Diệt Vong

Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
II - Tờ di chúc

❊ ❊ ❊

Tôi về đến Wolfsegg, kín đáo và bất ngờ - rồi chúng nó sẽ chẳng bao giờ tha thứ cho tôi đâu, tôi biết vậy - vì tôi không cho xe chạy thẳng lên chỗ chúng nó ngay; mà vừa đến dưới làng, tôi đã nói lái xe dừng, cho tôi xuống tại một nơi tôi cầm chắc sẽ không ai trông thấy tôi, tức là đúng cổng làng, gần ngôi trường, chỗ con đường chính chạy ngoặt về phía khu mỏ. Quả nhiên, tôi đi qua mảnh sân quanh Cột Đức Mẹ mà không gặp một ai, vắng tanh, khiến tôi đâm thoáng có ý nghĩ, hay là mọi người chui vào nhà trốn hết cả rồi, không muốn ló mặt ra lúc này, vì giờ này, tôi nghĩ thầm trong bụng, có lẽ linh cữu bố mẹ và anh trai tôi đang được quàn trên Wolfsegg và cả làng cũng lặng lẽ để tang chăng, tôi nghĩ vậy, nhưng quên mất rằng tầm giữa trưa, vào các ngày giữa tuần, trong làng bao giờ cũng vắng vẻ. Nói gì thì nói, tôi không muốn cho xe chạy thẳng lên Wolfsegg. Người lái xe taxi, tất nhiên, đã nhận ra tôi ngay từ lúc tôi xuống tàu ở ga Attnang-Puchheim rồi băng qua sân ga ra bến đậu taxi. Tôi có cảm giác mọi người đều nhận ra tôi, nên để tránh họ, tôi rảo bước nhanh hơn thường ngày đến bên xe taxi rồi nói luôn, cho tôi về Wolfsegg gấp. Nhưng, ngồi trên taxi đang chạy, tôi lại không nghĩ đến Wolfsegg, là nơi tôi sắp phải đến, mà lại nhớ đến Rome, nơi tôi vừa ròi đi sáng sớm nay. Miễn cưỡng lắm ta mới phải theo đường này lên Wolfsegg, suốt cả đoạn đường chỉ độc một ý nghĩ, cực chẳng đã ta mới phải ở đây, tôi nghĩ bụng, trong lúc xe taxi chạy qua một trong những vùng phong cảnh đẹp nhất trần gian, kéo từ chân núi Alpen đến Hausruck, là vùng phong cảnh dễ chịu nhất đối với tôi, làm an lòng tôi nhất, rất có thể, cũng là phong cảnh đẹp nhất đối với tôi cũng nên, nếu có lúc nào đó, tôi được ngắm nhìn mà không phải nghĩ đến Wolfsegg và gia đình tôi. Nói cho đúng, xe đang đưa tôi lướt qua vùng phong cảnh tôi ưa thích, qua những cánh rừng rậm ở gần Kien và Stocket về phíaOttnang. Những con người ở quanh đây - ngồi trong xe, tôi tự nhủ - ta vẫn yên mến từ xưa, những con người giản dị, chất phác nhất đời, nông dân, thợ mỏ, thợ thủ công, các chủ quán ăn bình dân, khác với người nhà ta trên Wolfsegg kia, những người mà từ lúc còn bé, khi phải đối mặt ta chỉ thấy kinh hãi, và ngồi trong xe, tôi lại tự hỏi, tại sao tôi lại chỉ luôn luôn quý mến những con người gọi là ở dưới đây - chỉ vì họ ở vùng đất trũng dưới này - còn người nhà tôi ở phía trên núi cao thì không, tại sao bao giờ tôi cũng kính trọng những người ở dưới đây, khác với người nhà tôi trên kia, là những người, nói cho cùng, tôi luôn luôn coi thưng, nếu không nói là căm ghét, tại sao ở chỗ những người dưới đây, suốt đời ta, ta thấy dễ chịu, trong khi ở chỗ người nhà ta trên kia, ta chỉ thấy khó chịu, bực bội, tại sao ở chỗ những người ở dưới đây, ta cảm giác thân thuộc như ở nhà, còn ở chỗ người nhà ta trên kia, chẳng bao giờ ta có cảm giác đó. Thôi, hãy tạm ngắt luồng ý nghĩ đó ở đây đã. Phong cảnh tôi đang lướt qua đây đẹp biết bao, tôi vừa ngắm nhìn xung quanh vừa nghĩ bụng, tôi cũng yêu quý những con người sinh sống ở đây biết bao, rồi tự nhủ, ta quý nhất dân thợ mỏ, quý cung cách đối xử của họ đối với anh và của họ đối với nhau; mà nói cho cùng, ta cũng cùng lớn lên với họ ở đây chứ đâu - tôi nghĩ bụng - ta đã cùng họ đến trường, cùng họ chia sẻ nhau cả chục năm trời đấy thồi. Bởi mải mê như thế với những ý nghĩ như thế về cảnh vật và con người vùng xung quanh, cho nên mãi đến lúc xuống xe rồi, tôi mới sực nghĩ ra, suốt từ đầu đến giờ, tôi không chuyện trò gì với người lái xe, một người - như thiên hạ vẫn nói - tôi trông quen quen nhưng không biết tên, và cũng không hỏi, trái với thói quen vẫn có, thói quen bao giờ cũng hỏi thăm dân ở quanh đây, mỗi khi gặp gỡ, xem họ tên gì, một thói quen tôi học của chú Georg - ông chú nổi tiếng, vâng tôi phải thừa nhận ngay như vậy, nổi tiếng hiểu biết và thân thiện với bà con dân chúng ở đây. Không ai đối xử nhã nhặn với người khác - nhất là với những con người giản dị, mộc mạc, tự nhiên - như chú Georg tôi. Chính ở chú Georg tôi học được cách cần đối xử với họ như thế nào, nói năng, trò chuyện với họ ra sao, để giữ cân bằng giữa họ với người nhà tôi mà không làm bên nào mất lòng. Chú Georg quý mến những con người giản dị, chất phác, chú hòa đồng với họ, tôi cũng vậy. Ở bãi đất trống đầu làng quả không có ai thật, đến như mấy chú mèo thường vẫn nằm ườn ở đây vào các buổi trưa nóng nực cũng trốn đi đâu hết cả, nên tôi nghĩ thầm, có lẽ cứ lẳng lặng lên Wolfsegg mà không bị ai trông thấy. Mấy quán ăn đều đóng cửa, cửa sổ lò bánh trống không, cửa hàng thịt hạ rèm kín mít. Mọi thứ đều có vẻ buồn thảm, như muốn chia sẻ với gia đình chúng tôi trong lúc gặp tai họa. Rome tôi vẫn kịp gọi điện cho anh Zacchi, lúc đó đúng là anh đang ở Palermo, và bảo anh ấy, đến khổ cho tôi, bây gi lại phải quay lại Wolfsegg, sau ba ngày vừa rời khỏi đó về đây; tôi nói với anh ấy bằng một giọng chính tôi cũng cảm thấy bất nhã, một giọng mà bây giờ chắc tôi sẽ không dám nói, nhất là với một người như Zacchi - là người thật ra chưa thân thiết với tôi lắm, như Maria hay Gambetti chẳng hạn. Lúc đi qua mảnh sân đầu làng, tôi thấy hối hận đã gọi điện cho anh Zacchi, bởi trong điện thoại, tôi có cảm tưởng, anh ấy dường như không hiểu tình cảnh éo le của tôi lắm, khác hẳn Maria - nàng hết sức hiểu tôi, hiểu cặn kẽ mọi chi tiết tôi thổ lộ với nàng, chia sẻ với tôi mọi điều tôi buột miệng tuôn ra, cả những điều chắc chắn nàng nghe sẽ lấy làm quái dị lắm, nhưng nàng biết đó là cái rất điển hình cho tôi. Cả với Gambetti tôi cũng đã văng ra nhiều điều không cần thiết, và không đừng được, tôi lại sa vào việc công kích gia đình mình, sa sả tuôn ra những lời chỉ trích dài lê thê, tràng giang đại hải theo cái lối mà tự tôi, tuy cũng ghét cay ghét đắng thật đấy, vẫn không sao giữ mồm được. Tôi lại quay về chốn địa ngục, tôi bảo với Gambetti, ngay năm giờ sáng ngày mai. Thật kinh khủng, tôi còn bồi thêm như thế với anh ta mà không nghĩ đến, hay đúng hơn là không lưu tâm đến một sự thực là, bồi thêm những lời như thế thật hết sức vô duyên, thật không cần thiết, và nói cho cùng, thật đểu cáng, hay ít ra, thật quá quắt và thật xúc phạm đến gia đình, đúng vào lúc lẽ ra tôi phải tỏ chút lòng kính trọng mới phải. Song - vừa đi qua khoảnh đất trống tôi vừa nghĩ - tôi không bao giờ tự lừa dối mình được, tôi là người thế nào, tự lúc lọt lòng tôi đã thừa kế những gì, và như thế nào, từ chính bố mẹ tôi, thì tôi khắc phải thể hiện ra như thế. Dân làng, nếu có nhìn thấy tôi bây giờ, hẳn họ sẽ nghĩ, gã kia từ xưa đến giờ lúc nào cũng lạ lùng; nhẽ ra phải nhanh chân về Wolfsegg với người nhà mình, gã lại cứ luẩn quẩn mãi dưới làng. Rõ hạng vô giáo dục, rõ đồ phụ bạc, một kẻ không ai thương được! Song, tôi lại nghĩ ngay, dân làng sẽ không phán xét tôi như gia đình tôi, người nhà tôi trên kia mới nghĩ như vậy, nghĩ thật xấu về tôi, chẳng khác gì tôi nghĩ về họ; tôi tin chắc dân làng dưới đây sẽ tôn trọng tôi, chứ không coi thường tôi như người nhà tôi trên kia, dân làng quý mến tôi chứ không ghét bỏ tôi như người nhà tôi trên kia. Đúng vậy thật, dân làng từ xưa đến giờ vẫn quý tôi, như tôi cũng quý họ, nhất là cánh thợ mỏ, bởi phần đông dân làng là thợ mỏ, từng làm hay vẫn đang làm ở các mỏ than nâu của nhà tôi, mặc dù hiện nay số thợ không còn bao nhiêu. Họ, dân làng này, xưa nay bao giờ cũng là nguồn an ủi duy nhất của tôi, tôi nghĩ bụng, khi đi ngang bãi đất trống giữa làng. Với họ, tôi có thể nói những chuyện chẳng bao giờ tôi nói với người nhà tôi, hồi còn nhỏ, tôi có thể giãi bày mọi nỗi niềm, tôi có thể khóc hết nước mắt với họ. Vừa đi, tôi vừa nghĩ, trong khi dưới làng đây, mọi sự đều diễn ra rất tự nhiên, tức là rất nhân tính vậy, thì ở trên Wolfsegg mọi sự lại đều giả tạo và phi nhân tính. Và tôi tự hỏi, vì đâu ra nông nỗi ấy, vì sao lại thế. Thế nhưng thời gian đi qua bãi đất trống dưới làng chẳng là mấy, để tôi theo đuổi mãi dòng ý nghĩ đó. Tôi quay sang với ý nghĩ khác; không biết tôi sẽ gặp bọn em gái tôi lúc chúng nó đang thế nào, tôi tự hỏi, rồi phóng tầm mắt bao quát khoảng trời đất trải dài có tới hai trăm cây từ tây sang đông - một khoảng trời đất bao la chỉ đứng ở chỗ này, duy nhất chỗ này, chứ không chỗ nào khác trên đất Áo, mới nhìn bao quát được. Vâng, đúng tại chỗ đẹp nhất mà tôi bao giờ cũng dừng lại này, tôi phóng tầm mắt nhìn phong cảnh tuyệt trần xung quanh vào cái ngày không một gợn mây trên trời cao và hít một hơi dài căng lồng ngực, trong giây phút ấy, tôi tự hỏi, tại sao ta lại để mặc thiên nhiên tuyệt vời này lọt vào tay bọn người dường như sinh ra chỉ để tàn phá và hủy hoại thiên nhiên ấy. Như vậy, mình đến quả đúng lúc, tôi nghĩ bụng, rồi bước tiếp, đi ngược lên phía trên. Trong làng dường không còn một ai thật, bởi cho đến giờ, tôi vẫn chẳng nghe thấy tiếng động nào cả. Mọi khi, đi ngang qua đây tôi thường vẫn nghe vọng qua các cửa sổ mọi nhà những tiếng động của dân tình sống trong đó. Bây giờ tịnh không nghe thấy tiếng động nào và tôi quy ngay lý do gây ra sự im ắng ấy cho tai họa của gia đình tôi. Chắc dân tình ở đây ai cũng chia buồn với gia đình tôi. Tôi sải bước, nhanh như chạy trên con đường có hai hàng cây mọc hai bên dẫn lên Wolfsegg, chứ không như người khác, vào những lúc như thế này, có lẽ sẽ chỉ bước đi chầm chậm. Vâng, một nỗi tò mò mà tự tôi cũng cảm thấy thật vô liêm sỉ đã khiến tôi đi gần như chạy trên con đường có hai hàng cây hai bên dẫn lên Wolfsegg ấy. Song, lên đến cổng chính cạnh khu nhà quản sự tôi dừng lại, và qua những nhánh cây khổng lồ của hai cây dẻ mọc sừng sững ngay tại cổng, tôi nhìn xéo qua khu vườn sang nhà kính, là nơi như tôi vẫn nhớ, xưa nay ai ở Wolfsegg chết đều đem quàn ở đấy. Cửa vào nhà kính quả nhiên mở rộng, thợ làm vườn đang ra ra vào vào, bê theo các loại vòng hoa, bó hoa khác nhau. Tôi quyết định không vào khu nhà kính vội, tôi chưa muốn thấy xác bố mẹ và anh trai tôi quàn trong đó. Tôi chần chừ, muốn quan sát kĩ càng hơn quang cảnh mọi sự đang trải ra trước khu nhà kính kia. Bởi chưa ai thấy tôi, vẫn chưa bị ai phát hiện, nên tôi vẫn còn cơ hội để đứng đây lặng lẽ quan sát. Cung cách bình thản của mấy người thợ làm vườn đập ngay vào mắt tôi; không nói không rằng, rất khẽ khàng theo lối tôi vẫn quen thấy ở họ, họ khuân vòng hoa từ khu nhà quản sự ra ngoài rồi chuyển vào trong nhà lánh. Các xô đựng đầy nước thì họ phải xách từ tàu ngựa sang. Một tay thợ săn bỗng xuất hiện, có vẻ như định vào khu nhà kính, nhưng lại quay lại và đi khuất về phía khu nhà quản sự. Tôi nép người vào bức tường để có chỗ quan sát tốt hơn. Ta phải quan sát người khác, lúc họ không ngờ đang bị ta quan sát mới được, tôi nghĩ bụng. Cánh thợ làm vườn bước từ khu nhà quản sự ra rồi biến vào trong nhà kính, trên tay lúc nào cũng khệ nệ các bó hoa hay vòng hoa, xô nước hay những tấm gỗ lớn. Phía ngoài nhà kính, họ đặt mấy chậu gỗ lớn trồng trắc bá hoặc cọ cùng một chậu cây thùa, là các loại cây lâu nay họ vẫn chăm sóc cẩn thận trong nhà kính. Ở miền đất phía bắc đây, người ta phải mất bao nhiêu công chăm sóc, nâng niu các giống cây cỏ gốc gác phương nam ấy, tôi nghĩ bụng, lưng vẫn tựa vào tường, trong lòng một đằng tuy có chút băn khoăn, áy náy, như thiên hạ vẫn nói, nhưng đằng khác, lại thấy khoan khoái vì được đứng một mình để nhìn quanh nhìn quất thế này. Tôi bình thản, quan sát mấy người thợ làm vườn với ý nghĩ trong đầu, lát nữa rồi tôi sẽ nhìn thấy bóng một trong hai con em gái, hoặc ai đó trong số họ hàng, chứ chưa nhất thiết phải vội đến ngay chỗ quàn bố mẹ và anh tôi, như nghi thức thông thường đòi hỏi. Song, biết đâu được, có khi tôi lần chần như thế vì tôi sợ cũng nên, tôi sợ đột nhiên phải nhìn thấy người thân của mình không phải lúc đang sống, mà lúc đã chết, đang nằm ở kia. Tôi khiếp hãi các gương mặt đã chết của họ, cũng y như tôi từng khiếp hãi các gương mặt còn sống của họ vậy, tất nhiên, bây giờ tôi khiếp hãi các gương mặt chết không bằng khiếp hãi các gương mặt khi còn sống, nhưng khiếp hãi thì vẫn cứ là khiếp hãi, cho nên tôi chần chừ, bụng bảo dạ, cứ đứng tựa vào tường ở đây đã, chưa vội bước tới vườn kia làm gì. Tính kịch của mọi sự diễn ra ở khu nhà kính đột nhiên lộ rõ ra trước mắt tôi, tôi chợt nghĩ, mình đang xem một màn kịch do thợ làm vườn đóng, với các vòng hoa, bó hoa trên tay họ. Thế nhưng, nhân vật chính cho vở kịch này vẫn còn vắng mặt, tôi lại tiếp ngay dòng suy nghĩ, mà cũng đúng thật, màn kịch sẽ chỉ thật sự mở màn, khi tôi - diễn viên giữ vai chính, hối hả từ Rome đến để tham gia vở kịch đám ma này - xuất đầu lộ diện. Đứng ở cổng nhìn vào, những gì tôi thấy đây mới chỉ là các bước chuẩn bị cho vở kịch, mà tôi chứ chẳng còn ai khác cả, sẽ khai màn. Tôi chợt có cảm giác, toàn bộ cảnh trí đây, cả như những cảnh diễn ra phía sau, trong tòa nhà chính mà tôi chưa nhìn thấy được, cũng giống như một thứ phòng thay đồ dành cho diễn viên, nơi họ đang sửa sang xiêm áo, trát phấn, bôi son, trang điểm tóc tai, ôn lại vai nhẩm lại lời, y hệt như tôi, bởi vì tự dưng tôi cảm thấy tôi, đúng như một diễn viên thủ vai chính - trong khi vẫn hờ hững quan sát các diễn viên khác lặng lẽ sửa soạn cho vai của họ - cũng đang chuẩn bị lên sân khấu, đang xem xét lại chính mình, nếu không nói là đang ôn lại các thủ thuật, các kĩ xảo của mình, đang điểm lại lần nữa trong đầu tất cả những gì anh ta phải thể hiện và diễn đạt, đang nhẩm lại lời anh ta phải thuộc theo kịch bản, đang tưởng tượng lại trong đầu từng bước đi anh ta phải bước trên sân khấu. Sự hờ hững xâm chiếm lòng tôi lúc đó khiến tôi phải ngạc nhiên, có lẽ, vì lúc đứng ở cổng vòm và ôn nhẩm lại vai sẽ phải đóng trong màn kịch tới như thế, bỗng dưng tôi thấy màn kịch không còn mới mẻ gì nữa cả, mà hình như đã diễn thử đi diễn thử lại hàng trăm lần, có khi hàng ngàn lần rồi cũng nên. Tôi thuộc làu làu màn kịch này rồi, tôi nghĩ bụng. Những lời tôi phải nói, tôi đã thuộc, không phải lo gì nữa, mỗi bước chân, mỗi cử động đều đã thuần thục đến mức, tôi chả cần phải nghĩ ngợi gì mà vẫn diễn thành công. Tôi là diễn viên đến từ Rome để thủ vai chính trong vở bi kịch này, tôi nghĩ bụng và cảm thấy khoan khoái chứ chẳng có chút ngượng ngùng nào với ý nghĩ ấy cả. Tôi sẽ nhập vai tốt cho mà xem, tôi nghĩ bụng vậy, chứ không nghĩ ngay, mình quả là đứa xỏ xiên, đểu cáng đến mức cũng không nhận thấy cả tính đê tiện của mình tại giây khắc đó. Loại bi kịch này là loại kịch lâu đời, từng được diễn đi diễn lại hàng trăm năm nay rồi, tôi tự nhủ, mọi sự hẳn sẽ diễn ra như máy chạy cho mà xem. Diễn viên thủ vai chính hẳn sẽ phải lấy làm kinh ngạc, khi chứng kiến mọi màn mọi cảnh khớp nhau đâu vào đấy, các diễn viên phụ đã thuần thục nghệ thuật trình diễn và thuộc lời thoại, bởi tôi cầm chắc mười mươi rằng cả bọn em gái tôi lẫn mọi người khác đang chờ tôi trong kia, cũng đều đang ôn nhẩm lại vai họ sẽ phải diễn, bởi vì họ cũng như tôi, không ai muốn, cũng như không ai nuôi ý định, tự bêu riếu mình trước mặt đám cử tọa sắp tụ tập đủ mặt - đám người nhóm lại với nhau gọi là để đi đưa ma ấy - chỉ vì họ không thuộc vở hay không nhớ mình phải động chân, nhấc tay ra sao, nên trong lúc diễn hết vấp chỗ này lại va chỗ nọ. Tôi tin chắc họ, cũng như tôi, đều dồn tâm huyết cho màn trình diễn nhà nghề chứ không phải chỉ nghiệp dư vớ vẩn, bởi vì trong chúng ta, ai chẳng biết, nghệ thuật ma chay, nhất là ở vùng đất nhà quê này, là nghệ thuật sân khấu ở bậc cao nhất, trong mọi bậc phân loại cao thấp con người ta từng đặt ra. Đến cả những người bình dân nhất cũng đã đưa đám ma lên thành thứ nghệ thuật điêu luyện, còn điêu luyện hơn hẳn trình độ các nhà hát kịch trên toàn nước ta, là những nơi rặt một lũ diễn viên nghiệp dư múa may kịch cọt với nhau mà thôi. Bọn em gái tôi đi lên đi xuống tập dượt đám ma lần này không phải như tập dượt một màn kịch bình thường, tôi nghĩ bụng, chúng nó sẽ tập như tập một màn lễ hội tưng bừng và gã chủ xưởng sản xuất nút chai rượu vang từ Freiburg hẳn cũng đang vừa lăng xăng tháp tùng chúng nó, vừa lẩm nhẩm lại vai của gã, một vai tôi dám cầm chắc chỉ là vai phụ mà thôi. Chúng nó đi lên đi xuống, vừa trông ngóng tôi, vừa tập tới dượt lui màn đám ma bất thình lình chen vào chương trình diễn kịch vốn định sẵn ở Wolfsegg này. Đám ma sẽ diễn ra vào ngày mai, tôi nghĩ, đám ma bao giờ cũng diễn ra ba ngày sau ngày chết. Lúc này, màn sân khấu vẫn chưa kéo ra. Xiêm áo chắc chưa thật chỉnh tề, tôi nghĩ bụng, mồm miệng vẫn chưa thật trơn tru lời văn tiếng nói theo kịch bản. Và còn gì đẹp hơn một màn diễn, trong đó từ trang phục đến tất tật mọi thứ khác đều tuyền một màu đen là chính. Cả đám diễn viên giữ vai phụ, làm nền, từ dưới làng lên cũng đều đóng bộ màu đen nốt. Từ lâu lắm rồi, nhà chúng tôi không diễn màn này ở Wolfsegg; lần cuối cùng là lần ông nội tôi mất, lúc ấy ông đã tám mươi chín tuổi, không may vấp vào gốc cây thông rồi ngã vập đầu chết ngay tại chỗ, trong cánh rừng trải dài từ sau biệt thự trẻ thơ đến tận thành Haag. Bao giờ gia đình tôi cũng ở tình trạng gọi là tình trạng chực sẵn, chỉ chờ có đám ma; đủ thứ trang phục, xiêm áo, đạo cụ, phụ tùng, tất tật những gì cần thiết cho đám ma, đều sẵn đó cả. Song, cũng mất khá lâu, bây giờ các thứ đó mới lại được lôi ra dùng. Nói của đáng tội, tôi nghĩ bụng, cũng chỉ cần phủi bụi bám trên đó đi là được. Quả nhiên, bây giờ tôi mới nhận ra, các mặt tường của tòa nhà chính đều đã treo cờ đen. Cánh thợ làm vườn hẳn đã treo cờ theo lệnh hai con em gái tôi, tôi nghĩ, hay đúng hơn, theo lệnh của con Caecilia chứ không phải của con Amalia, tôi nghĩ thế rồi lại tự hỏi, chả biết hai đứa đã kịp trao vai gì cho gã sản xuất nút chai rượu vang từ Freiburg, không biết gã sẽ phải nói gì khi màn kịch bắt đầu, không biết hai đứa đã nhét vào mồm gã đoạn văn lời lẽ thế nào, bởi vì, tôi nghĩ bụng, sau lần gặp gỡ duy nhất với gã trong đám cưới cách đây mấy hôm, tôi không tín gã sẽ tự nói được điều gì ra đầu ra đũa mà không cần ai mách vở. Trong chớp mắt, Wolfsegg đã đột nhiên chuyển từ đám cưới sang đám ma, tôi nghĩ thầm trong lúc vẫn đứng tựa vào bức tường cạnh cổng ra vào và lòng dạ vẫn chưa hết ngạc nhiên về chuyến đi thuận buồm xuôi gió từ Rome đến Wien, một chuyến đi đúng khớp từng giây, các nhân viên hỏa xa lẫn các hãng hàng không, trái với lệ thường, đều chẳng ai đình công, những nơi chuyển tàu đổi bến đều trơn tru, trót lọt. Bọn em gái tôi, tôi nghĩ thầm, chắc chưa kịp dọn dẹp các loại trang trí dành cho hôn lễ, đã phải lo ngay việc trang hoàng đám ma ở khắp nơi và sắp xếp mọi thứ theo một trình tự định sẵn mà chúng nó đã thuộc lòng, bởi vì mẹ tôi, năm nào cũng như năm nào, bao giờ cũng duyệt lại với chúng ít nhất hai, ba lần - đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất - cái trình tự đám ma đã xưa đến cả trăm năm ấy, cho khoái, và nói như bà vẫn nói, thì ai mà lường trước được sẽ có chuyện gì xảy ra. Cả các đám cưới lẫn lễ mừng sinh nhật ở Wolfsegg đều diễn ra theo những chương trình sắp xếp kĩ từng chi tiết từ trước. Chẳng hạn, hai con em gái tôi chắc chắn biết khi nào nhà có đám ma, phải đem không phải một, mà hai cành nguyệt quế từ nhà kính đặt ra hai bên trái và phải, đằng sau dãy đèn ngoài gian tiền sảnh, còn ngoài ban công của tầng trên, phải đặt hai chậu trắc bá, một chậu sang hẳn bên trái, chậu kia sang hẳn bên phải, và tất nhiên, cây trong chậu phải cao bằng nhau, nhưng không quá cao, chỉ ngang tầm cửa sổ phòng ăn là được. Đúng vậy, mọi thứ hội hè, lễ lạt ở Wolfsegg đều có chương trình nhất định, các chương trình này mẹ tôi bao giờ cũng cất giữ ở ngăn kéo trên, phía bên phải bàn giấy của bà. Y như các bậc tiền bối trước bà, làm gì bà cũng cứ đúng theo các chương trình đó mà làm. Cách thức bà tuân thủ nghiêm ngặt các chương trình lễ lạt đó không phải do bố tôi ép bà, mà chính bà, trong một khoảng thời gian ngắn, tự biến thành niềm đam mê riêng của chính bà. Và đám ma cũng chính là niềm đam mê của bà. Thế nhưng đám ma của chính mình, mà lại xảy ra sớm thế này, chắc bà chưa nghĩ đến bao giờ, tôi tự nhủ, vẫn đứng dựa lưng vào bức tường bên cổng vòm. Rồi tôi lại vụt nghĩ, giá mà được, chắc chắn bà đã tự làm lễ mai táng cho chính bà, và trước mắt tôi đã hiện ngay ra hình ảnh hai đứa em gái tôi đang cử hành lễ tang mẹ tôi theo đúng lời dặn của bà. Tự dưng, cái từ tính chuyên cần bỗng nảy ra trong đầu tôi. Bất kỳ ai khác, đương nhiên sẽ ngồi yên trong taxi đi cho hết con đường có hai hàng cây hai bên, như thông thường vẫn vậy, để lên tận cổng rồi mới xuống xe. Chỉ có tôi là không. Bởi trước đó đã nhận ra tôi là ai, nên người lái taxi cũng tỏ vẻ khá ngạc nhiên thấy tôi xuống xe ở chân Cột Đức Mẹ, giữa hai quán trọ. Có lẽ cũng chẳng ai hiểu, tại sao tôi lại một mình cuốc bộ xuyên qua làng, qua mảnh sân ấy. Nhưng tôi muốn đi bộ lên Wolfsegg, và ngôi làng vắng tanh quả đã rất họp với ý đồ của tôi. Tôi không những chỉ có cảm giác không bị ai theo dõi, mà đúng là không ai dõi theo tôi thật. Hơn nữa, cũng là để nói cho hết nhẽ, việc tôi chẳng mang theo hành lý gì cả, rõ ràng là lạ kỳ, bởi dẫu gì, tôi cũng từ Rome, chứ có phải từ nơi nào gần đây tạt ngang về đâu, và cũng chính vì tôi không mang theo hành lý gì cả, cho nên lúc nào tôi cũng có thể đút hai tay vào túi quần mà đi được. Wig, tôi cứ thế rẽ vào con đường có hai hàng cây hai bên dẫn lên Wolfsegg, hai tay thọc túi quần theo một kiểu xấc xược quái dị, không ai, kể cả dân làng, có thể tha thứ được. Dù gì tôi cũng đã bốn mươi tám tuổi, từ Rome về đây nhân đám tang bố mẹ và anh trai, thế mà hai tay lại đút túi quần! Tôi nghĩ bụng rồi nép sát vào tường thành, không để cánh thợ vườn đang khuân vòng hoa từ khu nhà quản sự vào nhà kính đằng kia trông thấy tôi. Quàn xác chết bao giờ cũng là một màn kịch lớn, tôi nghĩ bụng, một công trình nghệ thuật thành hình từng bước dưới bàn tay thành thạo của những người tinh thông lão luyện, biết rõ cách thức hoàn thành công trình nghệ thuật đó ra sao. Tôi xua ngay ý nghĩ, xác bố mẹ và anh trai tôi đang quàn trong nhà kính kia, tôi không nghĩ đến tấn bi kịch đang thực sự diễn ra mà lại nghĩ đến công trình nghệ thuật, nghĩ đến tính chất lạ thường của nghệ thuật quàn xác chết, chứ không nghĩ đến cái khủng khiếp thật sự của công việc đó lúc này. Tôi bao giờ cũng là kẻ soi mói sắc sảo, đồng thời cũng là kẻ quan sát còn sắc sảo và gắt gao hơn, dần dần tôi đã biến soi mói và theo dõi người khác thành một trong những thói tật chính của tôi, bởi thế, việc tôi đứng ở cổng soi mói và theo dõi mọi sự đang diễn ra kia cũng là việc tự nhiên thôi. Hơn nữa, cánh thợ làm vườn quả là những người tuyệt vời để tôi xem xét và quan sát, rồi nhờ thế mà bình tâm lại. Trước đây, cũng từ chỗ đứng này, tôi từng rất thích xem xét và quan sát họ làm lụng, vào những khoảnh khắc mà, tôi phải nói vậy, tôi cố tình kéo dài mãi ra, thành hàng trăm, hàng ngàn khoảnh khắc. Theo dõi và quan sát - trong khi người bị theo dõi và quan sát không hay biết họ đang bị theo dõi và quan sát - là một trò tiêu khiển thú vị. Song, tôi nghĩ đó cũng là trò tiêu khiển phi pháp; tuy biết như thế, nhưng khi đã nếm mùi trò tiêu khiển đó rồi, ta không sao đừng được nữa. Một tay thợ săn từ trong khu nhà quản sự bước ra, bê theo một chân đèn gọi là chân đèn bệ linh cữu để trao vào tay một thợ làm vườn từ trong nhà kính chạy ra đón. Loại chân đèn này cao hơn thước rưỡi, dùng để dựng phía dưới chân người chết, sao cho ánh đèn nến hắt xuống đủ soi sáng thi thể. Có cả thảy bốn chân đèn như thế. Tôi còn nhớ, những chân đèn này được quét sơn màu vàng kim từ nhiều năm trước, và hồi ấy đã gây ấn tượng mạnh mẽ cho một thằng nhỏ như tôi, bởi nó cứ tưởng, người ta quét sơn, đánh bóng chân đèn bệ linh cữu để làm đám ma một ai đó mà họ biết chắc từ trước rồi. Thế nhưng, tôi đã nhầm, vì sau lần sơn quét chân đèn bệ linh cữu ấy, cũng phải cả mấy chục năm sau mới lại có đám ma, tức là đám ma ông nội tôi, đám ma tôi đã nhắc đến lúc nãy. Nếu trong một nhà, rất lâu mới có đám ma, thì có lẽ người ta phải tính đến chuyện - bỗng dưng, rất đột ngột - vào một lúc nào đó, sẽ diễn ra nhiều đám một lúc. Thiên hạ thường hay tin như thế. Và, bây giờ, điều đó lại nghiệm đúng ở Wolfsegg, tôi nghĩ, ba người cùng chết một lúc, rồi cũng sẽ được chôn cất cùng một lúc. Song, điều đó cũng có nghĩa là, ở chốn này, tiếp theo đây sẽ diễn ra một giai đoạn yên bình; bởi người ta chả vẫn nói đấy thôi, họa vô đơn chí, cũng có nghĩa là đám ma cũng hiếm khi diễn ra một lần mà nhiều lần, theo tuần tự các tai họa ập đến, nhưng lần này, tai họa giết chết cùng một lúc ba người cho một đám ma, tức là theo cách nghĩ của tôi, dồn ba đám ma thành một! Từ dưới làng, len qua các hàng cây cao lẫn bụi rậm mọc um tùm dốc núi, tiếng kèn thổi một bản nhạc của Haydn vọng lên đến đây. Tôi nghĩ bụng, chắc dưới kia, trong ngôi nhà gọi là nhà âm nhạc - một ngôi nhà cũ nằm cạnh trường học - họ đang tập nhạc kèn đám ma cho tang lễ sẽ diễn ra ngày mai. Mới vang lên được vài khúc, tiếng nhạc lại tắt ngấm và không gian lại lặng như tờ. Được một lúc, tiếng nhạc vang lên trở lại, lâu hơn lúc nãy vài khúc, rồi lại im, như thông thường khi dạo nhạc vẫn vậy, người ta dạo nhiều lần, mỗi lần vài khúc, lần sau nhiều hơn lần trước. Lần nào cũng bản nhạc Haydn ấy. Ngay từ dạo còn nhỏ, tôi đã thích nghe dân làng chơi nhạc, nhất là nhạc kèn. Niềm yêu thích, có thể gọi là niềm ham mê thuở ban đầu ấy, tôi vẫn giữ đến tận giờ. Nhưng đến giờ tôi còn đánh giá thứ âm nhạc ấy cao ngang - thậm chí đôi khi, trong tiềm thức, tôi còn đặt nó cao hơn - thứ nhạc gọi là nhạc nghệ thuật hàn lâm nữa kia, bởi nền âm nhạc nghệ thuật có lẽ sẽ chẳng có được, nếu không có thứ âm nhạc gọi là dân gian này, nhất là loại nhạc chơi tại các đám cưới hay đám tang ở nông thôn. Vả lại, sẽ còn gì là đám cưới, đám tang nếu không có thứ nhạc đó. Dân làng thường thể hiện một lối chơi tuyệt vời, và những khi thành công nhất, họ hầu như chẳng kém gì đám gọi là đám nhạc công chuyên nghiệp. Lợi thế của họ chính là ở chỗ, nhạc của họ không phải nhạc chuyên nghiệp, họ chơi nhạc xuất phát từ lòng say mê và ưa thích mà thôi, chứ không vì lý do nghề nghiệp, và nói cho cùng, như ta vẫn biết, không xen thứ bệnh nghề nghiệp nào vào cả. Nhạc họ chơi lần trước trong đám cười em gái tôi thật vui tươi, ngắn gọn, súc tích, tôi nghĩ, khác biết bao với tiếng nhạc lúc này, u sầu, chậm rãi, nhưng cũng như trong đám cưới, lúc này vẫn là nhạc Haydn, một nhạc sĩ tôi hâm mộ nhiều hơn cả, hâm mộ ngang với hâm mộ Mozart, một nhạc sĩ tôi thích nghe nhất, thích nghe như thích nghe Mozart. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ, mặc dù đem đặt cạnh Mozart, là người toàn thiên hạ ai cũng mê cũng phục, Haydn thường vẫn bị thua thiệt, cho nên trong lịch sử âm nhạc, lẽ ra người ta phải đặt Haydn cao hơn Mozart nhiều mới phải. Tôi hâm mộ cả Mozart lẫn Haydn, nhưng vẫn đinh ninh, Haydn chắc chắn vẫn lớn hơn. Bản nhạc này của Haydn hợp với khung cảnh buổi trưa hôm nay, với khí trời lung linh, với bước đi của những người thợ làm vườn đang lặng lẽ bê các loại hoa kết vòng, kết bó từ nhà quản sự sang nhà kính, chậm rãi và thận trọng, không để bất cứ ai, bất cứ việc gì làm gián đoạn công việc. Tôi còn nhớ vô số các buổi chiều của thời thơ ấu, tiếng nhạc kèn của ban nhạc chơi vọng từ dưới làng lên tận phòng tôi, chơi đúng bản nhạc này - tôi vừa lắng nghe tiếng dàn kèn đang tập dượt dưới kia, vừa nghĩ bụng - ban nhạc có lẽ cũng vẫn gồm các nhạc công thời ấy. Song, thông thường họ chỉ choi những bản nhạc đơn giản thôi, bây giờ họ phải choi những bản phức tạp hơn, những bản - như người ta vẫn nói - thách thức tài nghệ các nhạc công ban kèn nhiều hơn, có lẽ vì Wolfsegg đòi hỏi thứ nhạc phức tạp hơn, có thể nói là cao cấp hơn chăng, cho những nhân vật gọi là cao cấp hơn, đang nằm quàn trong khu nhà kính kia. Dân làng dưới kia chắc phải hết sức kinh hoàng, khi hung tin lan ra. Một tai họa cực kỳ khủng khiếp như thế này chưa từng xảy ra ở Wolfsegg bao giờ, tôi nghĩ bụng, và tức khắc tôi cảm thấy tiếc rẻ rằng lúc này tôi không ở dưới kia cùng dân làng, vào nhà họ, nghe họ nói gì về tai họa xảy ra, xem họ nghĩ gì, họ xúc động ra sao trước tai họa ấy; tôi tiếc rẻ không được ngồi trong nhà họ, chia sẻ với họ nỗi xót thương và đau buồn chắc chắn hết sức tự nhiên của họ. Dân làng rất trọng bố tôi, mặc dù cũng có thể có vài người quý ông, tôi nghĩ bụng, nhưng đa phần họ không quý ông; phần ông anh trai tôi, quả thật dân làng ai cũng quý, còn mẹ tôi - trọng thì họ có trọng, nhưng quý thì chẳng ai quý. Thế nhưng, có thế nào đi nữa, chắc chắn dân làng ai cũng đau buồn, tôi nghĩ thế, và bị sốc nặng bởi tai họa này. Không biết những gì đang thật sự diễn ra trong đầu óc họ, tôi tự hỏi, nhưng rồi lại tự nhủ, làm sao có thể tự trả lời được một câu hỏi như thế. Từ hàng trăm năm nay, dân làng nơi đây đã sống dựa vào gia đình chúng tôi, tôi nghĩ bụng. Cho đến tận bây giờ, phần lớn dân làng, nhất là cánh thợ mỏ, thợ làm gạch hay dân làm nghề nông, vẫn còn phải sống dựa dẫm như thế. Dân trong làng, dù ít dù nhiều, ai nấy đều dựa vào Wolfsegg, bám lấy nó, từ trăm thước ở dưới trông lên, tìm nơi nương tựa. Tôi nghĩ bụng, chỉ trong chớp mắt - mọi thứ trong một ngôi làng như ngôi làng này đây, mọi thứ trên một mảnh đất như mảnh đất này đây - bỗng bị xáo trộn hết cả. Cũng như mọi thứ trong một gia đình như gia đình tôi vậy! vẫn đứng tựa vào tường, tôi tự nhủ, từ nãy đến giờ, đã khá lâu, hành động của tôi - cứ theo quan niệm chung về phép tắc cư xử đứng đắn mà xét, thì thật ra, là hành động không được phép, nghĩa là, tôi cố tình chần chừ, đẩy lùi một cách không thể tha thứ, cái khoảnh khắc lẽ ra tôi phải xuất đầu lộ diện ở Wolfsegg. Song, có lẽ tôi đã quá hèn nhát, không dám đi ngay vào khu vườn, và cũng không dám bước về phía nhà kính, nếu không phải là bước vào ngay, thì cũng đến gần cổng, chứ chưa nói đến việc dám bước chân đến chỗ quàn bố mẹ và anh trai tôi. Quả thật, tôi đã không dám, tôi không thể làm như thế, tôi không đủ sức làm như thế, tôi chỉ còn sức đứng tựa lưng vào bức tường đây nhìn vào trong, về phía nhà kính, vâng, quả là như vậy thật, sức tôi chỉ đủ đến thế, chứ không còn sức ra hiệu báo cho mọi người biết tôi đã về nữa. Tôi không đủ sức lãnh đạm đến độ có thể điềm nhiên, không chút động lòng, bước thẳng tuột đến nhìn cảnh tượng chắc chắn là hết sức khủng khiếp đó. Song, ai mà có đủ được sức mạnh như thế chứ? Tôi lại tự hỏi, rồi đưa mắt dõi theo mấy người thợ làm vườn đang dùng xe đẩy tay chuyển một lô gỗ ván từ nhà quản sự đến trước nhà kính. Nhìn chăm chú mấy người thợ đang dỡ gỗ ván trên xe xuống, tôi nghĩ bụng, tên mấy người này là gì, tôi đều biết cả. Chẳng những biết tên họ, tôi còn biết cả gia đình họ và biết rõ họ từ đâu đến. Một người trong số họ, tôi còn học, chẳng những cùng một trường, mà còn cùng một lớp. Anh ấy giỏi hơn tôi trong mọi môn học, nhất là môn làm tính. Chữ viết anh ấy cũng đẹp hơn tôi, có điều viết đẹp hơn tôi thì chưa kể là tài nghệ cao cường được. Một anh khác nhà ở ngay rìa làng, nơi giáp ranh giữa Wolfsegg với Ottnang. Bố anh này vốn làm cho hội đồng làng xã, tôi vẫn nhớ, giữ chân thợ đào huyệt trong nghĩa địa. Dạo tôi còn nhỏ, tôi cũng còn nhớ, ông là người có uy tín cao trong dân làng và tụi trẻ con nhất mực quý ông ấy, chứ không sợ, như người ta có thể tưởng nhầm, do nghề đào huyệt của ông. Khác với tụi trẻ con thành thị, là tụi bao giờ cũng kinh hãi những gì có liên quan đến cái chết, trẻ con nông thôn lại có cách nhìn rất tự nhiên đối với cái chết và không bao giờ sợ nó cả. Riêng anh bạn học cùng lớp với tôi, dạo mới đầu được chọn để học thành linh mục. Giáo xứ phái anh ta đến tu viện ở Kremsmunster, nhưng anh ta - mặc dù ở trường học giỏi và nhiều năng khiếu như thế - lại thi trượt ở đấy, đành quay về Wolfsegg học nghề mộc. Học xong nghề mộc, anh ấy không thích làm ở xưởng mộc, nên xin làm thợ làm vườn ở chỗ chúng tôi. Thành ra, ngoài nghề thợ mộc, anh ấy học và biết thêm nghề làm vườn. Mẹ tôi thường rất khoái chí về chuyện này, bởi đó chính là một nước cờ hay của bà, bà chu cấp toàn bộ chi phí cho anh này học nghề làm vườn, để sau này, bà khỏi phải thuê thêm một tay thợ mộc cho Wolfsegg. Kinh nghiệm hàng chục năm cho thấy mẹ tôi bao giờ cũng nghĩ ngợi, tính toán kĩ lưỡng mọi chuyện, nhất là những chuyện thực dụng, có lợi mọi đường. Anh thợ thứ ba con một gia đình thợ mỏ, cũng cùng học một trường với tôi hồi trước, sau đó anh học nghề làm vườn, nhưng không phải học ở Wolfsegg mà ở Vocklabruck, nơi anh có bà cô nuôi suốt thời gian ăn học thành nghề. Cả ba anh thợ làm vườn này, tôi nhớ lại, đều từng là bạn chơi hồi nhỏ với tôi, từng chạy nhảy trong rừng, leo đồi, lội suối với nhau. Nhà họ ở, có lẽ đến giờ vẫn vậy không suy chuyển gì, tôi thầm nghĩ, khác với nhiều nhà khác, vào những năm gần đây các chủ nhà thường thay đổi, mua sắm bàn ghế tân thời, thứ bàn ghế đã ít giá tri lại hay hỏng. Các anh thợ làm vườn đây chẳng bao giờ quan tâm đến chuyện sắm sửa đồ đạc tân thời, họ chỉ chú trọng đến bàn ghế, đồ đạc bền và tốt, cho nên nhà cửa họ ở không thay đổi là mấy. Mấy anh này, anh nào cũng ba con, đứa nào cũng ở độ tuổi tôi dạo đó và hẳn anh nào cũng có chuyện này chuyện nọ với tụi trẻ ở tuổi ấy thường gây ra. Tôi nghĩ bụng, mỗi mình ta không vướng những chuyện với con cái như vậy. Bất kỳ ai khác, tôi tự nhủ, có lẽ sẽ chẳng ngại ngần gì để đến chỗ mấy anh thợ làm vườn, chào hỏi bắt tay rồi đứng chuyện trò dăm ba câu với họ. Dù rất muốn như thế, nhưng tôi không sao cất bước đến với họ được. Đứng từ xa quan sát mấy anh thợ làm vườn, tôi nghĩ bụng, thế gian này tôi đã đi non nửa, nó thế nào tôi cũng hiểu biết phần nào, và nói như người ta thường nói cho khỏi mang tiếng huênh hoang mình đã đủ khôn khéo lắm ở đời, ít nhiều biết cách cư xử sao cho tự nhiên, sao cho đàng hoàng, sao cho tự tin ở mọi nơi, mọi lúc, giữa mọi tầng lớp xã hội; ấy thế mà lúc này, tôi cất không nổi bước chân đi về phía mấy anh thợ làm vườn kia để bắt tay, chào hỏi, chuyện trò dăm ba câu với họ. Lẽ ra, tôi phải đi ngay đến với họ mới đúng, tôi tự nhủ, lẽ ra lúc đến cổng và nhìn thấy họ là tôi phải xông đến chỗ họ ngay, bởi lúc ấy họ đã ở trước nhà kính rồi. Nhưng không, tôi đã không nhận ra lợi thế ấy, để mạnh bạo bước ngay đến chỗ họ mà lại rụt ngay lại, rồi ít nhiều sợ hãi và hổ thẹn, tôi lại nép vào tường để tránh không cho ai nhìn thấy tôi. Trong khi đó, tôi tự nhủ, nếu tôi đến chào hỏi các anh thợ làm vườn ngay thì có phải hay biết bao nhiêu. Tôi đã lỡ cơ hội, tôi đã để cơ hội trôi tuột mất. Giá chỗ kia là mấy gã thợ săn thì sự thể hẳn đã khác, đằng này đấy lại là thợ làm vườn, những người tôi không những chỉ hết sức kính trọng, mà còn hết lòng quý mến. Song, cái lối dùng dằng ở cổng như thế là lối xử sự rất điển hình của tôi, tôi nghĩ bụng, tôi không phải người có thể nhập cuộc ngay được, bất kể cuộc gì, không phải người có thể bước ra sân khấu là diễn ngay được. Do dự chần chừ như thế là một phương cách giúp tôi lui vào một thế đứng thuận lợi để quan sát. Hay nói cách khác, tôi nghĩ, kín đáo vẫn cứ hơn. Mỗi năm một lần, bố mẹ tôi lại mời mọi thành viên trong gia đình các thợ làm vườn đến biệt thự trẻ thơ dự bữa tiệc gọi là tiệc trà - một bữa tiệc đã có truyền thống từ hàng trăm năm nay. Các gia đình thợ làm vườn dắt nhau lên Wolfsegg dự tiệc và mọi người trong gia đình tôi, nhất là bố mẹ tôi, đích thân rót nước, pha trà, dọn bánh chiêu đãi họ. Tiệc trà bao giờ cũng là một sự kiện đặc biệt. Đến cuối buổi, vào lúc sẩm tối, thì đến mục con cái các nhà thợ làm vườn được chia quà. Tôi không nhớ, đã có bao giờ anh em tôi, vâng, anh Johannes với tôi, được bố mẹ tôi tặng quà trong một khung cảnh cảm động như thế không. Phải nói, mỗi lần tặng quà như thế, mẹ tôi bao giờ cũng trở nên dịu dàng. Bà âu yếm chia quà cho tụi nhỏ và ai cũng có cảm giác, bà chia quà như thế với tấm lòng rất thành thật, không đóng kịch, như trong mọi việc khác bà làm. Có lẽ, tôi nghĩ bụng, phong cách sống của những người thợ làm vườn khiến bà thay đổi, bởi vì, mỗi khi bà đến chỗ họ, hoặc trong các tiệc trà tại biệt thự trẻ thơ, bà bỗng thay đổi hẳn, không lộ ra dáng vẻ khó chịu như mọi khi nữa. Nhìn mẹ tôi giữa đám thợ săn, bao giờ tôi cũng thấy bà đáng ghét, nhưng giữa những người thợ làm vườn, tôi lại chẳng thấy sao. Ở những người thợ làm vườn Wolfsegg bao giờ cũng toát ra một vẻ phúc hậu, lan tỏa sang người khác. Chả thế mà tôi, dạo mới chập chững biết đi, đã thích đến chỗ họ. Đến như ở Rome, tôi cũng hay nhớ đến họ; những lúc khó ngủ, nằm trằn trọc trên giường, tôi vẫn thường tưởng tượng ra cảnh tôi đang ở chỗ họ, và tôi luôn thấy hạnh phúc. Giờ đây, tôi có cảm giác như thể tôi đang lẻn đến đứng bên họ, và họ, những người thợ làm vườn tôi đang quan sát đây, là những người suốt đời trong sạch, còn tôi, lại là kẻ không trong sạch suốt đời. Tôi nghĩ, tôi chẳng bao giờ là người ở đây nữa, càng không phải là người trong số họ, vậy mà suốt đời tôi, tôi không có ước vọng nào lớn hơn là thuộc về họ, vâng, một ước vọng quái đản, một ý muốn vô lý chỉ thằng nào điên khùng như tôi đây mới ấp ủ trong đầu mà thôi. Suốt đời tôi, tôi hướng về những người bình dấn đơn giản, muốn kết thân với họ, song, tất nhiên, không bao giờ thành. Kể ra thì cũng có lúc tôi tưởng tôi đã thành công thật và cố tình tự đánh lừa mình thật lâu, nhất là những khi tôi gần gũi cánh thợ làm vườn hay thợ mỏ, những người tôi vẫn quý mến ngay từ thuở ban đầu. Thế nhưng, đó chỉ là ảo tưởng, và chung cuộc bao giờ cũng thảm hại. Người nhà tôi càng ngăn trở tôi đến với những người gọi là bình dân ấy bao nhiêu, càng nói xấu họ trước mặt tôi bao nhiêu, tôi càng khao khát đến với họ bấy nhiêu. Tôi biết, đó là một thứ khao khát bệnh hoạn đeo đuổi tôi nhiều năm trời, và dù rất muốn, tôi vẫn không đủ sức giải thoát khỏi nỗi khao khát bệnh hoạn ấy, khiến đến tận giờ, vẫn phải khổ sở vì nó. Trong khi những người gọi là thuộc tầng lớp hạ lưu ra sức ngoi lên tầng lớp thượng lưu ở trên, thì tôi lại một mực đòi xuống với họ ở dưới. Những người hạ lưu bất hạnh vì họ thuộc tầng lớp hạ lưu, còn tôi thuộc tầng lớp trên, tôi lại đau khổ vì phải ở trên, giống y như họ đau khổ vì phải ở dưới. Đứng tựa lưng vào bức tường cạnh cổng, tôi nghĩ bụng, vâng, cả đời tôi, tôi chỉ muốn làm sao nhập được vào cộng đồng những người gọi là người bình dân đơn giản, mặc dù họ tuyệt nhiên không đơn giản chút nào. Tôi đã dùng bao nhiêu mưu mẹo và mánh lới toan đánh lừa họ, nhưng bao giờ tôi cũng bị họ lật tẩy và bịt lối, không cho tôi nhập bọn với họ, cũng như người nhà tôi nhìn thấu tâm gan những người gọi là hạ lưu đó và chặn đường, không cho họ ngoi lên. vẫn đứng tựa lưng vào bức tường cạnh cổng, tôi chợt nhớ lại, trong căn hộ ở Rome tôi thường tưởng tượng ra cảnh tôi hòa nhập cùng với họ, nói tiếng nói của họ, nghĩ cách nghĩ của họ, nhiễm các thói quen của họ, song, tất nhiên, điều đó chỉ diễn ra trong giấc mơ của tôi, chứ không diễn ra ngoài đời, thứ mà tôi ao ước chỉ là ảo tưởng mà thôi. Tôi không phải bình dân, tôi phải tự nhủ như vậy, họ cũng chẳng thượng lưu. Tôi không như họ, họ không như tôi - suốt đời, công thức so sánh này không ngớt hành hạ tôi. Thật sai lầm, khi quả quyết người lớp trên, tức người nhà tôi, giả dối, còn những người hạ lưu không giả dối, bởi vì thật ra ở dưới ấy, họ cũng giả dối chẳng kém gì, theo lối của họ, y hệt như người nhà tôi giả dối theo cách của mình. Tôi cũng sẽ sai lầm y như thế, nếu tôi khăng khăng người hạ lưu là người tốt, hay nếu tôi cam đoan, họ không tham lam, họ không huênh hoang khoác lác, bởi vì người hạ lưu cũng tham lam, huênh hoang, khoác lác y như thế, theo kiểu của họ. Thế nhưng, tôi vẫn được phép nói, ở giữa cộng đồng những người bình dân, tôi khoan khoái, dễ chịu hơn ở giữa cộng đồng những người như tôi, mặc dù tôi vẫn thường rùng mình ớn lạnh với ý nghĩ tôi không phải với họ và đã ít nhiều phản bội cả chính mình lẫn gia đình mình. Ta vẫn hay tự phản bội mình như thế, tôi nghĩ bụng, khi ta thiên vị kẻ khác, khi ta nâng họ lên tầm cao hơn tầm cao thật sự của họ. Ta lạm dụng họ, khi ta tự coi mình thuộc về hàng ngũ họ, song làm như thế, đồng thời ta cũng tự lạm dụng mình ở mức thật đáng tởm, bởi ta tự hại ta và làm lợi cho họ. Nhưng ta chẳng bao giờ thật sự thành công trong việc vừa giữ được mình, vừa nhập chung cùng với họ cả. Họa hoằn, nếu lúc này, lúc khác có thành công, thì cũng chẳng đáng kể nào. Những lúc ta nhập bọn cùng với họ, ta thường trút bỏ hết những gì làm nên ta. Họ sẽ nhận ra ngay điều đó và sinh ra ngờ vực, khiến ta không còn tự tin như khi ta vừa bước vào cuộc chơi với họ nữa. Bởi vì, chính đó là một cuộc chơi, khi ta đinh ninh, ta phải như họ, khi ta khao khát được như họ, do ta không chịu nổi chính mình nữa và lấy họ làm khuôn mẫu cho mình. Sự nhầm lẫn kéo suốt cuộc đời ta, cũng chính là sự lăng nhục trọn đời ta. Người bình dân không đến mức bình dân, cũng như người phức tạp chẳng đến mức phức tạp, như thiên hạ vẫn tưởng. Từ cổng nhìn vào, tôi thấy cánh thợ làm vườn lúc này đang bê những tấm vải rộng, màu đen, từ khu nhà quản sự sang nhà kính; đấy là những tấm vải liệm xác người chết dùng cho các đám tang và được cất giữ trong căn phòng riêng, gọi là phòng người chết, trong khu nhà quản sự. Tôi nhớ, tôi đã từng một lần chứng kiến đúng cảnh tượng như thế này, khi thợ làm vườn - cố nhiên là những người thợ khác với những người thợ tôi đang thấy bấy giờ - cũng đang khuân vải liệm từ khu nhà quản sự sang nhà kính. Nhưng, dạo ấy, khi tôi còn nhỏ, tôi không đứng ở chỗ tôi đang đứng bây giờ, mà đứng ngay trước nhà kính, sát tận nơi để ngó nghiêng xem các bác làm vườn đang loay hoay với công việc của họ. Lòng tôi lúc đó tuyệt nhiên không chút bối rối, không mảy may ngượng ngùng hay có tí đắn đo nào, mặc dù lúc đó người chết nằm quàn trong nhà kính kia chính là ông nội tôi hằng biết bao yêu quý. Vậy mà bây giờ, ba chục năm sau, tôi đứng dựa lưng vào bức tường ngay cổng ra vào này, để lánh mặt, vì những nguyên do mà chính tôi, nói cho cùng, cũng chưa thật hiểu rõ, chỉ biết đó là các nguyên do thật sự khiến tôi u uất. Vâng, đột nhiên, lòng tôi trở nên u uất lạ kỳ. Tôi đứng ngây ra đây và không còn sức tự tin như hồi đó, lúc còn bé, để thản nhiên bước đến với những người thợ làm vườn kia, bắt tay chào hỏi họ, nói với họ, tôi quý họ biết bao nhiêu, tôi cần có họ biết ngần nào. Nghĩa là đến với họ, tôi có thế nào, cứ để họ thấy như thế. Song, tôi ngần ngại, tôi lo sợ. Thảm họa sẽ xảy ra, tôi nghĩ bụng, một khi cái tự nhiên đối đầu với cái giả tạo, chắc chắn kẻ giả tạo ở đây là tôi, đối diện với những người thợ làm vườn đương nhiên rất đỗi tự nhiên kia. Nhưng, trong giây lát tôi lại nghĩ bụng, có lẽ, tôi chỉ tự gán tính giả tạo cho mình, chứ đúng ra tôi rất tự nhiên, cũng giống như tôi chỉ tự đánh lừa mình khi nghĩ rằng cánh thợ làm vườn kia chân thành và tự nhiên, trong khi họ, thật ra, cũng giả tạo và tự nhiên với các mức độ ngang như tôi vậy thôi. Dù trời đang nóng, tay tôi vẫn lạnh toát. Hồi bé, tôi nghĩ bụng, bao giờ tôi cũng nhanh mồm nhanh miệng chuyện trò được ngay, lúc này, tôi không rặn nổi một tiếng. Hồi ấy, tôi chẳng cần nghĩ ngợi gì lâu la mà vẫn bắt chuyện hết sức tự nhiên với cánh thợ làm vườn hay thợ mỏ. Ấy thế mà, tôi nghĩ bụng, sau khi đã đi khắp cùng trời cuối đất, đến tận những Paris, London với Rome, bây giờ tôi lại rụt rè hơn bao giờ hết; sau khi đã học hỏi nhồi nhét vào đầu bao nhiêu thứ khoa học, cũng như sau khi - như tôi vẫn tưởng - tiếp thu được các kiến thức cao siêu về đồng loại, giờ đây tôi lại không biết làm thế nào để tiến về phía những người thợ làm vườn kia, bắt tay chào hỏi, buông ra dăm ba câu trò chuyện với họ. Trong giây lát, tôi chợt có cảm giác, dường như tất cả những gì tôi đã làm suốt mấy chục năm qua nhằm thoát khỏi Wolfsegg, nhằm tạo thế độc lập cho mình - không những chỉ độc lập với Wolfsegg, mà với mọi thứ khác ở đời - đã không giải phóng tôi, đã không làm tôi độc lập mà, ngược lại, lại làm tôi què quặt tật nguyền ở mức thật thảm hại. Tôi là kẻ tật nguyền, tôi tự nhủ. Song, vừa nghĩ như thế xong, tôi liền đi ngay đến chỗ mấy anh thợ làm vườn, bắt tay họ. Họ không tỏ ra ngạc nhiên về sự xuất hiện bất ngờ của tôi. Tôi xướng tên họ, tôi bắt tay họ, tôi bảo, tôi đi bộ từ dưới làng lên Wolfsegg. Tôi cũng bảo, tôi đã đứng một hồi ở cổng kia xem họ làm việc rồi đưa mắt chỉ ra phía sau lưng. Họ tỏ ra không hiểu tôi nói gì, nhưng cũng không coi đó là điều hệ trọng, và với vẻ hoi ngơ ngác, cũng ngước nhìn về phía cổng. Đương nhiên, họ có vẻ dè dặt hơn mọi ngày, nhưng đó là sự dè dặt hoàn toàn tự nhiên, hỏi gì đáp nấy, nhưng khi tôi hỏi họ có khỏe không, thì không ai đáp. Họ tưởng tôi sẽ đi ngay vào nhà kính xem mặt người đã khuất; song tôi không vào đấy. Tôi đưa mắt nhìn ô cửa mở toang của khu nhà chính rồi trông sang nhà quản sự vắng tanh, không bóng người. Đoạn, tôi quay trở lại nhìn cánh cửa tòa nhà chính và hỏi mấy anh thợ làm vườn, có phải các em gái tôi đang ở trong nhà không. Họ bảo vâng. Tôi đi thẳng tới tòa nhà chính, về phía ô cửa màu đen hình chữ nhật; từ trên ban công nằm ngay phía trên ô cửa, rủ dài xuống một lá cờ đen. Tôi nhớ mới tuần trước, trong khuôn viên đây còn chen chúc đủ hạng người - ai nấy dáng vẻ ít nhiều vui tươi sung sướng, ăn mặc cũng ít nhiều lòe loẹt, lúc đó tôi còn nghĩ thế - cùng kéo nhau đến ăn mừng đám cưới của cặp vợ chồng trẻ, tức là của con em Caecilia tôi với gã chủ xưởng nút chai rượu vang, ồn ào, rôm rả, cho đến lúc một cơn giông sập tới giải tán cuộc vui, xua mỗi người một ngả, kẻ lên xe hớt hải về nhà, kẻ nhanh chân chui vào nhà, ăn uống, nhảy nhót không ngừng không nghỉ suốt đêm ở trong đó. Dàn nhạc nhảy, thuê từ Ebensee đến, chơi suốt đêm, khiến những ai nửa đêm có dở chừng bỏ cuộc về phòng cũng không ngủ được - vừa đi về phía khu nhà chính, tôi vừa nhớ lại - mãi đến năm giờ sáng, dàn nhạc ngừng chơi, mọi người ngừng nhảy, lúc ấy trong nhà mới trở nên yên ắng. Không khí vui vẻ náo nhiệt của đám cưới lây cả sang tôi, cho nên tôi không chỉ ngồi yên một chỗ nhìn nhìn ngó ngó, mà cũng tham gia vào cuộc vui, thậm chí còn nhảy hai lần, một lần với Amalia, một lần với Caecilia. Song, với tôi, tất nhiên, chỉ nhảy hai lần là đủ rồi. Cũng phải nói, tôi nhảy không tôi, bởi vì, xét cho cùng, ai đã biết nhảy rồi, khắc không bao giờ quên nữa. Vả lại, rõ ràng tôi nhảy với Caecilia đẹp hơn gã chủ xưởng nút chai rượu vang, mặc dù, thường thường, những ai béo mập đều nhảy được, tôi tự nhủ, đa phần họ còn nhảy đẹp hơn những ai gầy ốm, hơn nữa, họ còn có khiếu âm nhạc hơn. Riêng có đám cháu trai, cháu gái đến đám cưới này tôi mới biết mặt, tôi nghĩ bụng, chẳng mấy chốc đã khiến tôi khó chịu. Cả bọn gộp chung với nhau thành một bằng chứng nữa cho thấy tụi trẻ mười chín đôi mươi thời nay hời hợt, nông cạn ra sao. Ngoài ham muốn điên dại được chơi bời, giải trí, chúng thờ ơ với mọi sự ở đời. Tôi không chuyện trò thực sự với đứa nào trong đám cháu trai cháu gái ấy được cả; đến dăm ba câu thăm hỏi hay bông đùa cũng chẳng xong. Nếu không phải lúc bận nhảy nhót, chúng nó đứa nào đứa nấy đứng lơ ngơ, lớ rớ, và ai cũng có thể thấy, chúng nó đang bị chìm đắm trong nỗi buồn tẻ chung thân, nỗi buồn tẻ luôn dằn vặt chúng nó, nói cho cùng, vì chúng đã không sớm ra tay chống lại nỗi buồn tẻ gây chết người đó. Chúng nó muộn mất rồi, tôi tự nhủ, cả bọn chúng nó chẳng đứa nào thoát khỏi nỗi buồn chán ghê gớm miên man suốt đời ấy nữa; ngay lúc này, đứa nào đứa nấy đều dường như đã bị vợ con, người tình, nghề nghiệp của chúng ăn tươi nuốt sống, đã bị cái vỏ ngoài quái dị làm cho mê muội tự bao giờ rồi. Nói chuyện với chúng, người ta khắc thấy ngay chúng không có bất cứ thứ gì trong đầu, ngoài những suy tư cực kỳ nông cạn và các nỗi trăn trở về quỹ tiền hưu và xe cộ sau này của chúng mà thôi. Có bắt chuyện với đứa nào trong bọn chúng, tôi nghĩ bụng, thì dường như, không phải tôi đang nói chuyện với một con người nào đó, mà với một kẻ huênh hoang mạt hạng, đầu óc nghèo nàn, rỗng tuếch rỗng toác. Một lũ những bọn huênh hoang khoác lác như thế - cái lũ đầu óc chẳng chứa gì hơn, ngoài các toan tính hạ đẳng về tiền bạc và được liệt vào giới gọi là giới thượng lưu quanh vùng ấy - đã thi nhau đóng những bộ cánh chúng từng cho may thửa theo đủ loại kiểu mẫu kệch cỡm nhất, rần rần kéo nhau về dự đám cưới này. Bọn chúng đa phần là đám đàn ông, kẻ bận những chiếc quần gắn nẹp lòe loẹt hai bên ống, kẻ xúng xính áo khoác có gắn những chiếc khuy to tổ bố bằng sừng nai trên ve áo, kẻ khoác lễ phục may bằng nỉ đen thừa kế của bố mẹ ông bà, kẻ đeo cổ áo dân gian, cũng thừa kế của các thế hệ cha ông nốt. Con Caecilia lại còn nhét thằng chồng chủ xưởng nút chai rượu vang của nó vào chiếc quần da cũ kĩ của ông nội tôi, cũ đến mức ông nội tôi lúc còn sống cũng không còn mặc nữa. Tôi biết tính con này, tôi đoán chắc rằng nó rắp tâm làm như thế chỉ cốt làm thằng chồng chủ xưởng nút chai rượu vang của nó, vốn đã lố bịch, lại càng lố bịch hơn mà thôi. Nó còn bắt thằng chồng nó khoác chiếc áo khoác ông nội tôi từng mặc lúc ông vấp gốc cây thông ngã chết trong rừng và được người ta khiêng từ trong rừng về nhà, mới đầu đặt nằm trong nhà quản sự, rồi sau đó cũng quàn tại nhà kính. Đưa mắt dõi theo thằng chồng con em gái tôi, suốt buổi tôi cứ quẩn quanh cùng ý nghĩ, chiếc áo này, từng đã được quàn một lần rồi, thế mà con em tôi, tuy biết rành rành như thế, từ một dã tâm hết sức quái đản, vẫn cố tình bắt thằng chồng, chủ xưởng nút chai rượu vang, của nó mặc chiếc áo này, chiếc áo người chết, chiếc áo đã được quàn một lần trong nhà kính ấy lên người trong ngày cưới. Phải mặc chiếc áo của người đã chết này suốt buổi, gã chú rể chắc phải kinh sợ hết hồn, tôi nghĩ bụng. Sự đê tiện của con em gái tôi trong trò ma quái này quả vô bờ. Song, rất có thể mẹ tôi mới thực là người bày ra trò này, cái trò đúng dịp đám cưới, lừa cho gã chủ xưởng nút chai rượu vang mặc lên người chiếc áo người chết, chiếc áo từng một lần quàn trong nhà kính ấy. Xét cho cùng, thì chuyện này dám lắm, bởi đầu mẹ tôi bao giờ cũng sẵn các âm mưu lẫn ý đồ nham hiểm kiểu như thế cùng với tính cách đê tiện, hèn hạ vốn luôn luôn là động lực chính, thúc đẩy bà trong mọi việc. Đã thế, vị hôn phu tội nghiệp kia lại còn mang đôi giày cũ, có khóa cài, của ông nội tôi; gã mang vào chân không phải để đi, mà như suốt buổi tôi vẫn thấy, cố gắng để đứng thẳng trong một tư thế đến kỳ quặc. Mọi thứ quần áo gã mặc trên người cũng đã xưa đến một trăm hai chục năm chứ không ít, như con Caecilia không khảo mà xưng vẫn luôn mồm bô bô nói với mọi người, để khoe khoang, nhưng qua đó, vô tình hay cố ý, cũng làm thằng chồng nó biến thành kẻ cực kỳ lố bịch trước bàn dân thiên hạ. Con Caecilia phô thằng chồng nó trong bộ quần áo cũ những một trăm hai chục năm như thế ra trước mặt đám đông, tôi nghĩ cũng như phô một thằng hề vậy. Song thật ra, tôi lại tự nhủ, tất cả bọn họ đều ăn mặc như hề cả, bởi vì, chỉ trừ vài người - như mấy viên bác sĩ và luật sư từ Weis hoặc Vocklabruck sang, hay như một vài người trong số bà con họ hàng từ Wien hay München về đây - đám khách khứa dự đám cưới, ai nấy đều đóng những bộ lễ phục cũ kĩ, cũ ít nhất cũng cả trăm năm. Nên tự nhiên ai nấy đều như hề cả lũ. Loại hôn lễ như thế này vốn vẫn làm tôi ngao ngán và sau vài ba lần, tôi đều khước từ tham dự. Thế nhưng, nếu tôi cứ nằm lì ở Rome, không về dự đám cưới em gái thì sẽ thật là quá quắt; vả lại, tôi cũng không có ý định làm gia đình mất thể diện đến mức đó, mà ngược lại, tôi còn tự lấy làm ngạc nhiên, hóa ra mình cũng dự qua được đám cưới, thậm chí còn có phần thích thú là khác. Và lúc ấy, tôi đã tự nhủ, đây cũng sẽ là đám cuối cùng mình đến dự, làm như thể ngay từ bây giờ tôi đã gạt ngay chuyện con Amalia, đứa em gái thứ hai, đến lúc nào đó cũng có thể sẽ lấy chồng, hoặc ông anh tôi, trong khoảng một chục năm tới, có thể sẽ lấy vợ. Đám người đến dự đám cưới đây, tôi tự nhủ, tất tật đều ngu và thô lỗ. Ta lấy làm mừng rỡ gặp lại một người ta từng quen biết từ xưa, bắt tay hắn, song ta lại nhận ra ngay, tôi nghĩ, rốt cuộc hắn cũng chỉ trở thành một thằng ngu. Và, đám trẻ còn ngu hơn cả đám già, nhưng trong cái ngu của đám già ít nhiều còn chứa cả sự lố bịch. Thường ta vẫn tưởng, một khi ta trưởng thành, bất kể theo chiều hướng nào, thì kẻ khác ắt cũng trưởng thành. Song ta nhầm to, bởi vì đa phần họ đều giẫm chân tại chỗ, không trưởng thành thêm chút nào, không trưởng thành theo hướng này cũng chẳng trường thành theo hướng khác; họ không tôi đi mà cũng chẳng tốt lên, họ chỉ già đi, và do đó, trở nên vô cùng tẻ nhạt. Ta vẫn tưởng, ta sẽ bất ngờ và kinh ngạc trước sự trưởng thành của một người từ lâu ta không gặp, song, khi ta thật sự gặp gã, ta lại bị bất ngờ vì gã chẳng hề trưởng thành thêm chút nào, gã chỉ già thêm hai chục tuổi, và thay vào thân hình tráng kiện hôm xưa, nay gã vác cái bụng phệ nặng nề, trên những ngón tay thon thả vốn dạo xưa vẫn làm ta ngưỡng mộ, bây giờ đeo hết vòng này cùng nhẫn khác, trông thồ kệch phát khiếp. Ta vẫn tưởng, ta sẽ có nhiều chuyện lắm để nói với người này hay bàn cùng người nọ, song ta lại ngã ngửa ra rằng, ta chẳng nói được với họ chuyện gì sất. lả đứng đực ra đó và tự hỏi, tại sao nhỉ, nhưng không tìm nổi câu trả lời mà chỉ biết ề à, nào thời tiết thế này thế khác, nào thế sự khủng hoảng đảo điên thế này thế nọ, nào chủ nghĩa xã hội lúc này đã phơi trần bộ mặt thật của nó ra sao, vân vân và vân vân. Ta vẫn tưởng, anh bạn hôm xưa, hôm nay cũng vẫn là bạn, nhưng rồi ta cũng lại nhận ra ngay sự nhầm lẫn khủng khiếp, thậm chí gây chết người đó của ta. Anh tưởng anh có thể chuyện trò về hội họa với người đàn bà này, về thơ văn với người đàn bà khác, song rồi anh phải ngớ ra ngay rằng anh đã nhầm to, con mẹ này không biết gì về hội họa, cũng như con mụ kia chẳng biết khỉ gì về thơ văn, cả hai chỉ lôi chuyện bếp núc ra bàn với nhau, xúp khoai tây ở Wien nấu kiểu nào, ở Innsbruck lại nấu kiểu khác ra sao, một đôi giày ở Meran giá thế này, ở Padua giá lại thế khác. Anh những tưởng, anh có thể chuyện trò thú vị với vị này về toán học, với vị kia về kiến trúc, song, anh lại ngao ngán phát hiện ra rằng các kiến thức toán học của vị này cũng như hiểu biết về kiến trúc của vị kia, hóa ra, vẫn chỉ dừng lại trong mớ bòng bong các kiến thức của kẻ mới lớn mà thôi. Anh không hiểu đầu đuôi ra làm sao nữa cả, anh không tìm đâu ra chỗ để bấu víu nữa, rốt cuộc anh quay ra hục hặc với họ mà họ chẳng hiểu vì cớ gì anh hục hặc. Anh bỗng chốc biến thành thằng cha hay hục hặc, kẻ chuyên gây sự mà thôi. Đám cưới này chắc chắn sẽ là một đám lố bịch cho mà xem, ngay từ trước khi từ Rome lên đường về Wolfsegg tôi đã nghĩ trong bụng như thế, nhưng đến lúc dự đám cưới xong, tôi lại thấy nó còn lố bịch, còn kệch cỡm hơn cả mức tôi dám tưởng tượng ra trong đầu nữa kia. Ấy vậy mà tôi chỉ độc nghe những lời trầm trồ, đám cưới thật tuyệt vời, một đám cưới, như người ta nói, độc nhất vô nhị. Thì tôi sẽ phải im thôi, một khi họ, ai cũng xuýt xoa tán tụng, thì việc gì phải nói họ biết tôi nghĩ về đám cưới thế nào. Vả lại, đám cưới thật ra cũng vui vẻ, phải nói đạt mức khôi hài tuyệt đỉnh. Hôn lễ chính thức được cử hành trong gian nhà thờ. Vì gian nhà thờ quá nhỏ cho số khách khứa đông đúc, cho nên ngoài số khách đứng chật cứng bên trong, ở gian tiền sảnh phía ngoài cũng chen chúc đầy những khách là khách. Tất nhiên tôi không chen vào bên trong, tôi không muốn đứng ở hai hàng đầu cùng bà con hai họ mà dừng lại ở gian tiền sảnh, đứng cùng các cô, các bà nấu bếp và mấy anh thợ làm vườn ở phía ngoài. Tai tôi thính, nên những gì ông linh mục nói phía trong, tôi đều nghe được cả. Tay linh mục hơi men đã ngà ngà, nên nhiệm vụ hành lễ vốn trang nghiêm của hắn, hắn lại thi hành ít nhiều tùy hứng, khiến cho buổi lễ, thường khi vẫn tẻ nhạt, bỗng mang đôi phần vui nhộn. Riêng có mẹ tôi, như thiên hạ vẫn nói, là lo sốt vó. Hướng về cặp phu thê tương lai, tay linh mục diễn thuyết dềnh dang một thôi một hồi với loại diễn từ hắn vẫn thường tùy hứng thêu dệt từ các câu chuyện thật có, bịa có, để nhai đi nhai lại ở các đám cưới, nhưng bao giờ cũng phải kết thúc bằng câu, cuộc đời ai cũng nằm trong tay Chúa định đoạt, cho đến ngày tận số, không thể nào khác đi được. Tuy nhiên, khi chuyển sang phần long trọng nhất của buổi hôn lễ, tức là lúc phải hỏi cả hai vị hôn phu, hôn thê câu hỏi muôn thuở, trước Chúa, trước luật pháp, các con có bằng lòng kết hôn phu phụ với nhau hay không, thì tay linh mục đáng kính quên khuấy mất tên vị hồn thê là gì, và sau một lúc vắt óc, ngẫm nghĩ khá lâu mà vẫn không nhớ ra, hắn bèn lớn tiếng nhờ cử tọa nhắc giúp hắn, kìa, tên vị hôn thê là gì hở. Bố tôi vừa khẽ gọi tên vị hôn thê nhắc giúp tay linh mục, lập tức tiếng cười rộ lên ồn ã, lan dài từ phía trong gian nhà thờ ra gian tiền sảnh. Bởi tên vị hôn phu, tay linh mục cũng quên nốt, nên hắn lại đành phải nhờ cử tọa nhắc; bố tôi lại nhắc tên vị hôn phu, giọng đã bực lắm rồi, và lần này, tiếng cười ha hả cả bên trong lẫn bên ngoài đều vang lên, to hơn, khoái trá hơn cả tiếng cười bật lên lúc nãy, khi tay linh mục lo việc phần hồn cho con chiên chợt quên tên vị hôn thê là gì. Lúc ấy, tôi hứng chí, đã toan thay vì xướng tên thằng em rể tương lai, sẽ xướng to chủ xưởng nút chai rượu vang vọng qua đầu những người đứng ngoài tiền sảnh vào bên trong nhà thờ cho tay linh mục. Nhưng, đến giây phút chót, tôi kìm lại được. May quá, tôi tự nhủ, nhờ thế mà tôi không lộ cái mặt đểu giả của mình. Cảnh tượng vị hôn thê đáp Thưa có, rồi thề trước Chúa sẽ mãi mãi chung thủy với chồng, bao giờ cũng lố bịch; nhưng còn lố bịch hơn nữa, là vị hôn phu cũng đáp Thưa có như thế, rồi cắm cổ thề trước Chúa sẽ suốt đời chăm lo, che chở cho thê tử. Tại buổi hôn lễ này, tôi lại lần nữa nhìn ra điều đó. Làm sao ta có thể tin lời vị hôn thê thề nguyện, khi ta thừa biết cô nàng chỉ giả dối, giả dối chả khác gì lời thề nguyện của vị hôn phu. Cái trò hai lần thề nguyền giả dối ấy, tôi nghĩ bụng, thật ra, chỉ là cuộc thỏa thuận giữa hai bên, trước khi dắt díu, cùng dấn thân vào cuộc đọa đày lẫn nhau kéo dài suốt hàng chục năm sắp tới mà thôi. Lễ thề nguyền phu phụ cũng chính là lễ đóng xiềng khóa xích vợ chồng với nhau, chứ chẳng là gì nữa cả. Rồi tôi nghĩ bụng, thiên hạ không khao khát gì hơn là được đáp lấy đáp để thưa có như thế, tức cũng là khao khát đầu hàng và tự đâm đầu vào chốn hủy diệt chính mình. Bởi tôi có cảm giác, như thể tôi vừa được xem một vở kịch ngắn, trong đó hai thể loại hài hước và châm biếm thật sự nhuần nhuyễn vào nhau, cho nên lúc tay linh mục dứt lời và cùng đám lễ sinh - là mấy đứa cháu trai sáu, bảy tuổi trong nhà - rời khỏi bàn thờ, tôi cứ rất muốn vỗ tay sao cho thật to. Nhưng cả lần này, tôi cũng kìm được mình. Tôi nghĩ, giữ mình kín đáo vẫn hơn, ra mặt khiêu khích bây giờ chỉ tổ hủy hoại mãi mãi chuyến về thăm Wolfsegg lần này cũng như các chuyến thăm sau mà thôi; vả lại, tôi không muốn ai để ý đến tôi, kẻo thể nào cũng sẽ bị mè nheo, thấy chưa, cái thằng chuyên gây rối lại giở trò rồi đấy. Cao trào của vở kịch hôn lễ - một vở kịch ngắn, diễn đi diễn lại hàng nhiều thế kỷ nay ấy - chính là màn tuyên thệ thưa có, lúc ấy tôi nghĩ bụng, một lời thề mà Nhà thờ Thiên chúa giáo đã dùng để thâu tóm tuyệt đối những kẻ vừa há miệng thề bồi thưa có. Theo lời mời của gia chủ, linh mục lên tầng trên; lên đến nơi, hắn kín đáo đứng chờ buổi hôn yến linh đình sắp khai trương tại các gian phòng rộng thênh thang của tầng hai. Vào những dịp như thế này, mẹ tôi bao giờ cũng là người điều khiển và xếp đặt mọi sự, đích thân bà đưa cặp vợ chồng mới cưới vào vai hợp với chúng hơn, là vai một con rối mập mạp và vai một con rối khẳng khiu, đặt chúng ngồi cạnh nhau - gã chủ xưởng nút chai rượu vang béo ị và con Caecilia gầy ốm, em tôi - ở giữa chiếc bàn dài, quay lưng ra ban công, tức cũng là quay lưng ra thế giới bên ngoài. Con Caecilia chốc chốc lại dùng bàn tay phải xoa xoa nhẹ lên cánh tay trái chồng nó, không phải tự lòng yêu thương sâu sắc, mà do nó tưởng, hình như theo thông lệ nó phải làm thế. Khi khách khứa dự đám cưới đã no nê bữa tiệc ngon lành và say sưa rượu vang vùng Baden hảo hạng, mẹ tôi đứng lên nói đôi lời, những lời bộc lộ đầy đủ nhất, tuyệt vời nhất, nghệ thuật điêu ngoa lèo lá của bà. Bà bảo, bà sung sướng xiết bao, khi từ nay, bà được có anh con rể tuyệt vời nhất trần gian và cô con gái bà hạnh phúc nhất trần đời, hạnh phúc ở mức một bà mẹ như bà suốt đời chỉ ao ước cho con mình. Đoạn, bà đến bên gã chủ xưởng nút chai rượu vang, và trước mặt bà con, khách khứa muôn phương, bà hôn gã chùn chụt, rồi ôm hôn con Caecilia. Sau đó, bà mời mọi người xuống dưới, ra khuôn viên rộng bên ngoài vui tiếp cuộc vui. Do trờii đẹp, cho nên người ta kê nhiều bàn dài ra ngoài sân và chẳng mấy chốc, cả cánh thợ săn lẫn thợ làm vườn đều đã nhập chung cùng đám người gọi là giới chủ. Dân làng cũng nhiều người lên đây dự vui, hoàn toàn tự nhiên, không chút miễn cưỡng. Vâng, đấy vẫn là dân làm vườn, dân thợ mỏ tôi quý mến. Trên sân khấu dựng tạm trước nhà kính, ban nhạc kèn chơi một lượt hết các bản nhạc tủ đã luyện từ trước; sau khi nghỉ giải lao một lát, lại chơi lại từ đầu. Tiếng nhạc, tiếng cười nói vui vẻ của đám cưới, nghe nói đến tít làng Atzbach nằm cách đây những sáu cây về phía đông cũng còn nghe thấy. Suốt buổi, gã anh trai tôi có vẻ dè dặt, kín kẽ ra mặt và chẳng được bao lâu đã biến mất mặt vào xó xỉnh nào đó. Gã vốn ghét các kiểu hội hè như thế này từ lâu, nhưng không phải ghét như tôi ghét, tức là ghét do không chịu nổi cái hòi hợt nhạt nhẽo của những buổi hội hè lễ lạt, hay nói cho đúng ra, do sự bất lực của chính mình trước những cảnh tượng đó nên chỉ chịu được ít tiếng đồng hồ; còn gã anh tôi ghét là vì lý do bệnh tật. Cảnh tượng ồn ào bao giờ cũng khiến gã đau nhói trong đầu. Suốt đời gã mắc căn bệnh đau đầu đó, giống bố tôi, vốn cũng bị khổ sở mãi vì căn bệnh này. Mặc dù gã anh tôi thích hợp hơn ai hết cho chuyện hôn nhân, tôi tự nhủ, nhưng mãi đến tận giờ vẫn chưa lấy vợ và tôi không thể cắt nghĩa vì sao. Rõ ràng gã cần có con thừa kế, thế nhưng, tôi cứ tự hỏi suốt mấy ngày đám cưới em gái tôi, không rõ vì sao gã vẫn chỉ lớn tiếng vặc lại mẹ tôi, mỗi lần bà tìm cách thúc gã sớm lo lấy vợ, đẻ con. Tất nhiên, rồi sẽ đến ngày gã lấy vợ thôi; đến một lúc nào đó, trước khi nhỡ nhàng quá tuổi, gã sẽ lấy một mụ nào đấy làm vợ - đứa con gái chủ hiệu gia vị nào đấy ở Weis hay ở Vocklabruck, một con y tá ất ơ nào đó ở Salzburg hoặc đứa con gái một chủ quán trọ vớ vẩn nào đấy ở Unterrach hay Strafiwalchen. Loại đàn ông như gã thường chần chừ, chờ đến tuổi ngũ tuần là lúc muộn màng lắm rồi, tôi nghĩ bụng, lúc ấy họ mới cuống cuồng, nhắm mắt nhắm mũi làm bừa. Trước đó, họ để mặc biết bao cơ hội, thậm chí cả những cơ hội ngàn vàng trôi qua, và như thiên hạ vẫn nói, họ không để các cuộc phiêu lưu tình ái sớm biến thành thói quen, không để cuộc dan díu với một cô, một bà nào đó tiến quá xa, quá sâu. Giường ngủ của gã hồi ấy không thuộc về riêng ai, mà thuộc về nhiều người, tuy không quá nhiều, và thường xuyên thay đổi, hết người này đến người khác, ai nấy chưa kịp ấm giường đã bị xua đi, chắc vì gã sợ cảnh vợ trói, con buộc, sớm lụy vào thân, tôi nghĩ bụng. Bây giờ cái con ngu Caecilia kia lấy chồng, nhưng ta sẽ không lấy vợ trước khi năm mươi hay muộn hơn cho mà xem, hẳn gã đã tay ôm đầu mà nghĩ như vậy, rồi, đầu đau như búa bổ, gã lẩn vào góc nào đấy. Giống như ông bố gã, gã nhiễm tự lúc nào thói quen, bao giờ cũng đội mũ, khoác áo, mặc quần, mang giày đã cũ. Mọi thứ trên người gã đều phải cũ - cả gã lẫn mọi người cùng giới, ngang tầm với gã đều đinh ninh - có như thế gã mới thể hiện, mới phô cho thiên hạ biết gã thuộc giới nào, có như vậy mới xứng với thị hiếu của cái gọi là tầng lớp trên, là tầng lớp gã tự xếp mình vào. Mua một chiếc mũ mới toanh về, gã để nó dầm mưa dãi nắng cái đã, sau đó treo vài tuần trên một cái móc ngoài ban công ở khu nhà cánh thợ săn, chờ đến lúc trông nó như sắp mủn đến nơi rồi mới nhấc xuống, đem xông nó trên miệng nồi nước sôi thật lâu, trước khi dùng tay nắn bóp sao cho thành dáng gã ưa, rồi mới đội lên đầu. Quần mới mua về, gã nhúng nước rồi đem ra phơi nắng, phơi gió bên cửa sổ phòng gã chán đi đã, rồi mới mặc lên người. Áo khoác mới, gã cũng làm y như thế. Giày mới, gã mang ra vườn xéo đạp lên phân, lên bùn thật lâu, sao cho đôi giày không còn vẻ mới toanh nữa. Bởi vì, trong giới của gã, không ai mang giày mới, không ai khoác áo mới, cũng không ai đội mũ mới, mọi thứ mới mẻ đều bị khinh rẻ, thậm chí ghét bỏ, tất tật, các dinh thự mới, nhà thờ mới, các phát minh hay sáng chế mới, và tất nhiên, tất cả những con người mới, hay nói tóm lại, mọi Cái Mới, cố nhiên, kể cả mọi tư tưởng mới. Qua hàng thế kỷ, xã hội này đã quen coi thường và căm ghét tất cả những gì mới, khiến chính nó trở nên già nua và giẫm chân tại chỗ, không tự đổi mới được nữa. Nghĩ đến gã anh tôi, tôi vẫn thường nghĩ, gã quả tội nghiệp. Con người tội nghiệp đó đã bị chính cái xã hội mà gã xem là xã hội duy nhất linh thiêng thần thánh, ăn tươi nuốt sống, tuyệt nhiên không để sót lại chút gì của riêng gã nữa cả. Giống hệt như ông bố, gã sống cuộc đời của một trong số triệu triệu bản sao do xã hội già nua ấy sản sinh ra. Mọi thứ trên người gã, mọi thứ xung quanh gã, tôi nghĩ bụng, phải cũ kĩ, phải tả tơi mưa nắng, trừ xe hơi thì không được cũ. Nói đến xe hơi, gã rất coi trọng việc xe gã đi bao giờ cũng phải mới nhất, tốt nhất, cũng có nghĩa là phải đắt tiền nhất. Đã thành thói quen, mỗi năm gã sắm một chiếc xe mới, bởi vì mẹ tôi dùng xe đó. Dù bà không có xe riêng, vì bà không có bằng lái, nhưng trong mắt bà, chiếc xe bà ngồi lên phải đẹp nhất, tốt nhất mới được. Bây giờ chính chiếc xe Jaguar đẹp nhất, tốt nhất ấy, lại mang tai họa cho hai mẹ con bà, tôi nghĩ bụng. Chính tật sùng bái xe hơi vô độ của họ đã hủy diệt họ. Gã vốn vẫn trầm tính, nhưng ngồi lên xe hơi, cầm vào tay lái, gã bỗng như được giải thoát, biến ngay thành con người nắm mọi quyền lực trong tay, một vai trò gã không thể nắm khi ra khỏi chiếc xe gã ngồi lái được, bởi ngoài đó là địa phận mà mọi quyền lực đều nằm gọn trong tay mẹ gã, cũng là mẹ tôi. Nhưng trong xe, trong chiếc xe Jaguar ỵ, gã là người nắm quyền, còn mẹ gã phải phục tùng gã; trong xe, gã được định đoạt, nếu không định đoạt được hướng xe chạy về đâu, thì chí ít cũng định đoạt được xe chạy chậm hay chạy nhanh, khiến bà ngồi ghế bên cạnh gã, như tôi biết, có lúc vừa sợ hết vía vừa tức lộn ruột mà chịu cứng, không làm gì được. Còn bố tôi chỉ thích máy kéo, không ưa xe hơi, vì xe hơi đối với ông quá nhẹ kí. Ông không để lỡ bất cứ dịp may nào để leo lên ngồi trên chiếc máy kéo Mc Cornuck của nhà tôi, dù ông chẳng có việc gì phải dùng đến nó. Ngồi trên máy kéo, ông tự thấy mình sung sướng vô biên. Tự thấy mình độc lập hơn bao giờ hết. Ngồi trên máy kéo, ông mới lại là ông, ông bảo vậy; điều đó thật vừa đúng, vừa thê thảm làm sao, và tôi tin ông, khi ông có lần bảo tôi, sự