Chủ Nghĩa Xã Hội Đi Về Đâu?

Lượt đọc: 81 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7. Cạnh tranh [3]

❊ ❊ ❊

Ít nhất từ thời Adam Smith, cạnh tranh đã đóng một vai trò trung tâm trong kinh tế học. Chính vì cạnh tranh mà các cá nhân và các hãng, theo đuổi tư lợi riêng của mình, lại phục vụ lợi ích chung, cứ như chúng được dẫn dắt bởi một bàn tay vô hình. Thế mà, tuy hầu hết các nhà kinh tế đều hoan nghênh cạnh tranh, khái niệm cạnh tranh có nhiều nghĩa khác nhau. Sự nhiệt tình của các nhà kinh tế đối với cạnh tranh vả lại không được chia sẻ một cách phổ biến đến vậy. Các nhà kinh doanh nói về cạnh tranh huỷ hoại. Và một cách tự nhiên, khi một đối thủ bị thua trong cạnh tranh, anh ta kêu là cạnh tranh không công bằng. Tương tự các ngành thua cuộc trong cạnh tranh với các hãng nước ngoài tìm kiếm bảo hộ, luôn luôn ca thán rằng các đối thủ của họ có lợi thế không công bằng nào đó.

Khi nhấn mạnh tầm quan trọng của cạnh tranh cho các sinh viên của mình, chúng ta có xu hướng dẫn chiếu đến một số các ý tưởng liên quan: đến các thị trường, những khuyến khích, và phi tập trung hoá. Các thị trường hoạt động một phần vì cạnh tranh, một phần vì những lợi thế có được từ phi tập trung hoá. Cạnh tranh là quan trọng bởi vì nó tạo các khuyến khích. Trong khi các khái niệm gắn mật thiết với nhau, chúng không được liên kết một cách không thể gỡ ra nổi: Một nhà độc quyền có thể tổ chức sản xuất theo cách phi tập trung, có thể có cạnh tranh ngay cả khi có tương đối ít hãng, và có những cách đa dạng để tạo khuyến khích.

Chúng ta cần hiểu rõ hơn vai trò riêng biệt của mỗi trong những khái niệm này, và chương này và chương tiếp theo được dành cho các vấn đề này. Tôi quan tâm cả đến các vai trò mà cạnh tranh và phi tập trung hoá có và có thể đóng trong nền kinh tế, lẫn đến các mô hình mà chúng ta dùng để nghiên cứu cạnh tranh và phi tập trung hoá và để giúp định hình tư duy - và các khuyến nghị chính sách của chúng ta. Ở đây tôi lo ngại rằng mô hình tân cổ điển chuẩn - mô hình cạnh tranh được phản ánh trong hệ thuyết cạnh tranh hoàn hảo- không phản ánh thoả đáng bản chất của cạnh tranh và vai trò mà nó thực hiện trong nền kinh tế của chúng ta. Rộng hơn, tôi muốn thảo luận ba định đề:

1. Trong khi cạnh tranh có những ý nghĩa đa dạng, các nghĩa thông thường là khá khác với nghĩa được thâu tóm trong mô hình "cạnh tranh hoàn hảo" của lí thuyết tân cổ điển.

2. Cạnh tranh đóng một vai trò sống còn, nhưng là một vai trò khá khác so với vai trò được phản ánh trong mô hình Arrow-Debreu chuẩn.

3. Khi thông tin là không hoàn hảo - hoặc trong các khu vực của nền kinh tế nơi đổi mới sáng tạo là quan trọng - các thị trường về cơ bản sẽ luôn là cạnh tranh không hoàn hảo. (Chúng ta hoãn việc thảo luận về đổi mới sáng tạo và các hàm ý của nó đối với cuộc tranh luận về thị trường/chủ nghĩa xã hội thị trường cho đến chương tiếp theo).

Tôi kết thúc chương với thảo luận về những ngụ ý của phân tích đối với tranh luận về chủ nghĩa xã hội thị trường và chính sách cạnh tranh, đặc biệt trong nội bộ các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trước đây. Tôi sẽ lập luận, một mặt, rằng chủ nghĩa xã hội thị trường không chỉ là phương thuốc duy nhất, hoặc tốt nhất, cho các vấn đề do cạnh tranh không hoàn hảo gây ra và, mặt khác, rằng các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trước đây phải làm việc gian khổ để thiết lập các chính sách cạnh tranh thích hợp.

Những khái niệm và vai trò của cạnh tranh

Trong nỗ lực của mình để hiểu các điều kiện mà với chúng phỏng đoán về bàn tay vô hình của Adam Smith là đúng, các nhà kinh tế học đã đưa ra một khái niệm chính xác về cạnh tranh -cạnh tranh hoàn hảo- mà đặc tính quan trọng của nó (cho mục đích của chúng ta) là tất cả các hãng đối mặt với một đường cầu ngang. Có nhiều hãng đến mức mỗi hãng tin rằng, nếu nó tăng giá thậm chí chỉ một chút, nó sẽ mất hết khách hàng.

Thật mỉa mai là trong trường hợp giới hạn này của cạnh tranh, các nhà kinh tế học đã hoang phí bao nhiêu tâm trí hơn một nửa thế kỉ qua, hầu hết các đặc điểm của cạnh tranh- như chúng xuất hiện trong cách sử dụng thông thường của thuật ngữ - đều vắng bóng. Trong mô hình Arrow-Debreu (mô hình hình thức hoá khái niệm cạnh tranh hoàn hảo) [4] không có cạnh tranh để tạo ra các mặt hàng rẻ hơn hoặc tạo ra các sản phẩm tốt hơn. Không có chính sách công ti để mưu mẹo hơn các đối thủ. Chắc hẳn, lợi nhuận được tối đa hoá nếu các hãng tối thiểu hoá các chi phí sản xuất. Nhưng để kiếm được khách hàng - đến mức nhiều như hãng có thể muốn - tất cả cái hãng cần là đòi giá thấp hơn "giá thị trường" một chút xíu.

Ít có thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Trong hầu hết các thị trường các hãng nhận thấy mình đối mặt với các đường cầu dốc xuống. Chắc chắn, thường thường có cạnh tranh nào đấy. Có tương đối ít thị trường trong đó có một hãng duy nhất, hãng độc quyền, hoặc trong đó các hãng thông đồng một cách hoàn toàn (một cartel). Như thế hầu hết các thị trường được đặc trưng bởi cạnh tranh không hoàn hảo, cái có thể có hình thức đa dạng: độc quyền nhóm, cạnh tranh kiểu Schumpeter - nhấn mạnh cạnh tranh vì các sản phẩm mới và vì R&D nói rộng hơn- và cạnh tranh độc quyền. Mỗi hình thức này đến lượt nó lại có thể có các hình thù đa dạng. Cạnh tranh độc quyền, thí dụ, có thể nảy sinh từ sự làm khác biệt sản phẩm thông thường (thí dụ, do các địa điểm khác nhau gây ra) hoặc từ thông tin không hoàn hảo và tìm kiếm tốn kém.

Lí thuyết về các cuộc thi

Một cách dùng khái niệm cạnh tranh khá gần với cách dùng thông thường của thuật ngữ được phản ánh trong lí thuyết về các cuộc thi mới được phát triển gần đây. Lí thuyết cuộc thi nhấn mạnh rằng trong nhiều tình huống kinh tế, phần thưởng dựa trên thành tích tương đối chứ không phải thành tích tuyệt đối. [5] Thí dụ hiển nhiên nhất của một cuộc thi là cuộc đua sáng chế (patent), nơi hãng đầu tiên tìm ra sản phẩm (nộp đơn) là hãng nhận được patent. Nhưng có nhiều thí dụ khác nữa: Những người bán hàng thường được thưởng trên cơ sở họ hoàn thành tốt ra sao so tương đối với những người khác; thường có cuộc thi ngầm định giữa các phó chủ tịch của một hãng xem ai sẽ được chọn làm chủ tịch. Thành tích liên tục dưới mức trung bình được thưởng bằng bị đuổi việc. Thật vậy cạnh tranh Bertrand đối với các mặt hàng, những mặt hàng thay thế nhau hoàn hảo, có lợi nhuận trên đơn vị của hãng phụ thuộc vào hiệu số giữa chi phí sản xuất biên của nhà sản xuất hiệu quả nhất và nhà sản xuất hiệu quả thứ nhì.

Các cuộc thi và các khuyến khích

Cạnh tranh ở dạng này có một vai trò kinh tế quan trọng. Có thể chứng tỏ là hữu hiệu để tạo khuyến khích: Lợi tức biên đối với nỗ lực có thể rất cao, mà khoản rủi ro phải chịu có thể là hạn chế. [6] (Tổng quát hơn, các cuộc thi cho phép thiết kế các sơ đồ khuyến khích cho phép tách các khuyến khích khỏi lợi tức còn lại - và theo nghĩa đó, giữa các khuyến khích và gánh chịu rủi ro).

Các cuộc thi khi thông tin hạn chế

Các cuộc thi có thể là đặc biệt quan trọng trong các tình huống khi thông tin là hạn chế, và do đó ở nơi hãng thấy khó điều chỉnh các khuyến khích theo cách thích hợp. Khi nhiệm vụ là dễ, phải giảm phần thưởng cho thực hiện nhiệm vụ một cách tương xứng, nhưng người sử dụng lao động thường thiếu thông tin về độ khó của nhiệm vụ. Xem cái gì xảy ra trong một cuộc thi đơn giản với hai người chơi nếu việc làm một dụng cụ hay bán một mặt hàng đột nhiên trở nên dễ hơn. Nếu một người chơi giữ nỗ lực không đổi, người khác có thể nhận ra rằng, với ít chi phí, anh ta có thể làm được nhiều hơn, và tăng khả năng thắng cuộc. Như thế người đó cố gắng hơn. Đối thủ nhận ra điều này và cũng nỗ lực hơn. Trong cân bằng cả hai đều cố gắng hơn. Ứng xử của họ đã được điều chỉnh một cách thích hợp với hoàn cảnh kinh tế thay đổi. [7]

Không có cuộc thi chúng ta thường không biết liệu một hãng có hoạt động tốt hay không. Chính bằng chứng rằng các công ti ôtô Nhật có thể chế tạo ôtô (với chất lượng có thể so sánh được) tại Hoa Kì với giá thành thấp hơn nhiều là cái cuối cùng đã thuyết phục các cổ đông của GM rằng ban quản lí của công ti đã làm cái gì đó sai. Chính bằng chứng rằng MCI có thể tạo ra dịch vụ điện thoại đường dài với giá thấp hơn AT&T đã là lời buộc tội dẫn đến đánh giá lại dịch vụ điện thoại ở Hoa Kì. Thông tin do cạnh tranh cung cấp là thông tin quan trọng để phán xét một hãng làm tốt ra sao. Thông tin này hữu ích không chỉ cho người ngoài, mà cho bản thân hãng. Liệu hãng phải nỗ lực hơn? Nó có làm tốt như có thể không? Cần một sự so sánh chuẩn để trả lời các câu hỏi này. Cuối cùng, các cuộc thi tạo một cơ sở cho chọn lựa, cho việc biết chắc ai "giỏi hơn", và vì thế phải chọn ai để cất nhắc hoặc để giao cho nhiều nguồn lực hơn.

Như thế các cuộc thi tạo thuận lợi cho hai chức năng kinh tế trung tâm- chọn lựa và khuyến khích. Trong khi cạnh tranh hoàn hảo có thể chỉ xuất hiện trong các thị trường có rất nhiều hãng, cuộc đua có thể xảy ra trong các thị trường có nhiều hoặc có vài người tham gia. Cuộc thi thâu tóm sát hơn tinh thần tranh đua xảy ra trong các thị trường được phân loại một cách truyền thống là cạnh tranh không hoàn hảo. Thường trong các thị trường với hai hoặc ba hãng, họ cạnh tranh mãnh liệt. Nhưng cạnh tranh không có dạng cạnh tranh giá, được nhấn mạnh bởi lí thuyết kinh tế chuẩn. Đúng hơn nó là dạng cạnh tranh vì thay đổi công nghệ và chất lượng, chế tạo các sản phẩm mới và tốt hơn, và kèm các dịch vụ mới và tốt hơn với các sản phẩm.

Các cuộc thi và hiệu quả kinh tế

Trong khi có sự đồng thuận rộng rãi giữa các nhà kinh tế học rằng cạnh tranh ở dạng này thúc đẩy hiệu quả kinh tế, hiện thời cơ sở giải tích vẫn chưa vững như trong trường hợp cạnh tranh hoàn hảo. Chúng ta biết rằng có những phi hiệu quả rõ rệt gắn với độc quyền. Nhưng không có các kết quả đơn giản cho cạnh tranh không hoàn hảo. Dưới những hoàn cảnh nhất định, thí dụ, các cuộc đua patent có thể gây ra chi tiêu quá cho R&D; các hãng có thể đua quá nhanh để giật giải. Lợi tức xã hội đơn thuần là tăng giá trị chiết khấu hiện tại của thặng dư do có sáng chế sớm hơn so với nếu khác đi; lợi tức tư nhân từ chi phí tăng là xác suất tăng của việc thắng cuộc đua patent, nhân với toàn bộ giá trị của patent.

