
Thế kỉ qua được đánh dấu bởi sự tăng lên chưa từng có về năng suất lao động và tiêu chuẩn sống. Những đổi mới sáng tạo, như ôtô, transistor, máy tính, máy bay, đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống của chúng ta. Thành công của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa một phần không nhỏ là do thành công của nó trong thúc đẩy đổi mới, và sự thất bại của các nền kinh tế Xô-viết một phần không nhỏ là do sự bất lực của chúng để duy trì đổi mới, ngoài lĩnh vực khá hẹp, chủ yếu bao quanh lĩnh vực quân sự.
Đổi mới đã không có vai trò nào trong tranh luận thị trường/chủ nghĩa xã hội thị trường, hệt như đổi mới không có vai trò gì trong hệ thuyết tân cổ điển. Thực ra, có các ám chỉ trong những thảo luận phổ thông về các nền kinh tế thị trường thúc đẩy đổi mới ra sao, nhưng mô hình Arrow-Debreu, như tôi đã lưu ý đi lưu ý lại, là mô hình cho tóm tắt được trình bày khéo nhất của hệ thuyết tân cổ điển và tạo cơ sở cho lòng tin rộng rãi vào tính hiệu quả của các thị trường cạnh tranh, giả thiết một cách tường minh rằng công nghệ được cho trước. Không có cơ hội cho đổi mới.
Sự thực rằng đổi mới bị hệ thuyết chuẩn bỏ qua đã làm cho những người đi tìm kiếm các hệ thống kinh tế lựa chọn khả dĩ khác cũng bỏ qua đổi mới. Về dài hạn đây có lẽ là sự phê phán chỉ trích nhất của mọi biến thể của chủ nghĩa xã hội, kể cả chủ nghĩa xã hội thị trường. Như tôi đã chứng minh suốt bài giảng này, bằng cách tập trung vào vì sao chủ nghĩa xã hội thị trường đã thất bại, chúng ta đã có một lăng kính qua đó để thấy những thiếu sót của các mô hình tân cổ điển chuẩn của nền kinh tế.
Một phát triển mới đây trong lí thuyết kinh tế là sự thừa nhận tầm quan trọng của thay đổi công nghệ đối với các nền kinh tế công nghiệp hiện đại, [10] không phải là tầm quan trọng của nó đã không được thừa nhận sớm hơn. Như Schumpeter than phiền (1942), những quan tâm này đã không được đưa vào xu hướng chủ đạo của lí thuyết kinh tế. Những than phiền của Schumpeter là rất chính đáng- thậm chí ngày nay hầu hết các chương trình cao học không bao gồm thứ gì, trừ những thảo luận hết sức hời hợt về thay đổi công nghệ trong các cua học chính. Tất nhiên không chỉ có thay đổi công nghệ là quan trọng mà là các quyết định của hãng ảnh hưởng đến nhịp độ đổi mới; những quyết định về sản xuất bị ảnh hưởng bởi các quyết định đó tác động ra sao đến học tập (học qua thực hành). [11] Các hãng phân bổ nguồn lực ra sao cho nghiên cứu và triển khai, R&D, là mối quan tâm chính của các doanh nghiệp công nghiệp hiện đại.
Phê phán của tôi đối với mô hình chuẩn, tuy vậy, đi xa hơn phàn nàn rằng mô hình không cho chúng ta sự thấu hiểu nào vào các câu hỏi các hãng ra quyết định ra sao, thí dụ, chi bao nhiêu cho R&D. Đúng hơn, là mô hình Arrow-Debreu chuẩn (hệ thuyết cạnh tranh) không những không bao gồm những thay đổi (nội sinh) về công nghệ mà khung khổ của nó là không nhất quán một cách căn bản với kết hợp thay đổi công nghệ. Quan trọng hơn, không chỉ là cạnh tranh không hoàn hảo- tức là các hãng không phải là người chấp nhận giá- mà là hình thức và bản chất của cạnh tranh - cạnh tranh để phát triển các sản phẩm mới và khác - đơn giản không được mô hình Arrow-Debreu chuẩn thể hiện tốt.
Đổi mới và cạnh tranh
Những người chủ trương hệ thuyết chuẩn có thể cãi lí (hai thập niên trước) rằng đã là một chiến lược nghiên cứu hợp lí đi khai phá các mô hình đầu tiên không có thay đổi công nghệ; phải hiểu kĩ chúng trước khi chuyển sang các vấn đề khó hơn gắn với thay đổi công nghệ. Hiện nay chúng ta biết khá đủ về tiến bộ công nghệ và dường như khá thuyết phục là không thể mở rộng hệ thuyết chuẩn (theo bất kể cách dễ hiểu nào), hệ thuyết bỏ qua thay đổi công nghệ, để phân tích các nền kinh tế công nghiệp hiện đại, nơi đổi mới công nghệ là trung tâm.
Cạnh tranh không hoàn hảo và chiếm đoạt lợi tức
Lí do chính là đơn giản (và được Schumpeter hiểu kĩ): Các hãng tiến hành R&D nhằm nhận được tiền lời trên đầu tư của họ; để có lợi tức trên đầu tư, thì phải có cạnh tranh không hoàn hảo. Để thấy điều này, giả sử rằng một hãng phát minh ra cách sản xuất một sản phẩm với chi phí biên (không đổi) nhưng thông tin về công nghệ mới này có thể kiếm được một cách tự do. Thì với cạnh tranh (Bertrand) khốc liệt, giá sẽ bị đẩy xuống mức này (giá bằng chi phí biên). Nhưng mà, vì chi phí biên bằng chi phí khả biến, hãng tiến hành đổi mới sẽ không có khả năng nhận được bất kể lợi tức nào trên đầu tư của mình trong giảm chi phí.
Các chính phủ đã nhận ra điều này từ lâu, và do đó họ cấp patent cho các hãng, tạo cho họ các quyền độc quyền tạm thời. Có thể có cạnh tranh vì R&D, nhưng bản chất của loại cạnh tranh này không được mô tả tốt bởi mô hình cạnh tranh cấp nhận giá. [12]
Các chi phí cố định
Không chỉ là cạnh tranh phải là không hoàn hảo, nếu muốn có bất kể đổi mới nào. Thay đổi công nghệ kéo theo các loại "tính không lồi" (các chi phí cố định, lắng chìm, lợi tức tăng theo qui mô) những cái làm nảy sinh cạnh tranh không hoàn hảo một cách tự nhiên. [13] Nếu hãng phát triển một cách rẻ hơn để làm ra các đồ dùng, thí dụ, thì tổng tiết kiệm chi phí càng lớn khi mức sản xuất càng lớn.