thể đã đến lúc như thế này rồi đây, chỉ khi nào leo lên ngồi trên chiếc máy kéo này ta mới thấy được thảnh thơi một mình, ta mới được sung sướng trong lòng. Con trai ông, gã Johannes anh tôi, trái lại, rất hay lấy cớ lên ngồi trên xe hơi để nghỉ lấy sức và nghĩ ngợi mọi chuyện cho đến nơi đến chốn, mặc dù cũng không rõ gã còn nghĩ ngợi được những gì. Tôi vẫn thường thấy ngao ngán, mỗi khi phải nghe gã nói vậy, mỗi khi nhận thấy điều gã nói hóa ra đúng thật. Anh tôi càng ngày càng giống bố, tôi vẫn thường nghĩ vậy. Thời gian gần đây, gã đã giống bố tôi đến mức, suốt đám cưới tôi cứ nghĩ, chẳng mấy lâu nữa, gã sẽ là bố chúng tôi. Dáng gã đi, kiểu cách, điệu bộ gã, giọng gã nói, tất tật đều mỗi ngày một giống, mỗi ngày một trở thành bản sao nguyên vẹn của dáng đi, điệu bộ, giọng nói, và rốt cuộc, là bản sao trí tuệ của ông bố gã. Tôi nghĩ bụng, cứ y như thể, ngay từ đầu bố mẹ đã định thằng con đầu lòng sẽ trở thành ông bố, và gã cũng sắp thành ông bố đến nơi rồi. Cũng chả mấy chốc nữa, chỉ là vấn đề thời gian thôi. Đôi lúc nghe ông anh trai nói, tôi cứ có cái cảm giác như đang nghe ông bố nói, chân gã bước bước chân ông bố, nhìn gã ra dáng nghĩ ngợi, lại như thấy ông bố trong dáng nghĩ ngợi. Đẻ được Johannes, bố mẹ tôi có ngay thằng con ông bà hằng mong ước, tôi bụng bảo dạ. Ông bà không còn mong được đứa nào đúng ý ông bà hơn, hợp với các tính toán của ông bà hơn nữa cả. Thằng con này vươn tới bức tranh lý tưởng ông bà vẫn hình dung về một thằng con hoàn hảo nhanh như thế nào, thì tôi cũng rời xa bức tranh lý tưởng ấy nhanh như vậy. Bởi thế, ông bà mỗi ngày một thêm yêu quý gã anh trai tôi, đồng thời mỗi ngày một thêm khinh rẻ và căm ghét tôi, vâng, thậm chí ruồng rẫy tôi; nhưng - xuất phát từ các phản ứng tự vệ hình thành trong đầu óc - hai vị lại không bao giờ dám thừa nhận sự thật đó. Bức tranh lý tưởng đó sắp hoàn thiện đến nơi rồi, tôi cứ nghĩ vậy suốt đám cưới con Caecilia em tôi, sắp hoàn toàn trùng với khuôn mẫu lý tưởng của bố mẹ tôi - tuy khá muộn màng. Gã anh tôi chịu để ông bà dạy dỗ thành bức tranh lý tưởng, nhưng tôi thì không bao giờ chịu, tôi không bao giờ màng đến chuyện biến mình thành khuôn mẫu cho hình ảnh lý tưởng đó của ông bà, tôi căm ghét một bức tranh như thế, bởi vì, nói cho gọn, tôi không muốn theo một khuôn mẫu nào cả nên không bao giờ có thể trở thành hình mẫu lý tưởng được. Ông bà có thể vào khuôn, nhào nặn gã Johannes theo ý muốn, nhưng tôi thì không. Và ông bà đã bắt tay định hình, nhào nặn gã anh tôi rất sớm, ngay từ khi khối chất nhào nặn con trẻ ấy mới chưa đầy ba, bốn tuổi. Lúc ấy ông bà đã nhận thấy cơ hội nặn khối chất này thành bức tượng lý tưởng của họ và bắt tay ngay vào định hình và nhào nặn khối thịt Johannes. Với gã, ông bà không gặp chút kháng cự nào, nhưng với tôi, họ bị chống đối quyết liệt, bởi vì ngay từ đầu tôi đã vuột khỏi tay họ, thoát khỏi đầu óc họ, kháng cự lại mọi ý định lấy tôi làm khối thịt để ông bà trổ tài đóng khuôn hay nhào nặn; tôi không cho họ đến gần, tôi xua họ ra xa tôi ngay từ đầu. Ông bà nhào nặn gã Johannes theo ý ông bà muốn và lấy đó làm sung sướng lắm, nhưng không hề nhận thấy rằng, chính tài nhào nặn, vào khuôn, định hình của họ, thực ra, đã hủy hoại gã, tiêu hủy gã đến tận cùng và mãi mãi. Ông bà không chút thương xót biến cái đầu vốn tự nhiên của gã thành cái đầu lý tưởng, và dưới mắt tôi, đã hủy hoại cái đầu gã một cách độc địa và trơ tráo, biến gã thành hạng người đần độn lý tưởng cho họ, là việc ông bà làm không thành với tôi. Gã đần độn ấy dần dần đã biến thành thứ người ông bà muốn có, thứ người thuộc độc quyền sở hữu của ông bà, do ông bà sáng tạo, nhào nặn ra, đúng đến từng chi tiết với ý đồ đỉnh từ trước. Gã Johannes, tôi nghĩ bụng, lệ thuộc hoàn toàn vào bố mẹ, nhất là vào mẹ tôi; gã không cưỡng lại, đối với gã, khuất phục dễ chịu hơn chống lại mọi trò tàn ác, độc địa, hạ nhục gã của bố mẹ. Chỉ có ngồi trong xe, trong chiếc Jaguar nọ, mà cũng chỉ trong lúc xe chạy thôi, ông bà mới để gã muốn nghĩ gì thì nghĩ; chỉ trong các chuyến chạy xe kinh hoàng, như mẹ tôi vẫn nói vậy, gã mới được tự do hít thở chút đỉnh; thế nhưng sau đấy, vừa ra khỏi xe, khỏi chiếc Jaguar, gã đàn ông tội nghiệp ấy, tôi nghĩ bụng, lại phải trả giá cao gấp ngàn lần cho những khoảnh khắc tự do ngắn ngủi vừa trôi qua đó. Tôi cầm chắc, bao giờ tròn năm chục, như người ta vẫn nói, gã khắc cho làm một đám cưới hoành tráng ở đây cho mà xem. Nhưng, người đã chết thì không còn cưới xin được nữa. Vừa nghĩ vậy, tôi vừa bước qua ô cửa tòa nhà chính. Gian tiền sảnh vắng tanh. Các cây đèn trong gian tiền sảnh, như tôi dự đoán, được trang trí bằng cành nguyệt quế, mỗi cây đèn hai cành, theo nghi lễ đám tang đã định. Một bầu không khí yên ắng bao trùm, thứ yên ắng ngồn ngọt kỳ dị thường có ở những nhà có tang. Trước khi tôi đến đây, nền gian tiền sảnh hẳn đã được lau sạch bóng, hay như chúng tôi vẫn nói, bởi các cô gái hầu quỳ lết gối kì cọ kĩ càng. Già nhất trong số này cũng phải đến bảy tư, bảy lăm, nhưng vẫn liệt vào hạng cô hầu gái. Có lẽ, đến khi họ già lắm rồi, trên tám chục như đa phần trong số họ, hấp hối nằm trên giường chờ chết, người ta vẫn gọi họ là cô hầu gái. Mẹ tôi bảo các cô hầu gái ở Wolfsegg sướng như tiên, mặc dù, cũng theo lời mẹ tôi, công việc họ làm từ xưa đến giờ chẳng nhẹ nhàng chút nào. Họ ai cũng mang tạp dề màu xám do bà thợ may dưới làng cắt may, khiến ai đứng từ xa cũng nhận ra họ ngay; vả lại, tóc ai nấy đều chải ngược ra sau, và như mẹ tôi bảo, theo thông lệ ở Wolfsegg, không ai mang bất cứ thứ trang sức nào. Như thế hợp với họ hơn cả, mẹ tôi vẫn bảo vậy. Thường thường, ở tuổi mười bốn, mười lăm các cô vào làm ở Wolfsegg cho đến già. Công việc của họ nặng nhọc, không phải chuyện đùa, nhưng - cũng cứ theo lời mẹ tôi - mọi người ở Wolfsegg đều quý họ. về những năm sau này, số các cô hầu gái ít hẳn đi. Dạo trước, tính cả các cô nấu bếp - mà người lớn tuổi nhất cũng trên bảy chục - họ có cả thảy mười hai người, bây giờ gộp hết lại mới được có năm. Theo như mẹ tôi, ngay từ lúc lọt lòng, ai trong số họ cũng có giọng nói khó nghe, hoặc ở Wolfsegg một thời gian lâu, họ dần dần có giọng nói khó nghe như thế, bởi vì ở Wolfsegg, họ không bao giờ được phép nói tự nhiên với giọng của mình, mà một thứ giọng do mẹ tôi luyện cho họ - thứ giọng giả tạo, càng khẽ khàng, càng có vẻ kính cẩn bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Thế nên chính mẹ tôi là người đã làm méo mó giọng nói tự nhiên của họ. Hiện giờ, bọn hầu gái hầu hết đều từ dưới làng lên, nhưng trước đây mẹ tôi thường chọn các cô gái, như bà vẫn nói, ở vùng Mủhlviertel nhân công rẻ mạt, nhất là tụi con gái nhà nông dân, gia đình càng đông con càng tốt, bởi tụi này sẵn sàng bằng lòng với mọi thứ, chẳng đòi hỏi, yêu sách gì (cũng lời mẹ tôi), lại có tiếng siêng năng, hay lam hay làm. Nhưng gần đây, ở Muhlviertel không tìm đâu ra các cô hầu gái nữa, bởi các cô gái ở đây bây giờ thích làm công nhân nhà máy hơn làm hầu gái. Mẹ tôi vẫn bảo đây chính là sự suy vong của Muhlviertel, thậm chí không riêng gì Muhlviertel, mà của cả thế gian này nữa kia. Các cô hầu gái đương nhiên phải theo Thiên chúa giáo từ đầu đến chân và có kiểu cách khúm núm không những trước các bậc bề trên trong nhà thờ, mà cả trước các bậc bề trên ngoài đời thực. Bố mẹ tôi chuộng các cô hầu gái gốc gác vùng Freistadt hay Aigen-Schlâgel, là nơi biên giới ba xứ Bohmen, Bayem và Áo xô vào nhau. Nơi đó không có đường tàu hỏa. Đây là những đứa ngoan đạo bậc nhất, mẹ tôi bảo vậy, và cũng là những đứa tử tế nhất. Mẹ tôi đích thân chiêu mộ rồi đưa họ về Wolfsegg; trước hết, bà ghé thăm các tu viện ở Freistadt hay Aigen-Schlãgel và đặt trước các cô hầu gái theo ý muốn của bà. Các bà xơ hay thầy tu, tùy nơi, sẽ chọn lựa trước rồi trao vào tay bà hai hay ba cô gái còn rất trẻ và chưa hư hỏng; bà đưa họ về Wolfsegg giao việc và thử tay nghề họ. Thử thách đầu tiên mẹ tôi đặt ra cho các cô là cọ rửa sàn tiền sảnh - một công việc cô nào cũng phải gắng hết sức mới làm nổi, bởi tiền sảnh vừa dài vừa rộng, nên công việc cọ rửa này quả là công việc quá sức con người ta thật. Song, các cô gái ai nấy đều choáng ngợp trước cung cách oai nghiêm của mẹ tôi cũng như trước cảnh giàu sang của Wolfsegg, cảnh giàu sang họ chưa từng thấy trong đời, cho nên các cô, dù vất vả nặng nhọc đến đâu, cũng bò ra mà cọ rửa sàn nhà. Các cô không phải ai cũng qua được lần sát hạch đầu, cô này cô kia bỏ dở việc liền bị mẹ tôi dọa không nhận vào làm; nguy cơ này khiến cô gái trượt lần sát hạch đầu phải gắng công sao cho lần sát hạch lại, cô sẽ lau cọ một mạch cho hết gian tiền sảnh mới thôi. Mẹ tôi bao giờ cũng khắt khe. Bà vốn dĩ rất khắt khe với chính mình, cho nên bà chẳng bao giờ nương tay với kẻ khác. Đám hầu gái lăn ra làm đến kiệt cả sức, thế nhưng - như chính họ vẫn bảo - họ vẫn lấy làm mừng được làm ở Wolfsegg. Mẹ tôi chẳng mất bao nhiêu để trả công cho họ, thế nhưng - như tôi đã kể - các cô hầu gái ở Wolfsegg thọ rất lâu, cứ như thể làm bằng chứng cho việc, ở đây họ được đối xử tử tế lắm vậy. Sự quái dị chính là ở đó, ngày này qua ngày khác, bao giờ họ cũng phải lăn ra làm đến bở hơi tai, nhưng họ lại thọ rất lâu. Chẳng cô hầu gái nào ở Wolfsegg lại chết khi còn trẻ cả, sớm nhất cũng phải ngoài sáu mươi. Mẹ tôi vẫn bảo, họ ai rồi cũng được chôn cất tử tế và gia đình các cô bao giờ cũng mang ơn bà vì con cái họ được phép hầu hạ ở Wolfsegg. Đứng trong gian tiền sảnh trống trải, sàn lát gỗ thông tấm mới được cọ rửa tinh tươm, tôi nghĩ bụng, kiểu nghĩ ngợi như thế cho đến tận giờ vẫn vậy. Mạng nhện, vốn vẫn chăng đầy các góc gian tiền sảnh đã được quét đi từ hôm đám cưới, tôi tự nhủ, cửa sổ lau sạch bong, các cây đèn bôi dầu bóng loáng. Lúc nãy, mấy người thợ làm vườn bảo hai con em tôi đang ở trong tòa nhà chính, cả ông chủ mới - họ hồn nhiên gọi gã chủ xưởng nút chai rượu vang như thế - cũng ở đấy. Bây giờ cả ba chắc đều đang ở tầng trên và không hề hay biết tôi đang ở trong gian tiền sảnh, hay đúng hơn, gần ngay dưới chỗ chúng đang ngồi. Nhưng tôi chẳng muốn lên ngay chỗ bọn họ làm gì, nên cứ lần khân thêm chút nào hay chút đó. Chỗ tôi đang đứng là chân cầu thang dẫn lên gác và trên tường có treo bức chân dung cụ tổ Ferdinand nhà tôi. Thấy bảo, hồi xưa cụ lao người ra chặn tên phản bội người Hung, lúc tên này xông tới toan ám hại Hoàng đế và nhờ đó, cứu được mạng Ngài. Cụ nhà tôi phải bỏ mạng trả giá cho hành vi anh hùng này, và như thiên hạ vẫn rỉ tai nhau đến tận giờ, nhờ thế được Hoàng đế truy phong, cho nâng danh hiệu quý tộc cao thêm một bậc. Tôi nghĩ bụng, trông cụ thật giống Descartes, là điều từ trước đến giờ tôi không nhận ra. Kể ra thì cụ sống cùng một thời với vị triết gia ấy thật, nhưng nhìn lã, thì đúng ra là trang phục khiến cụ trông giống Descartes, chứ không phải cái đầu cụ. Tuy nhiên, sự giống nhau giữa cụ nhà đây với Descartes bỗng làm tôi kinh ngạc đến ngớ cả người. Không hiểu sao mình chưa bao giờ nhận ra sự giống nhau này, tôi tự hỏi, rồi tò mò ngắm nghía bức chân dung. Quả thực, trong bức chân dung, cụ tổ nhà tôi cũng để bộ râu theo lối rất Descartes và bộ lông mày cũng nhướn lên như thế. Sự giống nhau này hoàn toàn không kỳ khôi chút nào, tôi nghĩ bụng, rồi tự hỏi ngay, liệu có phải ông cụ trong bức chân dung sơn dầu đây vốn cũng là triết gia không, bởi cụ quả có dáng vẻ triết gia lắm. Tôi định bụng rồi sẽ vào thư viện nhà dò xem, liệu có thể tìm thấy trong đó công trình nào đó của cụ không; một dạng tiểu luận hay tác phẩm triết học nào đó mà tôi chưa được biết. Tôi nghĩ, chắc tôi không nhầm, đúng là tôi đang ngắm nghía bức chân dung sơn dầu của một triết gia và các công trình của cụ hẳn phải nằm đâu đó trong năm thư viện nhà chúng tôi. Tên cụ ra sao thì tôi biết rồi, tôi chỉ cần vào thư viện tra cứu là ra. Tôi chẳng hề lấy làm lạ, tại sao chưa bao giờ có ai trong nhà tôi nói đến triết gia Ferdinand, bởi nét đặc trưng ở họ chính là ở chỗ họ không khi nào chuyện trò với nhau, dù chỉ là nhắc đến tên thôi, về những con người gọi là con người của tư duy trí tuệ, và thảng hoặc có nhắc đến họ thì cũng chỉ nhắc đến trong các câu chuyện đáng hổ thẹn nhằm nhục mạ các triết nhân đó mà thôi. Thậm chí, tôi chợt có cảm giác, dường như tôi đã có lần nghe nhắc đến triết gia Ferdinand - từ giờ tôi sẽ gọi thầm tên cụ như thế - rồi thì phải, thậm chí đã đọc cái gì đó của cụ mà không biết tác giả chính là cụ già trong bức tranh sơn dầu treo ở đầu cầu thang gian tiền sảnh này. Tôi bỗng nảy ra ý đỉnh, phải xem xét lại thật kĩ các bức chân dung sơn dầu của tổ tiên nhà tôi treo trên bức tường dọc cầu thang dẫn lên tầng trên. Cho đến giờ tôi vẫn thường chỉ nhìn lướt qua rất hời hợt các bức chân dung này mà thôi. Trong đầu tuy cũng biết đây là các chân dung tổ tiên mình thật, nhưng tôi cũng chẳng biết ai vào với ai, vì tôi nào có để tâm đâu. Tôi nhìn các bức tranh hay chân dung treo ở Wolfsegg cũng giống hệt mọi người trong nhà thôi, nghĩa là họ ngắm nghía chúng thật, nhưng không bao giờ có thể nói rõ cái gì hay ai ở trong tranh cả, bởi hàng chục năm nay ai cũng chỉ ngắm bức tranh này hay chân dung kia theo thói quen, như ngắm những mảng màu sáng tối khác nhau, được treo cố định ở chỗ này chỗ kia trên các bức tường trong nhà chúng tôi từ hàng trăm năm nay. Đến như tự hỏi, vì sao bức tranh hay bức chân dung lại treo đúng chỗ ấy cũng chưa từng có ai hỏi, nói gì đến chuyện có ai cất công tìm hiểu căn nguyên. Ai mà biết được, tôi tự nhủ, trên các bức tường Wolfsegg sự thật đang treo chân dung của những ai. Không chừng tổ tiên chúng tôi thậm chí có không ít các triết gia, cũng như một loạt nhân vật tư duy trí tuệ, vâng, không ít các nhà tư tưởng. Biết đâu được, rất có thể các bức chân dung treo tường nhà chúng tôi thật sự vô giá, đúng như mọi người trong nhà vẫn thì thầm ri tai nhau. Thế nhưng, quả thật tôi không bận tâm lắm đến giá trị tính bằng tiền, mà chỉ bận tâm đến con người trong các bức tranh đó. số tranh có đến hàng trăm, ấy là chưa kể vô số những bức tranh - do thói không biết tính trước tính sau đáng hổ thẹn từ hàng trăm năm nay tại Wolfsegg - đã bị bỏ quên, để nằm chỏng chơ thảm hại trên tầng áp mái. Tôi nghĩ bụng, rồi mình sẽ phải đón tay chuyên gia phục chế ở Wien về đây xác định gốc gác, phân loại và định giá số tranh này. Tôi nghĩ ngay đến một người tôi quen biết, giữ chân chuyên viên phục chế chính ở nhiều viện bảo tàng lớn trong nước, và cũng là người mới đây vừa phục chế bức họa quý nhất của Velazquez trong số những bức họa mà các Viện bảo tàng này sở hữu, và chúng sở hữu, như tôi biết, nhiều bức Velazquez quý giá bậc nhất, còn quý hơn cả những bức trong Viện bảo tàng Prado ở Madrid. Vừa nhắc đến Velazquez và bảo tàng Prado, tôi cũng lại nghĩ ngay, biết đâu ở Wolfsegg cũng có một bức tương tự của Velazquez mà chúng tôi không ai biết. Quả thực, gia đình chúng tôi có không ít bà con ở Tây Ban Nha từ hàng trăm năm nay và hiện giờ, thỉnh thoảng họ vẫn đến đây, tham dự các ngày hội đi săn. Wolfsegg bao giờ cũng có liên hệ khăng khít và chặt chẽ với lây Ban Nha. Với Italia nữa, và tất nhiên, với cả Hà Lan, bởi đây dù sao cũng là đất nước của Rembrandt và Vermeer, cũng như của nhiều danh họa Hà Lan lừng lẫy khác. Ý nghĩ tuyệt vời bỗng nảy ra trong đầu tôi ấy, vẫn bám lấy tôi ngay cả khi tôi đã đứng trong gian nhà thờ; sở dĩ tôi vào đây chỉ cốt lần lữa để không phải lên gác vội. Tôi đã bước vào đây một cách thật chậm rãi và kín đáo. Trang trí đám cưới đã được dẹp đi rồi, thay vào là trang trí đám ma. Cảnh trí chuyển nhanh quá, tôi thầm nghĩ. Vô số khăn đen phủ kín tất cả các đồ vật ở đây - chân đèn, bồn nước, lọ hoa, ly cốc, dây chuỗi - thường ngày vốn vẫn được lau chùi bóng loáng. Hai cánh cửa sổ cũng thả rèm đen, chỉ có chiếc đèn gọi là ánh sáng vĩnh hằng là được thắp để ai bước vào còn biết chỗ mà lần trong bóng tối. Tôi nhớ lại cảnh tượng ông linh mục ngà ngà say quên trước quên sau, khiến khách dự đám cưới cười rộ; đến cả tiếng cười râm ran ấy, giờ đây tôi vẫn còn nghe văng vẳng bên tai. Trong đầu tôi cũng tái hiện cả trò đê tiện may không bị lộ ra của tôi; tôi cũng nghe tiếng bố tôi gọi to Caecilia, khiến cho buổi lễ đang chững lại tiếp tục diễn ra. Tôi tự hỏi, không biết giọng nói của một người hai, ba hôm trước đó vẫn còn sống, nay bỗng lăn đùng ra chết, sẽ còn lưu lại trong tai ta được bao nhiêu lâu? Trong giây lát, tôi chợt có cảm giác, tôi phải quỳ xuống, như mọi người vẫn làm mỗi khi bước vào đây. Nhưng rồi tôi không quỳ, bởi tôi kịp nhận ra tính kịch và sự giả tạo dối trá cùng cực trong hành động ấy, một hành động lẽ ra sẽ buộc tôi đến ngồi trên ghế băng dài và quỳ gối xuống, mặc dù tôi không hề có chút nhu cầu phải quỳ xuống làm gì, đó chẳng qua chỉ là ý nghĩ, thông thường người ta vẫn quỳ khi bước vào đây. Tôi không quỳ, nhất là trong tình huống hiện nay. Nhưng thực ra tình huống của tôi là gì nhỉ, tôi vừa tự hỏi, vừa bước lên vài bước, trước khi đứng dừng lại. Tôi nghĩ bụng, hồi tôi còn nhỏ, tôi tuyệt nhiên không nhận thấy gian nhà thờ là nơi an lành, thanh tịnh, như mọi người trong nhà vẫn cam đoan. Ngược lại, đây là nơi kỳ quái, luôn làm tôi phải kinh hãi. Dạo tôi mười lăm tuổi, thậm chí cả khi tôi đã hai chục tuổi đầu rồi, tôi vẫn bước vào gian nhà thờ này như bước vào một nơi đầy rẫy kinh hoàng và độc địa, là nơi kết án, trong đó các quan tòa bàn định hình phạt sẽ giáng lên đầu tôi. Hồi đó, tôi bước vào gian nhà thờ này hệt như bước vào phòng xử án uy nghiêm mà trong đó bao giờ tôi cũng bị kết án nặng nề. Từ trên cao, các ngón tay đầy vẻ hăm dọa tôi nhìn thấy trong phòng kết án này hồi đó, không thương tiếc trỏ thẳng vào mặt tôi, và khi rời khỏi căn phòng này, dù lúc còn niên thiếu hay lúc đã thành niên, bao giờ tôi cũng ở tư thế khiếp đảm, so vai rụt cổ, của kẻ bị vừa bị lăng nhục, kẻ bị trừng phạt. Nhà thờ Thiên chúa giáo rồi sẽ phải trả lời tôi khối chuyện, tôi tự nhủ, nếu tôi đem tính gộp tất cả những gì họ đã gây ra cho một đứa trẻ như tôi thông qua các giáo điều của họ, những gì họ đã phá hủy, đã đánh sập tan tành trong lòng tôi. Dù có máu lạnh đến đâu đi nữa, tôi nghĩ bụng, rồi họ cũng sẽ phải run sợ trước những lời kết tội của tôi cho mà xem. Mẹ tôi vẫn thường bắt tôi vào gian nhà thờ để tôi phải tự giày vò hành hạ mình với hàng trăm tội lỗi tôi đã mắc. Dạo ấy, bao giờ bước vào đây tôi cũng run rẩy sợ hãi, và ra khỏi đây như một kẻ vừa bị hạ đo ván. Kỷ niệm đẹp duy nhất về nhà thờ là kỷ niệm về những buổi đọc kinh cầu nguyện diễn ra vào các buổi tối tháng Năm, tháng kính Đức Mẹ. Mặc dù cả thế giới này đã đổi thay hoàn toàn, hay phải nói đúng hơn là đổi thay triệt để, ở Wolfsegg này mọi người vẫn vào đây cầu nguyện, như thể chẳng hề có chuyện gì xảy ra. Wolfsegg, mọi người đều làm ra vẻ như suốt mấy trăm năm gần đây thế giới chẳng hề thay đổi, trong khi thực ra thế giới đã đổi thay tận gốc rễ, hay phải nói rằng mọi sự ở đời đã đảo lộn hết cả, tôi thầm nghĩ. Người nhà tôi ngắm nghía Wolfsegg y như ngắm nghía các bức tranh treo trên tường trong nhà vậy, những bức tranh luôn treo như thế, ở một chỗ, không bao giờ được phép di chuyển hay tháo xuống. Rốt cuộc, họ cũng tự xem mình như thế, tự cho mình không được phép đổi thay ở bất cứ mặt nào. Ai tự thay đổi hay bị làm cho thay đổi, như chú Georg, và như tôi đây, tôi nghĩ bụng, thì họ loại ra ngoài, không cho dính dáng với họ nữa. Thế nhưng, nếu bảo thời gian ở Wolfsegg đã dừng lại, không chạy nữa thì cũng không đúng, bởi vì họ, những người trong nhà tôi ấy, sống ở thời đại này, tồn tại trong thời đại này, là bộ phận của thời đại này, từ đầu đến chân là con người thời đại này, như sự hiện diện sờ sờ của họ hiện nay cho thấy rõ. Họ hòa nhập vào thời đại này, thậm chí còn sâu hon cả người khác, nhưng hòa nhập theo kiểu cách của riêng họ. Nếu bảo người nhà tôi là cặn bã còn sót lại của một thời đã qua, một thời cũ kĩ, một thời đã bị đẩy lùi vào quá khứ từ lâu, thì cũng không đúng nốt, bởi họ sống ở thời hôm nay. Nhưng theo kiểu cách của riêng họ. Họ không phải là những người mà thiên hạ, sau khi gặp gỡ và quan sát một thời gian dài, có thể quả quyết, đây là những người cổ xưa, chẳng còn dính dáng gì với thời đại chúng ta nữa. Bởi vì, họ quả thật đang sống ở cùng thời với ta kia mà. Nhưng sống theo kiểu của họ. Bất kỳ ai, nếu thời nay đang tồn tại, tôi nghĩ bụng, ắt cũng cùng ta chia sẻ thời đại này. Bàn dân thiên hạ quả đã nhầm to, khi họ đinh ninh người nhà tôi dường như sống nhầm thời, bởi người nhà tôi ở thời đại này còn sống mãnh liệt hơn cả người khác; và, nếu tôi tính đến cả các ảnh hưởng không phải là nhỏ của họ đến cuộc sống xung quanh họ, thì thậm chí họ còn thống lĩnh cả thời đại này bằng đầu óc tỉnh táo hơn nhiều người khác. Tuy nhiên, họ là những con người theo kiểu cách của họ, bất kể kiểu cách ấy có được chấp thuận hay không, có bị phản bác hay không. Nếu bảo người nhà tôi là những người thuộc về thế giới khác thì cũng rất vớ vẩn. Bảo rằng họ là những con người đang sống một cách lạ lùng, đang tồn tại một cách hết sức kỳ quái, cũng như bảo họ là những con người không đoái hoài gì đến sự đổi thay của thế giới và nhân loại, thì lại là một nhẽ khác, chứ họ đương nhiên là những con người của thời đại này. Nếu quả quyết người nhà tôi đang sống ở một thời đại khác hay trong một thế giới khác thì cực kỳ ngu xuẩn, bởi vì, còn hơn cả triệu người khác, họ thực sự thuộc về thời đại này, nằm trong thế giới này và vẫn giữ vai trò thống trị trong đó. Đó là sự thật. Rất có thể đó cũng là mưu mẹo tài tình của họ, làm ra vẻ đang sống ở thời đại khác, họ thuộc về một thế giới khác, tôi nghĩ bụng. Dùng mẹo này, nói như thiên hạ, họ sống ngon lành, còn ngon lành hơn cả triệu người khác, những người vẫn quả quyết mình thuộc về thời đại hiện nay, sống trong thế giới hiện đại, là điều mà người nhà tôi - có lẽ xuất phát từ một thứ linh tính bẩm sinh nào đó về các mối liên hệ hiện nay trên thế giới này - không bao giờ quả quyết. Chính tôi, tôi còn dám cam đoan rằng người nhà tôi, bất kể họ thế nào, cũng hợp thời hơn đa số những người tôi quen biết khác. Tôi cứ nghĩ ngại quẩn quanh như thế mãi trong gian nhà thờ, khiến tôi cứ do dự, nhùng nhằng, chưa rời khỏi đây lên trên gác gặp các em gái tôi. Chúng ta kiêu căng, tôi nghĩ bụng, tự cho phép mình loại những người như người nhà tôi ra khỏi thế giới và xã hội hiện nay và huênh hoang tuyên bố họ không thuộc về thế giới này, không thuộc thời đại này, bảo họ không hợp thời, bởi thật ra, ta cảm thấy rất rõ ràng ta đang mắc sai lầm. Sai lầm ở chỗ, chính họ, chính những người như người nhà tôi mới hợp thời. Đó là điều mỗi ngày tôi nhận thức một rõ thêm. Tôi khước từ lối sống của họ, không có nghĩa là tôi có thể nói rằng họ không thuộc về thời đại này, rằng họ không hợp thời. Thật ra, tôi cũng có thể bảo chính họ mới là những người đi đúng đường, không phải trên con đường đi đến đạp đổ và tiêu hủy mọi thứ, mà là con đường gìn giữ và bảo toàn tất cả, mặc dù cách thức hay biện pháp họ dùng để đạt các mục tiêu đó có thể không hợp lòng ta, tôi nghĩ bụng. Bảo rằng tôi không muốn dính dáng gì đến những con người này, không có nghĩa là phải loại trừ họ đi, như người ta thường nghĩ hay như người ta thường nghĩ rồi chuyển thành hành động thực. Và tôi chợt nghĩ, mặc dù tôi không tán thành lối nghĩ và kiểu hành động đó, theo thời gian tôi lại tự biến mình thành kẻ giữ vai triệt hạ và hủy diệt họ, mà như thế, cũng lại giống như những người mà tôi vẫn cho là thiếu năng lực và bất chính. Không phải vì họ là số đông cho nên họ hợp thời đâu, tôi nghĩ bụng, như thiên hạ vẫn đinh ninh tin tưởng và hành động theo niềm tin ấy, hành động thường gây thiệt hại cho thời đại họ. Thiểu số vẫn có thể hợp thời như thường, thậm chí còn hợp thời hơn cả số đông; ngay cả một cá nhân cũng có thể hợp thời hơn số đông, và về căn bản, con người riêng lẻ dường như thường xuyên là người hợp thời nhất, số đông bao giờ cũng chỉ mang tai họa đến cho ta, tôi nghĩ bụng, đến tận giờ vẫn thế, mọi tai họa đều bắt nguồn từ số đông. Thiểu số, hay các cá nhân riêng lẻ, sở dĩ bị số đông bóp nghẹt, chỉ vì họ hợp thời hơn số đông, vì họ hành động hợp thời hơn số đông. Các tư tưởng mới mẻ bao giờ cũng không hợp thời, tôi nghĩ bụng. Các tư tưởng mới mẻ bao giờ cũng vượt lên trước thời đại, nếu đó quả là các tư tưởng mới mẻ. Cái mới mẻ bao giờ cũng là cái không hợp thời. Tôi với anh Zacchi đã có lạn trao đổi với nhau rất lâu về chuyện này. Bảo rằng tôi hợp thời, thì có nghĩa là các suy nghĩ của tôi đã vượt lên phía trước, chứ nói như vậy, không có nghĩa là tôi hành động hợp thời, bởi hành động hợp thời lại có nghĩa là ta đang sống không họp thời, vân vân và vân vân. Có lần tôi đã tranh luận với anh Zacchi mấy ngày liền, ở Orvieto, nơi đấy anh ấy có một ngôi nhà trên núi, ngôi nhà anh thừa kế của một người hâm mộ anh. Sự thực, xét đến cùng, tôi nghĩ, những người ở Wolfsegg, tách riêng từng người hay gộp chung cả lại thành số đông, dù có đáng ghét đến thế nào đi nữa, thì họ vẫn là những người hợp với thời đại ta đang sống, tôi tự nhủ, nhất là khi ta xem xét lại thời đại chúng ta một cách cẩn thận và công bằng, đồng thời không để cho các quan điểm thịnh hành, vốn bị chính trị thường nhật kích động, làm cho mù quáng và đần độn. Quan điểm chính trị thường nhật đã có từ hàng thế kỷ nay, nhưng đồng thời cũng có những sự thật hiển nhiên luôn luôn đối kháng với quan điểm chính trị thường nhật đó. Sự thật là, tôi tự nhủ, thế giới hiện nay đang rơi vào tình trạng hỗn loạn, trong khi ở Wolfsegg, mọi sự lại ổn định, tôi cố tình không nói, mọi sự vẫn còn ổn định, mà tôi chỉ nói, mọi sự ổn định. Trong khi cả thế giới này đang rơi vào tình trạng giống như hôn mê và không đủ sức tỉnh dậy để trở về trạng thái có ý thức, thì những người ở Wolfsegg hoàn toàn tình táo. Dù họ đã xua đuổi tôi, mặc dù tôi vì căm ghét họ nên bỏ Wolfsegg ra đi, tôi nghĩ, song tôi không hề phủ nhận, rằng họ hành động, hay nói cho đụng hơn, họ đã từng hành động rất tỉnh táo, tỉnh táo hơn phần lớn những người còn lại trên đời này. Tất nhiên, tôi tự nhủ, họ tỉnh táo theo cách của họ. Rồi tôi lại nghĩ ngay, những gì tôi vừa nghĩ thật hết sức vớ vẩn, hoặc chí ít cũng điên rồ, chẳng đưa đến đâu, nói cách khác, là một thất bại về tư duy. Để tiếp tục đẩy tới cái ý nghĩ cho rằng những ai ở Wolfsegg đều hợp thời hơn phần thiên hạ còn lại, nhẽ ra tôi phải cần đến các anh Zacchi hay Gambetti, ai trong hai người cũng được, chứ một mình tôi, tôi sẽ thất bại cùng ý nghĩ đó, như tôi từng thất bại cùng mọi ý nghĩ khác của tôi, tức là tôi sẽ rơi vào vòng ngụy biện hoặc sinh ra ngạo mạn kiểu triết học. Thế nhưng, ta luôn luôn phải tính đến khả năng thất bại đó, nếu không ta sẽ đột ngột rơi vào tình trạng biếng nhác, ăn không ngồi rồi. Bên ngoài cái đầu ta, ta phải chống lại thói biếng nhác này cương quyết như thế nào, thì trong đầu ta, ta cũng phải cương quyết chống lại thói biếng nhác đó như thế, cương quyết, không khoan nhượng. Ta phải cho phép mình nghĩ ngợi, ta phải dám đương đầu với nguy cơ chẳng mấy chốc ta sẽ thất bại. Chuyện ta thất bại là đương nhiên, bởi ta bỗng nhiên không thể sắp xếp các luồng suy nghĩ, bởi vì khi ta nghĩ ngợi, ta phải luôn luôn tính đến tất cả các ý nghĩ hiện có và có thể có. Về cơ bản, bao giờ chúng ta cũng sẽ thất bại, giống hệt như những người khác; dù tên tuổi họ có vang dội thế nào, dù họ có là các nhà tư tưởng lỗi lạc bậc nhất đi nữa, thì đến một điểm nào đó, đột nhiên họ thất bại và hệ thống tư duy của họ đổ vỡ, như các tác phẩm của họ cho thấy, những tác phẩm làm ta ngưỡng mộ vì họ dám liều lĩnh tiến xa nhất trong sự thất bại của họ. Tư duy có nghĩa là thất bại. Hành động cũng có nghĩa là thất bại. Song tất nhiên, chúng ta hành động không phải để thất bại, cũng như chúng ta không nghĩ ngợi để chuốc lấy thất bại. Nietzsche là một thí dụ rất điển hình về lối nghĩ đi sâu vào thất bại, hỏng hóc, đến mức người ta phải gọi đó là điên rồ, có lần tôi đã bảo Zacchi vậy. Bên trong những bức tường lạnh lẽo, quét vôi trắng này đây, như mẹ tôi vẫn thường quả quyết, tôi mới có thể trưởng thành; quay trở ra ngoài gian tiền sảnh, tôi vừa nhớ lại lời mẹ tôi, vừa do dự, không biết nên đi ngay lên tầng trên, chỗ các em gái tôi, hay nên đến chỗ những người khác, như tôi nghe thấy, hình như đang tụ tập cả trong bếp. Các cô, các bà nấu bếp cũng như mấy cô hầu gái nói chuyện khe khẽ với nhau trong bếp, rất biết giữ ý đến chuyện họ đang ở trong nhà có tang. Tôi nán lại ở cửa bếp và cố lắng nghe xem họ đang chuyên trò gì với nhau. Mới đầu, tuy không nghe ra họ nói gì, chỉ lõm bõm đôi lời nói rời rạc, nhưng cũng đủ để tôi đoán họ đang bàn chuyện gia đình họ, bởi họ nhắc nhiều lần đến địa danh Muhlviertel. vẫn biết mình đứng ngoài cửa bếp nghe lỏm thế này thật không phải chút nào, nhưng tôi vẫn đứng đó, không dứt khoát được nên đi ngay lên gác chào hỏi các em tôi để kết thúc cái trò rụt rụt rè rè này, hay bây giờ nên mở toang cửa bếp, vào gặp các bà các cô đang tụ tập ở đấy. Bỗng dưng họ cười váng lên và tôi chợt nghĩ, bây giờ họ mà mở cửa ra, họ ắt bắt quả tang tôi nghe trộm. Với ý nghĩ ấy, tôi tự dưng thấy rùng mình sởn gai ốc về sự bất nhã trơ trẽn của mình. Tôi phải tự nhận rằng lối cư xử của tôi quả thật không thể tha thứ được. Dù bây giờ tôi có quyết định thế nào đi nữa, tôi tự nhủ, hoặc mở cửa đi vào bếp chào hỏi các bà các cô, hay lên gác gặp các em gái tôi, thì đằng nào tôi cũng vẫn phạm lỗi, theo cách của tôi, cái cách khó hiểu, và tất nhiên, gây bất bình. Câu chuyện trong bếp, mà bây giờ tôi đứng ngoài gian tiền sảnh chú ý lắng nghe, là câu chuyện về các đám tang các bà các cô từng chứng kiến và các tai nạn dẫn đến những đám tang đó. Chuyện một ông cụ tám mươi bảy tuổi, họ bảo nhau vậy, ngã suối chết, chuyện một bà già sáu mươi sáu tuổi, thắt cổ chết bên cửa sổ phòng ngủ, chuyện đứa trẻ bị xe ngựa chở đầy than cho nhà nó ở khu mỏ than - tức là xóm thợ mỏ nhà chúng tôi - chẹt chết. Họ kháo nhau rằng mùi xác chết rất khó chịu, rằng vòng hoa viếng bây giờ rất đắt, rằng càng ngày càng hiếm các nhà đòn, rằng người sống, đến cả người thân của người đã khuất, thậm chí các bà quả phụ, cũng không còn mặc đồ đen trọn nửa năm như ngày xưa nữa. Hình như trong bếp các bà các cô đang dùng bữa cà phê chiều. Trong khi họ uống cà phê buổi chiều vào lúc khoảng hai giờ chiều, thì khoảng năm giờ chiều họ mới đặt nước cho chủ trên gác dùng trà; lúc này họ bắt đầu ăn tối dưới bếp, để đến bảy rưỡi mới dọn bữa tối lên cho người trên gác. Tự dưng tôi cảm thấy khoan khoái dễ chịu, khi nhận ra thói quen hàng ngày ở Wolfsegg có vẻ không thay đổi gì cả. Trong bếp, họ lại tiếp tục kháo chuyện về một ông lái tàu nào đấy bị cướp giết chết, để lại năm đứa con thơ cho một mình bà vợ, bà này bây giờ phải tìm việc làm nuôi con, bởi vì Nhà nước tuyệt nhiên không trợ cấp gì cho người thân người bị giết, ngay cả khi thủ phạm đã bị bắt cũng không. Pháp luật nhà nước Áo này chứa quá nhiều thiếu sót, họ bảo vậy. Tôi lại nghe họ kể về chiếc xe kéo bị lật ở gần biệt thự trẻ thơ khi các cô đầu bếp phải chở lô ghế băng từ đó về khu nhà chính. Rồi tôi lại nghe rộ lên tiếng cười khi có người nói gì đó về gà đẻ trứng; nhưng tiếng cười lại tắt đi ngay, như thể các bà các cô chợt ngượng ngùng về thái độ khiếm nhã của mình. Nếu bây giờ tôi bước vào chào hỏi họ, tôi khắc biến mình thành kẻ lố bịch tột đỉnh; nghĩ vậy, tôi bèn lên gác. Ngay trong bầu không khí thê thảm này, tôi vẫn vui thầm trong bụng, vì tôi từ Rome về đây mà chẳng mang theo hành lý gì, tuyệt nhiên không một thứ gì cả, độc mỗi một chiếc ví cùng cái khăn tay. Rồi tôi sẽ cho thuê kiểm định tất cả những bức tranh và chân dung treo trên các bức tường trong nhà hay xếp ngổn ngang trên tầng sát trần, xem trị giá thực của chúng là bao nhiêu, tôi tự nhủ khi đi ngang bức chân dung cụ Ferdinand lên tầng trên. Cứ bình tĩnh, đừng thở gấp, tôi nghĩ bụng, dừng lại ở đầu cầu thang, dỏng tai nghe ngóng. Con Amalia đang nói chuyện với gã chủ xưởng nút chai rượu vang ở Freiburg, anh rể nó, tức em rể tôi - gã đàn ông mang rượu vang vùng Baden đến đây chiêu đãi cả nhà ấy. Suốt mấy ngày đám cưới, hầu như tôi chẳng chuyện trò gì với gã, nhưng không phải vì tôi kênh kiệu, mà vì gã muốn lánh mặt tôi. Gã toàn lẩn đi chỗ khác, chắc vì sợ tôi vặn vẹo chuyện này chuyện nọ. Tôi còn nhớ, tôi nhác trông thấy gã đứng một mình dưới cây sồi trong vườn, tôi liền nghĩ, đây có lẽ là cơ hội cho mình đến bắt chuyện, hòng moi thêm chuyện ở gã, nhiều hơn những câu chuyện ít ỏi tôi đã biết qua em gái tôi, vì nó chẳng hé lộ nhiều chuyện lắm về vị hôn phu cả. Song, tôi vừa cất bước đi về phía cây sồi, thì gã em rể đã lại rời đi chỗ khác. Chắc gã để ý quan sát tôi nãy giờ, và đúng lúc thấy tôi định đi về phía gã, gã bèn tránh đi, tôi nghĩ, miễn cưỡng tiến về phía nhà kính, mặc dù chẳng có lý do gì để làm thế vì ở đấy chẳng có ai, hay đúng hơn, tôi không thấy bóng ai ở đấy. Thế là tôi lại đứng trơ một mình dưới cây sồi, không có gã em rể giàu có đứng chầu bên cạnh. Trong bữa tiệc hôm đám cưới, tôi cũng không sao bắt chuyện được với gã, bởi tôi cứ hướng ánh mắt về phía gã là gã lại nhìn tránh ra chỗ khác. Rõ ràng gã khổ sở khi bị tôi để ý; thế nhưng, lẽ ra gã phải hiểu, nếu thằng em rể mới về nhà vợ có bị thằng anh vợ soi mói xem hành vi gã ra sao, lắng nghe gã nói năng, đánh giá xem gã cư xử trong ngoài như thế nào, thì đó cũng là chuyện hết sức hiển nhiên thôi chứ. Nhưng gã chủ xưởng nút chai rượu vang thích tránh mặt tôi hơn. Giờ tôi nghĩ lại, thì đúng là suốt mấy ngày lưu lại Wolfsegg đó, tôi không có dịp nào để nói chuyện nghiêm túc với gã, dù tôi luôn thiết tha, song tôi chả lúc nào có cơ hội để làm việc đó cả. Loại người này, lại còn là người Baden ở xứ trồng nho nữa chứ, tôi nghĩ bụng, là loại người có biệt tài lẩn trốn những ai muốn chuyện trò với họ, họ luôn luôn né tránh những ai muốn soi mói họ bằng các câu hỏi vặn vẹo; họ rất khôn ngoan, khéo léo khi phải né tránh như thế. Vâng, ta có thể bảo người này đần độn, song ta cũng phải thừa nhận ngay rằng y rất láu cá. Những người đầy đặn, mập mạp bao giờ cũng láu cá hơn kẻ khác, và nói chung, bao giờ cũng linh hoạt hơn. Nhưng sự linh hoạt ấy chỉ giới hạn ở linh hoạt cơ thể, bởi đầu óc tư duy của họ, nếu quả thực họ có một thứ như vậy thật, không hề linh hoạt chút nào. Tôi định bụng sẽ thử thách thằng em rể, và đã tưởng, thử thách gã này chắc cũng dễ thôi, chỉ cần hỏi dăm ba câu là nhìn thấu gan thấu ruột. Thế nhưng, tôi đã nhầm, do quá tự tin vào tài bắt chuyện của mình, tôi đã thất bại. Có điều, tôi tự hỏi, vì cớ gì gã em rể tránh mặt tôi? Gã ngại cái gì ở tôi mới được? Dấu sao tôi cũng là anh trai vị hôn thê của gã, chỉ sau đám cưới hôn thê sẽ là vợ, cho nên tôi tin tôi cũng có quyền tìm hiểu xem gã là người thế nào chứ? Tất nhiên, chuyện con em gái tôi chẳng hỏi han gì, cứ đùng đùng đòi cưới gã đàn ông này mà không hề biết gã sự thực là người thế nào quả là chuyện tày trời, bởi rõ ràng nó chẳng biết gì về gã thật. Nó chỉ luôn mồm bảo, bà cô ở Titisee biết rõ về gã, biết lã đến chân tơ kẽ tóc, cô ấy còn quen biết cả gia đình bố mẹ gã ngay từ lúc bố mẹ gã mới lọt lòng kia. Nhưng tất nhiên, như thế chưa đủ, tôi nghĩ bụng, cũng y hệt như mẹ tôi, mặc dù bà còn nghĩ sâu hơn tôi rất nhiều. Có điều, bà cũng không ngăn nổi đám cưới này, vì con Caecilia khăng khăng đòi cưới cho bằng được, tức là lần đầu tiên nó dám chống đối, và như thế, dám gây tội chống lại mẹ. Nói là gây tội, bởi vì ngay từ đầu, mẹ tôi đã coi chuyện cưới xin này là hành động tội lỗi không hơn không kém của con Caecilia, một hành động bà ngờ chỉ nhằm chống lại bà và chỉ chống lại một mình bà mà thôi; nhưng bà giữ kín, ngoài chúng tôi ra, bà không để lộ cho ai biết mối ngờ vực đó của bà, e mất mặt trước bàn dân thiên hạ. Cứ theo điều bà vẫn đinh ninh và biến thành quy định dứt khoát, thì hai đứa con gái bà sẽ phải suốt đời ở gần bà, tức là ở Wolfsegg, để hầu hạ bà và tuyệt nhiên không thể có chuyện cưới xin ở đây. Mọi sự vốn đâu vào đấy như thế, cho đến lúc bà cô ở Titisee mang ý tưởng cưới cưới xin xin quái đản kia xía vào làm hỏng hết các dự tính của bà, như mẹ tôi thường vẫn rủa. Nhưng đám cưới ấy cũng là một cú giáng vào con Amalia, tôi nghĩ bụng, bởi vì, dù không nói ra cho ai biết, hai chị em chúng nó đã thề suốt đời ở với nhau, hay nói cách khác, thề không đứa nào lấy chồng, một đứa đã lấy chồng thì phải chia tay với đứa kia. Cuộc chia tay, tôi lại nghĩ thầm, rốt cuộc đã xảy ra vì cái đám cưới quái đản này, một đám cưới mà mẹ tôi vẫn chỉ gọi một cách nham hiểm là cuộc hôn phối, một từ mà ở Wolfsegg cho đến khi đám cưới này diễn ra, vẫn được phát ngôn với giọng rẻ rúng tột cùng. Nhưng gã chủ xưởng nút chai rượu vang cũng không bao giờ nói đám cưới cả, gã chỉ luôn mồm nói hôn phối, bởi gã là dân Baden và nói như thế đối với dân ở đấy là bình thường; nếu chưa quen lối nói mỉa mai của địa phương tôi, họ sẽ chẳng thấy có gì là kỳ khôi khi nói như thế cả. Tôi không nghĩ gã thuộc hạng du côn hay lèo lá, nhưng cầm chắc gã là một thằng ngu muốn ngoi lên cao, hạng người mà người ta có thể gặp hàng đàn hàng lũ khắp nơi trên các đường phố, những kẻ khiến mọi nhà hàng, quán ăn, mọi buổi tiếp tân đều thành chốn địa ngục. Gã không đủ láu cá xảo quyệt để thành tên du côn hay thằng buôn lậu, tôi tự nhủ, gã chỉ là một kẻ thèm danh hám vị thực lòng, với tất cả các mặc cảm tự ti của gã. Tất nhiên, lẽ ra tôi có thể buộc gã phải nói chuyện với tôi, tôi nghĩ bụng, ngáng đường bắt gã trả lời các câu hỏi của tôi không phải là chuyện khó khăn gì lắm, song tôi chẳng hứng thú gì làm như thế. Có thể do tôi không muốn phải đối mặt với gã, nghe giọng nói kỳ cục của gã, cái giọng miền tây nam nước Đức và kiểu nói năng vùng Baden ấy. Sau nhiều lần đến ở nhà bà cô tôi ở Titisee vùng Schwarzwald, tôi biết thế nào là sự ấm cúng dễ chịu xứ Baden và không ưa gì nó, không khác gì cái gọi là sự ấm cúng độc địa và ngu xuẩn của thành Wien xưa nay vẫn làm tôi kinh tởm, vâng, cái gọi là ấm cúng dễ chịu hay quyến rũ bao giờ cũng làm tôi lúng túng, hay đúng hơn là làm tôi thất vọng, bởi chẳng qua nó chỉ là cách xử sự thô bỉ với đời cũng như với bản chất của con người mà thôi, và nếu nói cho quá lên nữa, nó là sự xuyên tạc hết sức hèn hạ thế giới quan của chúng ta. Tôi không thể bảo gã chủ xưởng nút chai rượu vang đã luồn lách đến Wolfsegg này, bởi chính con em gái tôi đã cố tình cưỡng lại mẹ để đưa gã về Wolfsegg, bắt gã làm kẻ đồng lõa, phạm tội lớn chống lại bà. Một kẻ chưa bao giờ nghe chút gì của Max Bruch! Mẹ tôi từng thốt lên như thế trong bữa ăn tối, khi câu chuyện đang xoay quanh gã chủ xưởng nút chai rượu vang, và chỉ xoay quanh gã mà thôi. Đúng bà - một người chẳng biết mô tê gì về âm nhạc, một người suốt đời chỉ cần bản giao hưởng vĩ cầm của Max Bruch là đủ làm cho ngây ngất ấy, thì tôi cứ nói thẳng tuột ra như thế, đúng bà, lại là người thấy cần sỉ nhục gã con rể tương lai của mình - mặc dù gã đã bị chúng tôi giễu cợt chán rồi - bằng cách nêu danh tiếng đáng ngờ của Max Bruch ra như vậy. Rome, tôi không hé răng nói một lời nào về gã chủ xưởng nút chai rượu vang với bạn bè tôi. Mãi đến khi đám cưới đã ít nhiều dứt khoát rồi, tôi mới kể cho Zacchi, Gambetti, cả cho Maria nữa về gã, khiến nàng không thể nhịn được, phải rũ ra cười. Mãi về sau tôi mới nhận ra sự độc địa và bần tiện trong câu chuyện tôi kể, câu chuyện không phải bôi tro trát trấu thằng em rể mà thực ra, tôi tự bôi xấu mặt mình thì đúng hơn. Thật tình, tôi không sao có thể giữ nghiêm túc khi nói về gã em rể được, bao giờ cũng phải châm biếm cay độc, cái lối vẫn bật ra ở tôi mỗi khi tôi không sao nghiêm túc được nữa ấy. Song chính loại người như gã chủ xưởng nút chai rượu vang là loại thường xuyên làm tôi nổi điên, là loại bao giờ cũng làm tôi sôi máu, như người ta vẫn nói, bởi chính họ, hơn bất kỳ ai khác, là hình ảnh méo mó về con người, là những kẻ thóa mạ, xuyên tạc nhân loại, những kẻ làm nhân loại trở nên lố bịch - những hành động tuyệt nhiên không phải do họ bất lực hay vụng về. Cũng như không thể lẫn lộn giữa việc tôi đang đối mặt với một người bình thường hay một người vô sản, tôi nghĩ bụng, tức là với một người ta có thể chịu đựng được, người làm ta yên lòng hay với một kẻ ta không thể chịu đựng nổi, kẻ gây bất an, kẻ làm méo mó hết thảy. Người vô sản là sản phẩm của nền công nghiệp, là người chưa từng tồn tại trước khi có công nghiệp hóa. Họ là nô lệ của máy móc, là người bị máy móc thường xuyên lăng nhục nhưng lại không sao chống lại nổi sự lăng nhục đó, là người bị máy móc biến thành đê tiện. Trong khi đó, con người bình thường, như tôi hiểu, không bao giờ tự biến mình thành kẻ nô lệ của máy móc, không để chúng hạ nhục, cũng không để mặc cho chúng hủy hoại và triệt hạ mình. Giới tiểu tư sản và giới vô sản là sản phẩm đáng thương, nhưng cũng không thể chịu đựng nổi của thời đại cơ khí máy móc và chúng ta thường vẫn hết hồn hết vía mỗi khi phải đối diện với họ, bởi lúc đó ta phải chứng kiến tận mắt cuộc sống bên máy móc và trong văn phòng đã biến họ thành những con người thảm hại ra sao. Một phần rất lớn, hay đúng ra là phần lớn nhất của nhân loại đã bị máy móc và văn phòng phá hủy và triệt hạ, tôi tự nhủ. Gã chủ xưởng nút chai rượu vang chính là kẻ đã bị văn phòng xưởng sản xuất nút chai rượu vang cũng như máy móc sản xuất nút chai rượu vang của gã hủy hoại và triệt hạ, biến gã thành kẻ không ai chịu được, tôi nghĩ bụng, trong khi - dù đã lên đến tầng hai - vẫn đang lưỡng lự dừng lại ở đầu cầu thang. Tôi không thể biết duyên cớ nào đã xui khiến con em gái tôi chọn đúng con người này làm bạn đời của nó. Nhưng mặt khác, tôi cũng biết rằng nó sẽ chẳng tìm được thằng nào khác chịu kết duyên cùng. Mọi nỗ lực của nó, mà các nỗ lực như thế của nó đã không phải là ít, đều thất bại, hay đúng hơn là đều buộc phải thất bại, do bà mẹ nó ngăn cấm con gái mình gặp gỡ hay giao du với cánh đàn ông. Hai con em gái tôi đều xấp xỉ ba chục cả rồi mà vẫn phải tuân theo lệnh cấm ấy của mẹ, không dám vi phạm lệnh cấm, bởi cả hai đều sợ bị mẹ đuổi đi và truất hết mọi quyền lợi. Bao giờ chúng nó cũng bị dọa tước quyền thừa kế nếu không chịu tuân lời mẹ. Chúng nó cứ phải nhắm mắt nghe lời, bởi hai đứa không sợ gì bằng sợ mất quyền thừa kế, bởi chúng cảm thấy sẽ hoàn toàn bất lực, vâng, tôi có thể nói thẳng thừng ra rằng, chúng cảm thấy chẳng còn chút giá tri nào, nếu chúng mất hết của cải. Có lần con Caecilia nhỡ mồm xin đi chơi hai ngày với bạn trai đến Salzburg, nó liền bị cấm túc hẳn một tuần, không được rời một bước ra khỏi nhà. Con Amalia cũng sẽ phải chịu chung số phận như thế, nếu nó cũng có ước muốn, nói như mẹ tôi nói, được đi chơi những chuyến nguy hiểm như thế. Bây giờ, không biết tôi phải xử sự thế nào trước mặt gã chủ xưởng nút chai rượu vang đây, tôi đang nghĩ bụng vậy thì nghe thấy tiếng các em tôi nói rộn lên, tiếng của cả ba đứa, mặc dù đứng ngoài hành lang tôi chưa hiểu ngay chúng nó đang bàn tính những gì, chỉ nghe láng máng chuyện gì đó dính dáng đến đám tang. Tôi tự hỏi, tôi phải làm gì bây giờ, tôi phải nhập vai thế nào bây giờ. Lối cân nhắc, suy đi tính lại như thế thường chẳng đưa đến đâu mà chỉ tổ làm mọi sự thêm khó ra, làm rối rắm những việc thật ra đơn giản, mặc dù thoạt trông có vẻ hết sức phức tạp và khó khăn. Tôi vẫn biết rằng mọi sự rồi sẽ đâu ra đấy và chẳng cần phải vắt óc nghĩ ngợi gì ngay cả trong những trường hợp gọi là khó khăn nhất đi, chẳng hạn như trường hợp ta về nhà sau khi nghe tin có tai nạn và phải hiện diện trước mặt những người đang chờ đợi ta - những người vốn đã chứng kiến hay phải đối mặt trước ta với tai nạn đó. Ta vẫn biết, mọi sự rồi sẽ ra đâu vào đấy, song ta không bao giờ tin vào sự thực đó, ta luôn luôn phớt lờ nó và tự hành hạ đầu óc mình. Giá như chỉ có một mình các em gái tôi thôi, tôi nghĩ bụng, thì có lẽ tôi đã chẳng ngần ngại nhập cuộc với chúng nó từ lâu để bàn chuyện nay mai phải làm gì. Nhưng gã chủ xưởng nút chai rượu vang đã ngăn trở tôi xuất đầu lộ diện một cách tự nhiên. Chưa gì gã đã ngáng đường tôi, tôi nghĩ bụng, chưa gì gã đã ngáng trở phong thái tự nhiên của tôi. Lúc này, mới có đúng một tuần sau khi diễn ra, cái đám cưới đó đã thời ra là một sai lầm ghê gớm, tôi nghĩ bụng, nó như cái nêm lèn vào giữa Caecilia và Amalia, chia rẽ hai đứa ra khỏi nhau, chia rẽ đến cùng và mãi mãi, chứ không phải chỉ tạm thời, do hờn dỗi, nên Amalia chuyển sang ở bên khu nhà thợ làm vườn ít lâu để trừng phạt chị nó đâu. Bây giờ gã chủ xưởng sản xuất nút chai ngồi với chúng nó trong kia, bàn bạc với chúng nó những chuyên mà lẽ ra chúng nó phải bàn với tôi mới đúng. Gã đang can thiệp vào chuyện không phải chuyện của gã, có khi gã đang ra tay điều khiển công việc ở Wolfsegg cũng nên, bằng sự ngu đần của gã, bằng các suy nghĩ và hiểu biết tiểu tư sản nồng cạn của gã - các suy nghĩ và hiểu biết không khi nào vươn lên tầm suy nghĩ và hiểu biết của giới trí thức được cả. Chưa đầy một tuần sau đám cưới mà gã đã ra vẻ ông chủ ở Wolfsegg, vơ Wolfsegg vào tay mình, tôi nghĩ bụng và đứng vào một chỗ khiến tôi có thể nghe được tất cả những gì ba đứa nói với nhau trong kia. Thật tình, tôi định bụng cứ chờ nghe xem, chúng nó có nói gì về tôi không, nhưng chỉ nghe chúng nó nói gì đó về tay thợ liệm xác, rằng tuy hắn đã ghé đây ba lần, nhưng vẫn chưa thỏa thuận xong mọi chuyện. Rằng đã có tám chục vòng hoa và bốn chục bó hoa gửi đến viếng. Rằng tin cáo phó trang trọng đã được gửi đăng, không những trên báo Oberösterreichische Nachrichten và các tòa báo khác ở vùng Thượng Áo, mà cả trên các báo ở Wien và München; và chúng đang cân nhắc xem, có nên cho đăng cả tên báo Frankfurter Allgemeinen nữa không. Chúng nó nói chuyện rất khẽ, tôi nghĩ bụng, chắc để không ai nghe thấy, nhưng tôi lại nghe được hết. Lần đầu tiên tôi phát hiện, hóa ra đứng bên ngoài hành lang người ta vẫn có thể nghe thấy gần hết, dù bên trong có hạ giọng, nói thật khẽ đi nữa. Phát hiện này làm tôi hơi hoảng, bởi từ xưa đến giờ, tôi vẫn đỉnh ninh, đứng phía ngoài không nghe được bên trong nói gì. Phát hiện này là một trong những phát hiện quan trọng nhất, tôi nghĩ bụng, nó buộc tôi phải hết sức thận trọng với cách nói năng của tôi khi ở trong phòng khách. Chúng nó tưởng không ai nghe được chúng, tôi nghĩ bụng, nhưng hóa ra, trong đó nói những gì, ở ngoài này đều nghe rõ mồn một. Suốt từ nãy, gã chủ xưởng nút chai rượu vang chỉ thấy ừ hử, độc những phải với không để đáp lại các câu hỏi không quan trọng. Bọn em gái tôi nói là chính, điều đó khiến tôi yên tâm hơn. Gã chợt cất tiếng, bảo phải nâng bệ đỡ linh cữu lên một chút, khiến tôi dỏng tai để ý nghe. Bệ đỡ linh cữu thấp quá, khiến khách viếng khó nhìn được mặt người đã khuất, nên phải làm sao nâng nó lên. Chuyển qua lại một lúc khá lâu rồi cả ba quyết định cho người nâng bệ đỡ linh cữu cao lên. Rồi bọn họ chuyển sang nói về thợ làm vườn, sau lại đến cánh thợ săn. Đoạn, đến chuyện đã cho thuê hết các phòng ốc cho khách bốn phương về dự đám tang; không những thuê tất cả các phòng trọ dưới làng, mà cả bên Ottnang. Tôi nghe nhiều lần nhắc đến nhà trọ Gesswagner, là quán tôi vẫn thích đến ăn nhất, mỗi khi tôi muốn đổi món, ăn món gì khác với các món của nhà bếp Wolfsegg. Nhà trọ Gesswagner có nhiều phòng rộng, với những chiếc giường ngủ cổ xưa, là nơi khách khứa nhà chúng tôi vẫn ưa dừng chân nghỉ vào những dịp họ đến Wolfsegg. Bởi vậy, cả nhà trọ này lẫn cửa hàng thịt của chủ nhà trọ không phải vô cớ mà nổi tiếng ở nhiều nơi. Nhắc đến nhà trọ Gesswagner là tôi nhớ ngay đến các buổi vui vẻ cùng với dân làng Ottnang trong quán ăn của nhà trọ này. Thợ mỏ, nông dân, thợ mộc hay đám thợ làm đường hay lui tới đó - và chính nhờ họ mà tầm mắt tôi được mở rộng ra từ rất sớm. Không ở quán ăn nào ngoài quán ăn này, tôi được trải qua những giờ phút vui vẻ, thoải mái và tự nhiên như thế. Chính vì thế nên nhà trọ Gesswagner như có ma lực đối với tôi. Nơi đó cũng là trung tâm của Ottnang; nơi này dân làng vốn nổi tiếng thoải mái và vui nhộn, lại cũng là nơi có ban nhạc thuộc hạng cừ khôi nhất, hay nhất, ngang ngửa ban nhạc làng tôi. Thế nhưng, tôi nghĩ bụng, tên nhà trọ Gesswagner, tất nhiên, cũng chỉ làm riêng một mình tôi vui mừng, vì cũng chỉ mình tôi biết các lý do sâu xa đằng sau tên gọi đó thôi. Trong kia, chúng nó bỗng dưng nhắc đến tên tôi. Chúng nó hỏi nhau, vì sao đến tận giờ vẫn chưa có tin tức gì của tôi, mặc dù đã đánh điện tín ngay cho tôi sau khi có tin tai nạn. Không điện thoại, không tin tức gì hết, Amalia cằn nhằn. Đúng lúc đó, tôi bước vào phòng khách. Cả bọn đứng dậy nhưng không mở nổi miệng nói câu nào. Tôi ôm các em gái tôi và bắt tay thằng em rể. Sau đó, cũng không nói một lời, tôi sánh vai Caecilia cùng cả bọn xuống nhà, đi sang khu nhà lánh. Cảm giác đầu tiên của tôi là chúng nó có vẻ nể nang tôi trong tư cách người kế nhiệm tuyệt đối và duy nhất của những người tử nạn. Thật ra, chúng nó cũng chẳng còn lựa chọn nào khác, ngoài việc chấp nhận vai trò đó của tôi, và trong giây lát thôi, tôi thoáng nghĩ, rằng từ nay chúng nó nằm trong tay tôi, phải nhờ cậy tôi, phải nghe lời tôi. Chỉ thoáng qua thôi, một ý nghĩ, thì ra bây giờ chúng nó không thể sống thiếu tôi, từ nay chúng nó sẽ phải dựa vào lòng hào hiệp, khoan dung của tôi, bởi tôi là người thừa kế đương nhiên của những người quá cố và từ giờ chúng nó phải bám vào tôi, bởi tai nạn kia bỗng chốc biến chúng thành những kẻ bơ vơ và hoàn toàn bất lực. Một kẻ đào tẩu, vốn bị xua đuổi, bị nguyền rủa, bị ghét bỏ như tôi bỗng dưng trở thành ông chủ, một mình nắm quyền định đoạt mọi thứ, thành người che chở, thành vị cứu tinh cho chúng nó. Ngay từ phút giây đầu tiên anh em gặp lại nhau ấy, bọn nó dường như trông chờ tất cả vào tôi, mong mỏi cầu xin tôi, dù ít nhiều miễn cưỡng, gượng gạo đi nữa, bỏ qua, quên đi tất cả những gì chúng nó và những người đã khuất kia từng gây ra cho tôi, để ra tay cứu vớt chúng nó. Đương nhiên, đó cũng là ý muốn của tôi và tôi đánh tiếng - không phải bằng lời, mà bằng cách xử sự không cắt nghĩa thêm được - để chúng nó biết như thế. Cùng bị đẩy vào tình thế giống hệt như tình thế hai đứa em gái tôi, gã em rể cũng mong chờ tôi sẽ che chở cho gã cùng hai đứa em gái, sẽ tính đến cả gã trong các suy tính dự định nay mai của tôi. Song, cũng như chúng nó, chính tôi cũng chẳng biết rồi chuyện gì sẽ đến, bởi vì tính từ hôm qua ở Rome, do tác động của bức điện tín kinh khủng nọ, cho đến thời điểm bây giờ, tôi chưa hề nghĩ một chút nào đến việc phải tháo gỡ mớ bòng bong các chuyện cần xử trí trong ngoài, trước sau ở Wolfsegg ra sao, những việc bây giờ bỗng rơi lên đầu tôi và chỉ một mình tôi mà thôi, nhưng do phải vội vã ra đi nên tôi chẳng còn lúc nào, hay đúng hơn là tôi không dành chút thời gian nào, để nghĩ tới bấy nhiêu là việc dồn đến cùng một lúc ấy; tôi gạt những việc đó sang một bên, bởi tôi không muốn trước khi bố mẹ cùng anh trai được mai táng đã phải gánh vác và ngập đầu một lúc với bấy nhiêu là việc của Wolfsegg. Vả lại, tin báo cái chết của bố mẹ và anh trai ập đến Rome quá bất ngờ, bất ngờ đến nỗi, như tôi đã nói, chẳng hề làm tôi choáng váng, mà ngược lại, nhấn tôi chìm vào một tâm trạng mà nếu đem đối chiếu với sự khủng khiếp của tin báo, là một tâm trạng thật quá ư dửng dưng và lãnh đạm, một tâm trạng mà tôi đã không đủ sức mạnh, cũng không đủ cả ý chí để xua đi. Tôi chỉ xếp mấy bức ảnh lên bàn giấy, có thể bình tâm nói thẳng ra như vậy, rồi mơ mơ màng màng cùng các bức ảnh đó, hòng ít nhiều tự đánh lạc hướng mình khỏi tin báo khủng khiếp kia. Bây giờ tôi nghiệm ra, đó quả là biện pháp tuyệt hảo vậy, giúp tôi sau khi nhận được bức điện báo tử vẫn bình tĩnh, chứ không bị choáng váng xúc động, hay nói như thiên hạ, không bủn rủn chân tay mà đầu óc vẫn tỉnh. Song, tất nhiên tôi chưa nghĩ ngợi gì đến các hậu quả sẽ ồ ạt ập tới cùng bản tin báo tử đó, bởi tôi muốn tự vệ, tôi buộc phải tự vệ, không muốn và cũng không thể, bị sự thật về cái chết của bố mẹ và anh trai tôi bóp nghẹt. Trên đường đi sang khu nhà kính, tôi nhìn con Amalia đi trước và nghĩ bụng, thì ra, từ nay, hai con em gái tôi và thằng em rể sẽ phải dựa hẳn vào tôi, và chúng nó buộc phải thay đổi hoàn toàn cách đối xử với tôi. Dù gì thì sau cái chết của bố mẹ và anh trai cả, tôi bỗng dưng trở thành người giữ vai trò chu cấp, nuôi nấng chúng nó - một vai trò mà chúng nó quả thực chưa bao giờ nghĩ sẽ có ngày rơi vào tay tôi. Song, bây giờ tôi vẫn là thằng tôi như trước, tôi nghĩ bụng, tôi không thay đổi, tôi cũng sẽ không thay đổi, mặc dù bây giờ chúng nó mong tôi phải thay đổi, chúng nó tin như thế, để không bị tuyệt vọng và tuột mất hết khỏi tay mình. Sự thật là, trên đường đi sang khu nhà kính, tôi nghĩ bụng - dù ý nghĩ đó đối với tôi tất nhiên cũng đáng buồn - rằng các em gái tôi sẽ phải trả giá, rằng tôi không nghĩ đến chuyện sẽ cho chúng nó tiếp tục ở lại Wolfsegg, tôi cũng sẽ không cho tiếp tục vận hành Wolfsegg như hiện nay. Tôi chưa biết rồi sẽ vận hành công việc khác đi như thế nào, chỉ biết nó sẽ không tiếp tục vận hành, không tiếp tục hoạt động như hiện nay, như hàng trăm năm nay đến giờ được nữa. Cũng có thể do cái chết bất ngờ của bố mẹ và anh trai, khiến con Amalia trong vai đứa con gái và đứa em đau khổ phải cố tình sang khu nhà kính trước tôi và mặc toàn đồ đen. Trong bộ áo liền váy đan bằng len màu đen, tóc búi ngược ra sau, trông nó khá xinh gái, vì cũng giống như Caecilia, tôi nghĩ bụng, màu đen rất hợp với nó. Giá như hai đứa chúng nó không lúc nào cũng đóng bộ váy Drindl đáng ghét nọ lên người, tôi tự nhủ, giá chúng nó cứ mặc váy đen thì có phải hơn không. Gã em rể đi sánh vai cùng Caecilia, thoạt tiên chỉ gây cho tôi cảm giác gã đang hoàn toàn bất lực. Cái vẻ một mặt đắc thắng, mặt khác lại mặc cảm tự ti của gã vào tuần trước, trong vai chú rể, bây giờ biến đi đâu mất. Vụ tai nạn quái ác cũng như các hậu quả trực tiếp của nó khiến gã không còn cách nào để che đậy nổi sự vô dụng lẫn sự đần độn của gã. Hai vợ chồng chúng nó đứng trước mặt tôi và phơi bày toàn bộ sự vô tích sự đến tuyệt vọng của chúng. Thay vì gã phải đỡ đần cho Caecilia, theo lẽ thông thường phải vậy, Caecilia lại phải làm chỗ dựa cho gã. Đó chính là cảm giác đầu tiên lúc tôi bước vào gian phòng gọi là phòng khách và trước hết nhìn Caecilia với chồng nó, sau rồi mới nhìn sang Amalia, là đứa tôi thấy còn có vẻ bình tính hơn cả. Chúng nó bảo chúng nó đã sắp xếp xong xuôi mọi việc; tôi không rõ mọi việc là những việc gì, song tôi nghĩ bụng, nhờ chúng nó, cho nên những việc cần thiết phải làm đã bắt đầu vào guồng. Trước khi cả bọn sang đến khu nhà kính, Caecilia bảo tôi, nó cũng đã đánh điện cho Spadolini, cùng lúc đánh điện cho tôi. Giờ chúng nó chờ tôi bảo chúng nó biết, ngoài những người chúng nó đã báo tin, còn phải báo tin cho những ai nữa. Nó coi việc đánh điện ngay cho Spadolini là việc đương nhiên. Giờ thì tôi cũng vỡ nhẽ ra, hóa ra con Caecilia thừa biết quan hệ giữa mẹ tôi với Spadolini là quan hệ thế nào. Tôi nghĩ bụng, đúng là bọn em gái tôi bao giờ cũng biết hết mọi chuyện. Gã chủ xưởng nút chai rượu vang bây giờ đâm ra vướng chân vướng cẳng, tôi nghĩ bụng, nhưng tôi không hất gã đi đâu được. Ngược lại, tôi có cảm giác dường như con Caecilia cố tình đẩy gã, như đẩy kẻ bảo trợ lên phía trước, để che chắn cho mình. Điều đó không làm tôi lo ngại, bởi tôi không sợ gì gã chủ xưởng nút chai rượu vang này cả, dù bây giờ gã có là em rể tôi cũng vậy, gã sẽ mãi mãi chỉ là một nhân vật ngoài lề vô thưởng vô phạt mà thôi. Ý định đẩy gã lên phía trước của Caecilia quả là quá lộ liễu, bởi khi tôi bước vào phòng khách, nó lui ngay ra sau lưng gã, như muốn lấy gã ra làm lá chắn. Ngay từ giây phút đầu tiên, tôi đã thấy điều đó thật nực cười, nếu không nói là vô duyên. Tôi nghĩ, việc con Caecilia, khi thấy tôi bước vào phòng khách liền đứng dậy và lùi ra đứng sau lưng chồng nó như thế, là việc không đáng làm. Nhưng rồi tôi không nghĩ tiếp nữa, bởi trong khoảnh khắc ấy, ý nghĩ đó chẳng quan trọng chút nào, cho dù nó cũng làm tôi bối rối, một sự bối rối mà trong bối cảnh đó kể cũng là bình thường. Hai đứa em gái tôi cố diễn cho tôi thấy, do tình huống mới của Wolfsegg, nên chúng nó đã thay đổi; thế nhưng, chúng nó diễn không đạt lắm, bởi sự thật, chúng nó chẳng thay đổi gì, chúng vẫn vậy, như xưa. Thoạt đầu, tôi đã tưởng chúng nó đã thay đổi thật, nhưng chẳng mấy chốc - đúng vào lúc tôi bảo, bây giờ tôi muốn được nhìn thấy thi hài bố mẹ và anh trai - thì tôi cũng rõ ra ngay, rằng tôi đã nhầm. Trước khi đến khu nhà lánh, tôi vẫn còn nghĩ, chắc lúc này các em tôi không đòi hỏi gì hơn ở tôi ngoài sự quên mình tuyệt đối. Tôi tự nhủ, một khi ngươi đã phải che chở chúng nó sao cho tốt nhất, thì ngươi phải hết sức thận trọng, nếu không ngươi sẽ chỉ thua thôi. Dẫu gì chúng nó cũng được chính mẹ ngươi huấn luyện và chúng nó rất biết cách phải lợi dụng một tai họa kiểu như thế này cho các mục tiêu của chúng ra sao. Ngay tức khắc tôi bỗng ghê tởm ý nghĩ đó của tôi; song nó không phải vô cớ mà nảy sinh, đồng thời, quả là cần phải nghĩ như vậy thật. Người nhà tôi, kể cả các em gái tôi, vốn chưa bao giờ chùn tay trước bất cứ việc gì, nếu việc đó phục vụ cho lợi ích của họ, tôi tự nhủ, thì tại sao bây giờ chúng lại phải xử sự khác đi. Song, tôi cũng lại tự hỏi, sự mất lòng tin, sự ngờ vực ở trong tôi dành cho chúng nó phải sâu sắc, phải ghê gớm cỡ nào, để tôi phải nghĩ như vậy trong giây khắc này. Tôi bỗng tự cảm thấy ghê tởm cả chính mình. Ngờ vực nhau là chuyện bình thường trong mỗi chúng tôi, mỗi người đều thổi phồng mối nghi ngờ đó lên quá mức bình thường và biến thành thói quen nghi ngờ tất tật. Tuy nhiên, mối nghi ngờ đó chỉ trỗi dậy trong tôi, khi nào tôi về Wolfsegg và cũng chỉ nhằm vào người nhà tôi, ở nơi khác, tôi lại chẳng nghi ngờ ai bao giờ. Cứ về đến Wolfsegg, mối nghi ngờ lại trỗi dậy, như thể nó thuộc về Wolfsegg vậy, thuộc về nó như tất cả những đặc tính gọi là độc địa khác, nhưng thực ra cũng chỉ là các biện pháp tự nhiên tôi phải có, để tự khẳng định, để không bị vùi dập ở đây mà thôi. Lúc ở Rome, tôi đã tưởng, về đây tôi sẽ gặp hai đứa em gái khiếp nhược, bồn chồn, lo sợ trước mọi chuyện; nhưng, như tôi thấy, chúng nó hết sức bình thản. Hay tôi nhầm, chỉ nhận thấy vẻ bình thản bên ngoài mà không thấu hiểu nổi nỗi lo lắng và hoang mang thật sự trong lòng chúng nó. Lúc ở Rome, tôi đã tưởng tôi sẽ bước vào một ngôi nhà đầy những nỗi xốn xang xúc động; nhưng không, chẳng hề có sự xốn xang, xúc động nào trong ngôi nhà này, khiến tôi phải nghĩ, không biết tai họa sẽ phải kinh khủng đến mức nào nữa mới đánh gục được các em tôi, mới làm tê liệt được chúng. Không, chúng chẳng hề gục ngã, chúng không hề bị tê liệt, lúc tôi bước vào phòng khách, chúng nó không những - như người ta thường nói - vẫn giữ được tư thế đàng hoàng, mà vẫn tỉnh táo như thường. Chúng nó chẳng hỏi thăm xem, tại sao tôi từ Rome về đây muộn thế, tôi đi tàu hỏa hay bay máy bay, cứ như thể, bây giờ tôi đứng đây trước mặt chúng nó là chuyện đương nhiên. Chúng nó không hỏi câu nào, tôi nghĩ bụng, cũng không mời mọc gì. Chúng nó chỉ lập tức đòi tôi phải giữ quyền chỉ huy, phải vững vàng để nắm ngay lấy tất tật các quyền hành vào tay. Chúng nó - ít ra cũng nhìn bề ngoài mà xét - có vẻ hoàn toàn không tính đến khả năng, chả biết đâu được, có thể tôi không đủ năng lực để nắm giữ trách nhiệm mới mẻ, hết sức đột ngột rơi vào tay tôi ấy. Chẳng hề do dự, chỉ trong giây lát, chúng nó đã trút hết mọi chuyện sang tay tôi, tôi nghĩ bụng, mặc dù lúc này chúng nó biết nhiều hơn tôi, thậm chí có khi còn chứng kiến cả tai nạn đã xảy ra như thế nào nữa, hoặc ít nhất chúng nó cũng là những người trước tiên biết tin về tai nạn, biết trước tôi. Thậm chí trên đường đi đến khu nhà kính, tôi vẫn còn chưa biết, mọi sự đã xảy ra như thế nào. Tôi ngập ngừng, tôi bỗng chốc không đủ sức hỏi chúng nó về chuyện đó. Nhưng, tôi nghĩ, tai nạn này dứt khoát là tai nạn xe hơi. Bọn em gái tôi cũng không hề nghĩ đến chuyện phải nói cho tôi biết xem tai nạn là tai nạn gì nữa kia; chúng nó không nói gì lúc tôi vừa ở Rome về, không đứa nào muốn là người đầu tiên mở mồm nói cho tôi biết nguyên nhân dẫn đến cái chết của bố mẹ và anh trai, như thể chúng được lệnh phải câm miệng vậy. Chúng nó xử sự như thể chúng đã bàn định từ trước với nhau, tránh không nhắc đến chi tiết tế nhị và thật sự đau đớn ấy trước mặt tôi. Chúng không nói gì, thì tôi nói vậy. Tôi bảo, tôi không thể về sớm hơn được. Mặc dù đó là chuyện tôi bịa ra, song chúng nó có vẻ tin. Bọn chúng nó cũng biết tình trạng xe cộ ở Ý loạn xạ ra sao. Các công đoàn ở Ý gần như ngày nào cũng tổ chức bãi công và do đó gây ra tình trạng hỗn loạn hàng ngày trên toàn nước Ý. Chúng nó biết chuyện đó, do tôi thường vẫn kể chúng nó nghe khá nhiều lần về tình trạng hỗn loạn ấy và chúng nó cũng thường đọc trên báo về chuyện này. Thế là tôi chỉ việc bảo, tôi không về sớm hơn được, là chúng nó nghĩ ngay đến tình hình hỗn loạn đó, chứ chẳng bao giờ nghĩ tôi nói dối. Đối với gia đình tôi, cái từ nước Ý bao giờ cũng được nói ra để chỉ sự hỗn loạn, để chỉ đất nước của sự hỗn loạn. Người nhà tôi cũng thường hỏi tôi, tại sao tôi lại chọn đúng nước Ý, một nơi từ hàng chục năm nay chỉ tràn lan độc một tình trạng hỗn loạn như thế làm nơi trú ngụ. Tôi đáp lại, rằng chính tình trạng hỗn loạn ấy khiến tôi chọn nước Ý, chả thế còn chọn đúng Rome - là nơi tình trạng hỗn loạn lên đến tột đỉnh, nơi mọi sự khó lường trước và quá quắt nhất - làm nơi trú ngụ. Chính vì nước Ý là đất nước hỗn loạn nhất châu Âu, thậm chí là nước hỗn loạn nhất thế giới này cũng nên, và chính thành Rome - tôi bảo bọn em gái - là trung tâm của sự hỗn loạn ấy, cho nên chính nơi đó là nơi tôi chọn để ở. Chúng nó không hiểu tôi, tôi cũng chả có hứng cắt nghĩa thêm cho chúng nó về sở thích của tôi ở đó. Một thành phố chỉ lớn thôi, đối với tôi vẫn chưa đủ - tôi vẫn nói với chúng nó như vậy - phải là một thành phố lớn đầy rẫy hỗn loạn kia, tức là một siêu đô thị hỗn loạn mới thỏa lòng tôi. Song, chúng nó mù tịt về các khái niệm đó, cũng như vẫn mù tịt về mọi khái niệm khác của tôi. Đến như mở miệng hỏi xem, liệu tôi có muốn uống trà không, hay thôi thì, liệu anh có muốn uống tạm ly nước suông không, cũng chả đứa nào mở miệng, tôi nghĩ bụng. Nhưng rồi tôi lại dịu lòng, tha thứ chúng nó ngay khi nghĩ tới tình cảnh lúc đó. Thông thường, chắc chắn chúng nó sẽ phải hỏi một người bất kỳ nào vừa trải qua chuyến đi gấp gáp - đương nhiên hết sức cực nhọc từ Rome về thẳng Wolfsegg - xem anh ta có khát hay có đói không, nhưng tôi, chúng nó chẳng hỏi gì. Chính cả bọn đang ngồi uống cà phê, nhưng chẳng đứa nào nghĩ đến chuyện mời tôi một tiếng. Lẽ ra tôi cũng có thể tự rót cho mình một tách, chẳng cần chờ ai mời mọc, tôi tự nhủ, song tôi không rót, bởi chính tôi cũng muốn đi thật nhanh xuống nhà, sang khu nhà kính nhìn tận mắt xem xác bố mẹ và anh trai tôi thế nào. Rốt cuộc, tôi không còn muốn lần chần, không muốn trốn tránh cái khoảnh khắc khủng khiếp, trước sau tôi cũng phải trải qua ấy nữa. Lúc chúng tôi vào trong nhà kính, con Caecilia ngạc nhiên thấy tôi không bắt tay, không chào hỏi mấy người thợ làm vườn một lời nào. Thì nó nào có biết trước đây chừng nửa giờ, hay có khi lâu hơn, tôi đã đứng đây trò chuyện, hỏi han họ chán chê đủ mọi chuyện ra rồi. Nó tỏ ra ngạc nhiên trước thái độ có vẻ lạ lùng của tôi đối với mấy anh thợ làm vườn. Họ vừa mới bê thêm một loạt vòng hoa mới từ nhà quản sự sang khu nhà kính và đứng dừng cả lại trước cửa, nhường bước cho chúng tôi, vâng, cho nhà chủ, vào trước. Tôi bước vào trong, còn Caecilia dừng lại ở ngưỡng cửa. Lập tức tôi kinh hãi thấy xác bố mẹ và anh trai tôi được quàn cao thấp không giống nhau. Quan tài bố tôi nằm cao hơn quan tài mẹ tôi và quan tài Johannes, hơn nữa, quan tài bố và anh trai để mở, nhưng quan tài mẹ lại đóng kín. Tôi quay người nhìn lại về phía Caecilia ở phía sau, như thể - trước khi tiến sát đến bên quan tài - tôi muốn nó cho tôi rõ, tại sao lại có sự khác biệt như thế. Nhưng rồi tôi cũng tự đoán ra nguyên nhân. Xác mẹ tôi chắc chắn phải ở trong một tình trạng thế nào đó, khiến không ai dám để mở nắp quan tài được nữa. Về sau, đúng như tôi đoán, chúng nó bảo, sau khi gặp nạn, theo lời người ta kể lại, xác mẹ tôi tan tác tả tơi đến mức, hay như báo chí đưa tin, biến dị đến độ không còn nhận ra hình thù gì nữa, khiến người ta, nói như Caecilia nói lại, phải vội vàng đóng chặt ngay nắp quan tài lại. Chả là lúc gặp nạn, mẹ tôi gần như mất hẳn đầu, trong khi bố tôi trông bên ngoài hầu như không hề hấn gì, cả Johannes trông có vẻ cũng không sao. Hai bố con đập đầu vào kính chắn gió rồi gãy cổ mà chết, còn mẹ tôi, khi hai xe đâm sầm vào nhau, bị thanh tà vẹt trên chiếc xe tải chạy từ Linz đến thọc đúng vào đầu khiến đầu bà gần như bị đứt lìa khỏi thân. Bà ngồi ngay giữa ghế sau, như bà vẫn ngồi mỗi khi ba người trên xe, và bị thanh tà vẹt từ bên ngoài thọc vào trong đâm trúng. Người ta nói lại với tôi, cả ba người chết ngay, không phải quằn quại đau đớn gì. Sau khi nhìn lướt nhanh qua chiếc quan tài đậy kín nắp của mẹ tôi, tôi quay người lại thì thấy Caecelia mắt ngấn lệ. Mấy anh thợ làm vườn đứng ngay đằng sau nó. Tôi đứng lặng lẽ hai, ba phút gì đó trước thi hài người chết rồi quay lưng, rời khỏi khu nhà kính. Đứng trước xác người chết, tôi đã hít phải đúng cái mùi không lẫn vào đâu được của xác chết, và để tránh cơn buồn nôn, tôi nghĩ tốt nhất nên ra khỏi đây ngay. Tôi cũng có cảm giác, có lẽ không đứng lâu trước mấy xác chết này thì tốt hơn vì những xác chết này - lúc còn đứng trước quan tài, tôi đã nghĩ - nào có dính dáng gì đến tôi đâu. Nhìn mấy xác chết, tôi thấy buồn nôn, chứ tôi không thấy, như người ta vẫn bảo, mủi lòng chút nào. Chỉ thấy buồn nôn và ghê tởm. Mọi mối liên hệ tôi có là các mối liên hệ với bố mẹ tôi đang sống, với anh tôi đang sống, tôi tự nhủ, chứ đâu phải với mấy xác chết hôi hám này. Cố nhiên, tôi cẩn thận che giấu các tình cảm lúc này của tôi, tôi không cho các em tôi, hay bất kỳ ai khác biết. Đến như gương mặt bố tôi và anh tôi trong quan tài tôi còn chẳng nhận ra nữa là; hai gương mặt ấy biến dạng, lạ lẫm, đâu còn là gương mặt bố tôi, hay anh tôi nữa. Trước cửa khu nhà kính, tôi bảo Caecilia, ta đi thôi, và hai chúng tôi quay lại tòa nhà chính. Dọc đường quay lại, tôi thấy khó chịu, khi nhìn thấy lá cờ đen treo trơ trẽn trên ban công chính rủ không đúng giữa. Tôi bảo em gái tôi, từ xưa tôi vẫn ghét cái lối cẩu thả như vậy. Lúc nãy, khi tôi một mình đứng cổng để nhìn về phía tòa nhà chính, tôi chưa nhận ra sai sót này, bây giờ bỗng nhiên nó lại làm tôi bực bội. Con em gái tôi vẫy tay gọi một anh thợ làm vườn đến gần và bảo, anh treo lại lá cờ ra chính giữa ban công cho tôi. Nào có khó nhọc gì đâu, phải không; ý nó muốn thanh minh rằng mọi thứ đều quá gấp gáp. Anh thợ làm vườn treo lại lá cờ, ra chính giữa, theo đúng lời tôi đứng dưới nói vọng lên, đúng hiệu lệnh tôi dùng tay ra hiệu cho anh ta biết chỗ nào là tâm điểm để cho cờ rủ xuống. Trong lúc loay hoay cùng anh ta nhu thế, tôi chợt cảm thấy