Các vai trò khác của cạnh tranh

Các năm gần đây những lí lẽ cho cạnh tranh đã được mở rộng quá địa hạt của các mặt hàng qui ước sang các lĩnh vực mới, mạnh mẽ nhất sang giáo dục. Quan điểm ngày càng tăng là cạnh tranh giữa các trường tư và công sẽ tạo ra một nền giáo dục có chất lượng cao hơn với giá thành thấp hơn. Các trường công có lợi, khi chúng cố gắng cạnh tranh với các trường tư. Cách sử dụng khái niệm cạnh tranh này đã đi thật xa khỏi cái gắn với mô hình "cạnh tranh hoàn hảo". Các giả thiết chuẩn cần thiết cho mô hình đó không được thoả mãn tốt trong giáo dục. Mô hình chuẩn, thí dụ, giả thiết những người tiêu dùng am hiểu hoàn toàn mặt hàng mà họ mua. Với giáo dục, cha mẹ ra quyết định nhân danh con cái họ, và cha mẹ điển hình chỉ có thông tin hạn chế. Hiếm có số đông các nhà sản xuất (trường) trong một địa phương cho trước - chắc chắn không đủ để biện hộ cho giả thiết chấp nhận "giá". Sự phân biệt sản phẩm là mấu chốt - các trường khác nhau nhấn mạnh những thứ khác nhau. Nhưng mà có nhiều lí lẽ gợi ý rằng cạnh tranh có thể quan trọng chính xác vì các thị trường không hoạt động một cách hoàn hảo. Có nhiều chiều cho điều này, và tôi chỉ có thể đụng đến một vài chiều quan trọng hơn. Albert Hirschman (1970) đã nhấn mạnh vai trò về rút lui, tiếng nói, và sự trung thành như các cơ chế "kiểm soát"- những cách mà người tiêu dùng có thể liên lạc với các nhà sản xuất. Cạnh tranh làm cho rút lui là một lựa chọn khả dĩ, một cách hữu hiệu để truyền đạt sự bất mãn. Khi các cá nhân chọn một trường, họ cảm thấy hết lòng hơn với nó, và điều này làm cho họ chắc sẽ tham gia - thực thi lựa chọn "tiếng nói". Họ chắc sẽ cung cấp các hàng hoá công gắn với giám sát. (Có khía cạnh hàng hoá công của quản lí bất kể dịch vụ công nào).

Điều này dẫn tôi đến biên giới của các khía cạnh phi kinh tế của cạnh tranh. Ở đây cạnh tranh có cả mặt tích cực lẫn tiêu cực. Cạnh tranh thường đóng vai trò tích cực trong tăng cường sự gắn bó nhóm. Sự gắn bó nhóm có các tác động khuyến khích tích cực và tạo thuận tiện cho hợp tác giữa các thành viên của nhóm. Tầm quan trọng của các khía cạnh cơ bản này của cạnh tranh là một trong những lí do chúng ta động viên con em tham gia vào các đội thể thao, và vì sao các hãng thường tổ chức các hoạt động sản xuất quanh các nhóm thi đua nhau.

Những tác động tiêu cực của cạnh tranh

Nhưng cạnh tranh đôi khi có hướng huỷ hoại

Làm tăng chi phí của đối thủ

Một loại phổ biến là các tình huống một bên khá hơn bằng cách làm cho bên kia hoạt động tồi hơn. Điều này được gọi là "làm tăng chi phí của đối thủ". Thí dụ điển hình là các sinh viên trường luật xé các trang chủ chốt của sách ở thư viện để cản trở việc học tập của các đối thủ. Trong các môi trường cạnh tranh không hoàn hảo các hãng thường tiến hành những tập quán làm tăng chi phí của các đối thủ: Lợi nhuận có thể được tăng cường bằng cách làm vậy hơn là giảm chi phí riêng của họ. [8]

Tiêu tán đặc lợi

Có các khung cảnh khác trong đó cạnh tranh không phục vụ cho các mục đích xã hội: Các nguồn lực bị tiêu tán trong cạnh tranh vì đặc lợi. Tuy đã có nhiều thảo luận về tìm kiếm đặc lợi trong khu vực công, khi các nhóm lợi ích đặc biệt cạnh tranh để kiếm lợi từ sự hào phóng công cộng, hoặc thông qua chi tiêu trực tiếp hoặc, giấu kín hơn, thông qua bảo hộ khỏi cạnh tranh, cạnh tranh vì đặc lợi cũng xảy ra trong khu vực tư nhân. Thường có sự mập mờ, thí dụ, liên quan đến mức độ mà cạnh tranh giữa các nhà quản lí để làm cho hãng trở thành một tổ chức hữu hiệu hơn, hay để tăng cường cơ hội chia đặc lợi của nhà quản lí, khoản thường dồn cho các nhà lãnh đạo chóp bu (đặc biệt trong các công ti lớn ở Mĩ).

Sự mâu thuẫn giữa cạnh tranh và hợp tác

Cuối cùng, thường có xung đột giữa cạnh tranh và hợp tác. Tất nhiên sự phân biệt giữa hợp tác và sự câu kết có thể thường là tế nhị: Sự câu kết, thông đồng chẳng hơn gì sự hợp tác để theo đuổi các lợi ích chung của các thành viên của một ngành làm tổn hại những người khác. Khi có các hiệu ứng lan toả (ngoại sinh) giữa các hoạt động của các hãng trong một ngành, thì có khả năng có lợi ích xã hội và tư nhân thật sự từ hợp tác. Điều này là hiển nhiên nhất, thí dụ, trong các liên doanh nghiên cứu (sẽ được thảo luận ngắn gọn muộn hơn). Vì các lợi ích của nghiên cứu hiếm khi được đánh giá đầy đủ bởi nhà phát minh, thường có lợi ích tích cực dồn cho các hãng khác trong nghành từ một phát minh của một hãng. Thiếu nghiên cứu hợp tác, có thể không đủ kinh phí. Song các chương trình và chính sách tạo thuận lợi cho ứng xử hợp tác này đồng thời luôn có rủi ro nguy hiểm tạo thuận lợi cho ứng xử câu kết ít xây dựng hơn.

Nhận thức thay đổi về vai trò của cạnh tranh

Như tôi đã lưu ý ở đầu chương này, các nhà kinh tế học từ lâu đã nhấn mạnh tầm quan trọng của cạnh tranh trong nền kinh tế. Phân tích của đoạn trước thống nhất với kết luận truyền thống: Cạnh tranh có đóng một số vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Nhưng thảo luận của tôi gợi ý không chỉ là cách sử dụng thông thường của thuật ngữ cạnh tranh không được phản ánh tốt trong hệ thuyết kinh tế học truyền thống về "cạnh tranh hoàn hảo" mà là mô hình cạnh tranh hoàn hảo truyền thống có thể chỉ cho chúng ta những thấu hiểu hạn chế về các vai trò của cạnh tranh. Quan trọng là phải hiểu vai trò và bản chất của cạnh tranh trong các nền kinh tế hiện đại, cả để phát triển các chính sách thích hợp của chính phủ đối với cạnh tranh, lẫn để biết chắc các triển vọng của chủ nghĩa xã hội thị trường. Một trong những động cơ đứng sau chủ nghĩa xã hội thị trường đã là lòng tin rằng, trong các nền kinh tế công nghiệp hiện đại, chẳng gì có thể đạt tới lí tưởng cạnh tranh hoàn hảo cả. Một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thị trường có thể mô phỏng ứng xử của nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo lí tưởng hoá - cái không thể đạt được dưới chủ nghĩa tư bản. Hiểu liệu điều này có thể đạt được, và rộng hơn, liệu đạt điều này sẽ là đủ để đạt tới những ưu việt của một nền kinh tế thị trường cạnh tranh, phụ thuộc vào sự hiểu biết thấu đáo bản chất và vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế.

Chủ đề về vai trò của cạnh tranh đã là một trong những chủ đề tranh luận suốt hai mươi năm qua. Trong phần này của chương, tôi xem lại ngắn gọn cuộc tranh luận này, mà tôi chia làm ba giai đoạn.

Lí do kinh tế căn bản ban đầu cho chính sách cạnh tranh

Giai đoạn đầu này có thể được hình dung như khởi đầu bởi Adam Smith, người đã lập luận rằng cạnh tranh đảm bảo rằng mỗi hãng và mỗi cá nhân, theo đuổi tư lợi, lại thực sự thúc đẩy lợi ích công. Đã cần gần hai thế kỉ cho nghề kinh tế học để dịch cái nhìn thấu đáo của Adam Smith thành một định lí nghiêm ngặt. Định lí đó, định lí căn bản thứ nhất của kinh tế học phúc lợi mà chúng ta đã tập trung vào ở chương 3, chứng tỏ rằng dưới các thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nền kinh tế có hiệu quả Pareto- tức là, không ai có thể khá giả hơn mà không làm ai đó kém đi.

Tính hiệu quả kinh tế (theo nghĩa Pareto) đòi hỏi nhiều hơn một nghĩa lỏng lẻo về cạnh tranh: Nó đòi hỏi có nhiều hãng đến mức mỗi hãng tin rằng nó không có ảnh hưởng đến giá thị trường- nó đối mặt một đường cầu nằm ngang cho sản phẩm của nó. [9] Sau đó có lí do cho can thiệp của chính phủ: Nếu vì lí do này hay lí do khác, các thị trường không là cạnh tranh, chính phủ cần can thiệp để đảm bảo rằng chúng là. Không có can thiệp như vậy, thì có một "khuyết tật thị trường". Vai trò kinh tế của chính phủ là sửa các khuyết tật thị trường.

Lí thuyết cung cấp một tập các điều kiện mà dưới nó chúng ta có thể không kì vọng thấy cạnh tranh: khi có tính kinh tế theo qui mô, với cường độ đủ lớn, thì cân bằng thị trường bắt phải có số hạn chế các hãng. Trong các hoàn cảnh trong đó cạnh tranh bị hạn chế bởi tính kinh tế theo qui mô, chính sách cạnh tranh không phải là cách để đạt hiệu quả kinh tế. Không có cách nào để có cả cạnh tranh lẫn tận dụng đầy đủ ưu điểm của kinh tế theo qui mô. Như thế cần một hình thức can thiệp khác nào đấy, như điều tiết hay sở hữu của chính phủ (như dưới chủ nghĩa xã hội thị trường).

Theo một nghĩa, trong khi lí thuyết khuyết tật thị trường tạo lí do căn bản cho can thiệp chính phủ- để duy trì cạnh tranh- các hoàn cảnh duy nhất mà dưới nó lí thuyết gợi ý rằng sẽ có cạnh tranh hoàn hảo là hoàn cảnh trong đó chính sách cạnh tranh không phải là phương thuốc thích đáng. Dòng lập luận này dường như là một đòn chí tử cho cơ sở hợp lí của khuyết tật thị trường đối với chính sách cạnh tranh nhưng có vẻ đã củng cố việc sở hữu của chính phủ, như dưới chủ nghĩa xã hội thị trường.

Vì sao chính sách cạnh tranh là không cần thiết

Cơ sở trí tuệ hợp lí cho chính sách cạnh tranh đã lùi tiếp trong giai đoạn hai của tranh luận, đồng thời làm xói mòn lí lẽ cho chủ nghĩa xã hội thị trường, đã dựa trên thất bại của cạnh tranh như một cơ sở hợp lí cho chủ nghĩa xã hội thị trường. Trong giai đoạn hai của tranh luận, đã nêu hai điều. Thứ nhất, những tổn thất do độc quyền là nhỏ hơn nhiều so với hình dung trước kia, và thứ hai, không đòi hỏi cạnh tranh thực để đạt các kết quả cạnh tranh.

Tam giác Harberger

Điểm đầu được Arnold Harberger thuyết phục mạnh mẽ, người đã cố thử lượng hoá tổn thất phúc lợi do giá cao mà độc quyền gây ra. Ông đã chứng tỏ rằng hầu hết những tác động của thi hành độc quyền đơn thuần là chuyển giao thu nhập: Nhà độc quyền được lợi làm hại đến khách hàng. Tính phi hiệu quả kinh tế (được đo bằng khoản mất trắng, cái gọi là tam giác Harberger) [10] nhiều nhất lên không quá vài phần trăm GNP. Hàm ý là rõ ràng: Nếu về cơ bản tất cả chỉ là vấn đề tái phân phối, thì có cách khác để giải quyết. Không cần chính sách cạnh tranh, và chắc chắn không cần đến tái tổ chức ồ ạt nền kinh tế như chủ nghĩa xã hội thị trường bắt phải.

Các thị trường có thể tranh đua

Tuyến tấn công thứ hai gợi ý rằng có thể bản thân Harberger đã đánh giá quá các tổn thất từ độc quyền. Các nhà độc quyền có thể không có khả năng tăng giá trên mức cạnh tranh - họ có thể không được hưởng lợi nhuận độc quyền; nếu họ thử làm vậy, thì hãng khác nào đấy có thể nhảy vào để thử chiếm lấy lợi nhuận. Cái quan trọng theo cách nhìn này không phải là mức cạnh tranh thực mà là sự hiện diện của cạnh tranh tiềm tàng. Những ý tưởng này, trở nên phổ biến vào cuối các năm 1970 và đầu các năm 1980 dưới cái tên được nhắc đến như "học thuyết có thể tranh đua", [11] có thể lần vết ít nhất đến Demsetz (1968) và trường phái Chicago.

