều, với muôn vật lạ, phượng hoàng bay tới. Đức sáng trong thiên hạ đều bắt đầu từ Ngu Thuấn vậy.

Thuấn năm hai mươi tuổi nổi tiếng có hiếu, năm ba mươi tuổi được vua Nghiêu cất nhắc, năm năm mươi tuổi làm thay chính sự của thiên tử, năm năm tám tuổi vua Nghiêu băng, năm sáu mốt tuổi thay vua Nghiêu lên ngôi đế. Ở ngôi đế ba mươi chín năm, khi tuần thú phương Nam, ngài băng ở cánh đồng Thương Ngô, táng tại núi Cửu Nghi ở phía nam sông Trường Giang, nơi đó gọi là Linh Lăng. Thuấn lên ngôi vua, chở cờ thiên tử đến chầu bố là Cổ Tẩu, kính cẩn trang nghiêm theo đúng đạo con, phong em là Tượng làm chư hầu. Con trai Thuấn là Thương Quân cũng kém cỏi, Thuấn bèn tiến cử Vũ với trời. Mười bảy năm sau thì băng. Hết tang ba năm, Vũ cũng nhường ngôi cho con trai vua Thuấn như vua Thuấn nhường cho con trai vua Nghiêu. Chư hầu đều theo Vũ. Sau đó Vũ lên ngôi thiên tử. Con trai vua Nghiêu là Đan Chu, con trai vua Thuấn là Thương Quân đều có đất phong để phụng thờ tiên tổ, họ vẫn mặc trang phục và dùng lễ nhạc của tổ tiên truyền lại, dùng lễ của tân khách để triều kiến thiên tử. Thiên tử lại không coi họ là bề tôi, để tỏ ý không dám giữ riêng ngôi vị.

Từ Hoàng Đế tới Thuấn, Vũ đều cùng họ nhưng khác quốc hiệu, để làm rạng rỡ đức sáng. Vậy nên hiệu của Hoàng Đế là Hữu Hùng, hiệu của Đế Chuyên Húc là Cao Dương, hiệu của Đế Khốc là Cao Tân, hiệu của Đế Nghiêu là Đào Đường, hiệu của Đế Thuấn là Hữu Ngu. Hiệu của là Đế Vũ là Hạ Hậu nhưng khác thị tộc, họ Tự. Tiết là thủy tổ của nhà Thương, họ Tử. Khí là thủy tổ của nhà Chu, họ Cơ.

Thái sư công bàn rằng: Học giả phần đông xưng tán Ngũ đế, đã xa xưa lắm rồi, vậy mà Thượng Thư riêng chép từ thời Nghiêu trở lại. Còn như bách gia, tuy có nói đến Hoàng Đế, song lời văn không chuẩn xác. Sĩ phu khó có thể nói bàn. Khổng Tử truyền dạy Tể Dư Vấn Ngũ Đế Đức và Đế Hệ Tính, nay nhà Nho có khi không giảng tập. Tôi từng phía tây tới Không Đồng, phía bắc qua Trác Lộc, phía đông ra bể lớn, phía nam lướt Giang Hoài, đến đâu các trưởng lão cũng đều nói về di tích của Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, phong tục giáo hóa vốn rất khác biệt, nhưng tổng chi không sai khác với những điều chép trong cổ tịch. Tôi xem sách Xuân Thu, Quốc Ngữ, những chỗ xiển phát từ Ngũ Đế Đức và Đế Hệ Tính rất rõ ràng, chỉ vì chưa đi sâu khảo cứu, còn những gì biểu hiện ra đều không sai lạc. Sách chép thiếu khuyết từ lâu, những chỗ mất mát cũng thường thấy ở các sách khác. Phi người hiếu học nghĩ sâu, tứ bên trong, thời khó đem nói cho những kẻ kiến văn thiển cận được. Tôi gom ghi chép sắp xếp lại, lựa lời đích xác, viết thành Bản kỷ đưa vào đầu sách.

Phạm Văn Ánh (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.