nỗi bồn chồn trong dạ không yên, để dẹp nỗi bồn chồn bất chợt đó đi, tôi bảo con Caecilia em tôi, bộ váy màu đen nó đang mặc rất đẹp và hợp với nó. Màu đen trông hợp với cô nhất, tôi bảo vậy, chẳng hề có ý xỏ xiên gì. Thế nhung nó, tất nhiên, nó nghĩ tôi nói đểu nó. Nó không tin rằng tôi có thể buông ra một lời bình phẩm đứng đắn, không mang ẩn ý xỏ lá xỏ xiên nào; nó nghĩ ngay, hẳn tôi đang định giở trò đê tiện gì đây, nên không nói gì để đáp lại lời tôi khen. Không, tôi nói thật đấy, tôi bảo, cô mặc chiếc áo màu đen rất hợp. Nhưng nó vẫn lặng thinh, không đáp. Nó đưa mắt nhìn bầy bồ câu đậu đầy các bậu cửa sổ. Đến giờ, tất cả các bậu cửa này đều bám đầy phân chim, trông bẩn phát khiếp. Chim bồ câu vốn là một tai họa của Wolfsegg, chúng nó đậu hàng trăm con, năm này qua năm khác trên các ngôi nhà, bôi bẩn, làm hủy hoại hết cả. Từ xưa đến giờ, bao giờ tôi cũng ghét chim bồ câu. Nhìn lên bầy chim trên các bậu cửa sổ, tôi bảo Caecilia, tôi chỉ khoái, làm sao bây giờ đánh bả cho chúng nó tiệt giống đi; chúng nó làm hỏng nhà hỏng cửa, lại hôi hám kinh người, thêm vào đó, có lẽ tôi không ghét gì hơn ghét tiếng chúng nó gù gù. Hồi còn bé tôi đã ghét cay ghét đắng tiếng chim bồ câu gù gù. Nạn chim bồ câu quả thực là cái nạn từ hàng trăm năm nay chứ không vừa, nhưng chẳng ai làm gì chống lại, chỉ thấy nói, chỉ thấy rủa, chứ chưa bao giờ có ai thật sự nghĩ cách trừ nó đi. Tôi bao giờ cũng ghét lũ chim bồ câu, tôi nói với Caecilia rồi đưa mắt, thử đếm xem có bao nhiêu con bồ câu trên bậu cửa. Trời đất, có mỗi cái bậu cửa con con, mà đã có đến mười ba con chen chúc ngay trên đống phân của chúng. Gì thì gì, bọn hầu gái cũng phải dọn phân chim trên bậu cửa đi chứ, tôi bảo Caecilia và chợt ngạc nhiên, không hiểu sao trước hôm đám cưới không ai dọn chỗ phân chim đi. Cái gì chúng nó cũng cho lau, bắt dọn sạch bong, mỗi phân chim bám đầy trên bậu cửa sổ lại không. Tuần trước ở đấy, tôi cũng không hề để ý đến chuyện này. Tôi cằn nhằn thế nào về đám chim bồ câu, Caecilia cũng không nói gì. Mãi một lúc rất lâu - trong lúc đầu óc tôi bỗng dưng xoay ra loay hoay với ý nghĩ, không biết tôi bắt Gambetti đọc số sách ấy đã đủ chưa, hay lẽ ra, đưa thêm cả cuốn Effi Briest của Fontane cho anh ta đọc mới phải - thì Caecilia mới cất tiếng bảo, mới đây, cánh thợ làm vườn cho mấy đứa lang thang, không nhà không cửa, vào ngủ trọ trong ngôi biệt thự trẻ thơ. Chúng nó đốt lửa trong căn phòng chúng nó ngủ ở tầng trệt thế nào không biết, lại làm lửa bốc cháy to. May cánh thợ làm vườn kịp dập được lửa, nhưng tụi dân lang thang, vô gia cư kia đã chạy biến ngay từ lúc phát hỏa. Có trời mới biết chúng nó biến đi đằng nào, nên có truy lùng cũng vô ích thôi. Caecilia nói tiếp, căn phòng bị cháy là phòng anh em mình hồi nhỏ vẫn cất búp bê vào đó. Búp bê cháy sạch cả. Nó vừa nói vừa nhìn xa xăm về phía mấy ngọn núi. Tôi chẳng biết nói gì, chỉ nghĩ bụng, cháy gì không cháy, lại đúng mấy con búp bê thời con trẻ đó. Rằng đám dân vô gia cư đã ngủ trọ trong ngôi biệt thự trẻ thơ rồi gây hỏa hoạn, lại làm tôi dễ chịu trong lòng, bởi tôi không nghĩ bây giờ vẫn còn những người vô gia cư, lang thang đây đó như thế, tôi cứ tưởng họ tuyệt giống từ lâu rồi. Và, tôi nghĩ bụng, đúng thợ làm vườn chứ chẳng ai khác mới cho họ trọ qua đêm trong ngôi biệt thự trẻ thơ như thế. Chắc con Caecilia đang bụng bảo dạ, thể nào tôi cũng sẽ trách mắng bọn thợ làm vườn đây. Nhưng không, nó ngạc nhiên thấy tôi lại xoay ra khen ngợi cánh thợ làm vườn hết lời, nào họ trung thành nhất, đáng tin cậy nhất, tự nhiên nhất, chân thật nhất, tôi nói, tôi quý nhất mỗi họ. Chính vì Caecilia đang mong tôi sẽ buông lời trách cứ mắng mỏ họ, cho nên tôi chỉ nói tốt về họ, khen ngợi, tâng bốc đến mức tự tôi, tôi cũng thấy hơi quá. Rồi tôi khắc cho sửa sang lại ngôi biệt thự trẻ thơ, tự dưng tôi chuyển giọng, lơ đãng buông thõng một câu như thế. Tôi bỗng có cảm giác, dường như câu nói có vẻ vô thưởng vô phạt tôi chẳng mấy để tâm và vô tình buột ra ấy, có vẻ đã gây cho Caecilia một cú sốc choáng váng. Nó ngước mắt, nhìn thẳng vào mặt tôi. Thì ra, nói như thế, tôi đã tự đưa tôi vào địa vị ông chủ ở Wolfsegg, bởi nguyên văn từng lời từng chữ tôi nói là: rồi tôi khắc cho sửa sang lại ngôi biệt thự trẻ thơ. Trước đây, tôi chưa bao giờ bảo, tôi sẽ cho sửa sang cái này hay cái kia ở Wolfsegg, bởi chưa bao giờ tôi có quyền làm như thế, mà ngược lại, mọi quyền hành của tôi ở đây đều bị truất hết. Hàng chục năm nay tôi đã bị phế truất mọi quyền hành, hay nói đúng hơn, ngay từ đầu, tôi đã chẳng bao giờ được nếm chút quyền hành nào ở Wolfsegg. Đó là sự thật mười mươi. Ngôi biệt thự trẻ thơ là viên ngọc quý, cô biết không, tôi nói, ta phải sửa sang nó lại đúng như xưa, đúng như trong các bức tranh xưa ấy, tôi bảo Caecilia. Và trong đầu tôi nảy ngay ra ý nghĩ, cho sửa sang, phục dựng biệt thự trẻ thơ càng sớm càng hay. Cơn hứng chợt bốc lên trong lòng tôi. Cả khu nhà quản sự, cũng đã đến lúc phải cho sửa sang lại rồi, tôi bảo Caecilia, trông ngôi nhà sắp tan hoang đến nơi rồi. Thì nhà mình có bao nhiêu là tiền đấy thôi, tôi nói. Caecilia lặng thinh, để mặc tôi nói. Đấy là cái lối từ xưa của nó, cứ để mặc tôi nói, mặc tôi huyên thuyên quá mức cần thiết, tràng giang đại hải quá ngưỡng khôn ngoan, chờ tôi chẳng khảo mà xưng, dốc tuột hết lòng hết dạ ra với nó. Đấy là lúc nó đắc thắng. Cả lần này tôi cũng huyên thuyên quá nhiều và tự phơi hết ruột gan ra ngoài. Tôi bảo, rồi tôi sẽ đón tay chuyên viên phục chế của tôi ở Wien về đây, thuê hắn kiểm kê, phân loại rồi đánh giá xem trị giá thực của các bức tranh trong nhà mình là bao nhiêu. Vừa nói xong, tôi liền cảm thấy ngượng, bèn tìm cách đánh trống lảng. Tôi bảo, tôi không nghĩ mình sẽ sớm quay lại Wolfsegg thế này. Tôi đã định còn lâu mới về đây. Thành Rome hợp với tôi hơn cả, tôi bảo vậy. Tôi chẳng sống ở thành phố nào khác được, ở nông thôn lại càng không được. Tôi bảo, tôi không còn tính đến chuyện về sống ở Wolfsegg nữa. Rồi tôi lại nghĩ ngay, nhẽ ra mình cũng chẳng nên nói thế. Ngôi biệt thự trẻ thơ là ngôi nhà tôi thích nhất, tôi bảo Caecilia. Cô còn nhớ bọn mình đóng vở kịch Khổng Tử không, vở kịch anh em mình tự nghĩ, tự viết ra. Tụi mình nào có biết Khổng Tử là ai hay là cái gì đâu, chỉ nghe thấy cái từ Khổng Tử ngồ ngộ, khiến tụi mình rủ nhau dựng màn kịch cho bằng được. Mà những kịch bản hồi xưa anh em mình viết ra, bây giờ đâu cả rồi? Tôi hỏi Caecilia. Nó bảo, nó không biết. Có lẽ nằm cả trên gác áp mái của ngôi biệt thự, tôi bảo. Lần cuối cùng tôi thấy, thì chúng nó vẫn ở trên gác áp mái. Dạo ấy, cô vẽ tranh trang trí cho vở Khổng Tử thật đẹp. Amalia đóng vai Khổng Tử cũng thật tuyệt vời. Các thư viện phải mở hết cửa ra, tôi bảo. Phải lùa gió mới vào chỗ chứa sách. Tôi bảo, đấy là các kho báu mà ta không biết gì, ta để mặc cho chúng ngột ngạt, bụi bặm từ bao nhiêu lâu nay đến giờ. Dần dần, ta phải lấy lại sinh khí cho Wolfsegg. Con Caecilia lặng thinh. Tôi lại nói, hàng chục năm trời bố mẹ đã khóa hết cả lại ở đây. Tôi nhìn về phía cánh thợ làm vườn. Từ phía ngoài, hai tay thợ săn bước qua cổng vào trong. Trông thấy tôi, họ chào từ xa. Rặt chuyên săn bắn, lúc nào cũng chỉ săn với bắn, tôi lẩm bẩm rồi chợt nghĩ, bây giờ tôi còn lẻ loi hơn cả lúc trước. Tiếng chim bồ câu gù gù to lên làm tôi lại nhìn lên mấy khung cửa sổ, nhất là ở tầng trên cùng. Cứ bao giờ trời mưa là chúng nó gù to, nghe phát khiếp, tôi lại nói. Anh học trò Gambetti, tôi nói thêm, cũng ghét chim bồ câu lắm. Thành Rome đầy chim bồ câu. Ở Rome cái gì đẹp, nhà cửa, tượng đài đều bị chim bồ câu làm hỏng hết. Giống chim bồ câu kia, phải làm sao trừ khử cho bớt đi, tôi nói, nhưng ngay lập tức lại thấy sượng sùng bối rối vì đã buột mồm nói ra cái từ trừ khử như thế. Một anh thợ làm vườn tiến về phía chúng tôi rồi cất tiếng hỏi tôi, có đúng là phải nâng cao cỗ quan tài đậy kín nắp lên không. Phải, con em gái tôi đáp, mặc dù anh thợ hỏi tôi chứ không hỏi nó. Anh ta quay đi, cùng một người nữa nâng cỗ quan tài mẹ tôi lên. Ở Wolfsegg thợ làm vườn thật tuyệt, tôi bảo Caecilia, nhưng nó làm bộ không nghe thấy. Người ta bảo tai nạn xảy ra hôm tối thứ Tư. Tôi vào bếp tìm uống thứ được gọi là cà phê nhà pha sẵn thì xấp báo các cô nấu bếp để trên một chiếc bàn nhỏ kê sát cửa sổ đập ngay vào mắt tôi. Thoạt tiên tôi không muốn, nhưng rồi không nhịn được, tôi kéo ghế ngồi xuống bên bàn lật báo ra xem. Các báo tường thuật tai họa đổ xuống gia đình chúng tôi theo một lối xấc xược, đáng ghét và hèn hạ, nhưng hết sức chi tiết, cái lối xưa nay vẫn rất điển hình cho báo chí nước nhà. Sự tàn nhẫn phũ phàng giới báo chí dùng khi tường thuật và mô tả tai nạn xảy ra với gia đình chúng tôi nhằm giật gân câu khách chính là sự tàn nhẫn vẫn làm tôi kinh hãi mỗi khi đọc các mẩu tin về tai nạn chỗ này chỗ nọ, xảy ra với người này, người kia; song, cũng chính cái lạnh lùng tàn nhẫn ấy trong các bản tin như thế khiến tôi phải kinh ngạc và tự hỏi, làm sao người ta có thể thản nhiên phơi nó lên mặt báo và làm sao người đọc có thể ngấu nghiến, đọc lấy đọc để, các bản tin giật gân ấy. Tôi không loại tôi ra khỏi số người đọc như thế, bởi chính tôi - từ lúc còn bé cho đến tận giờ - bao giờ cũng là người hám đọc thứ tin giật gân mạt hạng đó. Tuy nhiên, nếu lúc này các bản tin về tai họa của gia đình chúng tôi có làm tôi ghê tởm thì cũng là lẽ bình thường thôi. Họ đưa tin bố mẹ tôi cùng anh Johannes đánh xe đến Steyr xem mẫu mới của một loại máy đập lúa nhập từ Mỹ, do tay thương gia chuyên buôn máy móc nông nghiệp địa phương chào bán. Giống như mọi thứ máy móc nghề nông khác ở Wolfsegg, cỗ máy đập lúa này cũng phải của hãng Mc Cormick mới được. Anh Johannes tôi lái xe đưa bố mẹ đi mua sắm rồi thăm hỏi bạn bè ở Steyr suốt buổi chiều hôm ấy. Steyr vốn dĩ vẫn là nơi mua sắm thuận tiện. Đến tối, cả ba lên xe về Linz để nghe buổi nhạc giao hưởng Bruckner do Eugen Jochum chỉ huy, trong ngôi nhà gọi là nhà Bruckner bên bờ sông Danube - ngôi nhà gọi là nhà văn hóa đáng kinh tởm nhất trong số các nhà văn hóa trên đời này. Sau buổi hòa nhạc, như báo chí đưa tín, bố tôi lái xe đưa cả nhà chạy về hướng Wolfsegg và vừa qua khỏi Weis, ngay trên Quốc lộ Một, chỗ đường phân ngả về Gaspolthofen, chính giữa ngã tư, thì gặp nạn. Không ai rõ nguyên do dẫn đến tai nạn là như thế nào; đến cả bọn báo chí cũng không rõ, nhưng những bức ảnh kinh khủng nhất thì họ chẳng hề ngần ngại cho đăng hết lên mặt báo. Thậm chí, họ còn đăng cả một bức ảnh phóng to, chụp thi thể không còn thủ cấp của mẹ tôi. Tôi nhìn tấm ảnh khá lâu, nhưng trong lòng chỉ nơm nớp, sợ có ai vào bếp bắt gặp tôi trong lúc này. Tôi nhấp thứ cà phê gọi là cà phê của chung ấy, nãy giờ vẫn để trên lò nên còn nóng, rồi mở hết tờ báo này đến tờ báo khác ra đọc. Tờ nào, ở trang đầu cũng đăng ít nhất một tấm ảnh về vụ tai nạn. Tít nào cũng giữ đúng cái giọng đểu cáng và hèn hạ, vốn điển hình cho báo chí tỉnh lẻ. Loại báo chí này, nói của đáng tội, chẳng có cớ gì để lo ngại về chất lượng, bởi độc giả của họ cũng đâu có trình độ, mà chính vì chẳng có chất lượng nên chúng mới phát hành được nhiều, đủ cho các chủ báo lời to. Vào lúc này, cả các hình ảnh đểu cáng vô song lẫn giọng lưỡi buông tuồng đê tiện của những tờ lá cải bẩn thỉu ở tỉnh lẻ đó không những như đang đâm đang chích lên thân thể tôi, mà còn như xoáy vào đầu óc tôi, và càng ngồi lâu trên ghế, càng đọc nhiều báo lá cải tình lẻ bẩn thỉu, tôi càng thấy tởm lợm. Tờ lá cải này phải cố làm sao đểu giả, khốn nạn hơn tờ lá cải khác mới được. Một tờ giật tít Cả nhà bị diệt vong, rồi chua thêm phía dưới Ba người đi nghe giao hưởng về bị bầm dập tan xương không còn ra hình thù gì nữa. Rồi Xem thêm phóng sự ảnh ở các trang sau. Vậy mà tôi cũng vẫn đọc, rồi mở trang báo ra, trơ trẽn hết chỗ nói, tôi phải thú thật như vậy, tôi mở xem cho bằng được bài phóng sự bằng ảnh đã được hứa hẹn ở trang đầu, nhưng chốc chốc lại nhìn ra cửa bếp, nơm nớp lo ngại ai đó sẽ vào và bắt quả tang. Tôi nghĩ bụng, đừng quá chăm chú vào những bài phóng sự bẩn thỉu đó, kẻo nhỡ ai vào mà mình không biết. Thế là, lần đầu tiên run run cầm tờ báo trên tay, tôi đọc, đọc gần hết tất cả những gì báo chí viết về gia đình mình. Và trong lúc đọc tôi có cảm giác, mặc dù báo chí viết rặt những điều láo lếu, xằng bậy, nhưng đồng thời cũng toàn sự thật. Họ viết với giọng lưỡi đểu giả đến cùng cực, nhưng mọi sự lại xác thực; mặc dù trong các bài tường thuật này họ đã băm nát bét mọi chuyện đến mức không còn nhận ra thực hư thế nào, như chính họ viết về thi thể mẹ tôi, nhưng hóa ra lại rất thực. Dù những điều họ viết trên báo có dối trá đến thế nào đi nữa, tôi tự nhủ trong lúc đọc, thì bên ngoài lại vẫn thật Báo chí xuyên tạc, nhưng chính ra họ lại nói sự thật, và họ càng dối trá, xuyên tạc bao nhiêu lại càng thật bấy nhiêu. Cứ giở báo ra đọc là tôi lại thấy, một mặt, báo chí chỉ toàn điêu toa láo toét, nhưng mặt khác, họ cũng chỉ viết sự thật chứ chẳng viết gì khác. Cảm giác quái dị đó luôn ám ảnh tôi mỗi khi đọc báo, cả bây giờ cũng vậy, khi đọc các bài tường thuật về tai nạn ập xuống gia dinh chúng tôi - một tai nạn chắc chắn thuộc loại kinh khủng nhất từ xưa đến giờ ở vùng Thượng Áo này. Một tấm ảnh chụp thủ cấp đã gần lìa hẳn ra, chỉ còn dính với thi thể vẫn ngồi nguyên trong xe của mẹ tôi bằng một dải da thịt mỏng với dòng chữ phía dưới: Đầu lìa khỏi xác. Tất nhiên, nhân tai nạn này, báo chí có thêm dịp để viết đôi điều về Wolfsegg. Vớ vẩn, nhảm nhí không thể tưởng được. Họ viết bố mẹ tôi là đôi vợ chồng hạnh phúc, suốt đời tận tụy làm ăn vì lợi ích cộng đồng. Ông anh tôi, theo họ, vốn là một trong những người đi săn tài giỏi nhất của đất nước. Còn bố tôi, báo này khen ông là vị quản lâm nổi tiếng thận trọng, tờ khác tâng bốc ông là ủy viên đáng kính của hội đồng kinh tế địa phương, tờ nữa lại vinh danh ông là người đi săn đáng kính và vị Chủ tịch tận tụy của Hội nông dân vùng Thượng Áo. Một tờ còn đăng cả tấm ảnh chụp anh Johannes trên chiếc thuyền buồm ở hồ Wolfgangsee, với dòng chú thích Hình ảnh từ một thời tràn đầy hạnh phúc; tôi không rõ, tôi không thể cắt nghĩa, làm sao tấm ảnh này lại rơi vào tay ban biên tập tòa báo nọ được. Tờ Linzer Volkszeitung còn giật tít đỏ rực Hai thế hệ bị diệt vong. Không tờ nào không viết gia đình tôi là gia đình Cơ đốc giáo, rằng bố tôi là người đàn ông dồi dào thiện tâm với Nhà thờ, còn mẹ tôi là người đàn bà tận thiện, tận mỹ. Báo Linzer Volkszeitung bình luận: Trong gia đình còn sót lại độc người con trai thứ, là học giả sinh sống ở Rome, và hai người em gái của ông này. Đọc trên báo, tôi được biết lễ tang đã được ấn định vào thứ Bảy. Có báo viết Wolfsegg mất đầu. Một trong các tấm ảnh đăng trên báo cho thấy rất rõ, thanh xà bằng sắt đâm xuyên chiếc xe từ trước ra sau, cắt phăng đầu mẹ tôi khỏi thân, rồi hất ngược nó ra sau kính hậu. Cả ba người, bố tôi, anh tôi và cả mẹ tôi, đều vẫn ngồi nguyên tại chỗ trên xe. Chiếc xe chở ba người đã đâm sầm vào đuôi chiếc xe tải chạy trước; thiên hạ dự đoán, ở chỗ đường phân ngả về Gaspoltshofen chiếc xe tải chạy trước bỗng phanh gấp. Số thanh xà bằng sắt trên xe tải là hàng chuyển cho một công ty nằm ở Schwanenstadt. Báo chí cũng đưa tin, lỗi kỳ thực là lỗi tay lái xe tải, thế nhưng cứ luật mà xét thì lại không thể buộc tội hắn được, bởi xe đâm từ đằng sau tới bao giờ cũng chịu lỗi. Dân chúng trong vùng ai ai cũng chia sẻ nỗi đau buồn của gia đình. Một tờ báo đưa tin Lễ mai táng sẽ do người bạn lớn của gia đình - Đức cha Tổng Giám mục Salzburg chủ trì. Vị Tổng Giám mục xứ Salzburg vốn là bạn học cùng trường với bố tôi, hai người một dạo cùng ở trong khu nội trú của trường trung học Lambach. Rồi tôi lại đọc tiếp Cả làng chìm đắm đau thương. Đến đây, tôi nghe thấy tiếng chân ngoài hành lang nên đứng bật dậy, cố xếp lại xấp báo như lúc đầu, còn nguyên cả cặp kính bà đầu bếp nằm bên trên. Gian bếp nhà tôi rất lớn, mái vòm. Hồi còn nhỏ, đây là nơi bọn tôi thích lui tới, nhất là mùa đông, bởi ngay cả vào những ngày lạnh giá nhất trong năm, ở đây bao giờ cũng là nơi ấm áp nhất, không như ở phòng khác, chẳng được sưởi đàng hoàng bao giờ. Vả lại, đối với tụi trẻ con chúng tôi khi còn nhỏ, chưa đầy năm, sáu tuổi, hay đúng hơn là trước lúc tôi làm quen và đánh bạn với cánh thợ làm vườn, còn Johannes với cánh thợ săn, gian bếp bao giờ cũng có nhiều trò thú vị. Bà đầu bếp làm cho nhà chúng tôi đã hàng chục năm. Bà chuyển ngay sang gọi tôi là ông chủ; đối với bà, chuyển danh hiệu đó từ bố tôi sang tôi là hoàn toàn tự nhiên. Danh hiệu này, thực ra, vốn dành cho anh tôi, nhưng bây giờ hóa ra tôi phải mang nó. Thế nhưng, nói cho cùng, lúc này tôi vẫn chưa hiểu mang một danh hiệu như thế sẽ có ý nghĩa ra sao. Bà đầu bếp hỏi, liệu ông chủ có muốn uống cà phê không. Tôi đáp, tôi vừa uống cà phê pha sẵn trong bếp đây rồi. Vậy ông chủ có muốn đọc báo không, bà ta lại hỏi, vẫn với giọng như lúc nãy. Không, không, tôi vội nói dối để trốn tránh, nhưng trong đầu, tôi lại nghĩ ngay, bà ấy biết thừa tôi xồ ngay vào ngấu nghiến đọc đống báo ấy như thế nào rồi. Tôi lại nói, không, cảm ơn, tôi không đọc; một lời đáp chỉ thoáng nghe đã khó tin. Những người gọi là người bình dân bao giờ cũng rất tinh, họ chỉ cần nghe qua là biết ngay anh nói dối hay nói thật, biết ngay anh uốn lưỡi nói dối hay không. Bà đầu bếp bảo bà rất lo vì cho đến giờ bà vẫn chưa biết sẽ có bao nhiêu khách đến dự đám tang, chắc ông chủ cũng không biết. Tôi đáp, vâng, tôi không biết, tôi hầu như chẳng biết gì sất, tôi vừa từ Rome về đến nhà đây. Vang, ông từ Rome về ạ, bà đầu bếp nói. Quãng thời gian sau này, tôi nghĩ bụng, dường như tôi quên hẳn cách trò chuyện với giới bình dân, cách nói năng, đối đáp với họ. Điều đó khiến tôi bực bội và chán nản. Đúng là từ ngày đến Rome, tôi tự nhủ, tôi quên cách tiếp xúc với người bình dân thật. Hồi trước, nói chuyện với bà đầu bếp thật dễ dàng biết bao nhiêu, hỏi han rồi đối đáp với bà chuyện này chuyện khác. Bây giờ, bỗng nhiên mồm miệng tôi cứng đơ ra, không còn khả năng ấy nữa. Lúc nãy, nói chuyện với thợ làm vườn, tôi có vẻ may mắn hơn, bắt chuyện tự nhiên hơn với họ; bây giờ nói chuyện với bà đầu bếp, tôi không sao tự nhiên được, có lẽ, vì đầu tôi cứ luẩn quẩn cùng những ý nghĩ, rằng bà ấy biết thừa tôi nhào tới ngấu nghiến đọc báo ra sao, một hành động chắc hẳn bà phải cho là thô bỉ, rằng bà ấy bắt gặp tôi đang làm cái việc tầm thường hèn hạ đó như thế nào. Song, mặt khác tôi lại tự nhủ, trong hoàn cảnh thật đau buồn này, việc tôi đau đớn và xúc động, không sao bình tính để chuyện trò tự nhiên với bà đầu bếp thì cũng là chuyện tự nhiên thôi; tôi không tự trách mình, cũng chẳng lấy làm ngạc nhiên về chuyện đó, nhưng tôi cảm thấy nhục nhã khi bị bà đầu bếp bắt quả tang trong lúc đang làm cái việc nhỏ nhen hèn hạ ấy. Tôi đứng như kẻ phạm tội trước mặt bà ta, còn bà ta lúc ấy hẳn đã nhận thấy cặp kính của bà không còn nằm đúng như trước. Cũng có thể, tôi chỉ tưởng tượng ra như thế thôi, song, tôi ngờ bà ấy biết tôi đã lục lọi đống báo và đọc ngấu đọc nghiến, hớp lấy hớp để, cho kỳ hết những gì được viết ra quanh vụ tai nạn, đọc với lối đọc tham lam vốn có của tôi mỗi khi cầm tờ báo nào đó trên tay. Ấy là lòng tham đó đã bớt đi nhiều lắm rồi đấy, tôi nghĩ bụng, không còn kinh khủng như trước đây. Bà đầu bếp bắt gặp tôi đểu cáng, hèn hạ, tôi tự nhủ, bà ta nhìn thấu ruột gan tôi, bà biết điều đó và nhìn tôi với vẻ đầy dò xét. Kiểu cách này không bình thường đối với kẻ gọi là bình dân; đã vậy, lại là đàn bà nữa. Bà ta đưa hai tay ra sau lưng, làm ra vẻ muốn buộc tạp dề, nhưng kỳ thực bà đang lúng túng, vì chính bà ta lại bị bắt quả tang đang có hành vi vô lễ, thể hiện qua lối nhìn soi mói dò xét cái hèn hạ, xỏ xiên của bà. Không ai được phép nhìn ông chủ bằng con mắt như thế, tôi nghĩ bụng, sao mình lại cho phép như thế được. Song, tôi cũng biết tôi đang ở tình huống đáng hổ thẹn hơn nhiều, bởi tôi đểu giả trước, rồi mới kéo theo cái đểu giả ở bà ta, sự vô liêm sỉ của tôi không thể đem ra so sánh với sự vô liêm sỉ của bà ta được. Cái vô liêm sỉ của bà ta thật vụn vặt, tầm thường, so với cái vô liêm sỉ sâu xa của tôi rất nhiều, bởi lẽ ra tôi có thể dằn lòng, cưỡng lại, không ngó ngàng, không lục lọi đống báo đó làm gì. Thế nhưng, làm như thế chả hóa ra ngụy tạo bản tính con người tôi, cái bản tính đòi tôi phải mở báo ra xem cho bằng được ấy. Bà đầu bếp đưa mắt nhìn đống báo theo một lối khiến tôi phải có cảm giác bà ta bắt quả tang tôi, chẳng phải nghi ngờ gì chuyện đó cả. Nghĩ như thế, tôi bỗng thấy căm ghét bà ta ghê gớm. Nhưng rồi tôi lại thấy bà ta có vẻ sợ tôi, khiến trong chốc lát tôi lại không thấy căm ghét bà ấy ghê gớm như thế nữa, bởi lẽ bà ta rõ ràng có thể đọc thấy trên nét mặt tôi, rằng tôi cảm thấy tôi có lỗi và tôi đang tưởng bà ấy nhìn thấu ruột gan tôi. Quả là ngu ngốc đến mức không thể tha thứ được, nếu bây giờ tôi lại sợ, dù chỉ trong giây lát thôi, một người như bà đầu bếp đây, một người hoàn toàn phụ thuộc vào tôi và nói cho cùng, một người ngu ngốc, hết sức vô hại. Thật lòng mà nói, tôi không ưa các khuôn mặt nông dân hồng hào, đầy đặn, thô kệch và ngô nghê đến cùng cực như thế này. Nói cho cùng, từ xưa đến giờ, bao giờ tôi cũng ghét những gương mặt đó, mặc dù như thế không công bằng chút nào, bởi chính những gương mặt hồng hào, đầy đặn thô kệch ấy bao giờ cũng hiền từ, thân thiện, hơn bất kỳ gương mặt nào khác. Tuy nhiên, tôi nghĩ bụng, chính cái vẻ hiền từ thân thiện đó bao giờ cũng làm tôi ngờ vực. Tôi không biết xử trí thế nào với những gì gọi là hiền từ tốt bụng, cho nên, tôi đâm ghét luôn cả những thứ đó. Bà đầu bếp biết tôi từ khi tôi còn bé, tôi nghĩ bụng, tôi chả việc gì phải làm bộ làm tịch trước mặt bà, sao tự dưng tôi lại bực bội với bà. Bà ấy biết hết về tôi còn gì. Thế nhưng, tôi tự nhủ, tất nhiên tôi lại nhầm, bởi bà đầu bếp này làm sao biết tôi là người thế nào, làm sao biết tôi là ai mới được chứ. Thật là nực cười khi tôi cứ loanh quanh luẩn quẩn thế này với những ý nghĩ về mối liên hệ giữa tôi với bà ấy. Không, tôi không uống cà phê nữa đâu, tôi lầu bầu nói, rồi ra khỏi bếp. Caecilia đang đi ngược về phía tôi, Amalia theo sau và sau Amalia là gã chủ xưởng nút chai rượu vang, em rể tôi. Tôi nghĩ bụng, rồi ta sẽ phải quen dần với cái thằng em rể. Cả ba đứa đột nhiên đứng trước mặt tôi, như thể cùng muốn lên án tôi vậy. Tôi không rõ tại sao trong đầu tôi lại nảy ra ý nghĩ quái dị đó, song quả là tôi nghĩ như thế thật. Cả ba đứng trước mặt tôi như ba công tố viên, như thể muốn buộc tội tôi vì một lý do có trời mối biết là lý do gì. Nhưng Caecilia chỉ bảo chúng nó đang định sang bên nhà quản sự. Chúng nó định sang đó bàn bạc công việc với cánh thợ săn, là những người sẽ khênh các cỗ quan tài lúc mai táng. Việc phải làm bây giờ là chỉ định rõ ai khênh cỗ quan tài nào, vân vân. Bởi chúng nó chỉ nói thợ săn sẽ khênh các cỗ quan tài, tôi liền bảo, thợ làm vườn cũng khênh được chứ sao. Quả thật tôi cũng thoáng bối rối, bởi cứ phải luôn mồm nói các cỗ quan tài. Câu chuyện bất thường là chỗ, cứ mở miệng ra là chúng tôi nói đến các cỗ quan tài, trong khi vào những dịp như thế, thông thường người ta nói đến một cỗ quan tài là cùng. Tôi bảo, cánh thợ săn làm sao khênh được hết mấy cỗ quan tài. Cả thợ săn lẫn thợ vườn đều phải khênh, tôi nói, hai cỗ thợ săn khênh, một cỗ thợ làm vườn khênh. Thợ săn khênh quan tài bố, tất nhiên cả quan tài mẹ, thợ vườn khênh Johannes. Lúc bàn chuyện các cỗ quan tài, Caecilia và Amalia gần như gạt hẳn gã chủ xưởng nút chai rượu vang sang một bên, khiến gã phải lùi ra sau và không được nói gì nữa cả. Dĩ nhiên quan tài của mẹ phải để thợ săn khênh, tôi vừa nói vừa nhớ lại quan hệ trước đây giữa mẹ tôi với đám thợ săn. Quan tài bố tôi để thợ săn khênh cũng đúng thôi, bởi ông vốn là người của họ. Vả lại, ông vốn là Chủ tịch hội thợ săn toàn quốc, một chức vụ ông vốn mang từ thời Quốc xã và suốt hai chục năm sau đó vẫn giữ. Thợ săn khênh bố với mẹ đi trước, rồi thợ làm vườn khênh Johannes theo sau. Tôi nói, như thế là được rồi. Hai đứa em gái tôi bỗng dưng bám chặt vào tôi như đỉa bám lên người tôi vậy. Chúng dồn hết mọi thứ sang cho tôi, thản nhiên, như thể xưa nay mọi việc ở Wolfsegg đều dồn lên vai tôi không bằng. Trong bộ cánh màu đen, chúng nó cũng gây cho tôi cái cảm giác vừa nực cười, vừa đáng ghét, hệt như khi chúng nó đóng bộ cánh Dirndl nhạt nhẽo trên người. Vẻ giễu cợt trên gương mặt chúng nó đã biến đi từ lúc nào không rõ, chỉ còn lại vẻ cay đắng và bỗng dưng trở nên xanh xao, bệnh hoạn. Do quần áo chúng đang mặc tuyền một màu đen, nên mặt mũi chúng nó trông càng thêm thảm hại. Như thể mọi thứ ở đây chẳng hề thay đổi gì, chúng nó vẫn chứng nào tật nấy, đứa này nói, đứa kia chen vào, không đứa nào nhường lời đứa nào. Và như tôi thấy, chúng nó vẫn để cùng kiểu tóc chải ngược ra sau, mang cùng kiểu giày như xưa. Từ khu nhà thợ làm vườn quay lại tòa nhà chính, Amalia cũng như vào hùa với chị nó thành một liên minh, tuy nhiên, không phải liên minh chống tôi như hồi xưa, mà bỗng dưng, thành liên minh ủng hộ tôi, làm tôi ghê tởm vô cùng. Chính cái lối xu thời, cơ hội không chút ngượng ngập ấy của chúng nó, sau cái chết của bố mẹ và anh trai, quay ra vồ vập, ôm chầm lấy cổ tôi như thế, khiến tôi thêm ghét chúng nó. Hai đứa em gái tôi, chính hai đứa hàng chục năm nay vẫn xếp tôi vào hạng quái vật, vẫn coi tôi là tên đào ngũ đốn mạt ấy, bây giờ lại quay ra ôm cổ tôi, với vẻ bơ vơ bất lực như thế này đây. Tuy nhiên, tôi tự nhủ, tôi không được phép đi quá xa cùng các ấn tượng và ý nghĩ như thế để rồi mất tự chủ, tôi phải bình thản mới được. Dần dần, cả hai đứa đều muốn kể tôi nghe tai nạn đã xảy ra như thế nào, bởi không đứa nào ngờ tôi, do đọc báo, đã biết tường tận hết cả rồi. Hai đứa gần như nói cùng một lúc, đứa này tranh đứa kia, đứa này chen lời đứa khác, làm gã em rể chẳng còn lúc nào để chen thêm một tiếng. Tôi để mặc chúng nó kể và nhận ra ngay, hóa ra câu chuyện chúng nó thuật lại khác hẳn những gì tôi đã đọc trên báo. Có thể nói, dường như mọi người, kể cả báo chí lẫn các em tôi, ai nấy đều thuật lại tai nạn của họ, dưới cách nhìn của riêng họ, cách nhìn của báo chí khác hẳn cách nhìn của các em gái tôi và có lẽ, cả cách nhìn của gã em rể tôi. Cùng một vụ tai nạn, tôi nghĩ bụng, thế mà làm sao tất cả bọn họ lại tường thuật mỗi người một khác, như thể mỗi người mô tả một vụ khác nhau. Cũng như ta vẫn thường đọc thấy biết bao nhiêu là bài tường thuật khác nhau trên các báo về cùng một sự việc, bây giờ các em tôi đang thuật mỗi đứa một kiểu về cùng một vụ tai nạn, cứ như thể có bao nhiêu người kể thì có bấy nhiêu tai nạn. Đứa nào cũng thuật lại vụ tai nạn theo những cảm xúc của riêng mình, cho nên, mặc dù tai nạn chỉ là một vụ, tôi nghĩ bụng, nhưng nghe chúng nó thuật lại, thì cứ như nhiều vụ xảy ra cùng một lúc không bằng. Caecilia thuật về một tai nạn khác với tai nạn do Amalia thuật lại. Amalia luôn mồm ngắt lời Caecilia và Caecilia ngắt lời Amalia. Gã em rể tôi không được nói chen lời nào. Trong khi con Amalia bảo đầu mẹ tôi bị thanh sắt cắt rời khỏi thân, thì con Caecilia lại khăng khăng thanh tà vẹt chọc xuyên đầu mẹ tôi. Tôi không nói gì, bởi tôi không muốn để lộ mình đã đọc các bài tường thuật trên báo. Bằng bất cứ giá nào tôi cũng không thể để lộ tôi đã ngồi trong bếp đọc hết một lượt các bài tường thuật đăng trên báo; tôi không thể ngay ngày đầu tiên đã phơi bộ mặt xấu xa của mình ra lồ lộ trước bàn dân thiên hạ được. Vâng, thế là hai con em gái tôi đều đinh ninh tôi không biết tí gì về vụ tai nạn, cho nên cứ thế - theo kiểu của chúng nó - ồn ào và lộn xộn thi nhau kể lại từng chi tiết của sự việc. Sở Cảnh sát Lambach báo tín cho chúng nó trước tiên, đúng vào lúc hai đứa đang định đi nằm. Thế là, thay vì lên giường nằm ngủ, chúng nó phải lên đường đến Lambach, để - nói như Amalia - nhận mặt người chết. Chiếc xe hơi toác hoác cả ra. Ở hiện trường, trời tối om om, nhưng cảnh sát chiếu đèn, bắt chúng nó phải chui hẳn đầu vào trong chiếc xe đã tan nát nhận dạng ba xác chết cho thật kĩ. Nghe chúng nó thuật lại những chi tiết đó, tôi mất không mấy khó nhọc để nghĩ, à, hóa ra bản tính bọn em gái tôi còn hèn hạ hơn tôi rất nhiều. Nét vẻ bối rối của chúng nó lúc thuật lại mọi chuyện cho tôi nghe đây, vẫn không che đậy hết vẻ lạnh lùng thờ ơ của chúng. Chúng nó nói gần như đồng thanh bảo, rõ nực cười, mặc dù cả ba đều đã chết, người ta vẫn cứ cho xe cứu thương chở bố mẹ với anh Johannes về Weis cái đã. Thì cảnh sát họ vẫn làm đúng quy định mà lại. Tất nhiên, tai nạn xảy ra làm náo động cả một vùng. Nhiều nông dân ở quanh khu vực ấy đổ xô đến. Amalia bảo, có người vẫn còn mặc nguyên cả áo ngủ kia mà. Thoạt đầu hai đứa không nhắc gì đến chuyện gã em rể cũng cùng đi với chúng nó, mặc dù chính gã tự đánh xe của gã chở hai đứa đến nơi xảy ra tai nạn. Chúng nó bảo, mặc dù chúng nó phải làm cho xong bao nhiêu thứ giấy tờ thủ tục, nhưng rồi chúng nó vẫn bị bó chân bó tay, cho đến tận sáng hôm sau vẫn chẳng làm gì thêm được cả. Trước hết, Amalia ra bưu điện đánh điện tín báo tin cho tôi. Nó bảo, nhẽ ra nó gọi điện thoại, thế nhưng đánh điện vẫn hơn, chứ biết dùng lời lẽ thế nào để báo cái tin kinh khủng đó qua điện thoại được. Tôi rất hiểu điều đó. Chúng nó kể tiếp, rồi chúng nó phái gã em rể tôi sang nhà quản sự lấy cờ treo rủ từ ban công xuống. Treo cờ cũng một tay anh ấy làm đầu tiên. Caeólia bảo, không hiểu sao lúc đầu yên ắng đến khiếp đi được. Amalia ra chỗ nhà thợ săn báo tin dữ; cánh thợ săn lúc này đang ngạc nhiên vì không thấy chiếc xe chở gia chủ chiều hôm qua đi Steyr đỗ chỗ nào. Còn Caecilia đến báo tin cho thợ làm vườn và chính nó bảo Amalia, khi nào đánh điện cho tôi thì cũng đánh luôn cho Đức cha Spadolini. Nguyên văn bức điện cho Spadolini là: Mẹ mất. Caecilia, Amalia. Hai đứa tin chắc Đức cha Spadolini sẽ đến dự đám tang. Lúc đầu thậm chí chúng nó còn định mời Spadolini, vị Tổng Giám mục Spadolini, chủ trì tang lễ cơ. Nhưng sau, Amalia bảo, hai đứa chúng nó đều nghĩ chắc tôi cũng sẽ tán thành, vì lý do tế nhị, nên để Đức cha Tổng Giám mục Salzburg chủ trì thì hơn. Hẳn Đức cha Spadolini bây giờ cũng ưa giữ vai trò kín đáo hơn. Nhưng đồng thời, chúng bảo chúng vẫn rất lo, không mời Đức cha Spadolini chủ trì cả lễ tang lẫn lễ thánh như thế, thì không biết liệu suốt đời có phải mang tội với mẹ không. Tuy nhiên, tôi cũng biết ngay mối lo chúng nó chia sẻ với tôi đó là mối lo giả dối. Tất nhiên, để Tổng Giám mục Salzburg làm lễ là đúng và hợp lẽ rồi. May tôi kìm được, không nói tuột ra với hai gái em tôi rằng, Spadolini làm lễ cầu siêu và ban phước cũng là chuyện đương nhiên, phải, lẽ ra phải để lão tình nhân của mẹ làm lễ cầu siêu và ban phước mới đáng, vâng, may tôi kìm lại được, không buột ý nghĩ thô bỉ đó trong đầu ra thành lời. Tôi cũng không thể buột mồm nói ra những lời xấc xược như thế để rồi mang tội suốt đời, cho nên tôi bảo các em gái tôi, xếp đặt như vậy là được, cứ để Đức cha Tổng Giám mục Salzburg chủ trì tang lễ và ban phước. Nói cho cùng, chẳng cần tôi chúng nó cũng đã định như thế từ đầu rồi, thay đổi làm sao nữa. Bằng cách nhún nhường cũng như bằng cách tán thưởng chúng nó như thế, có khi tôi còn tạo lợí thế cho mình cũng nên; đoạn, tôi nói thêm, ngoài các vị Tổng Giám mục Salzburg và Spadolini, chắc sẽ còn ít nhất ba vị Giám mục nữa đến dự đám tang, một vị Giám mục ở Linz, cũng như hai vị khác ở Innsbruck và Sankt Polten. Bố tôi học cùng trường với các vị này và quan hệ bạn bè giữa bố tôi lúc còn sống với các vị đó chưa bao giờ đứt đoạn, ngay cả suốt cả thời Quốc xã cũng không, tôi nghĩ bụng, rồi bảo các em tôi, thì từ xưa đến giờ, ngay cả thời Quốc xã, mấy vị này vốn vẫn thân thiết với bố. Tôi buộc phải nói thế, mà nói thế cũng đúng chỗ thôi, để ngăn không cho câu chuyện của tôi với hai đứa em gái trở nên đa sầu đa cảm quá, và do đó, sẽ trở nên dối trá. Thật ra, tôi ghê sợ đám ma này hơn bất kỳ đám nào khác; sợ hơn mọi đám ma tôi từng chứng kiến vào những năm gần đây ở vùng quanh Wolfsegg. Bỗng dưng, trước mắt tôi hiện rõ ra những gì sẽ đến với tôi trong ngày đưa đám, tức là vào thứ Bảy tới đây. Tôi nghĩ bụng, thật đúng biết bao những lời tôi nói ra với anh Zacchi qua điện thoại, tai họa quả đã đổ sập lên đầu tôi thật. Trong lúc đó, hai đứa em gái quay sang gã em rể tôi, và với giọng kẻ cả, ít nhiều như ra lệnh, bảo gã sang bên nhà quản sự xem xem có phải còn hai tấm vải liệm nằm sót lại trên tầng áp mái không. Con Caecilia quả quyết, hai tấm vải nằm trong cái hộp lớn in dòng chữ ghi tên hãng Sunlicht. Suýt nữa, tôi bật cười nghe nó nói thẳng tuột Sunlicht với một giọng nói đến là ngu xuẩn. Nhưng rồi tôi cũng nhịn được. Trên nắp hộp có ghi Sunlicht, anh nhớ nhé, Caecilia bảo chồng và gã này quay người, cun cút đi ngay sang nhà quản sự. Tôi nghĩ bụng, nó chủ ý bắt chồng đi một mình sang khu nhà quản sự như thế chỉ cốt để ở lại một mình với tôi và Amalia. Nó muốn tống gã, kẻ ngoại tộc lẻn vào nhà chúng tôi ấy, ra xa, tôi nghĩ thầm và chắc hẳn lúc ấy, nó cũng nghĩ như tôi. Đến cả nó, là con vợ, cũng cảm thấy thằng chồng mình mới cưới về bỗng dưng biến thành khối thịt thừa, tôi nghĩ bụng, song ý nghĩ đó không làm tôi thú vị như mọi khi, mà lại khiến tôi hổ thẹn. Gã chủ xưởng nút chai rượu vang phải sang nhà quản sự cốt chỉ để cho Caecilia được ở lại đây một mình chuyện trò với tôi và Amalia em nó mà không bị quấy rầy. Gã chủ xưởng nút chai rượu vang rời xa chưa được hai chục bước, Caecilia đã bảo, chồng nó làm nó điên cả người, vì lúc nào anh ấy cũng bám lấy em, chẳng để em được ngồi yên một mình lúc nào nữa cả. Nghe nó than phiền vậy, tôi ngạc nhiên, bởi từ nãy đến giờ tôi chỉ có cảm giác dường như nó, Caecilia bám cổ chồng, tức em rể tôi; hóa ra không phải vậy, bám nó như đỉa, chứ không phải nó bám. Mới có một tuần sau đám cưới mà ngay trước mặt anh em, nó đã bảo chồng nó bám nó như đỉa bám. Tôi thấy con Amalia phải gắng nhịn lắm mới không bật ra cười, liền nghĩ bụng, ngay cả trong lúc tình cảnh khủng khiếp như thế này, con người ta vẫn đến là dễ toét miệng ra cười. Hay chính những hoàn cảnh khủng khiếp như thế này, tôi nghĩ thầm, lại đòi hỏi người ta phải nhoẻn nụ cười?! Có lẽ, những ai bị căng thẳng vì một tai nạn kiểu như tai nạn anh em chúng tôi đang phải gánh chịu đây, tôi nghĩ, cũng sẽ sớm nở một nụ cười để tháo chạy cũng nên. Con Amalia phàn nàn, trong lúc chúng nó hoang mang cùng cực thì ông anh rể chẳng giúp được chút gì sất, ông anh rể cứ đứng đực như trời trồng bên cửa sổ phòng ông ấy, chứ hai đứa chúng nó chẳng nhờ vả được gì. Bao nhiêu lần chúng nó xin anh ấy giúp một tay, như gọi điện cho nhà đòn bên Vocklabruck chẳng hạn, là nơi chúng nó đã thuê làm mọi chuyện ma chay, theo như lời con Amalia, mà rồi cũng có được đâu. Anh ấy cứ luôn mồm kêu than vụ tai nạn làm anh ấy choáng váng, nhưng lại quên mất rằng vợ anh ấy lẫn em gái vợ anh ấy còn bị choáng gấp vạn lần, thế mà chúng nó có khóa trái cửa phòng rồi ngồi im ỉm chẳng làm gì như anh ấy đâu. Loại người như anh ta, tôi bảo, không biết xử trí thế nào với những trường hợp như thế này đâu, họ bị các tai họa như tai họa này quật ngã và không bao giờ gượng dậy được nữa, không như anh em mình, tuy bị tai nạn đó giáng đòn đau hơn, đánh quỵ sâu hơn, nhưng ta lại đứng dậy ngay, xử trí mọi sự được ngay. Buột mồm ra như thế, tôi lại thấy hối hận, nhưng không kịp thu lại lời mình nữa. Phải, quả thực tôi đã buột mồm bảo, ta sẽ xử trí mọi sự được ngay, với ý chứ người khác không làm được vậy, tức là tôi muốn bảo, một tai họa, dù ghê gớm, tàn nhẫn đến cực độ, chúng tôi vẫn xử trí được, chứ bọn tiểu tư sản thì làm được gì. Tất nhiên, tôi chỉ nghĩ trong đầu thôi, chứ không xướng to cái từ tiểu tư sản tôi dùng để ám chỉ gã em rể ấy thành lời. Bọn tiểu tư sản, tôi nghĩ bụng, chắc chắn sẽ bị một tai nạn như thế đè nát và chúng sẽ chìm đắm vào cơn đa sầu đa cảm, còn chúng tôi sẽ không rơi vào tình trạng đó. Đám tiểu tư sản, cả đám vô sản cũng vậy thôi, sẽ tự biến mình thành nạn nhân của các tai nạn như thế, chứ chúng tôi lại không. Cả dân tiểu tư sản lẫn người vô sản đều không bao giờ đủ sức, như chúng ta đây, để vượt qua các tai nạn thảm khốc như thế đâu. Tôi bảo các em gái tôi, một tai nạn như thế này vượt quá sức chú ấy, song chúng nó không hiểu ý tôi, chúng nó không hiểu tôi ngụ ý gì, đương nhiên, chúng cũng không hiểu cả sự khinh bỉ chứa đựng trong những lời tôi nói nốt. Tôi bảo, trong trường hợp các tai họa thảm khốc, như tai họa ta đang phải chịu đây, ta cần để những người như chú ấy đứng ngoài cuộc. Tôi nói như thế đúng vào lúc gã chủ xưởng nút chai rượu vang còn chưa biến vào trong nhà quản sự nữa kia, tôi vẫn còn nhìn thấy gã trên lối đi. Loại người như chú ấy, tôi nói thêm, nhìn chung, vốn quá thụ động trong các vụ việc thế này, bởi nói cho cùng, từ lúc lọt lòng họ đã thụ động, lười biếng, và khi cần, họ không có cách nhìn đời lạnh lùng như của anh em ta. Tôi chẳng ngại ngần nói thẳng tuột điều tôi nghĩ ra, rồi tôi tiếp, chú ấy không hợp với anh em ta. Nghe tôi nói vậy, Amalia chỉ cau mặt, còn Caecilia chẳng nói chẳng rằng, quay mặt đi, như thể xem xem chồng nó đâu. Song gã đã biến vào phía trong nhà quản sự. Những người chân thật như gã chủ xưởng nút chai rượu vang kia bao giờ cũng có lối nhìn đời hết sức đa sầu đa cảm, mà chúng tôi không có, tôi nghĩ thầm trong bụng. Chính cái đa cảm là cái đáng ghét nhất ở họ. Tính đa cảm cũng là thứ đế tiện nhất mà họ suốt đời đem ra hãm hại người khác. Thối đa cảm của bọn người này, vốn làm họ thoải mái và dễ chịu, lại là tai họa ở đời. Kiểu cách đa cảm, mà bất cứ chỗ nào họ cũng phơi ra ấy, làm những người như chúng ta ghét bỏ, tôi nghĩ thầm. Tôi bảo các em tôi, ở Wolfsegg, chú ấy như bước lên lớp băng trơn. Amalia nghe nói vậy, có cớ để cười, chứ Caecilia thì không. Tôi vừa nói xong, nó liền lặng lẽ quay người về phía tôi và lạnh lùng nhìn thẳng vào mặt tôi. Vâng - ánh mắt ấy không lừa nổi tôi - nó thừa nhận đám cưới là một sai lầm. Mới được tám ngày, tôi nghĩ bụng, mà cảnh tượng đã đảo ngược thành một cảnh tượng quái quỷ không gì bằng. Họa có thằng điên mới lấy cô, tôi bảo Caecilia, với giọng không gay gắt như nó có thể đã cảm nhận, song, ngay lập tức tôi thấy hối hận, vì mặc dù chỉ định nói đùa, tôi lại buột mồm làm nó bị xúc phạm nặng nề. Caecilia vẫn rất ghét tôi, tôi biết thế, nó vẫn như ngày xưa. Amalia vào hùa với chị nó, cũng căm ghét tôi. Bây giờ đến lượt ta phải xử trí hai đứa chúng mày, tôi nghĩ bụng, nhưng đồng thời tôi cũng thấy thương hại chúng nó; bởi vì, trong khi tôi chưa hề hình dung nổi - dẫu chỉ mơ hồ thôi, chứ đừng nói gì đến một hình dung chắc chắn, sắp tới chúng nó sẽ phải chịu đựng những gì, nhưng tôi vẫn có ngay linh cảm, rồi mọi sự sẽ rất ác độc cho chúng nó. Người đàn ông con Caecilia vốn rước từ Baden về Wolfsegg làm chồng chỉ c ốt để chọc tức mẹ nó, chỉ cốt trừng phạt bà theo cách của nó ấy, người đàn ông từ thành Freiburg im Breisgau, pháo đài Thiên chúa giáo kiên cố số một trong số những pháo đài Thiên chúa giáo kiên cố nhất trên đời này ấy, bỗng dưng trở thành gánh nặng khó chịu cho chính nó. Mới một tuần sau đám cưới mà mồm miệng nó chỉ rặt những lời hằn học về gà mà thôi, bởi nguyên do khiến nó lấy gã chủ xưởng nút chai rượu vang - nguyên do nằm ở mẹ tôi, ở cái lối ngăn cấm Caecilia và Amalia đánh bạn đám bè với cánh đàn ông của bà, tức cũng là cản trở tương lai các con gái bà vậy - đột nhiên biến mất, không còn nữa. Nói cách khác, cái chết của bà mẹ đã nhổ mất cội rễ làm nảy sinh cuộc hôn nhân đó. Bây giờ ai nấy đều nhận thấy gã chủ xưởng nút chai rượu vang đâm ra thừa, chỉ riêng gã chưa nhận ra điều đó thôi. Tôi đoán chắc, đầu óc cả hai đứa em gái tôi, tức không phải chỉ riêng đầu óc con Caecilia đâu, đang quay cuồng cùng ý nghĩ, làm sao sớm tống khứ được gã chủ xưởng nút chai rượu vang đột nhiên trở nên vô dụng này đi đâu cho khuất mắt - một ý nghĩ mà chúng nó, tất nhiên, tuy chưa đứa nào dám nói ra, nhưng cứ qua cung cách chúng nó đối xử với gã là tôi nhận ra ngay. Caecilia cằn nhằn không biết bao nhiêu lần, suốt ngày suốt buổi anh ấy cứ làm em phát điên lên. Amalia lặng im, không bình thêm vào. Tấm bình phong vẫn dùng che mắt gã chủ xưởng nút chai rượu vang tụt hẳn xuống và chẳng làm lộ cái gì khác ngoài bộ mặt đầy vẻ ác cảm hằn học của chúng nó. Gã em rể tôi bị hai đứa đẩy ra chỗ khác với một cớ đến là lố bịch, cốt chỉ để gièm pha gã với tôi, theo cái lối xưa nay chúng nó vẫn làm, là gièm pha, dè bỉu sau lưng. Suốt ngày suốt buổi anh ấy cứ làm em phát điên lên cũng có nghĩa là gã bao giờ cũng làm nó phát điên, thế mà cồ ả vẫn kéo gã về Wolfsegg cho bằng được. Và bà cô ở Titisee, với lòng dạ đểu cáng vô biên ấy, đã giúp nó một tay, nhằm trừng phạt em dâu bà, tức trừng phạt bà mẹ chúng tôi. Bà cô ở hồ Titisee sẽ từ Schwarzwald đến đây và chắc chắn sẽ hả dạ lắm, rồi thể nào bà cũng chen lên hàng đầu đám họ hàng đến dự đám tang cho mà xem, tôi nghĩ bụng. Mặc dù lúc này, cuộc hôn nhân giữa con Caecilia với thằng chồng nó coi như đã tan vỡ, chiến thắng của bà cô ở hồ Titisee vẫn không kém phần rực rỡ, bởi bà đã đạt được điều bà mong muốn là chơi khăm em dâu bà một vố, bằng cách xui cháu gái bà, tức em gái tôi, tổ chức đám cưới một cách chóng vánh. Con người mà vụ thông đồng và nước cờ hiểm bà nhắm vào ấy giờ đã chết, tôi nghĩ bụng, cũng chẳng hề làm bà cô ở Titisee bớt phần đắc thắng đi chút nào, chỉ riêng con em gái tôi phải trả giá cho cái trò đê tiện, bẩn thỉu ấy mà thôi. Gã chủ xưởng nút chai rượu vang đã đặt chân về đây và bắt đầu sắm vai con Caecilia trao cho gã, và bất kể vai diễn của con người này có lố bịch đến thế nào đi nữa, tôi nghĩ bụng, thì bây giờ cũng khó mà tống khứ gã đi được. Khó là khó cho con Caecilia phải mất công thôi, chứ chuyện đó, nói cho cùng, nào dính dáng gì đến tôi. Chẳng chút động lòng, tôi khắc đuổi gã khỏi Wolfsegg khi nào tôi muốn. Chuyện đó thuộc quyền quyết định của tôi và tôi cũng không có ý để gã lưu lại Wolfsegg lâu làm gì, tôi tự nhủ. Cả hai em gái tôi sớm muộn cũng không ở lại Wolfsegg nữa, tôi nghĩ bụng. Có lẽ chúng nó cũng đoán ra, không, có lẽ chúng biết chắc tôi nghĩ gì là khác, nhưng đó không phải chuyện tôi phải vò đầu bứt tai làm gì cho mệt. Đã lấy chồng theo lối quái đản như của con em gái tôi, cố tình bất chấp mọi lý lẽ khôn ngoan, tôi tự nhủ, thì một mình nó phải tự gánh chịu mọi hậu quả. Cuộc hôn nhân với một gã chủ xưởng nút chai rượu vang ắt không thể không dẫn đến hậu quả đau đớn được. Thì đấy, các hậu quả đau đớn đó, hay đúng ra là các hậu quả hành hạ day dứt đó đã bắt đầu trở nên rõ ràng biết bao nhiêu. Ta đã cảnh cáo, tôi nghĩ bụng, song nó chẳng nghe ta, ta răn đi đe lại, song nó bưng chặt tai, không cho ta rót vào tai nó những lời răn đe đó. Con Caecilia không chịu nghe tôi bảo đừng có động vào thằng chủ xưởng nút chai rượu vang nọ, chớ có nhúng tay vào cái trò xỏ xiên đểu giả nhằm chơi khăm mẹ như thế. Như vậy, bà cô chúng tôi ở Titisee đã hai lần mang tội, tôi nghĩ thầm, tội chơi đểu mẹ tôi cũng như tội lợi dụng cả con Caecilia lẫn mấy đứa chúng tôi. Bà ôm mối hận ba chục năm trước bị mẹ tôi đuổi khỏi Wolfsegg, do mẹ tôi không chịu nổi cảnh cô em chồng suốt ngày kè kè bên chồng bà, tức ông anh cô ấy. Bà cô bị tống khứ về sống ở vùng Schwarzwald, trong một trại săn nhỏ, vốn thuộc quyền sở hữu của gia đình tôi từ xa xưa. Cô xem bà cô Titisee yêu quý của cô đã gây ra những trò gì, tôi bảo Caecilia. Nó hiểu ý tôi ngay. Giọng tôi lúc ấy đâu phải giọng an ủi, mà là giọng quở trách, và nó chắc chắn sẽ chẳng bao giờ tha thứ cho tôi. Suốt ngày suốt buổi anh ấy làm em phát điên, những lời như thế phát ra từ chính miệng em gái tôi, chẳng bộc lộ điều gì khác ngoài lòng căm ghét dành cho thằng chồng đang manh nha trong lòng nó. Nó muốn đuổi gã ra chỗ khác, cho nên mới phái gã lên tầng áp mái nhà quản sự. Gã còn phải tìm chán ra, tôi nghĩ bụng, bởi con Caecilia biết thừa trên đấy chẳng có hộp đựng khăn liệm xác nào cả. Với lại, riêng việc nó phái chồng nó trèo lên đấy cũng đã là xấc láo lắm rồi, bởi thông thường, đấy là việc bọn đầy tớ trong nhà phải làm. Nó bảo anh ấy chẳng bao giờ rời em lấy nửa bước, thì cũng chẳng ngụ ý nào khác, ngoài ý rằng nó đã ghê tởm gã chủ xưởng nút chai rượu vang lắm rồi. Anh biết đấy, cửa sổ mà đóng, là em không ngủ được, nó bảo tôi, nhưng anh ấy lại cứ đóng cửa sổ mới ngủ; thành ra, em với anh ấy cứ suốt đêm tranh nhau, em mở toang cửa sổ ra, chưa chợp được mắt thì lão đã vùng dậy lại đóng vào. Giọng cô ả không chứa gì khác ngoài ấm ức, chẳng đượm nỗi niềm nào khác ngoài nỗi thất vọng pha đầy căm hận. Ấy vậy mà đám cưới chúng nó mới diễn ra đây chứ đâu, đến như đôi thứ trang trí dùng cho đám cưới vẫn còn sót lại ở chỗ này chỗ kia và đập thẳng vào mắt tôi, bởi trong lúc vội vàng chuyển sang chuẩn bị cho đám tang, bị bỏ quên, chưa dẹp đi. Ngay trước nhà quản sự chẳng hạn, đằng sau các ngọn đèn ở lối vào vẫn còn cài cả hoa cẩm chướng trắng. Lẽ ra, ở đó lúc này phải là mấy vòng nguyệt quế báo nhà có tang mới đúng. Con em gái tôi tất nhiên không đả động đến chuyện thân thể chồng ả có mùi hôi hám khó chịu, thế nhưng tôi có cảm giác như thể ả đã than phiền về chuyện đó từ lâu. Lẽ ra mẹ tôi chẳng cần suy đi tính lại nhiều như thế nhằm tìm cách nhanh chóng phá vỡ cuộc hôn nhân mà bà vẫn luôn mồm bảo là nhố nhăng này; đến như thoáng một ý nghĩ như thế thôi, tôi nghĩ bụng, lẽ ra bà cũng chẳng cần. Cho dù mẹ tôi đã mất và không còn được tận mắt chứng kiến chiến thắng này của bà nữa, bây giờ tôi vẫn có thể rộng lòng để bà được hưởng niềm vui đắc thắng nho nhỏ này, bởi vì cuộc hôn nhân mà tự đáy lòng, như bà có lần nói, bà không chấp nhận, cuộc hôn nhân do con Caecilia và bà cô ở Titisee, đúng ra thì bà cô đầu trò, đặt bẫy gài bà vào ấy, ngay từ những ngày đầu tiên sau đám cưới đã rạn nứt rồi. Trong lúc gã chủ xưởng nút chai rượu vang loay hoay tìm cái hộp có dán nhãn Sunlicht đựng khăn liệm xác trên tầng áp mái nhà quản sự, thì dưới này, vợ gã làm nhục gã không biết ngượng mồm. Ả không hề nghĩ, ả đang hành động đểu giả và hèn hạ đến mức nào. Sợi dây mỏng manh buộc gã chủ xưởng nút chai rượu vang vào với Wolfsegg bị cắt mất rồi mà gã không hề hay biết. Caecilia đã ngả hẳn về phía tôi, tôi nghĩ thầm, và tính toán của con Amalia cũng như thế thôi cũng vô liêm sỉ không kém. Hiện giờ hai đứa chúng nó đang muốn cứu vãn cái gì còn cứu vãn được, mà muốn vậy, chúng buộc phải liên minh với tôi, bởi vì ngay bây giờ cả hai đều đã rõ rằng tôi mới là người duy nhất cầm cương ở Wolfsegg. Ông chủ, một vai trò chúng nó chưa bao giờ gắn cho tôi, bởi trước đây, bao giờ chúng cũng chỉ gắn với Johannes mà thôi, bây giờ hóa ra lại rơi vào tay tôi. Vì xưa nay chúng nó bao giờ cũng thù địch với tôi, cho nên bây giờ chúng nó hẳn không mong đợi điều gì tốt lành. Tôi nghĩ bụng, trước hết chúng nó sẽ tỏ ra yếu đuối trước mặt tôi cho mà xem, để về sau này mới hòng cương với tôi được. Tự tôi, tôi cũng thấy đó là mưu chước duy nhất chúng nó có thể dùng lúc này. Và tôi hẳn sẽ không nhầm. Bởi tôi muốn ngâm mình vào bồn tắm, hay ít nhất cũng đứng vòi hoa sen một lát, tôi bỏ hai đứa em gái ngồi lại một mình rồi đi lên gác. Trên đường lên gác, một cô nấu bếp đi ngược về phía tôi và trao cho tôi cái ví, theo như lời cô ta thưa, lúc nãy tôi để quên trong bếp. Tôi không nhớ làm sao mà ví của tôi lại nằm trên bàn nhà bếp được, nhưng có lẽ, chẳng nghĩ ngợi gì, tôi đã rút nó ra khỏi túi áo khoác rồi đặt nó lên bàn, và bà đầu bếp, là người đầu tiên tôi bắt chuyện, đã tìm thấy nó dưới đống báo. Bây giờ thì lộ hết ra rồi nhé, tôi thầm nghĩ, cái ví của tôi nằm dưới đống báo trên mặt bàn là bằng chứng hết đường chối cãi. Tôi lẳng lặng cầm ví nhét túi áo khoác rồi lên phòng. Ta vẫn tưởng dối trá sẽ mở đường cho ta trốn chạy và chẳng ai biết ta dối trá, tôi nghĩ bụng, nhưng rồi, chỉ cần một giây phút lơ đãng, ta đã bị lật tẩy ngay rồi. Chuyến đi từ Rome về Wolfsegg, hết đường không lại đến đường bộ, quả cũng hành tôi khá nhiều thật, đâm ra lúc này bỗng dưng lôi thấy mệt mỏi quá thể. Trong phòng tôi, mọi thứ trông vẫn như tôi chỉ vừa ra ngoài một lát rồi quay lại ngay. Lúc mới đây tôi rời Wolfsegg về Rome, tôi đã chẳng thu dọn gì, nhưng sau đó cũng không ai dọn trong phòng cả. Mấy đứa em gái hứa với tôi, tôi đi rồi, chúng nó khắc cho dọn dẹp tươm tất ngay. Song, chúng không cho ai dọn phòng, bởi chúng không tính đến chuyện tôi sẽ sớm quay lại như thế này. Đấy, tôi lại bắt quả tang chúng nó cẩu thả ra sao. Mặt khác, tôi nghĩ, bước vào căn phòng mọi thứ đâu vẫn nằm đấy, lung tung, lộn xộn, chưa dọn dẹp gì cả như thế này, quả cũng dễ chịu. Bây giờ có ai ngó vào phòng tôi, chắc chắn họ chẳng tin suốt tuần qua tôi ở Rome, chứ không ở đây, bởi chẳng có dấu hiệu nào cho thấy như thế cả, mọi thứ cứ như thể tôi chỉ ra ngoài một lát, chừng độ một, hai tiếng là cùng, không hơn. Ngay cả giường tôi nằm cũng chưa xếp dọn lại, tôi nghĩ bụng, hẳn trong lúc cuống cuồng lên vì mọi sự, chúng nó quên cả cho người gấp chăn, thay ga mới cho tôi. Hai đứa chúng nó chắc không hay biết gì về cái giường chưa xếp dọn này, tôi nghĩ bụng, bởi nếu biết, hẳn chúng đã làm. Chúng nó chẳng làm gì, khiến cái gọi là bệnh cuồng ngăn nắp như con Caecilia cứ mở miệng là khoe ấy, chẳng đáng tin chút nào. Tôi trút bỏ hết quần áo ra giữa sàn nhà rồi cứ thế tồng ngồng vào buồng tắm. Tôi tắm rửa, kì cọ một hồi dưới vòi hoa sen. Tôi toan cạo râu, thế nhưng kem cạo râu của tôi đã hết nhẵn, nên tôi cứ thế, trần như nhộng, quấn tạm cái khăn tắm, tôi ra hành lang sang phòng bố tôi tìm kem cạo râu. Tôi tự nhủ, bây giờ bố chẳng cần kem cạo râu nữa, thì có để làm gì đâu. Phòng tắm bố tôi vẫn nguyên xi như lúc ông ra khỏi đây lần chót, mọi thứ trông cũng như thể ông vừa ra phòng ngoài, sẽ quay lại bất cứ lúc nào. Như thế là ở đây cũng chẳng dọn dẹp gì cả, đầu óc chúng nó để đâu nhỉ, tôi tự hỏi, bởi theo tôi biết, suốt ngày chúng nó chẳng có mấy việc để làm, ấy thế mà bây giờ, đến phòng tắm của bố cũng không thèm dọn, thậm chí bố chết rồi cũng không cất công dọn dẹp phòng tắm cho bố. Tự dưng trong đầu tôi nảy ra câu hỏi, phải chăng do chúng nó bất hiếu, thiếu kính trọng người chết, nhưng tôi gạt ý nghĩ tởm lợm ấy ngay ra khỏi đầu, không suy diễn vặn vẹo thêm nữa. Tôi chỉ thấy quái dị ở chỗ, bố chết đã hai ngày rồi mà phòng tắm của bố vẫn chưa được dọn dẹp ngăn nắp. Thế nhưng, cái gọi là nỗi đau buồn đã bào chữa cho chúng nó cái tội, đến một việc hệ trọng như thế mà cũng quên. Thoạt đầu tôi không tìm thấy kem cạo râu đâu, phải lục lọi mấy cái tủ mới thấy. Bố tôi, cũng như tôi, cạo râu là phải cạo ướt; cả hai bố con đều ghét cạo máy. Vả lại da mặt tôi không cạo bằng máy được, tôi nghĩ bụng rồi cầm kem cạo râu quay về phòng; Ngoài hành lang, quãng giữa phòng bố với phòng tôi, tôi chạm trán Amalia. Gặp tôi trần truồng, nó hết cả hồn. Đến cả khăn tắm lúc nãy quấn người tôi cũng để quên trong phòng tắm bố tôi, nên bây giờ tôi đứng trần như nhộng trước mặt nó. Lọi dụng cảnh tranh tối tranh sáng ngoài hành lang, nó trố mắt nhìn tôi, nhưng hoàn toàn không phải theo kiểu anh chị em nhìn nhau. Bởi nó cứ đứng ngây ra đó, chứ không định bỏ đi khi nhìn thấy tôi, tôi liền cứ thế tồng ngồng đến thẳng trước mặt nó rồi lớn tiếng hỏi, trong đời cô chưa bao giờ thấy thằng đàn ông nào cởi truồng hay sao thế. Đây, bây giờ cô thấy tôi người ngợm thế nào rồi nhé, không đến nỗi tôi, phải không nào, rồi tôi thè lưỡi ra cho nó. Nó quay ngoắt người, chạy xuống gian tiền sảnh. Đã ba chục năm nay, tôi không thè lưỡi với con em gái Amalia. Lần đầu tiên sau bấy nhiêu lâu, bây giờ tôi mới lại thè lưỡi ra với nó như thế, khiến tôi khoái chí. Toàn thân tươi tỉnh sau khi tắm, trong lòng thậm chí còn thấy vui vui do cuộc chạm trán với Amalia, tôi đứng cạo râu trước gương. Vừa cạo, tôi vừa nghĩ, hai đứa em gái tôi đến kỳ quặc; mẹ tôi biến chúng nó thành hai thiếu phụ kỳ quặc, lập dị, không những thân thể kỳ quặc và lập dị, mà đầu óc, tôi nghĩ thầm, cũng kỳ quặc và lập dị như thế nốt. Tôi phết kem lên mặt và bỗng chốc trông tôi trong gương giống như thằng hề rạp xiếc; thằng hề thè ngay lưỡi ra, và cái trò thè lưỡi làm hắn khoái, hắn liền thè lưỡi, cho chính mình trong gương đôi ba lần liền. Sau chuyến đi, dù ngắn, nhưng mệt nhọc như chuyến đi tôi vừa trải qua, thật không gì thú vị bằng được cạo râu. Đứng trần truồng trước gương, lưỡi thè ra ghẹo chính mình như thế, tôi không còn có cảm giác của một người cho rằng mình không thọ lâu như người khác, một cảm giác từ xưa đến giờ tôi vẫn mang trong người. Tôi quay lại phòng, mặc quần áo, trong đầu luẩn quẩn mãi ý nghĩ, chả biết có nên mặc bộ vest đen hay không. Rốt cuộc tôi chọn bộ quần áo giản dị, không có gì nổi bật, như tôi vẫn mặc mọi ngày khác trong tuần, tức là chiếc áo vest màu nâu pha xanh lá cây, mẫu áo kiểu Roman cùng cái quần hợp với nó. Giá như mấy đứa em tôi khác đi, tôi tự nhủ, vâng, không đần độn đến như thế, thì có lẽ anh em cũng chung sống với nhau ở Wolfsegg được lắm. Song, tôi lại chỉ tính xem, không có chúng nó, mọi sự ở đây sẽ diễn ra thế nào, bởi chuyện chúng nó không ở lại Wolfsegg với tôi là rõ rồi. Cả hai đứa Caecilia lẫn Amalia phải cuốn gói khỏi đây, tôi nghĩ bụng; đó là giải pháp tốt nhất cho cả đôi bên. Chúng nó toan suốt đời cắm rễ ở Wolfsegg, nhưng bây giờ chúng nó phải xéo đi, đi đâu thì đi, nhưng phải xéo đi chỗ khác, tôi nghĩ, điều đó có lẽ cũng có lợi cho chúng nó hơn. ít nhiều màn kịch cũng đã đến hồi kết, tôi tự nhủ, và một khi các nhân vật chính đã chết, xác đã quàn trong nhà kính kia rồi thì các vai phụ như hai em gái tôi, chẳng còn cớ gì để lớ rớ trên sân khấu này nữa. Màn đã hạ rồi. À, khoan đã, chưa hẳn, còn màn hài kịch kết nữa. Cũng là màn khó nhất trong toàn bộ vở kịch. Lúc tôi xuống đến gian tiền sảnh và gặp Caecilia, nó nhắc tôi, ít gì anh cũng nên thắt cà vạt đen vào. Mới đầu tôi định cưỡng lại, nhưng rồi tôi cũng nghĩ, ừ nó nói cũng đúng, nên tôi quay trở lại lên gác, thắt cà vạt đen quanh cổ. Bây giờ thì tôi có bộ cánh gọi là hợp với ngày hôm nay rồi nhé. Tôi đến bên cửa sổ nhìn xuống, thấy gã chủ xưởng nút chai rượu vang đang khệ nệ bê một cái hộp to từ nhà quản sự sang nhà kính. Tôi nghĩ bụng, hóa ra gã cũng tìm thấy cái hộp dán nhãn Sunlicht đựng khăn liệm xác thật. Thế mà tôi đã nghĩ, làm gì có cái hộp nào như thế ở đó. Nhưng em gái tôi xỏ xiên, đểu giả thì vẫn xỏ xiên và đểu giả như lúc nãy tôi nghĩ thôi. Lúc nãy con em tôi phái thằng đàn ông đáng ghét, vâng, tôi buộc phải nói vậy, nay đã trở thành chồng nó ấy, lên tầng áp mái nhà quản sự chẳng nhằm mục đích nào khác, ngoài mục đích, như chính miệng nó nói ra, rốt cuộc được một mình rảnh thân nói chuyện với tôi và Amalia. Bình thường, dáng đi gã chủ xưởng nút chai rượu vang trông đã vụng về và khó nhọc rồi, bây giờ mang vác thứ gì nặng một chút như cái hộp to kia, dáng đi gã chuyển sang dáng chân vòng kiềng, trông càng khó nhọc hơn, tôi nghĩ bụng. Cái hộp có vẻ không nặng, nhưng như thể đang đè bẹp gã và cảnh tượng trông rất buồn cười, cứ như thể đầu gã cắm vào cái hộp vậy. Đến trước nhà kính, một anh thợ làm vườn chạy ra đón cái hộp từ tay gã, và gã liền đứng đực ra đó, như thể gã không biết bây giờ phải làm gì tiếp. Gã đúng là hiện thân của sự bất lực. Lẽ ra tội có thể chạy ra giúp gã, nhưng tôi không chạy ra. Hạng người như gã, chẳng ai giúp nổi, bọn họ cứ thế mãi mãi lố bịch và không bao giờ biết họ phải làm gì. Vừa từ bên nhà quản sự kéo sang, cánh thợ làm vườn dừng lại tán gẫu một lúc với gã, nhưng rồi họ lại phải chạy đi lo việc này việc khác, để gã đứng trơ ra đó một mình. Từ dưới làng lại vọng lên các khúc nhạc dạo. Ban nhạc nghe chừng đã thuần hơn với Haydn. Tôi nghĩ bụng, tiếng nhạc đến là nặng nề. Gã em rể tôi tiến về phía bức tường, chắc định ngó xuống làng. Tôi thấy gã toan leo lên một gờ đất nhô lên cạnh chân tường để kiễng chân nhìn xuống, song không được. Gã lấm lét nhìn quanh, như sợ có ai chứng kiến sự vụng về và lố bịch của gã. Tôi - hẳn gã không thấy được, do tôi đứng sau cửa sổ phòng, ánh nắng buổi chiều chiếu lên, ai đứng ngoài chỉ nhìn thấy khung cửa sổ, chứ không thấy được gì bên trong. Quãng giờ này, tôi có thể bình thản đứng bên cửa sổ quan sát mọi thứ, tôi tự nhủ, nhưng tôi thì chẳng ai thấy. Gã chủ xưởng nút chai rượu vang lén chùi chùi đôi giày và phủi phủi áo vest bị lấm bẩn khi gã toan leo lên gờ đất bên chân tường, rồi lại lấm lét nhìn quanh. Bây giờ tôi mới nhận ra tay gã ngắn quá cỡ. Quần áo gã mặc, tuy may thợ hẳn hoi, nhưng xấu xí, vô duyên, theo kiểu tỉnh lẻ, đã thế lại còn tình lẻ miền nam nước Đức nữa, bằng các thứ vải do chính tay hắn chọn, những thứ vải đáng tởm mà bọn tiểu tư sản - bọn người ngày đêm ôm ấp khát vọng ngoi lên tầng lớp trên, bọn người lấy mục tiêu ngoi lên tầng lớp xã hội cao hơn làm lẽ sống ấy - vẫn ưa dùng. Bà cô ở Titisee đã lén tuồn cho gia đình tôi một gã con rể như thế này đây, tôi bất giác nghĩ. Một gã dân Baden mặc sơ mi trắng, chuyên nghề nếm rượu vang và sành món sườn rán. Tham vọng trước đây của con Caecilia, đòi thiên hạ phải thừa nhận chồng nó là thằng chồng đáng giá nhất đời, bây giờ cùng lắm chỉ khiến tôi phải cất tiếng cười chế nhạo, nhưng chiều nay tôi không được phép cười; đứng bên cửa sổ đây, tôi chỉ bụm miệng cố nhịn để không cười thành tiếng. Gã đàn ông này cũng chẳng đáng được thương hại, bởi gã không phải không có lỗi khi tự mình lao vào cuộc hôn nhân này, tôi tự nhủ, cuộc hôn nhân mà mới một tuần sau đám cưới, con em gái tôi chỉ muốn xóa bỏ ấy. Thế nhưng đây là chuyện một mình con Caecilia phải gánh chịu. Có điều, tôi nghĩ bụng, nói tôi không can dự vào, không có nghĩa là tôi sẽ thôi không quan sát và không nghĩ ngợi gì nữa cả. Riêng một ý nghĩ khiến tôi không chịu nổi là tối tối phải ngồi cùng bàn ăn với đúng thằng cha này, lại thêm hai đứa em gái tôi nữa, hai đứa chẳng biết nói gì với tôi mà tôi cũng chẳng biết chuyện trò gì với chúng nó. Cú choáng do vụ tai nạn gây ra cùng lắm chỉ che lấp được vài ngày cái cảnh phải ngồi chung với hai bộ mặt đầy cay đắng của hai đứa em gái, cộng thêm bộ mặt đần độn của gã em rể, bộ mặt lúc nào cũng có thể ngớ ngẩn cười nhăn nhở vì bất cứ chuyện nhỏ nhặt nào ấy. Vâng, tôi cũng nghĩ ngay, thế nhưng vênh vang kiêu ngạo không phải là cách thức thích hợp để đối xử với những người ta coi thường và vì thế không thể chịu đựng nổi. Nhưng, nếu không vênh vang kiêu ngạo, chắc chắn ta sẽ tiêu ngay; kiêu ngạo chẳng qua là một phương tiện thị uy, dùng để đối lại một thế giới sẵn sàng nuốt chửng ta, nuốt không chừa lại thứ gì, nếu ta không đủ kiêu ngạo. Thế giới chẳng đếm xỉa đến ta. Ta phải kiêu ngạo để đón đầu chặn trước, tôi tự nhủ, ta phải kiêu căng ở những nơi nào ta có thể bị ăn tươi nuốt sống. Ta đừng tự lừa ta, tôi tự nhủ, bởi những kẻ gọi là đần độn mà ta coi thường ấy cũng chính là những kẻ phũ phàng nhất. Một khi chúng có thể quấy rối ta, hãm hại rồi rốt cuộc tiêu diệt ta, ắt chúng chẳng để tâm đến tình cảm của chúng ta làm gì nữa. Kiêu căng, ngạo mạn chính là phương tiện thích hợp nhất giúp ta chống chọi được với thế giới đầy thù địch với ta ở xung quanh, thế giới đó khiếp sợ và nể trọng vẻ kiêu căng ấy, dù rất có thể đấy chỉ là vẻ kiêu căng giả bộ như vẻ kiêu căng của tôi đây mà thôi. Sự thật là ở chỗ, ta trưng sự kiêu căng của ta ra, cốt chỉ để tự khẳng định mình. Và nói cho đến cùng, tôi kiêu ngạo chỉ là để sống sót. Dĩ nhiên, chẳng mấy chốc rồi ta cũng không còn phân biệt được, sự kiêu căng ngạo mạn đó là giả hay thật. Song, chẳng cần đặt đi đặt lại câu hỏi ấy mãi làm gì, nếu không nó sẽ làm ta phát điên phát rồ đến mất trí cho mà xem. Đối với tôi, chẳng hề có gì đáng phải bận tâm, nếu gã em rể không biết Max Bruch là ai, bởi vì, hồi ấy, lúc mẹ tôi làm nhục gã ngay trước mặt mọi người, nếu gã quả thực có biết Max Bruch là ai đi nữa, thì điều đó cũng chẳng làm gã đẹp mặt hơn. Mẹ tôi cũng có thể hỏi tôi cái này cái kia mà tôi, có thể, cũng không trả lời được; vâng, nhiều thứ tôi quả thực không biết, không thông thạo, thì theo cách nào đó, tôi cũng chẳng hơn gì gã chủ xưởng nút chai rượu vang thôi, vì học thức người nào đó cao hay thấp, quả thật, chẳng hề có ý nghĩa gì ghê gớm, thậm chí ngược lại, ai có học thức đến mức mẹ tôi ngưỡng mộ, âu cũng chỉ mới là kẻ ngu đần đáng tởm, hay như tôi vẫn bảo, một tên ngốc có học, nhưng gã chủ xưởng nút chai rượu vang lại tin sái cổ, rằng việc biết Max Bruch là ai là việc hệ trọng, việc biết Friedrich Kienzel là ai cũng hệ trọng không kém, vân vân. Khổ quá, nếu gã có không biết Kant là ai đi nữa, thì đã có gì là quan trọng đối với tính cách của gã chứ. Nhưng gã là con người không cá tính, tôi nghĩ bụng. Tôi vẫn thường ngờ ngợ về tính cách bạc nhược của gã chủ xưởng nút chai rượu vang, về sự vô liêm sỉ - nấp dưới vẻ bất lực tội nghiệp - của gã, sự vô liêm sỉ giúp gã không chùn bước trên đường ngoi lên cao. Đứng bên cửa sổ quan sát gã em rể loay hoay bên bức tường, tôi chợt hiểu, con Caecilia đã bị mắc lỡm. Có việc gì mà gã không làm được chứ, tôi nghĩ bụng, có chỗ nào mà gã không thể nhúng tay vào được. Nhưng rồi tôi lại nghĩ, nếu quả thực gã có làm gì, có nhúng tay vào đâu, thì cũng đều hậu đậu, khiến gã càng thêm lố bịch mà thôi. Giá như gã không bạc nhược như thế, tôi nghĩ bụng, thì chí ít gã cũng chiếm được chút cảm tình của cánh thợ làm vườn; nhưng không, họ chỉ toàn tránh mặt gã. Đó là dấu hiệu cho thấy có gì đó không ổn ở gã, tôi nghĩ bụng, bởi vì, đã nói đến chuyện nhận biết tâm tính người khác thế nào, thì những người thợ làm vườn vẫn có linh tính khác thường. Họ linh cảm được ngay, ai đáng tin cậy, ai không. Như tôi đã thấy ngay từ trước hôm đám cưới, họ lánh mặt gã chủ xưởng nút chai rượu vang ngay từ đầu. Mối nghi ngờ họ dành cho gã không phải mối nghi ngờ bình thường, như người ta vẫn dành cho kẻ lạ mặt lúc ban đầu, không, đây là mối nghi ngờ ra mặt, mối nghi ngờ rất rõ ràng. Chắc họ đã nhìn thấy gã là một kẻ vừa bất lực vừa thiếu bản lĩnh. Kể cũng thú vị, mấy người thợ làm vườn đã tín tưởng ai thì không nhầm bao giờ. Riêng cung cách lúc nãy họ đỡ cái hộp trên tay gã đã cho thấy họ không tín gã ra sao. Tôi chợt nghĩ, mình đứng bao nhiêu lâu như thế này bên cửa sổ chỉ để quan sát gã em rể, thì rõ thật nực cười, nên tôi quay người đi xuống gian tiền sảnh, nhưng cũng không quên đứng lại dưới bức chân dung cụ kị Ferdinand một lát. Descartes của tôi, tôi lẩm bẩm, lúc này tầm vóc nhà triết học của cụ trong lòng tôi có hao hụt đi chút ít, chà, với bộ mặt thế này làm sao cụ tôi viết ra các bản Tiểu luận trứ danh được. Amalia đi từ bếp ra, thấy tôi liền cất tiếng bảo, chiều tối nay chắc khách đến viếng sẽ lên đây đông - lúc sáng đã có hơn chục khách viếng rồi - mà không phải chỉ khách dưới làng, như ông giáo hay thầy thuốc đâu. Mình phải sẵn sàng tiếp đón, Amalia nói vậy, có lẽ ngay gần gian tiền sảnh là tốt hơn cả, cùng lắm thì vào bên trong, chỗ gian nhà thờ hoặc gian bếp cũng được, chứ em không muốn để ai lên tầng trên. Tốt nhất chỉ nên dăm câu ba điều với người ta thôi, rồi để họ cuốn xéo về ngay. Tôi ghê người vì ý nghĩ bây giờ chính những kẻ tôi thật sự ghê tởm ấy sẽ lần lượt lên đây, đám trung lưu ở các thị trấn lân cận, cái bọn đã không chút chần chừ, chớp lấy cơ hội ngàn vàng để được quyền đến nhà chúng tôi mà không cần ai med, hơn thế còn được đánh xe chạy thẳng vào khuôn viên một cách hỗn xược. Ngay lúc này tôi đã hình dung ra cảnh tượng những bộ mặt tò mò lần lượt chui ra khỏi xe rồi bắt chúng tôi phải nghe những lời chia buồn phát ốm, và để đáp lễ chúng tôi còn phải làm bộ biết ơn nữa mới kinh. Song, tôi nghĩ bụng, tôi sẽ bắt tay họ lạnh lùng, lạnh hơn bao giờ hết, lạnh đến mức đủ ngăn các mối liên hệ giữa bọn người này với chúng tôi sâu sắc thêm. Trong đầu, tôi đã tập thử cách bắt tay lạnh lùng đó và cũng lựa sẵn những lời lẽ nhạt nhẽo tôi buộc sẽ phải cất lên nói với họ. Nhưng thật ra, trong lòng tôi, tôi không sợ bọn người này; với bọn này, tôi đủ sức xử trí nhanh, chẳng bận lòng lắm. Làm tôi ghê sợ là hai cựu trưởng vùng Quốc xã, hai tên Gauleiter, mà tôi nghe nói, đã cho người nhắn sẽ tới dự đám tang, cũng như đám khá đông cựu sĩ quan ss mà hàng chục năm qua, tôi cứ tưởng chúng hoặc đã chết ngóm, hoặc ít nhất cũng ngồi tù chịu phạt đích đáng ở đâu đó, nhưng hóa ra - mấy năm gần đây tôi mới biết - đã lại chui ra khỏi chỗ ẩn náu xưa nay của chúng, và cả chục năm nay rồi, bí mật tiếp xúc với gia đình tôi, với bố mẹ tôi, với bà con họ hàng tôi, rồi giờ đây, tôi tự nhủ, toan nhân dịp đám tang này để lần đầu tiên xuất đầu lộ diện công khai trước thiên hạ. Thế mà tôi lại không cách gì ngăn bọn này đến dự lễ tang được. Bọn chúng sẽ kéo đến, dù tôi có muốn hay không cũng vậy. Hai tên cựu Gauleiter chắc chắn sẽ không để ai ngăn trở. Một tên - tôi biết rất rõ - đã từng lùa hàng ngàn người vào các nhà tù lẫn trại khổ sai ở Áo cũng như ở Đức; hàng ngàn người khác bị y ký lệnh đưa đi Buchenwald, Dachau và Auschwitz. Còn tên kia, tôi biết, là kẻ đã bắt cũng hàng bấy nhiêu ngàn người, phần lớn người Do Thái, vào các trại tập trung ở Hungary và Tiệp Khắc. Ấy là chưa kể đến cái gọi là Liên đoàn các chiến hữu, Kameradschaftsbund, đám người bao giờ cũng ngang nhiên diễu hành tại các đám tang; dưới mắt tôi, nó hoàn toàn là một tổ chức Quốc xã, bởi linh hồn của nó nhuốm tính thần Quốc xã từ đầu đến chân, và các thành viên của nó, bất kỳ đi đâu hay đứng ở đâu, hiện giờ đều nghêng ngang không chút ngượng ngùng đeo các tấm huân huy chương Quốc xã trước ngực một cách trơ tráo - và hôm nay, trong đám tang này, họ cũng sẽ trưng chúng ra một cách trơ trẽn, vô liêm sỉ cho mà xem. Thật vậy, tôi ghê sợ hai tên Gauleiter và chưa biết tôi sẽ phải đối mặt với chúng ra sao - những kẻ gọi là bạn hữu của bố tôi, bạn học, bạn vàng, như bố tôi vẫn thường nói, những kẻ mà về sau, thời hậu chiến, ông vẫn giữ quan hệ thân thiết, mặc dù ông vẫn biết đấy rặt là một bọn mật thám và đồ tể cả mà thôi. Tùy biết đó là hạng người nào nhưng bố tôi vẫn che giấu, chu cấp thức ăn thức uống cho chúng, giúp chúng tất tật những gì chúng cần - nói như bố tôi vẫn nói - để qua cơn hoạn nạn. Nghe bảo, ông đã giấu chúng trong ngôi biệt thự trẻ thơ hàng năm tròi mà tụi trẻ con chúng tôi không hề hay biết. Sau này tôi nhớ lại, chúng tôi không rõ vì sao nhiều năm liền không được phép vào ngôi biệt thự ấy nữa, cho đến mãi sau này, bí mật ấy mới lòi ra; hóa ra, vào những năm sau chiến tranh, bố mẹ tôi dùng ngôi biệt thự trẻ thơ làm nơi ẩn náu cho đám bạn bè Quốc xã của ông bà. Họ cố tình giữ làm sao để từ ngoài nhìn vào, ngôi biệt thự trông đổ nát và điêu tàn, như thể hoàn toàn bị bỏ hoang vậy, nhưng ở bên trong ngôi biệt thự, bọn thám báo và giết người cũng như bọn công thần thời Quốc xã mang huân chương huyết thống, Blutorden, đang bị truy nã ung dung sống khá đàng hoàng tháng này qua năm khác, bởi bố mẹ tôi chẳng khi nào phải chịu cảnh thiếu thốn về lương thực thực phẩm cả, thậm chí suốt cả những năm chiến tranh và thời kỳ sau đó, bao giờ trong nhà chúng tôi cũng chất thừa mứa mọi thứ, trong khi đám dân đen còn lại - như mẹ tôi thường gọi - chìm đắm trong