Phân tích của họ dựa trên cơ sở rằng không có "cản trở tham gia" thực tế nào. Thiếu những rào cản như vậy, cạnh tranh, bất luận thực tế hay tiềm tàng, đảm bảo đẩy lợi nhuận xuống bằng không, ngay cả nếu chỉ có một hãng trong thị trường. Những người đề xướng học thuyết có thể tranh đua lập luận rằng cân bằng có thể xảy ra tại điểm cắt của đường cầu và đường giá thành trung bình, giá thấp nhất mà đầu ra có thể được sản xuất mà không có trợ cấp của chính phủ. Bất kể hãng nào muốn đòi giá cao hơn sẽ bị một hãng mới tham gia cắt cầu, bằng cách đòi giá thấp hơn, lấy hết khách hàng, và kiếm được một khoản lợi nhuận. [12] Nếu luận điểm này là đúng, thì nó sẽ có nghĩa rằng chúng ta có thể thôi khỏi phải lo về chủ nghĩa tư bản độc quyền. Có thể có các độc quyền, nhưng cạnh tranh tiềm tàng đảm bảo rằng các độc quyền này không thể hành sự độc quyền! Với "các thị trường có thể tranh đua" (như những thị trường nơi cạnh tranh tiềm tàng được dùng để đưa các hãng vào kỉ luật) chính sách cạnh tranh đơn thuần là không cần thiết. Hiển nhiên những lo ngại mang tính dân tuý, khởi đầu dẫn đến đòi hỏi chính sách kinh tế, biểu hiện sự hiểu sai về cách hoạt động của các nền kinh tế thị trường: Standard Oil đơn giản không thể tăng giá của nó quá mức chi phí trung bình, mà không hấp dẫn đủ người tham gia để buộc giá xuống. Cả hai mối lo về các hệ quả phân phối và hiệu quả của sức mạnh kinh tế, ở dạng các độc quyền, là lầm lẫn. Bộ mặt tốt nhất có thể phủ lên các biện pháp dân tuý là chúng phản ánh một mức quá nóng vội: Các lực lượng thị trường không hoạt động tức thời. Điều này có nghĩa là nhà độc quyền có thể hành sự độc quyền tạm thời, nhưng không dài hạn, và có lẽ giá trị chiết khấu hiện tại của tổn thất hiệu quả (hoặc thậm chí các tác động phân phối) phải có thể được bỏ qua.

Cách cư xử

Các chính sách cạnh tranh ở Hoa Kì đã tập trung cả vào cơ cấu lẫn cách cư xử, vào cả số lượng hãng (hoặc hãng tiềm năng) lẫn các tập quán cụ thể được thiết kế nhằm, hoặc có thể có ảnh hưởng, làm giảm cạnh tranh. Như vậy các tập quán như ấn định giá, định giá diệt nhau, đại lí độc quyền, địa hạt độc quyền, và những kiềm chế theo chiều dọc khác được xem với con mắt ngờ vực, nếu không nói toạc ra là bị cấm.

Nhưng các lí thuyết nhấn mạnh sức mạnh của các lực lượng cạnh tranh trong nền kinh tế lập luận rằng các tập quán kiềm chế chỉ được sử dụng nếu gây ra lợi ích hiệu quả. Thiếu những lợi ích hiệu quả như vậy, thì hãng khác nào đấy, không sử dụng các tập quán phi hiệu quả này, sẽ gia nhập thị trường và hất các dàn xếp phi hiệu quả đi. Trong các vụ kiện đã trở thành tập quán chuẩn đối với các luật sư bào chữa và các nhà kinh tế học được họ thuê là đi dẫn chiếu, và tìm kiếm, những lợi ích hiệu quả này.

Thí dụ, Anheuser Busch (người nấu bia Budweiser) đã bảo vệ tập quán sử dụng cái, thực ra là, các địa hạt độc quyền cho các nhà phân phối bằng cách viện dẫn ra những lợi ích của một hệ thống như vậy là để giữ cho bia lon được tươi. Nếu hai nhà phân phối cung cấp bia Budweiser cho cùng một cửa hàng bán lẻ, thì cả hai đều không có khuyến khích để cung cấp bia tươi. Có lẽ người bán lẻ bán bia cũ sẽ không có khả năng biết nhà phân phối nào đã giao bia cũ (không tươi). Hơn nữa, khi có một nhà phân phối duy nhất giao bia cho cửa hiệu, thì nhà phân phối có khuyến khích để giám sát cửa hiệu bán lẻ để đảm bảo rằng bia trên quầy được luân phiên sao cho không khách hàng nào mua phải bia cũ. Nhà phân phối duy nhất biết rằng nếu các khách hàng mua phải bia chua, họ sẽ mua ít hơn, và doanh thu giảm. Những người bán lẻ có khuyến khích không đủ, vì nếu khách hàng đã mua phải bia chua, thì một phần chi phí của mất doanh thu do nhà phân phối chịu. [13] Nhưng nếu với hai nhà phân phối, họ "chia nhau" tổn thất, và chẳng ai có khuyến khích đầy đủ cả. Tóm lại, có một vấn đề hàng hoá công cộng có thể được loại bỏ, hoặc chí ít làm giảm, nếu có một nhà phân phối duy nhất.

Liệu độ ôi có là quan trọng đối với bia lon? Nếm mò [14] không cho thấy rằng khách hàng có thể cảm nhận sự khác biệt. Nhưng Anheuser Busch lập luận rằng nếm mò không phải là trắc nghiệm đúng. Chắc chắn, nếu độ tươi là quan trọng (như với sữa, hoặc thậm chí với phim chụp ảnh), thì có cách dễ dàng để đảm bảo độ tươi: Đơn giản in lên lon ngày sản xuất. Nhưng Anheuser Busch lí luận rằng điều này chỉ làm rối trí khách hàng.

Những lí lẽ này xem ra có vẻ gượng gạo, nhưng cấp tiến, và toà án đã thấy chúng thuyết phục, và tôn trọng "phán xét kinh doanh" của hãng. Tôi không muốn nhấn sâu vào tính hợp lí hay phi lí của những lí lẽ như vậy; đúng hơn, tôi đơn giản chỉ nhấn mạnh rằng giả thuyết thị trường cạnh tranh lập luận rằng nếu chúng ta thấy các tập quán như vậy được duy trì, thì chúng phải phản ánh dạng nào đấy của lợi ích hiệu quả.

Xét từ khía cạnh này, chính sách cạnh tranh - bất luận nhằm vào cơ cấu hay cách cư xử- là không cần thiết. Nếu giả như các lí lẽ này là đúng ngay cả với sự hiện diện của tính không lồi khi chỉ có một hãng sản xuất trong thị trường, cạnh tranh tiềm tàng đảm bảo kết quả có hiệu lực, và nếu các lí lẽ đó có thể được mở rộng cho loại tính không lồi đặc biệt gắn với thay đổi kĩ thuật (xem dưới đây), thì cuối cùng có thể chúng ta có một nền tảng trí tuệ cho lòng tin vào tính hiệu quả của các nền kinh tế công nghiệp tư bản chủ nghĩa (chí ít nếu chúng ta bỏ qua thông tin không hoàn hảo).

Nhưng những phê bình chính sách cạnh tranh còn đi xa hơn: Những chính sách như vậy chẳng tốt lành gì, vì lo ngại rằng chúng sẽ bị khởi kiện chống trust (nhầm) có thể ngăn cấm các hãng tận dụng đầy đủ ưu điểm của kinh tế theo qui mô hoặc phạm vi hoặc thậm chí sử dụng các tập quán tăng hiệu quả những biện pháp có thể được diễn giải như kiềm chế. Những quyết định mang tính ngẫu nhiên của toà mở ra những cơ hội cho hoạt động tìm kiếm đặc lợi của các hãng nhỏ (hay luật sư của họ), yêu sách (sai) rằng họ bị thiệt hại bởi các tập quán chống cạnh tranh của những đối thủ lớn hơn của họ. Như thế chính sách cạnh tranh là tồi hơn không cần thiết - không tốt lành gì; đúng hơn, thực tế là có hại. [15]

Điều này đã dẫn một số chuyên gia (thí dụ, Judge Posner) đến lí luận cho quy tắc bản chất chứ không phải quy tắc lí trí trong đánh giá các tập quán kiềm chế. Tức là, các tập quán như vậy phải, tự nó, là hợp pháp.

Những ngụ ý căn bản

Kết luận của giai đoạn hai của tranh luận về cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là đáng chú ý: Không chỉ các chính sách cạnh tranh do thiếu cạnh tranh gây ra là không cần thiết, mà cả loại tái cơ cấu cơ bản của nền kinh tế được hình dung bởi các nhà xã hội chủ nghĩa thị trường cũng vậy.

Quan điểm mới

Suốt thập kỉ qua, một quan điểm mới nổi lên. Quan điểm mới này không chỉ cung cấp một phê phán học thuyết có thể tranh đua (hoặc rộng hơn, phê phán trường phái Chicago) [16] mà lần đầu tiên cung cấp một lí do căn bản nhất quán cho chính sách chống trust. Cách nhìn này tấn công cả những kết luận lẫn những lí lẽ của nó. Như Partha Dasgupta và tôi đã bày tỏ trong một bài báo trước đây (1988a), ám chỉ sự ủng hộ mạnh mẽ mà các lí thuyết như vậy nhận được từ những người muốn được giải phóng khỏi những ràng buộc do các luật chống trust đưa ra,

Hi vọng rằng một lí thuyết về cạnh tranh tiềm tàng sẽ chí ít có khả năng mở rộng kinh tế học phúc lợi sang cho các nền kinh tế công nghiệp hiện đại, tuy có thể đã được tài trợ tốt, đã không được thiết lập tốt (tr. 570).

Các giả thuyết cơ bản

Quan điểm mới dựa trên ba giả thuyết:

1. Có đủ loại bất hoàn hảo thị trường gây ra các rào cản tham gia và cạnh tranh hạn chế.

2. Trong các môi trường cạnh tranh không hoàn hảo các hãng tiến hành đủ loại tập quán hoặc tạo thuận lợi cho cấu kết hoặc hạn chế cạnh tranh; những tập quán như vậy không những gây ra giá cao, mà cũng làm méo mó nền kinh tế và dẫn đến những phi hiệu quả kinh tế.

3. Những tổn thất gắn với độc quyền có thể lớn hơn nhiều so với gợi ý của các tam giác phúc lợi Harberger.

Quan điểm này lập luận rằng không những Adam Smith đã đúng, khi ông viết rằng "Những người trong cùng một ngành kinh doanh hiếm khi gặp nhau, ngay cả để vui vẻ và giải trí, mà cuộc nói chuyện có kết cục là một âm mưu chống dân chúng, hoặc là thủ đoạn nâng giá nào đấy", [17] mà cả rằng những nỗ lực chống cạnh tranh này có những ảnh hưởng thực sự - chúng không đơn giản bị xoá bỏ bởi cạnh tranh thực sự hay tiềm tàng.

Cạnh tranh bị hạn chế: Chứng cớ

Quan điểm mới bắt đầu với quan sát rằng cạnh tranh ở khu vực công nghiệp là không hoàn hảo. Những mẩu bằng chứng để ủng hộ luận điểm này vượt quá sự trích dẫn thuần tuý đến mức độ tập trung trong các khu vực cá biệt của nền kinh tế. Robert Hall (1988), thí dụ, cung cấp chứng cớ kinh tế lượng rằng trong suy thoái, giá vượt quá chi phí biên một cách đáng kể, tình thế không thể duy trì nếu cạnh tranh là hoàn hảo.

Hầu hết các hãng rõ ràng cảm thấy phải đối mặt với các đường cầu dốc xuống. Họ không tin rằng giả như họ hạ giá một chút, họ sẽ thấy cầu vô hạn cho sản phẩm của mình. Phê phán này đặc biệt được nói ra, bởi vì chính lòng tin rằng họ đối mặt với đường cầu nằm ngang là cái nằm ở tâm điểm của lí lẽ rằng các thị trường cạnh tranh có hiệu quả kinh tế.

Những hạn chế về cạnh tranh: Lí thuyết

Không ngạc nhiên, căn cứ vào cái chúng ta học được từ tiến bộ mới đây trong lí thuyết kinh tế, là các thị trường còn xa mới cạnh tranh hoàn hảo.

Độc quyền nhóm tự nhiên: Tôi đã lưu ý rằng những thảo luận trước đây tập trung vào các ngành "độc quyền tự nhiên" trong đó hoặc các chi phí cố định lớn đến nỗi ở mức sản xuất xác đáng, chi phí trung bình vẫn giảm, hoặc các ngành trong đó thậm chí các biến phí cũng giảm với qui mô. Sự chú ý tập trung vào các dịch vụ công cộng, như điện chẳng hạn.

Nhưng bây giờ chúng ta nhận ra rằng các định phí -tính không lồi- phổ biến tràn lan. Như thảo luận chương tiếp theo của tôi sẽ nhấn mạnh, các chi tiêu R&D về cơ bản là chi phí cố định (lắng chìm), và do đó, các ngành trong đó chi tiêu R&D lớn có thể là gần với độc quyền tự nhiên. Cũng thế học qua làm - nơi chi phí sản xuất biên giảm khi sản xuất tăng - gây ra tính không lồi.

Những tính không lồi này và khác không nhất thiết làm nảy sinh ra độc quyền tự nhiên - ra các cơ cấu công nghiệp nơi chỉ có một hãng - mà gây ra độc quyền nhóm tự nhiên, khi có tương đối ít hãng, đủ ít để giả thiết về "cạnh tranh hoàn hảo" đơn giản không thể coi là nghiêm túc.

