Tờ hịch rằng : Ta nghe xưa vua Hán
Nhờ Kỷ Tín chết thay nên thoát nạn
Bước lâm nguy vội hứng mình đỡ thương
Ngươi Do Vu cứu thoát được Chiêu Vương
Nuốt than quyết báo thù cho chủ cũ
Dự Nhượng xưa chịu biết bao cơ khổ
Thấy nước nhà đang gặp bước hiểm nguy
Ngươi Thần Khoái vì nước chặt tay đi
Cứu Thái Tôn ra khỏi vòng nguy khốn
Ngươi Kính Đức liều chức quan nhỏ mọn
Kiều Khanh là một kẻ bề tôi xa
Dám Lộc-sơn sỉ mắng đứa gian tà
Ấy đời xưa trung thần và nghĩa sĩ
Đều vì nước bỏ mình không cần nghĩ.
Vì hết thảy đều chỉ sống khư khư
Thì danh lưu sao được đến nghìn thu ?
Thấy các ngươi vốn là con nhà võ
Chuyện cổ tích, thánh hiền không được rõ
Nghe ta nói chỉ nửa tin nửa ngờ
Âu là ta kể những chuyện bây giờ
Chuyện rất gần mà các ngươi biết đó
Ấy chuyện nhà Tống và nhà Nguyên nọ.
Vương công Kiên là một người ra sao ?
Lại tỳ tường Văn Lập người thế nào ?
Mà chống nổi quân Mông Kha trăm vạn
Giữ vững thành Điếu Ngư được thoát nạn
Khiến Tông triều và dân sự ơn sâu ?
Đường Ngột Đải là một người ra sao ?
Cùng Sích Tử là một kẻ tỳ tướng
Dám xông vào nơi xa xôi, lam chướng
Thắng nổi quân Nam Chiếu trong ba tuần
Khiến triều Nguyên tiếng dậy trong ba quân ?
Huống chi ta với các ngươi cùng sống
Trong buổi đời đầy gian nan, khổ thống
Mắt từng trông rầm rập bước trên đường
Đoàn ngụy sứ, trâng tráo vẻ khinh thường
Mắng triều đình uốn cong lưỡi diều cú
Thân dê chó mà nạt nộ tổ phụ
Cậy thế Hốt Tất Liệt để làm sằng
Ỷ quyền Vân Nam Vương vét bạc vàng.
Bạc vàng chứa trong kho thì có hạn
Mà lòng tham của chúng thì vô tận
Khác nào đoàn hổ đói đem thịt nuôi
Thật vô cùng mà tai vạ theo đuôi.
Ta đây ngày quên ăn, đêm quên ngủ
Ruột quặn đau, mắt đằm đìa lệ rỏ
Nghĩ căm thay chưa diệt được quân thù
Dù thân này ngoài nội cỏ phơi khô
Dù thân này phải gói trong da ngựa
Cũng đành lòng, không một lời than thở.
Các ngươi ở cùng ta trong bao lâu
Giữ binh quyền ta một dạ lo âu.
Người thiếu mặc, ta ban cho quần áo
Người thiếu ăn, ta ban cho thóc gạo
Ai chức nhỏ đều được ta cất lên
Ai ít lương đều được ta tăng thêm
Kẻ đi thủy ta cho thuyền để chở
Ta cấp ngựa cho những người đi bộ
Khi hoạn nạn sống thác cùng có nhau
Ngày nhàn hạ vui buồn, cùng tiêu giao
Cách cư xử của Đường vương ngày trước
So với ta cũng khó lòng hơn được.
Nay các ngươi thấy chủ nhục không lo
Trông quốc sỉ không biết thẹn, biết dơ
Thân làm tướng mà không hề căm tức
Nỡ cúi đầu đi theo hầu quân giặc
Cùng ngụy sứ hiến đàn sáo vui vầy
Không biết rằng sung sướng nỗi gì đây ?
Hoặc có kẻ say mê thú gà chọi
Thú chó săn để vào rừng săn đuổi
Hoặc có kẻ mải bài bạc thâu đêm
Hoặc vợ con lưu luyến thú êm đềm
Hoặc vì ham chút lợi riêng vườn ruộng
Đàn hát hay rượu ngon quen tìm hưởng
Việc binh nhung biếng nhác gần thành quên
Sức nhược suy trí não đâm hư hèn.
Nếu nay mai tặc binh dồn dập tới
Áo giáp kia cựa gà đâm sao nổi ?
Mưu địch quân đủ bách kế thiên phương
Mẹo cờ bạc biết lấy gì đảm đương ?
Lúc ấy dù ruộng nhiều, tiền như nước
Tấm thân kia cũng nghìn vàng khôn chuộc
Rồi lại thêm bìu ríu vợ con
Thì lòng nào còn nghĩ tới nước non ?
Đầu giặc hẳn không đem tiền đánh đổi
Chó săn hẳn không xua tan giặc nổi
Rượu ngon hẳn không làm giặc chết say
Tiếng hát hẳn không làm giặc điếc tai.
Bấy giờ thì chẳng riêng ta mất ấp
Bổng lộc của các ngươi cũng nguy ngập
Chẳng những gia quyến ta bị đuổi đi
Vợ con các ngươi cũng bị gian nguy
Chẳng những giờ một mình ta chịu nhục
Nhưng muôn năm danh ta còn vẩn đục
Mà các ngươi cũng ô cả gia thanh
Phỏng các ngươi nỡ để thế cho đành ?
Lấy tình thật ta đem lời khuyên nhủ
Mong các ngươi nên đề phòng gìn giữ
Nên đề phòng như củi lửa bén nhanh
Nên coi chừng như những kẻ húp canh.