đói khát, khốn cùng. Ngôi biệt thự trẻ thơ chắc chắn là nơi ẩn náu của hai lão Gauleiter kia rồi, song, tôi ngờ rằng chẳng riêng hai lão ấy, mà hàng lô hàng lốc bọn sĩ quan ss khác, bạn bè cũ của bố mẹ tôi có lẽ cũng được hưởng sự giàu có dư dả đó của gia đình tôi. Dần dà rồi tôi cũng hiểu rõ hơn về giai đoạn này, một giai đoạn mà đối với tụi trẻ mười ba, mười bốn tuổi như tôi có thể gọi là thời kỳ kỳ quặc và đáng ngờ. Gì thì gì, suốt một dạo, chúng tôi bị nghiêm cấm đặt chân vào ngôi biệt thự đó. Nhưng đến chừng tôi mười lăm tuổi gì đó, nó đã lại được mở ra, vì tôi vẫn nhớ, vào quãng thời gian này, chúng tôi đã chơi đóng kịch ở đó rồi. Cho đến tận ngày nay, mặc dù tôi vẫn yêu thích ngôi biệt thự, nhưng - do những kẻ đã bôi bẩn và xúc phạm nó hôm xưa - tôi không dứt nổi cảm giác e ngại trước sự mờ ám, bí hiểm của nó. Tôi nghĩ bụng, có lẽ bố mẹ tôi đã che giấu và nuôi ăn đám bạn bè đồng chí hướng Quốc xã của ông bà không những chỉ trong ngôi biệt thự trẻ thơ, mà cả trong vô số các lán thợ săn do ông bà sở hữu, thậm chí cả trong khu lán ở Weieregg cũng nên, là nơi - tôi biết - hiểm trở khó ai lần đến được. Bố mẹ tôi bao giờ cũng im lặng giữ kín những việc mờ ám đó, mà nói cho cùng, có muốn cũng chẳng bao giờ moi được ở ông bà điều gì về những chuyện này. Ông bà tuyệt nhiên không hé răng hở ra điều gì, duy có việc ông bà thường xuyên thư từ qua lại với đám này cho đến lúc chết là để lộ ông bà từng quan hệ rất thân thiết với chúng ra sao. Trong những lúc ông bà ngồi cùng một bàn ăn tối với các sĩ quan Mỹ và nâng cốc sâm banh chúc thọ tướng Eisenhower ngay từ các tiệc rượu buổi sáng, thì cách đó vài trăm thước, trong ngôi biệt thự trẻ thơ kia, hai tên Gauleiter đang ngồi không kém thảnh thơi bên nhau, và chắc hẳn, tôi nghĩ, có khi cũng không cần quá thận trọng để phải hạ giọng khi nâng cốc chúc nhau ngon miệng. Tôi tự nhủ, xưa nay Wolfsegg vốn vẫn là chốn đồi bại, và bố mẹ tôi đã đẩy nó đến ngưỡng tột cùng của sự đồi bại đó. Chắc hẳn bọn thợ săn là bọn được biết bí mật đáng tởm này của Wolfsegg, chứ chuyện này, tôi cầm chắc vậy, họ chẳng bao giờ dám hé ra cho cánh thợ làm vườn biết. Vậy mà bây giờ tôi phải đón tiếp bọn người này, tôi thầm nghĩ, chẳng còn cách nào khác. Hiện nay bọn chúng sinh sống đàng hoàng và hoàn toàn bình yên vô sự, như thiên hạ vẫn nói với nhau, ở khắp mọi miền mọi nẻo đẹp nhất trên đất nước Áo, và hưởng những khoản tiền hưu trí kếch xù do Nhà nước cấp. Có điều, xã hội ngày nay đáng phải chịu thế, tôi nghĩ bụng, nó đáng phải chịu sự thối tha đó, bởi chính nó cũng thối tha từ trong ra ngoài. Nói cho cùng, tôi tự nhủ, chính bọn người này, bọn Gauleiter, bọn sĩ quan SS, bọn công thần Quốc xã mang huân chương huyết thống ấy, là những con người của xã hội đó đẻ ra. Chính chúng là bọn mà ngày nay, vâng đúng là ngày nay, được những người gọi là đồng bào của tôi tôn thờ, tôn thờ hơn cả ngày xưa, chứ không phải chỉ như người ta vẫn thường bảo nhau - vẫn tôn thờ như dạo trước đâu; chính bọn Quốc xã ấy là bọn hiện giờ được người ta ngưỡng mộ và thầm coi làm lãnh tụ của mình. Hóa ra, tôi thầm nghĩ, bây giờ tôi phải bắt tay chính bọn lãnh tụ ngầm này của đồng bào tôi. Tôi sẽ không thể ngăn cấm bọn lãnh tụ bí mật này của đồng bào tôi leo lên đứng hàng đầu khi đoàn đưa ma cất bước. Chỉ mới nghĩ đến viễn cảnh đáng hổ thẹn thật sự kinh tởm đang chờ đón mình thôi, ngay bây giờ, tôi đã phát buồn nôn. Với nét mặt không giấu nổi hả hê, bọn em gái tôi cất tiếng kể tên những ai sẽ đến dự đám tang, và tất nhiên, ngay đầu tiên là tên hai lão cựu Gauleiter, cũng nhu đám cựu sĩ quan SS cùng bọn công thần Blutorden hôm xưa. Song, ngươi phải vượt qua những trò này, tôi thầm đe chính mình. Bọn Gauleiter cùng đám sĩ quan ss và công thần Blutorden ấy, như tôi biết, lui tới, ăn dầm ở dề tại Wolfsegg không phải dăm ngày hay vài ba tuần, mà hàng chục năm trời, khiến chú Georg tôi lúc nào về nhà, nơi chôn rau cắt rốn, cũng cảm thấy kinh hãi. Cả tôi cũng vậy, cứ nghe nói bọn người kia đến chơi là tôi lại buộc lòng phải cuốn gói ra đi. Sánh cùng Thiên chúa giáo, chủ nghĩa Quốc xã là căn bệnh hiểm nghèo nhất của nước Áo, cũng giống như chủ nghĩa phát xít, sánh cùng Thiên chúa giáo, là căn bệnh kinh khủng nhất ở Ý. Thế nhưng ở Ý mọi sự đều khác. Cho đến giờ, dân Ý không để chủ nghĩa phát xít lẫn Thiên chúa giáo ăn tươi nuốt sống mình, còn ở Áo thì ngược lại, dân Áo đã bị hai căn bệnh hiểm độc kia nuốt chửng. Đằng sau các vị Giám mục, trong số đó, có hai vị Tổng Giám mục - mà Spadolini là Tổng Giám mục chính - sẽ là hai cựu Gauleiter cùng các cựu sĩ quan SS và đám mang huân chương huyết thống bước theo, với những bước đi đều đặn. Tiếp theo sau, tôi nghĩ, sẽ là đám dân chúng Quốc xã của chúng tôi. Và dàn nhạc Quốc xã Thiên chúa giáo sẽ chơi nhạc đệm. Rồi các loạt đạn Quốc xã khắc được bắn lên liễn biệt, chen vào sẽ là tiếng đệm của chuông Nhà thờ Thiên chúa giáo. Và, nếu chúng tôi gặp may, tôi nghĩ bụng, thì mặt trời Quốc xã Thiên chúa giáo của chúng tôi sẽ chói chang suốt buổi đưa tang hoặc, nếu không may, trời sẽ đổ cơn mưa Quốc xã Thiên chúa giáo. Cả bọn em gái lẫn ông anh Johannes tôi, dù đã đến tuổi thiếu niên cả rồi, đều không hay biết gì về mặt mờ ám đó của Wolfsegg. Chính sự đần độn của bọn em gái tôi càng giúp bố mẹ tôi dễ dàng che đậy mọi sự. Đến khi chúng tôi mười lăm, mười sáu tuổi gì đó và bỗng dưng lại được phép bước chân vào ngôi biệt thự trẻ thơ, thì tất nhiên, chúng tôi đều tò mò và gặng hỏi, vì sao lâu nay chúng tôi không được vào đây, vâng, tại sao chúng tôi không những bị cấm bước vào, mà thậm chí còn bị cấm bước đến gần nữa kia. Bố mẹ tôi, hai cựu đảng viên, không đáp. Song, tất nhiên, ông bà cũng không giữ kín được bí mật ấy mãi. Đến một hôm, cây kim trong bọc cũng lộ ra. Chả là, một trong hai lão Gauleiter hôm đó đến Wolfsegg chơi, và ngay từ dưới tiền sảnh, đã mở mồm bô bô tán dương - ngay trước mặt tôi - về những năm tháng lão lẩn lút trong ngôi biệt thự trẻ thơ, những năm tháng mà lão bảo là tuyệt vời nhất trong cuộc đời lão. Tôi đứng gần ngay cạnh và nghe được, rằng lão cùng mấy công thần Blutorden và bạn bè đồng đội khác từng ở trong ngôi biệt thự trẻ thơ bốn năm liền. Chao ôi, họ đã ăn ngon lành phè phỡn ra sao, đã uống say sưa thả cửa như thế nào. Tôi cũng được chứng kiến cảnh lão bày tỏ lòng biết ơn vô tận với mẹ tôi, và không chịu yên, khi thấy mẹ tôi - do sự có mặt của tôi ở đó - cứ một mực gạt đi, không muốn nghe lão nhắc tới những chuyện đó. Lão Gauleiter lại càng hăng, lớn tiếng hùng hồn bày tỏ cho bằng được lòng biết ơn của hắn. Lão xuýt xoa gợi nhớ không khí trong lành ở Wolfsegg, lão tấm tắc khen ngợi cả trứng gà lẫn sữa tươi vắt từ đàn bò ở ngay Wolfsegg mà ngày ngày mẹ tôi vẫn tự tay mang sang ngôi biệt thự trẻ thơ cho lão và đồng đội. Chen vào những lời cảm tạ không ngớt, chốc chốc lão Gauleiter lại dừng, cất tiếng cười oang oang cả gian tiền sảnh. Hiện giờ lão sống ở Altaussee và hưởng lương hưu hàng tháng do Nhà nước trả; khoản lương hưu này, cũng giống như mọi khoản lương hưu khác của nhà nước Áo, cứ nửa năm một lần lại tự động tăng lên bốn hay năm phần trăm gì đó, và được Nhà nước - như thiên hạ đồn đại - ngang nhiên chi trả cho lão từ đúng ba mươi năm trước, sau khi - cũng theo lời thiên hạ đồn đại - giấu nhẹm các tội ác dã man của lão và thản nhiên hủy bỏ các vụ kiện cáo chống lại hắn. Và tôi chợt nhớ đến ông thợ mỏ Schermaier ở Kropting, ngôi làng nằm phía dưới Wolfsegg, một người mà mỗi khi muốn thoát khỏi bầu không khí tuyệt vọng ở Wolfsegg tôi vẫn tìm đến trò chuyện. Đến tận giờ, tôi vẫn thân thiết với con người này hơn với bất cứ ai khác ở quanh Wolfsegg, bao giờ về Wolfsegg, tôi cũng lại đến thăm ông. Ngoài nghề thợ mỏ, ông Schermaier còn cùng với vợ làm chủ một điền trang nhỏ, với ba con bò sữa. Dạo mấy năm đầu chiến tranh, ông bị tay hàng xóm tố giác, vì tội nghe đài Thụy Sĩ. Vâng, tay hàng xóm, vốn cũng là bạn thân từ thời đi học của ông, đã tố ông ra tòa nên ông bị bắt, trước hết bị nhốt vào trại giam ở Garsten, rồi sau đó, bị tống vào chi nhánh đặt tại Hà Lan của một trại tập trung do quân Đức dựng lên. Như thế, chính tay hàng xóm, và cũng là bạn học thân nhất của ông hôm xưa ấy, đã đuổi ông ra khỏi nhà và đẩy ông suốt hai năm trời vào một trong những nhà tù và trại tập trung giết người, mà chính những tên Gauleiter này, những tên Gauleiter ngày mai sẽ đến đây dự lễ tang, từng gây nợ máu. Ông Schermaier bị tố cáo ra tòa, rồi bị tống vào trại cải tạo, vào trại giam, vào trại tập trung, thế nên, tôi nghĩ, cuộc đời ông không ít thì nhiều chắc hẳn bị hủy hoại. Sau này, chẳng ma nào xem xét lại vụ án này, ông cũng không nhận được chút bồi thường nhỏ nhoi nào cho những năm tháng lao tù thảm khốc ông phải chịu đựng. Chiến tranh kết thúc, kẻ từng tố giác ông, từng gián tiếp đẩy ông vào cảnh lao tù và trại tập trung đó, quỳ gối cầu xin ông tha tội, xin ông đừng trả thù. Ông Schermaier không trả thù, không hé răng nói nửa lời, với bất cứ ai, về những năm tháng đó, riêng có bà vợ, thỉnh thoảng, những khi tôi có dịp ghé thăm và cùng ăn với họ bữa ăn đạm bạc, vẫn ngậm ngùi nước mắt, bởi cho đến tận ngày nay, bà vẫn không thể quên nỗi đau dạo ấy. Ông Schermaier không được bồi thường xứng đáng; có chăng, ông chỉ được Nhà nước - bằng một cách đáng tởm lợm - bố thí cho mỗi một khoản tiền ít ỏi đến lố bịch, gọi là để đền bù nỗi đau khổ mà bọn hung thần Quốc xã gây ra cho ông; vậy mà, trong khi đó, tôi nghĩ bụng, tên phạm tội giết người hàng loạt hiện giờ đang sống ở Altaussee kia, lại được chính Nhà nước ấy hàng tháng chuyển vào ngân khoản một khoản lương hưu khổng lồ, đủ bảo đảm cho hắn cuộc sống xa hoa nhàn hạ. Nhà nước đã hạ nhục ông Schermaier và sẽ chẳng bao giờ ngừng làm nhục ông ấy, tôi thầm nghĩ, còn tên phạm tội giết người hàng loạt đang sống ở Altaussee lại được cũng chính Nhà nước ấy, chẳng bao lâu sau khi chiến tranh kết thúc, khôi phục mọi quyền gọi là quyền công dân, và qua đó, thừa nhận các hành vi lẫn chính kiến của hắn. Tôi căm thù Nhà nước này, tôi tự nhủ, tôi không thể làm gì khác hơn là căm ghét cái Nhà nước này và không muốn phải dính dáng, hay ít nhất, cũng chỉ dính dáng ở mức đủ cần thiết mà thồi. Nhà nước này đã không biết bao nhiêu lần phơi bày sự bạc nhược tuyệt đối của nó, đến mức không thể thừa nhận nó được nữa, dù cho nó ngày này qua ngày khác, ở mọi nơi mọi chỗ và trong mọi cơ hội để ra rả tự xưng mình xã hội chủ nghĩa, tiến bộ, hay dân chủ cũng vậy. Nhà nước này thật đáng kinh tởm, thật bạc nhược và trơ trẽn, tôi nghĩ bụng, một Nhà nước không bao giờ biết hổ thẹn về sự gớm ghiếc, sự bạc nhược và trâng tráo của chính mình, mà thậm chí còn dám ngang nhiên vênh váo khoe khoang phơi bày bộ mặt gớm ghiếc ấy ra mọi nơi mọi lúc. Đó là thứ Nhà nước gì mới được, tôi tự hỏi, khi nó tháng tháng gửi một mớ bộn tiền hưu trí về nhà cho kẻ từng phạm tội giết người hàng loạt, gắn lên ngực hắn, trao vào tay hắn hàng đống huy hiệu danh dự hay bằng khen các loại, nhưng không màng gì đến ông Schermaier? Đó là thứ Nhà nước gì mới được, khi nó cho phép kẻ phạm tội giết người hàng loạt tiếp tục sống trong xa hoa, còn ông Schermaier thì nó bỏ quên? Lúc nào rảnh, mình phải đến thăm ông Schermaier mới được, tôi tự nhủ, rồi bước ra ngoài. Ban nhạc vẫn tiếp tục tập bản nhạc của Haydn; thợ làm vườn đang kéo chiếc xe tang Wolfsegg từ nhà quản sự sang khu nhà kính. Gã chủ xưởng nút chai rượu vang đứng ngáng giữa đường, họ xua gã ra chỗ khác, gã ngoan ngoãn tránh sang một bên. Bọn em gái tôi đều đang ở trong nhà kính. Tôi lưỡng lự, không biết nên hay không nên vào đó. Ông Schermaier không phải người theo đạo Thiên chúa giáo, cũng không theo Quốc xã, tôi nghĩ bụng. Người như Schermaier không nhiều, nhưng vẫn có. Cũng không nhiều những người đàn bà như bà Schermaier, nhưng vẫn có. Nếu cố tìm, cũng khó thấy họ ở đâu, nhưng vẫn có họ trên đời. Cuối cùng tôi cũng đành bước vào nhà kính. Hai đứa em gái tôi đang đứng trước mấy cỗ quan tài và loay hoay chỉnh các ruy băng của vòng hoa cốt sao cho những dòng chữ in trên đó lộ hẳn ra cho dễ đọc. Hai lão Gauleiter đã kịp gửi vòng hoa đến viếng tự bao giờ. Giá mà được, hẳn bây giờ tôi đã mở nắp áo quan mẹ tôi đang nằm ra; nhưng tất nhiên tôi không được mở. Tuy nhiên, trong đầu tôi cứ lởn vởn ý nghĩ tôi muốn ngó vào bên trong áo quan mẹ tôi đang nằm. Tôi chợt nghĩ, cái từ đang nằm nghe thật quái đản. Khuôn mặt bố tôi trông móp xọp và xám xịt, bắt đầu lốm đốm các vết màu vàng mà lúc nãy tôi chưa thấy lộ ra. Johannes thì không thể nhận ra nữa, khuôn mặt hoàn toàn lạ lẫm, quái dị. Thợ làm vườn đã đem vài tảng băng khá lớn lót xuống phía dưới những tấm khăn liệm màu đen, cốt hãm quá trình thối rữa lại; nhưng chỉ nhìn thoáng qua cũng thấy, băng đá cũng chẳng hãm được bao nhiêu. Mùa này, xác người chết càng khó giữ được lâu. Băng đá hẳn họ mua ở xưởng bia Grieskửchen về. Mấy cỗ áo quan chắc phải loại đắt tiền đây, loại đắt nhất cũng nên, tôi nghĩ bụng. Nhưng được cái, không trang trí lòe loẹt gì. Gỗ mộc, thế thôi. Cả tay bố tôi lẫn tay Johannes họ chắp lại trước ngực, cũng là theo tục lệ thôi, tôi tự nhủ, nhưng tôi khó chịu thấy tay hai người chắp lại như thế. Họ mặc cho bố tôi bộ y phục vùng Steyr, bộ có nẹp dài dọc ống quần và gắn khuy to bằng sừng hươu ở ve áo, còn ông anh tôi - bộ quần áo thợ săn anh ấy vẫn thích, từng mua ở Brussel. Tôi bước đến gần các cỗ quan tài hơn nữa, hai em gái tôi tránh sang một bên nhường chỗ. Cái vẻ tự tin của tôi khi đứng trước các cỗ quan tài chắc khiến chúng nó khó chịu lắm, hay ít nhất cũng làm chúng nó bối rối; tự tôi, tôi cũng không cảm thấy chút xúc động nào trong lòng. Tôi cứ tưởng tôi sẽ run lên, nhưng mọi chỗ trên người tôi đều như bất động. Tôi lặng lẽ ngắm hai xác chết như thể họ chẳng dính dáng gì đến tôi, hoàn toàn xa lạ với tôi. Họ chẳng còn diện mạo gì nữa cả, vâng, đến vẻ mặt họ cũng chẳng còn nữa. Họ đang thối rữa rất nhanh, tôi tự nhủ. Phải sớm đem chôn thôi, nếu không bầu không khí ở đây sẽ ô nhiễm hết cả; trong nhà kính đã ngập ngụa mùi thân xác họ, mùi thịt thối ngòn ngọt đến khiếp đảm, cái mùi mà ngay từ hồi còn nhỏ, mỗi khi phải theo mẹ đến những nơi quàn người chết, tôi đã không sao chịu nổi ấy. Vâng, từ hồi còn nhỏ, tôi đã không chịu nổi xác người chết, nhưng mẹ tôi bao giờ cũng bắt ép tôi phải chứng kiến, bắt tôi theo bà dự các lễ mai táng hay nghi lễ khâm liệm, chứ anh Johannes, bà không bắt đi bao giờ. Tôi không rõ tại sao, cứ nhất thiết phải tôi mới được, chứ anh Johannes thì không. Chẳng bao lâu, xác người chết đâm ra chẳng gì đáng lạ đối với tôi, thế nhưng ngắm nghía xác người chết bao giờ cũng là do mẹ tôi bắt buộc, chứ tự nguyện, thì tất nhiên, không khi nào tôi muốn. Hai đứa em gái đứng ngay sau lưng tôi, tôi có thể nghe thấy chúng nó thở ra sao, nhưng tôi không biết, chúng nó đang nghĩ gì. Hẳn chúng nó đang nghĩ tôi là đồ máu lạnh, kẻ vô cảm, như chúng nó vẫn luôn nghĩ về tôi; chúng nó chẳng vẫn gọi tôi là kẻ lạnh lùng, vô cảm đấy thôi. Tôi không phán quyết được, liệu chúng nó gọi tôi như thế là đúng hay sai. Song, đứng bên các cỗ quan tài, tôi không hề lạnh lùng, cũng không hề vô cảm, mà ngược lại, tuy tôi đứng trơ đuỗn và toàn thân bất động, tôi vẫn phải thú thật, lòng tôi rối bời, nếu từ này không quá xỏ xiên. Đứng bên thi hài bố mẹ tôi, tôi tự nhủ, chưa bao giờ tôi cầu mong bố mẹ tôi phải chết. Trong đầu tôi chưa từng bao giờ có ý nghĩ, ông bà phải chết; vâng, bây giờ đứng trước họ, tôi thầm nói với mình, đúng, tôi đã chửi rủa, đã xỉ vả ông bà, tôi khinh bỉ ông bà, không phải coi thường, mà khinh bỉ hẳn hoi và tôi hoàn toàn có cớ, hay như người ta nói - có cả lý cả tình - để khinh rẻ ông bà, nhưng tôi không bao giờ mong ông bà chết đi. Cái chết của ông bà thật kinh khủng. Còn anh Johannes, anh ấy mất đi là tôi cũng mất đi người bạn thời thơ ấu, song thời ấy đã lùi quá xa vào quá khứ, những hơn ba chục năm, tôi nghĩ bụng, nên tôi chẳng thấy có cớ gì để khóc thương gã Johannes đã qua đời này. Lẽ ra, âu cũng vì các em gái tôi đứng sau lưng, và đang thầm mong đợi tôi sẽ khóc, sẽ ngậm ngùi, sẽ rơi lệ - như người ta vẫn nói - có thể tôi cũng nên nhỏ đôi giọt nước mắt thật, nhưng không, tôi không khóc, không sụt sùi rơi lệ, tôi cứ đứng đực ra đó, trơ trơ, bất động. Rồi tôi bước đến bên quan tài mẹ tôi và - không rõ vì sao, đột nhiên tôi lại có ý định như thế - loay hoay định mở nắp quan tài ra. Nhưng mở không được, nắp quan tài đã bắt vít chặt mất rồi. Lúc tôi thôi, không định mở nắp quan tài nữa, và bước lùi lại, tôi linh cảm thấy ngay, việc tôi vừa định làm đã khiến hai đứa em gái tôi ngượng ngùng, bối rối; tôi quay phắt người về phía chúng, làm hai đứa bất ngờ, và nhờ đó, tôi vẫn kịp thấy những nét cay đắng, pha lẫn kinh hãi, chưa kịp tan trên gương mặt hai đứa. Đến lúc này, tôi không thể đứng lâu hơn bên các cỗ quan tài được nữa, tôi bèn quay người, đi ra khỏi khu nhà kính. Tôi hỏi một anh thợ làm vườn, tại sao nắp quan tài mẹ tôi lại bắt vít chặt như thế. Anh ta trả lời, cỗ quan tài đã được bắt vít chặt như thế ngay từ khi nhà đòn đám ma đưa linh cữu về Wolfsegg. Hai cỗ kia không bắt vít, chỉ quan tài mẹ tôi thôi. Vâng, phải rồi, tôi bảo anh thợ làm vườn, tất nhiên rồi. Người ta cho xác người bị chặt khúc, thi thể bị đứt đầu vào áo quan rồi bắt vít thật chặt ngay, tôi nghĩ bụng. Để không ai nhìn thấy thân thể bị chặt đứt thành khúc ấy nữa. Thế mà, tôi tự nhủ, tôi lại có ý muốn đó. Và tất nhiên, mình sẽ không bắt mở quan tài ra nữa, tôi nghĩ bụng. Trong giây lát, tôi đã nảy ra ý định bảo người ta mở áo quan ra lần nữa; thậm chí tôi đã cân nhắc nên sai bảo người ta như thế nào, nhưng rồi tôi lại tự cấm mình, thôi, đừng có mà nuôi ý định ấy nữa; sai người mở quan tài ra để nhìn thân xác mẹ bị chặt thành khúc, quả thật, sẽ là một việc quái gở kinh khủng, nhưng tôi không sao xua được ý nghĩ đó đi, ý nghĩ bảo cánh thợ làm vườn mở áo quan ra, tôi nghĩ bụng, mở làm sao để tụi em gái tôi không nhìn thấy. Tôi không sao dứt khỏi được ý nghĩ phải cho người mở nắp quan tài mẹ tôi ra và với ý nghĩ đó trong đầu, tôi cứ thế đi tới đi lui trước nhà kính, trong lúc tụi em gái tôi vẫn còn lưu lại trong đó. Tôi phải từ bỏ bằng được ý định của mình và tìm mọi cách tự kéo mình ra khỏi ý nghĩ ấy, chẳng hạn, bằng cách vẫy một anh thợ làm vườn đến gần để hỏi xem, mấy tảng băng đặt dưới các xác chết có đủ dùng đến sáng mai không. Thông thường, các đám tang đều cử hành lúc mười một giờ, nhưng đám tang ngày mai sẽ cử hành lúc mười giờ; cứ người nhà, thì bao giờ đám tang cũng cử hành lúc mười giờ. Anh thợ làm vườn đáp, băng lạnh vẫn còn đủ cho cả bốn ngày nữa. Anh ta ngạc nhiên thấy tôi gọi đúng tên anh ấy. Mọi người đều tưởng, cứ đi xa vài năm là ta quên mất tên họ là gì. Riêng tôi lại có tài nhớ tên người rất giỏi, cho nên tôi nhớ tên anh ta, cả tên những người khác, tôi đều nhớ. Tôi định nói chuyện một lúc với anh thợ làm vườn để quên ý nghĩ kinh khủng muốn cho người mở nắp quan tài mẹ tôi ra; nhưng không được, bởi vài ba câu ngắn ngủi qua lại như thế chưa đủ. Tôi bèn gợi chuyện với anh thợ làm vườn - lúc đó đang bận dọn rác trên khoảnh đất rải sỏi trước khu nhà kính - tôi hỏi, chắc anh vẫn còn nhớ thời anh với tôi cùng đi học với nhau. Anh ta đáp, vâng, nhớ ạ. Tôi lại kể thêm tên vài người bạn học, anh ta cũng nhớ thêm một số người khác. Tôi nhắc anh một số kỷ niệm dễ chịu, thậm chí buồn cười thời đi học, khiến anh bật cười, song, trong giây lát, lại tắt ngay tiếng cười khi nhìn thấy hai đứa em gái tôi - do không ngờ tôi đang đứng ngoài nhà kính tán chuyện với anh thợ làm vườn - xăm xăm bước ra. Mặc kệ hai đứa em gái đứng bên, tôi vẫn tiếp tục kề cà chuyện này chuyện nọ của thời đi học với anh thợ làm vườn, trong bụng chỉ cốt làm sao quên ý định cho người mở quan tài mẹ ra. Nhưng càng cố quên đi, tôi lại càng bị chính ý nghĩ đó ám ảnh; tôi viện cớ, thì cũng phải kiểm tra xem thật sự ai nằm trong quan tài chứ, xem có phải chúng tôi thật sự chôn cất mẹ, tức mẹ nguyên vẹn không, hay chỉ vài khúc của thi thể bà. Miệng hỏi anh thợ làm vườn, một tảng băng như thế nặng bao nhiêu, nhưng đầu óc tôi lại không dứt băn khoăn cùng ý nghĩ, biết đâu trong quan tài mà tôi tưởng nguyên vẹn mẹ tôi đang nằm kia, sự thực, lại không phải nguyên vẹn thi thể mẹ tôi, nhưng nào tôi có dám nói ý nghĩ ấy ra thành lời với ai, ngay cả với chính mình còn không dám nữa là. Hai đứa em gái tôi đứng tách ra một bên, không tham dự vào câu chuyện của tôi với anh thợ làm vườn. Đúng ra, chúng nó chẳng bao giờ chuyện trò với thợ làm vườn về những chuyện riêng tư, chẳng bao giờ quan tâm, hỏi han xem họ sinh sống thế nào, và tất nhiên, chúng chẳng bao giờ nhớ tên ai trong số họ, tôi nghĩ bụng, cũng như không nhớ tên bất cứ người làm thuê nào khác ở Wolfsegg. Có lẽ, chúng nó cũng không khi nào nghĩ đến chuyện bàn bạc với thợ làm vườn những việc không dính gì đến công việc của họ. Riêng một cớ ấy thôi, đã làm tôi càng muốn kéo dài câu chuyên với anh thợ; tôi hỏi anh ta - cốt để hai đứa chúng nó nghe thấy, nhưng ngoài mặt vẫn làm ra vẻ phớt lờ chúng nó - bố anh mất khi nào - chả là, dạo xưa, lúc tôi mới năm, sáu tuổi gì đấy, bác ấy từng đẽo cho tôi cái còi bằng gỗ hazel. Hai năm rồi ạ, anh ta đáp. Thật ra, nào tôi có quan tâm đến việc bố anh mất lúc nào đâu, tôi chỉ hỏi thế để không nghĩ đến ý định quái gở của tôi về cỗ quan tài mẹ tôi nữa mà thôi, đồng thời, cũng là để tránh xa và trừng phạt hai đứa em, mặc dù ngay lúc ấy, tôi cũng chẳng biết tôi định phạt chúng nó vì tội gì-Suốt từ nãy đến giờ, tôi cứ luôn mồm nói chuyện với anh thợ làm vườn mà trong đầu không sao dứt khỏi được ý nghĩ phải cho mở cỗ quan tài mẹ tôi ra. Rồi vẫn làm ra vẻ lờ hai đứa em gái và cố tình kéo anh thợ làm vườn sâu mãi vào câu chuyện, nhưng cũng cốt để hai em tôi phải nghe thấy, tôi bảo anh ta, kể cũng lạ, trong điều kiện làm việc như ở Wolfsegg mà anh vẫn trụ lại nhiều năm như thế. Điều kiện làm việc ở Wolfsegg từ xưa đến giờ vẫn khó khăn, tôi chỉ nói có vậy, không thêm gì hơn; nhưng thực ra, tôi cũng chẳng cần nói thêm, bởi vì riêng giọng tôi dùng lúc ấy, lúc tôi bảo các điều kiện làm việc ở Wolfsegg luôn luôn khó khăn, đã đủ nói hết những gì tôi muốn nói rồi. Anh thợ làm vườn cũng hiểu ý tôi ngay, bởi nói như thế, tôi muốn ám chỉ các ông bà chủ ở đây, từ hàng chục năm nay, vâng, thậm chí hàng trăm năm nay, bao giờ cũng gây khó dễ cho họ. Vậy mà, tôi nói, gia đình tôi, vâng, tất cả chúng tôi, ai chả được hưởng lợi khi có những người làm công tốt như anh. Tôi biết thừa, hai con em tôi dỏng tai nghe. Chúng nó cố tình đứng sao cho không phải nhìn sang phía chúng tôi, nghĩa là quay lưng lại. Caecilia di di mũi giày xuống đất, như thể định viết chữ gì đó lên luống đất, theo thói quen của nó từ hồi còn bé. Nó nói gì đó với Amalia tôi nghe không ra, nhưng sự thực chúng nó chỉ làm bộ thế thôi, chứ cả hai đều đang cố dỏng tai lên nghe xem tôi nói gì với anh thợ làm vườn. Rốt cuộc, ba anh em chúng tôi suốt từ nãy đến giờ chỉ độc làm bộ làm tích, mượn cớ này lấy cớ khác để rình nhau, nghe trộm nhau mà thôi. Và tôi chợt nghĩ, cũng như tôi, nói cho cùng, tôi lợi dụng anh thợ làm vườn để quên cái ý nghĩ khủng khiếp đòi mở quan tài thế nào, thì hai đứa chúng nó cũng lợi dụng lẫn nhau để rình tôi như thế. Tôi chia tay anh thợ làm vườn rồi quay đến nhập bọn với hai đứa, trong bụng thầm mong chúng nó sẽ giúp tôi gạt bỏ được ý nghĩ khủng khiếp kia ra khỏi đầu óc, giúp tôi bóp nghẹt ý muốn không thể chấp nhận được ấy của mình. Tôi nghĩ bụng, may ra thói mau miệng, liến thoắng lắm lời của chúng nó - có lẽ do nỗi bất hạnh kinh khủng này gây ra - sẽ giúp mình quên ý nghĩ đó đi. Tôi rủ hai đứa sang ngôi biệt thự trẻ thơ một lát. Tự tôi, tôi cũng không rõ, do đâu tôi lại rủ chúng nó như thế. Ba anh em cùng đi sang ngôi biệt thự. Trên đường đi, tôi chợt nghĩ, ông Schermaier chẳng bạo giờ nhắc đến chuyện ông ấy bị cầm tù hết trại giam này, đến nhà tù khác và trại tập trung ở Hà Lan cả. Và, nếu ông ấy đã không nói gì, tôi nghĩ, thì khi nào viết quyển Diệt vong mà tôi vẫn dự định viết từ lâu, tôi sẽ viết về ông Schermaier, về nỗi bất công ông ấy từng phải chịu, về các tội ác người ta gây ra cho ông. Mỗi khi phải nhớ lại cái thời cay đắng và bất hạnh ấy, bà vợ ông Schermaier vẫn thường rưng rưng nước mắt, nhưng bà chẳng bao giờ nói ra vì cớ gì mà bà ngậm ngùi. Bởi vậy, đó sẽ là bổn phận của tôi, phải nhắc đến họ trong quyển Diệt vong, phải hướng dư luận chú ý đến họ - dù gì hai người cũng đại diện cho biết bao nhiêu người khác, những người đôi khi chỉ dám lặng lẽ khóc thầm, chứ không bao giờ nhắc đến các nỗi đau khổ của họ dưới thời phát xít - tôi phải viết về gia đình Schermaier, nạn nhân của các tư tưởng và hành vi Quốc xã, của các tội ác do chủ nghĩa Quốc xã gây ra, những tội ác hiện giờ người ta cố tình ỉm đi, không nhắc đến, sau hàng chục năm che đậy, bưng bít hết sức lã càng. Tôi sẽ không viết gì khác về ông Schermaier, ngoài sự thật hiển nhiên rằng cái xã hội Quốc xã này có thể ngang nhiên phá hoại, nếu không phải là xé nát đời ông, mà không ngại bị trừng phạt. Trên đường đến ngôi biệt thự trẻ thơ, tôi tự hứa với mình, trong cuốn Dit vong, nếu không trả lại được cho ông những quyền lợi vốn bị xã hội này tước đoạt, thì ít nhất, theo cách của tôi, tôi sẽ phải hướng dư luận chú ý đến ông. Tôi nghĩ bụng, Diệt vong sẽ cho tôi cơ hội tuyệt vời làm việc đó, nếu quả thực, đến lúc nào đó, tôi đủ sức đưa nó lên mặt giấy. Mải nghĩ đến ông Schermaier, quả nhiên, tôi quên ý muốn khủng khiếp đòi mở quan tài mẹ tôi ra. Đến bên biệt thự, lúc các em tôi loay hoay mở khóa, tôi bảo chúng nó, đầu óc tôi nãy giờ chỉ mải nghĩ đến ông bà Schermaier, hai người chúng nó cũng rất biết; tôi chẳng ngần ngại bảo đấy là những người tốt nhất tôi biết trên đời này và chính họ lại là những người bị bóng ma kinh khủng của chủ nghĩa Quốc xã hãm hại. Lúc Caecilia vừa mở cửa, tôi bảo, chính thằng bạn học thân nhất tố giác ông ấy, đê hèn phản bội ông ấy, đẩy ông ấy vào cảnh lao tù và trại tập trung. Đầu óc tôi không sao dứt khỏi chuyện này. Ở Rome, tôi vẫn hay nằm chong mắt trên giường và không ngớt nghĩ ngại về chuyện dân tộc mình đã hàng ngàn lần, thậm chí hàng trăm ngàn lần, gây tội ác như thế, nhưng bao giờ cũng nín lặng về các tội ác đó. Nhưng, sự nín lặng của dân mình về ngàn lần, trăm ngàn lần gây tội đó, tôi bảo các em tôi, lại chính là tội ác lớn nhất. Chính sự câm lặng của dân tộc này, tôi nói, mới là cái nham hiểm nhất. Chính sự câm lặng này mới là điều kinh khủng, tôi bảo vậy, còn kinh khủng hơn chính tội ác kia nhiều. Và chỉ cần nghĩ đến việc tôi phải đón tiếp bọn sát nhân ấy thôi! Tôi rên lên. Tôi sẽ không bắt tay chúng đâu, tôi gằn giọng. Tôi không ngăn chúng đến dự đám tang được, tôi nói, nhưng tôi sẽ không chìa tay cho chúng. Bởi làm như thế, tôi cũng sẽ phạm tội! Bố mẹ mình đã che giấu chúng ở đây, chính trong ngôi biệt thự trẻ thơ này, ngôi biệt thự ưa thích nhất của chúng mình thời con trẻ, đã chu cấp cho chúng sống trong xa hoa, trong khi xung quanh mọi thứ cực kỳ khan hiếm. Ông bà chẳng bao giờ lấy đó làm điều hổ thẹn, không, ngược lại, ông bà còn tự hào về cái trò đê hèn đó là đằng khác. Bọn em tôi đứng lặng im, không nói một lời. Bố mẹ mình cũng phạm tội đấy, khi ông bà chứa chấp, che giấu bọn người độc ác này, tôi nói tiếp, cái bọn đáng lẽ phải đưa ra kết tội trước tòa. Và nhẽ ra phải bị tử hình mới đáng! Không biết những con người như ông Schermaier sẽ nghĩ gì, khi phải chứng kiến cảnh bọn sát nhân đó được đối đãi ra sao, khi thấy bọn hàng ngàn lần phạm tội sát nhân ấy chẳng những được tự do chạy đi chạy lại, mà còn được sống trong xa hoa, trong khi chính các nạn nhân như họ lại bị bỏ rơi trong quên lãng, lại bị bỏ mặc trong cảnh đói nghèo. Nhà nước này cũng y hệt như gia đình ta vậy, được sinh ra cốt để dung túng các tội ác của bọn Quốc xã, mà Nhà thờ Thiên chúa giáo, tôi bồi thêm, cũng chẳng tốt đẹp hơn. Nó chỉ hành động làm sao có lợi cho nó là được, nó câm lặng, khi cần cất tiếng phản kháng, tôi nói, khi tình hình trở nên gay cấn thì chui rúc, nấp trốn ra sau lưng Chúa Jesus, lợi dụng Ngài, như từ cả ngàn năm nay vẫn từng lợi dụng. Tôi cảm thấy ghê tởm bọn người đó, bọn sẽ cúi đầu đi sau linh cữu, chẳng những đã được hoàn toàn xóa tội, mà ngược lại, còn được xã hội kính trọng. Tôi - tôi gằn giọng - tôi sẽ tránh tất cả bọn người xưa nay tôi vẫn căm ghét đó, theo cách của tôi, tôi sẽ không để họ sán đến gần; tôi là tôi, chứ có phải bố tôi, hay mẹ tôi đâu! Ngôi biệt thự trẻ thơ gần như trống không. Tôi nghĩ bụng, không biết mấy bức tranh đẹp, năm ngoái tôi còn thấy treo hai bên tường gian tiền sảnh nay đem đi đâu rồi. Mẹ tôi nghe đâu đã đem bán những bức tranh do tổ tiên vẽ ấy cho một tay buôn đồ cổ ở Weis, như tôi đoán được ngay, với giá rẻ mạt. Vì mẹ tôi hoàn toàn mù tịt về các tác phẩm nghệ thuật, cho nên tôi đã phải xót xa, tiếc rẻ không biết bao nhiêu lần. Bố tôi chẳng để tâm tới tranh treo trong nhà, chỉ khi nào có ai mách ông, bức tranh nào hết sức quý giá, thì ông mới ừ hử để tâm. Mẹ tôi cũng vậy thôi, không hơn gì. Hai ông bà đều không có mắt nghệ thuật. Chính vậy cho nên các bức tường ở tầng dưới trong ngôi biệt thự trẻ thơ trở nên lạnh lẽo, trống trải, mặc dù tôi còn nhớ, năm ngoái vẫn còn cuốn hút lắm. Thế nhưng, tôi nghĩ, do chứa chấp, che chở hai tên giết người hàng loạt ở đây suốt một thời gian dài, ngôi biệt thự này đã bị nhơ bẩn dơ dáy, khó mà chịu nổi. Mặt khác, chính tôi cũng vừa nghĩ phải cho tu sửa chính ngôi biệt thự này đấy thôi, và rõ ràng, ý nghĩ này hay hơn, nên tôi bỗng nhiên thấy khoái chí với nó. Tôi liền thông báo với các em tôi, gì thì gì, ngồi biệt thự này sẽ là nơi đầu tiên tôi cho tu sửa lại, tu sửa, phục chế toàn bộ, từ móng lên mái, sao cho nó trở lại như xưa, như trước khi bị hạ nhục, bị làm nhơ bẩn bởi đám người kia. Ngôi biệt thự trẻ thơ chả phải là ngôi nhà đẹp nhất ở Wolfsegg đấy thôi! Và, mùa hè chính là mùa tốt nhất để tiến hành tu sửa và phục chế. Tiền bạc của Wolfsegg phải đem ra mà dùng, tôi nói, có mà điên mới để tiền nằm đến mục trong nhà băng như thế. Hai đứa em gái ngơ ngác, chẳng hiểu tôi nói gì. Nhưng đằng nào cũng phải thông gió ở đây cái đã, tôi bảo hai đứa, anh em mình mở hết cửa sổ ở đây ra, ở đây ngột ngạt quá thể, tôi nói, và trong lúc các em tôi - vì bên ngoài, trời đang đẹp và ấm áp - chẳng nói chẳng rằng, đến cả Caecilia và Amalia cũng chỉ thầm thì khe khẽ đôi lời qua lại với nhau thôi, lần lượt mở toang hết các cửa sổ ra, mới đầu cửa sổ tầng dưới, sau đến lượt cửa sổ tầng trên, tôi chợt nhớ, mới hai, ba hôm trước tôi mô tả ngôi biệt thự trẻ thơ này cho Gambetti nghe, và lúc mở các cánh cửa sổ ra, tôi càng thấy mình đã mô tả cho Gambetti nghe khá chính xác về các căn phòng rộng rãi cũng như về những khung cửa sổ rất cao ở đây. Trừ ngôi nhà chính, không còn nơi nào ở Wolfsegg, kể cả nhà thợ săn lẫn nhà thợ làm vườn, có cửa sổ cao như ở đây. Đúng như tôi đã cố mô tả cho Gambetti, trên trần nhà có gắn các phù điêu, đường viền nổi, đắp từ vữa và thạch cao - minh họa toàn những cảnh lấy từ các vở kịch cổ điển như Nathan của Lessing, Bọn cướp của Schiller hay Faust nguyên gốc của Goethe. Không còn ai biết tác giả các đường viền, phù điêu nổi này là ai, nhưng tôi tin chắc đó vốn là những người vẫn được gọi là nghệ nhân lang thang của thế kỷ trước, những người thường lưu lại vài tháng, thậm chí vài năm, ở một nơi nào đó và sáng tạo ra những công trình nghệ thuật kiểu như thế này, đặng đổi được miếng ăn ngon hay đôi giày ấm. Có thể nhìn thấy rõ các vết nứt trên những phù điêu xưa này, và tôi tự nhủ, như thế đã đến lúc phải tu sửa rồi đây. Các em tôi hoàn toàn mù tịt, không biết ý nghĩa các phù điêu nổi ấy ra sao. Tôi bảo, lấy từ Nathan, nhưng thoáng nhìn tôi cũng biết ngay, hai ả không hiểu gì- Faust của Goethe thì chúng nó biết, nhưng không còn nhớ đến cảnh được minh họa trên trần nhà đây là cảnh nào; tất nhiên, cũng như tôi, chúng nó đều học qua Bọn cướp ờ trường, nhưng bây giờ tuy còn nhớ tên vở kịch, nhưng tình tiết thế nào thì hai ả quên từ lâu, chỉ mang máng nó thuộc loại kịch cổ điển nào đấy thì phải. Tôi thử gợi cho chúng nó nhớ lại về Bọn cướp, nhưng đành thôi, chẳng giảng giải thêm cho hai ả nữa, bởi tôi hiểu ngay, có cố cũng mất công. Vâng, tôi vẫn nhớ, tôi đã mô tả khá chi tiết và chính xác cho Gambetti nghe về những phù điêu nổi này và anh ấy đã rất chăm chú lắng nghe khá lâu. Ảnh hưởng của trường phái nghệ thuật Roman lên loại hình nghệ thuật vô danh này rõ rành rành, tôi bảo anh ấy. Nói chung, trên mọi phù điêu nổi ở vùng phía bắc dãy Alpen, tôi bảo Gambetti, có thể nhận ra ngay ảnh hưởng của nền nghệ thuật Ý, thì người Ý vốn bao giờ cũng là những nghệ nhân đắp phù điêu nổi tài ba nhất mà lại, tôi nói với Gambetti, giờ tôi nhớ lại tất cả những lời tôi nói với Gambetti về nghệ nhân đắp phù điêu nổi trong ngôi biệt thự trẻ thơ này. Tôi nghĩ bụng, đây chính là bằng chứng, rằng tôi chỉ cần một lần ngắm nghía kĩ lưỡng một bức tranh hay một tấm phù điêu nổi nào đấy là đã có thể ghi nhớ rất chính xác mọi chi tiết suốt hàng năm, thậm chí hàng chục năm trời liền, để sau này, khi có dịp, lại mô tả lại bằng lời một cách xác thực, khiến bức tranh tôi mô tả khớp khìn khịt với bức tranh hôm xưa tôi từng một lần duy nhất nhìn thấy. Tôi chỉ cần một lần duy nhất nhìn thật kĩ một bức tranh hay một đoạn phù điêu nổi nào đó, như tranh hay phù điêu nổi trong ngôi biệt thự này, là tôi có thể ghi nhớ chính xác bức tranh đó trong đầu hàng năm trời, hay như bây giờ tôi mới vỡ nhẽ, có khi cả chục năm liền. Hai đứa em tôi chẳng hiểu mô tê gì, khi tôi bảo chúng nó, tôi vừa phát hiện ra một điều thật thú vị, cụ thể là, tôi phát hiện tôi có khả năng, chỉ cần nhìn bức tranh một lần là nhớ, nhớ đến mức, hàng chục năm sau vẫn mô tả lại chính xác bức tranh đó được. Hai đứa em tôi không hiểu ngô khoai gì, một là vì chúng nó không theo được dòng suy nghĩ của tôi, hai là, chúng nó cũng chẳng biết Gambetti là ai, chỉ đôi khi nghe tôi loáng thoáng nhắc đến anh ấy. Vả lại, do từ ngày xưa, ngay từ khi chưa đặt chân lên đất Ý và chưa tới thành Rome, tôi đã ham mê và ngưỡng mộ những gì gọi là có dính dáng đến La Mã lắm rồi, cho nên, vì sự thù địch với tôi, chúng nó bao giờ cũng coi những thứ đó chẳng ra gì. Bởi vậy, chúng nó không hiểu tôi cũng phải thôi, và tôi tự nhủ, chúng nó cố tình không hiểu mình, việc chúng không hiểu tôi đã biến thành nguyên tắc, đã thành thói quen cả đời của hai đứa, và từ xưa đến giờ, chúng nó chưa bao giờ muốn hiểu tôi, chưa bao giờ chịu thông cảm với tôi. Ở Wolfsegg, ngôi biệt thự trẻ thơ đối với tôi gần như là tất cả, nhưng với chúng nó, ngôi biệt thự lại chẳng có mấy ý nghĩa. Cho nên, chúng nó cũng khá thờ ơ với những gì lúc nãy tôi nói về ngôi biệt thự và hai tên Gauleiter kia, chúng nó chi thấy những lời tôi tuôn ra đó là nhằm bôi nhọ gia đình, nhằm công kích bố mẹ - những lời công kích thật đáng kinh tởm, vì bố mẹ vừa mất được hai hôm chứ đâu. Chúng nó không thể thấu được nỗi đau đớn trong lòng tôi, khi tôi lại phải nhìn thấy trước mắt mình ngôi biệt thự trẻ thơ, ngôi nhà tôi thích nhất ở Wolfsegg, công trình kiến trúc tôi ưa chuộng nhất, nhưng lại bị hai lão Gauleiter Quốc xã làm cho dơ dáy, bẩn thỉu. Đối với hai đứa chúng nó, kiểu nghĩ ngại như thế của tôi thật xa lạ và quái gở. Sau khi chúng tôi lần lượt mở hết cửa sổ ngôi biệt thự và làn không khí trong lành từ bên ngoài đã tràn ngập vào bên trong, tôi bảo hai đứa em tôi, bây giờ tôi muốn để cửa sổ mở như thế này vài ngày, để khí trời tự dữ tràn vào đây. Hai đứa chúng nó có vẻ kiệt sức bởi cái công việc - mà dưới con mắt chúng nó chắc là rất quái gở - do tôi bày ra bắt chúng nó phải làm ấy; cả hai ngồi phịch xuống nghỉ trên chiếc ghế băng phủ vải nhung màu lục kê trong căn phòng áp mái phía bên trái. Trên gương mặt hai đứa bỗng dưng thoáng hiện vẻ mặt giễu cợt, vẻ mặt mà chúng nó phô ra trên bức ảnh tôi cất trong ngăn bàn tại căn hộ của tôi ở Piazza Minerva thành Rome, vâng, chỉ thoáng qua trong giây lát thôi, vào buổi chiều sáng sủa này, chúng nó chìa gương mặt mang vẻ giễu cợt của chúng nó về phía tôi, rồi lại lập tức quay đi, phóng tầm mắt qua các cánh cửa sổ đang mở toang, nhìn vượt qua ngôi làng dưới kia về phía những rặng núi ở đằng xa. Hai đứa cùng khúm núm cùng quay đầu một lúc về phía núi đồi, tôi nghĩ thầm, trông nhu thể hai con rối bị buộc vào nhau và giật quay về một phía. Bây giờ tôi có thể tùy ý ra lệnh cho chúng nó và chúng nó sẽ lập tức tuân lệnh. Tôi đang nắm hai đứa chúng nó trong tay tôi mà lại. Song, tôi không lấy đó làm vui mừng đắc thắng, chúng nó là gánh nặng khó lòng kham nổi thì đúng hơn. Tôi chợt nghĩ, chúng nó đang cưỡi lên đầu lên cổ tôi, và như người ta vẫn nói, rồi tôi sẽ còn nếm khối đòn không hay ho gì của hai đứa này cho mà xem. Thế nhỡ nổi giông thì sao? Amalia cất tiếng hỏi. Cô nói có giông là sao? Tôi vặn lại. Nhỡ trời nổi giông bão làm vỡ hết kính cửa sổ thì làm sao? Amalia lại nói. Chẳng giông chẳng bão gì đâu mà sợ, tôi gắt, còn lâu mới có giông có bão, cô ạ. Nhìn hai đứa mệt mỏi ngồi trên tấm ghế băng trong ngôi biệt thự trẻ thơ đây, bỗng dưng trong lòng tôi nổi hứng, muốn cho chúng nó bài học, phải kể cho chúng nó nghe chuyện gì thật La Mã, nghĩa là chuyện tục tĩu, chướng tai nào đấy, thì tôi mới lưu lại đây với chúng nó được, bởi cái cảm giác, tôi không chịu nổi chúng nó nữa đang mỗi lúc một mạnh lên. Nhưng rồi tôi lại gạt ngay ý định đó, vì chẳng ích lợi gì, chỉ làm mọi thứ tồi tệ thêm. Tôi chuyển sang để ý đến Caecilia, cô ả có vẻ quên hẳn gã chủ xưởng nút chai rượu vang từ lúc nào rồi. Chà, giá chú em rể tôi không đến nỗi hậu đậu như thế, tôi nói buông lửng. Caecilia không đáp, còn Amalia làm ra vẻ không nghe thấy tôi nói gì. Đểu giả thế nào thì đểu, cũng có giới hạn thôi, miệng tôi nói vậy, nhưng trong bụng tôi lại nghĩ, căm ai thì căm, mà cụ thể là mẹ mình, thì lẽ ra cũng không được đi đến chỗ cô phải khăng khăng lấy thằng ngu ấy cho bằng được, cốt chỉ để chọc tức người cô căm ghét. Tất nhiên, tôi chỉ nghĩ trong bụng thế thôi, chứ không nói thành lời; thành lời là: cô phải để tâm đến chồng cô chứ; cô để mặc chú ấy trơ ra một mình là không được. Từ lúc về đến giờ, tôi thấy chú ấy toàn luẩn quẩn trong vườn làm vướng cẳng người khác. Con Caecilia đứng phắt dậy, ra khỏi phòng, đi nhanh xuống tầng dưởi rồi xuyên gian tiền sảnh ra ngoài sân. Amalia cũng đứng dậy, và tôi cùng với nó đứng từ trên, đưa mắt nhìn theo Caecilia đang rời xa ngôi biệt thự trẻ thơ. Mày chạy đi đâu mới được chứ, tôi nghĩ bụng, mày tự mình làm hỏng đời mày chứ ai. Rõ đồ ngu! Tôi không chủ định nói to “Đồ ngu” như thế, chi lẩm bẩm trong miệng, nhưng rồi vẫn đủ to, khiến Amalia cũng phải nghe thấy. Không biết tại sao bố mẹ đặt tên thánh cho cồ là Amalia và cho Caecilia là Caecilia nhỉ, tôi hỏi Amalia, tôi không hiểu sao lại thế. Hay ông bà cũng từng lãng mạn, lãng mạn theo kiểu Thiên chúa giáo pha Quốc xã nhỉ, tôi nghĩ bụng. Sau đó, tôi cùng Amalia ra khỏi biệt thự trẻ thơ quay về nhà kính. Bắt gặp gã em rể tôi đang đứng thơ thẩn gần đó, tôi nghĩ bụng, thằng cha này đúng là hiện thân của kẻ ngồi không thật. Gã chủ xưởng nút chai rượu vang có vẻ bối rối bị tôi - vâng, lại đúng là tôi mới khổ cho gã - bắt gặp gã lúc ngồi không như thế. Thế là rốt cuộc ta cũng phải chuyện trò với gã, tôi nghĩ bụng, rồi tiến thẳng về phía gã. Nhìn quanh nhìn quất không thấy Caecilia đâu, cả Amalia cũng biến mất đi đường nào rồi, còn mỗi mình gã đứng trơ khấc ở đó và có lẽ, gã không biết mình thuộc về đâu thật. Thuộc về đâu thì thuộc, tôi nghĩ, nhưng rõ ràng không thuộc về Wolfsegg này. Tôi bảo gã đi với tôi vào tòa nhà chính, tôi thèm ăn có gì đó và trong bếp chắc thể nào ta cũng tìm được món gì ngon. Tôi nói, và chính cái giọng và kiểu cách thân mật ấy của tôi, lại làm chính tôi phải bất ngờ. Thật ra, tôi chẳng chủ ý nói bằng giọng như thế, tôi nghĩ bụng, nhưng quả là tôi đã nói như thế thật. Gã chủ xưởng nút chai rượu vang lặng lẽ bước bên cạnh tôi. Dù gì, tôi cũng cứu gã khỏi một tình huống khó xử. Thoáng một giây phút ngắn ngủi, thậm chí tôi còn thấy thương hại gã, nhưng quả thật chỉ thoáng qua thôi, bởi vừa bước được vài bước, tôi đã lại thấy gã thuộc hạng người trơ trẽn và thô bỉ. Lối cư xử của hạng người này đến lạ, tôi nghĩ bụng, mà thật ra, họ cũng chẳng lựa cách để cư xử, cứ thẳng ruột ngựa, chẳng nghĩ trước tính sau gì. Trong bếp chẳng có ai; tôi với gã chủ xưởng nút chai rượu vang tìm quanh xem có gì ăn không và phát hiện khối thứ ngon lành còn chất đầy trong tủ lạnh. Ngồi trước mặt gã chủ xưởng nút chai rượu vang, tôi nghĩ bụng, có những kẻ ta khinh thường ra mặt, nhưng đồng thời ta cũng lại ghen tị với chúng trước cung cách thản nhiên, bình chân như vại của chúng, giúp chúng chẳng bao giờ phải rụt rè, giữ ý giữ tứ; chẳng hạn, khi ăn uống, lúc đầu có thể cũng hơi do dự một chút, nhưng chẳng mấy chốc chúng đã không còn ngượng ngùng gì nữa khi tọng vào mồm, rồi nuốt hết vào bụng những gì ta dọn ra mời mọc. Mấy ngón tay múp míp, ngồn ngộn thịt của gã cùng chiếc nhẫn dùng để trang sức to tổ bố gượng đeo ở ngón út bàn tay phải, trông mà thấy tởm; tôi chợt nghĩ, giá có muốn, gã cũng chẳng tháo được chiếc nhẫn ra nữa. Chân gã bắt tréo dưới gầm bàn, còn bụng, gã tì hẳn vào mép bàn; khuy ở ống tay áo trông còn to hơn cả mặt nhẫn, tôi nghĩ bụng, chắc cùng một bộ. Gã chờ xem tôi sẽ nói gì, thành ra tôi có cảm giác như gã đang rình tôi vậy, nhưng lúc này tôi chả có chút hứng nào bắt chuyện với gã chủ xưởng nút chai rượu vang. Tôi chợt nhớ, tôi đã bảo anh Zacchi, rằng tôi chỉ đi cùng lắm ba, bốn ngày rồi khắc sớm quay về Rome thôi. Nhưng ba, bốn ngày hẳn không được, tôi nghĩ có lẽ tôi sẽ phải lưu lại Wolfsegg một tuần, có khi hơn; đến như ngay bây giờ tôi đã lo một tuần e không đủ. Bởi vì, đưa đám xong, mới thật sự đến lượt những việc mệt nhọc và khó chịu nhất. Rồi tôi sẽ phải tìm đến các văn phòng luật sư, ban này, phòng nọ, vân vân và vân vân ở địa phương. Nói cho cùng, nếu tai họa này là tảng băng trôi, thì cho đến nay tôi cũng mới chỉ nhìn thấy ngọn tảng băng là cùng. Tôi bảo gã em rể, khỉ thật, xác bố, xác anh quàn thế nào thì nhìn thấy được, mỗi xác mẹ lại không. Thế nhưng, tôi nói tiếp, khuôn mặt các xác chết trông chẳng còn nét gì thật. Phải chôn càng sớm càng tốt. Chú chưa kịp thật sự làm quen với bố mẹ và anh vợ, thì họ đã lăn ra chết mất rồi, tôi nói, nhưng đập ngay vào mắt tôi là dòng chữ nạn nhân vụ tai nạn in trên mặt tờ báo nằm trên cùng chồng báo trước mặt tôi - chồng báo giờ đã cao lên một ít - dòng chữ nạn nhân vụ tai nạn trông đến lố bịch, hệt như mọi dòng chữ lố bịch khác của báo chí. Tôi hỏi gã em rể xem gã đã đọc các bài tường thuật vụ tai nạn chưa. Trong khi tôi đã ngừng ăn từ lâu - gã vẫn tiếp tục tọng nốt mấy miếng bánh mì và xúc xích to tướng vào miệng rồi lắc đầu, ra điều, đến nhìn đống báo, em cũng không muốn nhìn. Hẳn gã nghĩ gã không được phép đọc báo trước mặt tôi, nó không phải phép chút nào, nếu bây giờ gã mà đưa mắt nhìn đống báo đăng bao nhiêu là bài viết về vụ tai nạn, thì e rằng, tôi sẽ cho đó là hành động trơ trẽn không thể tha thứ. Nên gã cứ lắc đầu cái đã, khước từ lời tôi mời gã tìm hiểu kĩ hơn về nguyên nhân vụ tai nạn. Ở ngã tư này từng xảy ra nhiều tai nạn gây chết người, tôi nói, y giọng báo chí; chỗ này tuy quang đãng, không có vẻ gì nguy hiểm lắm, thế mà vẫn nhiều tai nạn, phần lớn đều chết người mới lạ, tôi thủng thẳng. Lúc này, gã em rể tôi chuyển sang đóng vai một người đạo đức đầy mình. Trong lúc gã tọng miếng bánh mì kẹp xúc xích vào miệng, gã hơi thu đôi chân bắt tréo dưới gầm bàn, rồi ngửa người ra sau, kéo đôi tay nãy giờ xoãi hơi nhiều trên mặt bàn lại. Lúc thay đổi tư thế như vậy, gã cẩn thận không để khuy tay áo chạm vào đĩa đựng bánh kẹp thịt tôi làm lúc nãy. Miệng nhai nhồm nhoàm, gã như có ý muốn hỏi, làm sao tôi lại có thể nghĩ gã đủ trơ trẽn và vô liêm sỉ đến mức, trước mặt tôi, lại đúng vào lúc này - vào giờ phút đau thương tột cùng của gia đình - lại có gan để đọc những bài viết kinh khủng của số báo chí độc địa kia. Gã ném một cái nhìn đầy khinh bỉ lên bức ảnh nạn nhân in trên trang bìa tờ báo nằm trên cùng, một mặt là khinh bỉ, nhưng mặt khác, như tôi thấy, cũng đầy thất vọng và sốt ruột, vì - do có mặt tôi - nên gã không vồ được ngay để, không cần giữ ý giữ tứ gì nữa, ngắm nghía cho sướng mắt. Gã có vẻ muốn cho tôi thấy, gã không đủ sức để hành động như thế, trong khi tôi thầm nghĩ, còn ta đây, ta đã có dư sức để làm như vậy đó, chú mày ạ. Mồm vẫn nhai bánh, chốc chốc - nhất là những khi gã tưởng tôi không để ý - gã lại liếc nhìn đống báo mà trong lòng gã, gã đoán chắc phải thú vị lắm; đống báo này, giá bây giờ gã chỉ có một mình, hẳn gã sẽ giở từng tờ, từng trang, hết sức trơ trẽn xem hết ảnh này ảnh khác, đọc hết bài này đến bài kia rồi đấy. Hiềm một nỗi, gã lại bị ông anh vợ cản trở, người mà gã hẳn sẽ phải đinh ninh là không bao giờ nghĩ đến, chứ đừng nói sẽ hành động trơ trẽn như vậy; còn tôi, tôi lại nghĩ bụng, chú mày nhầm, ta đã làm cái việc trơ trẽn và vô liêm sỉ ấy trước chú mày từ lâu rồi. Dạ, chưa đọc lúc này ạ, gã em rể tôi nói, và những lời đó thật giả dối đến kinh tởm, như thể đó là những lời từ miệng tôi vậy, bởi lúc ấy tôi cũng có thể nói y như gã vừa nói. Tôi cảm thấy đắc thắng, bởi chính gã, chứ không phải tôi, buột miệng ra như thế, một câu nói đặt tôi ngay vào tư thế một kẻ tử tế, đứng đắn và biết tự kiềm chế, còn chính gã, gã phải nói ra cái câu chưa đọc lúc này ạ vô cùng giả dối ấy ra mới mong nhập được vào vai kẻ tử tế và biết tự kiềm chế. Vừa buông ra khỏi miệng, chắc chắn gã cũng có ngay cảm giác rằng câu nói quả là cực kỳ giả dối, tôi thầm nghĩ, bởi dẫu sao thằng cha này cũng chẳng ngu đến mức để không nhận ra ngay cái câu chưa đọc lúc này ạ của gã thật sự có ý nghĩa gì và tác động lên tôi ra sao. Chắc chắn gã cũng thừa hiểu tôi nhìn thấu tâm địa gã qua cái câu chưa đọc lúc này ạ ấy của gã, một câu gã vô ý buột miệng nói ra, một câu nói trên đường từ khối óc gã đến cửa miệng rồi bắn ra ngoài ấy, đã mất sạch sức thuyết phục của nó rồi. Lúc này, do gã em rể tôi đột nhiên ngồi trơ ra đó trong tư thế một kẻ bị lộ nguyên hình đạo đức giả và đang rơi vào một tình thế thật đáng buồn và nghiêm trọng đến chết người, cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, tôi liền dấn tới một bước, và, để tỏ ra mình rộng lượng, tôi đẩy xấp báo về phía gã, rồi bảo, chú cứ đọc qua cho biết xem báo chí người ta viết lách thế nào về vụ tai nạn. Chú cứ việc đọc, tôi nói, rồi ngả lưng ra sau, tỏ ý không muốn làm phiền gã khi đọc. Tôi chợt nhớ, anh Zacchi có lần từng bảo tôi là kẻ cực kỳ điêu luyện trong việc che đậy các ngón đòn đê tiện của mình. Bây giờ tôi bỗng lấy làm khoái chí về những gì anh Zacchi nói về tôi dạo ấy, ở Ancora verde in Trastevere hôm nào. Hai chúng tôi cùng với Maria kéo nhau đến đấy bàn chuyện đi chơi dã ngoại về Castelgandolfo cũng như bàn luận về cuốn Ngôn từ của Sartre, là cuốn dạo ấy cả ba đều vừa đọc xong, nhưng người này tưởng hai người kia chưa đọc. Lần ấy, chúng tôi bàn luận đến tận khuya về cuốn Ngôn từ - chi tiết và kĩ càng hơn mọi quyển chúng tôi từng trao đổi trước đó. Miệng nhai nốt miếng bánh kẹp xúc xích, gã chủ xưởng nút chai rượu vang ngồi giạng chân, trải rộng báo lên hai đùi như những ai ngồi đọc báo vẫn thường làm, và lật hết trang báo này đến trang báo khác, trang nhiều ảnh minh họa, trang không có ảnh minh họa nào. Tôi nghĩ bụng, hóa ra, cả tai nạn lẫn tập báo giúp gã thoải mái. Trên mặt gã chả hề có vẻ gì ngại ngùng, bối rối, mắt gã tuy đã viễn thị và nhìn gần không được rõ, nhưng chắc do ngại đeo kính, tôi nghĩ bụng, gã để mặt báo rá xa dưới ánh sáng chiếu qua cửa sổ vào trong thì mới đọc được. Đúng ra, tôi nghĩ thầm, gã đã phải mang kính từ lâu, thứ kính gọi là kính đọc sách mà tôi cũng phải mang từ nhiều năm nay. Nhưng do tự ái hão, bọn người như gã không chịu đeo kính bao giờ. Tôi sẽ bảo con Caecilia, chồng nó phải sớm mua kính mà dùng, và tôi cũng không im miệng để bảo cho nó biết chồng nó, ngay trước mặt tôi, đã chăm chú, thản nhiên và trắng trợn đọc xấp báo để trên mặt bàn trong bếp ra sao. Rồi tôi sẽ mách với Caecilia, tôi tự nhủ, chồng nó ngồi trước mặt tôi, vừa đọc ngấu nghiến mọi tin tức về vụ tai nạn đăng trên báo, vừa ngon lành ăn bánh mì kẹp xúc xích - ba hay bốn miếng gì đó, tôi không nhớ rõ - như thể ăn món sơn hào hải vị nào ghê gớm lắm. Tôi sẽ bảo Caecilia, chồng cô còn chẳng nhìn rõ những bức ảnh lớn chụp trong đêm xảy ra tai nạn khủng khiếp đó nhưng may chú ấy ngồi cạnh cửa sổ nên cũng đủ sáng để nhìn được kĩ. Lúc này, tôi quan sát thằng em rể và tính toán trong đầu xem có thể dùng cảnh này bêu xấu gã trước mặt vợ gã, tức em gái tôi, như thế nào. Tôi lấy làm khoái chí về ý định đó; tôi tưởng tượng ra cảnh tôi đứng rất kịch trước mặt em gái tôi, kể cho nó nghe về thói nghiện đọc báo của chồng nó, chồng nó đọc báo ngấu nghiến ra sao, mở mắt cho nó thấy - trái với mọi lời bênh vực của nó, nhưng đúng như tôi vẫn ngờ vực - gã chủ xưởng nút chai rượu vang, thật ra, chỉ là một kẻ trơ trẽn thô bỉ mà thôi. Chồng cô thản nhiên ngồi đọc báo trước mặt tôi - trong tai tôi vang lên những lời tôi sẽ nói với Caecilia - chẳng hề để mắt đến tôi, chẳng buồn lắng nghe tôi, trong khi tôi có việc hệ trọng muốn bàn với chú ấy. Nhìn gã em rể, tôi nghĩ bụng, hóa ra mình cũng dư sức bóp méo sự thật một cách đểu giả như thế đấy. Mình dám xỏ xiên, đểu cáng như thế lắm và đã thật sự đểu cáng hàng trăm lần như thế, tôi nghĩ bụng, biến xỏ xiên đểu cáng thành thói quen, thành nếp sống. Sau khi được tôi đích thân cho phép và sau khi gã cũng biết tỏ ra do dự chút đỉnh - mặc dù chỉ do dự giả tạo cho phải đạo mà thôi - gã em rể tôi đọc say sưa ngấu nghiến đống báo, gã đọc thật sự, không như tôi, cách đây vài tiếng đồng hồ một mình ở trong bếp - như thiên hạ vẫn nói - chỉ đọc lướt qua, gã bình thản, không chút bối rối, ngắm nghía các bức ảnh, trong khi tôi chỉ dám vội vàng, lén lút nhìn qua thôi và bụng nơm nớp lo bị bắt quả tang mình đang làm một việc trâng tráo, vô liêm sỉ, phải, lúc đó, tôi biết rõ, tôi đang phạm một tội ác ghê tởm, trong khi gã em rể tự cho phép mình, ngay trước mặt tôi - cố nhiên đã được tôi rộng lượng đồng ý từ trước - thưởng thức số báo kia, nhìn gã, tôi biết gã đang khoan khoái lắm, khi được ung dung giở hết tờ báo này đến tờ báo khác. Phải người khác, tôi nghĩ bụng, chắc người ta đã liếc nhanh qua rồi gập tờ báo để quay lại chuyện trò với tôi, đằng này gã em rể tôi không có vẻ như thế, gã chẳng buồn nghĩ đến tôi nữa, tôi tự nhủ, việc tôi cho phép gã tự nhiên đọc báo, đối với gã, cũng ngang như lời cho phép không hạn chế của tôi vậy, và gã thích chúi mặt chúi mũi vào đọc báo và tiêu hóa chỗ bánh mì kẹp xúc xích hơn chuyện trò với ai, câu chuyện hẳn không thể dễ chịu cho gã được, gã không những chỉ linh tính thấy điều đó, gã còn biết điều đó rất rõ là đằng khác, cho nên gã đọc báo cốt chỉ để tránh tôi thôi. Tôi thầm nghĩ, thì gã vẫn chẳng lánh mặt tôi đấy thôi; gã đâu có muốn trò chuyện với tôi đâu, như tôi đã tưởng lúc nhìn thấy gã đứng trơ trọi trước nhà kính, vô dụng, đần độn, chân tay lóng ngóng chẳng biết mình phải làm gì ấy. Tôi quả đã nhầm, và tôi cũng lại mắc tiếp sai lầm khi nghĩ bụng, mình phải bắt chuyện với thằng cha đang đứng bần thần trước nhà kính rồi lôi gã vào bếp tán chuyện. Song, thật ra, tôi rủ gã vào bếp cốt chỉ để soi mói, xem gã là người thế nào thôi, chứ đâu phải vì thân thiện kia chứ, không, tuyệt nhiên không phải do thiện chí. Tôi rủ gã cùng tôi vào bếp, lấy cớ cùng với gã kiếm chút gì lót bụng, thật ra chỉ cốt xem gã là người thế nào, chỉ nhằm moi ở gã chuyện này chuyện khác sau này tôi có thể dùng để công kích Caecilia, vợ gã, cũng như công kích gã mà thôi. Bởi tôi nghĩ bụng, thằng ngu ít gì cũng là kẻ sản sinh mọi chuyện ngu xuẩn và cũng sẽ khai hết mọi bí mật thầm kín, nên tôi mới rủ gã vào bếp. Nhưng nói cho cùng, bây giờ tôi chẳng còn thích thú gì việc moi chuyên của gã nữa. Chỉ cần quan sát gã là đủ, để rồi sau này, vào lúc thích hợp, sẽ cho con em gái Caecilia của tôi biết về những quan sát đó của tôi, hay, cứ nói trắng ra là những quan sát sẽ bị tôi bóp méo nhằm mục tiêu chống lại cả hai đứa chúng nó. Chú ấy ngồi suốt buổi ở đó, để tôi phải chờ, tôi nghĩ bụng, mình sẽ nói với Caecilia như thế. Chú ấy có vẻ rất khoái xem các bức ảnh chụp cái đầu đã gần lìa hẳn khỏi thân của mẹ. Tôi sẽ bảo, bức ảnh chụp bố chết ngồi trong xe, bên cạnh xác Johannes bị giập nát đầu là bức ảnh đặc biệt thu hút sự chú ý của ông em rể tôi, tức chồng cô. Làm sao mà một con người như thế, tôi sẽ nói tiếp, đúng vào những giờ phút buồn đau như thế này của cả nhà, lại ngay trước mặt tôi, dám cả gan vùi đầu vào đống báo bẩn thỉu đó, tôi sẽ không nói những giờ phút bi thảm như thế này, mà những giờ phút buồn đau, bởi bi thảm như thế này nghe rất kịch, trong khi buồn đau như thế này dễ lọt tai hơn. Tôi cầm chắc con em gái tôi sẽ hết sức kinh hãi về thằng chồng trơ tráo của nó. Có điều, có thật mình muốn vậy không? Tôi phải tự hỏi ngay. Như thế, tôi nghĩ, chả hóa gã em rể sẽ nghiễm nhiên biến thành một nhân vật quan trọng hơn chính gã. Song, tôi cũng không lờ gã đi được, nếu tôi muốn đẩy gã bắn khỏi Wolfsegg, mặc dù tôi cũng thừa biết tôi chẳng cần mất chút công sức nào mới xua đuổi được gã; gã khắc tự cuốn xéo và các em gái tôi sẽ góp sức bằng những cách thức nham hiểm quỷ quyệt nhất giúp gã cuốn xéo cho êm thấm. Gã còn chẳng mấy ngày để cuốn xéo, tôi thầm nghĩ. Gã ngồi trước mặt tôi đây và bị tờ báo ngấu nghiến nuốt chửng, chứ không phải ngược lại, như người ta vẫn quen nói. Tôi ngồi đối diện với gã và ghen tị với gã, bởi gã có thể thản nhiên làm cái việc tôi phải kiềm chế không đụng vào; gã có thể nhơn nhơn đọc báo, không chút bối rối, thậm chí dưới sự che chở của ông anh rể gã - tôi nghĩ bụng, một khi gã là em rể mình, ắt mình phải là anh rể gã - ông anh rể bây giờ đột nhiên trở nên tối cao về quyền lực. Tất nhiên, tôi tự nhủ, hay đúng hơn, tôi tưởng tượng ra, tôi là ông anh rể đáng phải nể sợ, ông anh từ nay nắm quyền quyết định mọi sự, kể cả số phận Wolfsegg trong tương lai. Đó chính là sự khác nhau giữa tôi với gã, tôi nghĩ bụng, giữa một người nắm quyền quyết định hết thảy với một kẻ tầm thường, nói chẳng ai thèm nghe. Vâng, nhưng gã chủ xưởng nút chai rượu vang xứ Baden được phép làm một hơi thưởng thức đống báo, trong khi tôi phải gạt báo sang một bên. Bọn người như gã bao giờ cũng ở thế thư thái thanh thản, chẳng phải gắng công bỏ sức gì, tôi nghĩ thầm, còn ta không bao giờ được như thế. Trong một tình huống tương tự, ai cũng có thể bảo tôi cứ việc giở báo ra mà đọc, song, tất nhiên tôi sẽ từ chối, sẽ phải nhắm mắt làm ngơ, sẽ phải để chúng nằm nguyên trước mặt và không đụng tay đến. Còn gã - sau một thoáng do dự - chộp ngay lấy cơ hội và, nói thật không ngoa, nhảy bổ vào nhìn ngó vụ tai nạn được báo chí phơi ra với mọi chi tiết trước mặt gã. Kinh tởm quá, đúng không, đó là lời bình luận duy nhất tôi buông ra trước mặt gã em rể, trong khi gã đã vùi đầu vào đống báo; tôi nói kinh tởm những hai lần, đó là một trong những từ tôi vẫn ưa dùng mỗi khi đọc những bài liên quan đến các sự kiện kiểu như tai nạn của gia đình chúng tôi đây, tôi thấy từ kinh tởm thích hợp với những tình huống như thế hơn cả, nhưng tôi dùng nó hơi nhiều, quá nhiều, tôi nghĩ bụng, ngay cả trong những hoàn cảnh không tương xứng lắm với cái từ kinh tởm ấy, tuy nhiên, nó lại rất hợp với lúc này, nên tôi cất tiếng nói kinh tởm, nhưng gã em rể không ngẩng lên nhìn, gã không để cái từ kinh tởm tôi vừa nói ra ấy quấy rầy và kéo gã ra khỏi cơn say tin giật gân đang xâm chiếm tâm trí gã. Hẳn bố đã phóng xe nhanh quá, tôi buông thõng. Gã em rể làm ra vẻ không nghe tôi nói gì. Tôi nói tiếp, chẳng ma nào biết tại sao bố lại ngồi sau tay lái, chứ không phải anh Johannes như mọi khi. Bố bị cận thị từ lâu rồi kia mà, tôi nói, những ai trên sáu mươi thì nên thu hồi thẻ lái xe của họ mới đúng. Mọi tai nạn đều do các vị trên sáu chục gây ra cả, những cảnh tan hoang trên đường phố đều do họ hết. Bởi họ không còn đủ khả năng phản xạ nữa, tôi quả quyết, và vừa dứt lời, tôi thấy ngượng với gã chủ xưởng nút chai rượu vang, vì tôi đã nói đúng một câu sặc mùi báo chí như thế, như thể cái câu ấy đã do chính tay tôi viết ra cho một trong những tờ báo đang nằm trên bàn kia. Bọn biên tập viên báo chí chỉ rặt một bọn chuyên bôi tro trát trấu lên mặt mũi người khác, tôi nói vậy, rồi tiếp luôn, nhưng có điều, tro trấu bẩn thỉu ấy lại do chính ta sản sinh ra. Mà nói cho cùng, cái thế giới mà bọn chuyên nghề bôi tro trát trấu kia trưng ra cho ta xem trên mặt báo của chúng, tôi nói, lại chính là thế giới thực. Thế giới in ra trên mặt giấy là thế giới thực. Thế giới bẩn thỉu in trên mặt báo chính là thế giới của chúng ta. Rồi tôi tiếp ngay: cái gì in ra là cái thực, và từ nay, cái thực chỉ là cái gì ta coi đó là thực mà thôi, cố nhiên tôi không thể đòi thằng em rể phải hiểu tôi. Có lẽ, đến nghe tôi gã cũng chẳng buồn nghe nữa là, bởi gã không hề có phản ứng gì trước những lời tôi vừa nói, gã chỉ nhìn dán mắt vào tấm ảnh chụp thủ cấp mẹ tôi, nằm tách rời khỏi thi thể bà ít nhất ba chục phân trên mặt bàn đá cẩm thạch trắng của một phòng khám tử thi nào đó. Tôi bảo, đem xe cứu thương đi chở xác chết thì thật vớ vẩn hết sức. Gã em rể vẫn không ngẩng lên. Tôi chợt nhớ, từ dạo trước đám cưới, tức là sau lần đầu tiên tôi gặp gã, tôi đã mô tả gã cho Gambetti nghe như thế nào. Gã mập mạp, chưa đầy bốn chục tuổi và mỗi ngày một thêm phì nộn, nên lúc nào quần áo gã mặc cũng chật, bó sát người khiến gã mắc bệnh khó thở, nên ngay cả khi nói - cũng chính vì quá béo - gã thường chỉ nói được những câu ngắn, cộc lốc, rất ngắn, chứ không dám nói câu nào dài. Thằng cha này thở phì phò thành tiếng, tôi bảo Gambetti, và trên đường đi bách bộ - có ai cùng đi với gã khắc biết - gã rất hay dừng giữa chừng, đưa tay chỉ trỏ cái gì đó, hoặc nếu không có gì để chỉ trỏ, gã sẽ vung tay bừa về một hướng nào đấy rồi nói đại loại phong cảnh thật thú vị, chỉ cốt che đậy bệnh hụt hơi của gã mà thôi. Thân hình phì nộn của gã chi phối mọi thứ trên con người gã, tôi bảo Gambetti thế, rồi bắt đầu gièm pha, phỉ báng gã trước mặt Gambetti đến mức tự tôi, tôi cũng phát ngượng-Rốt cuộc, tôi bảo Gambetti, sự đê hèn đó của tôi khiến tôi sửng sốt, nhưng rồi lại xin lỗi anh ấy ngay vì đã trót thốt ra mấy tiếng khiến tôi sửng sốt đáng ghét ấy, bởi vì trong tư cách thầy dạy anh ta, nhẽ ra tôi không bao giờ được phép nói năng tầm thường vồ vị như thế. Tôi nhớ rất rõ, tôi bảo Gambetti, rằng ta lúc nào cũng bực bội khi người khác nói mấy câu sáo rỗng, nhưng chính ta, ta cũng mang trong người thói quen đáng ghét đó. Bảo rằng điều đó khiến tôi sửng sốt thì thật không ngửi được, lần ấy tôi bảo Gambetti vậy. Tôi còn nói thêm với anh ta, rằng gã em rể tôi thuộc đúng loại người mà dân chúng vùng tây nam nước Đức vẫn liệt vào hạng sành ăn, sành uống, sành hưởng thụ, hạng tiểu tư sản tầm tầm hạng trung, hạng người đã đạt tới mức giàu có nhất định và ưa phô trương sự giàu có ấy của mình ra trước thiên hạ, đồng thời, chúng cũng cố lo làm sao cho mình luôn béo tốt, mập mạp - hay nói cách khác, chúng luôn cố để có được thân hình tròn trĩnh, bệ vệ. Ở cái xứ dớ dẩn, đần độn ấy, tôi bảo Gambetti, thân hình gầy gò bị coi là dấu hiệu ốm đau, bệnh hoạn và đáng ngờ, ai nấy phải xa lánh, như thể đó là hiện thân của quỷ dữ. Bọn người này tẩy chay, ghê tởm mọi hình thức tu hành khổ hạnh, chỉ những ai đẫy đà, béo tốt mới là mẫu hình lý tưởng, khiến họ yên lòng, và dân chúng miền tây nam nước Đức này, nhất là dân vùng Baden, cũng như toàn thể dân Đức nói chung, bao giờ cũng đặt sự yên lòng, sự vững dạ lên trên hết. Họ tin cậy ai béo tốt, họ lấy người đẫy đà làm khuôn thước, mẫu mực, còn ai gầy ốm đều đáng ngờ. Nghe tôi thuyết giảng, Gambetti chỉ cười, khiến tôi cũng cười theo. Hạng người này cũng lười nhác đến ghê người, bây giờ ngồi trước mặt gã em rể, tôi nghĩ bụng, song le, đó không phải là thứ lười nhác tôi vẫn gọi là lười nhác sáng tạo, mà là thứ lười nhác đần độn, của lũ lợn, tôi thầm nghĩ, mặc dù giống lợn ngày nay thậm chí có thể còn người hơn cả giống người - cái giống người mà trong mấy trăm năm trở lại đây càng ngày càng biến thành lợn ấy. Gã em rể tôi vẫn bình chân như vại, và tôi tranh thủ lúc này để tha hồ nghĩ ngợi lung tung, tôi nghĩ bụng, bởi còn lâu tôi mới lại được ngồi yên thân thế này; bây giờ đã bốn rưỡi, khách đến viếng chờ đã lâu, hẳn đã sốt ruột lắm rồi. Có lẽ thời gian tôi ở trong bếp với gã em rể là cơ hội cuối cùng để tôi ít ra cũng được ngồi một mình, tôi nghĩ bụng, mặc dù gã em rể ngồi chình ình trước mặt. Kinh tởm quá, đúng không, tôi nói, nhưng gã không đáp. Bọn người này bao giờ cũng làm ra vẻ thoải mái, ra vẻ sành rượu, sành đời - tôi bảo Gambetti vậy, song thật ra, chúng không thanh thản, thoải mái chút nào, bởi vì chúng đòi phải được thanh thản và thoải mái bằng mọi giá, không khoan nhượng, và nếu người ta khước từ, không dành cho chúng sự thanh thản ấy, thì mọi thứ trong con người chúng sẽ đâm tàn nhẫn, trong lòng sẽ sùng sục hận thù, tôi bảo Gambetti. Bằng cái lối thoải mái thanh thản ấy, chúng chà đạp, bắt mọi thứ, buộc mọi người xung quanh thành nô lệ và biến những nơi chốn chúng muốn thoải mái thanh thản bằng mọi giá ấy thành địa ngục. Ít ra thì tôi luôn luôn có cảm giác như thế, tôi bảo Gambetti, mỗi khi có ai mưu toan ép tôi phải thanh thản thoải mái. Trong lúc quan sát gã em rể, tôi lại cứ thấy các hình ảnh ở Rome hiện ra trước mắt, đến nỗi, rốt cuộc, tôi tưởng mình đang ở trong phòng làm việc ở Rome thật, mặc dù thực ra tôi vẫn ngồi trước mặt gã em rể trong bếp ở Wolfsegg - để quan sát tất cả những vẻ vụng về chậm chạp của gã. Rốt cuộc, do mắt kém nên bố bị nạn, tôi nói vậy. Rồi tiếp, bây giờ người ta sẽ cho chở máy đập lúa đến, nhưng ai mà biết được, liệu nhà mình có còn cần máy đập lúa mới nữa hay không. Tôi nói vậy, đặc sệt giọng ông chủ Wolfsegg, tức là giọng một chủ trang trại thực thụ. Tôi còn nghe văng vẳng trong đầu tôi nhiều lần câu nói đó của tôi, và lần nào cũng như lần nào, đều tự lấy làm kinh ngạc trước cái giọng sặc sụa giọng chủ trang trại đó. Tôi nghĩ bụng, nghe cứ hệt như giọng ông anh tôi. Bằng câu nói này, trong chớp mắt tôi đã tự biến mình thành chủ trang trại, một vai tôi không muốn giữ chút nào. Có lẽ, bây giờ ai nấy đều đòi tôi thành chủ trang trại, hay đã phải là chủ trang trại rồi, tôi nghĩ thầm; chính câu nói đó làm tôi sực hiểu mọi người ở đây đang muốn gì ở tôi, phải, tất nhiên họ mong muốn như thế rồi, tôi tự nhủ, trong khi suốt cả quãng đời đã qua, tôi chỉ có độc một mong muốn, làm gì thì làm, miễn không phải làm chủ trại, họ trông đợi tôi bây giờ sẽ dứt bỏ hết mọi thứ, cũng có nghĩa là tôi phải từ bỏ sạch sành sanh những gì thuộc về tôi, để hiến dâng cho chúng một tay chủ trang trại bọn nó cần phải có ở đây, ngay lúc này. Tôi nghĩ thầm, bọn em tôi chắc đang hí hửng mừng thầm, rằng tôi sẽ phải dứt bỏ tất tật những thứ gắn bó tôi với thành Rome; song, riêng việc chúng nó nghĩ tôi có thể tự dưng dứt bỏ hết thảy đã là ý nghĩ quái đản lắm rồi. Tuy nhiên, ý nghĩ đó cứ ám ảnh tôi, rằng chúng nó quả thực tin tôi sẽ làm như thế, bởi chúng nó buộc phải tin rằng tôi, với tư cách kẻ thừa kế tự nhiên và tất yếu, sẽ phải đầu hàng, để tuân theo mong mỏi của chúng, trở thành ông chủ Wolfsegg. Nhưng đối với tôi, điều đó sẽ chẳng bao giờ xảy ra. Gambetti, Zacchi, Maria, thậm chí cả Spadolini, cùng bấy nhiêu những người khác nữa! Tôi nghĩ bụng, không bao giờ có chuyện tôi vứt bỏ bầu không khí tôi thở chung với họ để đổi lấy cơn ác mộng tôi thừa kế ở đây. Nhưng trên gương mặt chúng, bọn em gái tôi ấy, tôi nghĩ, đã luôn rạng rỡ niềm hân hoan khoái chí trước một thực tế là chính gánh nặng vô cùng quái đản đó, một điều chúng không bao giờ ngờ tới, bây giờ lại rơi đúng vào tôi, bắt tôi phải trở thành ông chủ trang trại, phải điều hành, cai quản mọi thứ ở Wolfsegg, phải đội Wolfsegg trên đầu, phải quàng Wolfsegg lên cổ, và chúng, bọn em gái tôi, là những kẻ hưởng lợi của sự thực khủng khiếp đó. Gã em rể đang vùi đầu đọc báo và, trong khi say sưa đọc cho thỏa cơn nghiền tin giật gân, gã không hề mường tượng nổi những gì đang diễn ra trong tôi. Cả gã cũng sẽ là kẻ hưởng lợi từ cuộc cưỡng bức sắp đổ sập lên tôi, tôi nghĩ bụng, gã hưởng lợi từ cuộc đầu hàng chúng đang mong đợi ở tôi - gã chủ xưởng nút chai rượu vang từ Freiburg im Breisgau này đây, kẻ cai quản bốn mươi lăm công nhân viên, những người, theo tôi nghĩ, thật ra, nói như thiên hạ vẫn nói, chẳng làm gì hơn ngoài việc phóng uế lên đầu gã. Tuy nhiên, bọn em gái tôi rõ ràng chẳng hiểu gì về tôi thật, tôi nghĩ thầm, thì ra chúng nó thật sự đinh ninh tôi sẽ thừa kế tất tật đúng như ghi trong di chúc. Anh em chúng tôi đều biết tờ di chúc từ lâu, chẳng cần đến lúc mở ra mới biết. Gambetti thân mến ạ, lúc đó tôi nói với anh ta qua điện thoại, anh không biết cái gì sẽ đến với tôi vì anh không biết Wolfsegg thế nào. Tôi vẫn nghe rõ tiếng tôi nói văng vẳng trong tai mình. Trong lúc gã em rể tôi vẫn như dính chặt vào đống báo, và như tôi thấy, say sưa hào hứng đọc các bài tường thuật đăng đầy trong các tờ báo đó về vụ tai nạn, trong tai tôi lại vang lên cái câu tôi từng nói với Gambetti: Wolfsegg sẽ không giết nổi tôi đâu, tôi khắc lo được và nghĩ bụng, có thể anh ta đã không hiểu ý tôi nói gì. Anh ta, Gambetti, mới đầu tưởng tôi gọi điện để khước từ lời anh ta mời tôi đến dùng cơm tối với bố mẹ anh ta, nhưng tôi chỉ báo tin ngắn gọn, bố mẹ, cùng anh Johannes của tôi chết vì gặp nạn, nạn nhân một vụ tai nạn xe hơi, tôi nói vậy, một lối nói năng không thể chấp nhận được ở miệng một người gọi là thầy dạy tiếng Đức. May thay, trước mặt Gambetti tôi chưa bao giờ tự xưng làm thầy dạy tiếng Đức cả, bao giờ cũng chỉ xưng là thầy dạy, và chỉ gọi anh ta là học trò. Thiết nghĩ, tôi không phải thầy dạy chuyên của anh ta, tôi chỉ truyền đạt cho anh ta những kiến thức này kiến thức nọ, những kiến thức có liên quan mật thiết đến văn học Đức mà thôi. Tất nhiên, tôi gắng hoàn thành tốt công việc của tôi, tôi cố truyền đạt các kiến thức đáng giá hơn nhiều so với số tiền học phí anh ta trả cho tôi. Mà nói cho cùng thì tôi nhận học phí anh ta trả cũng chỉ là cho đúng lệ, proforma thôi, do tôi vẫn coi chuyện nhận học phí là một nguyên tắc, còn anh ta trả học phí cũng theo nguyên tắc của anh ấy - hai nguyên tắc phải tuân thủ chỉ cốt làm sao giữ được khoảng cách hết sức cần thiết trong quan hệ thầy trò giữa hai chúng tôi mà thôi. Tôi cũng có thể từ chối không nhận khoản thù lao đó, song đó sẽ là điều cực kỳ ngu xuẩn, là bước đầu tiên đi đến phá hủy mối quan hệ ấy của chúng tôi vậy, tôi nghĩ bụng, mắt vẫn không rời theo dõi gã em rể, thậm chí còn kĩ càng hơn lúc nãy là khấc. Tôi có thể thản nhiên theo dõi gã, chẳng chút trở ngại, bởi gã lờ tịt tôi, như thể tôi đã đứng lên và ra khỏi bếp từ lúc nào rồi. Quả vậy, giá bây giờ tôi có đứng lên đi hẳn ra ngoài, tôi