Cạnh tranh độc quyền: Cạnh tranh sẽ cũng không hoàn hảo khi các cá nhân đánh giá sự đa dạng (hoặc các cá nhân khác nhau đánh giá các thuộc tính của một mặt hàng một cách khác nhau), sao cho thị trường như một tổng thể đánh giá sự đa dạng, và khi sản xuất các thứ đa dạng với một chi phí, bởi vì các chi phí cố định gắn với sản xuất mỗi thứ. Khi đó sẽ có chí ít một số, có lẽ nhiều, sản phẩm do một hãng hoặc nhiều nhất vài hãng sản xuất. Tất nhiên sẽ có sự thay thế gần nhưng không phải thay thế hoàn hảo; hãng sẽ đối mặt với một đường cầu dốc xuống cho sản phẩm của mình. Nó sẽ có quyền lực thị trường nào đấy. Một khi chúng ta tính đến sự khác biệt về vị trí, về thời gian giao hàng, về dịch vụ, thì có ít khu vực trong nền kinh tế hiện đại nơi sự phân biệt sản phẩm như vậy không quan trọng, nơi mỗi hãng không thấy mình đối mặt với đường cầu dốc xuống. May lắm, có cạnh tranh độc quyền, không có cạnh tranh hoàn hảo. [18]

Thông tin không hoàn hảo

Đường cầu ngang đối mặt bất kể hãng nào dựa trên giả thuyết rằng nếu hãng tăng giá, nó mất hết khách hàng của mình, và nếu nó hạ giá, nó túm được cả thị trường. Nhưng điều đó lại đòi hỏi rằng những người mua từ các hãng khác biết rằng nó hạ giá, hoặc rằng khách hàng của hãng có thể ngay lập tức tìm ra các hãng khác đang bán mặt hàng ấy với giá hạ hơn. Như kết quả của bất hoàn hảo thông tin, hãng có thể tăng giá mà không mất hết khách hàng và có thể hạ giá mà không chiếm được cả thị trường.

Cái quan trọng tất nhiên không chỉ là bất hoàn hảo về thông tin liên quan đến giá mà cả chất lượng nữa. Nếu một hãng hạ giá, các khách hàng ở nơi khác có thể lo rằng sản phẩm thực ra không hoàn toàn như nhau; nó có thể (theo cách nào đấy không hiển nhiên) có chất lượng thấp hơn.

Đôi khi được gợi ý rằng tất cả những cái cần để đảm bảo định giá cạnh tranh là có một số khách hàng hay người làm với chi phí tìm kiếm thấp những người có thể kinh doanh chênh lệch giá thị trường. Lí lẽ này là sai: Chừng nào còn có đủ các khách hàng không am hiểu, sẽ có các cửa hàng đòi giá cao hơn, với giá cao bù cho cơ sở khách hàng nhỏ hơn. [19] Các cá nhân có chi phí tìm kiếm thấp không đảm bảo rằng những cá nhân có chi phí tìm kiếm cao không bị "đòi giá quá đắt", tuy nhiên, chắc chắn, càng có nhiều người có chi phí tìm kiếm thấp thì giá trung bình mà những người có chi phí tìm kiếm cao phải trả càng thấp. Theo cùng cách, tuy vậy, càng có nhiều người có chi phí tìm kiếm cao, thì những người có chi phí tìm kiếm thấp phải tìm càng nhiều để tìm ra các cửa hàng có giá thấp.

Những phân tích về các hệ quả của thông tin hạn chế và các chi phí giao dịch nhỏ của khách hàng đã chứng tỏ rằng thậm chí các chi phí nhỏ về tìm kiếm (giao dịch) có thể gây ra cái dường như là quyền lực độc quyền lớn. Diamond (1971), thí dụ, đã chứng tỏ rằng thậm chí các chi phí tìm kiếm nhỏ bất kì có thể làm cho giá cân bằng thành giá độc quyền. Dù là có thể có nhiều hãng trên thị trường, các chi phí tìm kiếm nhỏ này có các hệ quả hoàn toàn ngoài tỉ lệ với độ lớn của chúng. Lí lẽ đơn giản: Giả sử rằng mọi hãng đều đòi cùng một giá, thấp hơn giá độc quyền. Nếu bất kể hãng nào nâng giá của mình lên một chút - với mức nhỏ hơn chi phí tìm kiếm, chi phí đi sang cửa hàng khác- nó sẽ không mất bất kể khách hàng nào. Như thế đáng cho cửa hàng đó nâng giá với mức ấy. Nhưng điều này hàm ý rằng đáng cho tất cả các cửa hàng để nâng giá của họ. Quá trình tiếp tục cho đến khi đạt giá độc quyền. [20]

Trong nhiều thị trường, như các thị trường vay nợ, các chi phí thông tin làm phân đoạn thị trường, làm cho số thực sự của các đối thủ cạnh tranh ít hơn nhiều so với chúng có vẻ như. Những người đi vay khác nhau ở khả năng trả nợ. Chức năng cốt yếu của các định chế tài chính là đánh giá khả năng trả nợ, và đòi lãi suất phản ánh thông tin đó. Đưa ra những phán xét như vậy cần đên thông tin, cái là đắt đỏ và tốn thời gian thu thập. Căn cứ vào đó, không ngạc nhiên, là những người đi vay thường có quan hệ ngân hàng với một, nhiều nhất vài, định chế cho vay; khi một người đi vay bị ngân hàng của mình từ chối, anh ta không thể đơn giản đến bất kể một ngân hàng khác nào trên thị trường. Đối với các ngân hàng khác này, người đi vay đó là khách hàng "chưa được biết" và sẽ bị đối xử như thế, sẽ bị lãi suất cao hơn để phản ánh rủi ro lớn hơn mà họ phải chịu. Như vậy, từ khía cạnh của người đi vay, số ngân hàng cạnh tranh có hiệu quả vì anh ta có thể là rất hạn chế.

Như vậy có sự tương tự nào đó giữa các chi phí vận tải - những chi phí đã tạo một phần cơ sở cho lí thuyết truyền thống về cạnh tranh độc quyền- và các chi phí thông tin. Trong khi chi phí vận tải có thể là quan trọng để xác định mức độ mà các ngân hàng khác nhau cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ tiền gửi cho, thí dụ, một khách hàng thương mại cho trước - bất kể ngân hàng nào đều sẵn lòng nhận tiền gửi của bất kể cá nhân nào và bán các dịch vụ đó với một giá cụ thể - chính chi phí thông tin là cái xác đáng để xác định cạnh tranh trong thị trường vay mượn.

Những hạn chế về cạnh tranh tiềm năng

Trong các đoạn trên tôi đã lập luận rằng có cả lí thuyết lẫn chứng cớ ủng hộ giả thuyết rằng các hãng, nói chung, đối mặt với các đường cầu dốc xuống. Như thảo luận trước đây của tôi đã chỉ ra, nếu giả như các thị trường thực sự là có thể tranh đua, thì sự thực rằng bất kể hãng nào đối mặt với một đường cầu dốc xuống sẽ chẳng liên quan gì - đối với cả hãng và nhà phân tích đánh giá các hệ quả chính sách của nó. Cái ngăn hãng khỏi tăng giá không phải là đường cầu cho sản phẩm của nó mà là sự hiểu biết nào đấy rằng giả như nó nâng giá lên trên chi phí trung bình, thì sẽ có người gia nhập hầu như ngay lập tức mời hết khách hàng của nó và đảm bảo rằng nó sẽ chẳng thực hiện được bất kể khoản lợi nhuận nào. Diễn giải theo cách khác, cạnh tranh tiềm tàng đảm bảo rằng bất kể hãng nào đều đối mặt với một đường cầu nằm ngang, ít nhất về phía "trái" của điểm nó tạo ra cân bằng, tại điểm đó giá bằng chi phí trung bình.

Sự thực rằng các hãng dường như tin (hoặc hành động như thể họ tin) rằng họ có thể nâng giá mà không mất hết khách hàng gợi ý rằng cạnh tranh tiềm tàng, nếu có, chỉ có những tác động hạn chế. Những hạn chế về cạnh tranh chỉ là bước đầu của phân tích: Chúng ta cần biết vì sao cạnh tranh là hạn chế, nếu chúng ta phải phán xét về liệu chính sách cạnh tranh có thể cải thiện tình hình. Điễn đạt theo cách khác, chúng ta cần biết vì sao các hãng đối mặt với các đường cầu dốc xuống và vì sao có những cản trở cho việc tham gia (điều hạn chế khả năng của cạnh tranh tiềm tàng để ép các hãng đang tồn tại trên thị trường vào kỉ luật) để đảm bảo rằng họ không đòi giá cao hơn chi phí trung bình và rằng chúng có hiệu quả.

Những rào cản đối với gia nhập

Bain (1956) đã cho một phân loại các rào cản gia nhập; nhiều tiến bộ của quan điểm mới có thể được coi như cung cấp những diễn giải, bằng những phát triển mới đây trong lí thuyết kinh tế, của các rào cản này. Tôi chỉ có thời gian để nêu bật hai hay ba rào cản quan trọng hơn ở đây.

Các chi phí lắng chìm: Một trong những điều sáng suốt chính của lí thuyết chiến lược hiện đại nhấn mạnh rằng cái quan trọng cho các quyết định liên quan đến gia nhập thị trường không phải là sự tồn tại lợi nhuận trong thị trường hôm nay mà là cái gì sẽ xảy ra sau khi gia nhập. [21] Những người tham gia tiềm năng đủ tài để biết rằng các hãng hiện tồn sẽ không giữ nguyên giá nếu họ tham gia. Những người tham gia phải tiên đoán cái gì sẽ diễn ra. Nhất thiết có nhiều điều không rõ về các tiên đoán như vậy.

Một khía cạnh quan trọng của quyết định liên quan đến tham gia của hãng là, Cái gì sẽ xảy ra nếu các hãng hiện tồn giảm giá đến điểm mà hãng không có lợi nhuận nào? Có thể rút ra và thu hồi được chi phí?

Nếu có các chi phí lắng chìm, thì (theo định nghĩa) hãng sẽ không thu hồi được chi phí. Như thế chi phí lắng chìm làm nản chí tham gia (Salop 1979). Có thậm chí một kết quả mạnh hơn: Nếu cạnh tranh sau khi tham gia là rất quyết liệt (thí dụ, có cạnh tranh Bertrand đẩy giá xuống chi phí biên của hãng có hiệu quả thứ nhì), thì ngay cả chi phí lắng chìm nhỏ bất kì có thể coi là rào cản tham gia hoàn hảo. [22] Một hãng hiện tồn có thể đòi giá độc quyền và hoàn toàn không hề gì bởi đe doạ tham gia. Lí do là đơn giản: Nếu các hãng đối mặt với, thí dụ, một công nghệ có lợi tức không đổi theo qui mô vượt quá chi phí lắng chìm, thì người tham gia biết rằng, sau khi vào, giá sẽ bị đẩy xuống chi phí biên (bằng biến phí trung bình). Khi hãng tiếp tục sản xuất, nó không có khả năng kiếm lợi tức trên đầu tư lắng chìm, còn nếu rút lui nó không thể thu hồi được các chi phí đó. Vì thế người tham gia biết rằng sự tồn tại của lợi nhuận lớn là một ảo ảnh: Nếu hãng tham gia thị trường, lợi nhuận lớn sẽ biến đi.

Những người chủ trương học thuyết có thể tranh đua đã luôn luôn dẫn các hãng hàng không như hệ thuyết. Nếu bất kể hãng nào tính giá cao hơn chi phí trung bình ở một đường bay nào đó, hãng khác có thể điều ngay máy bay của họ sang tuyến đó chào giá thấp hơn. Nếu hãng cũ phản ứng, hãng mới vào chẳng có gì để mất. Nó đơn giản điều máy bay về như ban đầu. Lí lẽ liên quan đến tính có thể tranh đua của các ngành hàng không đã cung cấp phần chính cho lí do căn bản cho phi điều tiết hoá hàng không cuối các năm 1970. Thế giới đã không tỏ ra như những người chủ trương học thuyết khả năng tranh đua tiên đoán. Không chỉ là cạnh tranh là hạn chế - sau sự tham gia ùn ùn ban đầu là một sự xốc lại đến mức ở Hoa Kì hiện nay chỉ còn ba hãng hàng không chính vẫn chưa phá sản hoặc mới đây vẫn chưa qua quá trình phá sản, và cạnh tranh trên nhiều đường bay là rất hạn chế, giá của một số đường bay cao hơn nhiều so với chi phí trung bình. Ngay cả các chi phí lắng chìm nhỏ xem ra có ý nghĩa lớn. Để gia nhập một thị trường, các khách hàng cần biết là anh đã tham gia. Có các chi phí lắng chìm, thí dụ, gắn với quảng cáo. Một hệ thống giữ chỗ bằng máy tính đảm bảo rằng cạnh tranh ex post [23] có thể rất hiệu quả; có thể đối phó ngay lập tức với bất kể khoản giảm giá nào. Như thế châm ngôn phổ biến rằng cạnh tranh ex post càng mạnh thì cạnh tranh ex ante (tiềm năng) càng yếu xem ra đã được xác minh.

Chi phí lắng chìm là quan trọng. Một hướng chính của các hãng trong hầu hết các ngành công nghiệp là nghiên cứu và triển khai, R&D. Những chi tiêu như vậy, phần lớn, là lắng chìm. Chúng không giống như mua một toà nhà. Ngay cả một toà nhà dở dang cũng có một giá trị thị trường xác định. Hãng có thể, ở bất kể giai đoạn nào, bán toà nhà và thu hồi phần lớn khoản đã chi. Chỉ có những chi phí cá biệt (như biểu tượng công ti sơn trên tường của mỗi phòng) là thực sự lắng chìm. Ngược lại, chi tiêu cho một dự án nghiên cứu dở dang là chi phí lắng chìm mà hãng không thể thu hồi nếu nó rút lui. Có thể chứng minh rằng các chi phí như vậy có thể gây ra những rào cản tham gia mạnh trong các cuộc đua patent, đảm bảo rằng một hãng có xuất phát trước một chút sẽ không đối mặt với những đe doạ cạnh tranh đáng kể (Dasgupta and Stiglitz 1988a).