Cùng quân sĩ đem cung tên rèn luyện
Cho người nào cũng oai hùng, tráng kiện
Như Bàng Mông và Hậu Nghệ khi xưa
Khi người nào cũng trí dũng có thừa
Thì tặc binh phải có phen tàn hại
Lập công danh để nghìn thu lưu mãi.
Rồi ấp của ta kia được vững bền
Bổng lộc của các ngươi được thêm lên
Gia quyến ta được cùng nhau đầy đủ
Các ngươi được cùng gia đình lạc thú
Tiền nhân ta được chín suối vẻ vang
Tổ phụ các ngươi được rạng khói nhang
Ta sẽ cùng các ngươi cùng chung hưởng
Sự an vui giầu sang và sung sướng
Danh lưu truyền sử sách muôn nghìn thu.
Nay ta soạn quyển yếu lược binh thư
Gồm đủ cả các danh gia chiến lược
Khuyên các ngươi nghiền ngầm kỹ cho thuộc
Nếu phải là kẻ vì nước vì nhà
Thì bao điều dạy bảo đừng bỏ qua
Ai bỏ qua là kẻ thù cả đó.
Là kẻ thù vì giặc nhà Nguyên nọ
Cùng với ta thề không đội trời chung
Mà các ngươi cứ lạnh nhạt dửng dưng
Không nghĩ đến việc trả thù quốc sỉ
Không chăm lo để luyện rèn quân sĩ
Thì khác nào quay giáo theo kẻ thù
Dơ tay không để chịu thua giặc ru ?
Trận Bình-lỗ ta bị thua ngày nọ
Để tiếng xấu phải lưu truyền muôn thủa
Nghĩ bao nhiêu ta càng thêm hổ ngươi
Mặt mũi nào mà đứng trên cõi đời ?
Ngày nay ta soạn ra bài hịch nọ
Là để các ngươi rõ lòng ta đó.
*
Hịch ban ra quân sĩ đều thuộc lòng
Đều nấu nung một ý nguyện diệt Mông.
Bỏ thói hư, lánh xa hoa phù phiếm
Ngày lại đêm chuyên luyện nghề cung kiếm
Gương anh hùng cứu quốc như rọi soi
Trong lòng người chiến sĩ hận đầy trời.
*
Mấy ngày liền từ Bàng-hà, Na-ngạn
Từ Vân-trà, An-sinh, từ Long-nhàn
Từng đoàn dài… hơn hai mươi vạn quân
Dậm trường khuya rầm rập những tiếng chân
Về Vạn-kiếp trùng trùng và điệp điệp
Từ Lục-đầu trại kề nhau liên tiếp.
Dậm trường khuya hơn hai mươi vạn quân
Đều một lòng diệt tặc báo quân ân
Trên cánh tay mối hờn căm bao quát
Nổi hằn lên hai chữ trảm « Sát đát »
Buổi tiễn đưa đoàn cảm tử lên đường
Các bô lão nặng một lòng quân vương
Trỏ gậy nguyền : « Ví trời kia không tựa
« Giang sơn tan, thù quân vương không rửa
« Thì thân già sống nữa mà làm chi ?
« Muôn ngàn năm, trời hỡi ! hận mang đi ! »
Lời ông cha như nấu nung lửa giận
Tình phu thê thêm nặng lời căn dặn :
« Vì phen này không diệt được quân kia
« Thì từ đây chồng vợ hẳn phân chia
« Vì thua thì phu quân bị giặc giết
« Vợ phu quân khó chu toàn danh tiết
« Đành chết thôi ! Nhục nhã đành chết thôi ! »
Như xé gan tráng sĩ buổi chia phôi !
*
Vương luyện quân cho quen dần thế trận
Để chờ phen quyết trả thù rửa hận
Nhưng dở dang, quân đang luyện dở dang
Vương được tin trên triền sông mênh mang
Hai nghìn thuyền đang thi nhau đè sóng.
Đoàn thủy quân cố nhoai người chèo chống
Thuyền nhô lên, đè sóng, thuyền nhô lên
Trên mui thuyền phơi phới lá cờ Nguyên.
Lá cờ Nguyên từ Chi-lăng phơi phới
Trống lừng sông, tiếng hò reo sôi nổi
Loa truyền thanh chốc chốc lại oang oang
Điệu từ òa rền rĩ ngân nổi nang.
Thôi thúc quân, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp
Hô thủy quân bơi mau, nhằm Vạn-kiếp.
Thuyền nhô lên, đè sóng, thuyền nhô lên
Giữa trung quân phơi phới lá cờ Nguyên
Thoát Hoan ngồi đăm đăm chờ khởi chiến.
Đứng bao vây sẵn sàng chờ sai khiến
Nào Trương Ngọc, nào Lý Quán, Lý Hằng
Nào A Bát Sích… đoàn kiện tướng kiêu căng
Khát máu người, mặt đục lầm sát khí
Gươm sáng lòa mong chém đâm phỉ phí.
Thuyền nhô lên, đè sóng, thuyền nhô lên
Dồn thủy trại được non nghìn chiến thuyền
Hưng Đạo Vương bèn hội đồng chư tướng
Sai Nguyễn Khoái, Yết Kiêu và Dã Tượng
Lĩnh binh thuyền làm hữu đội thủy quân
Làm tả đội Vương sai Lê Phụ Trần
Nguyễn Địa Lô và tướng quân Ngũ Lão.
Hai cánh quân, dứt lời Vương khuyên bảo
Dạ vang sông, chèo cuộn sóng tơi bời
Thuyền văng mình, cờ xí bay rợp trời.
Khởi đại binh theo sau để tiếp dẫn
Vạn kiếp xa mười dậm sông dàn trận
Hưng Đạo Vương cùng Cao Mang, Đại Hành
Trần Quốc Toản, tiểu tướng lừng oai danh
Và bốn con đều anh hùng xuất chúng
Chờ quân Mông đằng xa xăm chèo chống
Thuyền nhô lên, đè sóng, thuyền nhô lên.