Một cách hình thức, nếu hàm sản xuất có dạng Q = AF(K,L), nơi K và L là các đầu vào cho quá trình sản xuất và A là trạng thái công nghệ, và nếu F có lợi tức không đổi (hoặc không gảm nhanh) đối với qui mô và A có thể được tăng bởi tăng đầu vào (đầu vào dành cho nghiên cứu), thì quá trình sản xuất như một tổng thể có lợi tức tăng đối với mọi yếu tố.
Học bằng cách làm
Nếu có học bằng cách làm, thì hãng sản xuất nhiều (hôm nay) có chi phí thấp hơn (trong tương lai), hệt như với các hàm chi phí giảm tiêu chuẩn. Theo một nghĩa, trừ khi có lợi tức giảm theo qui mô bù trừ (thí dụ, từ tính phi kinh tế theo qui mô mang tính tổ chức), các khu vực, trong đó R&D hoặc học bằng cách làm là quan trọng, là các độc quyền tự nhiên. Nhìn nhận từ viễn cảnh này, các độc quyền tự nhiên không chỉ hạn chế ở các dịch vụ công cộng như gas, nước, điện thoại và điện, mà chúng phổ biến tràn lan trong các nền kinh tế công nghiệp.
Độc quyền nhóm tự nhiên
Thậm chí khi không có độc quyền tự nhiên, có thể có độc quyền nhóm tự nhiên: Trong nhiều khu vực hình như có chi phí cố định lớn gắn với đổi mới, đủ lớn đến nỗi số các hãng có thể cạnh tranh tích cực là hạn chế. Điều này là đúng, thí dụ, với ngành hoá chất và sản xuất máy bay. Trong ngành sau dường như, không có trợ cấp của chính phủ, thì có thể chỉ có một hoặc hai nhà sản xuất máy bay phản lực chở khách trên toàn thế giới.
Thực ra, có cả tính kinh tế theo qui mô lẫn tính phi kinh tế theo qui mô: Thường khó quản lí R&D trong các doanh nghiệp có qui mô lớn, và kết quả là có bằng chứng nào đó rằng một phần không cân xứng của những đổi mới đã xảy ra ở các hãng nhỏ. Tuy IBM đã có khả năng duy trì thị phần áp đảo trong thị trường máy tính từ lâu, với sự xuất hiện của máy tính cá nhân, PC, các hãng nhỏ hơn không những có khả năng tham gia thị trường mà còn phát đạt nữa. Khi sự tập trung trong mảng thị trường này của thị trường máy tính đã giảm đi, thì sự tập trung trong các mảng khác như phần mềm (hoặc chí ít phần mềm hệ điều hành) thực sự đã tăng.
Cạnh tranh tiềm tàng sẽ đủ?
Trong chương trước tôi đã xem xét lí lẽ rằng ngay cả nếu có số lượng hạn chế các hãng, nền kinh tế vẫn có thể ứng xử một cách cạnh tranh: Cái mấu chốt không phải là mức cạnh tranh thực mà là mức cạnh tranh tiềm tàng. Khi tôi thảo luận vấn đề này ở chương trước, vấn đề là liệu, với sự hiện diện của tính không lồi, mối đe doạ tham gia có đảm bảo (1) rằng lợi nhuận bị đẩy xuống bằng không và (2) rằng hiệu quả kinh tế sẽ đạt được.
Sự tồn tại của lợi nhuận không nhất thiết thu hút tham gia: Cái mà các hãng lo là lợi nhuận sẽ là bao nhiêu sau khi tham gia. Nếu những người tham gia tin rằng sẽ có cạnh tranh khốc liệt, thì họ có thể sợ rằng giá sẽ bị kéo xuống, hoặc gần tới, chi phí biên. Khi có các chi phí lắng chìm (các chi phí không thể thu hồi nếu hãng rút khỏi ngành công nghiệp), thì tham gia bị cản trở. Hãng biết rằng trong trường hợp cạnh tranh khốc liệt như vậy, nó không thể đơn giản rút lui và thu hồi chi phí của mình.
Các chi tiêu về R&D không những là cố định (không thay đổi theo qui mô sản xuất) mà còn là các chi phí lắng chìm; một khi tiền đã được tiêu, không thể lấy lại được. Các chi phí cao, cố định, lắng chìm này hoạt động như các rào cản tham gia tự nhiên, hạn chế cả mức cạnh tranh thực lẫn phạm vi của cạnh tranh tiềm tàng.
Độc quyền và nhịp độ đổi mới
Cho đến đây tôi đã chứng minh rằng các ngành trong đó đổi mới là quan trọng chắc, may nhất, là cạnh tranh không hoàn hảo. Câu hỏi tiếp theo là, Ảnh hưởng của mức độ cạnh tranh lên nhịp độ đổi mới là thế nào? Sự tiến triển của sự hiểu biết của chúng ta về các vấn đề này đã có một lịch sử lạ kì, đáng được thảo luận vắn tắt.
Cách nhìn đầu tiên: Độc quyền Không khuyến khích đổi mới
Những thảo luận ban đầu về chủ nghĩa tư bản độc quyền đã gợi ý rằng đổi mới dưới các độc quyền sẽ là chậm. Các hãng sẽ nhận ra rằng những đổi mới mới sẽ phá huỷ giá trị của vốn đã được xây dựng trước kia của họ, và điều này sẽ làm cùn nhiệt tình của họ để tiến hành nghiên cứu. [14]
Khoảng ba mươi năm trước Arrow (1962b) cung cấp một lí lẽ khác là các độc quyền sẽ tiến hành quá ít nghiên cứu. Lí lẽ của ông đã dựa vào giả thiết rằng nhà độc quyền không chiếm được thặng dư người tiêu dùng gắn với hạ giá và rằng nhà độc quyền sản xuất ít hơn các đối thủ cạnh tranh, nên tiết kiệm chi phí thấp hơn. (Tổng tiết kiệm chi phí tỉ lệ với qui mô sản xuất). Cả hai giả thiết này đều có thể bị nghi ngờ. Nếu các nhà độc quyền có thể tiến hành định giá phi tuyến, thì họ có thể nhận được ít nhất một phần của thặng dư người tiêu dùng. Nếu tất cả các khu vực của nền kinh tế được đặc trưng bởi cạnh tranh không hoàn hảo, thì qui mô sản xuất trong phạm vi bất kể khu vực nào có thể lớn hơn hoặc ít hơn so với dưới cạnh tranh, phụ thuộc vào độ co giãn của cung lao động và độ co giãn của cầu đối với sản phẩm cá biệt, so sánh với các khu vực khác.