nghĩ bụng, chắc gã cũng chẳng hay biết gì. Cái khủng khiếp đáng sợ trong tai họa của gia đình tôi đã bị thay thế bởi tính giật gân của sự kiện ấy từ lâu rồi, tôi nghĩ bụng, trước mặt tôi là bằng chứng sống của sự thực đó. Gã em rể tôi xuất thân từ một gia đình, mà tổ tiên ban đầu vốn gốc dân quê, sau chuyển thành tiểu thị dân, những người mang tham vọng ngoi lên cao, ai muốn hiểu cao là thế nào cũng được. Với tham vọng ấy, suốt đời họ chỉ nhăm nhe tìm mọi cách rũ bằng được gốc gác quê mùa của mình để gia nhập giới tiểu thị dân, rồi tiếp sau đó - trút vỏ tiểu thị dân hòng đổi tiếp lấy thứ gì đó cao hơn nữa, nhưng tôi cũng chịu, không cắt nghĩa được thứ đó là thứ gì. Có thể nói gã em rể tôi là kẻ cuối cùng sót lại trong chuỗi dài các nỗ lực nhọc nhằn đó, các nỗ lực mà sớm muộn sẽ tự nhiên đi đến thảm bại mà thôi. Bọn người này dốc gần như tất tật vào cuộc đỏ đen, toan vượt lên chính họ nhưng không sao vượt lên nổi, bởi bọn họ thiếu hẳn thứ sức mạnh của trí tuệ, bởi bọn họ vẫn chưa phát hiện ra trí tuệ - kể cả trí tuệ của thế giới bao quanh họ lẫn trí tuệ chính trong đầu óc họ - có nghĩa là, đến bước đi đầu tiên là bước làm tiền đệ cho bước thứ hai, bọn họ cũng chưa bước nổi nữa là. Rồi đến lúc nào đó, bọn họ sẽ như gã em rể tôi đây, bỗng nhiên rỗng sạch cả túi và không còn biết xoay xở thể nào với đời, với cả chính mình, đành quay ra quấy rầy kẻ khác. Nói nôm na là Wolfsegg có thêm một anh hề mới, tôi vừa nhìn gã em rể, vừa nghĩ, nhưng vở hài kịch không phải nhờ thế mà dễ chịu hay thú vị hơn. Tay hề này, đáng tiếc, không phải vai quậy cho vui mà là vai quấy rầy thì đúng hơn, tôi nghĩ bụng và chuyển ngay trò chơi chữ này thành trò chơi triết lý rối rắm. Tôi thoáng nghĩ, nhẽ ra mình cứ kéo Gambetti về đây, nhưng Gambetti chắc chắn sẽ chẳng chịu tự biến mình thành lá chắn tinh thần cho tôi chống lại mọi thứ khó chịu ở Wolfsegg. Nhưng bây giờ tôi lại thấy, không khéo Gambetti về đây lại thành gánh nặng cho mình cũng nên; thậm chí nếu anh ấy có làm lá chắn cho tôi trong mọi chuyện thì rồi tôi cũng sẽ chỉ hục hặc với anh ấy mà thôi, trong lúc tôi còn khối chuyện khác để hục hặc, bực bội. Ở Wolfsegg, mọi sự giữa tôi với anh ấy ắt sẽ khắc hẳn với ở Rome. Ở Wolfsegg tôi sẽ không thể quan tâm, để ý cẩn thận và chu đáo đến anh ấy như ở Rome được; ở đây không thể có những thứ vốn vẫn làm các cuộc hội ngộ với anh ấy trở nên thú vị nhường ấy được. Gió trời Wolfsegg không phải gió trời Rome, bầu không khí ở Wolfsegg tuyệt nhiên không phải bầu không khí ở Rome. Hay, cứ nói trắng ra cho gọn, rằng Wolfsegg không phải Rome! Tôi mà đưa Gambetti về đây, hẳn tôi đã mắc một sai lầm tai hại. Cứ thời tiết thế này, tang phục của tôi cho buổi đưa đám, tôi tự nhủ, chắc chắn phải là áo choàng vải len, nhưng tôi sẽ không mặc thứ áo choàng vải len ấy, tôi sẽ khoác một trong những chiếc áo choàng kiểu thành Rome tôi vẫn treo sẵn trong tủ áo ở Wolfsegg; âu cũng là để tách mình ra khỏi tất cả bọn người khác, bọn người sẽ suốt lượt khoác áo choàng len đi đưa đám, tất cả, không trừ một ai, kể từ bọn Gauleiter, đến các vị Giám mục, ai ai rồi cũng sẽ khoác áo choàng len đến dự đám ma cho mà xem, nhất là các vị Giám mục, chỉ cần gió thổi nhè nhẹ thồi, nhất là gió ngoài nghĩa địa nữa, là các vị vội khoác áo choàng len ra ngoài trang phục nhà thờ của họ ngay. Các bậc bề trên của nhà thờ chả hay sợ bị cảm mà lại, tôi nghĩ bụng, nên vào các dịp phải ra ngoài trời, bao giờ các vị cũng khoác áo choàng len lên người đề phòng gió máy. Mặc áo khoác thành Rome, tôi sẽ tách được mình ra khỏi đám người đó, tôi thầm nghĩ, sẽ ngay từ đầu khẳng định tôi không còn là dân Wolfsegg nữa, mà là người thành Rome, tôi sẽ đóng vai người Rome ngay, thì từ bao nhiêu năm nay họ vẫn chả rủa tôi là đồ dân thành Rome đấy thôi, cho nên, vai tôi diễn sẽ là vai thằng dân thành Rome. Trong đầu tôi nghĩ đến chiếc áo choàng tôi mua năm ngoái ở Padua. Ngày mai, tôi bụng bảo dạ, tôi sẽ phải đóng vai dân thành thị, dân thủ đô. Tôi sẽ mang giày mua ở Rome, quấn khăn quàng Rome. Như thế, tôi bảo đảm tôi, cứ vỏ bên ngoài thôi cái đã, tách biệt khỏi bọn người khoác áo choàng len, một bọn mà, nói cho cùng, tôi thật sự căm ghét, căm ghét từ xưa đến giờ. Tôi biết, bọn người khoác áo choàng len sẽ tìm mọi cách áp đảo và khuất phục tôi, nhưng tôi sẽ biết cách tự vệ. Thằng dân thành Rome này ngày mai sẽ đủ vững vàng để không bị bọn mặc áo choàng len chinh phục, vẫn đang ngồi với gã em rể trong bếp, tôi nghe bên ngoài khách khứa đã lục tục đến - không phải chỉ khách đến viếng, tôi nghĩ ngay, mà khách đến trọ qua đêm tại Wolfsegg đây. Tôi vừa kịp nhổm đứng dậy - cả gã em rể cũng vậy, mặc dù gã vẫn còn mê mẩn với những gì gã đọc được trong báo chí - thì đã nghe có tiếng gõ cửa và lúc này, tôi mới sực nghĩ, không biết bà đầu bếp lẫn các cô phụ bếp biến đi đằng nào, cả mấy con em tôi nữa, chui rúc xó nào mà lại để khách, do không có ai tiếp đón, phải đi hết gian tiền sảnh đến tận bếp gõ cửa thế này. Tôi ngượng chín người, về sau, tôi cứ căn vặn hai con em gái, làm sao lại không có ai đón khách ngay ở cổng vào khu nhà chính, tôi gắt, để người ta đi đến tận cuối gian tiền sảnh mà chẳng ai đón tiếp như thế. Hai đứa chúng nó đã chẳng thề thốt mãi với tôi, sẽ đích thân đón khách là gì - chẳng riêng gì khách đến viếng mà cả khách đến trọ cũng vậy. Chúng nó còn để hẳn trên chiếc bàn kê trong gian tiền sảnh một danh sách ghi rõ ai trong số khách đến dự đám tang sẽ nghỉ lại đêm hôm sau, hay lâu hơn; trong đó cũng ghi rõ, khách sẽ nghỉ ở nhà trọ dưới làng, hoặc - nếu họ là bà con họ hàng gần gũi hay bạn bè thân thiết, như Spadolini chẳng hạn - sẽ nghỉ trong tòa nhà chính hay ít ra, cũng ở khu nhà thợ săn hay nhà thợ làm vườn, là nơi thấy bảo giường chiếu đã sửa soạn xong xuôi cả rồi. Chỉ liếc qua danh sách, tôi đã thấy ngay chúng nó định xếp Spadolini nghỉ lại trong tòa nhà chính. Khách vừa đến gõ cửa là bà con bên ngoại, những người tôi chẳng quen mấy; thậm chí tôi còn phải tự giới thiệu, bởi họ cũng chẳng nhớ tôi là ai, mặc dù tôi đã có lần gặp họ ở München, tức là ở tại nhà họ, nhưng vào dịp nào thì tôi quên mất rồi. Họ ai nấy đều mặc đồ đen; họ đảo mắt, theo tôi, có vẻ kiêu ngạo, nhìn quanh gian tiền sảnh và muốn biết ngay gian nhà thờ họ ở đâu và phải chăng người chết được quàn trong nhà thờ. Không, tôi đáp, trong khu nhà kính. Họ đòi đi ngay ra đó xem mặt người chết. Hôm đám cưới Caecilia, tôi nghĩ bụng, đám này không đến dự. Lần ấy, họ mà có mặt, tôi đã nhận ra ngay. Tôi không có ý đinh dẫn họ sang bên khu nhà lánh. Khi nãy, gã em rể thoáng trông thấy đám này, đã vội lẩn trở lại ngay vào bếp; tôi nhìn quanh xem các em gái tôi đâu, nhưng chúng nó chẳng rõ tại sao lại bỏ rơi tôi trơ trọi một mình ở đây và biến mất tăm; tôi bảo họ đành chịu khó đi một mình sang khu nhà kính vậy, giá tôi không có việc gấp phải làm trên tầng trên thì tôi đã đích thân đưa họ sang đấy rồi. Lấy cớ vậy thôi, chứ đám người này ngay từ đầu đã làm tôi khó chịu, khiến tôi chẳng muốn dây dưa lâu với họ làm gì nữa. Họ lần lượt chìa tay ra cho tôi bắt và tôi đành bấm bụng nắm lấy mà lắc, bụng bảo dạ, cố mà che giấu bớt sự chán ghét dành cho họ, nhưng thực tình không biết mình có giấu được không. Nói cho đúng ra, thì không phải bao giờ tôi cũng giấu được nỗi khó chịu, nhất là khi gặp những kẻ rõ ràng không thể ưa như đám này. Khó chịu nhất là cái vẻ kênh kiệu ta đây; mấy bộ quần áo đắt tiền kia chắc chắn mới sắm cốt chỉ để dự đám ma này và bây giờ được đem ra trưng - như thể trong buổi tổng diễn tập cuối cùng trước khi cồng diễn chính thức vậy - đầy vẻ hào nhoáng, kiêu ngạo và tự tin đến phát ghét. Tôi chỉ họ cách đi sang khu nhà kính. Họ tất cả năm người, một cặp vợ chồng, cùng mấy đứa con đã khá lớn, trên dưới hai chục tuổi cả, và dưới con mắt tôi, hư đốn hết cả lượt, chẳng có gì ngoài sự hời hợt, đần độn, hỗn hào; bọn này tỏ ra không biết giữ ý giữ tứ gì, nói năng ồn ào, như thể chúng đang ở nhà chúng không bằng. Tôi không biết nhà này đã bao giờ đến nhà tôi chưa; xem chừng đã đến rồi, bởi mẹ tôi vẫn quý, vẫn chuộng hạng người như thế này, tôi tự nhủ, tức hạng người giống như bà. Khu nhà kính nằm phía bên kia ạ, tôi chỉ cho họ, rồi để mặc họ kéo nhau sang bên khu nhà kính. Gã em rể, nãy giờ lẩn vào bếp, đứng tán chuyện với các cô phụ bếp, đúng vào lúc các cô này bận bịu chuẩn bị bữa tiệc đứng buffet mà lúc sáng nay các em gái tôi đã bảo họ làm. Từ khắp các phòng, không biết bao nhiêu là khay đựng các loại bánh mì kẹp và các bát tô đựng đủ thứ xa lát trộn được bê ra; thậm chí từ gian nhà thờ - trong đó khá lạnh, nên rất tiện để bảo quản thức ăn - họ cũng bê ra cơ man nào những tô những bát đựng đầy nước xốt hay kem và vô số khay chất đầy bánh mì. Thì cũng phải mời khách khứa ăn uống đàng hoàng! IM nhiên, thấy bảo vậy, họ chẳng đòi được ăn món nóng sốt, nhưng ít nhất cũng phải dọn mời họ bữa tiệc buffet với thức ăn nguội. Tụi em gái tôi tuy chẳng biết nấu nướng gì, nhưng dọn tiệc đứng với thức ăn nguội, thì chúng nó thạo ra trò. Ai cũng thích tiệc đứng do các em gái tôi dọn. Tôi không rõ trong hai đứa, đứa nào làm giỏi hơn, Caecilia hay Amalia, nhưng cả hai bao giờ cũng được khen ngợi về các buổi tiệc đứng như thế. Riêng tôi, nói thật, chẳng màng gì lắm đến các bữa tiệc đứng đó, hay nói chung, món ăn thức uống không phải là chuyện lớn đối với tôi, chưa kể tôi cũng thừa biết các món ăn Áo chắc chắn không phải những món ăn ngon nhất trần đời và, tất nhiên, không thể đem chúng ra so với các món ăn Ý được. Gian tiền sảnh bây giờ sực mùi thức ăn. Trong lúc mấy người bà con từ München - bà con quả là rất gần vậy - đã sang bên nhà kính, thì số khách khứa khác từ nhà quản sự nối đuôi nhau kéo đến, suốt từ khoảng năm giờ chiều đến tận đêm vẫn chưa ngớt. Họ gồm đủ hạng người, đến từ khắp nơi, từ nhiều nước; trước đám tang một ngày mà khách đã nhiều hơn cả khách dự đám cưới của Caecilia, tính ra cũng phải hơn một trăm, một trăm hai chục, một trăm ba chục mống gì đó cũng nên. Rốt cuộc, tôi chả buồn đếm xem có bao nhiêu khách mới đến nữa, và cũng đành bỏ cuộc, không đích thân đón tiếp từng người nữa và trao hẳn cái trách nhiệm - thực lòng mà nói - hết sức khó chịu và đáng ghét ấy cho các em tôi. Hai đứa cuối cùng cũng nhận việc và chịu đứng sẵn ngay cổng vào khuôn viên để đón khách, tay cầm sẵn danh sách, trong đó ghi rõ khách sẽ nghỉ qua đêm ở đâu. số khách nghỉ tại khu nhà chính không nhiều, một số trọ trong khu nhà thợ săn, một số khác - trong nhà thợ làm vườn; số đông còn lại sẽ nghỉ tại các nhà trọ dưới làng. Hầu hết khách khứa đều mặc trang phục màu đen, tạo thành một bức tranh nghiêm trang, đứng đắn. Ấy thế, mà riêng Spadolini lại không khoác áo choàng đen mới lạ, lão xuất hiện trong chiếc áo khoác gọi là áo khoác bốn mùa màu lục pha màu xám, là chiếc áo tôi biết, trước đây lão từng đi mua với mẹ tôi ở Rome. Ở đường Condotti, tất nhiên. Cơ mà, rồi tôi sẽ kể tiếp về Spadolini sau. Gã chủ xưởng nút chai rượu vang chẳng mấy chốc đã hòa lẫn vào đám khách khứa đông đảo; Caecilia, vợ gã, chốc chốc lại đi tìm và lần nào tôi cũng nghe tiếng nó ầm ĩ gọi tên gã, và tiếng gọi của nó, theo tôi, trong bối cảnh này nghe sao mà chướng tai. Vả lại, tiếng gọi thỉnh thoảng lại vang lên như thế của nó khiến khách đến dự đám tang chắc phải buồn cười lắm; đa phần bọn họ, do thời tiết mát mẻ, đều đứng hết cả ngoài vườn, tận dụng cơ hội bắt chuyện làm quen nhau, bởi vì - như tôi nhận thấy ngay - phần lớn họ quả chưa biết nhau thật Nói vậy, nhưng trong gian tiền sảnh khu nhà chính cũng vẫn còn khối người, nhất là các vị đã già hoặc đứng tuổi, ở tuổi các vị, người ta vẫn ưa lảng vảng gần bếp hoặc gian nhà thờ. Nhiều người cũng tưởng xác người chết được quàn trong gian nhà thờ và, trước hết, đều xăm xăm đến đó, tức là vào gian tiền sảnh khu nhà chính trước cái đã. Họ tỏ ra khá ngạc nhiên vì linh cữu không đặt ở đấy. Do gia đình tôi, từ lâu lắm rồi - tính từ đám ma ông nội tôi đến giờ - không cử hành đám ma nào nữa, nên nhiều người không còn biết lệ gia đình tôi vẫn quàn người chết trong khu nhà kính; nhiều người mới đến cứ thế băng qua sảnh chính đi thẳng tới gian nhà thờ, sau đó lại kéo nhau sang nhà kính. Ở đấy, ngay lối vào đã xếp đầy hoa, vòng hoa này chồng lên bó hoa khác, khiến đám thợ làm vườn khá lúng túng, không biết xếp vào đâu cho hết số hoa viếng được tiếp tục đưa từ bên nhà quản sự sang mỗi lúc một nhiều. Nến phía trong nhà kính bây giờ đã được thắp hết cả lên. Một vài cô phụ bếp không có việc trong bếp được phái ra ngoài tiếp rượu vang hay nước uống cho khách khứa đang đứng rải rác trong khu vườn; ngoài ra, còn thêm hai tay thợ săn cũng được sai đem cả nước uống lẫn chút món ăn nhẹ ra vườn mời khách. Từ cửa sổ phòng tôi ở tầng hai nhìn ra, khung cảnh đám khách khứa đứng tụ tập rì rầm nói chuyện trong khu vườn ngoài kia - vào giữa lúc hoàng hôn đang dần buông - tạo thành một bức tranh thật đẹp, trang nhã và sang trọng. Tôi lui về phòng tôi đã được một lúc, để tránh phải thường xuyên phơi mặt ra giữa đám người kia. Không còn chịu được cái trò mồm nhai đi nhai lại vài ba câu khuôn sáo y hệt nhau, tai căng ra hứng mãi cũng từng ấy câu nói giống nhau ấy thêm nữa, tôi đã chờ chớp được dịp may chuồn biến về phồng. Từ trên nhìn xuống, tôi ít nhiều bao quát được toàn cảnh dưới sân hơn. Hai em gái tôi lúc ấy đã kịp đẩy gã em rể ra ngoài đón tiếp và hướng dẫn chỗ nghỉ đêm cho khách. Đám ma thường vẫn hấp dẫn tôi hơn đám cưới, bởi thế bây giờ mọi chuyện ở đây quả cũng làm tôi hài lòng hơn đám cưới tuần trước. Có điều, như bây giờ đứng nhìn qua cửa sổ xuống vườn tôi mới thấy, phần đông khách cũng vẫn là những người tám hôm trước đã có mặt ở đây. Đương nhiên, cung cách của họ bây giờ khác đi nhiều, do tính chất của sự kiện nên họ giữ ý giữ tứ hơn. Họ đứng tụm thành từng nhóm nhỏ khẽ tán chuyện với nhau, tôi thoáng nghĩ, như thể hôm nay là một buổi dạ hội mùa hè vậy. Màu đen của các bộ trang phục trên người họ giúp che đi cái trơ trẽn nhố nhăng vốn không thể chịu nổi ở họ. Rằng duyên cớ tạo nên bức tranh đẹp đẽ, trang nhã và sang trọng này lại là một duyên cớ đau buồn, tôi tự nhủ, âu cũng là điều đáng tiếc. Thế nhưng, chỉ xét riêng vẻ đẹp và sang trọng của bức tranh này thôi, tôi thầm nghĩ, miệng khẽ lẩm bẩm thành lời, thì cũng đáng để thỉnh thoảng, ta tổ chức kiểu dạ hội như thế này cho vui; ở đây, tôi tự nhủ, chính nét thẩm mỹ là động cơ thôi thúc. Song, chớ có dại dỏng tai nghe họ chuyện trò gì với nhau. Đứng bên cửa sổ, từ nãy đến giờ tôi chắc mẩm dưới kia mọi người đang thì thào hỏi nhau về tôi, về anh con trai, tức là về thằng em, về kẻ thừa kế mới, về ông chủ mới, vân vân và vân vân; ông ta đi đường nào, sao không ở đây với họ và cũng chẳng thấy mặt mũi đâu, mặc dù ai cũng bảo, ông ấy đang ở đâu đó. Tôi không bật đèn trong phòng, để có thể đứng đây nhìn xuống đám đông ở dưới mà không ai biết, không ai phát hiện ra. Lúc này Spadolini vẫn chưa có mặt. Tôi sốt ruột chờ lão từng giây từng phút, nhưng mãi sau y mới đến, và tất nhiên rồi, làm khuấy động cả lên. Chờ lâu quá, tôi rời phòng tôi sang phòng bố tôi, ngồi xuống bên chiếc bàn chơi bài trước đây ông vẫn dùng làm bàn com-mốt. Áo choàng ban đêm của bố tôi vẫn treo ở cửa. Tôi đứng dậy, nhấc xuống mặc lên người, bởi tôi bỗng thấy ớn lạnh. Buộc xong dây lưng áo choàng, tôi ra đứng trước chiếc gương treo trên tường. Cơn buồn ngủ, mà lúc ngồi dưới bếp với gã em rể tôi cố lờ đi, giờ đây - như người ta vẫn nói - quả nhiên đã tan biến, làm tôi tỉnh như sáo. Nhưng tôi chẳng có chút hứng thú nào thò mặt ra ngoài lúc này, nên tôi ngồi xuống chiếc ghế bành bố tôi kê bên bàn chơi bài rồi duỗi thẳng chân ra. Lúc này, tôi chợt nhận ra căn phòng bố tôi, so với lúc nãy tôi vào đây, đã được dọn dẹp sạch sẽ, và dường như trong chớp mắt bỗng thật sự trở nên bóng lộn. Trên chiến bàn kê bên cửa sổ còn có cả hoa cắm trong lọ, tôi không nhìn rõ hoa gì, bởi trời cũng tối lắm rồi. Song, tôi sực nghĩ, phòng này vừa được dọn dẹp gấp cho Spadolini. Tôi nhớ, tôi đã nói với Gambetti trong điện thoại, rằng Spadolini không những có thể, mà chắc chắn sẽ đến dự đám tang và sẽ nghỉ qua đêm trong phòng bố tôi. Tôi nghĩ bụng, mình đoán quả không sai. Bên giường ngủ là đôi dép đi trong nhà kiểu Anh quốc, dạo nào mẹ tôi mua ở Wien cho bố tôi, nhưng bố tôi chẳng mang bao giờ, vì ông bảo trông nó đồi bại quá. Đôi dép - mềm mại, làm bằng da cừu non, màu đen, trông sang trọng hết sức như mẹ tôi vẫn trầm trồ, và chưa ai xỏ chân vào bao giờ - bây giờ đang để sẵn đó, chờ Spadolini. Cả chiếc áo choàng tôi đang mặc đây chắc cũng vậy, tôi nghĩ bụng, rồi đứng lên, cởi áo ra, treo trở lại vào chỗ cũ. Cái móc treo áo này bố tôi tự tay bắt vít gắn vào cửa, bất chấp mẹ tôi từng luôn mồm phản đối, rằng ông gắn cái móc làm xấu hẳn cánh cửa. Phòng tắm của bố tôi cũng được dọn dẹp sạch sẽ, khăn lau, khăn tắm mới tình, vòi nước lau sạch bóng. Mấy cô giúp việc trong nhà, tôi tự nhủ, làm ăn cũng được đây, có điều ở đây các cô lau chùi, dọn dẹp chu đáo thế này, còn phòng tôi, các cô chẳng ngó ngàng gì đến. Thật vậy, phòng tôi vẫn giữ nguyên trạng như tuần trước, lúc tôi cứ để bừa mọi thứ ra trong phòng rồi đùng đùng giận dữ bỏ đi. Giận dữ, vì bố mẹ tôi, đúng ngày cuối cùng trước khi tôi ra đi, lại thi nhau đổ lên đầu tôi không biết bao nhiêu lời khiển trách lối sống của tôi ở Rome. Trong tai tôi vẫn còn vang những lời ông bà xỉa xói tôi hôm đó, nhưng tôi chẳng muốn nhắc lại nữa. Tôi chợt nhìn thấy bộ ly cốc bằng bạc trên bàn com-mốt của bố tôi, vốn do mẹ tôi mua từ Paris về tặng ông. Thì sau mỗi chuyến đi xa về, bà vẫn thường đem một thứ gì đó về cho ông; nhưng về bộ ly cốc bằng bạc này, bố tôi chỉ lầu bầu, trông nó quá ẻo lả đàn bà, ông không thích, vâng, ông đã dùng đúng những từ như thế về bộ ly cốc bạc đem từ Paris về này. Ông chưa bao giờ sờ đến bộ ly cốc. Bây giờ bộ ly cốc đã được lôi từ trong ngăn dưới của bàn com-mốt đặt lên mặt bàn, tôi nghĩ bụng, để chờ Spadolini đây. Mẹ tôi cho khắc mấy chữ đầu tên của bố tôi lên mặt ngoài bộ ly cốc, và tôi vẫn nhớ, ông nhăn mặt cằn nhằn, coi đấy là trò lố bịch. Tôi nghĩ bụng, thì ra mẹ tôi cũng không thành công lắm trong việc làm hỏng khiếu thẩm mỹ vốn không đến nỗi xoàng của ông. Tôi lại ngồi xuống ghế và nghĩ sang chuyện tại sao tôi ngưỡng mộ Spadolini, ngưỡng mộ cuộc đời thật khác thường của y, bắt đầu từ một thành phố Bắc Ý nằm gần hồ Como. Y là con một luật sư và ngay từ rất sớm, đã được bố mẹ nhắm cho làm nghề linh mục. Là một trong năm đứa con của gia đình, đứa nào đứa nấy đều học xong đại học và ít nhiều thành đạt, Spadolini chắc chắn là đứa có tài nhất. Vị linh mục trẻ tuổi mới đầu đến Florenz, sau đó về Rome và mới hai mươi lăm tuổi đã bước chân lên đường công danh. Đến đâu y cũng được nồng nhiệt đón tiếp, y nói gì ai cũng lắng nghe và xuất hiện ở đâu, y cũng khiến đám đông phấn chấn, làm mọi cuộc vui bữa tiệc y tham dự cao giá hẳn lên. Mới ba mươi lão đã là Sứ thần Tòa thánh ở Wien, ba mươi tám - được trao giữ một chức vụ quan trọng, cai quản việc tài chính của Vatican, bốn mươi tuổi - Sứ thần Tòa thánh, mới đầu ở vùng Đông Á, sau ở Nam Mỹ. Cả tiếng lây Ban Nha lẫn tiếng Bồ Đào Nha, y nói chuẩn, không chút pha giọng cũng hệt như khi dùng tiếng Anh, tiếng Pháp. Và, nói cho đúng, y có thể tiếp chuyện đủ các đề tài, với tất cả hạng người; hầu như không gì có thể làm y lúng túng. Y làm quen với mẹ tôi lần đầu tiên tại một bữa tiếp tân của Đại sứ quán Bỉ ở Wien. Với Spadolini, có lẽ mẹ tôi quả thực là đứa con của thiên nhiên, như y vẫn nói với tôi. Bây giờ đứa con thiên nhiên của y chết mất rồi, tôi nghĩ bụng, đứa con thiên nhiên y yêu thương nhường ấy đang nằm quàn trong cỗ áo quan tại nhà kính kia, bỏ mặc một mình y ở lại trên đời. Thế nhưng, Spadolini chưa từng cô đơn bao giờ, bao giờ y cũng biết hòa mình vào đám nhân quần và luôn luôn biết chọn chỗ đứng giữa trung tâm của vũ trụ, tôi nghĩ bụng, cứ nhìn y là biết. Vừa xuất hiện - bất kỳ ở đâu, hay bất kỳ giữa đám đông dù lớn, dù nhỏ nào - y đã chế ngự mọi sự trong nháy mắt. Đâu đâu, cũng như bất kỳ lúc nào, thiên hạ chen nhau quây lấy y. Bàn ăn y ngồi bao giờ cũng là bàn hứng thú nhất. Năm nào, mẹ tôi cũng mời y về thăm Wolfsegg ít nhất hai lần, song cũng không phải chỉ lên Wolfsegg, mà còn xuống cả miền biển phía nam nghỉ ngơi, giải trí nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần. Và nếu tôi nhớ không nhầm, Spadolini chưa bao giờ từ chối; đấng bề trên của Nhà thờ này đáp máy bay, bao giờ cũng hạng nhất hẳn hoi, đến tất cả những nơi mẹ tôi đang ngóng chờ Ngài, tất nhiên, tại những khách sạn sang nhất, đàng hoàng nhất, về những cuộc hẹn hò kiểu này, bố tôi có khi biết, có khi không, rồi rốt cuộc, ông cũng chẳng thèm màng đến chuyện mẹ tôi gặp Spadolini ở đâu, hay bao giờ nữa. Thậm chí, ông còn rất hay đi cùng với hai người kia, chẳng hạn, đến Badgastein hay Taormina hay Sils Maria ở Thụy Sĩ, là nơi cả ba vị sẽ trọ ở khách sạn Waidhaus - khách sạn xây tại nơi đẹp nhất xứ này. Ở đây Spadolini hoặc sẽ mang ván trượt tuyết đường trường hoặc bơi thuyền trên hồ Silsersee về phía đèo Maloja, tức là về phía bức tranh từng làm Segantíni nổi tiếng ấy. Vị Đức cha Tổng Giám mục ấy - một người mang một lúc ba hộ chiếu, một cái của Vatican, một cái của Ý và một cái khác gọi là hộ chiếu ngoại giao và rất biết cách sử dụng chúng một cách tùy cơ ứng biến ấy - bao giờ cũng cảm thấy, phải nói thẳng ra như thế, sung sướng hạnh phúc bên cạnh mẹ tôi. Y rất hay nói vậy, và tôi tin y nói thật lòng. So với y, các Giám mục ở Áo thật khờ dại - ngồi duỗi người trên chiếc ghế bành, tôi nghĩ bụng - đến như đem Đức Hồng y ở Wien ra so thì cũng vẫn còn khờ nữa là. Có thể nói Spadolini là chức sắc bẩm sinh của Giáo hội. Chỉ cần nghe y nói thế nói, chỉ cần thấy y ăn uống ra sao, tôi nghĩ bụng. Hay cứ trông cách y ăn mặc là biết. Y không phải là hạng tăng lữ xuất thân từ quần chúng bình dân, những người thật lòng ngây ngô gắng sức leo lên bậc thang danh vọng của Giáo hội; y là chức sắc bẩm sinh của Giáo hội, như người ta vẫn kháo nhau. Ngồi trên ghế bành, tôi lẩm bẩm nhắc đi nhắc lại nhiều lần, chức sắc bẩm sinh của Giáo hội, như thế. Ảnh hưởng của y ở Vatican cực lớn, mặc dù các mối quan hệ của y với các Đức Giáo hoàng còn hơi sơ sài, hay quá xa, như y đôi khi chia sẻ với tôi, khiến y, cho tận giờ, vẫn chưa được đội chiếc mũ Hồng y lên đầu. Song, Spadolini cũng là con người của đời trần vậy, tôi nghĩ bụng. Có lẽ, cái chết của mẹ tôi, tôi tự nhủ, sẽ là cơ hội cho tôi phục hồi lại, hay thậm chí làm bền chặt thêm tình bạn thân thiết giữa tôi với Spadolini; thả cho nó tự do vùng vẫy, không vướng víu ai. Bởi gì thì gì, Spadolini cũng là một cái cớ khiến tôi chuyển đến Rome; chính y giới thiệu tôi với Zacchi và anh này đã tìm cho tôi căn hộ ở Piazza Minerva, chính y đưa tôi đi khắp các xó xỉnh ở Rome, đã đưa tôi nhập vào giới thượng lưu ở Rome, đã ít nhiều giải mã thành Rome cho tôi. Lúc đầu, ở Rome tôi chỉ quen Spadolini, chỉ biết dựa vào y. Cũng cần nói thêm, rằng chú Georg tôi rất trọng y, mặc dù chú biết Spadolini, như chú vẫn thường nói, quan hệ lén lút theo một lối kỳ cục với mẹ tôi. Chính Spadolini cũng đã nhiều lần đến Cannes, một lần y còn đi với chú Georg đến Senegal, là nơi hai vị cùng tổ chức cuộc triển lãm tranh các họa sĩ miền nam nước Pháp và đồng thời, theo lời chú Georg, trò chuyện theo lối triết học hàng tuần liền với nhau. Spadolini còn là một nghệ sĩ - ngồi yên trên ghế, tôi nghĩ bụng - nghệ sĩ siêu cấp là đằng khác, dù cho y chẳng vẽ vời cũng không chơi nhạc cụ nào hết. Tôi thường đi với lão qua các phố phường thành Rome và y từng cứu tôi thoát khỏi mọi tâm trạng đen tối độc địa, kéo tôi vượt qua mọi nỗi hoang mang thất vọng, nhất là vào thời gian đầu tôi ở Rome - cái thời do tôi hầu như không biết xoay xở với chính mình ra sao mà đâm ra u sầu, mất ngủ và trong đầu toàn loay hoay với các ý định tự vẫn ấy. Tình trạng đó kéo dài mãi cho đến lúc Spadolini đánh thức tôi, làm sống lại trong tôi các ham muốn làm việc khoa học, rốt cuộc, y làm trung gian, bắt mối cho tôi dạy Gambetti. Y vốn quen biết gia đình Gambetti từ hàng chục năm nay. Spadolini nhiều lần rủ tôi đi dạo trên đồi Pincio, chỉ cốt kéo tôi ra khỏi hố sâu hoang mang tuyệt vọng, bằng cách, như y luôn miệng nói, tập luyện tư duy. Y làm sống lại trong tôi các năng khiếu, mở lại cái gọi là vốn liếng tư duy mà chính tôi đã quên khuấy đi mất, nhắc nhở tôi nhớ lại, tôi đến Rome nhằm mục tiêu gì; y bảo, đó là mục tiêu gì nếu không phải là mục tiêu vận động tư duy. Lòng đam mê tư duy của tôi, lúc đó cằn cỗi, gần như chết ngóm đến nơi rồi thì Spadolini kịp thời lay nó dậy, chính y, chứ không phải ai khác. Hai chúng tôi luyện tập tư duy với nhau và cũng rất hay đến Trastevere tìm các quán ăn ngon. Ăn ngon là một đường, nghĩ suy minh mẫn là một đường khác, ấy là những lời y hay nói, nhằm đóng thật sâu vào đầu tôi. Và, chắc chắn đó là những lời lẽ đã cứu sống tôi. Y thường bỏ công chạy xe đưa tôi về nông thôn, tức là chạy dọc theo đường Appia đi về nơi bất tận, chỉ với một mục tiêu duy nhất là cứu vớt tôi. Và tôi phải nói ngay, Spadolini cũng chính là người duy nhất, cảm nhận được tôi là người thế nào. Đã bao nhiêu lần y cố làm cho mẹ tôi hiểu, tôi là người thế nào, là kẻ có đầu óc cao siêu ra sao, song mẹ tôi bao giờ cũng bỏ ngoài tai những lời khen ngợi tán tụng y dành cho tôi. vẫn ngồi yên trên ghế và không rời mắt khỏi bộ ly cốc bạc đem từ Paris về để trên bàn, tôi nghĩ bụng, vâng, đứa con tự nhiên của y cứ để yên y huyên thuyên nói, nhưng chẳng buồn nghe. Làm sao lại thế được nhỉ? Sao Spadolini say mẹ tôi mê mệt, ít nhiều còn yêu bà là đằng khác và rõ ràng, rất thông hiểu bụng dạ bà; tâm can tôi thế nào, y cũng hiểu, trong khi bà chẳng hiểu gì về tôi, bà chẳng buồn hiểu tôi thì đúng hơn, ngồi trên ghế bành, tôi nghĩ bụng, Spadolini hiểu tôi, y cũng hiểu cả mẹ tôi, nhưng mẹ tôi bao giờ cũng chống lại tôi, bất chấp việc Spadolini lúc nào cũng bênh vực tôi. Spadolini không làm sao thuyết phục nổi mẹ tôi để tâm đến cái thằng con một chút. Có lần y bảo tôi, bà ấy không thấy có mối liên hệ nào với anh cả, anh hoàn toàn xa lạ với bà ấy. Song, thật không thể hiểu vì sao mà mẹ tôi, vốn trong bất cứ chuyện gì cũng chịu ảnh hưởng lớn của Spadolini, lại không hề chịu nghe lời lão trong những chuyện dính dáng đến tôi. Bà không nghe, vì bà không muốn nghe, có vậy thôi. Ta quý anh, quý mẹ anh, nhưng mẹ anh không hiểu anh, y nói với tôi, thậm chí bà còn ghét anh nữa kia, còn anh, thật ra anh củng chẳng ưa gì mẹ anh, thậm chí còn căm ghét bà ấy, Spadolini chẳng bao giờ ngần ngại khi phải nói toạc sự thật. Lão cũng phải là kẻ chức sắc của Giáo hội để cho phép mình thẳng thừng như thế, tôi nghĩ bụng, để lấy quan điểm của Nhà thờ làm cách nhìn cho chính mình. Ai nấy thuộc dòng họ Spadolini đều có đầu óc độc lập, tôi thầm nghĩ. Kể cả lão Spadolini, kẻ chức sắc của Giáo hội, là kẻ mà tôi quen biết đây. Cả yếu tố Spadolini lẫn yếu tố quân chủ, tôi nghĩ bụng, đều có thể được khẳng định trong khuôn khổ Nhà thờ Thiên chúa giáo theo cách thích hợp với y. Đến cả hôm nay cũng vậy. Trong phòng bố tôi vẫn còn ấm hơi ông. Tôi đứng dậy, mở tủ treo quần áo ra và, chỉ nhìn lướt qua một lượt, đã đếm được mười hai bộ âu phục đang treo, bộ nào cũng do ông thợ may Knize ở Wien đích thân may đo cho bố tôi. Nhưng, do bố tôi thấp hơn tôi nhiều - à không, vốn thấp hơn, tôi vội thầm đính chính - nên tôi không mặc vừa mấy bộ này được, tôi nghĩ thầm và suy tính xem nên đem tặng ai. Đem cho mấy anh thợ làm vườn thì thật vớ vẩn, nhưng bảo đem cho cánh thợ săn thì tôi chẳng bao giờ đem, biếu họ hàng lại càng không, tôi tự nhủ và đóng tủ lại. Trong ngăn đựng giày bố tôi thường vẫn để phải đến ba chục đôi là ít. Tôi mở ngăn đựng giày ra, giày cỡ bốn hai ở đây chẳng ai mang vừa - tôi nghĩ bụng - rồi lại đóng tủ đựng giày lại. Nhưng số áo sơ mi còn tốt của bố thì tôi sẽ giữ lại dùng. Áo may rất khéo và tôi mặc cũng vừa. Đám người nhà chắc đã dọn tủ riêng cho Spadolini rồi. Trên bàn giấy, bố tôi dựng mấy tấm ảnh mọi người trong gia đình, mỗi người một tấm, ai nấy đều có dáng điệu ôn hòa, vô hại. Mấy tấm ảnh không dọa nạt ai, tấm nào tấm nấy đều làm người xem yên lòng, không gây ra bất cứ điều gì khiến người ta phải nghĩ ngợi, cùng lắm, cũng có thể chỉ gợi cho người ta một câu hỏi, làm sao mà trong bấy nhiêu tấm ảnh ai nấy đều cùng có dáng điệu ôn hòa và vô hại như nhau được như thế. Bố tôi thường trở dậy lúc năm giờ sáng, năm rưỡi ông ngồi xuống bên bàn giấy, để sắp xếp công việc - như ông vẫn nói - rồi khoảng bảy rưỡi, ông ngồi ăn điểm tâm với mẹ tôi trong đại sảnh - gian phòng rộng, trước đây mẹ tôi vẫn gọi là gian phòng màu lục. Trời mà đẹp, thể nào ông bà sẽ cho mở toang hết cửa sổ ra. Trong lúc điểm tâm, hai ông bà thường bàn bạc lịch trình trong ngày, và các bất đồng lẫn các cuộc cãi cọ đầu tiên giữa hai ông bà đều bắt đầu từ đây. Nhưng vào những năm sau này, các buổi điểm tấm như thế của hai ông bà chỉ còn diễn ra trong im lặng, có chăng chỉ còn tiếng ly tách đụng nhau. Bố tôi vốn kiệm lời, mẹ tôi tuy nói nhiều và thích nói, nhưng vào giai đoạn đó, dẫu gì trước mặt bố tôi bà cũng giữ ý, không đa ngôn lắm lời lắm nữa. Bố tôi lâm bệnh và trong lòng bà, bà chỉ thầm mong sao cho ông sớm mất. Thật ra thì bao giờ bà cũng chắc mẩm ông chết đến nơi rồi. Bà nghĩ như thế hàng năm trời liên tục, bà đỉnh ninh cứ nhìn nét mặt ông, bà khắc biết. Mỗi khi có ai gây chuyện gì làm bố tôi khó chịu, thế nào bà cũng ôn tồn, thôi để ông ấy yên, ông ấy bị bệnh, chết đến nơi rồi còn gì. Bà nói như thế nhiều đến mức quen miệng, trước mặt ông, bà cũng chẳng buồn im miệng, vẫn bô bô nói ra như vậy. “Trước mặt chúng tôi, bà cũng không từ, cứ luôn mồm để cho bố yên nào, bố ốm nặng thế kia. Phần câu tiếp theo bố sắp chết đến nơi rồi thì bà không nói, chỉ nghĩ trong đầu bà. Trong nhà, bất cứ lúc nào cũng có thể nghe bà nói, lúc bố tôi vắng mặt hoặc quá mệt, thì để cho bố yên nào, bố ốm thế kia và sắp chết đến nơi rồi; lúc nào ông có mặt thì, để cho bố yên nào, bố ốm thế kia kìa. Cứ hở ra lúc nào là bà lên xe đi gặp Spadolini, vâng, Spadolini hào hoa - như bố tôi có lần đã gọi y như thế. Kể ra thì gọi như thế quả không ngoa, giờ đây tôi nghĩ bụng. Cứ vài ba tuần, khi nào ông chồng mờ nhạt, ốm đau, nằm kề miệng lỗ của bà làm bà ngán đến tận cổ, bà lại phải tìm đến người tình hào hoa kia của bà cho khuây khỏa, rồi đến lúc, người tình hào hoa của bà vướng chuyện này chuyện khác, không còn thì giờ chiều bà nữa, thì bà lại về với ông chồng mờ nhạt, không chút hào hoa, ốm đau và nằm kề miệng lỗ của bà, thường bà về giữa đêm, lén lút, hòng tránh tai khuất mắt đám đầy tớ trong nhà, song, tôi biết, bọn đầy tớ bao giờ cũng đánh hơi được mọi chuyện, bởi nói cho cùng, bao giờ đầy tớ chả am tường chuyện nhà chủ. Người ta thường vẫn tưởng, đám đầy tớ chẳng để ý gì; nhưng họ để ý hết đấy, thậm chí cả những chuyện nhỏ nhặt, tầm thường nhất, cả những chuyện không bao giờ có ai ngờ họ lại để mắt đến. Bởi vậy, nên họ thông tường mọi chuyện. Bao giờ ta cũng tưởng đám đầy tớ vô hại, ta có thể lừa phỉnh họ bất cứ lúc nào, có thể qua mặt họ khi nào ta muốn. Nhung lúc nào họ cũng biết tỏng tòng tong mọi chuyên, Spadolini, con người hào hoa, tôi thầm nghĩ, từ hàng chục năm trời nay vốn là niềm khao khát khôn nguôi của mẹ tôi. Bố tôi, ở đoạn cuối đời, chẳng buồn để ý đến niềm khao khát ấy của bà nữa, trong khoảng thời gian sau này, mỗi khi bà đêm khuya mới mò về, ông cũng chẳng buồn hỏi xem bà vừa đi đâu về. Bởi, nếu có hỏi, thì bà sẽ chỉ đáp lại ông, ở chỗ Spadolini về, bằng một giọng nhạo báng mà thôi. Thế nhưng, ngược hẳn với vị chức sắc Giáo hội, với kẻ hào hoa kia, ông chủ nông trại mờ nhạt và buồn tẻ này, xét cho cùng, mới là người an ủi bà, là chỗ dựa cho bà. Thỉnh thoảng, bà lại ngả đầu lên vai ông, thủ thỉ, từ bao giở bao giờ đến nay, có ông tôi thật sung sướng biết chừng nào. Và bà biết ơn ông đã tha thứ cho bà tất cả mọi chuyện. Bố tôi chỉ ngồi yên, mặc cho bà nói. Ông đã rời khỏi sân khấu ấy rồi, cái sân khấu trên đó đang trình diễn vở Spadolini, vở hài kịch lố bịch - như ông vẫn nói. Từ lâu rồi, vở hài kịch chỉ còn lại độc hai nhân vật nữa thôi. Cho đến tận bây giờ, tôi nghĩ bụng, tôi vẫn chỉ ưa những căn phòng om om tối; nhưng vào mùa này ở Wolfsegg, tôi cũng không bao giờ bật đèn phòng vì còn thêm một lý do nữa là muỗi mắt, giống muỗi cứ thấy ánh sáng là bay xông vào và trong chớp mắt sẽ biến các căn phòng ở Wolfsegg thành địa ngục. Khi nào trong phòng tối om, gần như chẳng nhìn thấy gì nữa cả, tôi nghĩ bụng, là lúc tôi thích nhất. Điểm tâm xong, bao giờ bố tôi cũng sang nhà quản sự, nhìn quanh nhìn quất, rồi gần như lần nào cũng như lần nào, ông sẽ trèo lên một chiếc máy kéo nào đấy, rồi chạy biến vào rừng. Chẳng ai biết ông tìm cái gì trong ấy. Ông chẳng tìm cái gì sất, tôi nghĩ bụng, ngoài những phút giây được một mình yên thân, khuất bóng vợ, vắng mặt con. Sáng hôm sau, người ta sẽ tìm thấy chiếc máy kéo ông bỏ lại ở đâu đó, còn ông, ông đi bộ xa hàng cây số trên mảnh đất do ông sở hữu. Đó chính là niềm vui thú lớn nhất trong mọi niềm vui thú của ông ở đời. Bao giờ ông cũng chỉ muốn làm một nông dân mà thôi. Ông chẳng bao giờ ấp ủ những cái gọi là các tham vọng lớn lao. Mãi đến lúc câu hỏi về người kế tục, tức là người thừa kế ông trở nên ráo riết, ông mới chịu lấy cô gái tỉnh lẻ, con gái một nhà buôn rau quả lớn, tức là người đem rau quả miền đồng quê Weis đóng chai đóng lọ, rồi đem số chai lọ ấy về bán ở Wien. Cưới mẹ tôi làm vợ xong, bố tôi vẫn thích luẩn quẩn trong trại lợn hơn là ngồi ở đại sảnh, sau này bị mẹ đổi tên thành căn phòng màu lục. Ông vẫn ưa thích gặp gỡ bằng hữu ở nhà quản sự, hay khu nhà thợ săn hơn, tôi tự nhủ. Nhưng một nông dân như ông, tất nhiên, vẫn luôn luôn giữ được cung cách ông chủ như thường. Đứa con đầu tiên đẻ ra đúng như ông mong muốn, tức là đứa con trai sẽ thừa kế ông, tức gã Johannes, anh tôi. Ông thừa nhận tôi, như đã nói, trong vai thừa kế phụ, còn mấy đứa con gái, đối với ông, có đẻ hay không đẻ chúng nó ra cũng chẳng sao. Ông không để tâm chút nào đến những kẻ sinh sau đẻ muộn như thế, cho nên, cũng là chuyện đương nhiên thôi, khi chúng nó ngay từ đầu đã bám váy mẹ. Hai đứa chúng nó, cả Caecilia lẫn Amalia, vốn đều là hai đứa con xinh xắn, những đứa mà về sau - như mồm miệng dân gian từ ngàn đời vẫn phán không sai - mỗi ngày một xấu xí. Khó coi là đằng khác. Hay ít ra, khó coi dưới con mắt tôi. Song, trong số các con, tôi là đứa rơi vào tình thế oái oăm nhất. Như thiên hạ vẫn nói, tôi không lọt vào chỗ nào trong hai trái tim bố mẹ tôi, về sau tôi cũng đành thôi, chịu, không tìm cách chen vào con tim ông bà nữa. Bởi rốt cuộc rồi tôi cũng phải thừa nhận rằng trong đấy không còn góc nào dành cho tôi hết. Ấy vậy, nhưng ngay từ đầu tôi vẫn gần gũi với bố tôi hơn là với mẹ tôi; ngay từ bé tôi đã sợ mẹ tôi, trong khi với bố tôi, tôi vẫn luôn có một độ tin cậy nhất định, mới đầu là độ tin cậy của trẻ thơ, về sau là của kẻ vị thành niên, sau rốt là của kẻ đã trưởng thành. Đối với tôi, dù sao đi nữa, ở ông luôn luôn toát ra cái uy của một ông bố, còn mẹ tôi, bao giờ tôi cũng chỉ coi là người sẽ hãm hại mình mà thôi. Suốt đời tôi, tôi luôn có cảm giác, ông bà sinh ra tôi, như người ta vẫn nói, cốt chỉ để dự phòng, khi cần sẽ lôi ra dùng. Tai nạn xảy ra đây cho thấy, ông bà tính toán quả không sai, vẫn ngồi trên ghế bành tôi thầm nghĩ, duy có cái chết của chính mình thì ông bà không tính đến. Giá chỉ một mình anh Johannes ngồi trong xe thôi, tôi tự nhủ, thì bây giờ ông bà có thể với tay ra sau, lôi tôi đặt lên trước và hẳn sẽ đắc chí lắm với các trù tính đúng đắn khôn ngoan từ trước của mình. Nhưng ông bà cùng chết một lúc với kẻ thừa kế chính, nên chẳng được hưởng sự đắc thắng ấy cùng thằng con thừa kế dự bị. Vẫn ngồi trên ghế, tôi lại nghĩ tiếp, phải, mình là kẻ thừa kế dự phòng bị ông bà bỏ lại, và tôi cũng tự cảm thấy như thế thật. Ngay trong cái từ kẻ thừa kế dự phòng này tôi chợt nhận ra cơ hội lớn của chính mình. Song, tôi nghĩ bụng, làm sao để tận dụng cơ hội ấy? Nghĩ tới chuyện Spadolini sắp đến đây, tôi thấy dễ chịu. Tôi tìm thấy ở y một người tôi có thể chia sẻ hết mọi chuyện. Qua Spadolini, tôi có được cái đầu tỉnh táo, tình táo hơn cái đầu của chính mình, vốn đang bị tai họa chết người này làm cho vẩn đục. Trong những ngày sắp tới, thậm chí có thể chi vài tiếng nữa thôi, tôi tự nhủ, Spadolini sẽ là người để tôi chuyện trò, bàn bạc. Y phải giúp tôi trong chuyện này, y phải chỉ cho tôi lối thoát, mà tự tôi chưa thấy. Tuy tôi cũng mường tượng được đôi phần về tương lai nay mai thật, nhưng tôi chưa biết làm cách nào quy chúng về một mối thành một kế hoạch hợp lý được cả. Ngoài Spadolini ra, tôi nghĩ bụng, tôi không tin sẽ còn ai khác nữa có thể nói cho tôi biết bây giờ tôi phải làm gì. Nhưng đồng thời, tôi cũng chưa rõ một Spadolini nào sẽ đến đây; một Spadolini có ích hay một Spadolini có hại cho tôi sẽ đến Wolfsegg, bởi vì câu hỏi, liệu lúc này y có thể làm hại tôi hay không, bây giờ không hẳn đã là câu hỏi không thể đặt ra, mà ngược lại, đó chính là điều khiến tôi e sợ. Nhưng rồi tôi lại nghĩ ngay, nếu quả như vậy thật thì đúng là mình đã đánh giá hoàn toàn sai về y. Vẫn ngồi trên ghế, tôi tự nhủ, rất có thể lúc này, trên đường đến đây, trên đường tiến về Wolfsegg, y cũng đang suy tính rất lung - chỉ có điều theo hướng trái ngược với tôi - mà suy tính theo cách của y, về tương lai của Wolfsegg, về cách thức đưa Wolfsegg vượt qua tai họa khủng khiếp này. Song, tôi chợt nghĩ, liệu mình có thật cần đến Spadolini không? Chẳng lẽ mình không có cái đầu riêng của mình hay sao? Tôi không cần đến Spadolini một chút nào hết, tôi tự nhủ và đứng bật dậy khỏi ghế bành, tiến tới phía cửa sổ nhìn xuống đám khách khứa đến dự tang lễ đang tụ tập trong vườn. Lúc này đám đông không phải mỗi lúc một đông thêm, mà vãn đi, vì phần đông khách khứa đã lui về nơi họ sẽ nghỉ qua đêm. Từ trên này xuống, tôi thấy đám đông khách khứa đang bắt đầu tan dần ra. Spadolini vẫn chưa đến, tôi nghĩ bụng, nhưng chắc chắn hôm nay y sẽ đến thôi. Y cố tình đến thật muộn, để khỏi phải đối mặt với mọi người dưới kia, tránh roi vào tình huống lúng túng, khó xử trước đám đông. Nhìn xuống dưới qua cửa sổ từ trên này, tôi thấy rõ, đứng giữa đám khách khứa - nãy giờ chẳng chút ngập ngừng xéo chân đạp cẳng lên cỏ mọc trong vườn và giờ đây đang mỗi lúc một thưa ra dưới kia - là gã chủ xưởng nút chai rượu vang với chiếc khay trên tay. Trơ khấc một mình. Caecilia gọi tên gã, gã liền đi ngay về phía ả, lúc này chắc đang đứng ở cửa dẫn vào ngôi nhà chính. Chính chỗ này, bên cánh cửa sổ này đây, bố tôi thường vẫn đứng gần suốt đêm mỗi khi ông không ngủ được. Cả đời ông vẫn bị chứng mất ngủ hành hạ; còn mẹ tôi, không thấy bà than phiền về chứng mất ngủ bao giờ. Ông đến đứng bên cửa sổ này thật lâu, mong sao sẽ buồn ngủ, song, ngay cả khi đã mệt lả sau hai, ba tiếng đứng bên cửa sổ, ông vẫn không ngủ được. Rồi dần dà thành thói quen, nhất là vào cữ tháng Ba, tháng Tư, cứ khoảng ba giờ sáng ông đã trở dậy, lững thững đi vào rừng. Ta là người của rừng cây, ông vẫn thường nói vậy. la ưa vào rừng nhất. Ta thích nhất được chết trong rừng, tôi nhớ có lần ông đã nói thế, nhưng rồi ông nào có được toại nguyện; ông chết cái chết thường ngày hiện nay - hoàn toàn trái ngược với cái chết ông mong ước - chết như hàng triệu con người hiện đại ngày nay có thể lăn ra chết, chỉ vì một giây khắc lơ đãng, không tập trung trên đường mà thôi. Spadolini lưu ý tôi chú ý đến bản tính của Gambetti, nói cách khác, y giải thích cho tôi biết Gambetti là người thế nào, làm sao để gần gũi anh ta, làm sao để anh ta tín cậy, bởi vì, theo lời y, xoay xở được với Gambetti là việc cực kỳ khó khăn. Chả là Gambetti đã từng bày tỏ với Spadolini ước vọng được học một thầy người Áo, chứ dứt khoát không phải thầy người Đức, dạy văn học Đức cho anh ta. Và, sau này y bảo tôi, đúng lúc ấy thì anh xuất hiện ở Rome. Theo y, tôi là người thích hợp nhất cho công việc đó. Gambetti bao giờ cũng coi Spadolini là người cha tinh thần của mình, nên y bảo gì nghe nấy. Ông thân sinh của Spadolini vốn đã là bạn thân từ lâu của ông thân sinh của Gambetti - ngả người xuống ghế bành, tôi nghĩ bụng, mắt nhắm lại, tận hưởng sự yên tĩnh trong căn phòng bố tôi. Nghe tiếng người phía dưới vọng lên qua cánh cửa sổ đang mở, tôi đoán chỉ còn sót vài mống khách dự đám tang đang nán lại chuyện trò với hai đứa em gái tôi. Tôi không hiểu họ nói gì với nhau, chỉ nghe những tiếng rời rạc, chẳng ăn nhập đâu vào đâu. Tôi còn nhớ, tôi nghe rõ những tiếng như gió lùa, bệnh đau thắt ngực, vô chính phủ, kinh tởm, mùa mưa, tùy theo từng com gió, tiếng nói ở dưới vọng lên lúc nghe rất rõ từng lời, lúc lại lao xao không ra tiếng gì với tiếng gì nữa. Ấy là chưa kể, dưới vườn, họ chỉ nói khe khẽ với nhau thôi đấy. Ngay từ đầu, người ta đã nhắm cho Spadolini những địa vị rất cao rồi, như chính y có lần nói, bởi ông thân sinh y vốn là người nhiều tham vọng. Ông ta cho y học hành đến nơi đến chốn, để y - như chính y có lần nói - có cơ hội leo thật nhanh trên bậc thang danh vị của Vatican. Riêng có bà mẹ y, nghe nói chẳng màng gì đến cái việc chăm chăm theo đuổi công danh tuy chắc chắn nhưng khó nhọc của con trai bà ở Vatican. Theo như lời mẹ tôi, ngay từ đầu, con đường tiến thân của Spadolini đã rất thuận lợi, và không bị đứt quãng bao giờ, một sự nghiệp huy hoàng mà - như mẹ tôi nói - thông thường vốn đã hiếm thấy, trong lịch sử Nhà thờ lại càng hiếm thấy hơn nhiều. Lúc đầu, Spadolini bảo tôi, chính Gambetti là người đã thử tôi, chứ không phải ngược lại, xem tôi có làm thầy anh ta được không. Chính anh ta, Gambetti, đã đặt ra các biện pháp nhất định nhằm thử thách khả năng dạy học của tôi. vẫn ngồi trên ghế, tôi nhớ lại dạo ấy, Spadolini nhắc lại lời Gambetti nói với y về tôi, rằng tôi đã ngon lành vượt qua những lần thử thách đó. Ta thường vẫn tưởng, ngay từ đầu ta đã là thầy dạy của học trò mình, nhưng thật ra - tôi nghĩ bụng - ta bị bọn học trò của ta thử thách hàng tháng trời mà không hề hay biết. Gambetti, ngay từ những ngày đầu mới quen biết nhau, đã hỏi tôi những câu khiến tôi phải lấy làm kỳ lạ, không bình thường, nhưng tôi cũng chẳng nghĩ xem anh ta hỏi vậy làm gì. Mới đầu, Spadolini cùng với tôi và Gambetti hay gặp nhau ăn tối ở gần Piazza Minerva, tại một quán ăn chỉ do các bà xơ chạy bàn dọn bữa. Các bà xơ, tất nhiên, cứ xoắn quanh Spadolini khiến y cũng không khỏi lúng túng. Quán này chính là quán Maria không ưa, không ưa đến mức nàng chỉ độc có một lần đi với tôi đến đó. Buổi tối hôm ấy, do trong quán có mặt khá nhiều thực khách thuộc giới chăn chiên, nên các bà xơ lăng xăng nịnh bợ họ một cách đáng ghét, đến mức Maria nhịn không nổi, phải phát khùng. Bữa đó tôi hẹn gặp nàng ở đấy là để bàn luận về thơ của nàng, nhất là về bài thơ gọi là thơ Bohemia mà bấy giờ đã kịp nổi tiếng khắp thế giới rồi và chắc chắn, là bài thơ nằm trong số những bài thơ hay nhất, đồng thời cũng là đẹp nhất, của nền thi ca Áo. Dạo ấy, tôi bảo Maria, với bài thơ này, em đã viết ra bài thơ hay nhất và đẹp nhất, mà cho đến nay chưa từng một nữ thi sĩ nào dùng ngôn ngữ của chúng ta viết ra nổi. Tôi nói vậy, hoàn toàn không có ý tán tụng, khen ngợi gì, tôi chỉ nói ra một sự thật mà bây giờ cả thế giới đều đã thừa nhận. Bao giờ tôi cũng yêu thơ của Maria, bởi thơ nàng là những vần thơ có một không hai, vừa rất Áo, vừa thấm đượm cả thế giới, lẫn vũ trụ bao quanh nó. Và cũng vì thơ nàng là thơ của một nữ thi sĩ thông minh bậc nhất mà chúng ta biết từ xưa đến nay. Thơ của Maria tuyệt nhiên không bi lụy, giờ đây tôi nghĩ thầm, hoàn toàn khác với thơ bao nhiêu người khác, những nhà thơ dù có điên dại hay ngỗ ngược đến đâu đi nữa, cũng chỉ loanh quanh trong vũng lầy bi lụy kiểu Áo mà thôi. Thơ Maria là thơ phản bi lụy và trong sáng, có thể đánh giá cao ngang với thơ của Goethe, ngang tầm những vần thơ mà tôi cho là tuyệt vời nhất của Goethe. Vâng, Maria phải chuyển đến Rome sống, để có thể viết nên những vần thơ đó, vẫn ngồi trên ghế bành, tôi tự nhủ, rồi lại chuyển dòng suy nghĩ quay về Spadolini. Nhờ có y, tôi làm quen với Gambetti - người bạn đáng mến, đáng quý nhất ấy của tôi ở Rome. Cuộc sống của tôi ở Rome không biết sẽ ra sao, nếu không có Gambetti, tôi thầm nghĩ - con người ngày ngày khiến tôi phải đối diện với những ý tưởng mới mẻ, ngày ngày đặt cho tôi những câu hỏi bất ngờ, con người vẫn ngày ngày làm tôi tươi trẻ lại, bởi ngày nào cũng như ngày nào, bao giờ anh cũng buộc tôi phải đối đầu với các vấn đề thật sự của thế giới chúng ta. Gambetti, chàng thanh niên không ngừng đặt câu hỏi, không ngớt chất vấn, chàng thanh niên căn vặn đến nơi đến chốn, không bao giờ để tôi yên ấy - tôi nghĩ bụng - chàng thanh niên có thể bất chợt xông đến nhà tôi, thả sức cật vấn, gạn hỏi tôi thâu đêm đến sáng trời sương lạnh, chàng thanh niên tôi không thể trốn tránh ấy! Gambetti, con người muốn nắm hiểu tất cả, thông qua văn học Đức - nền văn học thật ra anh chỉ dùng làm phương tiện để học hỏi mọi thứ khác ở đòi, Gambetti - chàng trai vô chính phủ, chàng trai dưới sự dẫn dắt của tôi trở thành một người vô chính phủ thật sự, chàng trai có thể do chính tôi dạy dỗ thành con người vô chính phủ chống lại bố mẹ anh ta, chống lại thế giới, chống lại chính cả bản thân mình, nhưng đồng thời, tôi nghĩ bụng, cũng là người thúc đẩy và khơi dậy các yếu tố vô chính phủ vẫn từng được ấp ủ trong tôi, đưa chúng trở lại vận hành ở Rome. Gambetti, anh chàng vừa đặt những câu hỏi về mọi chuyện, vừa ném những tờ báo kiểu như Corriere della sera lên bàn, hay đúng hơn là ném thẳng vào mặt tôi, chàng trai trẻ mà Maria còn yêu quý hơn cả yêu quý tôi ấy; Gambetti, kẻ hoài nghi chủ nghĩa vĩ đại nhất tôi từng gặp trên đời, còn vượt trội hơn tôi về hoài nghi, kẻ lấy chủ nghĩa hoài nghi làm nguyên tắc sống, và như anh ta đã có lần nói với tôi, bắt đầu dùng hoài nghi làm công cụ cưa xẻ thế giới thành từng khúc, nhằm thực sự nghiên cứu nó một cách đầy đủ. Gambetti, chàng trai chỉ muốn làm sao cho nổ tung mọi thứ, nhưng đồng thời, suốt ngày suốt buổi chi đánh độc chiếc áo len đỏ, nhông nhông hàng giờ liền trên các phố phường thành Rome, tay kè kè cắp sách Jean Paul, Kleist hay Wittgenstein và trong đầu say sưa mê mẩn cùng các ý nghĩ cưa cắt, mổ xẻ hay làm nổ tung thế giới-Nhưng đồng thời, Gambetti cũng là người ngoan ngoãn ăn tối trong de la Villa cùng bố mẹ và vẫn để mặc họ yên thân sống qua ngày trong sự lạc hậu của họ, là người chỉ mua sắm mọi thứ ở phố Condotti mà thôi và căn hộ anh ta ở không những chỉ được bài trí bằng con mắt thẩm mỹ tinh tế, mà còn thể hiện một trình độ hiểu biết về văn hóa cao đáng nể của chủ nó. Gambetti là người tôi bám chặt vào, y hệt như anh ta bám chặt vào tôi. Gambetti - vẫn ngồi trên ghế bành, tôi nghĩ bụng - là con người kiểu mẫu cho loại người vừa có đầu óc tìm tòi, khảo sát, vừa đầy các tính toán lạnh lùng; Gambetti, chàng thanh niên có khả năng mê hoặc thiên hạ ở quanh mình ấy! Tôi nhìn về phía nhà kính được rọi sáng từ bên trong, một cảnh tượng trước đây tôi chưa từng thấy bao giờ. Dưới vườn chỉ còn lại lưa thưa vài người khách, nhưng tôi không nhận ra ai với ai. Lẽ ra tôi phải có nghĩa vụ đón tiếp họ, tôi nghĩ bụng, mình phải xuống bắt tay bắt chân họ mới đúng, nhưng tôi không đủ sức làm việc đó nữa; tôi cứ thế mặc nhiên đẩy công việc lễ nghi đó vào tay các em tôi, bắt chúng nó phải gánh vác công việc ấy; dẫu sao chúng nó cũng hợp với việc này hơn tôi, gì thì gì chúng nó cũng là con gái bố mẹ tôi và biết cách xử sự với bọn người ngang tầm ngang lứa, còn tôi từ lâu đã quên hết mọi phép tắc ở đây rồi, tôi tự nhủ, trong lúc vẫn bị ngây người vì bị mê hoặc bởi ánh nến yếu ớt hắt ra từ bên trong nhà kính. Màn giáo đầu đã đến hồi kết, tôi tự nhủ, Spadolini vẫn chưa thấy mặt mũi đâu, còn những người khác, nói cho cùng, chẳng hề làm tôi quan tâm. Mình chẳng dính dáng đến họ, tôi tự nhủ, họ chẳng can hệ gì đến tôi, tất cả bọn họ chỉ làm tôi vướng víu, tôi coi thường họ, họ coi thường tôi, hòa cả làng. Chợt tôi có cảm giác hình như tôi vừa nhìn thấy người anh họ Alexander của tôi bước vào vườn, đi một mình, không có vợ đi kèm. Và tôi sực nghĩ, phải, tụi em gái tôi tất cũng đánh điện báo cho Alexander ở Brussel biết tín. Thế mà suốt buổi tôi chẳng hề nghĩ đến anh, tôi tự nhủ. Đúng anh Alexander thật, anh đang bước về khu nhà kính, tôi nhìn theo, thấy anh bắt tay một số người đứng trước cổng, theo phong cách của riêng anh từ khi nào đến giờ vẫn gây cho tôi nhiều thiện cảm, một phong cách rất sang trọng nhưng đồng thời, cũng rất tự nhiên. Chà, tôi chợt nghĩ, anh Alexander của tôi, con người đầy mộng tưởng ấy đây rồi, anh ngang tuổi tôi; vâng, anh với tôi chia tay nhau cách đây phải đến ba chục năm, khi anh sớm buộc phải rời trường nội trú theo bố mẹ sang Bỉ. Nhưng chúng tôi không bao giờ đứt liên lạc với nhau. Ngược lại, cuộc hôn nhân của anh với chị vợ anh bây giờ, một người mà lúc đầu - tôi phải thú thật - làm tôi rất ngờ vực, thậm chí càng làm tình bạn giữa hai chúng tôi thêm bền chặt - vâng, tình bạn sâu sắc thật sự, chứ không phải quan hệ bà con họ hàng, mà chúng tôi vốn không hề để tâm đến. Tôi vẫn hay đến Brussel, ngay từ lần đầu tôi đến London đã vậy; cũng như về sau, cứ trên đường đi Paris là tôi lại ghé qua chỗ anh chị. Cứ bao giờ tôi đến thăm, hai người lại đưa tôi đến choi nhà bạn bè người Bỉ của anh chị ở miền đồng quê ngoại ô Brussel hoặc kéo tôi ra bãi biển Ostende. Anh chị làm tôi quen tôi cả nghệ thuật của Ensor lẫn của Delvaux, đưa tôi đến thăm nhiều trang trại xinh xắn ở quanh Brussel. Nhưng, việc tôi thường làm nhất vẫn là ngồi suốt đêm với Alexander trong phòng làm việc, nghe anh ấy thuyết trình, như thiên hạ vẫn quen nói, về đủ chuyện trên trời dưới biển. Wig, qua những đêm như thế, vị triết gia Alexander này vẫn nhồi nhét bức tranh triết học của anh vào đầu tôi, khiến hằng tuần sau đó lòng dạ tôi vẫn không sao yên trở lại được nữa. Tôi đi lang thang với Alexander khắp Brussel đến thăm bạn bè anh, những người sống chui rúc trong các căn hộ nghèo nàn, những người hầu như không có chút của cải nào, những người từ khắp các nước châu Âu khác nhau, nhưng đông nhất vẫn là từ Ba Lan, Tiệp Khắc hay Hungary và Rumani - những người gọi là dân Đông Âu, vì muốn thoát khỏi chế độ cầm quyền nhà nước họ, mà lánh sang đất Bỉ, sống kiếp tị nạn chính trị trong vòng tay cưu mang của Alexander. Trong cái văn phòng anh thuế cạnh nhà ga Luxembourg ở Ixell, Alexander tiếp xúc với số người tị nạn chính trị này rồi đứng ra bảo lãnh họ, giúp họ thoát khỏi nguy cơ bị bắt giam, nhốt vào tù, do tội rời bỏ quê hương và xâm nhập bất hợp pháp vào nước Bỉ. Nói cách khác, anh coi việc giúp đỡ những người tị nạn chính trị nọ là nghĩa vụ của mình. Anh cho anh thích hợp với công việc này. Chả mấy chốc người ta đều nhận ra, quả anh giúp họ xuất phát từ tấm lòng tuyệt vời của anh thật, chứ không phải vì động cơ nào khác, nên ai nấy thi nhau nhảy chồm lên người anh, bâu lấy anh suốt cả ngày lẫn đêm. Song, tôi đứng bên cửa sổ phòng bố tôi nhìn theo anh và tự nhủ, chính anh đã muốn như thế. Từ tận Brussel đến đây mà trông anh như thể vừa đi dạo đâu đó bên ngôi biệt thự trẻ thơ về hay từ phía sau nhà quản sự chạy sang, hoàn toàn tự nhiên thoải mái trong bộ quần áo giản dị, trên người tuyệt nhiên không mang một dấu hiệu phô trương, không gợn một nét kiêu kỳ hợm hĩnh nào hết cả. Nhiều kẻ cùng tầng cùng lớp xã hội với anh vẫn thường liệt anh vào hạng ngây ngô, bởi đối với họ, anh luôn quá tự nhiên. Không như tôi, anh không tỏ căm ghét ra mặt thói hình thức chủ nghĩa, khô khan, dơ dơ cứng nhắc đó của thiên hạ, anh chỉ đáp trả lại nó bằng thái độ mỉa mai, nhạo báng mà thôi. Thế nhưng, tôi nghĩ bụng, người ta bảo anh ngây ngô, chẳng qua vì họ bị lương tâm cắn rứt thế nào đó và vì không hiểu triết lý của anh mà thôi. Hệ thống triết học của Alexander, tôi gọi các quan điểm triết học của anh như thế, là một thứ triết lý khó hiểu, nó vượt khỏi tầm hiểu biết thông thường của đa phần các khối óc trong thiên hạ, tôi tự nhủ, nó nghiêm khắc đòi hỏi một thứ tư duy sắc bén, trong sạch và liêm khiết. Tôi thầm nghĩ, tôi không bao giờ đủ tầm vươn tới cách tư duy đó. Tôi luôn luôn bị chìm nghỉm trong triết lý, trong cách tư duy của anh. Các chuyến viếng thăm Brussel của tôi, cho dù bao giờ cũng tuyệt vời, tôi tự nhủ, đều kết thúc trong sự thảm bại về mặt tinh thần của tôi, bởi Alexander thao thao thuyết giảng, nhưng tôi, tôi không sao hiểu nổi lập luận của con người mang đầy mộng tưởng đó. Tôi còn nán đứng thêm vài ba phút để quan sát Alexander ở dưới sân, anh ấy chắc chắn sẽ nghỉ đêm trong tòa nhà chính, tôi tự nhủ rồi đi nhanh xuống, qua gian tiền sảnh ra ngoài tiến về phía Alexander, lúc này đã bước vào khu nhà kính. Đã lâu rồi, tôi không gặp lại Alexander. Anh ấy không sang Áo, một đất nước mà thể chế chính trị, cũng như tôi, khiến anh không chịu nổi, còn tôi không sang Bỉ, do thứ khí hậu bao trùm xứ sở ấy, mặc dù trước đây, suốt hai chục năm liền, tôi vẫn đều đều sang đó sống hàng tuần, thậm chí hàng tháng trời, trên tầng năm ngôi nhà ở phố Croix mà Alexander thuê đã từ ba chục năm về trước. Ở đó, trên tầng năm ngôi nhà ở Brussel ấy, tôi từng viết chút ít về Pascal, dạo đấy là tác giả tôi yêu quý hơn bất kỳ tác giả nào khác, cũng như về thơ của Maria, về những vần thơ của một nữ thi sĩ hồi đó tôi chưa được làm quen. Trên đó tôi cũng từng viết một bài tiểu luận ngắn về nhạc sĩ Bohuslav Martinu mà tôi hết sức hâm mộ, nhưng rồi tôi cũng quẳng bài tiểu luận ấy đi ngay. Dẫu gì, Alexander cũng đã dẫn dắt tôi gia nhập giới thượng lưu ở Brussel; tôi với anh đã từng cuốc bộ cả nửa ngày liền qua nhiều cánh rừng tuyệt vời ở ngoại ô Brussel. Dạo ấy, ở anh đã có những triệu chứng đầu tiên của căn bệnh sau này gọi bệnh mạn tính kéo suốt đời anh, mà anh toan chữa tri không những chỉ bằng Cortison, mà bằng cả biện pháp một tuần hai lần, đi bộ hai tiếng đồng hồ liền bên bờ biển Ostende - những chuyến đi bộ nhằm mục tiêu điều trị, mà tôi vẫn thường đi kèm ấy, quả là quá sức anh. Tuy nhiên, những buổi đi bộ bên bờ biển hứng gió mặn, lẽ ra phải có tác dụng chữa anh lành bệnh, rốt cuộc, cũng không phải là phương pháp điều trị có hiệu quả như anh mong muốn, một biện pháp do một tay bác sĩ Bỉ mớm cho, tức là một tay trong số bác sĩ tồi tệ nhất trên đời; về sau tôi mới biết ai cũng chửi tụi bác sĩ người Bỉ là tụi ngu đần nhất trên đất châu Âu này. Hai chục năm nay rồi, như tự anh ấy vẫn nói đi nói lại, anh sống nhờ vào Cortison, không nhờ cái gì khác nữa cả. Cùng với chú Georg tôi, và suốt thời gian trước khi tôi chuyển về Rome, chính anh Alexander, tuy chỉ ngang tuổi tôi, là người thầy dạy triết học cho tôi. Đúng lúc tôi định bước vào gặp anh ấy trong khu nhà kính, thì anh ấy bước ra; có lẽ, đến nửa phút đứng trong đó, anh ấy cũng chịu không nổi. Anh bắt chặt tay tôi, rồi hai anh em đi qua đi lại trước khu nhà kính, không buồn để ý tí nào đến số người còn đứng đó trước khu nhà kính, những ngườỉ có lẽ cũng biết tôi và anh họ tôi, nhưng chúng tôi cũng không thèm để ý đến họ, bởi nói cho cùng, nào họ can hệ gì đến chúng tôi đâu. Anh bảo, anh rời Brussel lên đường về đây ngay, đi một mình, vì vợ anh ốm nặng, không theo được. Mà anh cũng thật mừng có thể một mình đi qua đi lại chỗ này với tôi một lúc, vì anh định đi ngay xuống nhà trọ họ phân cho anh dưới làng để làm nốt công việc anh đem theo là việc viết cho xong bản kiến nghị, như anh nói, mà tôi sẽ gửi thẳng chính phủ Bỉ và Nhà Vua! về một số việc liên quan đến mấy người bạn tị nạn chính trị của tôi, họ bị chính phủ đối xử như với súc vật. Con người đầy mộng tưởng hỏi thăm đôi câu về hai em gái tôi, rồi, sau khi buông đôi lời bình dí dỏm làm tôi phải bấm bụng cười về đám người đứng xung quanh, tất nhiên, may họ không nghe thấy những lời này, chứ nếu không, tôi nghĩ bụng, họ đã tự ái và nổi xung lên với chúng tôi ngay, và anh cũng không nói với tôi, dù chỉ một lời, về vụ tai nạn cũng như về mấy xác chết đang quàn trong khu nhà kính, anh đã biến mất. Anh chỉ bảo tôi, không cần ai đưa, anh khắc tự tìm thấy đường đến nhà trọ, mai anh đến dự đám tang rồi sau đó, sẽ quay trở lại Brussel ngay tức khắc, bằng chuyến tàu tối. Tôi chẳng còn kịp nói với anh, tôi muốn anh nghỉ lại trong ngôi nhà chính, gần phòng tôi. Đó vẫn là kiểu lâu nay của anh, anh lẳng lặng rút lui không chút ồn ào; nhưng lần này, quả là anh rút nhanh đến mức kỷ lục. Anh chẳng hề thay đổi, tôi nghĩ bụng, anh vẫn là anh như xưa, con người đầy mộng tưởng tôi hết lòng yêu mến ấy! Bây giờ tôi mới nhìn ra, những người đứng quanh tôi đây đều thuộc hai gia đình bà con với mẹ tôi ở Neustadt tại Wien, nghĩa là họ hàng bên ngoại tôi kia đấy, nên tất nhiên, tôi chào họ, thậm chí tôi còn hỏi thăm xem chuyến đi của họ về đây có được dễ chịu không, bằng một giọng quá ư thân mật khiến tôi phát bực cả mình, bởi nào tôi có chút thiện cảm nào với đám người này đâu. Họ đứng đực ra đó, như thể muốn tôi bây giờ phải toàn tâm toàn ý hiến thân cho họ, làm như họ đây đang là những người duy nhất tôi phải để tâm tới, trong khi chính họ lại là bọn người tôi chỉ muốn rũ đi thật nhanh, tôi nghĩ bụng, rồi tôi nói đôi lời xin lỗi - đến bực cả mình - lại hơi tha thiết quá mức, rằng tôi có việc không thể trì hoãn được, nên buộc lòng phải đi. Đoạn, để mặc đám người Neustadt ở Wien đứng lại đó, tôi đi sàng khu nhà quản sự, sau đó sang khu nhà thợ săn, nhưng trong lòng kỳ thực không biết mình muốn gì. Rốt cuộc, tôi bước vào căn phòng gọi là văn phòng bố tôi. Tất tần tật các hồ sơ, sổ sách kế toán liên quan đến Wolfsegg đều được lưu trữ, bảo quản ở đây. Đối với tôi, vãn phòng này, cũng như mọi thứ làm tôi liên tưởng, dù chỉ xa xôi thôi, đến một văn phòng của nợ nào đấy, bao giờ cũng là một cơn ác mộng khủng khiếp. Văn phòng ở Wolfsegg cũng có cái mùi đặc trưng văn phòng, cái mùi khiến tôi trong chốc lát đã không cưỡng nổi cảm giác, tôi sẽ chết ngạt, nếu không nhanh chân thoát ra ngoài. Ấy thế mà lúc này, tôi lại ở lại trong văn phòng, một việc tôi chưa bao giờ làm, rồi tôi ngồi xuống bên bàn giấy, trên đó thư từ gửi đến cho bố tôi từ hôm trước vẫn còn nằm nguyên. Các loại hóa đơn, thư từ liên quan đến công việc làm ăn ở Wolfsegg, đôi ấn phẩm quảng cáo máy móc nông nghiệp. Tôi ghét các loại ấn phẩm như thế này. Tôi căm ghét các loại giấy tờ dính dáng đến công việc kinh doanh này. Tôi đẩy đống thư từ ra thật xa để có chỗ đặt một tờ giấy trắng lên đó. Tôi viết lên tờ giấy, toàn bộ bằng chữ in hoa, ANH ALEXANDER, KẺ ĐẦY MỘNG TƯỞNG CỦA TÔI vào chính giữa tờ giấy mà chẳng hề nghĩ, tại sao tôi lại viết ALEXANDER lên đó như thế. Chẳng có cớ quái nào cả. Như thiên hạ sẽ bảo, tôi đang rơi vào trạng thái bồn chồn và căng thẳng cực độ. vẫn ngồi yên trên ghế, tôi sực tỉnh, hóa ra hiện giờ tôi đang ngồi trong văn phòng của tôi, chứ không phải văn phòng bố tôi và ý nghĩ đó bỗng nhiên làm toàn thân tôi mỏi mệt rã rời. Tôi ngước mắt, đảo một vòng quanh các bức tường văn phòng và cảm thấy ghê tởm bốn bức tường này. Thấy ghê tởm hàng trăm cặp hồ sơ nhãn hiệu Leitz xếp đều đặn trên các giá áp tường, trên sống lưng các cặp này tôi không thấy chữ gì khác ngoài chữ Wolfsegg và ngay phía dưới là dòng ghi số năm. Hàng cặp hồ sơ xếp dài bên nhau, dài đến mức làm tôi gần phát điên. Bố tôi vốn cũng là một tay cạo giấy, thông thái rởm. Nét chữ gọi là nắn nót, ngay ngắn và sạch sẽ, mà xét cho cùng, thật hết sức thô lậu của bố tôi xưa nay vẫn làm tôi ghê sợ. Ông luyện viết chữ thật đẹp rồi ông lưu giữ suốt đời ông lối viết chữ đẹp ấy, một lối viết thật ra chỉ đám dân cạo giấy và thông thái rởm không ai chịu nổi mới viết mà thôi. Rồi suốt đời ông, ông cố biến Johannes thành một kẻ cạo giấy thông thái rởm không thể chịu nổi như thế, hay nói cách khác, suốt đời ông, ông đã bỏ công gắng sức tạo ra một bản sao của chính mình. Ông quả đã thành công, tôi nghĩ bụng, trong việc biến Johannes thành bản sao của ông thật. Thế nhưng, các bản sao bao giờ mà chả đáng tởm. Nét chữ nắn nót đẹp đẽ kia được viết lên mặt giấy bởi một bộ óc đã cằn cỗi, héo tàn, tôi thầm nghĩ, bởi bàn tay một con người đã cằn cỗi, héo tàn như bố tôi. Thỉnh thoảng, nói của đáng tội, ông cũng muốn thoát khỏi tình trạng cằn cỗi, héo tàn ấy lắm, nhưng nào có được. Sự cằn cỗi, héo tàn đã tiến quá xa mất rồi. Bố tôi viết thứ chữ viết các thầy dạy học vẫn ưa, thứ chữ nắn nót, đẹp đẽ của kẻ nông phu ít học mà cánh thầy dạy trường làng hay tỉnh lẻ vẫn dùng, tôi thầm nhủ, một thứ chữ viết như thế cũng để lộ tâm trạng đầy lo âu, một tâm trạng của kẻ bị đè nén. vâng, bố tôi quả là con người bị đè nén, con người bị Wolfsegg và mẹ tôi, tức vợ ông, chung nhau đè nén không thương tiếc, tôi nghĩ bụng. Của bố tôi còn sót lại độc thứ chữ viết thầy đồ này, chẳng còn gì khác. Trong đầu tôi nảy ra ý nghĩ đó, vì trên bàn giấy, tôi tìm thấy một bức thư còn viết dở dang của bố tôi gửi công ty phân hóa học nào đấy ở Lustenau tại Vorarlberg. Thư dính dáng đến một đề nghị hay xin xỏ gì đấy thì phải, tôi nghĩ bụng. Thế nhưng, một tay trợ lý công việc buôn bán mới viết thế này, chứ không thể là ông chủ Wolfsegg được. Tôi đọc đi đọc lại mấy dòng đầu bức thư viết dở, lần nào cũng thấy sao nó thô thiển đến vậy. Đành rằng bố tôi vốn không phải người quen viết thư viết từ, nhưng chẳng ai được phép viết như thế này. Ngay cả cái cách ông để bút nghiên nằm lại trên bàn đây, tôi nghĩ bụng, cũng đến là ngao ngán. Chỉ có bọn thầy đồ, hay đám trợ lý mới vào nghề mới để bút nghiên thế này, chứ con người có tầm cỡ, không ai làm thế. Bố tôi vốn có phải người có tầm cỡ không nhỉ? Tôi tự hỏi. Tuy mệt mỏi, tôi vẫn còn tự đặt cho mình một vài câu hỏi vô nghĩa như thế về bố tôi. Rốt cuộc, tôi cũng tự hỏi, vậy chứ có tầm cỡ nghĩa là thế nào? Dãy cặp hồ sơ Leitz, đánh số theo năm kéo ngược đến tận những năm đầu thế kỷ, đập vào mắt lại càng làm tôi ngao ngán hơn. Ngươi đã chạy thoát khỏi thế giới này, để rồi bây giờ bỗng dưng bị một cú đòn của số phận giáng xuống, ấn đầu ngươi ngập đến tận cổ vào đây. Cái gọi là đòn số phận ấy vang lên trong đầu tôi với tất cả sự tởm lợm và giả dối của nó, và như người ta thường nói, giáng nốt cú cuối cùng, buộc tôi phải đứng dậy, bước đến bên cửa sổ. Đứng từ đây nhìn qua cửa sổ, mắt ai nấy sẽ đập ngay vào bức tranh sơn dầu vẽ Thánh Mẫu bế con trên tấm kẽm lớn gắn trên bức tường của nhà quản sự nằm đối diện. Cái cổ của Thánh Mẫu vẽ trên bức tranh này cao quá là cao, cao hơn tất thảy những bức tranh tôi từng ngắm qua và hoàn toàn phản bác mọi hiểu biết của môn giải phẫu học. Chúa Jesus lúc bé, vẽ trên bức tranh này, rõ ràng mắc chứng não úng thủy. Từ xưa đến giờ, ngay cả lúc này cũng vậy, bức tranh bao giờ cũng làm tôi buồn cười. Nên tôi bật cười to thành tiếng, liệu có ai nghe tôi cười hay không, thì tôi cũng mặc kệ. Đúng lúc đó, Caecilia hiện ra ở ngưỡng của, nó bảo, nó đến mời tôi lên ăn bữa tối, dọn sớm và dành riêng cho người nhà, chứ không dính gì đến bữa tiệc buffet dành để mời khách cả. Tôi căn vặn cô ả ngay, tại sao lại để Alexander nghỉ qua đêm dưới làng, bởi nhẽ ra, tất nhiên phải mời Alexander nghỉ tại khu nhà chính mới đúng phép; tôi hỏi, nó xếp anh ấy ngủ ở nhà trọ nào trong làng; nếu đã để Spadolini ngủ trong nhà, tôi cằn nhằn, thì đương nhiên cũng phải thu xếp cho anh Alexander ở gần ta trong ngôi nhà chính chứ. Trên đường rời khỏi khu nhà thợ săn, tôi bảo con em tôi, thật là lố bịch khi gã chủ xưởng nút chai rượu vang được ở trong nhà ta, còn Alexander thì không. Nó không nói được cho tôi biết nó đã xếp Alexander ngủ ở đâu nữa, nó thề thốt đôi ba lần, nó quả không biết thật. Suốt cả đoạn đường, tôi không ngớt quở trách nó về chuyện thất lễ với Alexander rồi nói thêm, tôi không hiểu vì sao nó lại xếp đúng đám khách tôi chịu không nổi vào ngôi nhà chính và nêu tên một vài người khi nãy tôi gặp trong khu nhà chính và đinh ninh họ sẽ ngủ qua đêm ở đó; ai đời, lại ưu đãi đúng bọn người bên ngoại đáng ghét ấy, tôi gắt, cô cũng biết tôi không ưa đám người ấy, còn Alexander thì cô lại đẩy xuống dưới làng; xử sự như thế thật là đê tiện. Buột mồm nói chữ đê tiện ra, tôi lại thấy hối ngay, liền nói vớt vát với Caecilia, tôi cũng không muốn làm cô phật lòng đâu, nhưng toàn bộ cái đám ma này làm tôi đau hết cả đầu, sắp làm tôi rối tung rối mù ra đây này và lúc nãy tôi cười bức tranh Thánh Mẫu, tôi chống chế, đúng ra là vì bối rối, thậm chí vì điên đầu là đằng khác mà cười thôi; tôi nói, như thể muốn xin lỗi Caecilia vì cái chữ đê tiện tôi buột mồm buột miệng nói ra một cách không thể tha thứ được như thế, chắc chắn không phải chỉ có tôi mới điên đầu, mà cả các cô cũng hết sức chịu đựng rồi; và - lúc hai anh em bước đến cổng vào khu nhà chính, nhìn vào trong gian tiền sảnh đã lại thấy có khách mới đến - tôi nói tiếp, rằng tôi rất lấy làm tiếc vì đã vô tình, chứ hoàn toàn không chủ ý xúc phạm nó, rằng trong lúc cực kỳ căng thẳng, tôi đã không đủ sức để xử sự đúng như hoàn cảnh đang đòi hỏi tôi phải xử sự, vâng, tôi phải xử sự. Rồi hai anh em bước vào gian tiền sảnh và lại đưa tay bắt tay khách khứa dự đám tang mới đến, lại lặp đi lặp lại những câu, những lời đã nhờn quen tại các đám tang trước khi lên được tầng hai dùng bữa tối sớm hon thường lệ cho anh em chúng tôi ấy. Thật đáng tiếc, tôi nói với hai đứa em gái, rằng anh Alexander không ngồi chung đây với ta; giá được vậy, có phải vui hơn không. Làm sao ta lại để mặc anh ấy một mình ở nhà khách dưới kia mới được chứ. Nhưng tụi em gái tôi muốn ngồi ăn riêng với tôi là có mục đích cả. Nói cách khác là chúng nó định mặt đối mặt thăm dò tôi. Nhưng chúng nó không moi được gì ở tôi cả. Trong khi từ phía dưới đang vọng lên tiếng ồn ào của khách khứa chen nhau vào bàn buffet dọn trong bếp cho họ, thì trên này, ba chúng tôi ít nhiều cũng dùng những món y như thế. Caecilia còn thể theo ý muốn của tôi đóng chặt cửa dẫn lên tầng này, để bọn vượn cáo dưới kia không mò lên đây được, tôi bảo nó vậy, và nó chẳng nói chẳng rằng, ngoan ngoãn đứng dậy đóng cửa lại. Tôi không chịu được đám người ấy, tôi bảo vậy, rồi lại quay trở về nói chuyện Alexander, nhưng trong bụng, tôi lại nghĩ chắc Spadolini sắp phải đến nơi rồi. Tôi bảo tụi em gái, sau chuyến về Wolfsegg lần trước, tôi đã định không bao giờ quay lại Wolfsegg nữa; miệng tôi nói không bao giờ, nhưng thật ra trong đầu chỉ nghĩ, còn lâu mới về; song, không bao giờ hẳn sẽ có tác động mạnh mẽ hơn đến các em tôi, nên tôi cứ nói đi nói lại mãi; nhà tôi ở Rome, chứ không phải ở đây, tôi bảo với chúng nó vậy, và nhẽ ra phải xếp cho anh Alexander nghỉ lại ngôi nhà chính mới đúng. Thay vì tống cổ đám khách đáng ghét từ Neustadt thành Wien hay từ Weis, từ München đến xuống dưới làng, ta lại để anh Alexander, mà lại đúng anh Alexander chứ, xuống đó thì thật đáng trách; tôi cứ day đi day lại nhiều lần, và tôi đã tính đi tính lại, không biết có nên xuống làng đón ngay anh ấy lên hay không. Song, đến cả việc anh Alexander nghỉ đêm ở nhà trọ nào, chúng nó cũng