*
Theo trống trận vang ầm quân đôi bên
Nhằm sang nhau muôn ngàn tên tới tấp
Như mưa bay trên mộc khiên dồn dập.
Múa đao thương loang loáng để che thân
Các chiến tướng thét vang đoàn thủy quân
Bơi dần lên cho thuyền mau giáp lại.
Thuyền cách nhau độ chừng vài ba sãi
Rừng gươm đao đã chan chát va nhau
Trên mặt sông đã dềnh máu đỏ ngầu
Của đầu rụng, của người rơi theo xuống.
Tàn sát nhau hầu vơi dần quân tướng
Nhưng đôi bên thắng bại vẫn chưa phân
Vẫn tơi bời chém, giết, vẫn xả thân…
Quân Thoát Hoan mặt sau hò sôi nổi
Tiến dần lên thay cho quân tiên đội
Như nước triều mỗi lúc một dâng cao
Quân tướng Mông mỗi lúc một dồn vào
Một nhiều thêm, khởi thế công tràn lấn.
Hết viện binh để vãn hồi thế trận
Thêm Việt quân mỗi lúc một thưa dần
Hưng Đạo Vương, núng thế, đành thu quân
Bỏ bớt thuyền ngổn ngang để ngăn lối
Mé hạ lưu Vương rút dần quân đội.
Quân tướng Mông theo đuổi giết kỳ cùng…
*
Một quang cảnh tàn sát thật não nùng
Đã xảy ra là những quân bị bắt
Trên cánh tay có chữ trảm « Sát Đát »
Khiến quân Mông máu giận sùng sục sôi
Chém rồi băm kỳ nát biến không thôi !
Chưa đã hờn, quân Mông đi tàn phá
Giết nhân gian trẻ già nằm như rạ :
Vùng Vô-ninh, Đông-ngàn và Gia-lâm
Vắng bóng người, trời hàng tháng âm thầm.
*
Phú lương giang Hưng Đạo Vương dừng lại
Đang tụ binh, vừa lập xong dinh trại
Quân Thoát Hoan đã tràn tới bên sông
Nhắm trại dinh dóng đá súng thần công.
Ngay giữa khi súng thần công dóng đá
Thoát Hoan truyền đem cầu phao ra thả
Cầu lần lần qua mặt sông mênh mang
Quân reo hò vung mã tấu tràn sang.
Định tràn sang… Nhưng ngang sông dừng bước
Rồi đùn nhau ngã lăn nhào xuống nước
Vì tên bay… hàng ngàn vạn tên bay
Nhằm quân Mông cắm tới tấp lên thây.
Bị Việt quân trên bờ sông rình bắn
Quân tướng Mông dùng ván dầy để chặn
Rồi nấp sau từng đoàn một dấn lên
Bị ván dầy ngăn mất cả đường tên
Việt quân đành buông cung dùng gươm giáo
Dùng đại đao giết quân Mông điên đảo
Nhưng quân Mông liều chết nối đuôi nhau
Lăn xả vào, thân nhuộm máu đỏ ngầu
Mã tấu vung chém Việt quân tới tấp
Dưới cầu phao quân xô sang tràn ngập.
Trước thế nguy vì doanh trại tan tành
Súng thần công gióng giả bắn liên thanh
Trên sông quân tướng Mông hàng ngàn vạn
Đánh tràn sang giết Việt quân tan giãn
Hưng Đạo Vương bèn truyền lệnh thu quân
Thành Thăng Long từng đoàn một vào dần
Bỏ trại dinh cho giặc thiêu đỏ rực.
Nhưng lửa tàn, Thoát Hoan đã thôi thúc
Quân đuổi theo đến sát tận chân thành
Nhằm cổng thành thần công bắn liên thanh.
Hưng Đạo Vương biết không sao chống lại
Thành Thăng Long rồi cũng như dinh trại
Như Chi-lăng tan nát bởi thần công
Nên tâu vua tạm lánh vào miền trong
Vào Thanh Hóa chờ thời cơ, khởi sự.
Giữa khi súng thần công đang bắn dữ
Quân tướng Mông đang xung đột tung hoành
Hưng Đạo Vương truyền mở toang cửa thành
Do phía Nam gấp đường đi hộ giá.
*
Ở lại đương với quân Mông tàn phá
Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng đốc quân
Trên mặt thành quyết liều mạng thí thân
Nhằm quân Mông vạt đầu, đâm lia lịa.
Chém và đâm muôn vàn không thấm thía
Vì quân Mông chi chít dưới chân thành
Xô đẩy nhau, coi chết thật mong manh
Quyết trèo lên phất cờ, hô đồng đội.
Đôi bên đang giết nhau, máu lụt lội
Tiếng reo hò đang sôi nổi Tây Đông
Bỗng vang ầm một tiếng súng thần công
Trúng Bắc Môn vỡ tan ra từng mảnh.
Quân tướng Mông như nước triều chảy mạnh
Vào Long thành từng lớp lớp xôn xao.
Trần Bình Trọng đứng trên địch lâu cao
Vội truyền loa cho ba phía cửa thành
Dồn cả lại Nam môn cho thật nhanh
Đánh tràn ra phá vòng vây xung đột.
Đoàn hộ giá thâu ngày đêm mải mốt
Khi xuống thuyền, lúc lên bộ gập ghềnh
Buổi loạn ly, hồn cố quốc mông mênh
Đoái Thăng Long chứa chan niềm hoài cảm.
Nhìn núi sông như nhuộm mầu ảm đạm
Vua Nhân Tôn lệ dài ngắn, thở than :
« Có ngờ đâu đến thành mất, quân tan
« Mấy ngày liền vua tôi chạy điên đảo
« Chạy đi đâu cho thoát quân tàn bạo ?