Tuyên bố có "quá ít nghiên cứu" dưới độc quyền, tất nhiên, hàm ý một so sánh. Có các câu hỏi về so sánh thoả đáng là gì. Cho trước mức đầu ra dưới độc quyền, mức R&D là có hiệu quả. Nếu mức đầu ra thấp hơn trong một số khu vực như kết quả của độc quyền, thì đáng tiến hành ít nghiên cứu. (Giá trị của giảm một mức cho trước về chi phí tỉ lệ với mức đầu ra). Điều này tất nhiên chỉ là sự phản ánh kết quả chung rằng ngay cả khi có độc quyền (về hàng hoá cuối cùng), nền kinh tế vẫn có hiệu quả sản xuất.
Một so sánh khả dĩ khác là so với một thị trường cạnh tranh, trong đó chính phủ tài trợ R&D. (Nếu, sau đổi mới, thị trường vẫn cạnh tranh, thì R&D phải nhận hỗ trợ của chính phủ). Nhưng khi đó chúng ta phải hỏi chính phủ tăng thu ra sao. Nếu chính phủ phải thu các khoản thuế méo mó, thì các loại thuế đó có thể gây ra các mức đầu ra thấp hơn (hệt như trong các hoàn cảnh mà định giá độc quyền gây ra các mức đầu ra thấp hơn) và do đó các mức chi tiêu cho R&D thấp hơn.
Hệ thống patent có thể được xem như một loại thuế lợi ích, với những người mua hàng trả, qua giá cao hơn, chi phí R&D liên quan. Trong sự hiện diện của thông tin không hoàn hảo liên quan đến ai hưởng lợi từ các đổi mới cá biệt (sao cho không thể áp các khoản thuế trọn gói lên những người thụ hưởng), sự đánh thuế như vậy có thể đáng mong mỏi. [15]
Cách nhìn thứ hai: Gia nhập quá thể dưới cạnh tranh
Tuy các lí lẽ trước gợi ý (chí ít trước khi chúng bị hạn chế) rằng với độc quyền có quá ít R&D, nó không cho một đánh giá liệu với cạnh tranh có quá nhiều hay quá ít R&D. Hiển nhiên, không có một hệ thống patent, các nhà nghiên cứu không thể nhận được bất kể lợi tức nào từ đổi mới của họ, và vì thế sẽ có quá ít nghiên cứu. Nhưng cái gì xảy ra nếu có một patent sống vô hạn sao cho nhà đổi mới có thể chiếm toàn bộ lợi tức từ đổi mới.
Đã có lo ngại rằng cạnh tranh vì patent có thể dẫn tới chi tiêu quá thể về R&D. Các khoản lợi nhuận mà các hãng chiếm đoạt khi chúng nhận được một patent đã không phản ánh lợi tức biên xã hội - nhận đổi mới sớm hơn một chút so với nó được phát triển nếu khác đi. [16] Hệ quả của một hãng mới tham gia vào cuộc đua patent có thể là phát minh xảy ra sớm hơn một ít so với nó có thể xảy ra nếu khác đi, thế nhưng lợi tức của hãng bằng giá trị của đổi mới.
Tất nhiên tham gia vào cuộc đua patent được xác định bởi lợi tức kì vọng: hãng phải tính đến sự thực rằng xác suất để thắng cuộc đua patent là nhỏ hơn một. Nếu giả như tất cả các hãng là hệt nhau, thì lợi tức kì vọng, hay trung bình, chính là giá trị patent chia cho số người tham gia. Việc tham gia xảy ra cho đến khi lợi tức kì vọng, hay trung bình, này bằng chi phí tham gia cuộc đua. Bài toán giống như bài toán hội chung (common pool): các thuyền đánh cá tham gia một hội chung, cho đến khi giá trị trung bình của thu hoạch của mỗi thuyền bằng chi phí của thuyền. Nhưng nếu tổng số thu hoạch tăng ít tỉ lệ hơn với số thuyền, thì thu hoạch biên của một chiếc thuyền thêm sẽ nhỏ hơn giá trị trung bình, và vì vậy, với tham gia tự do, sẽ có tham gia quá thể. Cũng thế, giá trị kì vọng (chiết khấu hiện thời) của patent tăng chậm hơn nhiều so với tăng số lượng của những người tham gia cuộc đua patent. (Tăng gấp đôi số người tham gia vào cuộc đua patent không chắc đẩy nhanh như thế thời gian kì vọng của phát minh để giá trị chiết khấu hiện tại của đổi mới tăng gấp đôi!) Như thế lợi tức xã hội biên cho một người tham gia thêm là ít hơn nhiều so với lợi tức tư nhân: Với tham gia tự do thì có tham gia quá thể.
Cách nhìn thứ ba: Cạnh tranh kiểu Schumpeter
Như đã lưu ý trước đây, Schumpeter đã nhận ra cạnh tranh là quan trọng với thay đổi công nghệ, tuy không hoàn hảo. Ông hình dung nền kinh tế như được đặc trưng bởi một sự kế tiếp nhau của các nhà độc quyền; đổi mới giống như một quá trình phá huỷ sáng tạo, khi một đổi mới làm lỗi thời đổi mới trước đó. Mối đe doạ tham gia đã là cái giữ các hãng cảnh giác. Hãng hiện hành không thể thanh thản trên vòng nguyệt quế của mình - áp lực cạnh tranh buộc nó phải tiến hành nghiên cứu. Như vậy các thị trường được đặc trưng bởi sự kế tiếp nhau của các độc quyền tạm thời.