chẳng biết nốt. Tôi bảo, anh em ung dung ngồi đây ăn uống ngon lành để anh Alexander phải nhá thứ thức ăn của nợ dưới nhà trọ nào đấy thì thật là láo xược, trong khi tôi, mỗi lần về Brussel bao giờ cũng được đón tiếp tử tế, được anh chị ấy chiêu đãi ăn ngủ đàng hoàng cả tuần, cả tháng. Tôi buộc tội lũ em, các cô cố tình xếp Alexander xuống dưới làng kia, vì các cô không bao giờ muốn tôi gần gũi anh Alexander, nên làm vậy để xỏ tôi một vố chứ gì. Những lời tôi mắng mỏ chúng nó rõ ràng là quá đáng, cũng như mối nghi ngờ của tôi chẳng có chút cơ sở nào. Nhưng tôi không dừng được, vẫn nhay đi nhay lại, ai đời lại đẩy một người đáng quý như Alexander xuống dưới làng, còn đám bà con ngu si và đáng ghét từ Neustadt ở Wien, từ Weis hay Muchen thì cho ở ngay đây, kề vách, sát tường với mình. Thật không còn ra cái thể thống gì nữa. Tôi cứ lải nhải cằn nhằn về chuyện Alexander với bọn em tôi như thế, khiến bữa ăn tối của ba anh em sau lần cửa đóng kín chẳng còn gì là dễ chịu. Bọn em gái tôi im thin thít, để mặc cho tôi nói đâm ra chúng nó biết mình đang làm gì; suốt bữa ăn tối, chúng nó cứ để mặc tôi nói cho sướng miệng, cứ để yên cho tôi đổ tội một lúc lâu, rồi lợi dụng cơ hội chuyển sang hỏi tôi về các dự định nay mai, và rốt cuộc, dồn đập hỏi tôi về tương lai của Wolfsegg. Song, tôi không trả lời bất kỳ cậu hỏi nào của chúng nó, bởi vì, phải nói thẳng ra là tôi không biết trả lời ra sao khi tỗi cũng chẳng biết gì hơn chúng nó về Wolfsegg nay mai cả. Từ lâu, tất cả bọn chúng tôi đều biết rất rõ những gì đã được ghi trong tờ di chúc của bố mẹ, tờ di chúc lưu giữ không những chỉ trong tủ sắt ở Wolfsegg, mà cả trong văn phòng luật sư của gia đình chúng tôi tại Weis ấy. Không hề có điều gì bí mật, hay không rõ ràng trong di chúc của bố mẹ cả. Wolfsegg, sau cái chết của bố mẹ và anh trai tôi, sẽ lập tức chuyển toàn bộ sang tôi. Đương nhiên, tôi có nghĩa vụ phải dành cho các em tôi một chỗ đứng xứng đáng tại Wolfsegg, hoặc chia tài sản, hoặc trả bằng tiền. Ngay từ đầu, tôi đã nghĩ đến chuyện trả tiền cho bọn em gái tôi ra đi, hơn là chia phần với chúng nó tại Wolfsegg. Chúng nó muốn nghe tôi nói xem tôi nghĩ thế nào về tương lai của Wolfsegg, song tôi không nói, tôi để mặc chúng đoán già đoán non; quyền tôi quyết định, không phải quyền hai cô, tôi nghĩ bụng, và tôi phải thú thật, ngay khi nhận được tin bố mẹ chết, tôi đã quyết định trả tiền, chứ không chia chác gì cho chúng nó sất. vẫn đang cầm bức điện tín trên tay, tôi nghĩ bụng, thậm chí bức điện đọc cũng chưa kịp hết, tôi đã quyết định trả tiền cho chúng nó rồi. Tôi còn nhớ, tôi đứng bên cửa sổ trong căn hộ của tôi ở Rome, nhìn xuống Piazza Minerva, trồng sang cửa sổ nhà Zacchi trước rồi ngước nhìn vòm mái Pantheon sau và tự nhủ, tôi sẽ chịu trả tiền, chứ không chia chác gì với chúng nó cả. Vâng, cũng cần phải nói thêm rằng ý nghĩ trả tiền cho tụi em gái tôi là ý nghĩ đầu tiên nảy ra trong đầu tôi lúc nhận được bức điện thật. Hai em tôi hỏi liên tục, bây giờ chúng nó phải làm gì, rồi sẽ thế nào với chúng nó đây và tôi không nói một lời nào, bởi vì, thật ra, chúng nó không hỏi tôi bằng lời, mà bằng toàn bộ cung cách chúng nó ngồi bên bàn đây; quả thật, suốt buổi chúng nó không nói lấy một lời - như tôi đã viết ở trên - cứ để mặc tôi lải nhải nói một mình. Một lúc khá lâu, tôi mới để ý thấy, hóa ra, thằng em rể tôi vắng mặt ở đây, mặc dù, bát đĩa, thìa nĩa vẫn được dọn ra trên bàn cho gã. Tôi hỏi gã đâu thì con Caecilia liền đáp, anh ấy xuống dưới làng, hình như vào quán ăn nào đấy. Nó bảo, anh ấy, tức gã em rể tôi, trong suốt tuần lễ sau đám cưới đã quen tật, nhẽ ra cùng ăn tối với cả nhà thì lại chuồn xuống quán dưới làng. Bọn người như gã là bọn chuyên như thế, tôi bảo, đến những nghĩa vụ đơn giản nhất họ cũng trốn tránh; đấy, thay vì ăn tối cũng gia đình thì vừa hở ra là chuồn ngay xuống quán ăn nhậu. Caecilia lặng im, không nói gì, Amalia cũng thế. Không thể chấp nhận được, tôi gắt, gã không thể cứ muốn làm gì thì làm được, và tôi hỏi bọn em tôi tại sao chúng nó không ngăn gã, sao lại để mặc gã xuống dưới làng chén chú chén anh với dân làng như thế, mà lại đúng vào một ngày như ngày hôm nay nữa chứ. Cải hai đứa đều im thin thít, không đáp. Cái thằng ấy làm xấu mặt cả nhà ta dưới kia, tôi bảo. Không thể như thế được, tôi nói. Hành động như thế thật quá ư bỉ ổi. Rồi tôi lại nói ngay, thật ra, thì tôi cũng hiểu chú ấy thôi, đến như tôi, tôi còn chẳng chịu nổi tụi em út như thế này nữa là, không chịu nổi cái gia đình như thế này - một gia đình cũng chẳng còn trên đời này nữa. Không tồn tại nữa, tôi nhắc đi nhắc lại, khiến bọn em gái tôi phải ném về phía tôi những ánh lườm đầy trách móc. Gã chủ xưởng nút chai rượu vang ngồi vạ vật trong quán nào đấy làm thối mặt nhà này, tôi bảo, để gã về đây, tôi khắc cho gã biết tay tôi. Amalia bảo, phải nửa đêm, bao giờ các quán đóng cửa, gã chủ xưởng nút chai rượu vang mới mò từ dưới làng lên đây. Caecila không nói gì. Tôi liền nói, hiểu gã thì tôi có thể hiểu được, nhưng ngày hôm nay gã xử sự như thế là không được. Tôi hỏi, vậy lúc bố mẹ còn sống, thay vì dùng bữa tối với bố mẹ, tối tối gã vẫn chuồn xuống làng say sưa hay sao. Caecilia đáp vâng. Thế nhưng, tôi nói, tự cô, cô chuốc gã vào thân chứ ai. Nói đến đây, tôi chợt nhớ đến bà cô ở Titisee và hỏi bà ấy đến đây chưa; bọn em gái đáp, vâng, cô ấy đến từ lâu rồi và đã lên giường ngủ, vâng, tất nhiên trong phòng mẹ cũ. Phải, tôi mỉa mai, tất nhiên trong phòng mẹ. Thật quá thể, tôi nghĩ bụng, bà cô ở Titisee lại nghỉ ngay tại phòng mẹ tôi. Tôi không thấy bà ấy đâu. Tôi nói, tôi không hề thấy bà ấy đâu cả. Người đâu mà không biết ngượng, tôi kêu lên. Đến lúc này thì hai đứa em tôi không còn giữ gìn gì nữa, thi nhau đổ lỗi cho tôi, nào tôi không lo gì đến khách khứa, nào tôi trút hết mọi việc lên đầu lên cổ chúng nó, trong khi lẽ ra tôi phải đứng ra đón tiếp khách khứa, đón tất tật, không chừa ai mới đúng, đó là những lời tôi nghe từ miệng con Caecilia, Amalia phụ họa theo. Tất nhiên, trước khi sang nhà kính, để gọi là lần cuối cùng nghiêng mình chào người đã khuất, khách khứa ai nấy đều hỏi thăm anh, còn anh lại hèn nhát đánh bài chuồn, trốn biệt vào một xó. Chúng nó bảo, chúng nó cho người tìm tôi suốt buổi, tìm hết chỗ này chỗ khác, thế nhưng tôi, đúng theo kiểu cách xưa nay của tôi, chỉ biết chui tuột vào góc nào đấy để tránh bị phiền nhiễu khó chịu. Tôi đáp, vậy chả nhẽ tôi phải đứng suốt buổi trước cửa nhà, ai đến cũng phải bắt tay, với ai cũng lặp đi lặp lại mỗi một câu chào hỏi như con vẹt hay sao. Ra các cô đòi tôi, lẽ ra phải cùng đứng với các cô ở cổng, lấy vẻ mặt đưa đám nghiêm trang đón khách đấy. Tôi không chiều các cô như thế được, tôi đáp, tôi không đủ sức làm như vậy. Ngay lúc còn ở Rome, nói để hai cô biết, tôi đã thề không đứng ở cửa ra vào như thế. Ngay lúc còn ở Rome, tôi đã biết rồi đám ma này sẽ thế nào, sẽ kinh khủng ra sao, với tất tật những gì đáng tởm có thể có cho mà xem. Nhưng rồi mọi thứ sẽ qua thôi, tôi nói, mọi thứ kinh khủng cũng qua thôi. Lúc này cứ nói thẳng thừng ra như thế, chả việc gì mà làm bộ làm tịch với nhau ở đây. Tất cả những trò này, tôi nói, chẳng dính dáng gì đến đám tang cả, chỉ là màn kịch mà thôi. Bố mẹ chẳng còn nữa, trong nhà kính kia chỉ là mấy xác chết đang dần dần thối rữa, những xác người chẳng liên quan, không dính dáng chút nào đến những con người trước đó cả. Bây giờ mọi thứ chỉ còn là màn kịch nữa mà thôi. Và, tôi chẳng có hứng mà cũng không có ý định đóng vai chính cho màn kịch đó. Những chuyện này, tất nhiên, chúng tôi chỉ nói khe khẽ với nhau để đề phòng - có thể lắm - nếu có ai định nghe trộm cũng không thể nghe rõ, hay hiểu chúng tôi nói gì với nhau. Ngoài cửa, quả thật, chốc chốc lại có tiếng gõ; phải mất một lúc lâu, mặc dù chắc chắn họ không biết chúng tôi làm gì bên trong, mới thấy không còn ai gõ cửa nữa. Hai đứa em gái tôi cho dọn bữa ăn tay ba này, chắc là để ba-anh- em không bị quấy rầy ngồi riêng với nhau, nhưng nào có được, tiếng gõ cửa chốc chốc vang lên kia chẳng để chúng tôi yên lúc nào, cho nên, cũng dễ hiểu thôi, lòng dạ cả ba chúng tôi đều nôn nao, bức bối. Các em tôi bảo, tính đến giờ cũng phải đến tám chục khách rồi, còn tôi, tôi nói, đa phần họ chỉ lấy cớ đến dự đám tang để được nghỉ ít hôm ở nơi phong cảnh thiên nhiên tuyệt vời, như tại Wolfsegg đây thôi, chứ họ chẳng có cớ nào khác cả đâu. Đi nghỉ vào mùa này thật quá hợp, tôi nói, vả lại, họ chẳng mất xu nào cho kỳ nghỉ, nhà mình chả lấy tiền từ ngân quỹ của Wolfsegg để trả hết các khoản chi phí là gì. Tất tật bọn người này, tôi bảo các em gái tôi, tôi chỉ muốn chi tiền cho họ đi nghỉ đâu đó khuất mắt tôi, thế mà bây giờ tôi lại phải chứa hết họ vào nhà. Tôi không nói ta chứa hết họ vào nhà ta, tôi bảo bây giờ tôi chứa họ vào nhà tôi, hoàn toàn với giọng của một ông chủ toàn quyền. Ta không được phép nhầm lẫn, tôi bảo, đám ma bao giờ cũng chỉ là một màn kịch mà thôi. Nói xong, tôi lại nghĩ ngay, rằng nói như thế, mình đã đi quá xa, nhẽ ra mình không nên nói vậy, nhẽ ra mình chưa nói gì thì hay hơn. Vậy mà tôi đã tuôn ra không biết bao nhiêu thứ, phun ra bao nhiêu điều vô nghĩa, khiến bây giờ tôi phải trơ trẽn phơi mặt ra đây. Ai nghe tôi nói, người đó hẳn phải nghĩ tôi là kẻ xấu xa nhất hạng, tôi nghĩ bụng, song, ở đời chắc chắn còn khối kẻ tồi tệ hơn. Bỗng dưng, tôi muốn lái sự chú ý của các em tôi ra khỏi cơn giận tôi đùng đùng đổ lên đầu tất cả khách khứa đến dự đám tang và đêm nay được nghỉ lại trong nhà; tôi bèn bảo các em tôi, rằng đối với tôi, thành phố Rome là tất cả, rằng từ nay tôi chỉ còn sống được ở Rome nữa mà thôi. Hai đứa chúng nó chợt bừng tình và không hiểu tôi nói gì. Thật đấy, tôi nói, vừa mới về đây có mấy tiếng đồng hồ, nhưng chỉ cần nghĩ đến Rome thôi, là tôi chỉ còn ngong ngóng, làm sao trở lại Rome ngay. Rằng sáng nay tôi còn ở Rome, tôi nói, đối với tôi là điều kỳ dị khó tín nhất. Rồi tôi lại hỏi ngay xem chúng nó đã gọi điện thoại cho Spadolini chưa. Chúng nó đáp, vâng, ông ấy gọi điện từ Rome, báo tin tất nhiên ông ấy sẽ về, về ngay tối nay, nhưng bằng cách nào thì chưa rõ, song, dứt khoát ông ấy sẽ về Wolfsegg trong ngày hôm nay. Đâm ra, bây giờ cả ba chúng tôi đều chỉ còn chờ có Spadolini nữa thôi - vị Tổng Giám mục, người tình của bà mẹ chúng tôi, con người hào quang bóng nhoáng ấy. Gambetti thường vẫn trách tôi không tự chủ, tôi bảo hai em gái tôi vậy, nhưng tôi đúng là người không bao giờ kiềm chế được mình thật, quả vậy, tôi là kẻ tính khí bất thường, là kẻ luôn cho rằng, rồi thiên hạ khắc hiểu và tha thứ cái tính không kiềm chế ấy của hắn. Tính khí bất thường của hắn. Cùng thói tàn nhẫn, ác nghiệt gắn chặt với tính khí bất thường đó. Nhưng dĩ nhiên, tôi bảo các em tôi, đó là đòi hỏi quá lớn. Ở Rome, quả thực, tôi là con người khác, không nôn nóng thế này, không thiếu kiềm chế mà cũng không thất thường, đồng bóng như thế này. Thành Rome làm dịu lòng tôi, còn Wolfsegg chỉ làm xáo động. Ở Rome, hệ thần kinh của tôi vẫn yên tính, mặc dù đó là thành phố sôi động nhất thế giới vậy, trong khi ở Wolfsegg, lúc nào tôi cũng bồn chồn nôn nóng, mặc dù ở đây bao giờ cũng thật sự yên tĩnh. Tôi là nạn nhân của hoàn cảnh nghịch thường đó, tôi bảo các em gái tôi. Ở Rome, tôi quả quyết, tôi nói năng hoàn toàn khác; tôi chuyện trò với mọi người cũng khác; Gambetti đã có lần bảo tôi, cứ bao giờ từ Wolfsegg quay lại Rome tôi cũng có lối ăn nói nóng nảy, một lối nói chỉ lộ ra khi nào tôi ở Wolfsegg về mà thôi. Tôi bảo Gambetti, người trong gia đình tôi có lỗi trong chuyện này, còn anh ta lại nói, hình như ở Wolfsegg, bao giờ ý nghĩ của tôi cũng chệch mất nhịp thì phải, chệch khỏi cái nhịp điệu gọi là nhịp điệu thành Rome. Gambetti vẫn thường bảo, cứ bao giờ tôi từ Wolfsegg quay về, thì anh ta lại không thể nhận ra tôi nữa, và với một người như tôi lúc từ Wolfsegg quay lại Rome ấy, chắc chắn anh ta sẽ chẳng bao giờ kết bạn được, anh ấy nói, bởi vì con người từ Wolfsegg trở về Rome ấy là con người hoàn toàn khác, trái ngược với con người tôi ở Rome. Anh ta chỉ kết thân với con người thành Rome, chứ với gã người Wolfsegg thì không. Từ Wolfsegg quay về, bao giờ tôi cũng mất mậy ngày liền để trở lại làm người thành Rome, một người hữu ích cho anh ta, tức cho Gambetti, anh học trò của tôi ấy, một người anh ta có thể vừa coi là thầy, vừa coi là bạn, để học hỏi, để chuyện trò trao đổi, chứ với một con người Wolfsegg, anh ta không thể đóng cùng lúc bấy nhiêu vai trò được. Gambetti luôn cho rằng Wolfsegg có hại cho tôi, tôi bảo với các em gái tôi thế. Tôi chỉ cần dừng chân ở Wolfsegg hai hay ba ngày là tôi sẽ mất thăng bằng mấy tuần liền, tôi bảo với các em gái tôi, rằng Gambetti đã nói với tôi như vậy. Thế mà tôi không hề biết cái gì luôn luôn làm tôi mất thăng bằng ở Wolfsegg như thế; phong cảnh ư, con người ở đây ư, hay là bầu không khí, mặc dù bầu không khí ở Wolfsegg là bầu không khí tuyệt vời nhất, tôi nói, bầu không khí trong lành nhất tôi từng được biết. Hay do nhà, do cửa, hay do dân tình? Tôi chẳng biết nữa. Có thể do tất tật mọi thứ ở Wolfsegg cũng nên, tôi nói. Song, tất cả những điều đó - riêng chỉ nghĩ trong đầu thôi, đã quả là tột cùng vô lý, chứ chưa nói đến chuyện còn phải nói ra, còn phải diễn đạt thành lời với chúng nó - nhất là trong bối cảnh bây giờ, khi mà chỉ qua một đêm thôi, tôi bỗng đã trở thành kẻ nắm quyền thừa kế Wolfsegg, như chúng nó buộc phải tin là thế; không phải sẽ nắm quyền, tôi nghĩ bụng, mà đã nắm quyền. Chúng nó sẽ phải nghiêm túc tuân thủ luật thừa kế, và thực ra, chúng nó cũng không thể nghĩ ra điều gì khác, ngoài việc tin chắc tôi cũng sẽ phải tuân thủ luật như thế. Tuân thủ từng chi tiết, với tất tật các hậu quả của hành động đó là khác. Bất chấp một sự thực là chúng nó không lắng nghe phần lớn các ý nghĩ tôi nói thành lời, và do đó chúng càng không thể dõi theo luồng suy nghĩ của tôi, tôi bỗng nói to lên với chúng nó, nhưng mà tôi không phải tay chủ nông trại, tôi không phải là thằng có thể leo lên máy kéo ngồi như bố. Tôi không phải gã lái máy kéo và tôi cũng không muốn đôi co cãi cọ với bọn thủ kho vì một bao phân bón hóa học bị chúng nó ăn bớt mất non nửa nhưng vẫn đòi lấy tiền nguyên bao. Tôi không phải anh Johannes, tôi bảo. Bố mẹ không nhận ra rằng tôi không phải là Johannes. Tôi còn định nói cho rõ hơn về ý cuối cùng này, nhưng đúng lúc đó, từ phía ngoài tiếng gõ cửa vang lên thôi thúc khiến con Ceadlia phải đứng lên và chạy vội ra mở cửa. Hóa ra, đó là gã chủ xưởng nút chai rượu vang. Gã bước vào, lặng lẽ đến ngồi xuống bên bàn ăn, chỗ bữa tối đã dọn sẵn cho gã. Hóa ra ngươi đã nhầm, tôi nghĩ bụng, gã không xuống dưới làng nhậu nhẹt. Đúng là gã em rể tôi tỉnh táo thật; vợ gã dọn cho gã miếng thịt rán lên đĩa rồi rót cho gã ly rượu vang. Nãy giờ, em ở bên khu nhà thợ làm vườn, gã em rể tôi nói, giọng ra điều xin lỗi, do mệt quá nên lui vào khu nhà thợ làm vườn nghỉ, rồi ngủ quên mất, thì cũng tại em phải dậy từ lúc ba giờ sáng, gã nói vậy, vợ gã và em vợ gã sai gã xuống làng tìm ông thợ này, anh thợ nọ, đến cửa hàng này cửa hàng khác, toàn việc dính đến vụ tai nạn. Loanh quanh mãi, gã đột nhiên bị nhức đầu. Khu nhà thợ làm vườn khá mát mẻ, nên gã thấy dễ chịu. Gã hỏi, mọi sự ổn cả chứ, rồi ăn, như thể đang đói ghê đói gớm, mặc dù, tôi nghĩ bụng, vừa mới hai hay hai tiếng rưỡi gì đó chứ đâu, gã còn ngồi ăn với tôi trong bếp. Nhìn cảnh gã im lặng đánh chén, tôi không chịu được, liền đứng dậy ra ngoài. Tôi tự nhủ, bỏ gã cùng hai đứa em gái ở lại để đi khỏi đây, có thể tôi sẽ đỡ nổi xung, đỡ nói năng nặng lời hơn chăng; đoạn tôi đi xuống gian tiền sảnh, chẳng buồn để ý lắm đến đám người nãy giờ đứng rải rác dưới đó. Nhác trông thấy tôi, ai nấy đều quay mặt nhìn về phía tôi. Tôi kéo ngay nét mặt thiên hạ vẫn gọi là nét mặt đưa đám, rồi nghênh ngang đi ngay vào gian nhà thờ và ngồi xuống một hàng ghế kê ở giữa. Trong gian nhà thờ thật mát mẻ và dễ chịu. Cho nên cũng không lạ lắm, tôi nghĩ bụng, tại sao gian này từ xưa đến giờ vẫn được lấy làm nơi bảo quản thức ăn, thức uống. Chẳng chút nghĩ ngợi gì, tôi quỳ gối xuống hàng ghế băng, nhưng rồi sực tỉnh, lại ngồi thẳng lên ghế. Chợt tôi có cảm giác, hình như bà cô tôi ở Titisee vừa bước vào đây thì phải; tôi quay người nhìn ra sau thì, đúng thật, tôi quả không nhầm. Bà ta đi cùng đứa cháu gái, mười hai, mười ba tuổi gì đó, xưa nay bà đi đâu bao giờ cũng đi kèm. Để tang anh trai, bà cô tôi đeo chàng mạng và mặc gần như toàn màu đen từ đầu đến chân. Tôi có cảm giác, bà ta đang lườm lườm nhìn tôi đầy ác ý dưới tấm chàng mạng, nên tôi đứng dậy đi ra ngoài, cũng không quên hôn tay bà cô khi bà chìa tay cho tôi. Qua gian tiền sảnh và khoảnh vườn, tôi đi vào khu nhà kính. Hai tay thợ săn đứng túc trực bên linh cữu. Mùi xác chết thối rữa có vẻ đã nặng thêm lên rất nhiều. Tôi nâng tấm khăn đen lên để xem xét lại các khối đá lạnh xếp dưới quan tài. Hình như người ta mới xếp thêm đá lạnh vào đấy thì phải. Tôi chỉ dám nhìn lướt một cái qua gương mặt người chết, nhìn lâu chịu không nổi. Lúc tôi bước vào nhà kính, hai tay thợ săn, như người ta vẫn bảo, đứng nghiêm chào, khiến tôi đã khó chịu, nhưng khi bước ra ngoài, tôi lại càng thấy bực bội hơn trước cảnh tượng lố bịch ấy. Song, tôi chẳng có cách nào để thay đổi, dù chỉ vài chi tiết nhỏ thôi, trong hàng loạt các nghi thức đáng ghét mà tụi em gái tôi, nhất là con Caecilia, đã sắp xếp tỉ mỉ từng li từng tí đúng theo tục lệ có sẵn từ xưa và khăng khăng tiến hành cho kỳ đúng từng chi tiết trong cái gọi là trình tự đám ma. Song, đồng thời tôi cũng nghĩ, những nghi thức này thật hợp với Wolfsegg, bây giờ xé bỏ hay loại trừ đi thì thật vô lý. Ở đây mọi sự đều đúng cả, tôi nghĩ bụng, có ưa hay không ưa cũng thế thôi. Nhưng, tất nhiên, hai gã thợ săn đứng túc trực hai bên nhà táng trông đến là nực cười, hệt như hai chú lính chì, được một tay thợ may thích tuồng chèo, kịch cọt nào đấy may quần, thửa áo khoác lên người. Lúc tôi đứng bên các quan tài thì cũng là lúc mấy người thợ làm vườn đang thay nước trong mấy chậu hoa. Cảnh tượng này càng khiến tôi nhìn thấy rõ hơn sự khác nhau giữa cánh thợ làm vườn với đám thợ săn. Tụi thợ săn lố bịch, giả dối, còn thợ làm vườn tự nhiên, ngay thẳng. Bất chấp sự thực là tôi đang đứng bên mấy xác chết, trong đầu tôi chợt nảy ra ý nghĩ làm tôi thích thú là tôi phải tìm cho ra cái gì khiến tụi thợ săn khác với thợ làm vườn và, nói cho cùng, họ khác nhau thế nào. Nhìn bên ngoài, tôi tự nhủ, không ai biết tôi đang nghĩ gì, không ai đoán tôi đang bận tâm cân nhắc về sự khác nhau giữa đám thợ săn với cánh thợ làm vườn và, càng không ai có thể ngờ rằng, trong đầu tôi, tôi lại đang loay hoay đối chiếu tính khí bọn thợ săn với tính khí thợ làm vườn. Thiên hạ tưởng - tôi nghĩ bụng - tôi đang âu sầu chìm đắm vào các suy tư về đám tang, nhưng sự thực, ngay cả khi tôi đứng bên các cỗ quan tài, sát sàn sạt bên mấy xác chết, tôi vẫn chẳng nghỉ gì đến đám tang ấy sất. Thợ làm vườn là những người tinh tế, tôi nghĩ bụng, còn đám thợ săn lại đại diện cho thế giới thô bạo. Chính việc gia đình chúng tôi, do hoàn cảnh của Wolfsegg, thuê cùng một lúc cả hai loại thợ này, khiến Wolfsegg trở nên hấp dẫn. Hay nói cách khác, Wolfsegg có sức hấp dẫn rất lớn đối với những ai chỉ muốn thấy sức hấp dẫn đó ở Wolfsegg. Thiên hạ kéo nhau đến đây, rồi bao giờ cũng kêu lên rằng, chà, đối với họ, Wolfsegg thật hấp dẫn biết bao. Thôi thì cũng có thể nhìn Wolfsegg dưới góc độ như thế thật, dưới góc độ một trang trại hấp dẫn có một không hai như thế. Song, tôi không thể nhìn Wolfsegg dưới góc độ ấy nữa, hay đúng hơn, tôi nghĩ bụng, tôi chưa bao giờ có thể nhìn nó ở góc độ như thế. Tôi không thể có cách nhìn ấy nữa. Tôi đã tự phá hủy, xóa bỏ góc nhìn đó của tôi, tôi nghĩ bụng trong lúc bước ra ngoài. Ngoài vườn vắng tanh, không một bóng người, số còn lại của gia đình vẫn còn đang dùng bữa tối, tôi nghĩ bụng, mắt ngước nhìn lên khung cửa sổ trổ ra ban công. Cả chúng nó cũng còn đúng ba mạng, gã em rể, hai đứa Caecilia và Amalia. Và, chắc cũng đóng chặt cửa, ngồi riêng với nhau. Tôi tự hỏi làm sao có thể tránh những cơn tức giận vẫn đùng đùng trỗi dậy trong lòng mình đây? Lối cư xử của tôi hẳn phải làm mọi người bị xúc phạm lắm; chả riêng gì hai đứa em gái tôi, chả riêng gì gã em rể tôi, mà tất cả mọi người, tôi tự nhủ, ai cũng bị tôi xúc phạm, bị tôi thóa mạ. Nhưng tôi nghĩ bụng, sự thực, tôi tuyệt nhiên không phải là thằng chuyên xúc phạm người khác, như cả nhà vẫn gọi tôi ngay từ lúc còn bé, nhưng rồi tôi lại nghĩ ngay, có lẽ tôi chính là thằng chuyên xúc phạm người khác thật. Tôi từng nói với Gambetti, tôi sẽ bàn bạc thật cẩn thận với các em gái tôi, kéo cả gã em rể vào cuộc, hết sức thận trọng xem xét mọi sự, lúc còn ở Rome tôi đã nói với Gambetti như vậy, cả với anh Zacchi, cả với Maria, tôi cũng đều nói đi nói lại y như thế, rằng bây giờ ở Wolfsegg, tôi sẽ thận trọng trong mọi việc; song cho đến giờ tôi vẫn chẳng hề có chút thận trọng nào, tôi nghĩ bụng, thậm chí ngược lại, tôi chẳng hề để tấm giữ gìn đến bất cứ việc gì, không buồn quan tâm để ý đến bất cứ ai, cho nên cũng chẳng có gì là lạ khi mọi người, qua cách xử sự đầy khinh suất của tôi, ai cũng phải nhìn thấy ở tôi một kẻ tàn nhẫn, một tên đểu cáng bất lương. Song, sự thực rất đơn giản là tôi không thể xử sự khác được, tôi tự nhủ, trước mặt họ, tôi không còn cách nào nữa cả. Tôi chưa đủ tầm để đối phó với tình huống này, vả lại, tôi không có lỗi, tôi thầm nhủ, tôi cũng không gây ra tình huống này. Đúng lúc đó thì Spadolini đến. Tôi cùng đi với y lên chỗ bọn em tôi ở tầng trên và Caecilia đưa y về phòng bố tôi ngay - như lời y nói - để rửa ráy chút đỉnh. Trong lúc đó, tôi lui vào thư viện ở tầng trên, phía bên trái. Cửa vào thư viện này vốn bị khóa, nhưng tôi bảo Caecilia đưa hết chìa khóa tất cả các thư viện nhà này cho tôi, tôi nghĩ bụng, để sáng ra, trước cả lúc tang lễ bắt đầu, tôi sẽ mở hết cửa cả năm cái thư viện ra. Tôi lấy quyển Luật sư Siebenkäs rồi ngồi xuống chiếc ghế bành kê sát cửa sổ. Tất nhiên, tôi chẳng còn tâm trí nào để đọc, vả lại, đầu óc tôi không ngớt nghĩ đến Spadolini. Ấn tượng lạ lùng hồi nãy y lại gây ra trong tôi còn mạnh hơn cả thú ngồi đọc Luật sư Siebenkäs; tôi bèn để quyển sách sang một bên. Tôi vẫn biết từ trước, rằng cuốn Luật sư Siebenkäs nằm trong thư viện này, cùng các loại sách khác thuộc thời kỳ Jean Paul. Hồi đó, một vị nào đấy trong số tổ tiên gia đình chúng tôi đã cho lập ra các thư viện sách này - chính xác là vị nào, thì không ai biết nữa. Nhưng, tôi nghĩ bụng, tổ tiên chúng tôi chắc chắn phải có văn hóa, chứ hiện giờ chả ai có văn hóa cả. Có điều, có văn hóa nghĩa là thế nào? Tôi tự hỏi. Bảo rằng người này có văn hóa, người khác không, tôi nghĩ bụng, thì thật là vô nghĩa; ta vẫn thường nói vậy mà chẳng nghĩ ngợi gì. vẫn ngồi cạnh cửa sổ, tôi nghĩ bụng, kể cũng lạ, Spadolini chỉ mang theo độc một túi xách tay màu đen. Rồi tôi nghe tiếng y xả nước vòi hoa sen để tắm, vì thư viện tôi ngồi đây kề ngay phòng bố tôi. Tôi hình dung ra y, Spadolini ấy, người đàn ông biết hưởng thụ, đang khoan khoái đứng dưới làn nước vòi hoa sen. Nói cho đúng ra, tôi nghĩ bụng, mình cũng chỉ biết một Spadolini luôn luôn biết hưởng thụ mà thôi. Tôi duỗi thẳng chân, tắt đèn, rồi nghĩ đến buổi gặp gỡ sắp tới với Maria; thì tôi chả đưa bản thảo của tôi cho nàng, để nàng đọc và cho nhận xét mà lại. Như mọi bản thảo khác của tôi, bản thảo này tôi cũng viết cẩu thả. Bao giờ tôi quay lại Rome, nàng sẽ cùng với tôi rà lại nó từ đầu đến cuối, sẽ bóp vụn nó ra, soi rọi từng li từng tí, rồi sau đó, tôi sẽ vứt nó đi, cũng như mọi bản thảo trước đây tôi từng đưa cho nàng đọc. số bản thảo mình quẳng đi, tôi nghĩ bụng, còn nhiều gấp bội số giữ lại. Những bản còn giữ, tôi không dám đọc lại nữa, chúng làm tôi ngao ngán và chán chường, bởi các ý nghĩ của tôi trong đó, khi đọc lại, chỉ còn là các ý nghĩ nực cười, vô giá trị mà thôi. Các bản thảo của tôi, tôi tự nhủ, không có giá trị gì hết, thế nhưng tôi không chịu thua, vẫn chịu khó viết, hay nói cách khác - tôi nghĩ bụng - vẫn cưỡng bức trí tuệ mình. Maria là con người liêm khiết, không thể mua chuộc và thẳng thắn, các bản thảo của tôi đáng được đối xử thế nào, tôi nghĩ, nàng khắc đối xử với chúng đúng như thế. Mỗi khi vất một bảo thảo đã qua tay nàng xét duyệt, bao giờ tôi cũng cảm thấy nhẹ nhõm. Những lúc đó, tôi thường ôm lấy nàng vào lòng và cả hai chúng tôi cùng nhau nhìn bản thảo cháy xèo xèo trong lò sưởi nhà nàng. Những lúc ở bên Maria, tôi nghĩ, bao giờ cũng là những giờ phút cực điểm của trạng thái hân hoan, sung sướng. Không một ai khác ngoài Maria có khả năng làm tôi sáng mắt ra, rằng các bản thảo của tôi không có chút giá trị nào, chỉ đáng ném vào lửa mà thôi. Có lần nàng còn gọi tôi là kẻ cưỡng dâm nền triết học, kẻ phạm tội với trí tuệ. Nói vậy, tất nhiên nàng chỉ nói đùa thôi, nhưng lời nàng nói, đối với tôi, vẫn là sự thật cay đắng. Có điều, tôi tự nhủ, tôi đã không bỏ cuộc. Chẳng bao lâu sau, đầu tôi đã lại nung nấu một thứ gì đó mới. Có thể, nó sẽ mang tên Diệt vong, tôi nghĩ bụng, tôi sẽ dùng nó tận diệt mọi thứ nảy ra trong đầu tôi, tất tật những gì tôi viết ra trong cuốn Diệt vong ấy, tôi tự nhủ, sẽ bị xóa sổ hết sạch. Tôi thấy khoái chí với tựa sách như thế, vâng, một tựa sách như thế có sức quyến rũ rất mạnh. Tôi không biết tôi lấy tựa sách ấy ở đâu ra nữa. Tôi nghĩ, có lẽ nhờ Maria; có lần nàng quả cũng gọi tôi là tên hủy diệt thật. Nàng quả quyết, đối với nàng, tôi là kẻ chuyên hủy diệt. Và, tất cả những gì tôi viết lên mặt giấy, là những thứ đã bị hủy diệt, về lại Rome, tôi sẽ thử viết cuốn Diệt vong đó, nhưng chắc chắn tôi sẽ phải mất cả năm trời cho nó, và tôi không biết liệu tôi có đủ sức, suốt một năm trời chỉ vùi đầu vào cuốn Diệt vong hay không. Chỉ chăm chú vào đấy thôi. Tôi sẽ viết cuốn Diệt vong và sẽ thường xuyên trao đổi với Gambetti mọi chuyện liên quan đến cuốn Diệt vong, tôi nghĩ bụng; với cả Spadolini lẫn Zacchi nữa, và dĩ nhiên với Maria nữa, nhưng họ lại không biết rằng, trong đầu tôi chỉ độc những ý nghĩ quay quanh cuốn Diệt vong, những chuyện tôi trao đổi, tranh luận với họ, rốt cuộc, chỉ dính dáng đến Diệt vong mà thôi. Ham muốn quay lại Rome của tôi lúc này lớn hơn mọi ham muốn khác. Tôi nghĩ bụng, bây giờ mà được cùng Spadolini quay trở lại Rome ngay thì hay biết bao nhiêu. Đến là đau lòng, khi chính tôi, tôi phải bác lại chính mình. Bởi ngày mai Spadolini đã quay lại Rome rồi, còn ngươi vẫn phải ở lại Wolfsegg. Đây là hình phạt chung thân dành cho ngươi vậy, tôi nghĩ bụng. Giá bây giờ được ngồi ăn tối với Maria, được trao đi đổi lại với nàng về các bài thơ nàng mới viết. Lắng nghe nàng. Giãi bày mọi sự với nàng. Rót vang cho nàng. Tôi lại cầm cuốn Luật sư Siebenkäs lên tay, mở nó ra, rồi bật đèn, và chợt nghĩ, không biết đưa cuốn Luật sư Siebenkäs này cho Gambetti có phải là một sai lầm, một sai lầm nghiêm trọng không. Đưa cuốn Vụ án cho anh ta thì đúng, nhưng Luật sư Siebenkäs thì không. Và, thay vì Esch hay chủ nghĩa vô chính phủ, lẽ ra mình đưa quyển Tái ngộ Schopenhauer cho anh ta thì đúng hơn. Bây giờ chắc anh ta đã đọc xong một lượt Luật sư Siebenkäs, rồi vùi đầu và mê mải đọc lại lần nữa Luật sư Siebenkäs. Tôi hình dung ra cảnh Gambetti ngồi trong phòng làm việc, nơi anh ta có thể lánh mặt bố mẹ, dồn toàn bộ tâm trí cho niềm đam mê của mình, niềm đam mê văn học Đức; cũng như dồn tâm trí cho những suy tính thường trực trong đầu anh ta, làm sao mổ xẻ và làm nổ tung thế giới. Biết đâu được, tôi nghĩ bụng, rồi sẽ có ngày tôi nghe thấy một tiếng nổ kinh hồn, do Gambetti quả thực đã làm nổ tung thế giới, do anh ta thật sự biến các ý nghĩ của mình thành hiện thực. Thì cho đến tận giờ chính anh ta vẫn mơ cho thế giới nổ tung lên giời, cưa cắt, mổ xẻ nó ra, rồi cho nổ tung hết lên đấy thôi. Hạng như Gambetti, tôi tự nhủ, tôi tự đính chính ngay, những con người như anh ấy, đến một ngày nào đó, khi có đủ cơ hội, sẽ biến tất cả những gì họ mơ tưởng suốt hàng chục năm trời thành hiện thực. Gambetti không những chỉ là một kẻ mơ tưởng bẩm sinh mà thôi, anh ta còn là kẻ thực thỉ bẩm sinh các ước mơ của mình. Tôi vẫn đang chờ đợi vụ nổ kinh khủng đó, tôi nghĩ bụng, chân duỗi ra phía trước, dỏng tai nghe tiếng nước vòi hoa sen Spadolini đang tắm. Trong thư viện la liệt xác cả ngàn con ruồi, do bị nhốt, lăn ra chết chất đống trên nền nhà năm này qua năm khác mà chẳng được quét dọn bởi hàng bao nhiêu năm không có ai bước chân vào thư viện cả! Bây giờ tôi có chìa khóa trong tay, tôi sẽ mở hết ra, tôi nghĩ bụng, nhưng bây giờ thì chưa, bây giờ tôi đã mệt quá rồi, để đến mai, ngay từ lúc sáng sớm, trước khi mặt trời mọc. Tôi sẽ mở cả năm thư viện ra, mở mãi mãi, tôi tự nhủ và cùng với ý nghĩ ấy trong đầu, tôi đứng dậy, bước đến bên cửa sổ trông sang nhà kính. Với Maria, tôi thầm nghĩ, cảnh tượng bày ra trước mắt tôi đây hẳn phải rất tuyệt vời, cảm hứng dư thừa cho nhiều bài thơ chứ không chỉ một bài mà thôi. Mấy anh thợ làm vườn vẫn còn hì hục bê hết lẵng hoa này đến vòng hoa khác từ nhà quản sự sang nhà kính. Hôm nay chắc họ sẽ làm thông một mạch, tôi chắc mẩm thế. Họ sẽ còn loay hoay thế này suốt đêm nay mất. Cảnh tượng này, trông rất kịch, kịch từ đầu đến cuối! Tôi nghĩ chắc Spadolini cũng còn phải mất nửa tiếng nữa mới tắm xong, nên tôi rời thư viện ra ngoài, rồi xuống gian tiền sảnh. Bây giờ đã tám rưỡi tối, chẳng còn ai đứng dưới này. Tôi lại vào gian nhà thờ; bà cô ở Titisee hẳn đã lui về phòng từ lâu. Tôi ngồi đúng vào chỗ lúc nãy bà cô tôi ngồi cùng cô bé tháp tùng, vâng, tôi phải nói ngay, con bé trẻ trung và xinh xắn. Phải, phải! Mụ già cùng thiếu nữ tháp tùng, vị bảo trợ và kẻ được bảo trợ, hay ngược lại! Tôi lại quỳ xuống, đầu óc cũng chẳng nghĩ ngợi gì như lúc trước. Đoạn, tôi lại đứng dậy và ngồi xuống ghế, tôi nghĩ bụng, các chức sắc Nhà thờ đều đang chơi một trò chơi độc địa, bởi họ chỉ coi Nhà thờ như một màn kịch ghê gớm của thế giới, trong đó họ đóng các vai chính mà thôi. Và, tất cả các chức sắc bề trên ấy của Nhà thờ đều chen nhau lên phía trước, vung tay vung chân khoe khoang, khoác lác. Họ có nói gì thì nói, nhưng, dĩ nhiên, họ thừa biết đây là màn kịch lớn nhất, mà cũng là giả dối nhất, từ xưa đến nay. Spadolini bao giờ cũng chỉ diễn vai ở phía trước, sát bên diễn viên chính, là Đức Giáo hoàng. Song, cũng không sát đến mức y phải cùng chết hay cùng đổ một lúc với Đức Giáo hoàng. Y đã sống sót, đã trải qua ba triều đại Đức Giáo hoàng, tôi nghĩ bụng, và y cũng sẽ còn sống lâu hơn cả Đức Giáo hoàng thứ tư, tức vị Đức Giáo hoàng đương nhiệm - như thiên hạ ai nấy đều hay, đáng chờ chết do lâm bệnh nan y - và Spadolini sau đó sẽ lại bước lên sân khấu dưới ánh hào quang còn rực rỡ hơn xưa. Spadolini chính là con người bị màn kịch do Nhà thờ dàn dựng ấy hút hồn và hoàn toàn chi phối. Thoạt tiên, tôi nghĩ, tôi vẫn còn chán thời gian để sang nhà quản sự ghé thăm chuồng gia súc một lát - cũng như trước đây, vào khoảng giờ này, tôi vẫn thường sang đấy, khi các giống gia súc đều đã yên ắng trong chuồng - nhưng rồi, tôi lại nghĩ, tôi không thể làm Spadolini giận vì đã để mặc y một mình. Ngay cả ý định xuống làng tìm Alexander tôi cũng gạt đi, bởi tôi không muốn để dân làng trông thấy tôi hôm nay, ban ngày đã không, thì buổi tối nay càng không. Có lần, ở Brussel, tôi toan thử cho Spadolini và anh Alexander làm quen với nhau; nhưng ý đồ đó của tôi, ý đồ cố tình để mặc hai người - vị chức sắc bề trên của Nhà thờ và anh chàng mộng tưởng - chuyện trò với nhau thật lâu, cho đến bao giờ họ chịu nhau mới thôi, nhưng ý đồ đó đã không thành; hay, nói cách khác, tôi tự đánh cuộc với mình, và đã thua cuộc. Quả là thú vị nghe hai người tranh luận và quan sát họ đối chọi nhau, lúc này Spadolini lấn lướt Alexander, lúc khác Alexander át hẳn Spadolini; nhưng rốt cuộc, cuộc đấu trí giữa hai người, vâng, tôi gọi đây là cuộc đấu trí hẳn hoi, kết thúc bất phân thắng bại. Spadolini nhiều lần tỏ ý muốn hội ngộ Alexander và ngược lại, Alexander cũng tuyên bố, giá được gặp lại Spadolini thì tốt biết mấy. Thật không may, tôi nghĩ bụng, bây giờ Spadolini, đấng bề trên của Nhà thờ ấy, nghỉ lại trong nhà chúng tôi, còn anh Alexander, anh chàng mơ mộng, lại bị bọn em gái tôi tống xuống ngủ đêm dưới làng. Tôi đã thoáng có ý nghĩ, chờ Spadolini tắm rửa xong xuôi, tôi sẽ rủ y xuống dưới làng tìm anh Alexander. Thế nhưng tôi lại gạt ý nghĩ đó đi ngay, vì tôi không thể rủ Spadolini đi với tôi tìm Alexander ngay như thế - y vừa chân ướt chân ráo đến nơi, chưa kịp cho tí gì vào bụng. Vả lại, đằng nào y cũng sẽ từ chối không đi với tôi, y phải vội đi gặp bọn em gái tôi, lúc này chắc đã ngồi cả trong căn phòng gọi là phòng tiếp tân, để chờ Đức cha, đấng bề trên từ Rome tới. Tôi thoáng cảm thấy quái dị, khi thấy mình đang ngồi đúng trong gian nhà thờ, là nơi có lần - sau một vòng dạo chơi trong rừng - tôi đã ngồi cùng Maria. Khoảng ba năm truớc thì phải, khi nàng trên đường từ Paris về Rome, tôi mời nàng ghé qua Wolfsegg. Dạo ấy, bố mẹ tôi đi vắng - đến lúc ông bà về thì tôi cùng với Maria cũng quay lại Rome từ lâu - lúc đó tụi em gái tôi thua lại với ông bà toàn những chuyện vớ vẩn về hai chúng tôi, không, bây giờ nhớ lại, tôi phải nói là toàn chuyện bịa đặt mới đúng. Wolfsegg, tất nhiên, làm Maria vô cùng phấn khích. Nàng bảo tôi, em chưa từng được hít thở bầu không khí nào trong lành như ở đây. Hai chúng tôi làm hai chuyến đi dạo khá xa, quá cả Hausruck, một chuyến khác đến tận Haag, rồi từ đó nhảy tàu quay về. Anh Johannes lấy xe đón chúng tôi ở Lambach. Nói với nhau về Johannes, Maria bảo, trông anh ấy chân phương, nhưng cũng đắng mến. Các buổi tối, chúng tôi xuống dưới làng, đến quán Brandl - một quán ăn bao giờ cũng giúp cho tâm trí trở nên tình lặng. Lần khác, chúng tôi còn đến cả Ottnang, vào quán Geswagner, là quán ăn bình dân tôi chuộng nhất. Ở đấy, Maria tự dưng đâm ra nhanh mồm nhanh miệng một cách lạ lùng; nàng làm quen ngay với vợ chồng chủ quán, bắt chuyện với hầu hết khách trong quán. Đó là chuyện rất không bình thường, bởi nàng bao giờ cũng bị rắc rối khi tiếp xúc với người bình dân, nhiều rắc rối hơn tôi, bởi sự thực tôi chẳng gặp khó khăn rắc rối nào như thế; vâng, không khó khăn là không khó khăn khi tiếp xúc với người bình dân, chứ với dân vô sản thì câu chuyện lại khác hẳn. Maria tỏ ra thân thiện ngay với bà chủ quán Geswagner, và thậm chí còn kể cho bà ta nghe đôi chuyện về mình, những điều tôi chưa được nghe nàng kể bao giờ. Hóa ra thời thơ ấu của Maria khá giống với thời thơ ấu bà chủ quán, một người mà tấm lòng, như tôi biết, bao giờ cũng cởi mở, ấm áp. Hồi ấy, nàng bảo tôi, em rất thích Wolfsegg, nhưng em không ưa người nhà anh. Những lời nàng nói dạo đó, vẫn còn rõ mồn một trong tai tôi. Từ đấy, tôi không sao thuyết phục nổi Maria về thăm Wolfsegg lần nữa. Ở đấy chẳng có gì dành cho em, nàng bảo tôi. Ở Wolfsegg, nàng cũng không viết nổi vần thơ nào; thậm chí hàng tuần liền sau khi ở Wolfsegg về, nàng cũng không viết được nữa. Nàng bảo, Wolfsegg không phải đất thơ ca. Không phải đất cho thơ nàng thì đúng hơn, tôi nghĩ bụng, rồi đứng dậy, ra khỏi gian nhà thờ. Spadolini đã có mặt ở chỗ các em tôi. Chúng nó đã kịp sai bà nấu bếp hâm xúp nóng, và rán thịt cho y xơi bữa tối. Gã em rể tôi ngồi đối diện với y, và tôi nhìn ra ngay, gã há hốc mồm, đầy vẻ kinh ngạc. Đúng thế thật! Trong đời gã, gã đã được ngồi đối diện một vị Tổng Giám mục thật sự - một Đức cha bằng xương bằng thịt - bao giờ đâu, cho nên, từ lúc bước vào, tôi chỉ thấy gã lặng im. Tôi ngồi xuống bên Caecilia, uống một, rồi hai ly rượu vang, và trong lòng đầy khâm phục, chăm chú nghe cách Spadolini mở đầu và dẫn dắt câu chuyện theo ý mình ra sao. Hướng về phía chúng tôi, y bảo y có cảm giác như bố mẹ các anh chị sắp vào đây bất cứ lúc nào vậy. Cứ như bố mẹ các anh chị sắp bước vào đây bất cứ lúc nào vậy. Quả thật, từ lúc bố mẹ tôi chết, mọi thứ ở đây đều không thay đổi chút nào, nhìn quanh mọi thứ đều không mảy may thay đổi, trong khi, thật ra, trong lòng chúng tôi tất tật đều đã khác. Đương nhiên, cả trong lòng Spadolini nữa. Y bảo y rất quý trọng bố chúng tôi, ông ấy là con người cao quý, edel, y nói, và bởi y người Ý, y có thể tự cho phép nói cái từ edel ấy như thế. Và cách y phát âm cái từ edel ấy - tức là đặt trọng âm và nhấn mạnh cả hai âm e - cũng là cách phát âm rất điệu, của riêng mình y; y rất biết điều đó, nên đảo mắt liếc ra xung quanh, tự thưởng thức sự tinh tế trong cách nói rất điêu luyện ấy của mình. Giữa bố vớí y là tình bạn suốt đời gắn bó, đúng rồi, cũng là tình bạn cao quý, tình bạn edel. Ở mồm người khác, nói như thế, tôi dám chắc, khi nghe hẳn sẽ thối không chịu được, nhưng từ miệng Spadolini thốt ra, lại biến thành những lời châu ngọc tuyệt vời. Y làm quen với bố chúng tôi trước khi làm quen với mẹ, trong một buổi dạ tiệc tại Gentzgasse ở Wien, trong dinh ngài đại sứ Ireland vào thời hậu chiến, cái thời mà theo lời y, gian khổ đến cùng cực ấy. Giữa đám khách khứa đông đảo ở đó, y để ý thấy ngay thân sinh chúng tôi là người khác thường nhất - một con người tinh tế, có học, có hành bậc nhất. Y thích nói chuyện với bố chúng tôi nhất, bố chúng tôi cũng mời y về ngay thăm Wolfsegg, nói nguyên như lời y, hồi ấy ta còn là ủy viên Hội đồng Sứ thần Tòa thánh. Wolfsegg làm y ngây ngất, trong đời y, y chưa từng thấy một công trình nào kiều diễm và đồ sộ, theo kiểu rất Áo như thế, vừa đầy uy quyền, vừa rất tự nhiên, chưa bao giờ gặp những con người niềm nở, thân thiện như thế, cũng như chưa bao giờ được ăn ngon tuyệt vời như thế. Cứ như lời y, thì mẹ chúng tôi đã đón tiếp y ân cần, thân thiết như đón đứa con trai xa nhà mới về. Bố chúng tôi cùng anh Johannes, nhân một chuyến đi Palermo, đã từng ghé thăm y ở Rome; y đưa hai bố con đi thăm Rome, nhưng trong đầu chỉ nghĩ đến Wolfsegg, đến vẻ đẹp nguy nga của nó. Bao giờ người Ý nói sự nguy nga (Herrlichkeit) bằng tiếng Đức thì thể nào cũng nghe thành ra sự trung thực (Ehrlichkeit); mấy lần liền, Spadolini chắc mẩm y nói “nguy nga”, nhưng thật ra y lại nói “trung thực”, khiến cả tôi, lẫn hai đứa em gái tôi nghe đều thấy vui tai, không phải do buồn cười, mà vì có duyên thế nào đó. Ấy là chưa kể, tôi nghĩ thầm, giọng nói Spadolini rất du dương. Y mô tả ông bố chúng tôi là người hết sức thận trọng, một điều thật phúc đức cho cả nhà, người biết suy tính, cân nhắc mọi việc, không bao giờ phô trương khoe mẽ, bao giờ cũng tận tâm tận lực vì lợi ích gia đình mình và đi đến đâu ông cũng được yêu mến và kính trọng. Ngựa, theo lời Spadolini, là giống vật ông thân sinh các anh chị quý nhất. Ông ấy thật sung sướng được gần gũi chúng nó; phải, chỉ mong sao giá lúc nào cũng được gần đám ngựa của mình. Mà ông ấy mới ham đi săn làm sao chứ, y thốt lên. Ta rất hay đi săn với ông thân sinh các anh chị, mặc dù những lúc như thế thân mẫu các anh chị bao giờ cũng rất lo lắng. Cánh thợ săn là cánh khó lường - “unberechenbar” - y phát âm rung âm r ở cuối, rung gấp đôi, thậm chí gấp ba, đâm ra thành “unberechenbarrr”, nghe đến ngộ. Ông cụ thân sinh ra anh chị quả là bậc vương giả thực thụ, thuộc hàng quý tộc chính hiệu. Và, ông mới thật thông minh, uyên bác làm sao. Spadolini từng quen biết một ông bố khác với ông bố tôi biết, cũng khác cả với ông bố của bọn em gái tôi. Hễ nhiều người cùng mô tả một ai đó, tôi nghĩ, mỗi người bao giờ cũng thấy một con người khác. Bao nhiêu người mô tả, bao nhiêu người quan sát cũng mặc, mỗi người sẽ quan sát, sẽ mô tả đối tượng từ hướng, hay từ góc nhìn riêng của người đó, thì cũng sẽ có bấy nhiêu quan điểm về cùng một con người, cùng một đối tượng, tôi tự nhủ, cho nên nếu Spadolini có quan điểm hay cách nhìn khác với của anh em chúng tôi thì cũng là điều tự nhiên thôi; song, cách nhìn của Spadolini trong lúc say sưa kể lể này là cách nhìn thật dị thường, tôi nghĩ bụng, cách nhìn lạ đời nữa là khác, một cách nhìn - chắc chắn do tác động mà cái chết của bố tôi gây ra, nên đã đưa ông vượt lên trên vị trí mọi khi y vốn vẫn dành cho ông. Cứ theo lời y thì bố tôi thông thái hơn thiên hạ, ông có nhiều mối quan tâm hơn mọi người cùng giới với ông. Y vừa bảo bố tôi là con người trầm tĩnh nhất đời, nhưng lúc sau đã lại bảo ông là người không bao giờ chịu yên. Ông là tấm gương cho một con người đứng đắn, đúng mực. Một ông chủ đáng kính. Một triết gia. Một con người khiêm nhường. Một con người bao dung, rộng lượng. Một con người biết quy tụ nhân tâm, con người giàu lý trí, con người giàu lòng nhân ái, đồng thời cũng là người biết tự kiềm chế và được lòng thiên hạ. Spadolini không tiếc lời khen ngợi bố tôi. Y kể, y gặp bố tôi ở Cairo rồi hai người kéo nhau chui vào kim tự tháp Cheop, lần theo các bậc thang bằng gỗ ván lên cao mãi, cho đến khi kiệt cả sức. Từ Alexandria, y nói, hai ông gửi bưu thiếp cho chúng tôi, nhưng chúng tôi chả bao giờ nhận được. Theo lời y, thì ở Rome, bao giờ y cũng đưa bố tôi đến phố Veneto, bởi ông bố chúng tôi rất thích phố Veneto. Thân sinh các anh chị vốn rất yêu thành Rome, Spadolini quả quyết vậy. Được đi uống rượu vang với người sành rượu như ông thật tuyệt vời! Thân sinh các chị vốn là con người triết lý, y nói, ông mang trong người một vốn học vấn rất cao về chính trị. Nói cho cùng, tôi nghĩ, tất cả những gì Spadolini đang nói trước mặt anh em tôi đây về bố chúng tôi - trong lúc y dùng bữa tối - đều sai tuốt; tất cả những gì Spadolini đang nói về bố tôi đều sai bét. về ông bố tôi, tôi đã nói những điều ngược hẳn, rằng ông không phải người giàu lý trí, ông chẳng phải người biết tự kiềm chế, mà cũng không phải con người của triết lý, vân vân và vân vân. Spadolini đang mô tả một ông bố không có thực, tôi tự nhủ, một ông bố y đang tường tượng ra trong đầu mà thôi. Song, mặc dù tất cả những gì Spadolini nói về bố tôi đều sai toét, ấy thế những vẫn có chút hơi hướng nào đó của sự thật đáng tin thật. Ta vẫn thường nghe rặt những chuyện vớ vẩn, toàn chuyện sai lệch và bịa đặt về một người nào đấy, nhưng ta vẫn tưởng đó là những chuyện rất thật về con người đó, vâng, vẫn cho đó là sự thật, chỉ vì những điều méo mó so với sự thật đó được phát ra từ mồm miệng một người đầy tự tin nào đó, kiểu như Spadolini đây. Thế nhưng lúc này y không thuyết phục được tôi, bởi rõ ràng y đang phác họa một bức tranh y muốn có về ông bố tôi thì đúng hơn, tôi nghĩ bụng, chứ không phải bức tranh trung thành với sự thật. Ông bố tôi vốn là người hoàn toàn khác với con người Spadolini đang phác họa, tôi tự nhủ. Vâng, hình ảnh ông bố tôi do Sapdolini đang phác họa là hình ảnh được y lý tưởng hóa, mặc dù lý tưởng hóa không đến nỗi tôi đâu nhé, tôi tự nhủ, bởi vì y mô tả bức phác họa của y bằng một giọng quyến rũ và hấp dẫn, nhưng không quên pha chút đau buồn - một kiểu giọng vào lúc này có thể xem là thích hợp, vì dẫu gì, ông bố tôi cũng mới qua đời được hai hôm chứ đâu - khiến cho sự thớ lợ thực sự chứa đựng trong bức phác họa giả mạo kia không hiện ra lộ liễu quá, bởi nói gì thì nói, y cũng thừa thông minh để nhận ra rằng, bức tranh y phác họa trước mắt về ông bố chúng tôi, xét cho cùng, quả là thớ lợ và thô bỉ. Tuy ông bố chúng tôi lúc sinh thời đúng là có tử tế như Spadolini nói thật, quả có trầm tính thật và rất có thể, cũng là quý ông đáng kính thật, nhưng mọi thứ khác đều sai toét. Song, cứ nhìn nét mặt hai đứa em gái tôi thì biết, chúng nó như muốn hớp lấy từng lời từng câu phun ra từ miệng Spadolini, như thể đó là những lời, những câu chứa đựng và chỉ chứa đựng độc có sự thật đơn thuần mà thôi. Một lúc khá lâu Spadolini cố tránh không nhắc đến mẹ tôi, y nói rất nhiều về bố tôi, khiến tôi buộc lòng phải nghĩ, vâng, mặc dù bố tôi xét cho cùng không phải là con người đủ thú vị để y phải dài dòng, hết ca lại tụng như thế, nhưng lần lữa nói thật lâu về bố tôi là phương sách thuận lợi giúp y đáng trống lảng, giúp y trì hoãn, chưa phải nói gì về bà mẹ chúng tôi, về người tình của y cả. Song le, trong khi thao thao về bố chúng tôi như thế, y thừa biết anh em chúng tôi chỉ nhăm nhăm chờ y nói về mẹ chúng tôi thôi. Có lần y với bố chúng tôi rủ nhau leo núi ở Ortler, y vẫn nói tiếp, và ở đó ông bố chúng tôi đã cứu y thoát chết, nhờ ông kịp thời ném sợi dây thừng xuống vách đá cho y vào lúc nguy kịch nhất. Y không hề tỏ ra bối rối hay sượng sùng khi chỉ có một mình y ăn còn chúng tôi chỉ bó tay ngồi xung quanh. Nhìn y ăn có vẻ ngon miệng, chúng tôi cũng thấy vui vui. Tôi thầm nghĩ, nhà bếp quả đã chịu khó dọn bữa ăn tử tế cho y, không qua loa lấy được. Ở Sitten bên Thụy Sĩ, tức là ở thung lũng Rhonetal, y kể, y cùng bố tôi ghé thăm một nhà thờ nhỏ, như y nói, kiến trúc kiểu Roman. Trong nhà thờ, hai vị trông thấy bức tranh vẽ Chúa Cơ đốc với bộ mặt méo mó lạ lùng, đến mức bệnh hoạn. Y bảo, bố tôi thốt lên với y, rằng chưa bao giờ có bức tranh nào gây ấn tượng mạnh mẽ đến ông như bức tranh này. Bố tôi, nói như y, là người sành sỏi nghệ thuật, ông cũng là người bạn của các nghệ sĩ. Y tỏ ra khoái cái từ nghệ sĩ từ miệng mình nói ra, nên y nhắc đi nhắc lại vài lần, cốt chỉ để tự một mình thưởng thức. Ông thân sinh các anh chị là người yêu thiên nhiên, y nói. Rồi tiếp, ông cũng là người yêu lẽ công bằng và và rất vững vàng về mặt tín ngưỡng. Thân sinh các anh chị là một tín đồ Cơ đốc giáo mẫu mực, y nói rồi đưa mắt nhìn các em gái tôi. Đây là nhận xét cuối cùng của y về bố tôi, và vừa nói xong, y cũng ngừng ăn. Tôi nghĩ ở đời này có lẽ chẳng còn ai biết dùng khăn giấy lau miệng điệu đàng như y. Caecilia rót rượu vang mời y uống; y ngả lưng ra sau và nói, tối mai y đã lại phải về Rome. Đức Giáo hoàng cho mời y đến, nhưng với Đức Giáo hoàng này chẳng có ai biết trước được liệu Ngài có tiếp người Ngài cho mời đến đúng vào giờ Ngài đã định hay không. lình hình ở Rome hiện nay rất tồi tệ, không khí chính trị trở nên gay gắt, cả phe cộng sản lẫn phe phát xít đều lăm le chực lên nắm quyền. Thế nhưng, y nói, cả phát xít lẫn cộng sản, sẽ chẳng ai đủ sức lên cầm

quyền cả. Ai ra khỏi nhà một lát thôi, cũng chưa chắc mình còn sống mà quay về, bởi vì bọn phát xít nổ súng bắn bừa bãi vào dân chúng, bất kể họ liên quan hay không liên quan đến việc của chúng, bắn để gây chú ý, chỉ có thế thôi, y quả quyết. Quả thật là một thời bất ổn và đáng sợ. Ấy nhưng cũng lại là một thời kỳ thú vị nhất mà nước Ý chưa từng trải qua. Ta bị buộc chặt vào Rome, y nói, chặt đến mức ta không thể hình dung, có bao giờ ta rời khỏi đó hay không, mặc dù ta đâu có tự quyết định được, mình sẽ ở lại hay ra đi. Mệnh ta hoàn toàn nằm trong tay cấc đấng Bề trên, y nói. Tôi thầm nghĩ, không biết do đâu mà tôi lại ngưỡng mộ Spadolini đến vậy. Hình như chính con người y thôi, chính sự hiện diện của y thôi, đã là câu trả lời! Gốc gác lòng ngưỡng mộ ấy của tôi, tôi nghĩ bụng, không phải là y nói những gì, mà là cách y nói như thế nào, là cách y tự phô diễn mình ra sao. Bất cứ những gì y nói cũng khác hẳn với cách người khác nói, tôi tự nhủ, đó mới là điều mấu chốt. Đến đây, bỗng nhiên y điềm nhiên chuyển sang nói về bà mẹ chúng tôi. Tuy bà là người không thể mô tả bằng lời được, như y nói, nhưng y vẫn cất tiếng mô tả bà. Bà luôn luôn kiều diễm, và chính bà cũng là người đưa y lần đầu tiên vào nhà hát Opera ở Wien, nghe vở Der Rosenkavalier (Hiệp sĩ hoa hồng), nhờ bà mà y được làm quen với những nữ danh ca nổi tiếng nhất của nhà hát Opera ở Wien và cho đến tận giờ vẫn giữ quan hệ bạn bè thân thiết với các nữ danh ca đó, nhờ mẹ chúng tôi y làm quen với nền âm nhạc Áo, bởi chính bà, mỗi khi bà đến Wien, đều mời y đến dự các buổi hòa nhạc tại nhà hát giao hưởng. Cùng với bố chúng tôi, bà với y từng đến cái gọi là Hội âm nhạc vằ nhà hát giao hưởng. Nhờ ơn mẹ tôi y mới được nghe nhiều nhạc của Mahler ở Wien. Y nói chính bà đã mách cho y nghe Mahler, một nhạc sĩ làm bà say mê say mệt, say mê đến mức buổi giao hưởng nhạc Mahler nào y với bà cũng đều dự cả. Theo y, mẹ chúng tôi là người có năng khiếu âm nhạc tuyệt vời và y luôn luôn tiếc rẻ bà không chơi thứ nhạc cụ nào, mặc dù, y quả quyết, lẽ ra bà có thể trở thành một nghệ sĩ dương cầm lớn. Việc y bị thuyên chuyển khỏi Wien sở dĩ làm y tiếc rẻ, trước hết, có lẽ là do y vì thế mà phải xa rời âm nhạc, nhất là sau khi y phải nhậm chức ở hải ngoại. Y kể mẹ tôi cùng với y đi thuyền ngược dòng sông Danube đến Dủrnstein ở Wachau, đưa y đi thăm Salzburg, chỉ cho y xem Salzkammergut, và chẳng bao lâu sau buổi đầu làm quen, bà đã mời y đến Paris, là nơi dạo ấy y chưa từng đặt chân đến bao giờ. Chả là hồi đó, trong chân cố vấn cho Sứ thần Tòa thánh, y chưa có nhiều cơ hội đi đây đi đó, hay nói đúng lời y, hoàn cảnh còn khá eo hẹp, tất nhiên, chưa được như sau này, khi y giữ chân Sứ thần. Mẹ tôi từng mời y đến Florence và hai người cùng với bố tôi lưu lại đó hàng tuần liền vào mùa thu và thật sự chỉ cho y thấy Florence là thành phố thế nào. Trước đó y đã đến Florence nhiều lần, nhưng mẹ tôi đã dạy y biết yêu thành phố của các quan chức nhà nước này. Cũng nhờ bà mẹ chúng tôi mà y thông thạo miền Thượng Áo này như thế, phải, cái xứ với bao nhiêu là hồ nước và núi cao nguy nga tráng lệ (vâng, vẫn cách phát âm từ nguy nga, tráng lệ thành ra trung thực xưa nay của y) cùng những dãy núi chết, những khe xói lở trên cao ấy. Rồi những lâu đài “trung thực (nguy nga)” chỉ có ở xứ này, không ở đâu khác nữa. Vùng đất Thượng Áo “trung thực” ấy, theo y, cũng là nơi đẹp nhất trên đất Áo. Y bao giờ cũng hết sức kính trọng mẹ chúng tôi, đúng rồi, một con người phi thường như thân mẫu anh chị, người ta chỉ có thể yêu mến mà thôi. Tình bạn với thân mẫu anh chị là tình bạn có một không hai, bền vững suốt cả ba chục năm trời nay. Mẹ chúng tôi làm cho y khỏe mạnh, y bảo vậy, bao giờ bà cũng đưa cho y những dược thảo tốt nhất, bao giờ cũng tìm đến thăm y vào những lúc các bác sĩ khác đều đã bó tay, cuốn gói, để mặc y ít nhiều vô vọng một thân một mình trên giường bệnh. Với ta, thân mẫu các anh chị cũng là thầy thuốc tài giỏi nhất, y bảo, bà mang đến cho ta những thứ thảo dược vùng Thượng Áo, giúp ta khỏi bệnh. Mạng sống của ta có lẽ chỉ nhờ có số thảo dược Thượng Áo ấy mà vẫn được vẹn toàn, y nói, số dược thảo thân mẫu anh chị chẳng quản khó nhọc tìm mua rồi bất kể nắng mưa, xa xôi cách trở mang về Rome, để cứu vớt ta. Bằng thứ thảo dược ấy bà đã cứu sống ta, Spadolini khẽ thốt lên rồi tiếp, thảo dược vùng Thượng Áo đã giữ y lại cho nhân loại, vâng, đó quả thực là nguyên văn lời từ miệng y, nghe khá hùng hồn, thống thiết, nhưng du dương, quyến rũ đến mức không hề gây chút khó chịu, ngượng ngùng nào cho người nghe cả. Nếu cần, y nói tiếp, ta cũng sẽ mách thứ thảo dược miền Thượng Áo này cho Đức Giáo hoàng. Nói đến đây, y lặng im khá lâu và không ai trong chúng tôi dám cất tiếng phá tan sự im lặng đó. Gã em rể tôi ngồi đờ người trước mặt y, và nói như người ta nói, vẫn chưa qua cơn bàng hoàng. Bọn em gái tôi kính cẩn tôn trọng vài phút im lặng được Spadolini khéo léo và điêu luyện chen đúng lúc vào câu chuyện độc thoại của y. Rồi y nói tiếp, mới tuần trước y còn hẹn với mẹ chúng tôi đi thăm Kalabrien, bây giờ phải bỏ. Đến chỗ Trullis, y nói. Đi thăm Kalabrien vốn là mơ ước từ rất lâu của mẹ tôi, và bà định đầu mùa hè năm nay sẽ đi một chuyến. Ây thế, Spadolini cất tiếng, mọi sự bỗng dưng đều thay đổi. Đoạn y chuyển sang nói về chuyến y đi cùng với mẹ tôi và tôi, từ Taormina lên tham quan Aetna. Chuyến đi đã lâu lắm rồi, tôi nghĩ, chắc phải năm, sáu năm về trước, vào cái lần mẹ tôi đến Rome thăm tôi và tôi phải đưa mẹ tôi suốt mấy ngày liền lông nhông khắp nơi ở Rome, cốt chỉ để mua bằng được đôi giày da bà ưng ý, bà khăng khăng đôi giày phải màu xanh da trời và làm bằng thứ da lợn đặc biệt, mỏng và mềm mại như da găng tay mới được. Sau bao nhiêu ngày lùng sục, rồi hai mẹ con cũng tìm được đôi giày mẹ tôi ưa. Bà mua một lúc ba đôi cùng loại. Bao nhiêu lần bà lôi tôi - ít nhiều xềnh xệch - cùng đi ăn tối với người quen của bà, người quen thôi, không phải họ hàng, cốt chỉ để tạo chứng cớ ngoại phạm với bố tôi, để che đậy các cuộc hẹn hò, gặp gỡ liên tục với Spadolini mà thiên hạ nói cho cùng, ai cũng biết, nhưng cũng chẳng ai chê trách, chỉ riêng mẹ tôi vẫn luôn luôn muốn giữ thật kín. Bà lôi tôi đến dự các buổi dạ tiệc đáng ghét ấy cho bằng được, nhưng chẳng bao giờ cùng tôi quay về, bởi sau đó, bà lẩn đi hú hí thâu đêm với Spadolini. Tôi chả trách cứ gì mẹ tôi về những cuộc hẹn hò của bà với Spadolini, tôi chỉ thấy thương hại bà, tôi buộc phải nói thẳng ra như thế, vì bà bị lệ thuộc vào những cuộc hẹn hò, gặp gỡ đó. Sau các buổi dạ tiệc như thế, như tôi biết, Spadolini sẽ chờ bà tại một nơi nào đó ở Trastevere, rồi hai người tìm một căn hộ để trống nào đấy của bạn bè Spadolini, rồi hú hí, tình tự với nhau cho đến sáng. Tôi chẳng những chỉ thương hại mẹ tôi, tôi còn thương hại cả Spadolini nữa. Nhưng mặt khác, tôi cũng khinh bỉ cả y lẫn bà. Chuyến đi Aetna, dạo cuối tháng Giêng, thì hai vị quả có đi với tôi thật. Taormina, tất nhiên chúng tôi ở khách sạn Timeo. Chúng tôi thuê taxi lên sát mép tuyết trên núi. Sau đó, ngồi cáp treo lên đến đỉnh Aetna. Miệng núi lửa chính chìm hẳn trong sương mù, tuyệt nhiên không thấy gì hết. Cả ba chúng tôi, ai nấy đều cảm thấy hân hoan, sung sướng nhất trần đời. Bây giờ, Spadolini kể lại về chuyến đi Aetna thế này: anh còn nhớ chứ, cả ba chúng ta đi cáp treo lên cao rồi ghé vào nhà hàng. Nhưng trong ấy lạnh đến nỗi, ta không muốn ngồi lâu, chỉ uống mỗi người một ly trà nóng rồi đi. Ta với mẹ anh, y nói hướng về phía tôi, quyết định đi bộ xuống, còn anh thì không chịu, anh bảo anh sợ, anh còn nhớ không? Y hỏi tôi. Vâng, tôi đáp, cháu sợ. Phải rồi, anh sợ, y nói tiếp, nhưng ta với mẹ anh thì chẳng sợ gì. Ta nắm tay mẹ anh và cứ thế đi xuống. Còn anh đi cáp treo quay lại. Bọn ta từ dưới nhìn lên thấy anh trong thùng cáp treo, y nói, còn anh từ trên ấy cũng nhìn thấy bọn ta. Đột nhiên có cơn lốc tuyết nổi lên. Tuyết rơi dày đến mức bọn ta chẳng còn nhìn thấy anh nữa; bọn ta không nhìn thấy anh, anh cũng không thấy chúng ta đâu nữa, y nói, ta không thấy xe cáp treo đâu nữa cả, từ trong xe cáp treo, anh cũng không nhìn thấy chúng ta nữa. về sau anh bảo, xe cáp heo chao đảo đến mức anh phát hoảng, chỉ sợ dây cáp sẽ bật ra. Anh cũng bảo anh căng mắt tìm chúng ta phía dưới, nhưng không còn thấy gì nữa. Cáp treo chao đảo đến nỗi anh tưởng giờ tận số đã điểm, y kể tiếp. Ta với mẹ anh cũng chẳng nhìn thấy gì hết, nên lánh ra sau mấy tảng băng. Cứ thế này thì chả mấy chốc bọn ta bị sẽ tuyết vùi kín. Như ở dãy núi Alpen, y nói, đúng, như dãy núi Alpen vậy. Ta đã nghĩ, không khéo mình sẽ chết mất, như đã có người từng vong mạng trên dãy Alpen. Không còn nhìn thấy gì nữa cả. Song, ta nghĩ bụng, nếu không đi tiếp, ta sẽ chết cóng mất. Thế là, ta nắm tay mẹ anh, đi tiếp. Nhưng rồi ta lại nhanh chóng kiệt sức và mẹ anh lại kéo ta đi. Cứ thay nhau như thế, y nói. Còn anh thì đã xuống đến trạm nghỉ chân dưới thung lũng từ lâu, mà tuyết rơi vẫn không ngớt. Thế là anh báo động với cảnh sát, nhưng cảnh sát cũng không thể leo ngược lên được, vì lốc tuyết mạnh quá. Bọn ta chui lọt vào một khe dung nham núi lửa và lo nơm nớp, sẽ bị tuột xuống sườn núi, nên mới đầu cả hai đều không dám động đậy. Song mẹ anh bảo, bọn ta phải đi tiếp, rồi bà đẩy ta đi, y nói, đẩy đi tiếp. Được một đoạn lại chui vào một khe dung nham khác và chắc mẩm, chuyến này không khéo chết cả hai. Ta cầu nguyện, cầu nguyện thầm thôi, không để mẹ các anh chị biết, cầu nguyện một mình ta thôi. May vừa lúc đó thì ngớt tuyết, Spadolini nói, và bọn ta thoát chết. Phải, chính anh dạo ấy đã cảnh báo chúng tôi, bây giờ Spadolini lại hướng về phía tôi, lẽ ra không được lội bộ từ trên Aetna xuống núi như thế. Nhiều người nghe nói đã bỏ mạng vì thế. Đúng rồi, Aetna là ngọn núi đầy chết chóc, y lại lấy giọng lâm ly thống thiết. Thế nhưng, mẹ anh và ta lúc ấy sung sướng quá đi, y nói, chuyến đi Aetna lần ấy quả là chuyến đi ta không bao giờ quên. Sau đó ta quay ve Taormina, rét run câm cập, y nói, chui ngay vào chăn. Ấy thế mà tối đến, bọn ta đã lại có mặt ở phòng ăn, như thể không hề có chuyện gì xảy ra. Phải rồi, lẽ ra ta nên nghe anh, Spadolini ôn tồn nói, thế nhưng tình yêu thương của ta đối với mẹ anh làm ta phát điên phát cuồng. Nếu không có mẹ anh nắm lấy ta và cứ thế kéo từ Aetna xuống thì không biết sẽ ra sao! Y lại thốt lên. Mẹ anh là người, người ta hay nói thế nào nhỉ, là người mà khi cần thì không biết sợ là gì. Con người đầy nhiệt huyết, y nói, và dứt khoát. Thế mà tối hôm đó, bà xuất hiện yêu kiều biết bao, trong chiếc áo dài Ba Tư màu kem ngà ngà. Chắc anh cũng còn nhớ. Lạy Chúa, y lại khẽ thốt lên, trong chiếc áo dài ấy, trông thân mẫu các anh chị mới đẹp làm sao! Cũng có thể, các anh chị không có những kỷ niệm như của ta về thân mẫu mình. Trong ta, ta chỉ có các kỷ niệm đẹp đẽ nhất mà thôi. Đối với ta, y trầm ngâm, tin báo cái chết của bà thật kinh khủng, khinh khủng nhất, từ lâu lắm đến giờ ta không phải nhận tin báo nào khủng khiếp như thế. Đã bao nhiêu lần thân mẫu của anh chị cứu ta thoát chết, ta nói thật đó, riêng việc bà mời ta về Wolfsegg cũng đã là sự cứu rỗi. Ở đây, ta có được sự yên tĩnh giúp ta hồi sinh, y nói. Ta yêu ngôi nhà này, quý mảnh đất này hơn bất kỳ ngôi nhà hay mảnh đất nào khác. Lối sống văn hóa tràn đầy mọi ngóc ngách ở đây bao giờ cũng có thể cứu sống một kẻ cùng đường, bế tắc và tuyệt vọng. Lúc ta làm Sứ thần Tòa thánh ở Peru ta luôn luôn nhớ đến Wolfsegg, nhớ đến các anh chị, đến thân mẫu của các anh chị. Chính những kỷ niệm đó giúp ta sống sót ở xứ sở đó. Song Peru quả là đất nước tráng lệ, y nói, tráng lệ, tráng lệ (herrlich)! Trung thực (errlich)! Tin báo này quả thật là tin báo đau buồn nhất từ trước đến giờ, y nói rồi đứng dậy và ra hiệu cho mọi người biết, y dằn lòng quyết định, bây giờ sang bên nhà kính, sang với những người đã khuất. Trước khi cả năm chúng tôi ra khỏi phòng, y bước lần nữa về phía tôi rồi cất tiếng từ tốn bảo, cái chết của mẹ tôi cũng là mất mát lớn nhất của y. Anh đừng bao giờ mất tự chủ, y dặn tôi, anh giờ đây là ông chủ ở Wolfsegg đấy. Lúc này chính là lúc thích hợp nhất cho Spadolini sang nhà kính. Khách khứa đã lui hết cả về phòng họ nghỉ qua đêm, ngoài những tiếng động khe khẽ từ trong bếp vọng ra, chẳng còn tiếng động nào khác nữa. Caecilia đi nhanh lên trước - trông cứ như chạy - mở hết cửa này đến cửa khác cho mọi người đi sau. Nó cũng đến nhà kính đầu tiên, nhưng khi đến gần chừng mươi mười lăm thước, nó bước chậm lại, không bước thẳng vào mà chờ Spadolini đang bước rất bình tính theo sau. Y mang đôi giày sang trọng bậc nhất, mà tôi chưa từng trông thấy bao giờ. Tôi đã để ý đến đôi giày này từ nãy, khi tôi theo sau y lên tầng trên. Spadolini bao giờ cũng chú ý đến việc mang giày sao cho thật sang trọng. Tôi thường thấy thú vị mỗi khi quan sát y đi sắm giày, thì tất nhiên rồi, sắm ở phố Condotti, chứ không bao giờ như tôi, chỉ mua giày ở Corso. Tôi ngắm đôi giày y giẫm lên cỏ non lòng đầy ngưỡng mộ; dưới ánh đèn nhà táng hắt từ nhà kính ra làm sáng một khoảnh nhỏ trong khu vườn, trông đôi giày y mang càng đẹp. Spadolini định chờ tôi, hoặc Amalia, sẽ bước vào nhà kính trước, nhưng chúng tôi lại khăng khăng nhường bước cho y. Spadolini bèn nắm tay Caecilia bước vào trong. Y đứng dừng lại trước các cỗ quan tài và kéo Caecilia sát vào mình. Gã em rể tôi đứng ra sau Caecilia, Amalia - sau lưng Spadolini, còn tôi - ra sau cùng. Hai gã thợ săn túc trực bên linh cữu đứng nghiêm, không động đậy, làm như thể đây là tang lễ quân sự cấp cao không bằng. Cảnh tượng này làm tôi nhớ đến cảnh tượng bên Đài kỷ niệm Chiến sĩ vô danh ở Warszawa. Tôi với anh Johannes đến đấy trong lần hẹn nhau ở Warszawa, trước khi cùng nhau đi Krakow. Ihíớc đó, anh tôi đi săn ở Zakopane, còn tôi - đi thăm bà con ở gần Wilanow. Năm người chúng tôi đứng gần như bất động mất vài ba phút bên ba cỗ quan tài. Trong lòng tôi đột nhiên trỗi dậy ý muốn, phải nhìn xem mặt mũi của các em tôi, của gã em rể lẫn của Spadolini lúc này ra sao, chứ không muốn nhìn mãi hai gương mặt người chết, hai gương mặt đã trở nên hoàn toàn xa lạ của ông bố lẫn ông anh trai tôi nữa. Tôi bước đến bên quan tài và làm ra vẻ như muốn xem lại mấy tảng đá làm lạnh, tôi nhấc mấy tấm khăn đen lên, rồi lại bỏ xuống, trong khi mắt tôi chỉ liếc xem mặt Spadolini, của hai em gái và gã em rể tôi thế nào thôi. Song, trên gương mặt họ, tôi chẳng nhìn ra dấu hiệu nào làm lộ những gì đang diễn ra trong lòng họ. Các gương mặt đó không lộ ra cho tôi thấy điều gì hết. Chúng bất động và trông hệt như các tấm màn che kín mọi thứ ở bên trong. Tôi những tưởng, các gương mặt này sẽ làm lộ tẩy mọi thứ nằm phía sau, nhưng không, chúng bị che kín hoàn toàn, phủ kín tuyệt đối tất tật những gì tôi có thể lấy làm thú vị. Hóa ra mấy người cũng ranh ma, cũng biết tự chủ ra phết, tôi nghĩ bụng trong lúc vẫn đứng trước mặt họ và chợt cảm thấy hoang mang, không biết họ có đoán ra ý đồ thật sự của tôi không, Spadolini, cũng như hai đứa em gái tôi, thì dám đã đoán ra lắm. Người duy nhất vẫn giữ nguyên gương mặt thật của mình, hay nói cách khác, không xô phông kéo màn che mặt, là gã em rể, gã chủ xưởng nút chai rượu vang; gã không kéo màn che gương mặt đần độn của mình lại, tôi nghĩ bụng, bởi, gã cũng chẳng biết mình đần độn cỡ nào. Mấy người kia đều kéo màn che mặt, riêng gã em rể, gã chủ xưởng nút