« Tình thế này đến nước mất dần thôi ! »
Hưng Đạo Vương nghe qua dạ bồi hồi
Vội quỳ tâu : « Thần muôn tâu Bệ Hạ
« Nước Việt nhà như thuyền trong bể cá
« Vững tay chèo chờ đợi tan phong ba
« Sẽ tới bờ yên ổn, hãi hùng qua
« Quân giặc kia như mây đen dầy đặc
« Theo cuồng phong đùn đùn từ phương Bắc
« Mây đen kia đang nghìn dậm tràn lan
« Nhưng thình lình gió đảo là nát tan ».
Tới Thiên Trường vua tôi dừng nghe ngóng
Được vài hôm tướng quân Trần Bình Trọng
Dẫn bại quân đến tâu việc mất thành
Dân Thăng Long bị quân giặc hoành hành
Mất Thăng Long vua tôi đang lo liệu
Giữ Thiên Trường, nơi dùng quân trọng yếu
Bỗng tin đồn, liên tiếp có tin đồn
Khiến vua tôi lo nghĩ, dạ bồn chồn
Là Thoát Hoan sai đoàn quân thủy chiến
Do Toa Đô qua Nam-hải thẳng tiến
Tới Chiêm thành định đánh úp thình-lình
Nhưng Chiêm binh đã sớm rõ tình hình
Vội đề phòng ngay các nơi hiểm đạo
Tướng Toa Đô mấy lần liền xông xáo
Không ăn thua bèn hạ lệnh quay binh
Sang Việt-Nam, tạm rời bỏ Chiêm thành
Đánh vật lên giúp Thoát Hoan tràn xuống
Hưng Đạo Vương trông thấy ngay hiểm tượng
Là Bắc Nam giặc hai ngả đánh dồn :
« Nước Việt-Nam biết giữ sao vẹn tròn ? »
Vương truyền cho thượng tướng quân Quang Khải
Vào Nghệ-an chẹn đường, giữ quan ải
Ngăn Toa Đô cho mất lối đem quân
Giữ Thiên Trường chống với quân Thoát Hoan
Từ Thăng Long đang vung cờ dóng trống
Vương trao cho tướng quân Trần Bình Trọng.
*
Chiếc long thuyền để sóng gió bồng bềnh
Trăng buồn theo dòng nước cuốn lênh đênh…
Lênh đênh trôi… trăng xa xôi… rầu rĩ…
Sóng lô xô bên long thuyền rên rĩ…
Tình cảnh này chua xót, ôi ! giang san !
Vua Nhân Tôn đang ngao ngán thở than
Bỗng xa xa thuyền Lý Hằng, Khoan Triệt
Đang dò theo, đoàn thủy quân bơi riết.
Trước nguy cơ, đành rời bỏ long thuyền
Rẽ lên bờ vua tôi chạy đảo điên
Từ Tam-chí về đến làng Thủy-chú. [6]
Chạy bộ lâu, vua tôi đều mệt lử
Đành tìm thuyền để sóng vỗ mênh mang…
Từ Nam-triệu ra cửa bể Đại-bàng [7]
Thoát hiểm nguy, giương buồm vào Thanh-hóa.
Giữa khi Hưng Đạo Vương đang hộ giá
Vượt trùng dương muôn lớp sóng nghiêng trời
Thì Thiên Trường quân sỹ đang tơi bời
Đánh ngăn đường quân Lý Hằng, Khoan Triệt
Theo long thuyền, mong tìm Vua để giết.
Nhưng thuyền không, bị mắc lừa, căm gan
Quay binh về, qua địa phận Đông an
Đoàn quân Mông gặp Việt quân cản lối [8]
Quân Lý, Khoan khởi thế công dữ dội
Dồn Việt quân lui mãi tới Thiên Trường.
Quân sỹ tan còn độc mã độc thương
Giữa vòng vây tướng quân Trần Bình Trọng
Đuối sức dần bị quân Mông bắt sống.
*
Thấy Bình Trọng người khí dũng hiên ngang
Thoát Hoan cố khuyên dỗ để về hàng
Nhưng họ Trần khăng khăng không chịu khuất
Thoát Hoan mời rượu, cơm thật tươm tất
Nhưng họ Trần nhịn đói không chịu ăn
Thoát Hoan đem danh vọng hỏi ân cần :
- « Hay tướng quân muốn làm Vương đất Bắc ? »
Nghe dứt lời, họ Trần trừng mắt, quát :
- « Ta phải đâu phường danh lợi tham lam ?
« Thà chết ngay, thà làm quỷ nước Nam
« Còn hơn là sống làm Vương đất Bắc ! »
Rồi sỉ nhục luôn mồm đến kỳ thác
Lúc hành hình, trời đất bỗng u âm
Xót anh hùng, giang sơn như khóc thầm.
*
Vùng Nghệ-an tướng quân Trần Quang Khải
Cùng Toa Đô, Ô Mã Nhi, Ngột Đái
Cầm cự nhau khi được lại khi thua.
Lui dần vào đường hẻm để ngăn ngừa
Để phục binh, để quăng tràn gỗ đá
Trần tướng quân binh thưa nhưng gan dạ
Khiến Toa Đô đánh mãi, tổn bao quân
Thêm binh lương cứ ngày một hao dần.
Nghĩ đánh hoài cũng không sao qua nổi
Thành Thăng Long Thoát Hoan lại mong mỏi
Tướng Toa Đô càng nghĩ càng sôi gan
Bèn rút quân rời bỏ vùng Nghệ an
Truyền thủy quân chèo qua bể Nam Hải.
Rõ tình hình tướng quân Trần Quang Khải
Vội sai quân phi báo Hưng Đạo Vương.