Tương tự, trong thảo luận về gia nhập tự do ở trên tôi đã giả thiết rằng các hãng là đối xứng và rằng tham gia sẽ xảy ra cho đến khi lợi tức kì vọng (trung bình) bằng chi phí R&D: Lợi tức sẽ bằng không trong khu vực R&D, hệt như lợi tức bằng không ở các khu vực cạnh tranh khác của nền kinh tế. Cả hai kết luận này là đáng ngờ. [17]
Nhìn chung, lợi tức đối với đổi mới cho hãng hiện hành vượt lợi tức của hãng mới tham gia. Giả như hãng tham gia thành công, thị trường sẽ được đặc trưng bởi hai hãng. Trong lưỡng độc quyền, lợi nhuận sẽ thấp hơn dưới độc quyền, như vậy bõ cho hãng hiện hành tiến hành R&D vừa đủ để ngăn cản kẻ khác. Khi một hãng đã trở nên có uy tín, sẽ bõ để duy trì vị trí độc quyền. Hình như, Sumpeter đã nhầm trong mô tả đặc điểm các thị trường như sự kế tiếp nhau của các nhà độc quyền. Tất nhiên các sự kiện ngẫu nhiên (như phát minh ra transistor hay laser) có nghĩa rằng các vị thế độc quyền không được duy trì vĩnh viễn.
Kết luận của cách nhìn nêu ở trên rằng tham gia sẽ xảy ra cho đến khi lợi nhuận trung bình xuống bằng không, cũng không đúng. Cạnh tranh kéo lợi nhuận của người tham gia biên xuống không, nhưng lợi nhuận của các hãng nội biên- hãng hiện hành- là hoàn toàn dương ở điểm này.
Cách nhìn thứ tư: Hạn chế của cạnh tranh kiểu Schumpeter
Theo cách nhìn vừa mô tả, tuy Schumpeter sai trong quan niệm của ông về tính tạm thời của các độc quyền, tuy vậy, luận điểm của ông đúng rằng cạnh tranh tiềm năng là một cái kích thích quan trọng cho tiến hành nghiên cứu. Vì để duy trì vị trí độc quyền hãng hiện hành phải tiến hành nghiên cứu đủ để không bõ cho bất kể hãng khác nào tham gia vào.
Nhưng một giả thiết cốt lõi trong kết luận đó [18] là cạnh tranh R&D không "tuần tự"; tức là, nó không buộc chuỗi các quyết định tuần tự theo thời gian. Đúng hơn, một quyết định một lần cho mãi mãi được đưa ra về tốc độ nghiên cứu. Một khi chúng ta đưa ra giả thiết thực tế hơn về tốc độ nghiên cứu có thể được xét lại, thì ngay cả kết luận rằng cạnh tranh tiềm năng buộc các hãng tiến hành nghiên cứu "nhanh" bị nghi ngờ. Hãng hiện hành có thể dẫn đầu trong chương trình R&D và sau đó tiến hành một chính sách giữ nhịp R&D ở tốc độ độc quyền (chậm hơn). Những hãng tham gia tiềm năng biết điều đó, nếu họ nhập cuộc, nghiên cứu sẽ được tăng tốc (không chỉ một sự đe doạ sẽ làm vậy, mà là mối đe doạ có thể được chứng tỏ là tin được), và căn cứ vào sự dẫn đầu của nhà độc quyền, nó sẽ thắng. Vì các hãng định tham gia biết điều này, họ không vào cuộc. Cạnh tranh tiềm năng có thể có các tác động hạn chế trong kích thích nghiên cứu. [19]
Kết luận cũng giống thế trong trường hợp công nghệ thay đổi do học qua làm. [20] Học qua hành hàm ý, như chúng ta đã gợi ý, một loại chi phí giảm, như trong chuyện thông thường của độc quyền tự nhiên. Điều này tạo một lợi thế cho hãng sản xuất đầu ra lớn nhất. Tất nhiên, nếu có tác động lan toả 100 phần trăm, thì hãng sản xuất lớn nhất sẽ không có lợi thế, vì tất cả các hãng khác đều chia sẻ ngang nhau trong học hỏi. Nhưng chừng nào không có lan toả 100 phần trăm, thì cân bằng thị trường sẽ được đặc trưng bởi cạnh tranh không hoàn hảo, với hãng áp đảo có lợi nhuận. Vì hãng áp đảo có chi phí thấp hơn, nó có thể bán rẻ hơn bất kể đối thủ (thực tế hay tiềm năng) nào, và thậm chí dưới dạng cạnh tranh (ex post) [21] ít gay gắt hơn, như với cạnh tranh Cournot, một hãng với một lợi thế cạnh tranh nhỏ (ban đầu sản xuất hơn các đối thủ một chút) có thể chế ngự thị trường, vì sản xuất lớn tạo cho nó lợi thế hơn nữa về chi phí. [22]
Cách nhìn thứ năm: Những rắc rối thêm
Lí lẽ của tôi ở đoạn trên gợi ý rằng sẽ có đầu tư thấp về R&D trong một nền kinh tế thị trường. Ba cân nhắc thêm gây rắc rối cho phân tích, dù trên cân đối chúng có lẽ củng cố các kết luận liên quan đến đầu tư thấp.
Những hiệu ứng lan toả
Đầu tiên, tôi đã bỏ qua những lan toả thường là lớn gắn với R&D. Ngay cả với một hệ thống patent mạnh các hãng chỉ chiếm đoạt một phần của lợi tức xã hội của phát minh của họ. Một đổi mới có thể gợi những ý tưởng cho người khác, và giá trị của những ý tưởng đó có thể coi như một phần của lợi tức biên đối với phát minh. Thế mà lợi tức từ những ý tưởng này bình thường không thể chiếm đoạt được. Bởi vì những lan toả này - những ảnh hưởng ngoại sinh tích cực- chắc có đầu tư thấp trong R&D.
Tìm kiếm đặc lợi
Mặt khác, một số hoạt động R&D chẳng là gì hơn một nỗ lực để chiếm đặc lợi từ hãng khác nào đó. Điều này thấy khá thông thường trong dược phẩm. Mộ công ti dược sẽ tiêu một khoản tiền đáng kể để phát minh "quanh" một patent, tức là, để sáng chế một sản phẩm giống như một sản phẩm đang tồn tại nhưng không được phủ bởi patent bảo vệ sản phẩm đó. Đây là một thí dụ về R&D lãng phí về mặt xã hội.