Các rào cản chiến lược đối với tham gia: Cả công nghệ lẫn ứng xử của hãng có thể gây ra các rào cản tham gia. Các hãng, thí dụ, có thể, và có tiến hành định giá diệt nhau, cả để răn đe những người tham gia tiềm năng khỏi tham gia thực lẫn để đuổi những kẻ ngu đần khi tham gia.

Ngay cả khi thiếu các chính sách chiến lược, một nhà độc quyền hiện hành có ưu thế hơn những kẻ mới tham gia. Schumpeter đã có cái nhìn về sự kế tiếp nhau của các độc quyền ngắn hạn. Mỗi nhà độc quyền tạm thời bị một kẻ tham gia kế tiếp thách thức. Một loạt bài báo viết cuối các năm 1970 đầu các năm 1980, đã đánh đổ quan điểm này. [24] Xét vấn đề đơn giản về tạo năng lực mới trong một ngành với đầu tư "vón cục". Mối đe doạ của cạnh tranh tiềm tàng buộc nhà độc quyền tạo năng lực mới nhanh hơn so với nếu khác đi. Nhưng đáng cho nhà độc quyền dựng năng lực mới đủ sớm để không đáng cho bất kể kẻ tham gia nào đi đấu nhà độc quyền đến hoà. Như vậy có các lực bẩm sinh dẫn tới quyền lực độc quyền, một khi đã thiết lập, được duy trì. [25]

Những lí lẽ này cho thấy rằng nhà độc quyền có một khuyến khích để chặn trước những kẻ tham gia tiềm năng. Cuối các năm 1980 lí lẽ này đã được tăng cường bằng cách chứng tỏ rằng để chặn trước các đối thủ, trong các hoàn cảnh nào đấy nhà độc quyền hiện hành chỉ cần có một hành động nhỏ. [26] Điều này được gọi là ε-chặn trước. Xét một cuộc đua patent. Nếu hãng hiện hành có khởi đầu trước các đối thủ một chút, và có cam kết đáng tin cậy để thắng, thì các đối thủ sẽ bị cản khỏi tham gia. Họ biết rằng bất kể khoản chi tiêu nào họ có thể và sẽ chi đều có thể được hãng hiện hành đối phó. Như thế, một khi hãng hiện hành đã xác lập một chút khởi đầu trước, nó có thể thong thả và tiến hành với nhịp độ của riêng mình, cứ như nó được miễn dịch với cạnh tranh tiềm tàng.

Các lí lẽ này có lẽ thổi phồng các hạn chế về tính hiệu quả của cạnh tranh. Có nhiều câu chuyện về các hãng thoả mãn với vinh quang và đã bị qua mặt. IBM có lẽ cho thí dụ nổi bật nhất mới đây. Có các câu chuyện về những đổi mới sáng tạo đến từ các nguồn bất ngờ, hoặc tận dụng các lợi thế kĩ năng khác với các kĩ năng của nhà độc quyền hiện hành, để tạo ra sản phẩm cạnh tranh. Thành công của máy sao chụp Canon địch lại nhà tiên phong đã thành đạt, Xerox, minh hoạ cho điều này. Nhưng trong thiết kế chính sách cạnh tranh, vấn đề không phải là liệu cạnh tranh đôi khi, hoặc thường xuyên, hoạt động, mà đúng hơn là, có các hoàn cảnh mà nó không hoạt động, và nơi đó có thể cần can thiệp của chính phủ? Các lí thuyết về chặn trước và ε-chặn trước nhắc nhở chúng ta rằng ngay cả không có các chính sách chiến lược như giá diệt nhau, hiển nhiên nhằm cản trở tham gia, việc tham gia có thể là hạn chế và cạnh tranh tiềm tàng có thể chỉ cung cấp kỉ luật hạn chế.

________________________________________

[1]Diamond (1967) thậm chí đã có một nỗ lực để cung cấp một sự bào chữa lí thuyết cho kết luận này, ông đã thiết lập một mô hình của một nền kinh tế sản xuất duy nhất một mặt hàng với các điều kiện cực kì hạn chế (đầu ra trong mọi trạng thái tự nhiên tăng theo tỉ lệ khi các hãng tăng đầu tư, các hãng không thể thay đổi hình mẫu của đầu ra, và không có phá sản). Nhưng đã sớm được chứng minh rằng khi bỏ bất kể giả thiết nào của ông đi - thí dụ, nếu đơn thuần chỉ có hai mặt hàng, và các hãng tối đa hoá giá trị thị trường cổ phiếu- thì nền kinh tế, nhìn chung, không có hiệu quả Pareto ràng buộc. Xem Stiglitz (1972b, 1982a).

[2]Tôi cần nêu nêu một lời cảnh báo phải thận trọng: Greenwald và Stiglitz không chứng minh rằng có một sự không liên tục trong phúc lợi với "độ" của bất hoàn hảo thông tin. Một sự không liên tục như vậy có nảy sinh trong bài toán tồn tại (Rothschild and Stiglitz 1975, 1976; C. A. Wilson 1977) và trong một số mô tả đặc trưng của cân bằng (Diamond 1971; Salop and Stiglitz 1982).

[3]Chương này dựa nhiều vào Stiglitz (1992d).

[4]Như chúng ta đã thấy ở các chương 1 và 3, hệ thuyết Arrow-Debreu là quan trọng bởi vì nó tạo cơ sở trí tuệ nghiêm túc của hầu hết niềm tin của chúng ta vào hệ thống thị trường: Với các thị trường cạnh tranh hoàn hảo (với sự thoả mãn của một số các điều kiện khác) các thị trường có hiệu quả Pareto.

[5]Xem Lazear and Rosen (1983), Green and Stokey (1983), Nalebuff and Stiglitz (1983a, 1983b), và Holmstrom (1982). Các tác giả này nghiên cứu các hệ thống dựa trên khuyến khích trong đó các phần thưởng phụ thuộc vào thành tích tương đối. Trong một số trường hợp các phần thưởng dựa trên xếp hạng; tức là, người tạo ra nhiều nhất nhận một phần thưởng tài chính lớn hơn người tạo ra nhiều thứ hai. Nalebuff and Stiglitz (1983a) chỉ ra rằng dưới các điều kiện nhất định cơ cấu khuyến khích tối ưu bắt có một khoản phạt đối với người tạo ra đầu ra ít nhất, thay cho một phần thưởng cho người có đầu ra cao nhất.

[6]Lợi tức biên trên nỗ lực trong một cuộc thi là xác suất được tăng lên về thắng giải nhân với độ lớn của giải. Độ lớn của rủi ro gắn với độ lớn của giải.

Trong các cuộc thi, bằng cách điều chỉnh độ lớn của giải một cách thích hợp có thể tăng khuyến khích đến mức chúng có thể là khuyến khích "hoàn hảo", tức là, nếu nhân viên nhận được toàn bộ lợi tức biên từ nỗ lực của mình. Giải cần thiết sẽ kéo theo việc nhân viên gánh chịu một mức rủi ro thấp hơn so với nếu lương của nhân phụ thuộc vào đầu ra riêng của mình và tất cả lợi tức biên nhận được là từ nỗ lực của nhân viên.

[7]Tính chất này được Nalebuff and Stiglitz (1983a) nhắc tới như tính uyển chuyển của khuyến khích.

[8]Xem Salop and Scheffman (1983).

[9]Các giả thiết chấp nhận giá đảm bảo tính hiệu quả trao đổi (hàng hoá được tiêu thụ bởi người đánh giá chúng cao nhất, theo cách sao cho tất cả các tỉ suất thay thế biên của các cá nhân giữa các mặt hàng là hệt như nhau), tính hiệu quả sản xuất (hàng hoá được sản xuất bởi những người có thể sản xuất chúng rẻ nhất, sao cho nền kinh tế hoạt động dọc theo đường khả năng sản xuất của nó), và tính hiệu quả hỗn hợp sản phẩm (tỉ suất biên chuyển đổi - một mặt hàng phải giảm bao nhiêu để sản xuất thêm một đơn vị của mặt hàng khác - bằng với tỉ suất thay thế biên- các cá nhân sẵn sàng bỏ bao nhiêu từ một mặt hàng để nhận được thêm một đơn vị của mặt hàng khác).

[10]Các khách hàng mất nhiều hơn khoản nhà sản xuất được, song hiệu số là nhỏ.

[11]Xem Baumol (1982) và Baumol, Panzar, and Willig (1982). Xem cả Grossman (1981b).

[12]Lí lẽ của họ vượt quá điều này sang cho trường hợp hãng có nhiều sản phẩm, khi họ lập luận rằng cơ cấu giá cả sẽ trùng với cơ cấu của chính phủ cố tăng tiền để trả chi phí chung bằng đánh thuế hữu hiệu, tức là, theo cách sao cho để tối thiểu hoá khoản mất trắng. Họ lập luận rằng các hãng sẽ định giá vượt chi phí biên, phù hợp với đúng công thức mà Ramsey (1972) đã gợi ý các khoản thuế tối ưu phải có giá vượt chi phí biên. Tuy có sự tương tự bề ngoài giữa vấn đề Ramsey và vấn đề định giá tối ưu của các nhà độc quyền, có một số khác biệt quan trọng, thí dụ, nảy sinh từ bất lực của các nhà độc quyền để chặn trước sự gia nhập của các đối thủ cạnh tranh và sự cần thiết của định giá để tính đến điều đó. Xem Sappington and Stiglitz (1987a).

[13]Có một chút không nhất quán ở đây: Tại biên, trong các thị trường cạnh tranh, giá bằng chi phí biên, như vậy tại biên nhà sản xuất và nhà phân phối không chịu tổn thất do mất doanh thu. Tất nhiên thực tế hơn là giá vượt chi phí biên, và cả hai thực có chịu tổn thất.

[14]Blind tasting: người nếm không được biết trước mình nếm bia cũa hay bia tươi, kết luận chỉ được đưa ra sau khi đã nếm.

[15]Chúng ta sẽ thảo luận những hạn chế về chính sách cạnh tranh chi tiết hơn ở sau.

[16]Những tư tưởng mà tôi nhắc tới như "quan điểm mới" đôi khi được thảo luận dưới mục các quan điểm hậu-Chicago.

[17]Wealth of Nations, bk. 1, ch. 10, pt. II

[18]Tôi phân biệt giữa cạnh tranh độc quyền và độc quyền nhóm: Trong trường hợp trước có đủ đông các hãng mà mỗi hãng không tính đến bất kể tương tác chiến lược nào với hãng khác. Chamberlain cung cấp phân tích ban đầu về cạnh tranh độc quyền. Như chúng tôi đã lưu ý ở trên, lí thuyết được Spence (1976) và Dixit and Stiglitz (1977) xem xét lại.

[19]Xem Salop and Stiglitz (1977, 1982), Stiglitz (1979, 1987c) để biết thêm tài liệu tham khảo. Về một tổng quan, xem Stiglitz (1989b).

[20]Salop and Stiglitz (1982) đã chứng tỏ rằng, dưới các điều kiện mà Diamond áp dụng, nếu các hãng có thể dùng giá phi tuyến (thí dụ, đòi một phí cố định cộng với "giá" bằng chi phí biên) thì sẽ bõ công làm vậy. Nếu họ làm thế, và có chi phí cố định để tham gia kinh doanh, thì sẽ không tồn tại cân bằng nào. Trong nỗ lực thu hút hết thặng dư tiêu dùng từ các khách hàng, các cửa hiệu tham lam thực tế huỷ hoại thị trường.

Cái ngăn điều này khỏi xảy ra là "nhiễu" trên thị trường- sự tồn tại của đa dạng sản phẩm và độ phân tán giá. Xem dưới đây và Stiglitz (1989b).

[21]Các thí dụ ban đầu của cách tiếp cận này bao gồm Dixit (1980), Spence (1979), Salop (1979a) và Stiglitz (1981a).

[22]Stiglitz (1987g) và Dasgupta and Stiglitz (1988a).

[23]ex post: sau khi sự việc đã xảy ra; ex ante trước khi sự việc xảy ra

[24]Xem Salop (1979), Dasgupta and Stiglitz (1980a), và Gilbert and Newbery (1982) giữa những công trình khác.

[25]Trong một số trường hợp mối đe doạ của cạnh tranh tiềm năng- với phản ứng của hãng hiện hành nhằm ngăn cản gia nhập do nó gây ra - có thể làm giảm phúc lợi. Hãng hiện tồn có thể, thí dụ, tạo năng lực mới đủ sớm để cản trở những kẻ tham gia mới khỏi tham gia. Trong trường hợp thái quá, lợi nhuận có thể bị đẩy xuống bằng không, nhưng đây không phải là dấu hiệu của hiệu quả kinh tế: Các khoản đặc lợi đơn giản bị tiêu tán bởi năng lực dư thừa. Xem Stiglitz (1981a, 1987g).

[26]Dasgupta and Stiglitz (1988a) và Stiglitz (1987g).