Hưng Đạo Vương bèn tính toán đường trường
Từ Nghệ-an đi vòng qua đường bể
Quân Toa Đô phải gian lao vô kể
Dùng phục binh ta ngăn đánh bất thần
Thì quân kia mười mươi chắc đại bại
Nhưng còn lo Toa Đô, Đường Ngột Đái
Ô Mã Nhi, ba kiện tướng lừng danh
Biết cử ai ngang sức để phân tranh ?
Dứt lời, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật
Xin cử người lừng danh về vũ thuật
Tên Triệu Trung, danh tướng của Tống Triều
Vì nước mất nên thân phải giạt siêu
Cùng Nguyên triều, trong bao năm ôm hận
Đang lăm le được ra nơi chiến trận
Người ấy sức thừa địch được Toa Đô
Người ngang tài, ngang sức với Đường, Ô
Xin cử Hoài Văn Hầu và Nguyễn Khoái.
*
Quân Toa Đô bơi men bể Nam Hải
Sức mệt nhoài bao sóng gió xông pha
Lọt vào sông, mừng rỡ, bơi dần dà
Hàm tử quan thình lình vang chiêng trống.
Thuyền xô ra đi đầu một tướng Tống
Và bao nhiêu quân Tống, lưng đeo cung
Đều hầm hè khí thế thật oai hùng
Quân Toa Đô tướng Tống triều phục quốc
Diệt Nguyên binh, sang Việt Nam xâm lược
Lòng kinh nghi, bao nhuệ khí nhụt đi
Nhưng Toa Đô, Ngột Đái, Ô Mã Nhi
Thúc chiến thuyền vây Triệu Trung vào giữa
Không hãi hùng Triệu Trung vung kích múa
Cùng ba người chống đánh thật tưng bừng
Nhưng tướng Mông, ba danh tiếng lẫy lừng
Dù Triệu Trung có siêu quần vũ nghệ
Một chọi ba cũng dần dần núng thế.
Đang lúc nguy, Nguyễn Khoái thuyền như bay
Múa đại đao xông vào đánh giải vây
Bỏ Triệu Trung, Ô Mã Nhi ra đánh
Cùng Nguyễn Khoái phô phang tài dũng mãnh.
Bỗng quân Mông tránh giãn ra hai bên
Một chiếc thuyền đi vùn vụt như tên
Thét vang trời, Hoài Văn Hầu Quốc Toản
Vung trường thương đâm quân Mông tán loạn
Nhằm Toa Đô, Đường Ngột Đái xông vào
Rẽ Toa Đo, dồn Ngột Đái gắt gao
Hoài Văn Hầu anh hùng xưa hiếm có
Nghe trong ngoài toàn Việt quân la ó
Biết quân mình đang lâm bước hiểm nguy
Toa Đô, Đường Ngột Đái, Ô Mã Nhi
Liền tháo lui mở đường cho quân chạy
Đuổi theo sau, Việt quân hò vang dậy
Vừa dứt xong toán quân đuổi theo sau
Lại tiếp ngay một toán khác đón đầu :
Toán quân Chiêu Văn Vương đi đoạn hậu
Thúc ngựa lên, Toa Đô liều tranh đấu
Cùng Mã Nhi, Đường Ngột Đái cướp đường
Tới Thiên Trường với đoàn quân bị thương.
*
Được tin quân Toa Đô vừa thất trận
Hưng Đạo Vương liền tính bề đánh giần
Giần trận này để lấy lại Thăng Long
Đuổi Thoát Hoan dồn Toa Đô vào tròng
Nếu dềnh dang quân kia kịp liên kết
Hai mặt dồn thì Việt quân tất chết
Thảo tướng lệnh, Vương truyền Chiên Văn Vương
Và Nguyễn Khoái vây kín mặt Thiên Trường
Cùng Thoát Hoan đương đầu, tranh thắng bại
Vương truyền cho thượng tướng quân Quang Khải
Vừa được tin thủy trại đang bị vây
Tướng Phàn Tiếp vội cất quân đi ngay
Nhưng nửa đường… Mới nửa đường đã gặp
Quân A Thích bị thua chạy tới tấp.
Toan hợp binh đánh vật lại trả thù
Nhưng vẳng nghe trên sông xa mịt mù
Tiếng hò reo rồi bóng thuyền hiển hiện
Toàn chiến thuyền theo nhau lừ lừ tiến.
Thuyền tiến lên do Quốc Toản dẫn đầu
Lúc Phàn Tiếp đi qua, nấp bụi lau
Chờ qua rồi mới phất cờ theo dõi
Chặn quân Mông mất phăng đường lui tới.
Đang đợi tin thấy hai tướng chạy về
Đuổi theo sau toán Việt quân hầm hè
Thoát Hoan nhìn, bừng bừng cơn lửa giận
Truyền mở thành, kéo đại binh ra trận
Xô Việt quân điên đảo chạy cướp đường
Đuổi miết theo gần đến bến Chương-dương
Bỗng Việt quân nhất tề quay phắt lại
Lăn xả vào chém quân Mông kinh hãi
Rồi phục binh tả hữu đánh dồn vào
Quân tướng Mông rối loạn, chạy xôn xao.
Thoát vòng vây, Thoát Hoan và tướng tá
Và đoàn quân theo sau, mệt rời rã
Chạy miệt mài tới Thăng Long, dừng chân
Ngửng đầu trông : toàn cờ hiệu nhà Trần !
Trên thành cao : tướng quân Phạm Ngũ Lão
Mắt tròn xoe, tay lăm lăm ngọn giáo :
- « Hỡi, Thoát Hoan ! Ngươi trúng kế họ Trần
« Kéo binh ra để ra vào thế chân
« Nay thành trì đã lọt tay chủ cũ
« Ngươi không đi, còn đứng chờ chi đó ? »
Nói dứt lời truyền lệnh bắn tên ra
Tên rào rào một loạt như mưa sa
Xem tình hình thành kia khôn vào nổi
Thêm sau lưng Việt quân reo inh ỏi
Thoát Hoan đành kéo quân chạy gấp đường
Thả cầu phao, vượt qua sông Phú-lương.