Bản chất của cạnh tranh trong thị trường sản phẩm
Được biết rộng rãi, khi cạnh tranh là hạn chế, nó có thể có nhiều dạng.
Nhân tố quyết định thứ ba của quan hệ giữa lợi tức xã hội và tư nhân cho chi tiêu về R&D là bản chất của cạnh tranh trong thị trường sản phẩm sau khi đổi mới đã xảy ra. Giả sử có cạnh tranh giữa các nhóm hãng tìm những đổi mới tiết kiệm chi phí, và giả sử có cạnh tranh Bertrand trong thị trường sản phẩm. Khi đó lợi tức cho hãng thành công tìm ra công nghệ có chi phí thấp nhất đơn giản là hiệu số giữa chi phí sản xuất của nó và chi phí sản xuất của nhà sản xuất có chi phí thấp thứ nhì (nhân với qui mô sản xuất). Đây chính xác là lợi tức xã hội cho sáng chế này.
Mức đổi mới có thể khác mức dưới cạnh tranh với nghiên cứu do chính phủ tài trợ, bởi vì qui mô sản xuất có thể khác. Nếu chính phủ có thể đánh thuế cả gói, thì giá có thể định bằng chi phí sản xuất biên, thấp hơn chi phí dưới cạnh tranh Bertrand, nơi giá được định bằng chi phí sản xuất biên của nhà sản xuất có chi phí sản xuất thấp thứ nhì. Vì vậy đổi mới trên thị trường sẽ ít hơn như xảy ra với hãng thấp nhất (với thuế cả gói). [23]
Các phương thuốc của chính phủ
Tinh thần của các câu chuyện này là đơn giản: Các quá trình thị trường, với sự hiện diện của đổi mói, không tự động đảm bảo cạnh tranh gay gắt hoặc R&D nhanh. Dẫu chúng ta có thể nghi ngờ đến đâu về điều tiết của chính phủ để hạn chế thực thi quyền lực độc quyền trong các độc quyền tự nhiên về tiện ích, chúng ta thậm chí phải hoài nghi hơn về khả năng của các cơ quan có quyền lực điều tiết trực tiếp để giải quyết các vấn đề gây ra bởi các độc quyền tự nhiên nảy sinh từ thay đổi công nghệ. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là một số chính sách - các chính sách chống trust nhằm hạn chế lạm dụng quyền lực độc quyền - có thể không chỉ cải thiện phúc lợi trong ý nghĩa tĩnh mà thậm chí có thể đóng vai trò thúc đẩy đổi mới. Đây là những lĩnh vực nghiên cứu đang tiến hành: một chương trình nghiên cứu mới được theo đuổi gần đây, đối chiếu với sự áp đảo từ lâu của hệ thuyết chuẩn hệ thuyết đơn giản đã bỏ qua thay đổi công nghệ.
________________________________________
[1]Ở Hoa Kì khái niệm về tiểu nông (và mở rộng ra nghiệp chủ nhỏ) đã đóng vai trò trung tâm trong nhận thức về một xã hội "Mĩ lí tưởng" thường được gắn với tên tuổi của Thomas Jefferson.
[2]Xem thảo luận trong phần đầu của chương này.
[3]Stiglitz (1987g) minh hoạ điều này với trường hợp nơi các hãng xây dựng năng lực thừa để cản trở tham gia đến mức hầu như mọi lợi nhuận bị tiêu tán hết.
[4]Salop and Scheffman (1983) phát triển lí thuyết về làm tăng chi phí của đối thủ, cũng như cung cấp các ví dụ về nơi chúng xảy ra.
[5]Các đoạn tiếp theo là từ Stiglitz (1993a).
[6]Đặc biệt, ông đã không giải thích rõ vì sao mà một số nhà điều tiết lại bị các nhóm lợi ích người tiêu dùng cầm giữ, trong khi các nhà điều tiết khác bị các nhóm lợi ích ngành cầm giữ.
[7]Các bang điển hình không cho phép các hãng ở ngoài bang bán hàng trong phạm vi ranh giới của họ, như thế hạn chế tham gia. Nhiều bang thậm chí có các luật yêu cầu các hãng phải yết giá, như thế tạo thuận lợi cho cấu kết, thông đồng.
[8]Kì lạ là phần lớn những thảo luận ban đầu về trình bày có hệ thống cạnh tranh trong mô hình này đã lo nghĩ không về liệu mô hình này có thâu tóm chính xác bản chất của cạnh tranh trong các nền kinh tế thị trường, mà đi lo liệu giả thiết chấp nhận giá có nhất quán với giả thiết rằng có hữu hạn các hãng và hộ gia đình hay không. Thậm chí nếu có một tỉ hãng, chắc chắn mỗi hãng phải có ảnh hưởng có thể nhận thấy được (trong thế giới thông tin hoàn hảo) về mức giá. Chỉ nếu có vô số (continuum) các tác nhân thì mô hình mới nhất quán.
[9]Các hãng đơn giản được lệnh phải tối đa hoá lợi nhuận, cho trước giá do cơ quan kế hoạch hoá trung ương công bố. Những thảo luận gần đây đã lưu ý rằng các hãng sẽ nhận ra rằng cơ quan chính phủ xem xét lại các giá mà nó bỏ đi đáp ứng lại công bố của các hãng về các đầu vào và đầu ra của kế hoạch với giá đã công bố; nếu không có một continuum (vô số liên tục) các hãng, thì các hãng có thể ứng xử một cách chiến lược, cố ảnh hưởng lên giá mà chính phủ công bố. Tất nhiên, vì các nhà quản lí trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thị trường không có mục tiêu nào khác ngoài tối đa hoá phúc lợi xã hội - và tuân theo các chỉ thị một cách cẩn thận, hoạt động phù hợp với các qui tắc do các nhà lập kế hoạch trung ương đề ra - nếu nhà lập kế hoạch trung ương bảo các nhà quản lí đừng hành động một cách chiến lược, có lẽ họ không nghe. Khi chúng ta đến khúc quanh này của chủ nghĩa xã hội thị trường, sự lệch hướng của mô hình với thực tế lớn đến mức khó mà biết giả thiết nào là sai nhất.