chai rượu vang, không che, thì lại là người duy nhất, trong số những người đứng trước quan tài đây, không làm tôi quan tâm chút nào. Nhưng, đằng sau các tấm màn họ kéo ra che mặt kia chắc chắn bọn họ đang có những ý nghĩ có thể làm tôi thú vị lắm đây. Tôi tự nhủ, tôi biết thừa đó là những ý nghĩ gì, tôi chẳng cần phải kéo màn, đẩy phông ra mới biết họ đang nghĩ gì phía trong, những gì đang diễn ra trong ruột gan họ. Tôi lại cẩn thận nhấc một tấm khăn đen lên, rồi lại lặng lẽ đặt nó xuống tảng băng. Trong lòng tôi, tôi hiểu rất rõ sự đê tiện của mình, sự đê tiện chứa đựng trong ý định lật tẩy sự hèn hạ và đểu cáng phía sau các tấm màn che kín mặt kia. Tất nhiên Spadolini nắm cùi tay con Caecilia, tôi nghĩ bụng. Một cảnh phim. Đây là các gương mặt trong phim. Gương mặt tài tử điện ảnh. Tôi lùi nhanh lại chỗ cũ của mình ở phía sau, như thể vừa sực nhận ra và lấy làm ăn năn rằng việc tôi bước lên trước như vừa rồi đã làm hỏng một nghi thức quan họng. Hai tay thợ săn thoáng lúng túng, nhưng cố không để lộ ra mặt. Cũng cảnh phim nốt, tôi nghĩ bụng. Gương mặt người chết bây giờ trông như bằng sáp, chuyển màu xám xỉn. Sáng ra, tôi nghĩ bụng, phải cho người lau sạch hai gương mặt đã xám xỉn này đi mới được, mình phải nhớ bảo người làm, đừng có mà quên. Đột nhiên, Spadolini quỳ xuống trước quan tài mẹ tôi. Cảnh tượng trông thật sượng sùng. Hai đứa em gái tôi chẳng còn cách nào khác, cũng quỳ xuống. Tôi, tất nhiên, vẫn đứng nguyên, Spadolini và hai em gái tôi quỳ hai hay ba phút gì đó trước quan tài, khoảng thời gian đó, vào lúc như thế này, tưởng dài như vô tận. Tôi nghĩ, lại cũng cảnh phim. Trước khi bước vào nhà kính, Đức cha Tổng Giám mục Spadolini đã dùng bữa tối cho vững dạ, khỏe người cái đã, tôi nghĩ bụng, rồi mới đến màn viếng người chết. Trông Ngài đứng lên mới trang trọng làm sao, tôi tự nhủ, trong khi bọn em tôi lại luýnh quýnh vụng về quá đỗi. Spadolini quay về phía tôi như muốn hỏi, tiếp theo là gì đây? Tôi bước về phía cửa. Spadolini theo sau tôi ra ngoài. Bên ngoài, trời tối sầm tự lúc nào. Thương tích thân mẫu anh chắc phải nặng nề lắm, y nói khẽ, nên người ta mới không liệm như liệm bố anh và Johannes. Rồi thêm vài bước, trên đường hướng về tòa nhà chính, y hỏi, làm sao mà xảy ra tai nạn. Các em tôi, lúng búng, không biết bắt đầu thế nào. Nhưng tôi cứ đọc trên báo thế nào, tôi lôi ra nói lại cho y nghe như thế, từng câu ngắn, như các dòng tít giật trên các trang báo ghép lại với nhau. Sau một buổi giao hưởng, tôi nói. À, ra thế, sau buổi giao hưởng, Spadolini hỏi lại. Rồi y tiếp Mạng sống tất cả chúng ta đều nằm trong tay Chúa. Và chúng ta, tất nhiên, không thấu hiểu được Người. Chúng ta không đủ sức để hiểu Người. Chúa ban cho chúng con sức mạnh, để sống ở đời, y nói. Rồi y bảo, giờ y chỉ muốn lui về phòng, chờ đến tang lễ ngày mai. Ta sẽ cầu nguyện cho người đã khuất, y trầm ngâm, cầu nguyện cho những con người thân yêu đã quá cố. Vì tụi em gái tôi cứ tưởng Spadolini sẽ còn ngồi với chúng tôi suốt tối, cho nên hơi chưng hửng khi thấy bây giờ Spadolini lại bỏ roi chúng nó như vậy. Đánh rụp một cái, cả bọn lại chỉ biết dựa vào tôi, chúng nó bèn rủ tôi, anh em mình lên phòng khách uống vang với nhau vậy. Gã em rể gật đầu ngay. Thế nhưng, tôi định kết thúc ngày hôm nay theo cách của tôi, và thực bụng mà nói, cũng chẳng muốn nhìn thấy mặt tụi em tôi nữa. Tôi bảo, không, tôi sẽ về phòng, rồi cũng như Spadolini lúc nãy, tôi để mặc hai đứa em gái cùng thằng em rể đứng trơ lại đó với nhau, và biến về phòng. Tôi cứ khóa cửa lại cái đã, dù tôi chưa có ý định đi ngủ ngay, bởi lên giường bây giờ quả là ngu ngốc, khi tôi thừa biết tôi không thể ngủ ngay được. Gì thì gì, tôi nghĩ bụng, những điều Spadolini nói về mẹ tôi thật hời hợt; y mô tả mẹ tôi như y muốn chúng tôi thấy bà thế nào - đúng theo cách y nhìn. Cách nhìn hời hợt lúc này của y tạo ra bức tranh mẹ tôi theo cách y muốn thấy, ngay lúc ngồi với chúng tôi bên bàn ăn, chứ không phải bức tranh y thật sự biết về mẹ tôi. Y muốn thấy ở bà một bà mẹ yêu nước Áo, yêu âm nhạc, một con người giàu lòng nhân ái, và một bà mẹ dành biết bao nhiêu thiện cảm cho giới nghệ sĩ. Nghe những lời như thế về bà mẹ tôi, dù đấy là những lời từ miệng Spadolini thốt ra, tôi thấy ngượng chín cả người; khác với bọn em gái tôi, chúng nó bao giờ cũng một lòng tin lời Spadolini, cho dù đó là những lời chẳng đáng tin chút nào. Những lời y kể về chuyến đi Aetna ngày nào tuy cũng ít nhiều trung thực, tôi thầm nghĩ, phải, tuy y cố tả chuyến đi Aetna trung thực vừa ở mức tôi không phản bác gì được, nhưng cũng là mức độ vừa hời hợt ở mức, khiến ai chỉ nghe y kể thôi - chứ không được chứng kiến thật sự như tôi - cũng sẽ tưởng đó chẳng qua chỉ là một mẩu chuyện bình thường, vô thưởng vô phạt mà thôi. Nhưng tôi không chỉ tưởng có vậy, trong đầu tôi, tôi vẫn còn ghi nhận cái độc địa trong mẩu chuyện về chuyến đi Aetna năm ấy, tôi nghĩ, thả người trong ghế bành, không bật đèn, để mặc cho bóng tối đen đặc chiếm lĩnh con người tôi. Phải, y kể lại chuyện xảy ra ở Aetna như kể một mẩu chuyện chẳng mấy ý nghĩa, vô thưởng vô phạt, như thể nó không chứa đựng bất cứ điều gì ranh ma quỷ quái bên trong cả, trong khi thực ra nó lại rất quỷ quái, giờ đây tôi càng thấy rõ, - quỷ quái, nham hiểm từ đầu đến cuối là đằng khác, Spadolini kể về chuyến đi vô hại, vô thưởng vô phạt, từ Taormina về Catania cũng như trên đỉnh Aetna ấy, nhưng chuyến đi tuyệt nhiên không vô hại chút nào. Hai vị dứt khoát đòi đi bộ từ trên đỉnh Aetna xuống, thật ra, là một trò quỷ quyệt, nham hiểm của hai ông bà, tôi nghĩ bụng, của mẹ tôi cũng như của Spadolini. Hai vị đã lợi dụng cơn bão tuyết. Hai người lợi dụng các khe núi. Họ tính trước trận tuyết rơi dày đặc, họ cố ý kéo nhau xông vào trận bão tuyết, tôi nghĩ bụng, không chút ngượng ngùng để mặc tôi một mình trên đỉnh núi; cả hai đều đinh ninh tôi không biết gì về chuyện giữa hai người với nhau, đều không ngờ tôi đã bắt thóp hai vị từ lâu, không ngờ tôi biết thừa quan hệ giữa hai vị không vô thưởng vô phạt chút nào, biết thừa hai vị làm gì mà chả có tính toán từ trước. Bên bàn ăn, Spadolini mô tả bà mẹ tôi như thể bà quả thật là một người đàn bà vô tư, vô hại, yêu thương và kính trọng y cũng vô tư, vô hại nốt. Song, tôi tự nhủ, mẹ tôi không phải người như thế. Bà không phải là người đàn bà vô tư, vô hại, cùng với Spadolini làm một chuyến đi chơi vô hại đến Aetna như thế, bà là một mụ đàn bà xảo quyệt, mức độ xảo quyệt của bà không thua của Spadolini về bất cứ mặt nào, thậm chí, sự xảo quyệt của mẹ chúng tôi còn trí trá hơn nhiều, tôi nghĩ bụng, bởi bà mẹ tôi vốn bao giờ cũng trí trá. Tôi chợt thấy cái từ đáng ghét này hợp với mẹ tôi hơn cả và chẳng chút ngại ngần để dùng đến nó để nói về bà. Cả hai vị đều thường xuyên trí trá. Spadolini mô tả mẹ tôi như một người đàn bà chân chất, một người chỉ mang trong người các đức tính tốt đẹp, không biết cái ác là gì, mệt người biết né tránh cái ác, biết đẩy cái ác ra xa; nhưng mẹ tôi hoàn toàn không phải thế, tôi nghĩ bụng, bà chính là hiện thân của cái ác, vâng, lúc này, lúc tôi đang ngồi lún sâu trong chiếc ghế bành đây, tôi chẳng ngần ngại để mặc cho ý nghĩ đó tiếp tục nảy nở, tiếp tục rộ lên trong đầu tôi. Mẹ tôi là cái ác được nhân cách hóa, tôi nghĩ, Spadolini tất nhiên không thể không nhìn ra cái ác đã nhân cách hóa ấy trong con người mẹ tôi; y là con người có dư đủ trí khôn, hay - mượn một từ y rất ưa dùng - quá ư già dặn về trí tuệ, để không nhìn ra điều đó. Trong bữa ăn nhẹ lúc nãy, y nói về mẹ tôi như nói về một người đàn bà mang nhãn quan thế giới, nhưng bà nào có được như vậy bao giờ, bởi mẹ tôi là người đàn bà tỉnh lẻ điển hình, một kẻ mới ngoi lên, mới phất lên, một kẻ phản văn hóa tuyệt đối, tôi thầm nhủ. Tôi chợt cảm thấy cái từ kẻ phản văn hóa ấy hợp với mẹ tôi hơn cả, một người nào có bao giờ yêu thích Mahler, một người không tôn thờ bất cứ một nhạc sĩ nào, âm nhạc chỉ là thứ bà lợi dụng làm phương tiện giúp bà có dịp trưng diện các loại áo xống vô duyên trong giới của bà, một giới người bao gồm những kẻ bà ngưỡng mộ, mặc dù theo tôi, đó là giới những kẻ chẳng có gì đáng ngưỡng mộ, mà ngược lại, đáng kinh tởm là khác, giới những kẻ không hề hiểu biết gì về hội họa, không thông tường dù chỉ một bức họa hay một tác phẩm nghệ thuật nào, giới của những kẻ coi thường tất tật những gì liên quan đến nghệ thuật nói chung, Spadolini đỉnh lòe chúng tôi về một bà mẹ từng dạy y biết yêu Florenz, trong khi mẹ tôi, thực ra, chỉ miễn cưỡng lắm mới đến thành phố cổ xưa ấy, miễn cưỡng lắm mới đi thăm các Nhà thờ cổ - những công trình nghệ thuật thực thụ của thành phố ấy, vâng, bà phải miễn cưỡng đi nghe giao hưởng, phải miễn cưỡng đi xem triển lãm, và bà cũng chẳng bao giờ đọc lấy một cuốn sách cho ra hồn. Kể cũng lạ, tôi tự nhủ. Đúng vậy, Spadolini bày lên mâm cho chúng tôi một bà mẹ hoàn toàn giả tạo, không có thật ở đời. Tôi chợt nhận thấy những lời Spadolini huyên thuyên về mẹ tôi sao mà lạc lõng, bịa đặt, giả dối từ đầu đến cuối, cắt tỉa, gọt giũa làm sao cho thật hợp với dịp gia đình tôi có đám, một dịp mà lúc ngồi bên bàn ăn, y luôn mồm nói là một dịp thật đau buồn, nhưng thực ra nào thấy y tỏ ra buồn đau gì, bởi y làm gì đủ sức mà đau buồn kia chứ. Không phải trong con mắt y thật sự thấy mẹ tôi thế nào, mà chỉ trong bức tranh y cố vẽ theo ý y, mẹ tôi bỗng dưng trở thành người có thị hiếu tinh tế, luôn luôn yêu đời, hay như y nhắc đi nhắc lại mãi, con người luôn luôn lạc quan, người đàn bà quan tâm đến mọi chuyện ở đời, người mẹ hiền, người từ lúc lọt lòng đã biết cách nuôi con dạy cái. Vâng, bà nội trợ bẩm sinh nữa chứ. Spadolini còn nhiều lần mệnh danh bà là linh hồn của Wolfsegg. Bà là người yêu thiên nhiên, bà còn là bà chủ mến khách nữa, vâng, y nói nghe thành ra bà “trủ” mến khách. Y nói về một con người từng có công biến Wolfsegg thành cõi thiên đường cho tất cả chúng tôi, một con người nổi bật bởi lòng độ lượng, nhân từ, niềm vui sống của mình, một người mà tất cả chúng tôi, ai cũng phải yêu mến. Y nói về một con người được thiên hạ yêu thương quý mến, bởi yêu thương quý mến bà là điều đương nhiên ở đời. Thân mẫu của anh chị là hiện thân của lòng nhân từ, Spadolini bảo chúng tôi vậy, bà từng là rường cột vững chãi gìn giữ gia đình. Thân mẫu các người là một tâm hồn nhân đạo, vâng, y nói nguyên văn như vậy và giờ này, tôi tự hỏi, không biết y lấy đâu ra cách nói nhạt nhẽo, vô duyên ấy. Trong lời y, tôi nghĩ bụng, sự giả dối điêu toa này móc vào sự giả dối điêu toa khác. Song, Spadolini không phải là con người điêu toa dối trá, y là kẻ luôn tính toán chặt chẽ mọi thứ. Cái cách y cất lời nói tâm hồn nhân đạo đó, quả thật có một không hai, không ai bắt chước nổi. Không một ai, tôi nghĩ bụng, trong số người tôi quen biết có đủ khả năng mở miệng nói lên điều đó một cách tự nhiên, duyên dáng mà cũng rất trang trọng như thế. Chỉ một mình Đức cha Tổng Giám mục Spadolini nói được như thế mà thôi, vẫn ngồi nguyên trên ghế bành, tôi nghĩ bụng, say sưa hớp bóng tối vào lòng mình. Tôi lấy làm khoan khoái được tự mình soi lại một lần nữa nghệ thuật nói năng của Spadolini, từng lời, từng chữ, với giọng nói du dương, khi bổng khi trầm của y. Spadolini, tôi nghĩ bụng, mình bao giờ cũng học được nhiều điều mới mẻ. Chà, cái cách y cất tiếng gọi Caecilia để chào nó lúc y vừa đến, Amalia, vâng, đến cả tên gã em rể cũng vậy, nghe mới đáng nể chứ, những tiếng bật ra từ miệng y nghe sao mà vụng về lúng túng, nhưng đó là sự vụng về, lúng túng điêu luyện, được tính toán, tập luyện kĩ lưỡng từ trước, khó ai mà nhìn thấu cho được. Cái cách y quay người trước khu nhà kính, nhìn về ngôi nhà chính rồi nói: tòa nhà mới “trung thực” làm sao, đúng là một công trình kiến trúc phi thường. Cách y nói với Amalia: thân mẫu con kể cho ta nghe rất nhiều về con, toàn những điều tốt đẹp! Rồi quay sang Caecilia: mẹ con bao giờ cũng khen con. Còn với tôi, y bảo thân mẫu anh từng đặt hết hy vọng vào anh. Y cũng nhắc đến cả Johannes - con người kính Chúa, chà, anh chàng đẹp trai, y chưa từng thấy ai đẹp trai như thế; một bản tính trong sạch, một người bạn đàm đạo hết sức khiêm tốn và tế nhị. Người anh trai điềm tĩnh, biết quên thân vì gia đình, y nói. Theo lời y, y quý Johannes hết lòng, quý như quý bố tôi vậy, ngay từ khi mới gặp, mới làm quen, y đã quý cả hai bố con hết lòng. Ta đã có lần đưa Johannes vào thăm các cung điện ở Vatican, y nói, rồi giới thiệu Johannes với Đức Giáo hoàng. Ở đây bỗng chốc trở nên trống trải làm sao, y nói, nhưng rồi tiếp ngay, nhiều con người mới sẽ dang tay đón lấy Wolfsegg, và mọi sự rồi sẽ lại tốt lành thôi. Lúc này, chắc áo vest của y đã được là ủi xong như y muốn, tôi nghĩ bụng, cả quần nữa. Bọn em gái tôi lo việc là ủi quần áo cho y, còn y chui vào trong phòng bố tôi và cầu nguyện cho cả bọn chúng tôi. Trước đây, bao giờ y cũng cầu nguyện trong gian nhà thờ, tôi nghĩ bụng, nhưng hôm nay, hẳn y ngại bị đám khách khứa cùng nghỉ đêm trong ngôi nhà này sẽ quấy rầy y. Biết buồn đau là một đức tính tốt, y bảo tôi. Đấng Tối cao đóng cánh cửa này để mở cánh cửa khác. Những lời y nói bỗng dưng làm tôi kinh tởm, tất cả những lời y nói, tôi đều đã nghe, đã biết hết cả từ lâu, song trước đây tôi chưa bao giờ cảm thấy kinh tởm chúng rõ rệt như bây giờ. Xơi xong miếng thịt rán, tôi nhớ lại, sau cả khi câu chuyện đi Aetna cũng kể xong rồi, y nói, gần đây mẹ chúng tôi khóc lóc và trông rất khốn khổ đến tìm y tại phòng y làm việc. Phải, bà khóc lóc và khốn khổ đến Rome tìm ta, y nói, nhờ ta an ủi. Thế nhưng cho đến tận giờ, y vẫn chưa rõ tại sao bà lại tuyệt vọng như thế. Y hỏi, liệu có ai trong chúng tôi rõ lý do của sự tuyệt vọng ấy không. Có chuyện gì đó liên quan đến thân phụ các anh chị thì phải, y nói. Có chuyện gì đó, liên quan đến Wolfsegg thì phải, khiến ông bố chúng tôi phải buồn phiền. Bà ấy, tức mẹ chúng tôi, bao giờ cũng rất lo lắng cho Wolfsegg, lo nhiều nhất là lo cho các con của bà, tức là lo cho chúng tôi đấy. Y bảo, mẹ chúng tôi là người duy nhất y có thể chia sẻ được hết mọi chuyện, bà vốn cũng là người biết lắng nghe người khác. Tôi nghĩ bụng, bà là người ngược lại mới đúng; mẹ tôi chẳng bao giờ chịu lắng nghe ai, bao giờ bà cũng chen lời người khác cho bằng được, không bao giờ bà chịu để người khác nói hết câu, buổi chuyện trò nào cũng vậy, chưa bắt đầu đã tịt. Bà không biết trò chuyện, tôi nghĩ bụng, nên có bao giờ bà kiên nhẫn chờ buổi nói chuyện kịp vào đề đâu. Một mình bà, bà trơ trẽn giành quyền một mình một chợ, khiến mọi câu chuyện đều tắt ngóm ngay. Các lời bình bà chen vào các câu chuyện, tôi nghĩ bụng, bao giờ cũng đần độn, khiến cuộc chuyện trò nào rốt cuộc rồi cũng đi tong. Một trong những nét khó chịu nhất của bà, là ở chỗ bà không hề ưa trò chuyện, nhất là những cuộc trò chuyện tôi gọi là trò chuyện trí tuệ, trò chuyện ở trình độ cao hơn một chút, là bà không chịu được, và bằng sự ngu dốt của mình, bà sẽ khiến câu chuyện trước sau cũng tịt ngòi. Bà vốn là người chuyên phá rối các cuộc chuyện trò thì đúng hơn, tôi nghĩ thầm. Anh em chúng tôi, đứa nào đứa nấy đến khổ vì chuyện đó. Spadolini phác họa bức tranh của y về mẹ tôi mà không thấy ngượng mồm, tôi tự nhủ, cái lối người còn sống vẫn hay dùng để nói về người chết, cho khỏi mang tiếng xấu. Y bảo, bà mẹ tôi nghe nhạc Mahler như một thiên thần vậy, kỳ thực có bản giao hưởng nào mà lúc ngồi nghe bà chẳng ngủ gà, ngủ gật, ngáp lên ngáp xuống; chỉ thứ nhạc hời hợt, vô duyên nhất hạng mới làm gương mặt bà sáng lên. Sách cũng thế, chỉ thứ sách nào hời hợt, vô duyên nhất hạng bà mới lật lật vài trang, thế thôi, chứ không hơn, bởi đọc sách là thứ bà ghét nhất trên đời. Bà giả vờ giả vịt trong mọi chuyện, bà đóng kịch với mọi người, tôi nghĩ bụng, vơ mọi thứ vào mình, trắng trợn xuyên tạc, và hạ thấp, mọi thứ. Bà không hề tôn trọng các sản phẩm trí tuệ. Chính vì vậy mà bà ghét cay ghét đắng chú Georg tôi, đó cũng vì lý do bà ghét tôi, bà căm ghét tất thảy, những gì có dính dáng đến trí tuệ, tôi thầm nghĩ, Spadolini đã đi quá xa, rất xa, tôi nghĩ bụng, lúc y quả quyết mẹ tôi là một con người mang tâm hồn nghệ sĩ, vốn là tâm hồn hiếm thấy ở đàn bà, rồi hăng lên, y còn tương thêm, bà là người quan tâm, tò mò hướng tới mọi giá trị tình thần. Thật ra, mẹ tôi là người không chút mảy may để tâm đến tri thức, cũng còn khuya, còn xa vời lắm bà mới là con người mang tâm hồn nghệ sĩ. Đến như bố tôi - một người, nói cho cùng, chẳng chút bận tâm xem bà vợ ông liệu có thật sự quan tâm đến đời sống tinh thần hay không, chẳng hề đoái hoài xem liệu bà có mang tâm hồn nghệ sĩ thật hay không ấy - vâng, đến cả bố tôi, hầu như lúc nào cũng gọi bà là con mụ vô hồn đần độn. Và bố tôi, tôi nghĩ bụng, vốn là người bạn đời của bà, hẳn phải biết rõ bà hơn ai hết. Spadolini còn thêm mắm thêm muối vào tràng tán dương mẹ tôi với nhận xét, rằng mẹ tôi còn mang cả mạch máu triết học nữa kia. Y nhắc đi nhắc lại, bằng lối phát âm tiếng Đức của người Ý, khiến cho những lời giả dối của y nghe còn có duyên là đằng khác; vâng, khi nghe lão nói đến mạch máu triết học với giọng Ý như thế, tôi còn nghĩ, y phát âm thật dễ thương, nhưng tôi không buồn nghĩ xem y nói vậy với ý gì. Spadolini lúc nào chả vậy, cách nói hoa mỹ của y bao giờ chả phủ trùm lên ý tứ thực bên trong. Y cũng không thể không chua thêm, rằng mẹ tôi còn là người ngoan đạo, là một người đàn bà nhất nhất trung thành với Giáo hội, một con chiên Cơ đốc giáo mẫu mực. Y khoe, ở Rome - dĩ nhiên ở phố Condoti - mẹ tôi mua tặng y chiếc áo lụa mặc về đêm mà y chỉ những dịp hôi hè thật sự mới mặc. Bà quả đã chọn mua chiếc áo đẹp nhất, y tấm tắc, mà cũng tốt nhất nữa. Rồi y bỗng nói, đúng là thân mẫu các anh chị đã luôn chăm sóc, chiều chuộng ta như một người mẹ. Bà rất hay tự cảm thấy mình hết sức cô đơn, như thể bị mọi người bỏ rơi vậy, y nói tiếp. Ngay ở Wolfsegg đây này, ngay lúc ở cùng các anh chị, y nói, bà vẫn cảm thấy hoàn toàn cô đơn, phải, thật sự cô đơn. Y thương xót mẹ tôi vì bà là con người cô đơn, phải, đúng bà cô đơn thật, song, tôi biết điều y không biết, rằng bà tìm mọi cách để trốn tránh nỗi cô đơn ấy, nỗi cô đơn vốn vẫn làm bà kinh sợ hơn mọi thứ khác trên cõi đời, bà căm ghét nó chỉ vì nó làm bà buồn chán. Thật kỳ lạ, luồng ý nghĩ của tôi đang quẩn quanh cùng Spadolini đột nhiên chuyển sang Goethe, vị đại quý tộc Goethe mà dân Đức thay nhau hì hục cắt xén, gọt tỉa thành nhà đại văn hào cho riêng mình, như tôi mới nói cách đây ít lâu thôi với Gambetti, vị thị dân đáng kính Goethe - nhà sưu tầm cả côn trùng lẫn các châm ngôn cùng với mớ triết lý hổ lốn của ông ấy, tôi bảo Gambetti và anh ta tất nhiên không hiểu hổ lốn nghĩa là gì, khiến tôi phải giải thích mất một hồi. Goethe, nhà tiểu thị dân của triết học ấy; Goethe - kẻ xu thời cơ hội, con người mà Maria vẫn bảo không phải đã làm điên đầu thế giới mà là kẻ rúc đầu vào các khu vườn rau sặc mùi địa phương chủ nghĩa Đức ấy; Goethe - nhà thạch học nghiệp dư, chuyên phân đá, loại sỏi, nhà chiêm tính học, đứa trẻ mới lọt lòng còn mút ngón tay của dân Đức về triết học, người múc món mứt tính thần đổ đầy các loại chai lọ xếp chật các xó bếp cho dân Đức, phòng khi có việc lại lôi ra ấy. Goethe, con người nhặt nhạnh, gom góp những thứ tầm phào nhạt nhẽo nhất trần đời rồi đưa qua nhà sách Cotta in thành sách và đem rao bán như một thứ giá trị trí tuệ siêu việt cho dân Đức và thông qua các ông thầy dạy học nhồi nhét cho đến khi tịt đặc lỗ tai họ mới thôi ấy. Goethe - con người đã phản bội nền trí tuệ Đức suốt hàng trăm năm, khi ông ta gọt giũa, cưa cắt, làm cho nó trở nên tầm thường, gọt giũa, cưa cắt nó một cách siêng năng cần mẫn theo một kiểu mà trước mặt Gambetti tôi đã bảo thẳng, theo kiểu rất chi là Goethe ấy. Geothe - như mới đây tôi bảo Gambetti - là kẻ mê hoặc dân chúng về triết lý. Geothe giống như một thứ cẩm nang Đức, tôi bảo Gambetti; họ, dân Đức ấy, nuốt Goethe như nuốt một thứ thuốc nào đấy vào bụng và tin vào công dụng của thuốc, tin sái cổ vào tác dụng chữa bệnh của thuốc; Goethe, nói cho cùng, chẳng qua chỉ là ông thầy lang của dân Đức, tôi bảo Gambetti vậy, vị pháp sư vi lượng đồng căn liệu pháp về tinh thần đầu tiên của dân Đức mà thôi. Họ uống Goethe vào người và khỏi bệnh. Toàn thể dân tộc Đức uống Goethe vào người rồi hết bệnh. Thế nhưng, anh biết không, tôi bảo Gambetti, Goethe là một tên bịp bợm, cũng giống như bọn lang băm, tên nào mà chả bịp bợm; cả thơ văn lẫn triết lý của Goethe đều là ngón bịp lên đến tột đỉnh của dân Đức. Gambetti ạ, tôi dặn anh ta, anh hãy cẩn thận với Goethe, hãy dè chừng ông ta. Mọi người trên thế gian này đều bị ông ấy làm loét dạ dày, duy có dân Đức là không, họ sùng bái ông ta như sùng bái một thần đồng của toàn thiên hạ; trong khi vị thần đồng ấy, thực ra, chỉ là một gã thuê đất trồng rau phàm phu nhục nhãn về triết học không hơn không kém. Gambetti phá lên cười, khi tôi giải thích cho anh ta biết đất thuê trồng rau nghĩa là gì. Trước đó, anh ta mù tịt, nào biết đó là gì đấu. Gom hết lại, tôi bảo Gambetti, xét về mặt triết học, thì các công trình của Goethe chỉ là một vườn rau tạp nham mọc đầy cỏ dại triết học mà thôi. Goethe không vươn lên tới được đỉnh cao nào hết, tôi nói, lĩnh vực nào ông ta cũng chỉ đạt tới mức tầm tầm hạng trung là cùng. Ông ta không phải là thi sĩ lớn nhất, cũng chẳng phải văn sĩ lớn nhất, tôi bảo Gambetti, đem so các vở kịch của ông ta với kịch của Shakespeare thì đại loại cũng giống như đem so giống chó Dachshund lùn loắt choắt vùng ngoại ô Frankfurt với giống chó núi Thụy Sĩ Sennenhund cao lớn vậy. Còn Faust, tôi bảo Gambetti, mới thật đúng là bằng chứng thật sự cho bệnh vĩ cuồng! Đấy là công sức hoàn toàn vô ích của một kẻ xã cuồng cầm bút, tôi bảo Gambetti, một gã thị dân Frankfurt những tưởng đủ sức đủ tài thâu gọn cả thế giới vào cái đầu bé nhỏ tí ti của mình ấy. Goethe - kẻ vĩ cuồng đất Frankfurt và Weimar, vị quý tộc vĩ cuồng bên quảng trường Frauenplan ở thành phố Weimar ấy. Goethe, người tính đến giờ hết lừa phỉnh, giễu cợt lại mê hoặc dân Đức rồi mang tội với họ suốt một trăm năm chục năm nay ấy. Goethe là người đào mồ chôn trí tuệ Đức, tôi bảo Gambetti. Nếu đem ông ta đặt trước Voltaứe, Descartes, Pascal chẳng hạn, tôi nói tiếp, hay với Kant, và tất nhiên, với Shakespeare nữa, thì Goethe nhỏ bé đến thảm hại. Đại thi hào - gớm, danh hiệu nghe mới nực cười, mà cũng mới Đức làm sao. Holderin mới thật sự là thi sĩ lớn, tôi bảo Gambetti, Musil mới đúng là nhà văn kiệt xuất, và Kleist mới xứng là nhà soạn kịch trứ danh, chứ Goethe đã là gì so với họ. Đến đây luồng ý nghĩ của tôi lại quay về với những lời Spadolini bảo mẹ tôi là con người đặc biệt. Y nói vậy thì cũng phải thôi, tôi nghĩ, bởi con người nào, kể cả mẹ tôi, chẳng đặc biệt; thế nhưng y, Spadolini ấy, không nói về mẹ tôi với ý đó, mà theo một lối cơ hội, y phác họa ra một bức họa sai lệch về mẹ tôi; suốt bữa ăn tối, y dựng cho chúng tôi một bà mẹ đặc biệt nhân từ, đã rất có học thức, lại quan tâm đến mọi sự, trong khi, thật ra, bà không phải người như thế. Xét cho cùng, bà vốn chỉ là một người thật phàm phu, tuyệt nhiên không có gì đặc biệt, không hề phi thường ở mặt nào cả, nếu không muốn nói, theo cách của tôi, bà vốn hết sức tàn nhẫn và ngu dốt phi thường, vô cùng tự phụ, theo một kiểu thô thiển hiếm thấy và cực kỳ tham tiền, hám của. Song, Spadolini có lẽ không biết, hay không thể biết, về những nét gọi là đặc biệt đó của mẹ tôi. Tôi chỉ cần nhắc đến bao nhiêu căn hộ gọi là các căn hộ thuộc quyền tư hữu tư nhân bà mua lén mua lút sau lưng bố tôi, không cho ông biết - ở rất nhiều thành phố khác nhau thôi là đủ biết! Bố tôi hình như không biết gì về thói tham tiền, hám của của mẹ tôi thì phải, có lẽ ông cũng chẳng ngờ vợ ông tham lam đến vậy, tôi nghĩ bụng. Tôi chỉ cần nhớ đến niềm ham mê quái đản của bà đối với chứng khoán cùng trái phiếu! Suốt bữa ăn tối, theo cái lối không thể chấp nhận được của y, Spadolini đã phác họa một bức tranh giả về bà mẹ chúng tôi, rồi một cách khôn khéo, đúng theo sở trường vốn có của y, y đặt bà mẹ giả ấy, khác hẳn với bà mẹ thật, ra trước mặt chúng tôi. Mặc dù trước đó - một cách đầy tính toán - y đã lý tưởng hóa, tán dương bố chúng tôi ở mức không chịu nổi rồi, bây giờ y lại tán dương mẹ chúng tôi còn hơn cả tán dương ông. Và, những gì y nói với chúng tôi - với tôi và các em gái tôi - tôi nghĩ bụng, về thực chất, chỉ là nhằm tâng bốc, tán dương chính chúng tôi mà thôi, theo một lối cũng không thể chấp nhận được ấy. Song, tôi đã bắt thóp cái trò này của y, vẫn bắt đúng vở của y, tôi nghĩ bụng, bởi theo thời gian, ít gì tôi cũng học được cách nghe ra các ý tứ ẩn chứa trong giọng điệu của y. vâng, Spadolini, con người đầy tính toán ấy, đã ngồi đối diện với chúng tôi trong bữa ăn tối, con người đầy tính toán Spadolini đó lại đi cùng chúng tôi sang khu nhà kính, để diễn tại đó cho chúng tôi xem một màn kịch đau buồn cũng đầy toan tính, tôi thầm nghĩ. Và, y cũng tán dương Wolfsegg, bởi Wolfsegg y mô tả cho chúng tôi nghe ấy, chẳng dính dáng gì đến Wolfsegg thật cả. Chỉ trong vài giờ đồng hồ ở tại nơi này, vị Đức cha đáng kính đã phơi bày, bộc lộ tất cả nghệ thuật tính toán lẫn nghệ thuật xuyên tạc điêu luyện của mình, tôi nghĩ bụng, và, ngay trước mắt chúng tôi, ngay bên tai chúng tôi, y đã biến kẻ ngu đần thành nhà tư tưởng, kẻ hung ác thành thiên thần, kẻ mù chữ thành triết gia, kẻ tiểu nhân hèn hạ thành trượng phu giàu bản lĩnh. Từ cái xấu biến thành cái đẹp, từ thói hèn hạ đểu cáng thành cao thượng, từ quỷ thành người, từ mảnh đất đáng tởm thành thiên đường và, từ đám dân ngu đần thành đám dân chúng đáng kính. Spadolini nâng những người đã chết lên một tầm cao mà họ, xét về mọi mặt, không hề xứng đáng. Y đã xuyên tạc, làm giả bức tranh về họ đến tận cùng gốc rễ, tôi nghĩ bụng, rồi rao bán bức tranh giả ấy cho chúng tôi, theo một lối không thể nào chấp nhận được, rằng đó là các bức tranh trung thành với sự thật. Nói trắng ra thì y đã hành hạ cả lỗ tai, con mắt chúng tôi, bằng cách cố tình đánh lừa tai mắt chúng tôi, chỉ cốt sao tự phô trương được mình, chỉ cốt sao thoát được thân và lôi kéo chúng tôi về phía y. Song, y đã tính nhầm, tôi nghĩ bụng, bởi y đá xuyên tạc, đã giả mạo quá tay. Y đã coi thường, đánh giá chúng tôi quá thấp, thậm chí đánh giá quá thấp cả các em gái tôi, là những đứa, nói cho cùng, cũng không ngu đến mức, chịu để mặc cho Spadolini tràng giang đại hải, muốn nhồi nhét thế nào thì nhồi nhét cái hình ảnh về một ông bố, một bà mẹ và một anh trai tuyệt vời, đáng ca ngợi hết lời vào đầu óc chúng nó đâu. Bởi chúng nó thừa biết bố mẹ và anh trai chúng vốn không phải là những người tuyệt vời và đáng ca ngợi như vậy. Hơn nữa, chúng nó cũng không ngu đến mức bị trò giả mạo của y đánh lừa, tôi nghĩ bụng, bởi tụi em gái tôi chắc chắn cũng có ngay cảm giác, rằng Spadolini huyên thuyên, nói nhảm, rằng y chỉ làm ràm rặt những điều nhăng nhít hời hợt, xu thời mà thông thường người ta vẫn đột nhiên tuôn ra vào những lúc như thế này - những lúc vẫn được gọi một cách khuôn sáo là tang tóc đau thương này - để nói về người chết, chỉ nhằm làm bùi tai và an ủi người còn sống mà thôi, mặc dù những người đã khuất kia, lúc còn sống, rất có thể đã hết sức đáng ghét và không ai chịu đựng nổi. Đến như y mà cũng phải tuân theo cái lệ xưa nay ấy, cái lệ buộc người ta phải nói hay, khen đẹp, phải thắp ánh hào quang cho người chết, bất kể người chết có xứng đáng được hưởng ánh hào quang ấy hay không; và bây giờ y đã tô vẽ, đã chiếu sáng những xác chết đang nằm trong quan tài kia quá lòe loẹt, quá chói chang, đến mức ai còn sống cũng phải lấy làm chối. Ai chết đi cũng vậy, đều đã từng sống cuộc đời thật của mình, tôi tự nhủ, bất kể cuộc đời người đó vốn ra sao đi nữa, cũng chẳng ai có quyền xuyên tạc cuộc đời đó, không ai được phép bóp méo bản chất tự nhiên của người đã khuất, để cầu lợi cho mình, để tự đưa mình nổi bật lên giữa bàn dân thiên hạ. Chính Spadolini đã muốn tự đề cao mình như thế, bằng cách phác họa về mẹ tôi, về bố tôi, về anh trai tôi. Và, cái lối vị Đức cha của Nhà thờ này đã dùng để tự đề cao mình ấy làm tôi kinh tởm.Vâng, đúng vậy. Có lẽ, Spadolini tưởng chúng tôi thô thiển và ngu ngốc đến mức bị y dắt mũi, buộc y lúc ngồi ăn phải phác họa cho chúng tôi bức tranh người chết đó - bức tranh méo mó, dị dạng, trái với sự thật ấy. Spadolini phác họa bức tranh về những con người mà chính y chưa từng gặp; y không hề ngại ngần rót vào tai chúng tôi, ngang nhiên phơi ra trước mắt chúng tôi hết điều dối trá này đến điều dối trá khác, bất chấp một sự thực là những đôi tai, cặp mắt đó đã nghe, đã chứng kiến những sự thật hoàn toàn khác với những thứ y bày ra. Spadolini là kẻ làm tranh giả bẩm sinh, tôi tự nhủ, kẻ xu thời bẩm sinh, hay nói cách khác, y là một chức sắc Nhà thờ bẩm sinh. Bỗng nhiên, tôi chợt hiểu, vì sao đường công danh của Spadolini lại thuận lợi lạ thường đến thế, vì sao y đã kịp leo nhanh đến chóng mặt lên đến những đỉnh cao ngất ngưởng như thế. Ở chuyện này, tôi nghĩ bụng, Maria quả thực giỏi hơn tôi, nàng có đôi mắt không thể mua chuộc, không bị bất kỳ vẻ hào nhoáng bên ngoài nào đánh lừa. Nàng đã không bao giờ bị vẻ ngoài hào nhoáng của Spadolini đánh lừa, nhất là không khi nào bị nghệ thuật thuyết giáo quỷ quyệt của y mê hoặc. Không bao giờ, tôi nghĩ bụng. Maria bao giờ cũng đánh giá chính xác Spadolini, nàng không bao giờ khâm phục y như tôi, nàng luôn luôn ghê tởm y thì đúng hơn. Em ghê tởm Spadolini; đối với anh, y rất nguy hại, nàng rất hay nói như vậy với tôi. Spadolini nguy hiểm đối với tất cả những ai y đụng tới, cho nên bao giờ nàng cũng gọi y là lão Spadolini nguy hiểm. Phải, tôi nghĩ bụng, hôm nay lão Spadolini nguy hiểm ấy đã ngồi cùng bàn với chúng tôi. Vâng, chúng tôi đang chứa con người mà Maria mệnh danh là Spadolini nguy hiểm ấy trong nhà. Chúng tôi lập tức phong thánh cho người chết để họ ban cho ta cảm giác an toàn, để họ cho ta được yên thân - như Maria từng nói, tôi tự nhủ. Vầng, đây không phải lần đầu tôi bị nhầm về Spadolini. Lão Spadolini đáng tởm ấy. Rome tôi rất hay rơi vào tình huống giống như lúc này, tôi nghĩ bụng, lúc này tôi đang thấy Spadolini đáng ghét là thế, vậy mà chỉ một lúc sau, hay ngày hôm sau, đã lại bị y quyến rũ, mê hoặc. Loại người như y, tôi tự nhủ, làm người ta vừa ghê tởm đấy, rồi làm người ta bị mê hoặc ngay. Y là thí dụ điển hình cho con người thuộc hạng vừa đáng ghét vừa hấp dẫn, và ta thường không chắc, liệu ta đang ngưỡng mộ hay căm ghét hắn, không biết ta bây giờ nên hâm mộ hắn, hay phải căm ghét hắn mới đúng. Thế nhưng, ta lại không thể xa lánh và rũ bỏ loại người này; quả thực tôi cũng chưa bao giờ có thể rũ bỏ hay xa lánh Spadolini được cả. Rồi sắp tới, ở Rome, tôi nghĩ bụng, tôi sẽ lại tìm đến y, để rồi sẽ lại ghê tởm và ngưỡng mộ y, nhưng thông thường ngưỡng mộ vẫn nhiều hơn là ghê tởm. Y là kẻ tôi không thể thiếu ở đời mất rồi. Cho đến giờ, tôi chỉ biết độc một lão Spadolini không thể thiếu đối với tôi đó, song đồng thời, tôi cũng sực nhớ, chính con người đáng ghê tởm ấy đang ngự tọa chễm chệ trong phòng bố tôi, và chắc hẳn, đang bận tâm tính toán, theo kiểu của y - cái kiểu rất chi là Spadolini ấy - về mọi sự ở đời. Và, một khi đã tính toán, thì không bao giờ y tiếc công tiếc sức, cố tính toán mọi mặt thật sâu, thật rộng, thật xa, tính đến cùng đường, hết lối mới thôi. Rồi sau đó, y sẽ vốc uống cả tá thứ thuốc một lúc vào người và sẽ đứng trước gương, tự ngắm nghía mình một lúc, trước khi rốt cuộc sẽ lên giường ngủ. Rất có thể, y sẽ mặc chiếc áo bằng lụa mẹ tôi mua tặng y để lên giường. Tuy sự vô vị nhạt nhẽo trong thị hiếu của y khác hẳn với sự vồ vị nhạt nhẽo trong thị hiếu của mẹ tôi thật, nhưng, gì thì gì, cũng đều là sự vô vị nhạt nhẽo về thị hiếu cả. Trong bữa ăn tối, y cố hết sức - như người ta vẫn nói, một cách sượng sùng - để làm sao không nhỡ mồm, buột miệng nhắc tớí đến vô khối các cuộc hẹn hò lén lút của y với mẹ tôi, mặc dù cả tôi lẫn bọn em gái tôi đều biết khá tường tận về hầu hết các lần hẹn hò như thế của hai người. Suốt buổi, tôi cứ ngạc nhiên và thầm khâm phục sự khôn khéo của y; y kể về một cuộc gặp gỡ mà chúng tôi ai nấy đều biết, nhưng y lại lờ tịt cuộc hẹn hò khác mà y tưởng chúng tôi không hay biết gì, vâng, lờ tịt, bỏ qua, không đụng đến. Làm như thế, y cứ lẳng lặng gạt các cuộc gặp gỡ lén lút của hai vị sang một bên. Nhưng, tôi nghĩ bụng, lẽ ra y chẳng cần lờ đi như thế, bởi vì, cứ công khai kể về các cuộc hẹn hò lén lút ấy thì còn đỡ sượng sùng cho y nhiều hơn là lờ tịt đi. Cứ kể các cuộc hẹn hò đó ra thì Spadolini hẳn sẽ đỡ căng thẳng đầu óc hơn, tôi tự nhủ, thì y đã có thể bình thản kể câu chuyện của y, phác họa bức tranh y muốn vẽ mà không cần quá ư dè dặt đề phòng chúng tôi, bởi có khi chúng tôi biết về các cuộc hẹn họ lén hút giữa hai người thậm chí còn tường tận hơn về các cuộc hẹn hò công khai của hai vị nữa kia. Song, Spadolini vốn xưa nay bao giờ cũng là con người hết sức thận trọng, một con người chính nhờ thận trọng hơn người nên mới đáng khâm phục, mới làm bàn dân thiên hạ - chứ chẳng riêng gì tôi - phải kinh ngạc, mới xứng đáng được xem là nhà ngoại giao bẩm sinh. Spadolini chỉ kể về chuyến đi chơi ở Aetna thôi, vâng, thì cũng có thể xem là một chuyến đi thú vị đi, nhưng vẫn chưa thú vị bằng các chuyến đi về Syracusa hay Trapani, ấy là chưa kể đến chuyến y giấu tôi, lẻn đi một mình với mẹ tôi về Malta. Kể về những chuyến du ngoạn gần xa kiểu đó, hẳn thú vị hơn nhiều, ít ra thì cũng thú vị hơn cho tôi, tôi nghĩ bụng, mặc dù để lộ chúng ra, có lẽ sẽ làm y lúng túng hơn thật. Đến đây, tôi không thể không nhớ đến số hóa đơn khách sạn mẹ tôi vẫn để nằm bừa bãi trong phòng bà; các hóa đơn này bao giờ cũng được xuất ra cho hai người và người thứ hai đó chính là Spadolini; tất nhiên, phí tổn cho các chuyến du ngoạn đây đó này, như cách thiên hạ vẫn nói, bao giờ mẹ tôi cũng gánh cho y. Vâng, Đức cha Tổng Giám mục du ngoạn bằng tiền của bà, còn bà, vì thế, lấy làm hoan hỉ đắc thắng. Đồng thời, tôi bụng bảo dạ, nghĩ cho cùng, thì cũng phải lấy làm cảm động, rằng bà đã dạo chơi, du ngoạn đây đó với Spadolini suốt ba chục năm nay rồi chứ không phải ít, và qua bấy nhiêu năm tháng, Spadolini chẳng bao giờ chán bà, mà bà cũng không khi nào chán y. Cứ như tôi biết, mối tình hai ông bà không những đã chưa bao giờ nguội lạnh, mà thậm chí còn ngược lại, ông bà càng về già, mối tình càng nồng thắm, cành mãnh liệt lên bội phần. Cuộc dan díu này giữa hai người, tôi nghĩ bụng, lại có lợi cho bố tôi, bởi nhờ đó, ông nắm bà mỗi ngày một chặt trong tay ông. Ông vốn là người biết chịu đựng, chịu đựng có chủ ý hẳn hoi, và ông ngầm đóng vai diễn này tài tình đến mức, theo tôi biết, đôi kia chẳng có chút nghi ngờ nào. Bố tôi vốn không bao giờ phản đối mối quan hệ đó của hai người, hoặc nếu có, thì có lẽ, cũng chỉ qua quýt lúc ban đầu thôi; trong thâm tâm ông, hẳn ông thấy mình có lỗi trong chuyện này, bởi chính ông chứ ai, đã làm quen hai người với nhau, trong khi nhẽ ông phải biết Spadolini là con người lòng dạ ra sao. Suốt ba chục năm trời, bố tôi thản nhiên để mặc cho mối quan hệ ấy diễn ra và nảy nở ngay trước mắt ông, từ cuộc dan díu ồn ã và bỉ ổi trở thành mối quan hệ bền chặt và sâu đậm, bền và sâu đến mức, chính ông cũng phải nhận ra, tốt nhất là để nó yên, đừng đụng chạm gì đến nó nữa. Suốt bữa ăn, Spadolini tránh không nói đến những gì gọi là quý giá nhất đối với y trong mối tình với mẹ tôi, y chỉ đụng chạm và ca ngợi những gì không đáng kể; nói cách khác, y ném đôi thứ vớ vẩn ra làm mồi câu anh em chúng tôi, còn những gì y cho là quý giá thì y giữ lại cho riêng mình. Lẽ ra, lão cứ việc thản nhiên mà nói hết ra, thú nhận hết mọi chuyện đi, tôi nghĩ bụng, bởi vì anh em chúng tôi biết tỏng bí mật của y từ lâu rồi, và bây giờ, thái độ của y bỗng dưng làm chúng tôi lại phải thấy là ngượng ngập, sượng sùng cho y, mặc dù thật ra, đã từ lâu chúng tôi chẳng còn thấy có gì là ngượng ngùng ở đây nữa cả. Thế nhưng, Spadolini không ngờ được chúng tôi còn biết nhiều hơn y tưởng, tôi tự nhủ, và đã từ lâu, anh em chúng tôi, cả tôi lẫn hai đứa em gái, mỗi đứa mỗi kiểu, đều đã rút ra các kết luận cần thiết cho riêng mình và chuyện này đối với chúng tôi có thể coi là chuyện đã qua; thế mà y cứ đỉnh ninh y vẫn phải làm thinh, à vâng, ý tôi muốn nói, phải giữ bí mật, không được nói ra, không được để lộ. Thế cho nên, đến là nực cười khi phải chứng kiến Spadolini diễn trò hồi tưởng về mẹ tôi. Sắp tới đây, vắng bóng mẹ tôi, rồi Spadolini cũng ăn ngon ngủ yên thôi, tôi tự nhủ, và thực ra, y đã quên bà từ lâu rồi, y chỉ còn vướng, phải làm nốt tang lễ ngày mai nữa thôi, là xong, về Rome, rồi y sẽ còn kể cho tôi nghe nhiều chuyện cổ tích nữa về mẹ tôi, tôi thầm nghĩ, sẽ còn dùng mẹ tôi làm cái cớ tiếp tục vòi tiền cả tôi, sẽ còn mượn cái chết của mẹ tôi để dỗ dành ngon ngọt moi tiền tôi cho bằng được. Ý nghĩ ấy nảy ra trong đầu khiến tôi khó chịu, và tôi cũng tự cảm thấy mình thật đáng ghét và nghĩ bụng, giá ý nghĩ đó không nảy ra trong đầu tôi thì may mắn biết bao; lẽ ra, tôi đã chẳng nghĩ như thế, nhưng trong lúc mải mê nghĩ ngợi về bữa ăn tối của Spadolini, tôi không còn kịp kìm, không còn kịp loại bỏ được ý nghĩ đó nữa. Đó là ý nghĩ buộc phải nảy ra, tôi tự an ủi, cũng giống như nhiều ý nghĩ khác, tuy ta không muốn nghĩ đến, nhưng chúng vẫn cứ phải nảy ra cho bằng được. Bây giờ quả thật không thể nghĩ đến chuyện ngủ nghê gì nữa cả, và tất nhiên, nhớ đến việc sáng mai phải dậy sớm, tôi cũng không muốn uống thuốc ngủ nữa và quyết định lôi sách ra đọc để giết thời gian - một biện pháp từng tỏ ra hiệu nghiệm cả triệu ngàn lần rồi chứ không ít, và tôi cũng đã quen dùng nó từ hàng chục năm nay rồi. Tôi nghĩ ngay đến Kierkegaard và quyển m đau đến chết của ông ta, và do tôi nghĩ nó nằm trong thư viện gần nhất là thư viện tầng trên, phía bên phải, nên tôi ra khỏi phòng - thật rón rén, cố không gây tí tiếng động nào - để đi tìm cuốn sách của Kierkegaard. Tôi đã đọc m đau đến chết một lần, dạo lâu lắm rồi, phải hai chục năm rồi chứ không ít. Thế nhưng, trong lúc rón rén mò đến thư viện, tự dưng tôi lại thấy sao tôi lại lố bịch đến thế! Vào đúng lúc này, lại đòi đọc đúng m đau đến chết, đòi đọc cho bằng được một quyển nào đấy của Kierkegaard, trong khi vẫn biết Spadolini đang ở gần đâu đây. Bây giờ đòi đọc Kierkegaard và quyển m đau đến chết của ông ta thì quả thật là quái đản, tôi nghĩ bụng, rồi chưa đến cửa thư viện, tôi đã quay lại, vì định đọc sách lúc này thì quả là vớ vẩn; tôi cũng không hình dung được quyển sách nào có thể thật sự làm tôi hứng thú hay, thậm chí còn lôi cuốn tôi lúc này được nữa. Tôi tự nhủ, một cuốn Jean Paul, một cuốn của Borne chăng, hay một cuốn của Kleist, tôi nghĩ, hay của Heme, hay lấy ngay một cuốn Schopenhauer; nhưng thật tình, ý định tìm cái gì đọc bây giờ chẳng hay ho gì, ngồi yên trong phòng nghĩ ngợi chuyện này chuyện khác có hơn không; đã bao nhiêu lâu rồi tôi không chịu ngồi yên để nghĩ ngợi rồi, tôi tự nhủ, rồi quay về phòng, ngồi xuống ghế, duỗi chân, và nhắm mắt lại. Song, lòng tôi đã bồn chồn quá rồi, khiến tôi không còn tâm trí đâu ngồi yên một lúc trên ghế bành được nữa, thời điểm yên tính ấy trôi qua mất rồi. Tôi bèn đứng dậy, đi tới đi lui trong phòng. Nhưng, đi tới đi lui như thế cũng chẳng giúp được tôi yên lòng, bởi trong đầu tôi chỉ còn độc một ý nghĩ, làm sao qua nổi đêm nay, cái đêm chắc chắn đáng sợ nhất trong mọi đêm tôi từng trải qua này, một đêm, tôi nghĩ, sẽ dài mãi ra, và tôi không có cách gì rút nó ngắn lại được cả. Nghĩ thế nào thì nghĩ, tính thế nào thì tính, tôi vẫn không có cách gì rút ngắn được nó. Tôi cảm thấy tôi không sợ thứ gì bằng sợ những đêm bị kéo dài mãi ra, những đêm không thể rút ngắn lại như thế này. Tôi tự nhủ, mình rất biết tự chủ, và mình đã từ lâu không còn dùng thuốc ngủ nữa, nhưng mình không thể thoát nổi cái đêm dài vô tận này; tôi chỉ vừa nghĩ, có lẽ mình không ngủ được mất, thì đã mười hai rưỡi hay một rưỡi đêm gì đó mất rồi, và bây giờ đằng nào mình cũng không thể uống thuốc ngủ được nữa, mọi chuyện coi như đã xong, mọi băn khoăn đều được dẹp sang một bên, bởi lúc này dù thế nào mình cũng không được phép uống thuốc ngủ nữa, tôi nghĩ bụng, bởi muộn nhất là bốn giờ sáng, mình đã phải dậy để bắt đầu tang lễ rồi. Tôi mở cửa sổ, định cho khí trời trong lành ở bên ngoài tràn vào. Song, khí trời tràn vào, đã chẳng trong lành hơn chút nào, mà lại còn nặng nề và nóng hầm hập. Đến lạ, không khí trong phòng hóa ra lại dễ chịu hơn ở bên ngoài, tôi bèn đóng cửa sổ vào. Spadolini có thể điềm nhiên làm một viên thuốc, rồi ngủ ngon lành, tôi nghĩ bụng và tự dưng thấy ghen tị với y, bởi y có thể làm một giấc đến tám hay chín giờ sáng. Còn tụi em gái tôi, hay đứa đần độn ngu si ấy, từ xưa đến giờ bao giờ ngủ chả đẫy giấc. Cả đời chúng nó, chúng nó cũng chưa cần uống viên thuốc ngủ nào. Còn tôi, đã chẳng được uống thuốc ngủ, lại chẳng đọc được thứ gì - bởi lúc này, dường như mọi thứ văn chương chữ nghĩa đều làm tôi phát ghê, đến như văn chương Pháp, thậm chí văn chương Anh cũng vậy, tôi nghĩ bụng, là thứ tôi vẫn chẳng ngần ngại dùng làm thứ bắc cầu qua đêm, mỗi khi tôi không còn ngửi nổi văn chương Đức nữa ấy. Tôi phải nghĩ ra trò gì khác, chỉ ngồi không hay đi tới đi lui, vừa không đủ, vừa chẳng nước non gì. Tôi chợt nghĩ, có lẽ ra khỏi phòng, hay ra hẳn khỏi nhà, có khi lại hay hơn; tôi bèn khoác áo vest rồi xuống gian tiền sảnh. Tôi ngó nhìn vào trong bếp; các cô nhân viên nhà bếp không dọn dẹp gì cả, vẫn để nguyên các bàn buffet bị khách khứa ăn làm ngổn ngang, lung tung xòe ra đó. Cảnh tượng lộn xộn trong bếp làm tôi đâm bực thói cẩu thả của các cô làm bếp - nhưng gián tiếp cũng là bực thói cẩu thả của tụi em gái tôi trong vai trò các cô chủ. Tôi đang nghĩ, phải bắt chúng nó, cả tớ lẫn chủ, sửa ngay thói cẩu thả nhếch nhác này đi mới được thì nhìn thấy đống báo vẫn còn nằm trên bàn. Tôi ngồi xuống bên bàn, rồi tiện tờ nào lấy tờ đó và nghĩ bụng, bây giờ mình cũng có thể ung dung ngồi đọc bài, xem ảnh trên báo y hệt như gã em rể mấy giờ trước đó đã làm gương, gã đã chỉ cho tôi cách đọc báo thong dong và trâng tráo như thế nào. Song, tôi không đủ sức làm như thế. Trong khi gã em rể tôi, nói không ngoa, bị đống báo nuốt chửng, một cách trâng tráo nhất, thì tôi lại lập tức bị, cũng đống báo ấy, làm cho ghê tởm; những thứ vừa mới đây những tưởng sẽ làm tôi khoái trá lắm, bỗng dưng chỉ làm tôi tởm lợm đến buồn nôn, nên tôi quẳng báo sang bên, bước khỏi gian bếp ra ngoài. Trong gian tiền sảnh, tôi có cảm giác vẫn còn đầy hơi người, mùi hơi những người đang ngủ đêm trong nhà, nhưng nặng nhất là mùi bà cô ở Titisee. Gian nhà thờ lúc tôi bước vào, cũng sặc một mùi bà. Hình như đã mười hai giờ đêm rồi thì phải, tôi chẳng rõ nữa. Từ xưa đến giờ tôi vẫn sợ gian nhà thờ, bởi nó bao giờ cũng gây cho tôi cảm giác - không phải chỉ lúc tôi còn bé, mà cả về sau, đã lớn - như thể tôi đang ở trong phòng xử án vậy. Ngay bây giờ tôi cũng có cảm giác y hệt như thế, cảm giác bị tra hỏi, xỉa xói, căn vặn, khiến tôi không thể lưu lại ở trong này lâu được. Tôi bèn đi ra ngoài. Khoác thêm chiếc áo bây giờ lại đâm ra nóng, tôi cởi nó ra, choàng lên vai, rồi đi xuyên khu vườn sang bên nhà kính. Cửa vào nhà kính tất nhiên vẫn mở và tôi có cảm giác toàn bộ khu vườn bây giờ đã đầy ắp mùi tử thi đang thối rữa. Tôi nghĩ bụng, mình sẽ cứ thế đi vào nhà kính, và tôi đi vào đấy thật. Hai tay thợ săn vẫn đứng đó - chưa có người đến thay - thấy tôi bước vào, cả hai liền lập tức đứng nghiêm. Hai gã có vẻ quá bất ngờ trước sự xuất hiện của tôi lúc này, chả là, khi tiến đến nhà kính, tôi đã cố không gây ra tiếng động nào. Bọn người này suốt đời chỉ là các con rối trên sân khấu, nhìn hai gã ở tư thế đứng nghiêm đó, tôi nghĩ bụng, ai nắm bọn chúng trong tay đều có thể sai khiến chúng hoàn toàn theo ý mình; nói cho cùng, chúng nhất nhất thi hành tất tật các mệnh lệnh - kể các mệnh lệnh vớ vẩn nhất, điên rồ nhất; thì đấy chính là nét quân sự của bọn chúng mà lại, tôi nghĩ bụng, lệnh cho chúng ra ngoài, chúng khắc ra ngoài, lệnh cho chúng vào trong, chúng khắc tuân lệnh bước vào trong, đẩy chúng xông vào chỗ chết, chúng sẽ tuân lệnh xông vào. Với bọn chúng, bố tôi bao giờ cũng là Ngài đại tá, tôi nghĩ bụng, vâng, cấp bậc ông mang trong chiến tranh, vâng, dạo Quốc xã đấy. Song, ngặt một nỗi là bây giờ, Ngài đại tá lại không ngã xuống hy sinh một cách hợp thời đúng lệ tại nơi gọi là trận mạc vinh quang, mà lại chết do đầu đập vào kính chắn gió trong xe hơi của ngài, tại một ngã tư đường bộ gần Lambach! Tôi lại muốn biết xem đá lạnh đã thay chưa và nói chung, còn đủ đá hay không; nhưng thay vì - như thông lệ - vẫy tay gọi một trong hai tay thợ săn đến để hỏi, tôi lại tiến đến gần một trong hai gã và hỏi, đá lạnh đã thay chưa và liệu nước đá còn đủ hay không. Gã gật đầu, vâng, đá đã thay và còn đủ. Lúc nói với gã thợ săn đứng túc trực bên quan tài, muốn hay không muốn, tôi cũng nhất nhất tuân theo các nghi thức, do bọn em gái ù lì trong mọi chuyện của tôi sắp đặt. Theo đúng lịch trình quàn và chôn cất vốn đã có từ xa xưa! Tôi lại không tự kiềm chế được mình và lại loay hoay định mở nắp quan tài mẹ tôi ra; nhưng nắp quan tài quả thật đã bắt vít chặt mất rồi. Tôi không còn cảm thấy ngượng ngùng gì nữa khi định nhấc nắp quan tài lên trước ánh mắt nhìn tò mò của hai gã thợ săn; tôi chẳng chấp chúng nó. la thường không còn biết ta làm gì nữa, tôi tự nhủ, khi dây thần kinh ta căng thẳng đến độ ta e chúng sắp đứt tung ra bất cứ lúc nào. Tôi bước lùi lại, ra xa các cỗ quan tài, và chỉ để khỏi bị mang tiếng với bọn thợ săn rằng mình đã hoàn toàn thản nhiên và dửng dưng bỏ nhà kính ra ngoài, tôi đứng cúi đầu lần nữa trước các cỗ quan tài một lúc, nhưng lúc ấy trong đầu, tôi chỉ độc những ý nghĩ, rằng bọn thợ săn đây sao mà đáng ghét, đáng ghét nhất trần đời là khác, rằng tôi không sao chịu được cảnh tượng chúng đóng đồng phục đứng trước mặt tôi, rằng những bộ mặt chúng đây sao mà tởm lợm đến thế, rằng tướng mạo chúng từ xưa đến giờ vẫn làm tôi buồn nôn. Rồi đột nhiên, tôi cảm thấy lo sợ cái ngày đang ập đến. Thế nhưng, mọi sự rồi sẽ trơn tru đâu vào đấy thôi, tôi lại tự an ủi mình bằng ngay những lời con em gái Caecilia tôi; chả là, mấy tiếng đồng hồ gần đây, cứ bao giờ đả động đến tang lễ là nó lại một mực cam đoan mọi sự rồi sẽ trơn tru đâu vào đấy thôi. Tôi tự nhủ, mình có thể phó mặc hết mọi việc cho hai đứa em gái, nhất là cho Caecilia. Không khéo hiện giờ nó cũng chẳng ngủ ngáy gì, đang nằm nhắm mắt trên giường, rồi tưởng tượng cho đoàn đám ma diễu qua trong đầu nhằm kiểm tra lại một lượt cũng nên. Và, bất cứ chi tiết nào không ổn, hoặc chỉ có vẻ không ổn thôi, tôi tự nhủ, cũng không thoát khỏi mắt nó. Những việc sắp xếp, dàn dựng, lo trước tính sau kiểu này, cái mà có thể gọi là nghệ thuật dàn dựng ấy, tôi nghĩ bụng, Caecilia thừa hưởng từ mẹ tôi. Rồi ả sẽ dàn dựng tang lễ sắp diễn ra này đúng như mẹ tôi cũng sẽ dàn dựng cho mà xem. Và, trong lòng ả sẽ luôn luôn có cảm giác mẹ đang theo dõi nó từng bước, xem mọi thứ có được dàn dựng đúng theo ý bà, và chỉ theo ý bà mà thôi, hay không. Một đám tang sắp diễn ra, tôi nghĩ bụng, một đám đưa tang bố mẹ và anh trai, do Caecilia dàn dựng! Trước mắt tôi chợt hiện ra tấm biển quảng cáo của một nhà hát kịch nào đấy, trên đó ghi rõ vở nào sắp được trình diễn. Tên vở là gì, diễn viên gồm những ai, do ai đạo diễn, vân vân và vân vân. Hai gã thợ săn vẫn giữ nguyên tư thế đứng nghiêm, tôi cũng đứng khá lâu trước mấy cỗ quan tài, cố hình dung trong đầu những hình ảnh về buổi công diễn đầu tiên của vở kịch do em gái tôi dàn dựng. Và, thậm chí tôi cảm thấy khoái trá. Nhưng, bỗng dưng tôi lại nghĩ, rồi sẽ thế nào nhỉ, nếu nắp quan tài của mẹ tôi vẫn bị mở ra, và tôi sẽ buộc Spadolini phải ngó vào bên trong; song, một cách dữ dằn và dứt khoát, tôi buộc mình phải chấm dứt luồng ý nghĩ đó ngay. Và, để cho ý nghĩ đó không trỗi dậy lần nữa, tôi rời khu nhà kính ra ngoài. Không khí bên ngoài lúc này còn khó chịu hơn cả lúc nãy, oi bức, ngột ngạt quá thể. Tôi nghĩ bụng, bấy giờ sang khu biệt thự trẻ thơ, may quá, một mình thôi, có lẽ mình sẽ dễ chịu hơn. Nghĩ bụng thế, tôi liền đi sang đó ngay, nhưng trên đường sang ngôi biệt thự, tôi ghé qua trại gia súc cái đã. Đám gia súc nằm yên, im lìm trong chuồng, như đã chết hết cả. Cảnh tượng này làm tôi ghê tởm; mùi súc vật bốc lên làm tôi không chịu được. Tôi không giống gã Johannes anh tôi, gã thích mùi hôi súc vật, mùi hôi súc vật dường như bao giờ cũng hấp dẫn gã. Mình khác với gã, tôi nghĩ bụng. Thiên hạ, hầu như ai cũng bảo, họ cảm thấy yên lòng khi ở gần thú vật, còn tôi, tôi chả thấy yên lòng chút nào, thậm chí còn ngược lại, cứ đến gần súc vật và ngửi phải mùi súc vật hôi hám bốc lên ấy, tôi lại đâm cáu lảnh và bực bội. Từ nhỏ, tôi chưa bao giờ có cái mà người ta gọi là tình yêu thương súc vật, lớn lên, tôi cũng chả bao giờ yêu được chúng. Súc vật bao giờ cũng chỉ làm tôi kinh hãi. Tuổi thơ ấu của tôi đầy rẫy những giấc mơ đáng sợ, chứa đầy các loại thú vật kinh dị chỉ chực nhảy xổ vào ăn thịt tôi. Không biết đã bao nhiêu lần tôi phải nhận ra một sự thật hiển nhiên, rằng tôi quả có khác với Johannes anh tôi thật; lúc nào gã cũng có vẻ bình thản nhởn nhơ bên các loài súc vật, trong khi chúng chỉ làm tôi bất yên, sợ hãi và kinh hoàng. Đến tận giờ, thỉnh thoảng tôi vẫn nằm mơ bị súc vật xông vào xâu xé, ăn thịt. Tuy nhiên, để cũng được như mọi người khác, nhiều lần tôi cũng thử xem, liệu tôi có tìm thấy sự bình yên đó khi ở gần súc vật không; nhưng rồi, tôi phải thừa nhận, suốt đời tôi, mọi nỗ lực kiểu đó của tôi đều không thành. Bao giờ súc vật cũng làm tôi khiếp sợ, đến cả những loài nhỏ bé li ti, chẳng đáng kể lắm, cũng đủ làm tôi kinh hãi; tôi khiếp nhất mỗi khi phải chạm tay vào con sâu con bọ nào đấy, chứ chưa nói phải chạm đến con cá nào, trong khi gã anh tôi lại rất khoái trá tự tay bắt cá; gã nắm đuôi, đập vỡ đầu cá, rồi ném trở lại xuống suối. Đến tận giờ, trước mắt tôi vẫn hay hiện ra cảnh những con cá bị anh tôi đập chết, trôi lềnh bềnh - ngửa bụng lấp lánh bạc trong nắng tròi - dưới con suối chảy vòng phía sau ngôi biệt thự trẻ thơ. Tụi nhóc, con cái đám người làm trong nhà cũng chẳng bao giờ ra vẻ sợ hãi ngại ngần gì, thậm chí còn thích thú, mỗi khi chúng nó phải cắt tiết rồi chặt đầu gà trên thớt. Gã Johannes anh tôi cũng thế; mặc dù bố mẹ tôi cấm tham dự vào các cuộc cắt tiết, chặt đầu gà kiểu đó - song, có lẽ chính sự cấm đoán ấy càng làm gã thích thú. Dạo gã còn rất bé, gã anh tôi chỉ cần một nhát rìu là chặt đứt đầu con gà mái, rồi sau đó khoái trá nhìn con gà không đầu, trong cơn giãy chết điên cuồng còn vỗ cánh bay tứ tung khá xa giữa sân. Johannes cũng rất thích thú mỗi khi được xem mổ lợn, mổ bò trong lò sát sinh riêng của Wolfsegg, như bố tôi vẫn nói, để lấy xương nấu xúp cho nhà mình. Tự tôi, tôi cũng trố mắt đứng xem đấy, song tôi không bao giờ có được niềm khoái trá như Johannes, mà ngược lại, các cảnh tượng đó bao giờ cũng làm tôi kinh sợ. Đúng, tôi không phải Johannes. Vào trong chuồng bò, đưa mắt một lượt, tôi đếm ngay được chín mươi hai con, con số lý tưởng, như trước đây bố tôi vẫn gật gù. Thôi thì, ít ra ở đây mọi sự vẫn chạy. Tôi chợt nhớ mẹ tôi có lần nhắc đi nhắc lại, khoản tiền bỏ ra xây lắp đường ống dẫn sữa bắc ngang đầu đàn bò lên đến ba trăm tám chục ngàn schilling chứ không ít. Tất nhiên rồi, tôi nghĩ bụng, xưởng sữa trông rất oách. Rồi tôi sang bên ngôi biệt thự trẻ thơ. Bọn em gái tôi quả nhiên đã để cửa sổ ở đây mở từ lúc ấy đến giờ, tôi nghĩ bụng, nhưng chắc chắn không phải do chúng nó nghe lời tôi dặn phải để cửa sổ mở toang như thế mấy ngày liền, mà do chúng nó quên đóng lại thôi. Từ lúc anh em chúng tôi ở đây đến giờ, chưa có cơn giông nào kéo đến thật, nhưng kiểu oi bức thế này, chắc chắn sẽ có dông. Bây giờ có muốn đi tìm Alexander cũng không kịp nữa, tôi nghĩ bụng, rồi ngồi xuống chiếc ghế băng trước ngôi biệt thự. Giá có Alexander cùng ngồi ăn tối, tôi nghĩ bụng, hẳn Spadolini sẽ biết tự kiềm chế hơn nhiều; bữa ăn tối hẳn sẽ diễn ra khác hẳn; Spadolini chắc chắn sẽ phải thủ vai khác. Nhiều chuyện do Spadolini kể ra, chắc chắn sẽ bị anh Alexander cười chế nhạo, biến y thành kẻ lố bịch ngay và y, do sự có mặt của Alexander, sẽ phải thay đổi chiến thuật. Bây giờ, trước mắt tôi, Spadolini có vẻ như biến thành nhân vật xấu, còn Alexander là nhân vật tốt. Thế nhưng, tôi nghĩ bụng, nếu bây giờ mình khẳng định, Alexander tốt còn Spadolini xấu thì cũng chẳng đúng. Cứ Alexander mà xét, thì con người tốt ở anh ấy bao giờ cũng che khuất gần như trọn vẹn con người xấu. Chẳng hạn thói độc đoán phũ phàng anh ấy vẫn bộc lộ, mỗi khi anh cưỡng ép ai đó phải đồng tình với anh, và với những ai không chịu thua anh, anh thường trừng phạt họ, không thèm nói chuyện với họ hàng buổi liền, khóa trái cửa tự nhốt mình trong phòng rồi dọa sẽ tự vẫn. Vâng, con người tốt trong anh đồng thời cũng là kẻ chuyên hăm dọa, tôi nghĩ bụng, thậm chí còn hăm dọa phũ phàng là đằng khác, một kẻ chỉ vì một ý nghĩ chắc chắn là lố bịch nào đấy của mình có thể làm người khác lâm vào tuyệt vọng, và trong những hoàn cảnh nhất định, có thể giết chết con nhà người ta nữa ấy chứ. Ấy thế, nhưng gã Alexander quỷ sứ ấy bao giờ cũng được gã Alexander khác, đáng mến, đáng quý, bao dung độ lượng, che khuất. Một con người dù có đáng mến đến đâu đi nữa, nhưng khi ta quan sát người đó suốt một thời gian dài, và dù cho việc quan sát chỉ diễn ra trong đầu óc ta thôi, cũng như, bất kể con người ta quan sát ở gần hay ở xa, thì dần dần, anh ta cũng sẽ từ một con người tốt biến thành con người xấu; ta sẽ chẳng bao giờ chịu ngồi yên, ta sẽ luôn luôn tìm cách biến một người tốt, đáng kính thành người xấu, đáng ghét mới thôi, nếu làm như thế có lợi cho ta, bởi ta sẵn sàng sỉ nhục anh ta, cũng như sẵn sàng sỉ nhục bất cứ ai khác, miễn sao làm như thế có thể giúp ta, chẳng hạn, thoát khỏi tâm trạng giày vò, dằn vặt kinh khủng, một tâm trạng trĩu nặng lòng ta, mà ta không hề biết vì sao. Thật vậy, có lẽ vì cả Spadolini lẫn những người khác không còn đủ cho tôi hành hạ, sỉ nhục nữa, tôi nghĩ, nên lúc này tôi quay ra sỉ nhục Alexander, hòng thoát thân; anh Alexander tốt bụng đang bị tôi tóm lấy và biến dần anh thành một người xấu, một kẻ độc địa, cũng như trước đó - chỉ vì lợi ích của riêng mình - tôi đã làm với tất cả những người khác mà tôi cho là thích hợp. Không còn cách nào khác nữa, đọc sách chẳng được, đi tới đi lui không ăn thua, đứng bên cửa sổ nhìn ra cũng chẳng giúp được gì, ta đành vớ lấy bạn bè gần gũi nhất, thân cận nhất, tôi nghĩ bụng, để thoát khỏi tâm trạng khủng khiếp này. Tôi rất hay rơi vào tình trạng như thế này, mỗi khi tâm trạng phũ phàng khủng khiếp ấy ít nhiều xâm chiếm lòng tôi, là y như rằng, tôi lại lần lượt tóm lấy hết người này đến người khác, mổ xẻ họ, chê bai, phỉ báng họ trong đầu tôi, cốt chỉ để tự cứu mình; phá hủy mọi thứ trong họ, không chừa lại ở họ chút gì gọi là tích cực nữa cả, để rốt cuộc, tôi sẽ được thở phào nhẹ nhõm. Nếu đấy không còn là bố mẹ hay tụi em gái, Johannes hay những người khác, vì không còn ai thích hợp cho tôi nữa cả, thì trong lúc cùng đường tuyệt vọng, tôi khắc tự hủy hoại mình theo cách của riêng tôi, theo cách tôi chỉ có thể gọi là phũ phàng tệ hại nhất mà thôi. Và lúc này Alexander chính là người thích hợp, bởi cả tụi em gái lẫn gã em rể không còn đủ để tôi lăng mạ, sỉ nhục nữa. Vâng, đó là sự thật. Để làm nhẹ lòng mình, tôi tự ngẫm, quả thật ta có thể bất chấp hết, không chút nương tay. Trong ngôi biệt thự trẻ thơ này, tôi cố tìm lại thời thơ ấu của mình, song, tất nhiên, tôi không tìm được nó. Tôi mò vào tất cả các phòng, để tìm lại tuổi thơ ấu, và tất nhiên, tìm không ra. Thật tình mà nói, tôi tự hỏi, mình định cho sửa sang ngôi biệt thự trẻ thơ để làm gì cơ chứ? Còn ai nữa đâu để tận hưởng ngôi biệt thự này, tôi nghĩ, vâng, ý định sửa sang ngôi biệt thự trẻ thơ - ý định mà đến giờ tôi vẫn còn mang theo trong lòng - thật là ý định vô nghĩa; phải, riêng ý nghĩ sẽ sửa sang, khôi phục nó trở lại thành ngôi biệt thự hôm xưa của tụi trẻ chúng tôi đã là một ý nghĩ quái gở rồi, tôi nghĩ bụng, bởi vì tôi có cho sửa sang, khôi phục lại ngôi biệt thự trẻ thơ, thì tuổi thơ cũng không còn khôi phục được nữa. Tôi cứ đinh ninh, tôi chỉ cần cho khôi phục, sửa sang tận gốc ngôi biệt thự trẻ thơ, hay nói như tụi em gái tôi, cho tân trang nó lại, thì tôi khắc sửa sang khôi phục, tân trang lại tận gốc tuổi thơ của mình. Tuổi thơ của tôi bây giờ cũng bị bỏ hoang, triệt phá, hệt như ngôi biệt thự này thôi, tôi thầm nghĩ. Đồ đạc trong các căn phòng tuổi thơ đều bị vơ vét, tẩu tán, đập phá tan hoang, y hệt như toàn bộ ngôi biệt thự; chỉ có điều, tuổi thơ tôi không phải do tay mẹ tôi vơ vét, phá phách, tẩu tán - như bà đã làm với ngôi biệt thự - mà do chính tay tôi. Tôi từng phá phách, cướp bóc tuổi thơ của chính mình còn phũ phàng, tàn nhẫn hơn nhiều so với mẹ tôi cướp phá ngôi biệt thự trẻ thơ; tôi đã phung phí, phát tán những mảnh đẹp nhất của tuổi thơ mình, giống hệt như mẹ tôi đã vơ vét, phung phí những mảnh đẹp nhất của ngôi biệt thự, và bây giờ, giá tôi có mở toang hết các cánh cửa sổ tuổi thơ ra, thì cũng chẳng được tích sự gì nữa, tôi tự nhủ, mà chắc chắn cũng sẽ nực cười, lố bịch, hệt như khi tôi mở toang cửa sổ ngôi biệt thự tuổi thơ ra vậy. Tuổi thơ đã bị tôi tận dụng, tiêu xài đến khô kiệt, phải, thậm chí bị tôi phung phí, bán thống bán tháo đi là đằng khác. Tuổi thơ tôi đã bị tôi bòn rút đến kiệt cùng. Ta đi tìm tuổi thơ ở khắp nơi, song ở đâu ta cũng chỉ tìm thấy một khoảng không vắng lặng, như người ta vẫn nói. Ta thường đinh ninh, một khi ta bước vào ngôi nhà mà trong đó ta từng trải qua những giờ phút hay ngày tháng tuổi thơ sung sướng, thì ta sẽ nhìn thấy tuổi thơ ta; nhưng sự thực, tôi nghĩ bụng, ta chi nhìn thấy khoảng không vắng lặng đáng sợ ấy mà thôi. Tôi đi vào ngôi biệt thự trẻ thơ, thì cũng chỉ có nghĩa là tôi đi vào khoảng không vắng lặng đó, hệt như khi tôi đi vào khu rừng, nơi thời thơ ấu tôi vẫn từng cảm thấy sung sướng vô vàn, thì cũng không có gì khác với việc tôi đi vào khoảng không vắng lặng ấy; cũng như khi bước vào những nơi, mà hồi còn con trẻ, tôi vẫn cảm thấy sung sướng, thì nay tôi chỉ thấy lồ lộ trước mắt mình độc những khoảng không vắng lặng như thế mà thôi. Ta vẫn thường phung phí tuổi thơ ta, ta những tưởng nó không bao giờ cạn kiệt, nhưng không phải vậy, tôi nghĩ bụng, tuổi thơ chẳng mấy chốc sẽ cạn kiệt, và không để lại dấu vết gì nữa hết, ngoài khoảng không vắng lặng thiên hạ vẫn nói với nhau kia. Song, không phải chỉ có tôi mới hoang phí như thế, tôi thầm nghĩ, ai cũng như vậy thôi, và điều đó khiến tôi chợt cảm thấy được an ủi, được an ủi rằng mọi người, rồi ai cũng sẽ khám phá ra sự thật đó, một sự thật nằm ở chỗ, khi ta muốn tìm lại tuổi thơ - vào lúc ta đang về già hay đã già hẳn - thì cũng chẳng khác nào ta đi ngó vào khoảng không vắng lặng đáng sợ đó, khoảng không làm ta kinh hãi hơn bất cứ thứ gì khác trên đời ấy. Cứ xét như thế, thì việc tôi bước vào ngôi biệt thự trẻ thơ đây, lòng mang theo niềm tin tôi cũng sẽ bước vào tuổi thơ của chính mình, cũng là một việc có thể coi là may mắn. Vì có vậy tôi mới sáng mắt nhận ra rằng hành động đó là một sai lầm, nhưng là một sai lầm bổ ích vậy; bổ ích ở chỗ, từ giờ trở đi tôi sẽ không còn tin rằng tôi chỉ cần bước vào ngôi biệt thự trẻ thơ là tôi có thể quay trở lại vào tuổi thơ của chính mình. Không còn tín rằng tôi chỉ cần bước vào cánh rừng của tuổi thơ là tôi đã bước trở lại vào tuổi thơ tôi được rồi, rằng tôi chỉ cần bước vào miền đất quê của tuổi thơ là tôi lại bước trở lại vào tuổi thơ của chính mình. Không còn tin nữa, bởi ở đâu, tôi cũng chỉ bước vào khoảng không vắng lặng đáng sợ ấy mà thôi. Và, từ nay về sau, tôi cũng sẽ không phải đối diện với khoảng không vắng lặng đáng sợ đó nữa, tôi nghĩ bụng. Ở Rome, lần nào cũng như lần nào, mỗi khi nhớ đến Wolfsegg, tôi lại nghĩ, chỉ cần về đến Wolfsegg là tôi khắc quay về với thời thơ ấu của mình. Nhưng lần nào cũng như lần nào, bao giờ tôi cũng mắc sai lầm, tôi nghĩ bụng, những sai lầm đến là đểu cáng và hèn hạ. Ta về tìm gặp bố mẹ ta, lúc ở Rome tôi nghĩ vậy, cũng có nghĩa là ta tìm gặp bố mẹ ta thời thơ ấu, nhưng rốt cuộc, bố mẹ ta chả thấy đâu, ta chỉ tìm thấy cái khoảng không vắng lặng kinh khủng nọ. Ta không tìm được tuổi thơ, tôi tự nhủ, bởi nó không còn nữa. Một cách tàn nhẫn, không chút nương tay, ngôi biệt thự trẻ thơ mở mắt cho anh thấy rằng không thể gây dựng lại tuổi thơ ấy nữa. Đó là sự thật anh phải chấp nhận. Anh thử quay người lại mà xem, anh sẽ chỉ còn thấy khoảng không vắng lặng, tôi nghĩ bụng, không những chỉ tại những nơi từng gắn bó tới tuổi thơ, mà tại tất cả những nơi chốn phôi phai cùng năm tháng khác, cũng chỉ còn lại khoảng không vắng lặng đó. Bởi vậy, giờ đây tôi tự nhủ, tốt nhất anh đừng quay người lại nữa, anh phải biết điều đó, âu cũng là để giữ mình, anh không được phép quay người nhìn lại phía sau nữa. Anh quay lại nhìn vào quá khứ, thì anh cũng chỉ nhìn vào sâu vào khoảng không vắng lặng đó mà thôi; anh ngoái nhìn lại ngày hôm qua thì cũng không có gì khác anh đang ngoái lại nhìn khoảng không vắng lặng, tôi nghĩ bụng, thậm chí anh chỉ quay lại nhìn khoảnh khắc anh vừa trải qua thôi, rốt cuộc anh cũng chỉ nhìn vào khoảng không vắng lặng đó mà thồi. Anh toan bước vào ngôi biệt thự này để quay lại với tuổi thơ, tôi nghĩ, tuổi thơ mà hàng chục năm qua anh từng phát tán, tiêu xài không chút cân nhắc đắn đo, anh từng quẳng nó qua cửa sổ như một thứ gì không bao giờ cạn kiệt, nhưng chính vì thế, anh lại làm nó khánh kiệt hoàn toàn. Để rồi, sau khi anh đã tận dụng và làm khánh kiệt mọi cơ hội khác của anh, anh lại chìm vào trạng thái tinh thần ủy mị hết sức hạ đẳng và trong đầu anh nảy ra ý đồ này nọ với ngôi biệt thự trẻ thơ này. Song, ý đồ ấy bây giờ mới bộc lộ hết tính chất đáng sợ của nó, khi ngôi biệt thự trẻ thơ bỗng biến thành cơn ác mộng cho anh. Lúc anh nghĩ thầm trong đầu, rồi nói ra với các em gái anh, rằng anh sẽ cho sửa sang ngôi biệt thự trẻ thơ, quả thật anh đã tưởng, một khi anh đã sửa sang khôi phục lại ngôi biệt thự được, thì anh cũng sẽ khôi phục được tuổi thơ của anh. Nói cách khác, anh đã thật sự tin rằng anh có thể quét vôi, bôi màu, có thể sửa sang lợp lại mái cho tuổi thơ anh, giống như anh quét vôi, bôi màu, tân trang, lợp mái vân vân lại ngôi biệt thự trẻ thơ vậy, mặc dù ý đồ đó của anh đã phải chịu hàng trăm lần thất bại chứ không ít, tôi tự nhủ, bên nào có phải đây là lần đầu tôi nuôi ý đồ sửa sang ngôi biệt thự, để qua đó đồng thời khôi phục cả tuổi thơ đâu. Biết bao nhiêu lần anh đã ép buộc người khác phải làm theo ý định của anh, để cũng bấy nhiêu lần chứng kiến họ thất bại cùng ý định đó, ý định quái gở nhất trong mọi ý định ấy. Anh cố tình bắt buộc họ ôm lấy những ý tưởng mà anh thừa biết trước sau thể nào cũng thất bại đó của anh, anh giấu nhẹm, không chia sẻ với họ các kinh nghiệm đớn đau anh từng nếm trải cùng ý đồ quái gở nhất trong mọi ý đồ ấy, anh câm lặng, im hơi lặng tiếng, nhưng thực ra, anh đã để mặc họ, bỏ rơi họ. Thật độc địa! Tôi rời ngôi biệt thự tuổi thơ về phòng giấy trong nhà quản sự. Cửa khu nhà thợ săn không khóa, chắc là để cho cánh thợ săn ra vào dễ dàng hơn, khi bọn họ phải thay phiên nhau túc trực quan tài. Tôi bụng bảo dạ, chắc chắn mình sẽ không như ông bố mình, ngày ngày đến đây ngồi xem xét thư từ công vụ, ngày ngày đến đây chuyện trò với tay quản sự hay với đám người làm trong bầu không khí ngột ngạt ở đây. Sắp tới, chắc chắn tôi sẽ không như ông bố tôi, cũng sẽ xem văn phòng này như là không gian sống thật sự của mình. Cặp hồ sơ Leitz sẽ không ép chặt đời tôi như từng ép chặt bố tôi, ép chặt đến mức, rốt cuộc, đã làm ông nghẹt cả thở. Dây cặp hồ sơ Leitz này, tôi nghĩ bụng, mới đầu chỉ mới ép chặt ông, về sau chúng đổ ụp lên đầu lên cổ ông, rồi nghiền nát ông. Đấy không phải cơn ác mộng, đấy là đời thực hẳn hoi. Các loại thư từ công vụ đã biến bố tôi thành kẻ nô lệ của công vụ, tôi nghĩ bụng, ông để cuộc đời ông hoàn toàn lệ thuộc số thư từ công vụ hàng ngày ấy. Hồi xưa, bố mẹ ông, tức ông bà tôi, nhốt ông vào văn phòng này, để rồi về sau, chính cái văn phòng này đã đè bẹp ông. Nhưng tôi, nó đừng hòng mà đè bẹp được, tôi sẽ không để cho nó đè bẹp tôi, tôi nghĩ bụng, cho dù nội thất văn phòng này được thiết trí, xếp đặt khiến nó sẽ phải đè bẹp bất cứ ai ngồi ở đây. Tôi không bật đèn, để không ai phát hiện ra tôi, nhưng tụi thợ săn từ lâu hẳn đã biết tôi đang ở trong này. Tôi sẽ không bao giờ bước vào văn phòng này với tư cách một chủ trang trại, tôi không phải chủ trang trại, tôi cũng không quan tâm gì đến nghề nông cả. Trọng một cặp hồ sơ Leitz nào đấy ở đây có ghi rõ, bao nhiêu tiền trợ cấp từ Wolfsegg đã được chuyển cho tôi suốt cả chục năm qua, kể từ ngày tôi đi khỏi đây. Tôi đứng dậy, tìm xem cái cặp hồ sơ đó nằm đâu, nhưng không tìm thấy cặp hồ sơ nào ghi tên tôi cả. Đủ loại tên được ghi ở gáy các cặp hồ sơ, chỉ riêng tên tôi không thấy đâu. Không biết cái khoản tiền bố tôi vẫn bảo là khoản khổng lồ, cái khoản mà cả mẹ tôi, và nhất là tụi em gái tôi, vẫn độc địa chì chiết là khoản khổng lồ, thật ra, là bao nhiêu? Cả bà mẹ lẫn hai đứa con gái cứ luôn mồm bảo tôi lúc nào cũng ăn bám Wolfsegg, rằng tôi không bao giờ ngượng ngùng vòi thêm tiền của Wolfsegg, rằng tôi cứ từng bước, từng bước tng tiền cả nhà. Kia rồi, tôi nghĩ bụng, cái cặp hồ sơ ghi khoản tiền khổng lồ kia rồi, hay đằng kia, kia chăng, nhưng nào tôi có tìm thấy nó ở đâu. Tôi lôi hàng lô cặp hồ sơ trên giá xuống, mở ra xem, nhưng không thấy cái cặp hồ sơ sẽ làm tôi chết nhăn răng ra đâu cả; tôi nói vậy, bởi tôi bỗng nhớ có lần mẹ tôi bảo tôi, anh hẳn phải lăn ra chết nhăn răng ngay tại chỗ, nếu tôi đọc thấy số tiền gia đình đã chi cho tôi là bao nhiêu. Khoản chi cho thằng vô công rồi nghề, như giọng lưỡi cả nhà vẫn gọi tôi, thằng chuyên lạm dụng Wolfsegg vào các mục tiêu đáng ngờ và bẩn thỉu, cho các mục đích tình thần gớm ghiếc của nó. Ông con trai rong chơi nhởn nhơ ở Rome, trong khi cả nhà lãn lưng làm ăn nặng nhọc, bố tôi vẫn chả rêu rao như thế với mọi người là gì, những khi ông bực bội với tôi. Và, vào những năm gần đây, khi đã rõ ra là tôi có ý định không quay về Wolfsegg nữa, mà ở lại Rome, hay nơi nào thật xa Wolfsegg, tức là ở vùng nào có tri thức, thì ông bố tôi chỉ còn bực mình, hằn học với tôi nữa mà thôi, tôi nghĩ bụng. Ông chẳng còn ngần ngại sỉ nhục tôi trước mặt thiên hạ, sỉ nhục chỉ vì khoản tiền chu cấp hàng tháng ông vẫn phải chuyển vào ngân khoản cho tôi. Trong khi chính các vị vẫn tự tay quẳng vô khối tiền của vô ích qua cửa sổ, tôi nghĩ bụng; chỉ cần nhắc đến thói nghiện quần nghiện áo của mẹ tôi, thói nghiện làm phúc giả dối của bố tôi khi góp của đóng tiền cho hội này đảng nọ, thói đam mê thuyền máy thuyền buồm của gã Johannes anh tôi, thì đủ biết các vị từng tiêu xài phung phí hơn tôi biết bao nhiêu là tiền của. Phải, tôi nghĩ bụng, duy có bọn em gái tôi tốn ít tiền nhất, nhưng chính chúng nó cũng chẳng còn đáng giá bao nhiêu. Đưa vào tay chúng nó xu nào, tôi tự nhủ, là phí hoài xu nấy. Chỉ trong cái văn phòng hôi hám ngột ngạt đến phát khiếp này, bố tôi mới ít nhiều cảm thấy thật thư thái, như ở nhà mình vậy. Bàn giấy này là nơi ông tìm đến ẩn náu, trốn tránh gia đình ông, bằng cách chúi đầu ngồi viết những lá thư vô bổ về việc này việc nọ của ông, giống như lá thư còn nằm kia, do chính tay ông viết dở dang. Để thoát khỏi người nhà ông, một là ông leo lên chiếc máy kéo, lái chạy đi lang thang vào chỗ này đến chỗ nọ trong rừng, bất chấp máy kéo khi chạy nhả mùi khói khét lẹt và rung đến chết người, hai là ngày ngày ông chui đầu vào văn phòng này. Vào giai đoạn kinh hoàng ở cuối đòi ông, bố tôi trở thành con người hoàn toàn cô đơn. Đáng thương thay, tôi nghĩ bụng. Song, tôi lại nghĩ, chính ông, ông đã để mặc cho mình rơi vào hoàn cảnh cô đơn đáng thương đó, ông cố tình thả mình rơi vào, không buồn động chân động tay cưỡng lại. Bố tôi chẳng bao giờ cưỡng lại bất cứ cái gì, ông quá ư yếu đuối để chống lại một cái gì đó, bất kể đó là gì. Chống đối chưa bao giờ là việc bố tôi ưa làm, tôi nghĩ bụng, ông ưa bước chân lên con đường đáng thương khốn khổ dẫn ông đến chỗ héo mòn teo tóp, thân tàn ma dại này hơn. Một cảnh tượng thiên nhiên tuyệt vời dữ dội như thế này ở quanh Wolfsegg đây, tôi nghĩ bụng, một tài sản quả thực kếch xù như thế này ở Wolfsegg đây, thế mà ông bố tôi lại sống cuộc đời thảm hại ngần ấy bên chiếc bàn giấy này. Phòng giấy đây đã khiến gương mặt ông gần đây ngây thuỗn ra như thế, tôi tự nhủ, chính phòng giấy này đây, nói cho cùng, đã hủy hoại ông. Đã đến nước đó thì các chuyến đi một năm hai lần, vẫn gọi là đi học thêm ấy của ông, chẳng được tích sự gì nữa cả. Ông uể oải, miễn cưỡng lên đường, rồi ông cũng lại uể oải, miễn cưỡng trở về, tự mình ghê tởm mình trước thất bại của ý đồ toan chạy trốn cả chính mình. Và tất nhiên, phòng giấy này lại trở thành nơi trốn tránh, ẩn náu của ông. Từng bước, từng bước và lẳng lặng, tuyệt không ai biết, ông bị hủy diệt - một phần là do người nhà ông, tôi nghĩ bụng, những kẻ chỉ nhăm nhăm chờ sự tiêu vong của ông, phần khác là do cái văn phòng này; mọi thứ giấy tờ đần độn ấy xếp chồng xếp đống ở đây chỉ nhằm mỗi một mục tiêu duy nhất là đè cho ông bố tôi và cả cuộc đời ông bẹp gí. Đống giấy tờ đần độn này, tôi nghĩ, cũng là nơi ông chui vào ẩn náu, trốn tránh bà vợ điên khùng của ông, vâng, tức là bà mẹ tôi đấy. Phải, chui vào văn phòng, khóa trái cửa lại. Chỉ cánh thợ săn, chứ không ai khác nữa cả, được phép ra vào tự do. Người trong nhà muốn vào phải báo trước, không báo trước thì có đến cửa văn phòng mà gõ, cũng không được vào; bố tôi cấm cửa những kẻ đã ra tay hủy hoại ông không thương tiếc đó. Tôi sẽ không để mình bị văn phòng này phá hoại hay hủy diệt, tôi tự nhủ, nó sẽ không phải là nơi cho tôi ẩn náu dung thân. Tôi sẽ không như bố tôi, biến dãy cặp hồ sơ Leitz này thành đồng đội câm lặng, cùng hội cùng thuyền với tôi nửa ngày hay cả ngày, đôi khi thậm chí còn nửa đêm hay thâu đêm mới tệ. Văn phòng này sẽ không trở thành khoang thuyền trưởng của ta, như bố tôi vẫn thường gọi văn phòng này của ông như thế, tôi nghĩ bụng và vẫn còn cảm thấy nỗi nhục đến là hèn hạ của chính mình hôm xưa, mỗi khi nghe bố tôi, chẳng biết có phải cố tình hay không, gọi văn phòng này là khoang thuyền trưởng trước mặt tôi. Bởi vì ở Wolfsegg ông có bao giờ thật sự nắm quyền chỉ huy của một thuyền trưởng đâu; mọi quyền hành đều nằm trong tay mẹ tôi cả. Bà để mặc ông ba hoa thế nào thì ba hoa, ngay cả giữa bàn dân thiên hạ, về cái gọi là khoang thuyền trưởng ấy của ông, bởi bà thừa biết, ai ai cũng thấy những lời ông nói về cái khoang thuyền trưởng đó mới lố bịch làm sao. Không! Không, đây không thể là văn phòng của tôi, tôi tự nhủ. Tôi sẽ không để đống cặp hồ sơ Leitz khống chế tôi. Hàng triệu con người đã và đang bị những cặp hồ sơ Leitz đó thống tộ, tôi tự nhủ, và họ sẽ không bao giờ thoát khỏi kiếp bị trị nhục nhã ấy nữa. Hàng triệu người bị thứ cặp hồ sơ Leitz đó áp bức. Toàn châu Âu đã để mặc cho thứ cặp hồ sơ Leitz này áp bức mình suốt cả thế kỷ nay và sự áp bức đó của cặp hồ sơ Leitz, tôi nghĩ, đang mỗi ngày một thêm gay gắt, khắc nghiệt. Chẳng bao lâu nữa, toàn thể châu Âu không những chỉ bị cặp hồ sơ Leitz áp bức mà thôi, mà cả châu Âu này sẽ bị chúng tiêu diệt. Tôi cũng có lần nói với Gambetti, dân Đức là dân tự để cho mình bị cặp hồ sơ Leitz khống chế nhiều nhất. Ngay cả nền văn chương Đức cũng là nền văn chương bị cặp hồ sơ Leitz khống chế, có lần tôi đã bảo Gambetti vậy. Mở quyển sách Đức nào xuất bản trong thế kỷ này ra đọc, tôi bảo Gambetti, ta cũng thấy nó bị những cặp hồ sơ Leitz kia khống chế cả. Tôi bảo Gambetti, dân Đức chỉ còn viết nên nổi một thứ văn chương bị cặp hồ sơ Leitz khống chế mà thôi và nền văn chương ấy sắp bị nó hủy diệt hoàn toàn đến nơi rồi. Ở Đức, mọi thứ đều do cặp hồ sơ Leitz điều khiển, tôi bảo Gambetti vậy. Và, thứ văn chương ngày nay, thứ văn chương bị các cặp hồ sơ Leitz khống chế ấy, tất nhiên, là thứ văn chương đáng thương hại. Tôi bảo Gambetti, trước đó, chưa từng có thứ văn chương bất lực, đáng thương hại như thế bao giờ. Đọc một quyển sách viết ra hiện nay, bao giờ tôi cũng có cảm giác, dường như đây là thứ văn chương văn phòng lố bịch, do các cặp hồ sơ kia đọc cho người ta chép lại. Tất cả những cuốn sách như thế đáng thương hại vô cùng, tôi bảo Gambetti, vì chúng được viết ra bởi các tác giả mà đầu óc đã bị cặp hồ sơ Leitz khống chế hoàn toàn và mãi mãi mất rồi, Gambetti ạ. Khi ta đối mặt với nền văn chương Đức, ta cũng đối mặt với thứ văn chương viên chức trung lưu, Gambetti