*
Được tin quân Thoát Hoan vừa đại bại
Thành Thăng Long đã giành ngay được lại
Vua Nhân Tôn cùng văn võ bách quan
Và quân sĩ đều lộ vẻ hân hoan
Đều nức lòng muốn ra ngay đất Bắc
Đánh tràn đi để xua tan quân giặc
Hưng Đạo Vương bèn nhất định cất quân
Ra Bắc hà để yên lòng nhân dân
Và lập mưu phá tan các thủy trại
Của Phàn Tiếp, Toa Đô, Đường Ngột Đái
Ô Mã Nhi, rải rác ở ven sông
Từ Đại-hoàng ra cửa bể mênh mông…
Tới Tràng-an, Hưng Đạo Vương dừng lại
Trao mật thư cho tướng quân Quang Khải
Sai đóng nhiều bè gỗ và bè tre
Chất thật nhiều đá vụn lên trên bè
Rồi thuận dòng, từ thượng lưu chẩy xiết
Thả cho trôi, trôi xuôi giòng biền biệt…
Quân theo sau, gần đến bến Đại-hoàng
Nghe xa xa trống trận nổi vang vang
Là sắp sẵn để chờ giờ quyết liệt…
Theo sau bè trên giòng sông chảy xiết
Đoàn thủy quân do Quang Khải dẫn dầu
Đang mải nhìn những bè trôi rất mau
Bỗng giật mình vì tiếng loa vung vẩy
Lệnh truyền quân của Quang Khải vang dậy :
- « Hỡi thủy quân : Sắp giáp trận đến nơi !
« Vì ta nghe mé hạ lưu xa xôi
« Tiếng trống, chiêng, tiếng hò reo hỗn độn
« Ta đồ chừng tặc binh đang khốn đốn
« Vì thủy quân của Võ Vương, Nhượng Vương
« Từ hạ lưu đánh lên, mạnh phi thường
« Lại thêm có tướng tài, rất lão luyện
« Trong bao lâu lừng danh về thủy chiến
« Là Dã tướng quân và Yết tướng quân
« Họ Phàn kia, phen này khó thoát thân ! »
Đúng như nhời của tướng quân Quang Khải
Mé hạ lưu Việt quân rất lợi hại
Đang đánh lên, mỗi lúc một quật cường.
Quân Phàn Tiếp chống đánh sắp cùng đường
Bỗng hậu quân thình lình đâm rối loạn
Thuyền xô nhau đắm chìm và đứt đoạn
Vì bè đá… bè đá cứ xô vào…
Ngăn không nổi, quân Phàn Tiếp xôn xao
Rồi giữa lúc tiến lui không đường lối
Quân họ Trần, theo bè, đánh tràn tới.
Vỡ tan binh… Phàn Tiếp vỡ tan binh…
Chạy thoát thân… Việt quân chiếm thủy dinh.
Thấy tiên quân bị tiêu tan gần hết
Toa Đô bèn lui quân về Tây-kết
Chia ba nơi phòng tiếp ứng lẫn nhau
Cho quân đi xem Thoát Hoan đóng đâu
Rồi hẹn nhau đôi đầu đánh vật lại
Để trả thù mấy phen liền đại bại.
Nhưng mịt mù dặm thẳm biệt tăm hơi
Vì Việt quân đã ngăn đón các nơi.
*
Quyết một phen để kết liễu Toa Đô
Hưng Đạo Vương bèn xếp đặt mưu cơ
Vương đem quân chia ra làm ba đội :
Đội đầu tiên sẵn sàng chờ đêm tối
Nhắm trại đầu của Ngột Đái trông coi
Dùng hỏa công đốt phá, lửa rực trời
Cho Toa Đô đóng quân ở trại giữa
Phái xuất binh đi dập tàn khói lửa
Đội thứ hai chờ đi khỏi, ập vào
Đốt lửa lên hò hét, trống xôn xao
Cho quân Ô Mã Nhi ở trại cuối
Tưởng đại dinh bị hỏa tai dữ dội
Phải đi ngay, đi khỏi, vào thế chân
Việc cuối cùng, Vương sai một đạo quân
Đến phục bên mé sau núi Tây-kết
Trúng mưu sâu, quân tướng Mông liều chết
Xô đẩy nhau qua than, lửa xông ra
Lọt vòng vây, cháy xém cả thịt da
Men sông chạy, thâu đêm men sông chạy…
Ra ngoài khơi, kết bè cùng nhau đẩy
Vượt trùng dương trốn chạy cả về Tầu
Sóng ồn ào tướng quân Việt theo sau.
*
Thoát vòng vây còn độc thương, độc mã
Tướng Toa Đô chạy dần, ngựa mệt lả
Tới bên khe Tây-kết đang mừng thầm
Vì xa trông trời… bể mịt mù tăm
Ven bờ… một chiếc thuyền, sóng lay động.
- « Mau xuống thuyền ta chèo ra bể rộng
« Thoát nguy cơ chờ dịp ta trả thù
« Mối thù này không trả, hận nghìn thu ».
Hận nghìn thu… Đành nghìn thu ôm hận
Sóng rạt rào tiễn đưa hồn tử trận.
Vì giữa khi vừa nom thấy bóng thuyền
Bỗng rào rào sau núi, một loạt tên
Một loạt tên theo nhau bay tua tủa
Nhằm Toa Đô cắm đầy lên người, ngựa
Toa Đô chết, uất phẫn, mặt bừng bừng
Mày dựng ngược, râu vểnh, mắt trừng trừng.