Chính sách cạnh tranh

Suốt thế kỉ qua đã có những thay đổi rõ rệt cả trong các chính sách mà chính phủ dùng để điều tiết và thúc đẩy cạnh tranh và trong các lí lẽ dùng để biện hộ cho các chính sách ấy. Những năm gần đây các nhà kinh tế học đã có ảnh hưởng to lớn đến tiến hoá của các chính sách đó. Có thể chúng ta không có vua-triết học Plato, nhưng chúng ta có luật sư-kinh tế gia: Ít nhất, ở Mĩ, các cá nhân như Thẩm phán (Giáo sư) Posner đã có ảnh hưởng to lớn đến diễn tiến của chính sách cạnh tranh hiện thời. Trong khi với tư cách các học giả chúng ta có thể khó tìm ra lỗi lầm trong cố gắng đưa tính hợp lí vào bất kể lĩnh vực đàm luận công nào, các vấn đề nảy sinh từ bản chất chưa ổn của lí thuyết kinh tế. Quá thường xuyên là sự chậm trễ trong phổ biến các ý tưởng đến mức chúng được áp dụng đúng khi chúng bị mất uy tín, hoặc ít nhất đang có sự nghi ngờ về tính hiệu lực chung của chúng.

Điều này đúng với chính sách cạnh tranh: Nhiều nguyên lí làm cơ sở cho những thay đổi hay kiến nghị thay đổi gần đây về chính sách cạnh tranh dựa vào những giả thiết kinh tế hoặc các mô hình đáng nghi ngờ về tính thoả đáng cho các thị trường được đề cập. Các học thuyết có thể tranh đua/cạnh tranh tiềm tàng được củng cố trong các phiên toà, hệt như chúng mất lòng tin trên vũ đài học thuật.

Mục tiêu của phần này của chương là tóm tắt (ở mức lí thuyết) một số vấn đề chính của cuộc tranh luận hiện thời về chính sách cạnh tranh ở Hoa Kì. Tôi hi vọng, và tin, rằng những viễn cảnh này sẽ có sự xác đáng với các nước khác những nước đang trong quá trình đánh giá lại chính sách cạnh tranh của mình. Tôi thấy hữu ích định khung khổ cho thảo luận về mặt lịch sử. Không chỉ là các cuộc tranh luận hiện thời phản ánh diễn tiến lịch sử của chính sách cạnh tranh, mà việc xem xét lại như vậy cũng để nêu bật một số viễn cảnh trái ngược về chính sách cạnh tranh.

Những nguồn gốc dân tuý

Chính hình ảnh của các vua tư bản kẻ cướp- các Rokefeller và Morgan - đã làm nảy sinh các chính sách chống trust ở Hoa Kì vào cuối thế kỉ thứ mười chín. Các độc quyền được hình thành trong những ngành quan trọng, như dầu và thép. Vài người đã trở nên cực kì giàu có. Nhưng mối lo ngại đã không chỉ là bất bình đẳng về của cải: Đã có sự lo ngại về các hậu quả của sự tích tụ quyền lực kinh tế. Không nghi ngờ gì mối lo ngại cũng nhiều về các hệ luỵ chính trị - và những hệ luỵ rộng hơn đối với bản chất xã hội - hơn là những lo ngại hẹp về kinh tế. Chắc hẳn, đã có sự nghi ngờ lan rộng rằng những người lập ra các độc quyền này có nhiều ý trong đầu hơn chỉ đơn thuần là "hợp lí hoá" ngành: Không chắc rằng quyền lực kinh tế, một khi đã hình thành, lại không được hành sự. Giá sẽ tăng.

Điều đó xảy ra đã hơn ba phần tư thế kỉ trước khi Arnold Harberger tiến hành công trình tiên phong lượng hoá tổn thất phúc lợi của việc tăng giá như vậy. Giả như phân tích của ông, gợi ý rằng các tổn thất phúc lợi của độc quyền là hạn chế, bằng cách nào đó đã được những người tranh luận về Luật chống Trust của Sherman, luật gốc tạo nên chính sách cạnh tranh ở Hoa Kì, biết đến, thì liệu tình hình có thay đổi? Tôi nghĩ là không. Điểm mấu chốt lúc đó nhiều hơn sự tính toán tổn thất hiệu quả: Đó là một tầm nhìn về nền kinh tế hoạt động ra sao, về ý niệm nào đó (dùng từ hiện đại) về một sân chơi bình đẳng và một trò chơi công bằng. Những người chơi nhỏ đơn giản đã ở thế chơi bất lợi đối lại các đại gia hay ức hiếp. [1]

Tranh luận kinh tế

Các nhà kinh tế tham gia muộn hơn, nhưng với ảnh hưởng đáng kể. Chúng ta đã thấy trong các đoạn trước sự dao động trong tư duy của các nhà kinh tế -từ quan niệm khuyết tật thị trường ban đầu, nhấn mạnh sự cần thiết của cạnh tranh hoàn hảo nếu các nền kinh tế muốn có hiệu quả, nhưng chỉ chú ý đến các độc quyền tự nhiên; đến quan niệm rằng các tổn thất thậm chí từ độc quyền là hạn chế, và rằng cái cần không phải là cạnh tranh thực mà là cạnh tranh tiềm năng; đến quan niệm mới, chứng tỏ rằng những hạn chế về cạnh tranh chắc là phổ biến tràn lan hơn lí thuyết ban đầu về khuyết tật thị trường đã gợi ý. Tối thiểu quan niệm mới cho một phê phán mạnh đối với thuyết có thể tranh đua, với quan niệm ẩn rằng chính sách cạnh tranh là không cần thiết. Quan niệm mới chứng tỏ rằng các thị trường có thể không hiệu quả và lợi nhuận có thể không bằng không. Có cơ hội tiềm năng cho chính sách cạnh tranh cả để hạn chế lợi nhuận lẫn tăng hiệu quả.

Quan niệm mới nhấn mạnh tầm quan trọng của cạnh tranh không hoàn hảo, đối lập với độc quyền, mối lo chính của cách tiếp cận trong lí thuyết khuyết tật thị trường cũ. Nó lập luận không chỉ rằng trong hầu hết thị trường ở các nước công nghiệp hiện đại, cạnh tranh là hạn chế mà rằng tổn thất phúc lợi từ cạnh tranh hạn chế có thể lớn hơn nhiều so với hình dung trước kia - và có thể khác đáng kể với tổn thất gắn với độc quyền.

Những tổn thất phúc lợi từ cạnh tranh hạn chế

Quan niệm mới chứng tỏ rằng tổn thất phúc lợi kinh tế gắn với bất hoàn hảo của cạnh tranh có thể lớn hơn nhiều so với tam giác Harberger gợi ý.

Không chỉ là giá tăng tương đối với chi phí biên của sản xuất. Bản thân chi phí sản xuất có thể bị tác động xấu, khi các hãng tiến hành các hoạt động làm tăng chi phí của đối thủ hoặc để ngăn cản tham gia. [2] Thực vậy trong một số trường hợp tác động chính có thể lên chi phí sản xuất chứ không phải lên lợi nhuận. [3]

Chúng ta có thể phân biệt hai loại ảnh hưởng, những cái ảnh hưởng trực tiếp đến ứng xử của các hãng và những cái ảnh hưởng đến ứng xử của các nhà quản lí (và như thế gián tiếp đến ứng xử của hãng). Trong các mô hình truyền thống, các hãng tăng lợi nhuận bằng cách tạo ra các sản phẩm mới được người tiêu dùng thích và sản xuất các mặt hàng đã có với chi phí thấp hơn. Họ duy trì lợi nhuận của mình bằng cách trội hơn các đối thủ cạnh tranh, liên tục đưa ra các sản phẩm tốt hơn và giảm chi phí sản xuất. Trong các lí thuyết về cạnh tranh không hoàn hảo, các hãng có thể tăng và duy trì lợi nhuận theo bốn cách nữa: kiếm đặc lợi, cản trở tham gia, làm giảm mức cạnh tranh, và làm tăng chi phí của các đối thủ.

Tìm kiếm đặc lợi

Khi có lợi nhuận hay đặc lợi, có thể có cạnh tranh để kiếm lợi nhuận hay đặc lợi đó. Các hãng có thể chi một khoản bằng lợi nhuận để kiếm chúng. Tổn thất phúc lợi từ đó (lãng phí nguồn lực) sẽ điển hình lớn hơn nhiều tổn thất phúc lợi gắn với tăng giá (mà phần lớn ảnh hưởng là sự chuyển giao nguồn lực, từ người tiêu dùng sang nhà sản xuất).

Khái niệm kiếm đặc lợi đầu tiên được phát triển trong bối cảnh các mô hình kinh tế chính trị, nơi lợi nhuận (hay đặc lợi) nảy sinh từ các rào cản tham gia do chính phủ đặt ra. Như thế các hãng có thể dùng nguồn lực đáng kể để xui chính phủ tăng thuế quan hay áp hạn ngạch. Nguyên lí của kiếm đặc lợi, tuy vậy, cũng áp dụng tốt khi có các nguồn khác của hạn chế cạnh tranh. Như thế nghiên cứu nhằm giải quyết một patent hiện hành có thể coi như tìm kiếm đặc lợi.

Cản trở tham gia

Trước đây trong chương, tôi đã mô tả các rào cản tham gia chiến lược: Các hãng có thể tiến hành các tập quán cản trở các hãng khác tham gia vào thị trường, cho phép hãng hiện hành duy trì lợi nhuận. Nhiều tập quán này gây lãng phí. Hãng có thể, thí dụ, tạo năng lực thừa, chứng tỏ sự sẵn sàng và năng lực để phản ứng lại gia nhập bằng cách giảm giá và tăng sản xuất. (Trong trường hợp năng lực dư không có ảnh hưởng lên chi phí sản xuất biên, giá đòi người tiêu dùng không bị ảnh hưởng bởi năng lực dư; các chi phí cản trở là tiêu tán hoàn toàn). Hoạt động nghiên cứu có thể nhằm kiếm patent được thiết kế để ngăn phát triển sản phẩm đối địch.

Các hoạt động nhằm thay đổi mức cạnh tranh

Có sự khác biệt căn bản gữa các thị trường trong đó có một hãng (tức là, không có cạnh tranh) hoặc có cạnh tranh hoàn hảo, và các thị trường cạnh tranh không hoàn hảo. Trong các trường hợp trước, mức độ cạnh tranh, theo định nghĩa, là cố định, còn dưới cạnh tranh không hoàn hảo hành động của hãng có thể ảnh hưởng đến mức độ hay phạm vi cạnh tranh. Tập quán về địa hạt độc quyền cho một thí dụ về hành động kiềm chế có thể ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranh. Giả sử rằng có hai hãng trong ngành. Có thể chứng tỏ rằng khi các nhà sản xuất kí các hợp đồng độc quyền địa hạt như vậy với các nhà phân phối, độ co dãn của đường cầu đối mặt mỗi hãng cho các sản phẩm của nó sẽ thấp hơn. Do đó, với mỗi giá do đối thủ của hãng đặt ra, tối ưu đối với hãng là đặt một giá cao hơn. Tác động thuần là hiển nhiên: Giá cân bằng sẽ cao hơn. Thật vậy giá cân bằng có thể cao hơn nhiều đến nỗi lợi nhuận của các nhà sản xuất là cao, dù là họ có khả năng thâu ít, nếu có, lợi nhuận của các nhà phân phối. (Trong cạnh tranh hoàn hảo giữa các nhà phân phối lợi nhuận của họ bằng không).

Đây là thí dụ của một tập quán hạn chế cạnh tranh nhằm tăng giá. Trong môi trường cạnh tranh không hoàn hảo các hãng luôn đối mặt với mâu thuẫn liệu cạnh tranh hay câu kết. Chúng có thể tăng lợi nhuận bằng cách thử bán rẻ hơn đối thủ và hút khách hàng của họ, hoặc bằng cách thuyết phục các đối thủ cạnh tranh cấu kết với chúng để nâng giá. Ở Hoa Kì định giá câu kết tường minh là bất hợp pháp. Nhưng có thể có các tập quán tạo thuận lợi cho câu kết ngầm, hoặc có các tác động giống câu kết. Các tập quán khét tiếng như vậy và có lẽ nổi bất nhất, là chính sách "đáp ứng cạnh tranh". Một hãng công bố rằng nó sẽ "không bị bán rẻ". Nó sẽ đáp ứng mọi khoản cắt giảm giá của đối phương. Nghe có giống một hệ thuyết về ứng xử cạnh tranh? Sai: Nó thực tế là một tập quán gây tăng giá tiêu dùng. Mọi đối thủ đều biết rằng không bõ hạ giá. Cạnh tranh giá đơn giản không thể được dùng để kiếm khách hàng. Chính sách này cho phép một cân bằng trong đó giá cartel (độc quyền) có thể được duy trì.