[10]Trong khi có tranh luận nào đấy về bao nhiêu phần của tăng trưởng thu nhập trên đầu người là do thay đổi công nghệ (đối lại với tích tụ vốn) - với Solow (1957) lập luận rằng hơn 80 phần trăm của nó có thể truy nguyên cho thay đổi công nghệ - ít người từ chối tầm quan trọng cốt yếu của nó.
[11]Xem Arrow (1962a).
[12]Cạnh tranh R&D được mô tả tốt hơn nhiều bởi cuộc đua "patent" (xem Barzel 1986; Stiglitz 1971; và Dasgupta and Stiglitz (1980a) hoặc, rộng hơn, bởi lí thuyết chung về các cuộc thi (xem Nalebuff and Stiglitz 1983a; Lazear and Rosen 1981). Về một ứng dụng của lí thuyết các cuộc thi cho R&D, xem Stiglitz (1986b).
[13]Xem Stiglitz (1987d) và Dasgupta and Stiglitz (1980b).
[14]Về một nghiên cứu khai thác ý tưởng này, xem Dasgupta, Gilbert, and Stiglitz (1983).
[15]Về một thảo luận đầy đủ hơn về các vấn đề này, xem Stiglitz (1969).
[16]Xem Stiglitz (1971), Samuelson (1965), hoặc Barzel (1968).
[17]Vấn đề này được biết đến như "tính bền bỉ của độc quyền" (Dasgupta and Stiglitz 1980a; Salop 1979; Gilbert and Newbery 1982).
[18]Như Dasgupta and Stiglitz (1980) lưu ý trong một chú giải.
[19]Xem Stiglitz (1987g) và Harris and Vickers (1987).
[20]Xem Dasgupta and Stiglitz (1988b).
[21]Hệ quả hơi ngạc nhiên của phân tích này song song với phân tích của Stiglitz (1987g) là cạnh tranh ex post càng mạnh thì cạnh tranh ex ant (tiềm năng) càng yếu. Các hãng sẽ không tham gia, ngay cả khi lợi nhuận hiện hành là cao, bởi vì chúng tin rằng căn cứ vào tính gay gắt của cạnh tranh ex post, những khoản lợi nhuận ấy mau chóng tan biến.
[22]Tất nhiên, nếu các hãng có cái nhìn thấy trước hoàn hảo, thì chi phí biên liên quan để xác định các quyết định sản xuất hiện hành bằng chi phí biên dài hạn của chúng, như thế ngay cả một sự khác biệt chút ít trong chi phí biên hiện hành về sản xuất có thể gây ra sự khác biệt lớn về mức sản xuất hiện hành.
[23]Xem Sah and Stiglitz (1987).
Các lí do khác để mô hình Arrow-Debreu không thể gồm đổi mới [1]
Trong thảo luận của chương này, tôi đã tập trung vào sự thật là thay đổi công nghệ nhất thiết gây ra tính không lồi, từ học qua làm hoặc từ các chi phí cố định lắng chìm gắn với các chi tiêu R&D những cái gây ra thiếu cạnh tranh, và rằng cạnh tranh phải là không hoàn hảo để các hãng nhận được lợi tức trên đầu tư của họ. Nhưng có các cách khác trong đó mô hình Arrow-Debreu không nhất quán một cách căn bản với cách thức trong đó thông tin, nói chung, và thay đổi công nghệ nói riêng, được mô hình hoá.
Khác biệt giữa sản xuất tri thức và sản xuất các mặt hàng khác
Sản xuất tri thức là khác sản xuất các mặt hàng bình thường theo nhiều cách quan trọng. Quan trọng là phải nhớ điều này bởi vì quá thường xuyên có xu hướng đi tối thiểu hoá những sự khác biệt này, để gợi ý rằng chúng ta có thể viết ra một hàm sản xuất cho tri thức, với các đầu vào tạo các đầu ra, và sau khi đã làm việc đó, chúng ta có thể xử lí sản xuất tri thức hệt như sản xuất bất kể mặt hàng khác nào - hệt như mô hình Arrow-Debreu đã mở rộng khung khổ tĩnh của phân tích cạnh tranh sang với thời gian, địa điểm, và rủi ro bằng cách đưa thêm các chỉ số trên và dưới vào các biến số- cũng thế những người chủ trương cách tiếp cận hàm sản xuất gợi ý rằng khung khổ có thể được mở rộng để bao gồm cả thay đổi công nghệ, bất luận nó xảy ra do học qua làm hoặc do phân bổ nguồn lực cho R&D. Nỗ lực nhằm mở rộng khung khổ tân cổ điển chuẩn sang cho các vấn đề đổi mới đã tỏ ra thậm chí lầm lạc hơn nỗ lực mở rộng nó sang cho các vấn đề bất trắc, nơi "tất cả" cái cần đã "chỉ là" sự tồn tại của một tập đầy đủ của các thị trường rủi ro.
Vượt quá các vấn đề cơ bản do tính không lồi gây ra, [2] có nhiều khó khăn chủ yếu khác, mà tôi thảo luận trong các đoạn sau: (1) sự thiếu vắng không thể tránh khỏi của một tập đầy đủ của các thị trường, (2) thiếu vắng thị trường thông tin, (3) các vấn đề gây ra bởi bản chất nhất thiết không đồng đều của đầu ra của R&D, và (4) bản chất hàng hoá công của tri thức.
Thiếu một tập đầy đủ của các thị trường
Vấn đề đầu tiên của các vấn đề này tôi đã chạm đến ở các chương trước: Không thể tồn tại một tập đầy đủ của các thị trường, và đặc biệt không thể tồn tại các thị trường cạnh tranh cho các mặt hàng chưa được nghĩ ra, chứ chẳng nói đến sáng chế ra. Một khi chúng ta thừa nhận tầm quan trọng của đổi mới, chúng ta thấy rõ rằng ý niệm về hệ thống giá hiện thân trong mô hình Arrow-Debreu đơn giản không thể cung cấp một mô tả thoả đáng cho các thị trường cạnh tranh. Quay lại chủ đề của chương trước, cạnh tranh gắn với R&D giống nhiều hơn với cạnh tranh thực tế, với các cuộc thi, hơn là đi chấp nhận ý niệm cạnh tranh hoàn hảo phản ánh trong các giả thiết chấp nhận giá của mô hình Arrow-Debreu. Nhưng có các lí do khác vì sao các thị trường thông tin không chắc tồn tại, hoặc khi chúng tồn tại, không chắc là cạnh tranh hoàn hảo, hoặc tỏ ra là bất kể thứ gì giống với các thị trường được hình dung trong mô hình Arrow-Debreu.