*
Năm Ất Dậu, tháng năm, giữa mùa hạ
Lửa nấu nung, tiết trời thật oi ả
Thâu ngày đêm ra rả ve kêu sầu
Dế bên thềm rên rỉ, hận vì đâu ?
Muỗi vo ve, mắt thâu đêm khôn chợp
Quạt luôn tay, mồ hôi ra nhây nhớp
Gió nồm đâu chốc chốc thổi ào qua
Như lửa chườm, nóng rực cả thịt da.
Ngồi nhỏm dậy rùng mình nghe cú rúc
Rặng núi mờ, khí đùn đùn vẩn đục
Vài giọt mưa thưa thớt, lệ sầu tuôn
Tình cảnh này nấn ná chi thêm buồn ?
Chỉ thêm buồn ! ở làm chi nấn ná ?
Cho nắng thiêu, nấu nung, người mệt lả
Thâu ngày đêm ra rả ve kêu sầu
Dế bên thềm rên rỉ hận vì đâu ?
Về đi thôi ! Mồ hôi ra nhây nhớp
Muỗi vo ve, mắt thâu đêm khôn chợp
Gió nồm đâu chốc chốc thổi ào qua
Như lửa chườm, nóng rực cả thịt da.
Về đi thôi ! Nguồn cơn như lửa đốt
Núi mờ hơi, nỗi buồn thêm ủ dột !
Buồn chết người, chết thảm, chết xa xôi
Chết theo nhau đã mấy buổi nay rồi !
Mấy ngày liền quân Thoát Hoan chết mãi
Chết nối đuôi không thuốc gì cứu lại
Vì hơi độc chung quanh núi tỏa mờ
Vì nước độc uống phải rụng lông tơ
Thêm muỗi rừng đêm đêm ra đầu độc
Toàn chất độc giết quân Mông tàn khốc
Hơn mấy mươi chém giết nơi sa trường
Trại quân Mông ấp ủ những bi thương
Trại quân Mông kể từ Nam-quan ải
Xuống lần lần tới Bắc-giang, dừng lại
Ải Nam-quan bao bọc toàn núi rừng
Núi điệp trùng, gần Bắc-giang mới ngừng
Núi tới đâu, hơi mờ theo tới đấy
Chân núi, nước trong veo nhìn tới đáy
Nhưng uống vào lông tóc rụng sạch trơn
Nhưng phù lên, rét run lên từng cơn
Rồi lau sậy bay ra toàn giống muỗi
Bấu vào da, rúc vòi, hút đắm đuối…
Thấy ba quân ngày một thêm chết dần
Một uể oải, canh gác giảm chuyên cần
Thoát Hoan biết nguy cơ sắp xảy tới
Muốn rút về… E vua cha vấn tội :
Tội thua quân há phải việc dung tha ?
Biết nói sao khi nổi giận, vua cha
Hỏi về việc ngày đi sao hùng hổ
Thống xuất năm mươi vạn quân Mông Cổ
Toàn những quân lừng lẫy bao chiến công !
Bao chiến tướng vang dậy khắp Tây Đông
Cớ sao thua một Việt Nam, tiểu quốc ?
Để làm chi quân nhục vua, nhục nước
Chẳng giết đi, để sống mà làm chi ?
Thoát Hoan lo, thở dài, đứng dậy đi
Nhìn chung quanh, nhìn gần, xa… tướng sĩ
Toàn lo âu, vẻ xanh xao, rầu rĩ…
Một mầu tang phảng phất trong ba quân.
Mặt tái đi, Thoát Hoan bỗng dậm chân
- « Quân tướng này còn dùng làm sao nổi ?
« Trông khác nào như những thây hấp hối ? »
Như nghĩ ra, Thoát Hoan bỗng lặng thinh
Rồi lừ lừ bước đi xem tình hình
Các quân sĩ trong từng dinh trại một
Khắp trại dinh, toàn một mầu ủ dột
Toàn một mầu chết chóc, một mầu tang
Thoát Hoan nhìn, tâm sự rối, hoang mang.
*
Hưng Đạo Vương cho thăm dò hư thực
Biết quân kia bị thủy thổ bất phục
Chết hại dần, mỗi ngày một chết dần
Lương thực vơi, không đủ cấp cho quân
Lòng chủ tướng đang muôn phần bối rối
Ngày rút lui chỉ còn trong sớm tối
Nếu rút lui, chắc về châu Tư-minh !
Hưng Đạo Vương bèn sai hai đạo binh :
Một đạo binh do Nguyễn Khoái, Ngũ Lão
Vạn-kiếp mau chọn nơi nào kín đáo
Nấp đợi chờ quân kia thua, chạy qua
Là phục binh chẹn đường, đổ xô ra
Giết tặc binh cho tan hoang quân sĩ
Một đạo binh do hai Vương : Nghiễn, Úy
Gần Tư-minh chờ sẵn để đón đường
Diệt trận nữa cho đầy đường, giáp thương
Cho về Tầu còn mống nào ghi lấy
Đất Việt Nam… thua… rùng mình, sởn gáy.
Chờ phục binh hai nơi đến sẵn sàng
Hưng Đạo Vương kéo quân lên Bắc giang
Khởi thế công ào ào đánh tràn tới.
Liệu sức quân biết không sao chống nổi
Thoát Hoan bèn tháo lui, dẫn bại binh
Bỏ Bắc Giang, chạy về châu Tư-minh.
Nhằm Tư-minh, quân Thoát Hoan đang chạy
Gần Vạn-kiếp, tới bên rừng lau sậy
Bỗng tiếp liền ba tiếng pháo vang tai
Quân Phạm, Nguyễn xông ra, trổ thần oai
Giết tặc binh, ven sông thây như rạ.