Làm tăng chi phí của đối thủ

Trong môi trường cạnh tranh không hoàn hảo, lợi nhuận của một hãng phụ thuộc vào chi phí của nó so với của các hãng khác. Thí dụ, với cạnh tranh Bertrand lợi nhuận trên đơn vị của một hãng đơn giản bằng hiệu số giữa chi phí biên của nó và của đối thủ. Một hãng có thể tăng lợi nhuận như thế hoặc bằng cách giảm chi phí của mình, hoặc làm tăng chi phí của đối thủ. Rõ ràng là có cạnh tranh huỷ diệt -khi mỗi hãng cố làm tăng chi phí của các đối thủ của mình- cũng như có cạnh tranh xây dựng. [4]

Chểnh mảng về quản lí

Lí thuyết chuẩn cho rằng các hãng, bất luận trong các thị trường cạnh tranh hoặc độc quyền, sản xuất bất kể sản phẩm nào ở mức giá khả dĩ thấp nhất. Chúng có đầy đủ khuyến khích để giảm chi phí, cân đối chi tiêu ngày nay về giảm chi phí với lợi ích nhận được. (Thực ra, nếu đầu ra là thấp hơn dưới độc quyền, sẽ có ít khuyến khích để giảm chi phí, vì tổng tiết kiệm từ giảm chi phí trên đơn vị sản xuất sẽ nhỏ hơn). Thế mà có nhận thức rộng rãi rằng các hãng được giải phóng khỏi kỉ luật của thương trường thường là không hiệu quả. Trong văn khoa cũ hơn (Leibenstein 1966) điều này được nhắc đến như phi hiệu quả-χ. Lí thuyết gần đây đã đóng góp vào sự hiểu biết hiện tượng này của chúng ta theo hai cách.

Thứ nhất, bởi vì thông tin không hoàn hảo thường khó cho các cổ đông để nói rằng hãng có hiệu quả, trừ bằng cách so sánh. Trong đoạn đầu của chương này, chúng ta đã chứng tỏ thông tin do thành tích tương đối cung cấp như thế là quan trọng sống còn ra sao, trong phán xét ban quản lí hãng làm việc tốt đến đâu; thông tin như vậy có thể và có đóng một vai trò xây dựng quan trọng trong thiết kế hệ thống khuyến khích cũng như trong lựa chọn các nhà quản lí để cất nhắc và trong phân bổ nguồn lực giữa các đơn vị tranh đua. Dưới độc quyền, với một nhà sản xuất duy nhất, thông tin này thiếu, với các hệ quả có thể tiên đoán được.

Trong khi kinh tế học thông tin như thế đã giải thích tầm quan trọng của cạnh tranh để cung cấp cơ sở cho thiết kế cơ cấu khuyến khích và, rộng hơn, cho đánh giá thành tích quản lí, nó cũng cung cấp một giải thích vì sao các cơ chế kiểm soát như vậy lại quan trọng đến thế, như chúng ta đã thấy ở các chương trước. Ở đó chúng ta đã lưu ý sự công nhận càng tăng của các hạn chế về mức kiểm soát, hoặc do biểu quyết của cổ đông hoặc do cơ chế thôn tính, áp đặt lên ứng xử quản lí. Có tư liệu khá tốt về những khả năng cho quản lí làm bậy - sự bất tài, hoặc tồi hơn. Những bất hoàn hảo này trong các hệ thống kiểm soát quản lí làm cho cạnh tranh trong thị trường sản phẩm càng quan trọng. Thị trường cạnh tranh sản phẩm áp đặt kỉ luật lên ban quản lí trong các công ti lớn do công chúng nắm giữ mà không có được bằng cách khác khác.

Định nghĩa thị trường thích đáng

Đến giờ phải rõ là quan niệm mới cho những viễn cảnh khác rõ rệt về chính sách cạnh tranh so với các quan niệm cũ cung cấp. Như một minh hoạ, xét vấn đề định nghĩa thị trường thích đáng.

Đã trở thành tập quán chuẩn để bắt đầu đánh giá tính hiệu quả của cạnh tranh bằng một phân tích thị trường sản phẩm và địa lí "thích đáng". Cái mà hãng đang sản xuất là thay thế gần cho sản phẩm phải sản xuất? Nếu chi phí vận tải là cao, thì một nhà sản xuất ở xa không trong cùng thị trường địa lí và không gây ra mấy cạnh tranh thật sự. Giảm các chi phí vận tải đối với nhiều sản phẩm tạo ra một thị trường địa lí rộng hơn. Trong phạm vi một thị trường địa lí rộng hơn có nhiều nhà sản xuất hơn, và vì thế thị trường chắc sẽ cạnh tranh hơn. Điều này đã dẫn một số nhà quan sát đi đến kết luận rằng trong môi trường toàn cầu mới chính sách chống trust thực tế không cần thiết. Có thể chỉ có ba nhà sản xuất ôtô chính ở Hoa Kì, nhưng có nhiều hơn các nhà sản xuất chính trên thế giới. Nhiều trong số họ có cạnh tranh ở Hoa Kì, và có lẽ tất cả họ đều có thể. Như thế thị trường ôtô là cạnh tranh.

Có sự thật nào đấy trong quan niệm này, hoặc trình bày chính xác hơn: Mở cửa các thị trường quốc tế, giảm các rào cản thương mại, là một trong những công cụ chính sách cạnh tranh quan trọng nhất. Nhưng tuy có một số, có lẽ nhiều, sản phẩm mà cạnh tranh quốc tế là đủ, có nhiều sản phẩm mà điều này là không đúng.

Các thị trường có thể "bị khu biệt" không chỉ vì các chi phí vận tải, mà cả vì các rào cản thông tin và tiếp thị. Chi phí chuyên chở ôtô từ Châu Âu sang Mĩ tương đối thấp ba mươi hay bốn mươi năm trước. Thế mà ôtô Châu Âu chỉ tạo cạnh tranh hạn chế, một phần vì thiếu hệ thống đại lí thoả đáng (và hệ thống đại lí độc quyền không nghi ngờ gì đã gây khó khăn cho hãng ôtô Châu Âu thiết lập hệ thống đại lí toàn quốc) và một phần vì thông tin hạn chế về các xe này cho người tiêu dùng Mĩ.

Trong phạm vi các thị trường khu biệt, lợi tức với qui mô có thể là một rào cản tham gia hữu hiệu. Các tuyến phân phối có cùng kinh tế theo qui mô hay phạm vi mà chúng ta gắn với điện thoại địa phương và các dịch vụ công cộng khác. Chi phí biên của giao hàng đến cửa hàng B nằm giữa A và C có thể nhỏ, và chi phí biên của giao một nhãn bia thứ hai cho bất kể cửa hàng nào có thể là nhỏ. Như thế trong nhiều khu chỉ có hai hay ba nhà phân phối bia. Chỗ của bất hoàn hảo cạnh tranh trong ngành bia có thể không phải chủ yếu ở sản xuất bia (với sản xuất tính kinh tế theo qui mô tỏ ra hạn chế hơn) như trong phân phối nó.

Chính sách cạnh tranh và những hạn chế của nó

Trong khi quan niệm mới nhấn mạnh phạm vi quan trọng cho chính sách cạnh tranh, nó cũng thừa nhận rằng chính sách cạnh tranh có thể có các tác động có hại. Bốn mối lo nảy sinh. Thứ nhất, trong một số trường hợp chính sách cạnh tranh được dùng để hạn chế cạnh tranh. Một hãng, lo về đe doạ cạnh tranh của hãng khác, buộc tội nó có tập quán thương mại không lành mạnh. Giá thấp hơn bị coi là giá diệt nhau. Và phân biệt định giá diệt nhau khỏi định giá cạnh tranh tốt, theo kiểu cũ, là một việc không dễ. Quan niệm cũ cho rằng giá dưới chi phí biên là giá diệt nhau. Nhưng một khi chúng ta tính đến việc học qua làm, chi phí biên thoả đáng không phải là chi phí biên hiện hành. Hãng phải tính đến giảm về chi phí biên do sản xuất thêm ngày nay gây ra. (Khi thiếu chiết khấu, điều này có tác động hạ chi phí biên hiệu lực hiện hành xuống chi phí biên dài hạn của hãng). Nhưng các chi phí biên "dài hạn" - tính đến giảm chi phí sản xuất biên như kết quả của học tập trong tương lai - chỉ là dự tính. Một hãng có thể khai là nó tính giá thấp bởi vì tin rằng nó cho nó một lợi thế chiến lược, đơn giản như kết quả học hỏi. Đối thủ thì cho rằng hãng này tìm cách diệt nó. Thực tiễn, cả hai có thể là không thể phân biệt được.

Thứ hai, các chính sách chống trust gây trở ngại cho các nỗ lực hợp tác trong R&D. Mối lo ngại này đã dẫn đến qui định cho phép một số nỗ lực hợp tác R&D. Một số chủ trương miễn thêm, trong khi những người khác lại lo rằng dưới chiêu bài hợp tác R&D, các hoạt động câu kết rộng hơn được tiến hành.

Thứ ba, các chính sách chống trust đặt các hãng Mĩ vào thế bất lợi so với các hãng nước ngoài, nhiều trong số đó không phải chịu các qui định chống trust nghiêm ngặt.

Thật khó biết cái gì làm cho đòi hỏi rằng "to" là cần thiết cho tính cạnh tranh quốc tế. Trong nhiều trường hợp không có bằng chứng về tính kinh tế theo qui mô hay phạm vi quan trọng được đưa ra, và thiếu bằng chứng như vậy, sự tranh luận dường như là một lí lẽ tự-xưng cho việc đề cao quyền lực kinh tế. Khi có bằng chứng về tính kinh tế theo qui mô, chính phủ đối mặt với một tình thế khó xử: một sự đánh đổi giữa tính hiệu quả theo qui mô và sự hành sự tiềm năng của quyền lực thị trường. Chỉ trong các trường hợp nơi có đủ cạnh tranh quốc tế để hạn chế hành sự quyền lực thị trường thì mới rõ cách giải quyết mâu thuẫn ra sao.

Mối lo cuối cùng về chính sách chống trust là chi phí của nó. Chi phí tranh tụng đã lên rất cao. Các nhà kinh tế học là những người hưởng lợi chính, nhưng điều này khó thể là cơ sở cho khuyến nghị nó.

Không có câu trả lời dễ cho câu hỏi phải thiết kế một chính sách cạnh tranh ra sao để nó "công bằng" và thúc đẩy hiệu quả kinh tế, nhưng chi phí thực hiện nó là phải chăng.

Quan niệm mới cho chúng ta một số gợi ý không quả quyết. Có lẽ chúng ta phải dùng nhiều hơn đến các qui tắc per se (tự nó). Cách xử thô bạo (hay hiệu quả thô ráp) mà các qui tắc như thế cung cấp có thể là không thô bạo hơn, và ít tốn kém hơn nhiều, so với loại quá trình toà xét xử hiện đang được dùng. Như thế, bất chấp việc sử dụng sự phòng thủ "hiệu quả" cho các tập quán kiềm chế từ lâu, một vài trường hợp nơi chúng là quan trọng dường như đã được ghi chép lại. Các tập quán kiềm chế như các quan hệ kinh doanh độc quyền và các địa hạt độc quyền có lẽ phải đơn giản coi là bất hợp pháp.

Cạnh tranh và các vấn đề chuyển đổi

Vấn đề cạnh tranh đặt ra một tập các vấn đề cho các nước Đông Âu hiện trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Một vấn đề trung tâm của quá trình chuyển đổi là tốc độ tư nhân hoá (xem chương 6). [5]

Những người chủ trương tư nhân hoá nhanh có cái nhìn thần thoại hoá về các quá trình thị trường. Trong cách nhìn của họ, các thị trường nhanh chóng làm cho các tài sản được sử dụng bởi những người có thể sử dụng chúng một cách hữu hiệu nhất. Loại bỏ các rào cản thương mại và các rào cản tham gia khác nhanh chóng dẫn đến giải phóng các năng lực kinh doanh bị dồn nén. Tôi đã tham gia vào các cuộc thảo luận nơi những lo ngại về thiếu vận tải thoả đáng để đưa các sản phẩm của nông dân ra thị trường, về thiếu những người trung gian để mua các mặt hàng của nông dân (để phân phối chúng trực tiếp ra các thị trường hoặc đưa đến các nhà máy chế biến) và cung cấp cho nông dân đầu vào, như hạt giống và phân bón, về thiếu tín dụng để tài trợ mua đầu vào - tất cả những cái này và những thiếu sót thị trường khác, người ta lập luận, sẽ được thoả mãn "trong vòng khoảng mấy tuần" bởi một loạt các nhà doanh nghiệp mới tăng lên nhanh chóng, được bổ sung, ở nơi cần, bởi một cuộc xâm lấn của các nhà kinh doanh nước ngoài. Những mối lo ngại về thiếu cạnh tranh và về các rào cản tham gia do thị trường gây ra - những thứ đã ám ảnh văn khoa tổ chức công nghiệp suốt mười năm qua - đã bị gạt bỏ ngay lập tức: Không cần đến các luật chống độc quyền, chừng nào mà bản thân nhà nước không tạo ra các rào cản. Adam Smith đơn giản đã sai khi ông viết, "Những người trong cùng một ngành kinh doanh hiếm khi gặp nhau, ngay cả để vui vẻ và giải trí, mà cuộc nói chuyện có kết cục là một âm mưu chống dân chúng, hoặc là thủ đoạn nâng giá nào đấy".

Tôi đã lập luận rằng cần nhiều thứ hơn "cạnh tranh không bị trói buộc" rất nhiều để cho các thị trường hoạt động có hiệu quả: Phải có, thí dụ, các thị trường tài chính hoạt động trôi chảy, và phải có khung khổ pháp lí cho phá sản và cho thực thi các hợp đồng. Trong số những "nhân tố cần thiết khác" cho thành công là một tập các luật để đảm bảo khả năng tồn tại của cạnh tranh. Làm cho cạnh tranh hoạt động có thể là đặc biệt khó giải quyết ở một số trong các nước chuyển đổi này. Để cho cam kết của chính phủ về cạnh tranh là đáng tin cũng khó ngang thế; không có sự cam kết như vậy, các chính phủ ở các nước này sẽ bị các nỗ lực xin bảo hộ nhâu nhâu quấy rầy.