Thiếu tính đồng đều
Ở mức căn bản sản xuất tri thức khác sản xuất các mặt hàng qui ước những thứ có thể được mua bán trên các thị trường cạnh tranh: Mô hình chuẩn đòi hỏi các mặt hàng đồng đều. (Thiếu tính đồng đều, thí dụ, gây ra các vấn đề chọn lọc có hại được thảo luận ở các chương trước). Nhưng mỗi mẩu thông tin được sản xuất ra phải khác bất kể mẩu khác của thông tin được sản xuất ra (nếu khác đi thì nó không còn là tri thức mới).
Thông tin bất đối xứng và sự tồn tại của các thị trường
Thật vậy các thị trường tri thức là một trường hợp cực đoan của thị trường trong đó người mua và người bán có thông tin bất đối xứng, và các thị trường như vậy ứng xử theo các cách khác về chất lượng so với các thị trường với thông tin đối xứng. Người bán biết cái gì được bán (dù cho đôi khi người mua có thể am hiểu hơn về những ứng dụng mà thông tin có thể được đưa vào). Hiển nhiên người mua không biết mẩu thông tin mà người bán đang bán - nếu khác đi, thì chẳng phải mua nó. Vì trước khi được cho biết mẩu thông tin là gì, người mua không thể biết cái mà người bán nói- và vì sau khi được cho biết chính xác cái mà người bán phải bán, người mua chẳng có lí do gì để trả cho người bán, vì khi đó người mua đã nhận được nó rồi và có thể cho là (1) mình đã biết nó trước rồi hoặc (2) nếu đã biết cái mà người bán đang bán, thì sẽ chẳng trả gì cho nó - các thị trường thông tin/công nghệ không thể hoạt động theo cách mà các thị trường cạnh tranh cho các mặt hàng đồng đều hoạt động.
Đây hiển nhiên là một cách cực đoan để trình bày vấn đề: Các thị trường thông tin, dẫu không hoàn hảo, vẫn tồn tại. Trong thực tiễn, người bán đưa những chỉ dẫn nào đấy cho người mua về cái được bán nhưng không cung cấp mọi chi tiết. Các thị trường với danh tiếng/bán lặp lại tránh được một số khó khăn, nhưng, như đã lưu ý ở trên, các thị trường hoạt động trên cơ sở của các cơ chế danh tiếng là khác rõ rệt với các thị trường cạnh tranh chuẩn và, đặc biệt, khác với các loại thị trường mà mô hình Arrow-Debreu hoặc mô hình chủ nghĩa xã hội thị trường, mô tả tốt. [3]
Tri thức như một hàng hoá công cộng
Tri thức khác hàng hoá qui ước theo nhiều cách. Điều này làm cho ít có khả năng các thị trường tri thức tồn tại và chắc các thị trường như vậy, nếu tồn tại, khác rõ rệt với các thị trường hàng hoá qui ước. Có lẽ cách quan trọng nhất mà tri thức (thông tin) khác với hàng hoá qui ước là khó chiếm đoạt (mọi) lợi ích và thiếu sự mong muốn làm vậy. Trong một nghĩa, thông tin nói chung, và thay đổi công nghệ nói riêng, là các hàng hoá công cộng.
Các vấn đề chiếm hữu (Loại trừ)
Thông tin và thay đổi công nghệ, ở mức độ nào đó, có cả hai thuộc tính của các hàng hoá công cộng thuần tuý: Thứ nhất, thường không thể loại trừ những người khác khỏi hưởng thụ mọi lợi ích, và vì vậy không thể chiếm hữu một phần của lợi ích (tính chất bất khả loại trừ). Với sự can thiệp của chính phủ, thông qua hệ thống patent, một mức độ chiếm hữu nào đó là có thể. Khó khăn để loại trừ những người khác, và do đó để chiếm hữu lợi tức, đã được biết đến từ lâu. Những người dựng khung Hiến pháp Mĩ đã đưa một điều khoản cho patent, đặc biệt tạo các khuyến khích cho đổi mới mà thiếu các quyền sở hữu trí tuệ này thì sẽ bị giảm đi rất nhiều.
Các quyền sở hữu được ban cho patent, như đã được lưu ý, không tương ứng tốt với giá trị tăng thêm của đóng góp của nhà nghiên cứu, mà có thể liên quan nhiều hơn đến mức độ đổi mới ra sớm hơn, như kết quả của nỗ lực của nhà nghiên cứu, so với nếu khác đi. Nhưng ngoài đó ra, chúng chẳng bao giờ chiếm được- cũng chẳng bao giờ có thể chiếm được - mọi lợi ích xã hội gắn với sản xuất tri thức. Sự thực về một hãng thành công trong sản xuất thứ gì đó, truyền đạt cái trong nhiều trường hợp tỏ ra là mẩu thông tin cực kì giá trị: rằng thứ mà hãng ấy đang sản xuất là có thể sản xuất được. Thí dụ, biết rằng sợi tổng hợp có thể được sản xuất một cách có lợi về kinh tế, có một ảnh hưởng quan trọng đến lợi tức kì vọng của nghiên cứu tìm một sợi tổng hợp. Tổng quát hơn, hầu như luôn luôn có lan toả từ một đổi mới, cả trong nội bộ khu vực lẫn sang khu vực khác.
Không chỉ là lợi tức được chiếm hữu không hoàn hảo; cũng đúng là chi phí để chiếm hữu có thể rất cao, như câu chuyện về sáng chế máy tỉa hột bông của Eli Whitney, có lẽ là một trong những đổi mới quan trọng nhất ở thời ông, minh hoạ. Eli Whitney, với rất nhiều công sức, đã có khả năng thực thi quyền patent của mình, nhưng chi phí pháp lí - thấp hơn nhiều khi đó so với bây giờ- hầu như đã ngốn sạch lợi tức mà ông nhận được.