Lý Hằng, người lắm mưu thật kỳ lạ
Từng bầy mưu để cô thế Kỳ-sơn
Trúng phải tên, đành chín suối ngậm hờn
Bị Việt quân, sau lưng, cố đuổi giết
Bắn tên theo quân mình ngã la liệt
Lý Quán sợ tên bay trúng Thoát Hoan
Trúng tên độc tính mệnh khó chu toàn
Vội ghé tai : « Lúc này xin Thái Tử
« Dòng lá ngọc cành vàng phải gìn giữ
« Tạm quyền nghi, chui vào trong ống đồng
« Không quân kia trông thấy thì khó lòng ! »
Chiếc ống đồng nằm trong có Thái tử
Do Lý Quán chạy theo sau gìn giữ
Chạy thâu đêm, gần đến châu Tư-minh
Đang mừng thầm sắp qua bước điêu linh
Bỗng giật mình vì Việt quân sau núi
Muôn ngàn tên cùng bắn ra túi bụi.
Tướng Lý Quán bị trúng tên chết liền
Riêng Thái tử Thoát Hoan, số thần tiên
Trong ống đồng ung dung nằm, thoát nạn.
Quân Thoát Hoan, ngày đi, năm mươi vạn
Sau sáu tháng, quay về, dúm bại binh.
*
Ba năm sau, từ giã thành Yên-kinh
Đem theo ba mươi vạn quân Mông Cổ
Sang Việt Nam, Thoát Hoan quyết rửa hổ.
Ngày cất quân cũng lại giữa mùa Đông
Cũng đùng đùng lôi cuốn như cơn giông
Vượt ải quan, đánh tràn đến Vạn-kiếp
Đi tới đâu là tan hoang, khủng khiếp.
Trước tặc binh sức mạnh đang quật cường
Hưng Đạo Vương đành lui binh, chịu nhường
Các thành trì cho quân kia tạm đóng
Đợi mùa hè… Vùng trời như lửa bỏng
Tặc binh kia uể oải việc canh phòng
Hưng Đạo Vương mới khởi cuộc tấn công.
Quân Thoát Hoan mệt nhoài vì oi bức
Chiếm giữ lâu, dần dần thiếu lương thực
Đang đợi chờ viện binh đem thêm lương
Tới Vân-đồn bị Khánh Dư đón đường
Bại Văn Hổ, bao thuyền lương cướp nhẵn.
Thiếu lương ăn, mỗi ngày thêm cùng quẫn
Thoát Hoan lo, trong lòng đang phân vân
Chợt nghe tin Hưng Đạo Vương cất quân
Từ Thăng Long đang trùng trùng điệp điệp
Chỉ sớm chiều là tràn qua Vạn Kiếp.
Biết khó lòng, Thoát Hoan đành lui binh
Theo đường cũ, chạy về châu Tư-minh.
Tới Bạch-đằng, mắc phải mưu hiểm hóc
Của Việt quân giữa sông ngầm đóng cọc
Đoàn chiến thuyền va phải xô đẩy nhau
Rồi chìm sâu, giữa sông, máu đỏ ngầu…
Vì Nguyễn Khoái hô quân đồng loạt bắn
Rồi ập lại chém quân Mông tan, giãn.
Tướng Phàn Tiếp, Tích Lệ, Ô Mã Nhi
Và Cơ Ngọc bị bắt sống tức thì.
Đoàn thủy quân mười phần chết mấy bẩy
Sông Bạch-đằng dềnh lến vì máu chẩy
Nghe thủy quân bị phá vỡ tan-hoang
Thoát Hoan đành chạy bộ đến Nội-bằng.
Ải Nội-bằng phục binh của Ngũ Lão
Đổ xô ra giết một trận điên đảo.
Thoát Nội-bằng, chạy đến ải Nữ-nhi
Ải Nữ-nhi cũng không kém gian nguy
Thật gian nguy khi qua núi Kỳ-cấp
Toán Việt quân, bên khe, đứng rình rập
Bắn tên ra chi chít để chẹn đường.
Thoát về Tầu với đoàn quân bị thương
Nghĩ bao nhiêu Thoát Hoan càng kinh hãi…
Đất Việt Nam không bao giờ trở lại.
HẾT
[1] Hốt-tất-Liệt (Koubilai) miếu hiệu là Nguyên-Thế-Tổ (1279-1294).
[2] Bình-than : sử chép ở làng Trần-xá, huyện Chí-linh tỉnh Hải-dương.Hải-đông là tỉnh Hải-dương hiệu thời.
[3] Sài-Thung do triều-đình nhà Nguyên sai sang sứ nước Nam đi từ Giang-lăng (Hồ-Bắc) qua Ung-châu (Quảng-tây), đến kinh thành lên mặt kiêu ngạo, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương-mịch, rồi cho người đưa thư vào trách Nhân-Tôn rằng : Sao không xin phép triều đình nhà Nguyên mà dám tự lập, vậy phải sang chầu thiên triều hoàng đế mới xong. Nhân-Tôn sai quan đại thần ra tiếp, Thung không thèm đáp lễ, vua bầy yến mời, Thung không thèm đến… Các quan nhà Trần căm tức lắm nên sau khi Sài Thung về lại quay sang lượt nữa, đến cửa ải Nam-quan bị Việt quân bắn mù một mắt phải bỏ trốn về Tầu.
[4] Khả-ly, Lộc-châu thuộc Lạng-sơn.
[5] Bãi-tân : không thấy sử nói là ở đâu cả.
[6] Tam-chỉ (thuộc châu Tiên-yên tỉnh Quảng-yên).
[7] Đại-bàng (thuộc huyện Nghi-dương tỉnh Kiến-an).
[8] Đà-mạc thuộc huyện Đông-an tỉnh Hưng-yên.