Cạnh tranh mạnh và các chính sách thương mại tự do

Thật vậy, ở mọi nước, có các áp lực chính trị mạnh mẽ cho bảo hộ khỏi cạnh tranh (như Adam Smith đã nhấn mạnh)- kể cả khỏi cạnh tranh từ nước ngoài và cạnh tranh trong nội bộ. Tôi nghi rằng điều này chắc là đúng ở các nước Đông Âu chưa có kinh nghiệm cạnh tranh trước đây. Một số bất lợi của cạnh tranh- như những công việc kinh doanh thất bại - sẽ trở nên rõ rành rành trước khi một số lợi thế dài hạn của cạnh tranh tự biểu lộ. Hơn thế nữa, các hệ tư tưởng mà dưới chúng nhiều nhà lãnh đạo doanh nghiệp và chính trị đã trưởng thành, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của phối hợp trong nội bộ các độc quyền nhà nước và những bất lợi của các thị trường không được tổ chức, được bổ sung bởi quan điểm phổ biến về tầm quan trọng của "qui mô to lớn" - các nước này, người ta viện dẫn, sẽ cần đến các tổng công ti lớn, các tập đoàn lớn để cạnh tranh với các công ti lớn của Tây Âu, Nhật Bản, và Hoa Kì. Cuối cùng, các lí lẽ về ngành công nghiệp non trẻ cần bảo hộ sẽ được dùng để biện hộ cho sự bảo hộ "tạm thời" khỏi cạnh tranh nước ngoài khi các nước này thích nghi với các tiêu chuẩn khác cần cho buôn bán với các nước không cộng sản.

Các lực phi cạnh tranh sẽ còn được tăng cường hơn nữa bởi vì các quan hệ làm việc cá nhân mật thiết đã có thể được thiết lập trong những ngày khi toàn bộ ngành nằm trong một tổ chức độc quyền nhà nước duy nhất. Sẽ có thiên hướng tự nhiên của một số người này, những người đã hoà đồng với ứng xử hợp tác, còn bây giờ những phần ngành mà họ phụ trách được cho là phải cạnh tranh lẫn nhau, để thử tổ chức các thị trường "trật tự hơn" và thực hiện các "liên doanh cùng có lợi" - các tên đội lốt cho ứng xử thông đồng. Căn cứ vào vai trò kiểm soát hạn chế mà cạnh tranh tiềm năng và cạnh tranh quốc tế, ở tầm ngắn hạn, ít nhất trong nhiều ngành, chắc sẽ đóng, ứng xử câu kết như vậy có thể là tối đa hoá lợi nhuận. Như Willig (1992) đã nhấn mạnh, cần các luật chống độc quyền mạnh mẽ, và thực hiện các luật này dễ hơn nhiều trước khi quá trình tư nhân hoá bắt đầu. Một khi nó khởi động, các giới có thế lực sẽ nảy sinh cố hạn chế phạm vi cạnh tranh.

Các hệ quả của thiếu cạnh tranh là rõ rệt trong trường hợp của chế biến thực phẩm. Nông dân sản xuất các thứ dễ hư phụ thuộc vào các nhà chế biến địa phương (đặc biệt căn cứ vào những hạn chế của hệ thống vận tải), và các nhà chế biến này có thể hành sự quyền lực độc quyền mua để hạn chế giá trả cho nông dân. Đặc lợi độc quyền người mua, thay cho chuyển đến cho chính phủ, lại dồn cho chủ của các nhà máy chế biến: Nông dân thấy ít lợi từ tư nhân hoá; đơn thuần chỉ là sự thay đổi ai nhận đặc lợi.

Những cam kết cho cạnh tranh

Có nhiều thứ mà các nước Đông Âu có thể làm để cho cam kết của họ về cạnh tranh là đáng tin hơn, ngoài việc chỉ thông qua các luật chống độc quyền mạnh mẽ và không áp đặt những cản trở thương mại. Một trong những cam kết hữu hiệu nhất sẽ là tham gia Thị trường Chung - và sự thâu nạp các nước Đông Âu vào Thị trường Chung có thể là một trong những hình thức giúp đỡ quan trọng nhất mà Tây Âu có thể đưa ra cho Đông Âu, không chủ yếu (trong ngắn hạn) bởi vì các lợi ích tiềm năng từ thương mại mà nhiều hơn là bởi vì những lợi ích tiềm năng từ cam kết cho cạnh tranh và thương mại. Nó loại bỏ (hay chí ít làm nản lòng) hàng loạt các hoạt động kiếm đặc lợi. Cuối cùng, mở cửa quá trình tư nhân hoá cho các hãng nước ngoài có thể có lợi ích vượt quá nguồn vốn bổ sung và tinh thần nghiệp chủ - trong cạnh tranh được tăng cường.

Chính phủ như một nguồn của quyền lực độc quyền

Trong khi chương này quan tâm tới cái mà chính phủ có thể và phải làm để tạo thuận lợi cho cạnh tranh trong khu vực tư nhân, chúng ta cần nhớ rằng chính phủ thường là nguồn của quyền lực độc quyền và đôi khi tạo thuận lợi cho cấu kết. Giả thuyết điều tiết cầm giữ của Stigler (1971), tuy có thể không có tính tổng quát như ông hình dung, [6] chắc chắn cảnh báo chúng ta về khả năng rằng các nhà điều tiết có thể giúp đảm bảo ứng xử thông đồng được duy trì, khi các lực lượng cạnh tranh làm cho nó khó đứng vững. (Ngành rượu ở Hoa Kì có lẽ cho một thí dụ về điều này). [7]

Thích được giải phóng khỏi kỉ luật cạnh tranh, chính phủ chẳng khác các định chế khác trong xã hội chúng ta, và nó không kém lanh lợi để đưa ra các lí lẽ vì sao cạnh tranh trong lĩnh vực của nó là không thích hợp. Các trường công không muốn cạnh tranh với các trường tư với các điều kiện tài chính ngang nhau. Bưu điện không muốn cạnh tranh với các nhà chuyển phát thư loại một.

Trong thập kỉ qua đã có các đợt tư nhân hoá, chuyển các doanh nghiệp nhà nước thành doanh nghiệp tư nhân. Trong nhiều trường hợp quan trọng hơn chuyển đổi "sở hữu" là chuyển đổi cơ cấu thị trường - bắt các doanh nghiệp này phải cạnh tranh. Thách thức là nghĩ ra các cơ chế để đưa nhiều cạnh tranh vào cung ứng các dịch vụ công. Tuy cạnh tranh chính trị có tạo sự kiểm soát nào đấy, nó là một công cụ cùn, không sắc bén, chỉ có tính hiệu quả hạn chế. Phi tập trung hoá, phân cấp cung ứng dịch vụ công cho các cộng đồng địa phương là một cách để tăng cường cạnh tranh trên lĩnh vực này, sẽ được thảo luận ngắn gọn ở chương 9.

Quá lo về độc quyền

Chương này tuy đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các chính sách cạnh tranh thật sự đối với các nền kinh tế chuyển đổi, có mối nguy hiểm khác mà nỗi sợ hãi ám ảnh đã thành quá rõ rệt trong vài năm qua. Trong quá trình chuyển đổi có nhiều cơ hội cho lợi nhuận "chênh lệch giá". Các thị trường sẽ không điều chỉnh tức thì để loại bỏ các khoản lợi nhuận này. Hàng thập kỉ nhân dân ở các nước nguyên xã hội chủ nghĩa đã được nhồi sọ rằng lợi nhuận là xấu xa, và sẽ có- và đã có- nỗ lực để coi lợi nhuận như bằng chứng của thực hành quyền lực độc quyền. Sẽ có các áp lực để xây dựng, nhân danh ngăn chặn chủ nghĩa tư bản độc quyền, một chế độ điều tiết gần như lặp lại nhiều tính chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Sự lo sợ quyền lực độc quyền sẽ dẫn đến các hành động làm giảm cạnh tranh.

Chủ nghĩa xã hội thị trường và cạnh tranh

Chúng ta đã lập luận trong chương này rằng cạnh tranh thực sự về cơ bản là thiếu trong mô hình Arrow-Debreu chuẩn - một sự thực mà các nhà xã hội chủ nghĩa thị trường đã không nắm được. [8] Chủ nghĩa xã hội thị trường có thể bảo tồn được tính chất cốt yếu của [9] thị trường cạnh tranh: Các hộ gia đình và các hãng được bảo chấp nhận giá. Các nhà xã hội chủ nghĩa thị trường nghĩ rằng bằng cách lệnh cho các nhà quản lí tối đa hoá lợi nhuận, chấp nhận giá cho trước, họ có thể đạt hiệu quả Pareto- cái mà một nền kinh tế cạnh tranh lí tưởng hoá có thể đạt, nhưng một nền kinh tế cạnh tranh thực tế không đạt được. Như thế, tuy các nhà xã hội chủ nghĩa thị trường đã chứng tỏ chủ nghĩa xã hội thị trường có thể làm tốt như mô hình của nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo làm, việc các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thị trường không đón nhận cạnh tranh giải thích cho sự thất bại của nó không kém các thiếu sót khác được nhắc tới ở các chương trước.

Trở lại chủ đề cơ bản: Giả như mô hình tân cổ điển mô tả tốt nền kinh tế thị trường, chủ nghĩa xã hội thị trường đã có cơ hội thành công tốt hơn nhiều. Nhưng ứng xử chấp nhận giá phản ánh mờ nhạt ý nghĩa thật của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Có lẽ thật mỉa mai rằng điều này hoá ra là một trong những nguồn chủ chốt của thất bại của chủ nghĩa xã hội thị trường. Rốt cuộc, như chúng ta đã lưu ý ở chương 1, chính nỗi lo về chủ nghĩa tư bản độc quyền là cái đã tạo động lực gốc cho chủ nghĩa xã hội thị trường- lòng tin rằng cạnh tranh sẽ không sống sót ở các nền kinh tế công nghiệp hiện đại. Cả các sự kiện và phát triển trong lí thuyết kinh tế đã xác nhận cạnh tranh hoàn hảo không có khả năng tồn tại, nhưng mối lo ngại về chủ nghĩa tư bản, theo cùng cách, đã tỏ ra không có cơ sở.

Kết luận

Cạnh tranh là quan trọng. Nó quan trọng với tư cách là nguồn thông tin- để biết liệu các hãng thực có hiệu quả không. Nó quan trọng để thúc đẩy đổi mới, như sẽ thấy ở chương sau. Dạng cạnh tranh-ứng xử chấp nhận giá- được nêu ở mô hình Arrow-Debreu không phản ánh những quan tâm này. Các nền kinh tế thực không cạnh tranh theo ý nghĩa của mô hình Arrow-Debreu. Các nhà xã hội chủ nghĩa thị trường đã bị mô hình Arrow-Debreu làm lạc lối, nghĩ rằng họ có thể có mọi ưu điểm của nền kinh tế thị trường đơn giản bằng dùng hệ thống giá. Thực vậy họ đã nghĩ rằng họ có thể làm tốt hơn các nền kinh tế thị trường thật bởi vì họ nhận ra rằng ở các nền kinh tế thị trường thật các hãng lớn không có ứng xử chấp nhận giá. Giả như mô hình Arrow-Debreu thâu tóm bản chất của các nền kinh tế thị trường, họ đã có thể đúng: Cạnh tranh hoàn hảo không có khả năng sống sót trong nền kinh tế hiện đại, không chỉ vì sự phổ biến của lợi tức tăng dần thông thường (nhân tố mà những thảo luận sớm hơn đã tập trung vào) mà cũng vì tầm quan trọng của đa dạng hoá sản phẩm, của thông tin không hoàn hảo, và đổi mới.

Nhưng cạnh tranh là quan trọng vì các lí do khác những cái được mô hình Arrow-Debreu hình dung, và chính việc không nhận ra các vai trò cốt yếu này đã đóng một vai trò quan trọng trong thất bại của chủ nghĩa xã hội thị trường ở mọi biến thể của nó. Thật cấp bách là các nước Đông Âu phải nhận ra tầm quan trọng của cạnh tranh bền vững khi họ thiết kế các chương trình chuyển đổi của mình.

Chương 3 đã nhấn mạnh một giả thiết trung tâm của phân tích này: giả thiết về thông tin hoàn hảo. Ở đó ta chú tâm vì sao các nền kinh tế cạnh tranh (với ứng xử chấp nhận giá), nhìn chung, không có hiệu quả Pareto (ràng buộc) khi thông tin không hoàn hảo. Chương này cho thấy thêm hai hệ quả của thông tin không hoàn hảo: Thứ nhất, nó có nghĩa rằng nhìn chung thị trường là không cạnh tranh hoàn hảo; và thứ hai, nó cho một vai trò mới cho cạnh tranh thật sự, loại cạnh tranh mà chúng ta thực thấy.

Thông tin không hoàn hảo, tuy vậy, không phải là hạn chế duy nhất của hệ thuyết truyền thống: Nó giả thiết là không có thay đổi công nghệ. Thay đổi công nghệ là biểu hiện đặc trưng của nền kinh tế hiện đại, và do đó thật ngạc nhiên -có thể nói là sốc- là một lí thuyết bỏ qua thay đổi công nghệ lại chiếm một vị trí trung tâm lâu đến vậy. Thay đổi công nghệ, như thông tin không hoàn hảo, làm thay đổi triển vọng của cạnh tranh hoàn hảo và vai trò của cạnh tranh thực. Đây là đề tài của chương tiếp theo.

Nguyễn Quang A dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.