Tiêu thụ không kình địch
Các sáng chế có tính chất thứ hai của hàng hoá công cộng- đôi khi được nhắc đến như "tiêu thụ không kình địch". Không tốt đi loại trừ những người khác vì chi phí biên của người khác hưởng lợi là bằng không. Sự thực là tri thức có tính chất thứ hai này của hàng hoá công được biết thậm chí còn trước cả khái niệm hàng hoá công thuần tuý được đưa ra. Thomas Jeferson, viết gần như hai trăm năm trước, ví tri thức như ngọn nến, ngay cả khi nó thắp ngọn nến khác, không làm giảm cường độ ngọn lửa của nó.
Chủ nghĩa xã hội thị trường và đổi mới
Các đoạn trước đã giải thích không chỉ rằng mô hình Arrow-Debreu không bao hàm tiến bộ công nghệ nội sinh mà cũng giải thích vì sao khung khổ đó không thể được sửa đổi (ít nhất không thay đổi tinh thần cơ bản của mô hình) để bao hàm nó. Tôi đã mô tả các khuyến khích được tạo ra trong phạm vi nền kinh tế cho đổi mới, vì sao các khuyến khích đó nhìn chung là không hoàn hảo, và, như một kết quả, vì sao đã có sự thừa nhận là có quá ít chi tiêu cho R&D. Tôi cũng đã giải thích vì sao, trong các khu vực của nền kinh tế trong đó R&D là quan trọng, chắc có cạnh tranh không hoàn hảo trong thị trường sản phẩm.
Thoạt đầu, tất cả những điều này dường như củng cố lí lẽ cho chủ nghĩa xã hội thị trường. Đổi mới, như các dạng đầu tư khác, có thể nằm trực tiếp dưới sự kiểm soát của chính phủ. Chính phủ như vậy có thể sửa những khuyết tật thị trường hiển nhiên này. Thế nhưng, như đã gợi ý trước đây, sự thất bại của chủ nghĩa xã hội thị trường để đổi mới, trừ các lĩnh vực được lựa chọn, gợi ý rằng có vấn đề căn bản với "giải pháp" xã hội chủ nghĩa cho khuyết tật thị trường này.
Không hẳn là chính phủ không thể tổ chức và điều khiển R&D. Thành công của chính phủ Sôviết và Trung Quốc trong lĩnh vực nghiên cứu quân sự nhất định chắc gợi ý rằng nó có thể. Thực vậy, trong các chương trình nghiên cứu thành công nhất ở Phương Tây có những cái do chính phủ tổ chức: từ các chương trình nghiên cứu nông nghiệp, đã làm tăng năng suất đến vậy, không chỉ ở Hoa Kì, mà trên khắp thế giới, đến các chương trình vũ trụ; từ đề án Manhattan phát triển bom hạt nhân, đến chương trình bom thông minh mới đây, nhiều trong những tiến bộ quan trọng nhất đã xảy ra ở các phòng thí nghiệm của chính phủ hoặc do chính phủ tài trợ.
Sự thất bại hình như là thiếu các tín hiệu thị trường để hướng các nhà nghiên cứu chú ý vào những đổi mới làm giảm chi phí và cải thiện chất lượng sống. Khi có mục tiêu xã hội rõ - làm một bom hạt nhân trong một thời gian ngắn - các nguồn lực có thể được điều động và chỉ huy một cách hiệu quả. Nhưng nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều về nghĩ ra các ý tưởng và, quan trọng như thế, đánh giá chúng xem ra vượt quá tầm của chính phủ.
Một phần lí do hẳn liên quan đến các khuyến khích quan liêu: Khi một cơ quan chính phủ thử đánh giá một máy bay Airbus, hoặc một kiến nghị vận tải siêu âm, không phải tiền riêng của các nhà quan liêu bị lâm nguy. Các đề án này kéo dài và có quá nhiều bất trắc gắn với thành công của chúng đến mức không có cách nào để phạt những người duyệt dự án vì những sai lầm tệ hại (hay để thưởng vì những quyết định tốt). Thực ra, các vấn đề tương tự nảy sinh ở các hãng lớn trong đó các nhà quản lí không có phần sở hữu lớn. Tuy nhiên, sự thật là chính tương lai của hãng là cái bị lâm nguy thay đổi cách mà các dự án được đánh giá: Khi tất cả mọi người trả tiền cho dự án thông qua thuế, thường cứ như thể là chẳng ai chịu chi phí cả. Các triển vọng về tác động "ngoại lai" và "lan toả" hiện ra to lớn, ngay cả khi đối mặt với triển vọng tổn thất lớn lao. Điều này có thể do vai trò của các nhóm lợi ích, những người có khuyến khích để biện hộ cho những tác động ngoại lai và lan toả này. Trong trường hợp dự án do một hãng tiến hành, các nhóm lợi ích này chẳng bao giờ có cơ hội có một chỗ quanh bàn: Chỉ có lợi nhuận trực tiếp mới là mối quan tâm.
Ngoài điều đó ra, có sai lầm căn bản trong phân loại giữa các quyết định đầu tư (kể cả R&D) và quyết định sản xuất được hình dung bởi chủ nghĩa xã hội thị trường. Chủ nghĩa xã hội thị trường được giả thuyết về nền kinh tế với thông tin/truyền thông do hệ thống giá tạo ra. Tất cả thông tin thoả đáng, giữa những người tiêu thụ và nhà sản xuất và giữa các nhà sản xuất, được truyền đạt qua hệ thống giá. Nhưng với thay đổi công nghệ, điều này đơn giản không phải vậy! Các hãng cần tiếp xúc với khách hàng của họ, bất luận là các nhà sản xuất khác hay người tiêu dùng cuối cùng, để biết khách hàng của họ có thể thích sản phẩm loại nào. Chính đây có lẽ phê phán kế hoạch hoá tập trung của Hayek trở nên xác đáng nhất. Về cơ bản không thể truyền đạt mọi thông tin thoả đáng lên cho một nhà lập kế hoạch trung ương. Thực ra không có lựa chọ nào khác ngoài dạng nào đó của phi tập trung hoá và một dạng phi tập trung hoá căn bản hơn nhiều so với mô hình chủ nghĩa xã hội thị trường hình dung.
Điều này dẫn chúng ta đến vấn đề rộng hơn của phi tập trung hoá, và vấn đề các mô hình tân cổ điển về cạnh tranh phản ánh chính xác đến mức nào những thế mạnh, và hạn chế của phi tập trung hoá. Đây là chủ đề của chương tiếp theo.