ạ; đến cả những tên tuổi lớn của nền văn chương ấy cũng vậy thôi, vâng, ngay như Thomas Mann, vâng, hay đến cả Musil, là người tôi thậm chí còn đặt lên vị trí đầu tiên của hàng ngũ những kẻ sản sinh ra thứ văn chương viên chức đó nữa kia. Thì chính Musil cũng có viết được cái gì khác, ngoài thứ văn chương viên chức khốn khổ đó đâu. Thứ văn chương đó là thứ văn chương chỉ dành cho giới trung lưu mà thôi, vâng, đúng ra là cho giới trung lưu lớp dưới, tôi bảo với Gambetti trên đồi Pindo. Cả Thomas Mann, lẫn Musil đều vậy cả, mỗi dòng họ viết ra là một dòng bị những cặp hồ sơ Leitz kia khống chế. Đọc thứ văn chương đó của họ, ta khắc biết ngay một tay viên chức sẽ viết lách thế nào, bởi nói cho cùng, rốt cuộc thì cũng chỉ cặp hồ sơ Leitz cầm bút viết cho hắn mà thôi. Vị quý tộc Thomas Mann đã viết ra rặt một thứ văn chương tầm thường, tôi bảo Gambetti, thứ văn chương chỉ dành cho giới trung lưu lớp dưới dở dở ương ương. Và tụi người dở dở ương ương đó khoái trá xực lấy xực để thứ văn chương ấy vào lòng, anh hiểu không, Gambetti. Ít nhất cũng từ một trăm năm nay rồi, ở đời chỉ còn một thứ văn chương mà tôi gọi là văn chương bàn giấy ấy, một thứ thơ văn viên chức dành cho giới trung lưu lớp dưới đó nữa mà thôi, tôi bảo Gambetti. Và nếu không kể đến hàng loạt người khác nữa, thì Musil và Thomas Mann chính là các bậc thầy của nền văn chương ấy. Tôi bảo Gambetti, nếu không kể đến Kafka - dù ông này vốn là viên chức thật, nhưng cũng là tác giả duy nhất không sáng tác thứ văn chương quan lại và viên chức đó - thì tất cả các tác giả còn lại đều không sáng tác gì ngoài thứ văn chương ấy cả, đơn giản chỉ vì họ hoàn toàn không có khả năng sáng tác gì khác nữa. Tay viên chức Kafka nọ, tôi bảo Gambetti, lại là tác giả duy nhất không sáng tác thứ văn chương quan lại và viên chức đó, mà sáng tác ra thứ văn chương lớn lao, vĩ đại; đó là điều anh không thể gán cho bất kỳ tác giả nào trong số văn sĩ Đức gọi là lớn của thế kỷ này được hết, nếu anh không muốn đứng cùng hàng ngũ với hàng triệu những kẻ viết tiểu luận tào lao, tán hươu tán vượn trên các trang dành cho văn nghệ của các loại báo chí, những kẻ từ trăm năm nay đã biến báo chí thành thứ cháo văn hóa dành để bố thí cho đám hành khất đói khổ, trong đó họ nấu đi hâm lại các sai lầm kinh khủng đến dựng tóc gáy của mình cho đến khi phát nôn phát mửa vẫn chưa thôi. Nói cho cùng, tôi bảo Gambetti, trong thế kỷ này dân Đức chỉ sản sinh ra nền văn chương bị cặp hồ sơ Leitz khống chế, nền văn chương mà tôi gọi toạc móng heo ra là văn chương cặp hồ sơ Leitz để tránh mang tội sau này, lúc nền văn chương cặp hồ sơ Leitz bị lật mặt là văn chương cặp hồ sơ Leitz và bị hất đổ vào đúng nơi xứng đáng vớí nó, tức là thùng rác của lịch sử văn học vậy, Gambetti ạ. Ấy thế, nền văn chương hiện nay cũng là văn chương của ta, tôi bảo Gambetti, thì muốn hay không muốn, ta vẫn phải chung sống với nó, bởi ta đã hiến dâng tất cả cho nó mất rồi, tôi nói với Gambetti, không khỏi không chút ít xúc động trong lòng, rằng ta chẳng còn gì nữa hết, Gambetti ạ. Chúng ta quả có tạo ra khá nhiều những đỉnh cao, có thể gọi là đỉnh cao đầy ấn tượng trong nền văn chương của ta thật, tôi bảo Gambetti, có điều ta không được phép đem các đỉnh cao đó ra so sánh với Shakespeare, chẳng hạn. Gambetti chăm chú nghe tôi, tôi nghĩ bụng, nghe chăm chú, nhưng tôi có cảm giác anh chàng không tin tôi lắm. Tôi nghĩ, anh chàng không tín tôi ngay trong các vấn đề liên quan đến văn chương Đức hiện đại, thì thật đáng tiếc. Cuối bài thuyết trình, thì cũng gọi là để anh ta yên lòng, tôi bảo anh ta, chỉ có Maria là ngoại lệ. Ý tôi muốn nói, thơ của Maria tuyệt vời hơn thơ của mọi thi sĩ sáng tác bằng tiếng Đức khác cùng thời với nàng, vâng, tức là thời đại chúng ta đây. Có thể anh ta tưởng tôi đùa, khen nịnh bạn cho vui, song tôi nghĩ, tôi đang nói sự thật với anh ta, bởi đó là niềm tin của tôi, rằng thơ của Maria chính là đỉnh cao của văn chương chúng ta vậy, và không phải chỉ là đỉnh cao nền văn chương trong thập niên khốn khổ này, mà là đỉnh cao văn chương trong suốt cả thế kỷ chúng ta đây; một thế kỷ, tôi bảo Gambetti, có thể sẽ trôi qua mà không để lại cho chúng ta một đỉnh cao nào chói lọi hơn nữa. Đó là niềm tin chắc chắn của tôi, Gambetti ạ, tôi nói với anh ta. Cả dân Đức lẫn dân Áo chúng tôi ít nhất cũng nửa thế kỷ nay, đã kiệt sức đến độ, cả họ lẫn chúng tôi, đều không thể sinh ra một đỉnh cao văn chương như thế nữa. Bảo rằng hây mong chờ một phép màu nào nữa đó, Gambetti ạ, thì đã từ lâu, tôi đã chẳng còn mong chờ nữa rồi. Phép màu văn chương thì tôi lại càng không thể trông chờ. Vả lại, tôi nói với Gambetti, thật khó mà tin được rằng đến cuối thế kỷ này, cái thế giới mà hiện nay chúng ta đang chứng kiến và chịu đựng đây vẫn còn tồn tại. Tôi thấy nghi lắm, anh ạ. Mọi dấu hiệu đều đang cho thấy, rằng chẳng bao lâu nữa thế giới sẽ biến đổi tới mức chúng ta không còn nhận ra nó được nữa đâu, nó sẽ là một thế giới bị thay đổi tận gốc rễ và thật ra, sẽ là một thế giới bị phá hủy tận gốc tận rễ cho mà xem. Mọi thứ đều đang cho thấy rõ điều đó, tôi bảo Gambetti. Tuy nhiên, tôi nói thêm, trong viễn cảnh do tôi tiên đoán này cũng chứa đựng luôn cả sai lầm của tôi. Đến đây thì Gambetti phá lên cười, tiếng cười mọi ngày của anh - giòn giã, sảng khoái và hồn nhiên. Chúng ta thường có khuynh hướng sa vào phóng đại, cường điệu - về sau tôi bảo Gambetti - khiến cho đến lúc nào đấy ta sẽ tưởng sự phóng đại đó chính là sự thật, sẽ không nhận thức được sự thật chân chính nữa, mà chỉ còn cảm nhận một sự thật đã bị phóng đại quá mức mà thôi. Tôi bảo Gambetti, tôi bao giờ cũng say sưa tự thỏa mãn mình bằng niềm ham mê cường điệu đó. Niềm ham mê đó - khi tôi đẩy nó lên thành một thứ nghệ thuật cường điệu - đôi khi cũng là niềm ham mê duy nhất giúp tôi thoát khối nỗi tuyệt vọng, buồn chán khôn cùng về tinh thần, tôi bảo Gambetti. Tôi dày dặn trong nghệ thuật cường điệu đến mức tôi chẳng chút ngập ngừng để tự xưng là nghệ sĩ phóng đại vĩ đại nhất tôi từng biết từ xưa đến giờ. Tôi không biết còn nghệ sĩ nào cao tay hơn nữa không. Ở đời chưa từng có ai đẩy nghệ thuật cường điệu của chính mình lên đỉnh cao như thế, tôi bảo Gambetti, rồi nói thêm, rằng nếu có ai đột nhiên hỏi tôi, thực sự tôi là ai, thì tôi có lẽ chỉ có thể đáp lại, tôi là nghệ sĩ bộ môn cường điệu lớn nhất tôi từng biết trên đời. Đến đây, Gambetti lại phá lên cười tiếng cười của anh và tiếng cười ấy lây ngay sang tôi, và chiều hôm ấy hai chúng tôi cười hả hê với nhau một trận trên đồi Pincio, trước đó chúng tôi chưa cười một trận như thế bao giờ. Vâng, giờ đây tôi nghĩ, tất nhiên câu tôi viết ra như thế này cũng lại là một sự cường điệu nằm trong vốn nghệ thuật cường điệu của tôi. Dạo đó, tôi bảo Gambetti, nghệ thuật cường điệu là một thứ nghệ thuật sống - theo cách hiểu của tôi - là nghệ thuật tồn tại ở đời. Thông qua cường điệu, hay nói cho đúng hơn, thông qua nghệ thuật cường điệu, tôi bảo Gambetti, ta mới tồn tại nổi, ta mới đủ sức để sống. Càng về già, tôi bảo anh ta, tôi càng hay viện đến nghệ thuật cường điệu của tôi. Các cao thủ trong nghệ thuật tồn tại ở đời vốn bao giờ cũng là các nghệ sĩ cường điệu điêu luyện, bất kể họ là ai, bất kể họ đã sáng tạo ra những gì ở đời, Gambetti à, tất cả rốt cuộc đều nhờ vào nghệ thuật cường điệu của họ cả. Một họa sĩ không biết phóng đại là họa sĩ tôi, một nhạc sĩ không biết phóng đại là nhạc sĩ xoàng, tôi bảo Gambetti, cũng như một nhà văn không biết cường điệu là nhà văn hạng bét. Song, cần nói rõ rằng nghệ thuật cường điệu của nhà văn, đôi lúc, thật ra lại là nghệ thuật giảm thiểu hay hạ thấp mọi thứ. Khi đó, ta sẽ phải nói một nhà văn nào đấy đã quá cường điệu khi hạ thấp, và biến phép cường điệu thông qua hạ thấp thành nghệ thuật của mình. Cái bí ẩn của một tác phẩm nghệ thuật lớn nằm chính ở phép cường điệu đó, tôi bảo Gambetti, cái bí hiểm của triết học cao siêu cũng vậy. Và, thực ra, bí mật của tư duy cũng chính là nghệ thuật cường điệu vậy thôi, tôi bảo Gambetti. Ý nghĩ chắc chắn sẽ bị coi là quái đản ấy, nếu xem xét thật kĩ, thì nó chắc chắn lại là ý nghĩ duy nhất đúng đắn cho mà xem. Thế nhưng, tôi bỏ dở, không luận tiếp nữa, và rời khu nhà thợ săn đi về phía nhà quản sự. Trên đường đi về hướng ngôi biệt thự trẻ thơ, tôi chợt nhớ, chính ngôi biệt thự trẻ thơ đã làm nảy ra trong đầu tôi những ý nghĩ quái gở đó. Phải viết cho được quyển Diệt vong, từ ngôi biệt thự quay lại nhà quản sự, tôi nghĩ bụng. Tại sao không nhỉ? Nhưng không làm ngay, tôi còn cần nhiều thời gian nữa mới làm được. Một năm. Có khi hai năm, thậm chí ba năm. Chúng ta đôi khi cũng tưởng mình đủ năng lực để hoàn thành một công trình trí tuệ nào đấy, thậm chí để viết ra một tác phẩm như Diệt vong, nhưng rồi ta lại run, bởi ta biết, ta không đủ sức làm đến nơi đến chốn, ta run sợ và chùn tay lại, bởi ta e ngại, nhỡ đâu khi ta đã bước được khá xa, sáng tác được khá nhiều rồi, ta bỗng nhận ra mình không thực hiện nổi ý định ban đầu. Và như thế, chẳng những ta sẽ mất hết bao nhiêu thời gian từng bỏ ra, mà ta sẽ còn bị mất mặt ghê gớm, nếu không phải mất mặt với thiên hạ muôn nơi, thì cũng mất mặt với chính mình. Ta không muốn mình phải chịu một thất bại ô nhục như thế, cho nên - mặc dù ta có cảm giác ta có thể bắt tay mở đầu một công trình đầy trí tuệ rồi đây - ta vẫn chần chừ, không dám bắt tay vào việc, ta lần lữa trì hoãn, như thể ta muốn trì hoãn, muốn gác thất bại nhục nhã - nỗi nhục nhã tự mình gây cho chính mình - ra sau. Ta thường vẫn đòi hỏi người khác, làm gì thì làm, họ cứ phải hoàn thành tốt việc của họ đã, tức là họ phải hoàn thành việc đến đầu đến đũa, tôi nghĩ bụng, trong khi chính ta, ta không làm nên chuyện gì sất, đến một sản phẩm trí tuệ nực cười, in giấy trắng mực đen cũng không. Thế chứ còn gì nữa, ta đòi hỏi mọi người phải đạt tới các thành tựu cao nhất, đặc biệt nhất, trong khi chính mình lại chẳng làm nên cơm nên cháo gì. Ta không muốn chịu nhục vì sự thảm bại của chính mình, cho nên ta tìm mọi cách, dùng mọi lời chống chế, mọi mưu mẹo tầm thường, cốt sao trì hoãn càng lâu càng tốt việc thực hiện ý đồ của ta toan đưa lên mặt giấy một công trình trí tuệ của ta. Ta bỗng nhiên trở nên hèn nhát, không dám bắt tay khỏi đầu việc đã định. Thế nhưng, trong đầu ta vẫn ấp ủ khôn nguôi một công trình trí tuệ như thế và lăm le thực hiện nó bằng mọi cách. Phải, ta dự định sẽ thực hiện, ta tự nhủ, và cứ thế dự định đi dự định lại, ngày này sang ngày khác, tuần này qua tuần khác, tháng này sang tháng khác, năm này qua năm khác, có khi hàng chục năm trời mà không sao ngồi xuống bắt tay vào việc được. Công trình ta ấp ủ là công trình phi thường lắm, dữ dội lắm, ta tự nhủ, và thi thoảng ta huênh hoang với người khác, bởi ta quá ư kiêu ngạo, ta không giữ mồm kín miệng được, trong khi thực ra, ta chỉ đủ tài làm nên những thứ hết sức lố bịch mà thôi. Ta sẽ hạ bút viết nên một tác phẩm phi thường, đầu óc tôi vừa mới nghĩ có vậy, thì toàn thân đã lại run ngay lên vì sợ hãi. Và, chính trong giây khắc sợ hãi đó, tôi đã thất bại rồi, tôi đã rơi ngay vào trạng thái xơ cứng tuyệt đối, chẳng khi nào bắt tay vào việc được nữa. Ta khoa trương, khua chiêng gõ mõ rùm beng, rằng những gì ta

đang ôm ấp, ấp ủ thật phi thường và độc nhất vô nhị, ta chẳng e sợ tuôn ra những lời huênh hoang đó, thế nhưng ta lại so vai rụt cổ leo lên giường và sẽ uống đôi ba viên thuốc hòng ngủ cho ngon giấc, thay vì bắt tay thực hiện công trình phi thường và độc nhất vô nhị ta hứa hẹn kia. Chúng ta là như thế đấy, Gambetti à, có lần tôi nói với Gambetti, ta rêu rao ta sẽ làm nên tất cả, cả những công trình chói lọi nhất, vĩ đại nhất, nhưng rồi ta chẳng cầm nổi cây bút vào tay để hạ bút đưa lên mặt giấy, dù chỉ một chữ thôi của cái công trình gọi là phi thường và độc nhất vô nhị đó. Ai trong chúng ta cũng mắc bệnh vĩ cuồng, tôi bảo Gambetti, để khỏi phải trả giá cho sự kém cỏi, tầm thường của chính mình. Vâng, nói đến dự kiến về cuốn Diệt vong, tôi nghĩ bụng, thì thật tình mà nói, sau bao nhiêu năm, tôi cũng chỉ mới hình dung ang áng về nó, chứ chưa có gì phi thường, tôi nói với Gambetti, càng chưa có gì độc nhất vô nhị cả. Tuy nhiên, trong đầu tôi đã hình thành cái gì đó lớn lắm rồi, lớn hơn bản phác thảo thông thường, một cái gì đó có thể đem trình làng được rồi. Vâng, chỉ là thứ gì đó đủ đem trình làng mà tôi chẳng phải ngượng ngùng hổ thẹn gi, tôi bảo Gambetti. Tôi tự xem mình đủ tài, đủ sức đặt bút viết ra những thứ tôi cho rằng cần phải viết ra, bởi điều đó rất quan trọng đối với tôi, và như tôi nghĩ, còn làm tôi thú vị nữa chứ. Nhưng thật ra, tôi bảo Gambetti, tôi nào phải nhà văn, tôi chỉ là kẻ môi giới văn chương, mà cụ thể là văn chương Đức. Có thế thôi. Như một loại môi giới bất động sản trong văn chương, tôi bảo Gambetti, như thể tôi mua đi bán lại bất động sản trong văn chương vậy. Và cho dù thời nay bất kỳ ai viết xong một tấm bưu thiếp đều có thể tự xưng làm nhà văn, tôi bảo Gambetti, thì tôi, sau hàng trăm công trình thử viết hay đã viết, vẫn không xưng mình là nhà văn. Vả lại, đa số trong giới nhà văn tôi đều ghét cay ghét đắng, tôi bảo Gambetti, tôi chỉ quý mến thật sự và nồng nhiệt với rất ít người trong số đó mà thôi. Suốt đời tôi, tôi luôn tìm cách lánh mặt bọn văn sĩ, nhất là bọn văn sĩ Đức, bọn người tôi vẫn gọi là đám thợ ghi chép biên bản, tôi bảo Gambetti. Cả đời tôi, tôi cũng chẳng bao giờ ngồi chung bàn với họ, Gambetti ạ, bởi vì làm quen, rồi ngồi cùng bàn với một tay văn sĩ nào đấy, đối với tôi, là việc tồi tệ đáng tởm nhất trần đời, vâng, không còn việc nào tệ hại, đáng tởm hơn nữa đâu. Tác phẩm của họ thì còn chịu được, chứ các tác giả của các tác phẩm đó thì không, Gambetti ạ. Bản tính họ phần lớn đều xấu xa, nếu không nói là đáng ghê tởm, và bất kể họ là ai, ngay buổi đầu quen biết nhau, bao giờ họ cũng làm tác phẩm của họ bị tiêu hủy, bị tuyệt diệt ngay trước mặt anh rồi. Thiên hạ chen chúc nhau để làm quen với một văn sĩ nào đấy mà họ yêu quý, họ tôn thờ, kính trọng, vâng, hoặc thậm chí để xem mặt một văn sĩ nào đó họ ghét bỏ, để rồi ngay sau đó, sẽ tiêu hủy, xóa bỏ hoàn toàn tác phẩm của văn sĩ nọ khỏi đầu óc mình. Để giải thoát mình khỏi một tác phẩm văn học nào đấy - một tác phẩm do nguyên cớ nào đó không để ta yên, hoặc vì nó làm ta phấn khích xúc động, hoặc vì nó làm ta phẫn nộ uất ức - thì cách tốt nhất là làm quen với đích thân tác giả của nó. Ta tìm đến cha đẻ một tác phẩm văn học, tôi bảo Gambetti, cũng là để giải thoát mình khỏi tác phẩm đó. Tụi văn sĩ, nhìn chung, là bọn người đáng tởm nhất trần đời, tôi bảo Gambetti, thế mà - tôi phải thú thật - dạo đầu thời sinh viên của tôi, tôi xông tới họ, lăn xả vào làm quen với họ, khiến họ ai nấy đều bất ngờ, ngơ ngác, ở một số người tôi còn mon men luồn lách dò xét kĩ nữa kia. Thế nhưng, sau đó tôi quay ra căm ghét họ, chẳng chừa một ai, và không thể đọc tác phẩm của họ nữa, Gambetti ạ. Tất tật các văn sĩ tôi từng tìm hiểu, hay ít nhiều đã vụng trộm dò la ấy, hiện giờ tôi đều coi là những nhân vật hèn hạ, đểu cáng, vâng, đã thế lại đần độn, những con người tuy đã có tiếng tăm nhất định về văn chương thật nhưng tôi không hề muốn đánh bạn kết bè với họ, tôi bảo Gambetti, bởi họ có gì nữa đâu, ngoài sự tầm tầm, nhàng nhàng bậc trung của họ. Cái gì ở bọn này cũng vừa vừa hết cả, tôi bảo Gambetti. Cái gì ở họ cũng sền sệt tính tiểu thị dân hèn mọn. Mọi thứ ở họ đều sặc sụa tà khí, đều nhuốm vẻ quê mùa bảo thủ đã đành, lại còn nặng vị vĩ cuồng. Có lần tôi bảo Maria, tất tật bọn này, nói cho cùng, đền nhàm chán, đều buồn tẻ, y hệt những gì họ viết ra rồi đem rao bán chợ giời. Cứ như thể một trăm năm nay văn chương Đức bị bọn nhà quê tỉnh lẻ lạm quyền, biển thủ vậy. Ngày nay, chúng ta chỉ còn nền văn chương tỉnh lẻ đó mà thồi, chứ chẳng có thứ gì khác, tôi thầm nói với Maria trên đường đi sang nhà quản sự, chỉ còn có riêng các sáng tác của nàng là lớn lao, là độc nhất vô nhị, là trường tồn, là văn chương mà chúng ta cả trăm năm sau vẫn không lấy làm hổ thẹn. Không, Gambetti ạ, tôi nói với anh ta, tôi chưa bao giờ muốn trở thành nhà văn, đến như trong đầu tôi cũng chưa từng có ý nghĩ như thế; vâng, quả thật tôi cũng luôn luôn nuôi ý định hạ bút viết cái gì đó, cho riêng mình tôi thôi. Rằng về sau, những thứ đó được xuất bản chỗ này chỗ nọ, là điều khiến tôi hối hận. Nhưng tôi thật sự không phải nhà văn Gambetti à. Tuyệt nhiên không. Lúc đi ngang nhà quản sự, tôi nghe thấy tiếng đàn bò thở phì phò vọng qua các cánh cửa sổ hé mở của chuồng gia súc. Tôi nghĩ bụng, chúng ta thường có thói quen hay nhớ đến các chi tiết vẫn gọi là các chi tiết vặt vãnh, nếu ta chịu khó quan sát và để tâm xem xét kĩ lưỡng chúng, mới đầu chỉ xem xét bên ngoài, sau đó soi mói xuyên suốt chúng. Chẳng hạn, trên đường từ ngồi biệt thự trẻ thơ đến phòng giấy, tôi thấy các đám mây lơ lửng trên trời phía sau ngôi biệt thự trẻ thơ tụ lại thành hình con rồng đang ngoác to miệng. Một hình ảnh rất bình thường như thế có thể lưu lại rõ rệt và rất lâu trong ký ức ta, đến mức hàng tuần, hàng tháng, hàng năm sau, đôi khi ta vẫn nhớ như in hình ảnh các đám mây đó, tôi nghĩ bụng, vâng, quả thật ta chẳng hề gặp khó khăn gì khi nhớ lại đám mây với hình thù như thế đã chuyển động trên trời ra sao. Như thể đầu óc ta buộc ta phải nhớ lại sự chuyển động như thế của các đám mây vậy, cũng như bắt ta phải nhớ đến sự chuyển động trên một gương mặt ta từng nhìn thấy hàng nhiều năm về trước. Ta không gặp khó khăn gì khi nhớ lại gương mặt đó, cũng như tôi không khó nhọc gì khi bây giờ phải nhớ lại nét mặt người nhà tôi lúc đứng trước các quan tài. Tôi có thể nhớ lại rất rõ các gương mặt phơi ra trước mắt tôi, với các nét chuyển động trên đó, ngay cả các chuyển động trên những gương mặt cứng nhắc và bất động nhất, bởi đấy không phải gương mặt chết và gương mặt chết thật ra không chết thật, vân vân và vân vân. Nếu ta biết cách, ta vẫn có thể nhìn và nghe thấy rõ mồn một những gì đã diễn ra nhiều năm về trước. Với khứu giác cũng y như vậy thôi. Ta đi trên đường phố Paris và một thứ mùi vị nào đó chợt gợi cho ta nhớ lại cái gì đó - một vật thể, một sự kiện hay một cuộc gặp gỡ nào đó - của hai hay ba chục năm về trước, thậm chí lâu hơn. Chỉ một mùi vị đó thôi đã đủ gọi cho ta thấy vật thể, sự kiện hay cuộc gặp gỡ hôm xưa hiện ra rõ mồn một trước mắt mình với từng chi tiết nhỏ, cho dù suốt hai, hay ba chục năm trôi qua, ta chẳng hề nhìn thấy, hay nhớ lại vật thể đó, sự kiện đó hay cuộc gặp gỡ đó lấy một lần. Tôi nghĩ, tôi đã biến cơ chế hồi tưởng rất tự nhiên ấy thành nghệ thuật mà ngày nào tôi cũng vận dụng và chắc chắn tôi sẽ còn hoàn thiện nó đến cùng. Đàn bò thở phì phì trong trại gia súc, còn tôi lê chân về phòng và bỗng dưng cảm thấy người mệt lả. Lúc này đã một rưởi. Tôi kéo rèm che kín cửa sổ. Tất nhiên, tôi không ngủ được, và trong lúc thao thức, tôi chỉ nghĩ mỗi một chuyện, mọi sự bây giờ sẽ ra sao đây? Wolfsegg và mọi thứ khác dính dáng đến nó sẽ ra sao đây. Suốt hai tiếng liền, đầu óc tôi chỉ quanh quẩn, không phải với ý nghĩ cái gì sẽ xảy ra với Wolfsegg,ta sẽ làm gì với Wolfsegg đây? - cùng cái chết của bố mẹ, câu hỏi này rơi sập - đúng theo nghĩa đen của nó - xuống đầu và đe dọa sẽ đè bẹp tôi. Vâng, với tất cả sức nặng kinh khủng của nó, Wolfsegg đã rơi sập thẳng xuống đầu tôi. Thật là điên rồ để tự nhủ mình, cứ nằm trên giường quay người bên này một lúc, rồi lại quay người sang bên kia một lúc nữa, thì mình khắc tĩnh tâm lại thôi. Tình huống không lối thoát, mà tôi đột nhiên cảm nhận được với tất cả mức độ kinh hoàng của nó ấy, khiến tôi không yên; tình huống đó không để tôi nghĩ được điều gì ra đầu ra đũa nữa cả, và tôi không thể nằm yên lâu một bên được, dù chỉ một phút thôi, bởi lẽ do xúc động, con tìm tôi cứ thình thịch thình thịch mà đập mãi. Rốt cuộc, tôi cứ nằm như thế đến sáng, đầu óc căng thẳng dõi theo và nhẩm đếm từng nhịp đập con tim tôi và trong lòng tôi, mỗi lúc tôi một thêm hốt hoảng nhận thấy rằng những giây khắc bất thường, tức là những khi nhịp tim tôi đập chợt loạn xạ, xảy ra mỗi lúc một mau hơn. Dạo trước, tôi nghĩ bụng, tay bác sĩ nội khoa của tôi ở Rome quả thật đã làm tôi hết hồn, khi y chẩn đoán thẳng thừng - đã tuyệt nhiên không chút tế nhị thì chớ, lại trơ trẽn và tàn nhẫn không ai bằng - rằng mệnh tôi không trường, chỉ đoản thôi. Giới thầy thuốc bao giờ cũng muốn phán gì đúng nấy, tôi nghĩ bụng, nên họ thường ưa chẩn đoán ngày anh tạ thế đã kề cận, hơn là chẩn đoán anh còn lâu mới lìa đời, bởi họ không muốn mất mặt với thiên hạ. Giới bác sĩ quả thật không sợ gì hơn sợ bị mất mặt vì một cái chết đột ngột, bất ngờ của ai đó mà họ không chẩn đoán trước. Cho nên, giống như tay bác sĩ của tôi ở Rome, họ cứ chẩn đoán bừa một cuộc đời đoản mệnh cho bệnh nhân, cho chắc ăn, tránh bị bẽ mặt với đời. Ấy thế nhưng tôi cũng phải nói thẳng, dù sao thầy thuốc ở Rome cũng còn hơn thầy thuốc Áo, là giới mà tôi chỉ có thể bảo là trâng tráo, vô lương tâm và tuyệt đối vô tình, vô cảm mà thôi. Vâng, vậy là tay bác sĩ nội khoa của tôi ở Rome chỉ còn cho tôi sống thêm một thời gian ngắn nữa thôi, và giờ đây nằm trên giường, không sao chợp mắt được, tôi suy tính, tôi sẽ phải làm gì với Wolfsegg; nhưng rõ ràng, tôi chẳng tìm được câu trả lời, nhất là vào lúc này, lúc tôi chỉ còn nhăm nhăm mỗi một việc là dõi theo nhịp đập nhanh của con tim tôi, cũng như thấp thỏm chờ các khoảnh khắc bất thường trong hoạt động của nó mà thôi. Tất nhiên, vào những hoàn cảnh như thế, ta vẫn nghe bác sĩ của ta - trong trường hợp tôi, là tay bác sĩ nội khoa - nói với ta những gì, nhưng ta chẳng tin lời hắn; ta nghe rõ ràng hắn nói gì, nhưng ta không tin hắn, ta cứ thế lờ đi, bỏ qua lời hắn nói. Rất có thể lờ đi là cách tốt nhất vậy, giờ đây tôi nghĩ bụng, thế nhưng, tất nhiên ta lại khổ sở khôn nguôi vì bác sĩ đã bảo ta không còn sống được bao lâu nữa, và ta luôn luôn tìm cách trốn chạy khỏi những lời, những câu nói chết lịm người của hắn, vì ta chả vẫn muốn sống là gì, vì ta - dù cho ta có nhục mạ, khinh rẻ cuộc sống ta đến thế nào chăng nữa - ta vẫn bấu chặt lấy nó, và quả thật, muốn mãi mãi giữ chặt được nó trong tay. Tôi nghĩ bụng, suốt bao nhiêu lâu, có lẽ hàng tuần liền, tôi không để tâm gì đến sức khỏe của mình, thế mà bây giờ, nằm thao thức trên giường đây, tôi lại đòi nổi cáu với mọi thứ. Trong lúc lẽ ra tôi phải làm mọi thứ để dưỡng mình, giữ thân, cũng là để, biết đâu đấy, bắt tay viết cuốn Diệt vong đang nằm chực sẵn trong đầu tôi đây, tôi nghĩ bụng, thì tôi lại để mình bị lôi cuốn vào những cơn xúc động, nếu không gây chết người, thì cũng rất nguy hại cho tôi. Ở Rome, tôi tự nhủ, tôi đã quen với một nhịp sống và làm việc hợp với bệnh tình của tôi, ngay cả các giờ dạy học dành cho Gambetti cũng tuân theo nhịp độ hợp với bệnh tình tôi; mọi thứ ở Rome tôi đều buộc phải tùy thuộc vào bệnh tình của mình, thế mà bây giờ, tôi lại để mình nổi các cơn cáu giận mà lẽ ra tôi không được phép. Thế nhưng, vào những năm gần đây, mỗi lần tôi về Wolfsegg, là tôi lại bị kích động, tôi nghĩ bụng, và làm con tim mình căng thẳng quá mức. Từ Wolfsegg về Rome, bao giờ tôi cũng tìm đến tay bác sĩ, và y lại phán ngay, tim tôi bị quá tải do chuyến đi Wolfsegg vừa qua. Không phải do chuyến đi Wolfsegg, mà là do chuyến đi sang Áo vừa qua - tôi lại phải đính chính lời y cho bằng được. Vào mấy năm sau này, tất cả các chuyến lưu lại ở Áo và ở Wolfsegg ấy đều rất có hại cho con tim của tôi, khiến nó lúc nào cũng phải đập mạnh liên hồi kỳ trận đến khi quá sức. Nhưng chính tôi, tôi nghĩ bụng, ngay từ khi còn nhỏ tôi đã chẳng bao giờ nương nhẹ con tim tôi. Hay nói cho đúng, thì chẳng có con tim nào chịu đựng nổi những kẻ như tôi, tôi tự nhủ, nó bị bệnh, bị yếu đi rất sớm, vì ngay từ thời thơ ấu, tôi đã lạm dụng nó, đã làm nó căng thẳng quá sức, tôi đã chẳng bao giờ để nó yên, cho nên bây giờ mới đến nông nỗi này. Con tim tôi chưa bao giờ được hưởng sự yên tính lẽ ra nó phải được hưởng, tôi tự nhủ, nên bây giờ nó mới tàn tạ thế này. Song, thay vì nương nhẹ nó, tình dưỡng nó tại Rome, với nhịp độ đã định ra cho nó như tôi nghĩ, tôi lại lên đường về Wolfsegg và khuấy động, chọc tức nó đến mức khủng khiếp. Nhưng thôi, cũng chỉ vài ngày thôi, tôi tự nhủ, âu cũng là để chiều trái tim mình, tôi sẽ quay về Rome, càng sớm càng tốt, vâng, tức là về nhà, bởi nhà tôi ở Rome, chứ không phải ở Wolfsegg đây, và con tim tôi sẽ được tịnh dưỡng, tôi sẽ không đòi hỏi ở nó quá nhiều nữa, như tay bác sĩ nội khoa vẫn lạnh lùng khuyên và cũng như Maria vẫn nói đi nói lại với tôi, anh đòi hỏi con tủn anh nhiều quá, nàng thường trách tôi, anh phải để ý đến quả tim của anh chứ, và khi nào nàng nói vậy, bao giờ tôi cũng lắng nghe nhưng chẳng để tâm gì, mặc dù tôi biết nàng nói đúng. Mỗi khi tôi xúc động, tôi tự nhủ, tôi lại tìm đến nàng, đến Maria - nữ tiến sĩ thành Rome của tôi, nữ thi sĩ vĩ đại, nữ thầy thuốc tuyệt vời của tôi, nữ đồ đệ của chủ nghĩa khoái lạc có một không hai của tôi. Bởi tôi không sao nằm yên trên giường cùng trái tim bồn chồn, đầy xúc động của tôi nữa, tôi đành trở dậy, vào buồng tắm xối nước lên người cho tươi tình, rồi, vẫn mặc áo choàng tắm, tôi lôi một cuốn sách gọi là cuốn Chuyên khảo về Descartes trên giá sách xuống và thả mình ngồi vào chiếc ghế bành kê bên cửa sổ. Không như tôi nghĩ lúc đầu, Descartes lập tức lôi tôi ra khỏi những mối lo âu, sợ hãi; vừa bắt đầu đọc, ngay những câu đầu tiên, không phải những câu viết về Descartes mà là những câu của Descartes đã cứu tôi thoát nạn. Tôi đọc những câu của Descartes, và lập tức bị lôi cuốn sang một hướng khác; không, tôi không muốn nói tôi trở nên yên lòng, nhưng đầu óc tôi quả bị đánh lạc hướng đi thật. Tôi nghĩ bụng, các triết gia lớn thật đúng là các vị cứu tinh của tôi. Bất kể công trình nào của họ cũng vậy, cứ mở ra đọc là tôi lại bị lôi cuốn, lại được cứu vớt. Hình như, sẽ không ai có thể có được vốn tri thức vững vàng, nếu người ta không biết tác giả tạo ra sự tồn tại của họ ở đời là ai, tôi mải mê đọc, tức khắc bị lôi cuốn và được cứu vớt. Chỉ riêng nghĩ ngợi về một câu này thôi đã giúp tôi giết nốt khoảng thời gian vài ba tiếng còn lại, trước khi tôi phải đứng dậy, sửa soạn đi xuống nhà, bởi tang lễ đang rục rịch bắt đầu. Nãy giờ, ngồi bên cửa sổ, tôi có thể thấy hai đứa em gái tôi đang đứng bên nhà kính nói chuyện với đám thợ săn, thợ làm vườn cũng như với một lô những người sẽ đóng vai trò gì đó trong lễ tang. Gã em rể tôi cũng ở đấy. Nhưng tôi vẫn chưa đi xuống nhập bọn với đám ngườỉ kia; tuy tôi có cảm giác họ đang mong chờ tôi, nhưng tôi vẫn chưa đi xuống chỗ họ, bởi tôi không muốn bỏ giữa chừng cái thú đứng bên cửa sổ kín đáo quan sát họ mà không một ai hay biết. Mọi người dưới kia đều làm ra vẻ chộn rộn; phía trong nhà kính chắc còn chộn rộn hơn nhiều. Cả đống những vòng hoa với bó hoa đã được chất lên hai chiếc xe ngựa, và cánh thợ làm vườn cùng hai cậu mã phu - ở Wolfsegg chúng tôi vẫn còn nuôi các mã phu như thế đấy (!) - đã đánh hai chiếc xe ra đỗ sát bờ tường cổng ra vào, để lát nữa xe chở xác có thể lăn bánh ngang qua dễ dàng. Tất cả những gì tôi nhìn thấy qua cửa sổ phòng tôi đều cho thấy, mọi sự dường như đều diễn ra đúng theo lịch trình tang lễ mẹ tôi vẫn từng nhắc tới trước đây, như thể không có gì chệch khỏi, chứ đừng nói trái ngược lại, hay đối kháng với lịch trình đó. Trời chỉ chực mưa, nhưng không mưa nổi, và tôi nghĩ, rồi sẽ chẳng mưa đâu. Mọi người đứng dưới kia, ai nấy mặc tuy không đen tuyền cả, nhưng ít nhiều đều hợp với không khí đám tang. Nhiều người từ dưới làng lên đều đã đứng thành hàng trước nhà kính. Tôi cũng nhìn thấy lác đác vài nhạc công đầu tiên của ban nhạc kèn đang xếp thành hàng ngũ. Các nhạc cụ lóng lánh ánh kim, các nhạc công đều mặc đồng phục màu đen pha xanh lá cây, màu tôi ưa nhất. Nhìn qua cửa sổ đây xuống dưới, tôi thấy rõ, Caecilia đã nắm chắc trong tay nó quyền điều khiển màn kịch đang mỗi lúc một trở nên hoành tráng ở dưới kia. Chốc chốc nó lại rỉ tai, nói gì đó vào tai con Amalia hoặc thằng chồng nó - gã chủ xưởng nút chai rượu vang - và hai đứa liền cun cút đi ngay vào trong nhà kính, hẳn là để thi hành một công việc nào đấy Caecilia vừa cắt đặt, song le, việc đó là việc gì thì tôi chịu, làm sao mà biết được. Nến thắp trong nhà kính có vẻ đã tắt ngấm cả. Bây giờ đến lúc bắt đầu tang lễ, phải làm sao nhắc mọi người ôn lại các hiệu lệnh, nhẩm lại vai. Giờ phút trọng đại của nữ đạo diễn đã điểm, tuy chưa phải lúc cao trào, nhưng tôi nghĩ bụng, cũng sắp rồi. Như để diễn tập lại lần cuối, các nhạc công xếp thành hàng trước khu nhà kính, rồi lại tản ra; đám thợ làm vườn và thợ săn, cũng như để diễn thử, đánh hai chiếc xe chở vòng hoa đến gần nhà kính. Và, như tôi thấy, mọi sự diễn ra theo đúng các hiệu lệnh của Caecilia. Đứng ngay sau lưng Caecilia là Amalia và gã em rể tôi. Dân tình kéo đến mỗi lúc một đông, từ nhà quản sự chui ra, từ khu nhà thợ săn đi dần sang hay từ dưới làng leo lên. Thế nhưng, chưa thấy mặt mũi ai trong số gọi là trọng khách cả, vâng, họ vẫn còn khối thời gian. Rốt cuộc, Caecilia cũng rảo bước về phía khu nhà chính, và đến lúc này, tôi hiểu, tôi phải rời khỏi đây xuống gặp ả. Trên đường đi xuống, tôi chạm trán bà cô ở Titisee. Chào hỏi bà qua loa xong, thì tôi lánh sang chỗ khác, và từ lúc ấy về sau, suốt buổi lễ tang, tôi cứ tìm mọi cách tránh mặt bà ta. Bữa điểm tâm đã được dọn sẵn trong bếp cho tôi tự lúc nào, và tôi - cùng gã em rể, chẳng biết từ chỗ nào thò mặt ra - ít nhiều vội vàng dùng cho xong bữa sáng. Vừa ăn sáng, tôi vừa để mắt dò xét gã em rể - xem gã với tay lấy khoanh bánh mì, nặng nề, chậm chạp phết hết bơ lại mứt lên miếng bánh - vừa thầm nghĩ trông gã sao mà đần độn, nhạt nhẽo thế. Thế nhưng, dò xét gã một hồi thì tôi cũng hiểu, hạng người như gã, thật ra, tuyệt nhiên chẳng có tội gì, khi họ suốt đời chỉ đần độn nhạt nhẽo. Cái ý nghĩ hạng người này chẳng tội tình khi họ xử sự đần độn, rỗng tuếch rỗng toác ruột gan như thế, cứ bám lấy tôi mãi một lúc, cho đến khi tôi sực tỉnh là tôi đã mê mải cùng ý này khá lâu và buộc mình phải thôi, không dò không xét, cũng không nghĩ ngợi gì thêm về chuyện này. Bởi vì, bỗng dưng tôi có cảm giác tôi không đứng đắn, không phải tôi không công bằng, mà đúng ra là không đứng đắn, khiến tôi điên tiết với cả chính mình. Ta chẳng nên dò xét người khác mãi, không nên xét nét người ta từng li từng tí, tôi nghĩ bụng, làm như thế, đã chả đưa đến đâu, đã chẳng lợi lộc gì, mà rốt cuộc, lại chỉ khiến tự khinh bỉ, căm ghét chính mình mà thôi. Caecilia bảo tôi, có lẽ tôi nên thắt chiếc cà vạt màu đen thì hơn. Tôi nghe lời nó, chẳng chống đối gì, bởi chính tôi cũng thừa nhận, nếu tôi đã không mặc âu phục màu đen thì ít nhất cũng đeo cà vạt đen để dự đám ma. Trước đó, tôi đã chọn và mang đôi giày đen vào chân, cũng như mặc bộ đồ màu xám lên người; bởi quả thực tôi không bao giờ có bộ đồ nào đen cả, và trong đầu chưa từng có ý định mua bộ màu đen nào cho mình bao giờ. Ngay cả trong hai ngày kinh khủng này cũng không. Caecilia bảo, tôi chỉ cần đeo cà vạt đen vào, là nó mừng rồi. Nói vậy, nó không tỏ vẻ độc địa gì, thậm chí ngược lại, có vẻ độ lượng là khác. Giờ đây, ả em gái tôi bỗng có vẻ rất độ lượng với tôi. Tôi nghĩ bụng, ả tỏ ra độ lượng với mình, vì ả đang cảm thấy rất tự tin trong việc ả sắp làm. Rất nhiều người, cả những người tôi không ngờ sẽ gặp ở đây, bỗng dưng xuất hiện trong bếp; ai nấy đều có vẻ muốn kiếm chút gì lót dạ, nhưng tôi không bắt chuyện với bất kỳ ai. Mặc dù ai cũng cho tôi là nhân vật chính trong mọi sự ở đây, riêng tôi không coi mình là nhân vật như thế. Mọi người trố mắt nhìn tôi, đầy soi mói, song tôi lập tức quay mặt đi. Lẽ ra, tôi nghĩ bụng, tôi cũng có thể bắt tay người này người kia thật đấy, nhưng tôi chẳng bắt tay ai. Làm sao mà tôi lại chìa tay cho ai trong số người ở đây bắt được, tôi nghĩ bụng, gì thì gì, chứ lúc này mà lại biến mình thành kẻ giả nhân giả nghĩa, thì tôi quả không có ý định thật. Tôi uống ly cà phê, ăn thêm mẩu bánh mì rồi bước ra ngoài gian tiền sảnh. Hai đứa em gái tôi đang đứng trò chuyện với tay Quận trưởng; tay này, tôi nghĩ bụng, mãi bây giờ mới thò mặt đến chia buồn. Các mẫu câu chia buồn quen thuộc, nhàm chán và vô duyên, thường vẫn được nói trong các lần viếng tang như thế này, hắn đã nói hết với các em tôi; vào lúc này, hai đứa chúng nó xử sự đúng như thiên hạ mong đợi, khác hẳn với tôi, tôi cứ bản tính tôi thế nào, tôi xử sự như thế, hoàn toàn không xử sự theo cách người ta trông đợi. Trong gian tiền sảnh, các em gái tôi còn phải tiếp một loạt khách khứa đến viếng, tôi nghĩ bụng, đủ loại người quyền cao, chức trọng, đủ loại chức sắc nghiêm trang. Tôi lui về một góc tối trước cánh cửa nhà thờ, lẳng lặng đứng ở đó, không cho ai nhận ra mình. Thôi thì cũng còn may, tôi tự nhủ, rằng không ai nhận ra tôi thật, bởi nếu không, cả đám người đám ngợm kia sẽ đổ hết cả về phía tôi, về phía anh con hai, chứ không xô về phía các em gái tôi, phía hai đứa con gái nhà chủ như thế. Do ai nấy bước vào đều đổ xô ngay về phía tụi em gái tôi, nên tôi được yên thân. Chốc chốc lại có người hỏi tôi ở đâu, nhưng hai em gái tôi không đáp - mặc dù, hay chính vì, chúng nó biết tôi đang đứng trước gian nhà thờ. Chúng nó không đáp, tôi nghĩ bụng, hẳn vì sợ tôi, sau buổi tang lễ, sẽ mắng mỏ chúng nó về tội bẻm mép, làm lộ cho khách khứa biết tôi ở đâu. Lúc đầu, đứng ở đây tôi còn hứng đếm xem có bao nhiêu khách đến, nhưng được một hồi, thì tôi cũng đâm chán, chẳng buồn đếm nữa. Vả lại, khách đông quá, đếm không xuể. Rốt cuộc, cả một bầy lũ lượt chen nhau vào, và đứng trong góc, tôi có thể thản nhiên quan sát họ. Thế nhưng, đám đông bỗng nhiên dãn ra hai bên, nhường chỗ cho Đức cha Giám mục thành Linz vừa đến có chỗ để bước vào. Tôi nghĩ bụng, lão này thì ta phải ra đón thôi, chẳng còn cách nào khác, tôi bèn bước đến chào Giám mục Linz. Đằng sau ông ta, Giám mục Salzburg đang đứng chờ sẵn rồi. Tôi phải đứng tiếp họ, không bỏ đi đâu được nữa. Rồi tôi đưa hai vị lên tầng trên, Spadolini láu cá, tôi nghĩ bụng, hẳn sẽ chờ đến phút chót mới ló mặt ra cho mà xem. Quả như thế thật. Tôi tán gẫu với các Đức cha Giám mục ít nhất phải nửa tiếng, mới thấy lão Spadonili, có Caecilia đi kèm, bước vào phòng. Các vị Giám mục chào đón Spadolini như thể y có vị thế cao hơn hẳn họ không bằng. Tức là, hai vị không đứng lên, mà nhảy bật dậy, để đón chào y. Thật là một dịp đáng buồn, vị Giám mục thành Linz nói, còn Spadolini thì dấp: vâng, một tai nạn kinh hoàng, rồi bọn họ lại ngồi cả xuống. Các vị nói chuyện với nhau, còn tôi chẳng có gì để góp. Họ quay sang nói về Rome, và câu chuyện rõ ràng gây ấn tượng mạnh đến các Giám mục người Áo. Đối với các vị, tất tật những gì Spadolini kể đều mới mẻ và Spadolini khôn ngoan cũng biết thừa, y phải kể những gì cho các vị Giám mục phải há mồm kinh ngạc. Lúc ấy, Đức cha trưởng tu viện Kremsmủnster cũng vừa đến, và không khách sáo kiểu cách gì, lão lẳng lặng ngồi xuống nhập bọn. Lão này người béo tốt, phốp pháp, dáng trông chả khác nào một tay chủ quán khá giả ở vùng Innviertel. Suốt nửa tiếng đồng hồ, Spadolini kể về Rome và Vatican; y kể, có thể nói, rất nhiều thứ, nhưng cũng lại chẳng kể gì. Rồi Caecilia mời các vị xuống dưới nhà. Dưới gian tiền sảnh, các Giám mục - mà người cầm trịch bây giờ rõ ràng là Spadolini hào hoa - cùng nhau đứng chờ Caecilia sẽ ra hiệu cho các vị biết, lúc nào họ sẽ sang nhà lánh, tức là để thực sự bắt đầu tang lễ. Ngoài các vị Giám mục, trong gian tiền sảnh không còn một ai. Đám đông đã kéo nhau sang hết bên nhà kính và đứng kín đến tận cổng khuôn viên, và có lẽ, kín cả lối dẫn xuống làng, khiến bây giờ khó lòng nghĩ đến đoàn đưa ma nữa rồi, vì hàng người đưa đám có lẽ đã đứng kín cả đoạn đường từ nhà kính đến tận nghĩa địa cũng nên. Theo luật, tang lễ không cử hành tại nhà thờ, mà trong nhà thờ dưới làng. Các vị Giám mục vẫn say sưa tiếp tục chuyện thành Rome, rồi chuyển sang chuyện Wolfsegg và sau cùng, họ mới quay sang tôi. Spadolini khéo léo tự giới thiệu mình là một trong những người bạn thân nhất của tôi, hay nói như lời y, người bạn gần gũi nhất của tôi ở Rome. Cũng theo lời y, từ nhiều năm nay, y là người bạn thân thiết của gia đình, y thường đến thăm Wolfsegg và hết sức cảm kích trước phong cảnh tuyệt vời, trước các lâu đài lộng lẫy cũng như cung cách sống tuyệt diệu ở chốn này, y nói với giọng phát âm đặc Ý của y. Các vị Giám mục người Áo hớp lấy hớp để từng lời y nói; đến rời mắt khỏi y, có lẽ, họ cũng không rời nổi. Y đóng trên người bộ quần áo, mà trong đời họ, có lẽ, họ chưa từng thấy bao giờ. Vai trò của tôi là vai thằng con, lòng dạ đau đớn tan vỡ, chưa kịp định thần sau tai họa đột nhiên sập xuống, và tự tôi, tôi cũng xem đây là vai diễn có lợi nhất cho tôi, bởi vì tôi hầu như không phải nói năng gì, chỉ cần để ý, để nếu có ai nhìn, thì gục đầu ra vẻ đau đớn lắm mà thôi. Nói vậy, không có nghĩa là mọi sự diễn ra ở đây không hề gây xúc động cho tôi chút nào, nhưng thực tình, tôi chẳng cảm thấy gì khác hon với các đám ma khác cả. Sự thật hiển hiên, rằng giờ đây chính gia đình tôi - bố mẹ tôi, anh trai tôi - bị đem đi chôn, cùng một lúc, không hề làm lòng tôi tan nát vì đau đớn, bởi vở kịch đã quá lớn, phình ra quá đồ sộ, để tôi có thể tự cho phép lòng mình đớn đau tan nát như thế. Lòng tôi chưa bị rung động, đổ vỡ, tan nát, rồi nó sẽ còn đến với tôi, tôi tự nhủ, khi mọi sự đã trôi qua rồi. Đứng cùng các vị Giám mục ở gian tiền sảnh tôi nghĩ bụng, vâng, cú sốc lúc mới đầu, tôi đã trải qua, nhưng sự rung động làm tan nát lòng dạ thì chưa, rồi nó sẽ đến sau. Các vị Giám mục tỏ ra khâm phục thái độ điềm tính của tôi, song, thái độ điềm tính đó không phải như họ tưởng, là thái độ tự kiềm chế mình trước tai họa kinh khủng, mà đó là thái độ tôi chọn cho vai tôi đóng. Dù đó là vai nhân vật làm tôi tởm lợm, nhưng tự tôi - ít nhất là cho đến thời điểm này - tôi cũng cảm thấy mình thủ vai của mình rất đạt. Một diễn viên, một khi thật sự giỏi, bao giờ cũng tự cảm nhận được, khi nào hắn đóng giỏi, tôi nghĩ bụng, chứ không cần có ai chỉ cho hắn thấy điều đó cả. Spadolini quả là đủ vô liêm sỉ đến mức, y có thể điềm nhiên khen ngợi thái độ điềm tĩnh tuyệt vời của tôi trước mặt các vị Giám mục kia. Mà chính là Spadolini, chứ không phải ai khác, là người chắc chắn phải nhìn thấu ruột thấu gan tôi, nhưng lại là người không ngớt xuýt xoa - theo một lối, mà dù ít dù nhiều, tôi chỉ lấy làm lánh tởm - với các vị Giám mục kia rằng, trong bối cảnh cả bố mẹ lẫn anh trai đều bị đem đi chôn cùng một lúc thế này, thì thái độ cư xử của tôi mới đáng ngưỡng mộ làm sao. Rõ khỉ, tôi chỉ xử sự, chỉ giữ thái độ điềm tính đúng như vai diễn của tôi, chứ có làm gì hơn. Đến đây thì Caecilia mời quý vị Giám mục cùng sang bên nhà kính. Ở đấy người ta đã đậy nắp các quan tài và khênh chúng đặt lên xe. Các Giám mục đi theo ba cỗ quan tài, mỗi cỗ đặt trên một xe song mã, không xe nào được trang trí hoa hoét gì, nhằm tạo ra vẻ khô khan khắc khổ đúng như trong kịch bản đám ma đã định sẵn. Các xe tang từ từ lăn bánh, theo sau là các Giám mục, rồi đến tôi cùng hai đứa em gái và đằng sau chúng tôi là đám bà con họ hàng, tất nhiên, do anh Alexander dẫn đầu. Tiếp sau đám bà con họ hàng, đúng như tôi đã e ngại, là bọn cựu thủ lĩnh Quốc xã, Gauleiter, cùng tụi quan chức Quốc xã cao cấp hôm xưa - bọn người mà tôi, phải thú thật, vẫn vừa kinh tởm, vừa kinh sợ từ xưa đến giờ ấy. Bọn chúng kéo đến cả đây, với đầy đủ các loại huân chương Quốc xã gắn ngông nghêng trên ngực, xếp thành hàng kế tiếp đám này là nhóm các hội viên của cái gọi là Hội chiến hữu Kameradschaftsbund, một hiệp hội bao gồm rặt các cựu chiến binh nặng đầu óc Quốc xã. Tiếp theo đó là các nhóm người khác nhau nữa. Người đông phải đến mấy trăm, đứng nối đuôi nhau gần hết cả đoạn đường, cho nên cái gọi là đoàn đưa ma, thật khó mà nhúc nhích lên được, cần phải nói ngay, Caecilia em gái tôi phải khéo sắp xếp lắm - bằng cách cho dồn đám đông trong vườn, một phần ra sau nhà quản sự, phần khác ra trước ngôi biệt thự trẻ thơ - thì mới mở lối cho các xe tang tiến lên được. Đương nhiên, lúc đầu các xe tang chỉ lăn từ từ xuống làng được thôi, không thành hẳn đoàn đưa ma có xe tang dẫn đầu, mà diễu qua người xem đứng hai bên đường. Chẳng còn cách nào khác hơn, dân chúng đành dạt sang hai bên con đường rải đá dăm cho mấy chiếc xe tang chở các cỗ quan tài chậm rãi lăn qua. Đến lúc này, có lẽ Caecilia mới thở phào, vì nó sắp xếp thế mà được, mọi sự có vẻ ổn, bởi đám rước đưa ma rốt cuộc cũng thành hình và nhích dần lên phía trước. Nhưng, đi cạnh tôi, ả vẫn chưa hết bồn chồn, tôi còn cảm giác toàn thân ả đang run lên, bởi bây giờ ả cũng bị cuốn vào đoàn đưa ma, chứ không còn cầm cương, cầm trịch cai quản nó được nữa. Song le, ả chẳng cần phải lo lắng gì, mọi sự đều chạy êm ru, dù đám đông có lên tới hàng trăm thế này. Thậm chí còn đông hơn, tôi nghĩ bụng, nếu số người dự một đám ma rất bình thường nào đấy ở quê bao giờ cũng phải ngót nghét trăm mạng, thì số đến dự đám tang nhà tôi hôm nay phải lên cả ngàn chứ không ít Như đã định trước, Đức cha Tổng Giám mục Salzburg sẽ làm thánh lễ cầu nguyện. Trong lúc tai nghe ông ta đọc kinh cầu nguyện, tôi nghĩ - mắt vẫn nhìn không rời các cỗ quan tài hiện đã kê cả trước bàn thờ - tôi rút khỏi Giáo hội đã hơn hai chục năm rồi, thì bây giờ, tôi có thể tự cho phép mình thản nhiên quan sát xem tang lễ sẽ được cử hành trong nhà thờ này ra sao. Gia đình tôi đã không bao giờ tha thứ cho tôi về cái tội thoát ly khỏi Giáo hội; có lẽ, tôi nghĩ bụng, đó cũng là lý do chính khiến cả nhà nguyền rủa tôi. Nhưng tôi đã thoát ly khỏi Nhà thờ đúng vào thời điểm, mà về mặt tinh thần, cũng hệt như lúc này đây, chẳng còn gì gắn bó tôi với Nhà thờ nữa cả. Vả chăng, tôi cũng không bao giờ còn muốn gắn bó với nó nữa. Các vị Giám mục đây, tất nhiên, đều biết tôi đã rút khỏi Giáo hội hơn hai chục năm nay rồi. Việc tôi thoát ly khỏi Nhà thờ Thiên chúa giáo từ rất sớm và việc tôi không còn gắn bó gì với nó nữa khiến tôi cảm thấy dễ chịu suốt buổi lễ cầu nguyện. Suốt buổi, tôi cứ nghĩ, ta chứng kiến màn kịch huy hoàng choáng lộn này, nhưng nó lại chả liên can gì đến ta, ta hít thấy mùi hương thơm nghi ngút nơi đây, nhưng nó không còn mê hoặc ta được nữa. Ta nghe những lời cầu nguyện, nhưng chúng không còn hủy hoại ta được nữa. Suốt hàng chục năm, suốt thời thơ ấu của cũng như quãng đầu thời niên thiếu, tôi tự nhủ, ta khiếp sợ tất cả những ai thuộc giới chức sắc Thiên chúa giáo, giờ thì ta không còn khiếp sợ họ nữa. Bởi không việc gì ta phải khiếp sợ họ nữa cả. Màn kịch thật tuyệt vời, tôi nghĩ bụng; tuy vẻ hoành tráng của màn kịch dù sao cũng có làm ta khó chịu, nó vẫn chẳng đe dọa gì ta. Đằng nào thì ta cũng vĩnh biệt cả bố mẹ lẫn ông anh ta rồi, ít nhiều ngắn gọn và dứt khoát, ngay từ khi ta nhận được bức điện tín rồi cơ mà, tôi tự nhủ. lang lễ này chỉ còn là một tấn bi kịch mang tên buổi tiễn đưa cuối cùng họ buộc ta phải đóng, chứ nói cho đúng, ta căm ghét nó, bởi nó là một vở bi kịch giả dối. Song, tôi nghĩ bụng, bi kịch nào chả giả dối. Có điều, loại bi kịch đang diễn ra đây là thể loại giả dối nhất. Một đám tang kiểu như thế này chính là một bi kịch tuyệt vời nhất vậy; chưa một kịch tác gia nào, đến như Shakespeare cũng chưa, tôi nghĩ bụng, viết nổi một bi kịch tuyệt đến mức này. Lắng nghe và ngắm nhìn vị Tổng Giám mục Salzburg đọc kinh cầu nguyện cũng như đám đông người ngợm tụ tập trước mặt lão, tôi nghĩ bụng, toàn bộ các vở bi kịch của nền văn chương thế giới đều trở nên lố bịch so với cảnh tượng này. Thật may là tôi đã sớm thoát ly khỏi Giáo hội Thiên chúa giáo. Tôi ngồi ngay hàng ghế đầu, bên trái tôi là Caecilia, bên phải tôi - Amalia, và đúng như quy định, ngồi cạnh Amalia là anh Alexander, Spadolini ngồi ở chỗ mọi khi các linh mục vẫn ngồi - cùng với Tu viện trưởng tu viện Kremsmunster, và các Giám mục Linz cũng như Sankt Polten - nghĩa là chỗ sang trọng, ngay cạnh bàn thờ và tách hẳn khỏi khối bình dân. Spadolini mới là diễn viên chính của toàn bộ vở kịch, tôi nghĩ bụng, chứ không phải vị Tổng Giám mục Salzburg đang làm lễ kia. Đến cuối buổi lễ, vị này chuyển sang nói đôi lời về những người đã khuất. Lão nhắc đến bố tôi, người bạn đã qua đời một cách thương tâm, đến người mẹ giàu tình thươnganh con trai cũng giàu tình thương như thế. Cánh Giám mục có một kiểu nói kỳ khôi của riêng họ, tôi nghĩ bụng, họ nói gì cũng như hát thánh ca. Gọi là đi học ở các chủng viện, nhưng thật ra họ đi học các lớp đào tạo diễn viên của Nhà thờ Thiên chúa giáo, tôi nghĩ bụng. Ngay cả các linh hồn khá chân thật trong số Giám mục, như các vị Giám mục Salzburg hay Linz, cũng đều nói như hát cả, như thể họ là các diễn viên có qua trường lớp, học hành đến nơi đến chốn. Thế nhưng, dù sao họ cũng mới chỉ là các diễn viên có tiếng tăm và được mến chuộng ở tỉnh lẻ thôi, chứ không như Spadolini. Mỗi lời nói của y, mỗi cử chỉ, mỗi động tác của y đều bộc lộ thiên tài diễn xuất phi thường, trên tài tất cả các diễn viên tỉnh lẻ kia; hay nói cách khác, y là hiện thân tối thượng của nghệ thuật sân khấu Thiên chúa giáo trên đời. Lúc này, y như đang đóng vai một người chìm sâu trong im lặng, tôi nghĩ bụng; y ngồi gục đầu trên chiếc ghế băng dành riêng cho y và biết cách huy động năng khiếu diễn viên của mình vào vai y đang diễn, tôi nghĩ bụng, cũng như y thật có tài khi thủ vai Tổng Giám mục. Trong ngôi nhà thờ của làng chúng tôi, việc y từ Rome đến đây còn tạo thêm cho y một vòng hào quang, vâng, vòng hào quang chói lọi. Mọi người có mặt trong nhà thờ, ai nấy đều kinh ngạc và ngưỡng mộ y, vị Tổng Giám mục từ Rome về, chứ không phải họ ngưỡng mộ lão Giám mục Salzburg chủ trì tang lễ. Đứng cạnh Spadolini, vị Giám mục này, muốn hay không muốn, trông càng ngây ngô hơn, vâng, thậm chí thô lậu hơn vẻ ngây ngô thô lậu ông ta vốn vẫn có. Sau lễ cầu nguyện, ban nhạc làng chơi đúng bản nhạc Haydn chiều hôm qua họ tập; họ chơi thong thả, và theo tôi, hình như cũng không sai nốt nào. Nhìn bộ dạng Spadolini, tôi nghĩ, suốt buổi lễ có lẽ y chọn vai trầm ngâm, đến ngước mắt nhìn lên một lần, y cũng không. Hai tay chắp trước ngực, trông y như đang chìm đắm trong nỗi đau buồn, và khi nghe nhắc đến mẹ tôi, thì nỗi đau buồn của y có vẻ cũng không phải nỗi đau buồn kịch cọt, mà đau buồn thật sự. Song, cảm giác đó chỉ thoáng qua thôi, chứ quả thật, y diễn vai của y không chê vào đâu được. Nhìn y trong tư thế này, thật tình mà nói, tôi phục y sát đất, tôi khâm phục diễn viên Spadolini tài ba; có lẽ, tôi không còn biết diễn viên nào giỏi hơn, không biết diễn viên nào cố khả năng, như người, ta vẫn nói, chinh phục khán giả giỏi như y. Tôi bỗng nhớ đến nhiều chuyến du ngoạn y từng đi với mẹ tôi, cả những chuyến có tôi đi cùng với hai vị. Spadolini, con người biết biến tất cả các chuyến đi đó thành những chuyến tiêu khiển, hay nói đúng hơn, phù phép biến chúng thành những chuyến du ngoạn thần tiên theo cách của riêng y! Giờ đây, tôi nhìn thấy y rõ mồn một trước mắt mình - người đàn ông quý phái, hào hoa, đầy quyến rũ, người đàn ông làm mẹ tôi chết mê chết mệt ấy! Trong lúc tôi nhìn y - chứ không phải Tổng Giám mục Salzburg - tôi cũng thấy hiện lên trước mắt tôi hình ảnh y đi giữa thành Rome, đến các cửa hiệu tinh tế tuyệt vời nhất, vào các quán ăn đắt tiền nhất, hình ảnh y ra vào những nơi đó ra sao, hình ảnh y trên đồi Pincio hay trong khu vườn Borghese, hình ảnh y rạng rỡ tại các buổi tiếp tân ở sứ quán nước này, sứ quán nước khác hoặc, nói như thiên hạ, nổi trội tại các buổi khai trương triển lãm này, triển lãm nọ, những nơi mà người người chen chúc, thi nhau sán đến bên vị Đức cha Nhà thờ Thiên chúa giáo hào hoa, con người tự xưng làm Tổng Giám mục và Sứ thần Tòa thánh, con người giao du rộng với hàng trăm bạn hữu trên toàn cầu ấy. Spadolini, tôi nghĩ bụng, con người được mẹ tôi bao hết, không những chỉ các chuyến du ngoạn đó, mà cả hai chuyến sang Mỹ, một lần sang Cauo theo ước nguyện của y, một lần đi thăm Persepolis và một chuyến sang Tunisia, bởi y tha thiết, âu cũng một lần trong đời được ngắm Carthago. Phần lớn quần áo trong tủ của y đều do mẹ tôi sắm, đã thế, bà còn chi tiền, cho xây lắp và mua tặng hẳn y cả một thư viện đàng hoàng. Spadolini, con người duy nhất trên đời có thể cầm một quyển sách, hay một ly rượu vang trên tay, một cách trang nhã đến thế; Spadolini, con người được cả các phu nhân thuộc giới gọi là giới quyền quý lẫn đám quan chức cộng sản thuộc Tòa thị chính thành Rome xúm xít vây quanh mỗi khi có dịp, con người đôi tuần một lần lại được viên Thị trưởng cộng sản của thành phố thân mật mở tiệc khoản đãi ấy! Spadolini - con người thư từ qua lại với đủ hạng người trên thế giới và tinh thông từ trong ra ngoài cả Vatican lẫn thành Rome - thành phố đã tôn sùng y, đã đưa y lên thành Đức cha Spadolini đáng kính và được người người ngưỡng mộ đến vậy. Tôi đưa mắt nhìn sang quan sát y, như người ta thường vẫn quan sát khi đứng gần các, diễn viên xuất chúng, muốn xem xét và học nhập tâm từng động tác của họ. Diễn xuất của y, tôi nghĩ bụng, rõ ràng đạt trình độ tuyệt đỉnh cao siêu của nghệ thuật kịch. Y không hề tỏ ra yếu đuối, y không cho phép mình phạm bất kỳ sai sót nào, dù chỉ rất nhỏ: Cũng như trên sân khấu, các vai khó nhất bao giờ cũng là các vai không nói năng gì, chứ không phải các vai nói nhiều, các vai ba hoa chích chòe, cho nên, trong màn kịch ở đây, tôi nghĩ bụng, Spadolini đã chọn đóng vai khó nhất đó, với bộ trang phục do chính tay y chọn, cũng là bộ hợp nhất, tuyệt vời nhất cho màn kịch này. Tôi nghĩ bụng, nhìn Spadonili, người ta không nhất thiết phải yêu mến y ngay, nhưng không thể không đem lòng kính nể y ngay lập tức. Đúng vậy, ai trông thấy Spadolini đều lập tức bị rơi vào vòng quyến rũ của y. Gambetti có lần bảo tôi, theo anh ta, Spadolini là một diễn viên khác thường nhất trong tất cả các diễn viên, và cũng là diễn viên có sức quyến rũ, mê hoặc mạnh nhất trong số diễn viên anh ta biết trên thế giới này. Và, thật đáng tiếc, rằng y chỉ diễn trong Nhà thờ Thiên chúa giáo, chứ không thủ vai nào ở các nhà hát hàng đầu nước ta. Nếu Spadolini diễn cho các nhà hát ngoài đời, thì chẳng đạo diễn nào phải chỉ bảo thêm cho y nữa, Gambetti nói, y tinh thông thành thạo hết rồi, y nắm hết mọi chi tiết, thủ thuật rồi. Chính y đã là tất cả rồi! Tôi nhớ lại những lời nói đó của Gambetti, lúc mắt tôi vẫn không ngừng liếc chéo sang quan sát Spadolini, vâng, tôi phải nói, tôi thản nhiên quan sát mỗi mình y, chẳng chút để tâm đến mọi sự xung quanh. Đúng như kịch bản lễ cầu nguyện, tôi đứng lên theo mọi người, ngồi xuống cũng theo mọi người, nhưng thật ra, lúc nào tôi cũng chỉ quan sát và ngưỡng mộ nghệ thuật diễn xuất của độc mỗi Spadolini thôi. Cứ như thể, cũng như mọi khi, tôi lại bị mê hoặc bởi tài nghệ của y. Tôi có cảm giác, như thể một diễn viên vĩ đại nhất của thời đại vừa đặt chân đến đây - cái xó xỉnh hẻo lánh, chẳng ma nào biết nằm đâu và cũng không hề giữ vai trò hay mang ý nghĩa gì trên thế gian này - để đóng vai Hamlet nặng màu Thiên chúa giáo. Sau khi buổi cầu nguyện kết thúc, các cỗ quan tài được khênh ra khỏi nhà thờ. Trước hết là áo quan bố tôi, sau đó đến áo quan mẹ, và sau rốt - áo quan Johannes. Thật tình, đầu gối tôi bỗng run run muốn quỵ lúc mấy tay thợ làm vườn khênh cỗ áo quan đựng thi thể Johannes từ trong nhà thờ đi ngang qua trước mặt tôi ra ngoài. Họ khênh rất khéo, như thể họ rất quen, ngày nào cũng khênh áo quan không bằng. Cánh thợ săn khênh áo quan bố mẹ tôi từ trong nhà thờ ra ngoài, còn áo quan Johannes - đúng theo lời tôi đã khăng khăng đòi - lại do thợ làm vườn khênh. Caecilia không khóc, còn Amalia, thì tôi không nhìn thẳng được vào mắt ả. Gã chủ xưởng nút chai rượu vang, em rể tôi, cắn răng, miễn cưỡng làm bộ mặt đưa đám một cách vụng về cho qua chuyện. Gã quả là nhân vật lạc lõng trong toàn bộ màn kịch này, và bây giờ, sự lạc lõng ấy lại càng lộ hẳn ra hơn bao giờ hết. Ai nấy đều giương mắt, phần nhìn về phía tôi, phần hướng về phía Spadolini. Đương nhiên, Caecilia bắt chồng ả, gã em rể tôi, chứ không bắt tôi, phải đỡ tay cho ả bước cạnh tôi ra khỏi nhà thờ. Amalia đi cạnh tôi. Nhìn ả, tôi nghĩ bụng, từ mấy ngày nay, nó đã quen với dáng đi lúc nào cũng gục đầu xuống đất rồi. Các gương mặt mang vẻ giễu cợt của chúng nó mới đầu chuyển sang vẻ cay đắng, bây giờ thì mang vẻ đau buồn. Trong hai đứa, tất nhiên Caecilia có vẻ tự chủ hơn; Amalia trông vẫn trẻ hơn tuổi rất nhiều, tôi nghĩ bụng, thế nhưng trông ả chẳng bao giờ thấy hấp dẫn cả. Chính thế, cho nên đến tận giờ ả vẫn một thân một mình, tôi tự nhủ, đến tận giờ vẫn chẳng thằng đàn ông nào để ý đến ả, ngay đến như một thằng mạt hạng như thằng chủ xưởng nút chai rượu vang cũng không. Trong giây phút, tôi đã thoáng một chút thương hại Amalia, thế nhưng rồi tôi lại phải ngao ngán nghĩ đến cung cách vụng về hậu đậu của ả ở mọi nơi mọi chốn. Ả sẽ chẳng bao giờ hạnh phúc, tôi nghĩ bụng, đến mãn nguyện cũng không. Nhưng Caecilia cũng vậy thôi, ngay bây giờ ả đang vịn tay kẻ tượng trưng cho nỗi bất hạnh của chính ả đây thôi, tôi nghĩ bụng, rồi nhìn sang gã chủ xưởng nút chai rượu vang bên cạnh tôi, nhìn sang gương mặt một kẻ thuộc hạng trung bình dưới, tôi nghĩ - ý nghĩ tôi không sao gạt khỏi đầu mình được - vâng, ý nghĩ về một kẻ đã tìm được cách luồn lách vào Wolfsegg. Ban nhạc làng lại chơi bản nhạc Haydn, chơi còn khá hơn hồi nãy, tôi nghĩ bụng. Đoàn người đưa ma nhúc nhích tiến về phía nghĩa địa, còn chậm hơn khi tiến về phía nhà thờ lúc nãy. Tôi bao giờ cũng ghét cay ghét đắng các đoàn đưa ma, nhất là những đoàn có kèm nhạc. Tôi nghĩ bụng, không khéo tất cả các bất hạnh ở đời này đều từ các đám rước đưa ma này mà ra cũng nên. Cái ý nghĩ luẩn quẩn trong đầu, rằng sau lưng tôi vài bước là hai tên cựu Gauleiter xưa kia của vùng Danube ThượngDanube Hạ - bọn người từng làm vấy bẩn ngôi biệt thự trẻ thơ và, nói cho cùng, đã hủy hoại nó mãi mãi - làm tôi kinh tởm. Theo sau bọn cựu Gauleiter là lũ hội viên Kameradschaftbund, một số trong bọn phải chống nạng - tụi cựu chiến binh và cựu công thần Quốc xã mang huân chương huyết thống từng xông pha trận mạc xả thân cho các lý tưởng quốc gia xã hội chủ nghĩa đáng kinh tởm của chúng. Và, ngay sau đám này, như Caecilia kịp rỉ tai tôi ngay trước khi đoàn đưa ma cất bước, là anh bạn thời sinh viên, anh bạn tri kỷ Eisenberg của tôi - vị giáo sĩ Do thái thành Wien ấy; chốc nữa, tôi nghĩ bụng, sau đám ma, mình phải gặp anh mới được. Đoàn đưa ma kiểu này thật quái gở. Đoàn đưa ma như thế này thật là lố bịch. Một đoàn đám ma như thế này không những là một cực hình, mà còn là một trò hề nhạt nhẽo và vô duyên kinh khủng, tôi nghĩ bụng. Tôi thừa biết, không ai đi trong đoàn đưa ma này nghĩ như tôi, chẳng ai dám nghĩ như tôi, chẳng ai ngờ tôi có thể nghĩ như thế, mà ngược lại, giá họ biết tôi hay nghe tôi nghĩ gì, thì chắc chắn ai cũng sẽ bảo, chính tôi mới là kẻ vô duyên, nhạt nhẽo nhất ở đây. Vâng, tôi nghĩ bụng, rất có thể tôi là kẻ vô duyên, nhạt nhẽo nhất thật. Song, tôi chẳng hề thấy hổ thẹn chút nào, đến tận cửa nhà mồ còn để ngỏ cũng chưa thấy hổ thẹn gì. Có lần tôi đã bảo Gambetti, khi ta đứng bên một nhà mồ còn để ngỏ nào đó, trong lòng ta chỉ còn sự phản phúc mà thôi. Sự quái dị của toàn bộ cảnh tượng này càng trở nên rõ rệt trong tâm khảm tôi, lúc lão Tổng Giám mục Salzburg bước tới bên nhà mồ còn để ngỏ đặng nói đôi lời điếu. Vừa mở mồm, lão đã ca tụng bố tôi, chứ không phải ai khác cả, là chiến binh dũng cảm giàu danh dự. Lão chỉ nhắc đến bố tôi, không một lời đến mẹ tôi, đến Johannes cũng không, song không phải do cố tình, mà do quên, do kiêu ngạo, do thói ích kỷ và ngạo mạn của đàn ông mà thôi. Mười hai tên cả thảy, đã cất lời điếu bên nhà mồ, mười hai gã đàn ông nhất nhất đều tự xưng là bạn thân của bố tôi, mặc dù chúng, tất nhiên, chưa bao giờ là bạn ông cả. Nhưng, cả Tổng Giám mục Salzburg lẫn hai Giám mục Sankt Polten và Linz, cả hai tên cựu Gauleiter lẫn hai cựu sĩ quan SS hàm trung tá, cả lão gọi là hội trưởng Hội chiến hữu Kameradschaftsbund, lẫn Chủ tịch Hội thợ săn đều quả quyết như thế. Suốt một tiếng đồng hồ liền, bố tôi bị đúng bọn người - mà thường ngày, lẽ ra chúng sẽ chẳng bao giờ dám huênh hoang như thế - lôi ra làm người bạn thân thiết nhất của chúng. Thế nhưng, cũng theo tục lệ của các đám ma, không ai bác lại chúng. Các cỗ áo quan đã được đưa vào nhà mồ từ lâu. Cuối cùng, cũng đến lượt Spadolini bước lên trước và tôi đã tường y cũng sẽ nói đôi lời gì đó, nhưng làm như thế, hẳn sẽ phản ngược với bản tính của y. Y bước lên trước, rồi lùi lại ngay, như thể muốn quay lại giữ vai trò kín đáo tuyệt đối của mình vậy, song đó lại là một hành động cực kỳ giả dối, bởi chính y, y cũng thừa biết y đang là trung tâm chú ý của mọi người suốt buổi đưa ma này. Không hề tỏ ra mình tự hạ thấp mình, y đứng lẫn vào đám đông đang chen chân nhau bước tới bên cửa nhà mồ. Chà, tôi nghĩ bụng, suýt nữa mình lại đánh giá nhầm về y. Lúc đầu tôi cho lời điếu của lão gọi là Hội trưởng Hội chiến hữu Kameradschaftsbund có vẻ đểu cáng, vâng, thậm chí còn bỉ ổi, khi lão ngang nhiên bảo bố tôi suốt đời cống hiến cho các mục tiêu của Hội chiến hữu. Vâng, mấy phút đầu tôi đã nghĩ lời điếu của lão Hội trưởng này thật đểu cáng và bỉ ổi, nhưng sau đó chẳng bao lâu, tôi phải thừa nhận, lão Hội trưởng ít nhiều củng đã nói lên sự thật. Cả Chủ tịch Hội thợ săn cũng nói sự thật, tôi tự nhủ, cả hai tên Gauleiter cũng không bịa đặt. Phải, bố tôi - vốn là một cựu đảng viên Quốc xã - cũng chính là người chung hàng ngũ với chúng, ông vốn cùng hội cùng thuyền với tất cả những kẻ đã nói lời điếu ở đây. Suốt buổi, tôi cứ tự hỏi đi hỏi lại trong bụng, không lẽ bọn này không thấy ngượng ngùng chút nào sao, khi tên nào tên nấy đều quên bẵng, không nhắc đến mẹ tôi lấy một lời. Đứng bên cửa nhà mồ, tôi còn cằn nhằn với Caecilia, chẳng ma nào chịu để ý, nói đôi lời về mẹ. Cả lũ nói lời điếu đều là bọn đàn ông, tôi nghĩ bụng, bọn đàn ông ấy không thèm để ý đến mẹ tôi. Còn Johannes vốn đã là một nhân vật mờ nhạt, không đáng kể, do cái chết đến sớm, anh tôi càng tự biến mình thành nhân vật nhạt nhẽo và vô giá trị. Ngoài chuyện người ta cho khênh quan tài anh rồi nhét vào nhà mồ thì chẳng còn gì đáng nói nữa cả. Bố tôi vốn là nhân vật có máu mặt, còn có thể lợi dụng được, và cả bọn đến bên nhà mồ cất lời ai điếu quả nhiên đã lợi dụng tên tuổi ông thật. Chỉ có một mình bố tôi mới đáng để bọn họ lợi dụng lần nữa thôi, tôi nghĩ bụng, chứ mẹ và anh trai tôi thì không. Lão Tổng Giám mục Salzburg và các Giám mục khác thay nhau ngó nhìn lần nữa vào nhà mồ rồi rút đi. Rồi theo tục lệ xưa nay, đến lượt người nọ nối người kia lần lượt diễu qua trước mặt anh em chúng tôi. Từ một trăm hai mươi hai thợ đốn gỗ, giờ chỉ còn hai chục, từ hai tá thợ làm vườn giờ chỉ còn sót có bảy mống, đứng bên cửa nhà mồ để ngỏ, tôi nghĩ bụng. Thiệt hại khủng khiếp về các khu rừng phía bắc, kéo xuống tận Gallspach, tôi nghĩ, chỉ riêng cái gọi là chiến dịch hợp nhất đất đai đã làm mất ba mươi hai hecta đất hạng nhất, khiến bố tôi phát điên hàng tuần lễ liền. Tôi lại nhớ đến vụ lậu thuế kếch xù do tay tư vấn thuế ở Weis gây ra. Cái cách thằng cha này cất tiếng phát âm từ Wolfsegg mới làm tôi khó chịu làm sao; ngay cả cách nói của những người khác ở Weis, ở Linz, ở Vocklabruck hay Ebensee cũng đều làm tôi khó chịu không kém. Đứng bên nhà mồ còn để ngỏ, tôi nghĩ, vâng, tôi đã ghét cay ghét đắng cái từ Wolfsegg ấy, ghét bỏ, ghê tởm cả những gì liên quan, dính dáng đến cái từ đó. Do đó, ngay từ lúc còn nhỏ, tôi đã ghét Wolfsegg và những gì dính dáng đến Wolfsegg. Wig, tôi nghĩ bụng, thật sự là như thế. Từ trên Wolfsegg đi xuống dưới làng và đồng quê, lòng dạ kẻ này giả nhân giả nghĩa thế nào thì tâm địa kẻ khác, từ dưới làng, dưới cánh đồng quê đi lên Wolfsegg cũng giả dối, lừa lọc y như thế. Ngay từ rất sớm, tôi đã thu mình né tránh tất cả bọn họ, vẫn đứng bên nhà mồ để ngỏ, tôi nghĩ bụng. Toàn bộ Wolfsegg chỉ là một vụ lừa đảo lớn, tôi nghĩ bụng, một mưu đồ tội lỗi kéo dài suốt cả thế kỷ nay. Mới đầu tôi kinh sợ, nhưng về sau tôi căm ghét Nhà thờ, tôi nghĩ bụng, tất tật những gì từ Nhà thờ tung ra, mới đầu tôi đều kinh sợ, sau đó chuyển thành căm ghét, niềm căm nỗi ghét ngày một thêm sâu sắc. Nói cho cùng, đứng bên nhà mồ còn mở tôi nghĩ bụng, Nhà thờ vẫn khống chế tất tật mọi thứ trên đất nước này, tất tật mọi thứ trong Nhà nước này. Giáo hội Thiên chúa giáo vẫn nắm trong tay mọi thứ của đất nước và Nhà nước này, bất kể là ai đang cầm quyền cũng vậy thôi. Đâu đâu cũng rặt một lũ Giám mục Thiên chúa giáo giả nhân giả nghĩa, chuyên bịp bợm, lừa đảo, tôi tự nhủ. Ta không muốn dính dáng gì đến mọi thứ đó, ta tự nhủ, mọi thứ đó đều làm ta tởm lợm. Trên đất nước này, trong Nhà nước này, tôi nghĩ, vẫn không có gì thoát khỏi ảnh hưởng của giới tăng lữ. Phải thoát, phải thoát khỏi tất cả những thứ đó, tôi tự nhủ, tôi chẳng có suy nghĩ nào khác nữa cả. Thôi đành cứ để đám ma này trôi qua, tôi nghĩ bụng, rồi mình sẽ trốn biệt, trốn mãi mãi. Tôi thấy rõ rành rành rằng ai cũng ghét tôi, chẳng ai thèm che giấu nỗi thù ghét ấy. Các mối quan tâm triết học một đường, sự lãnh đạm về triết học một đường khác. Một thứ sùng bái nghệ thuật gây buồn nôn, tôi nghĩ bụng. Dân ở Rome cũng chẳng khác gì, còn giả nhân giả nghĩa gấp bội phần, nhưng giả nhân giả nghĩa ở mức độ tri thức mới cao làm sao! Vài trăm người chưa đủ, phải vài triệu, tôi nghĩ, vài triệu người giả dối chứ không chỉ vài trăm, vài triệu kẻ đáng tởm chứ chẳng phải vài trăm, tắm một lượt trong cái gọi là bồn tắm trí tuệ ở một đô thành như Rome rồi lặn tăm đi trong bồn tắm đó, tôi tự nhủ. Tôi nghe tiếng chân những kẻ tôi căm ghét, tiếng nói lũ người tôi ghê tởm, tôi thầm nghĩ khi đứng bến nhà mồ còn để ngỏ, bọn đáng tởm nhất trong số những kẻ tôi căm ghét. vâng, đám ma này sẽ là điểm chốt cuối cùng. Bọn chúng chẳng những đã làm vấy bẩn ngôi biệt thự trẻ thơ của tôi, chúng còn làm vấy bẩn mọi thứ của tôi. Thoạt đầu, tôi kinh hãi cuộc sống, tôi nghĩ khi đứng bên nhà mộ, nhưng về sau, tôi căm thù nó. Và, khi ta tưởng Rome sẽ là lối thoát, thì tất nhiên, ta cũng nhầm nốt. Ta bấu víu lấy một con người như Gambetti, một người có lẽ tôi cũng hủy hoại mất rồi ấy, hay bám lấy một người như Maria, nhưng rồi đến cả họ cũng chẳng cứu được ta, tôi đứng bên nhà mồ còn ngỏ và nghĩ bụng. Bây giờ đứng đây, bên nhà mộ, tôi nhớ tôi đã bảo với Gambetti lúc đứng trước khách sạn Hassler, này Gambetti, anh biết không, nếu ta thật sự thành thật với chính mình, thì ta phải thừa nhận rằng tiến trình ngu muội hóa nhân loại đã tiến xa đến mức không còn đường tháo lui nữa rồi. Cùng với sự phát minh ra nhiếp ảnh, tức là cùng với sự khai trương quá trình ngu muội hóa đó cách đây hơn một trăm năm, trí tuệ của nhân loại chỉ còn xuống dốc đều đều mà thôi. Nhiếp ảnh, với các bức ảnh do nó tạo ra, tôi bảo Gambetti, đã khai mào tiến trình ngu muội hóa trên toàn cầu, và hiện nay nó đã đạt tới một tốc độ thật sự gây chết người cho nhân loại khi các tấm ảnh đó cũng bắt đầu chuyển động. Từ hàng chục năm nay đến giờ, nhân loại đờ đẫn, ngu muội, không còn ngắm nghía thứ gì khác ngoài mấy tấm ảnh chết người đó và dường như bị chúng làm tê liệt cả một lượt. Ở buổi giao thừa của thiên niên kỷ này, Gambetti ạ, con người sẽ không thể tư duy được nữa, và quá trình ngu muội hóa - do nhiếp ảnh khơi mào, và thông qua các tấm ảnh biết chuyển động, biến thành thói quen của nhân loại toàn cầu ấy - sẽ lên đến tột đỉnh cao trào. Thật khó lòng có thể tồn tại nổi trong một thế giới bị sự ngu muội thống trị như thế, Gambetti ạ, bây giờ đứng bên nhà mồ còn ngỏ, tôi nhớ, tôi đã nói với anh ta như thế. Và, trước khi quá trình ngu muội đó kịp bao trùm lên toàn thế giới, thì ta nên tự vẫn là tốt hơn cả. Cứ xét như thế, thì cũng hết sức là hợp lý thôi, nếu vào lúc chuyển sang thiên niên kỷ mới, những ai do có tư duy hay nhờ có tư duy mà tồn tại và sống sót ở đời này, đều đã tự vẫn cả rồi, Gambetti ạ. Bởi thế, lời khuyên của tôi dành cho những ai biết tư duy chỉ có thể là, các vị hãy tự vẫn trước khi chuyển sang thiên niên kỷ mới. Đứng bên nhà mồ, tôi nhớ tôi đã bảo Gambetti, đó quả là niềm tin chắc chắn của tôi. Suốt buổi, trời chỉ chực mưa, nhưng rồi vẫn không mưa được. Tôi định bụng, không bắt tay một ai trong số diễu qua trước mặt tôi lúc này. Và quả như thế thật. Đôi người định chìa tay ra cho tôi, nhưng tôi không bắt. Phải! Tôi cố tình thất thố ra mặt như thế đấy. Mới mấy ngày trước cái đám ma trơ trẽn gần như không chịu nổi này, tôi đã bảo Gambetti, chỉ riêng nghĩ đến đất nước Áo đấy thôi, đất nước tật nguyền, đất nước đồi trụy, và xét cho cùng, đất nước chỉ còn thoi thóp sống đây thôi, chứ chưa cần phải nghĩ đến cái Nhà nước hoàn toàn đồi bại, mà sự đểu cáng và hèn hạ của nó thuộc loại có một không hai, chẳng những riêng ở châu Âu, mà trên khắp thế giới này, thì tôi đã buồn nôn lắm rồi Gambetti ạ; phải, đúng vậy, đấy là một Nhà nước do các chính phủ đểu cáng, đồi bại và ngu xuẩn thay nhau nắm quyền từ nhiều năm nay, một Nhà nước được tạo thành từ đám dân chúng đã bị chính các chính phủ đểu cáng, đồi bại và ngu xuẩn đó biến thành tật nguyền, dị dạng, không ra hình thù gì nữa. Tôi nhớ, tôi đã bảo Gambetti như vậy. Tội trước hết là của chủ nghĩa quốc gia xã hội chủ nghĩa đểu cáng và hèn hạ, rồi tiếp theo là của chủ nghĩa xã hội giả hiệu kiểu Áo, đê tiện, hèn hạ và đầy tội lỗi - đứng bên nhà mồ, tôi nhớ, tôi đã nói như thế với Gambetti trên đồi Pindo. Sự tàn phá và hủy hoại của đất nước chúng tôi do bàn tay Quốc xãngụy xã hội chủ nghĩa ấy lại còn diễn ra cùng với sự góp tay góp chân của Giáo hội Thiên chúa giáo Áo, thứ tôn giáo xưa nay chỉ gây tai mang họa đến cho nước Áo mà thôi. Đứng bên nhà mồ còn để ngỏ, tôi nhớ, tôi đã bảo Gambetti, ngày nay nước Áo là một đất nước bị cai trị bởi một lũ doanh nhân tàn nhẫn, chỉ biết chạy theo lời nhuận, lũ doanh nhân nằm tại tất cả các đảng phái chính trị vô lương tâm. Trong khi đó, dân tộc Áo lại là dân tộc bị lừa lọc, bị phản bội mọi đường, tôi bảo Gambetti, là dân tộc - suốt mấy thế kỷ gần đây - hết bị Thiên chúa giáo, lại đến chủ nghĩa Quốc xã, rồi ngụy xã hội chủ nghĩa trắng trợn đánh cắp mất trí khôn, tôi nhớ, tôi đã nói vậy với Gambetti. Ở nước Áo ngày nay, Gambetti ạ, sự đểu cáng là phương châm hành động, sự hèn hạ là động lực sống và sự dối trá là chìa khóa của thành công. Mỗi sáng trở dậy, Gambetti ạ, chúng tôi lại phải hổ thẹn đến chết về nước Áo ngày nay, giờ đây đứng bên nhà mộ tôi nhớ tôi đã nói vậy với anh ta. Đã bao nhiêu lần tôi tự nhủ, chúng tôi yêu quý đất nước này, nhưng chúng tôi căm thù Nhà nước ấy, Gambetti ạ. Dù sống ở Rome hay ở đâu đi nữa trên thế giới này, Gambetti ạ, tôi nhớ, tôi đã nói với anh ta, nước Áo chẳng dính dáng gì đến chúng tôi nữa. Đi đến đâu trên đất Áo ngày nay cũng thế, ta đều bị sự giả dối bao vây; nhìn vào đâu trên đất Áo ngày nay cũng vậy, ta đều nhìn thấy sự giả nhân giả nghĩa. Anh bắt chuyện với bất kỳ ai trên đất Áo ngày nay cũng vậy thôi, anh đều bắt chuyện với một kẻ dối trá, Gambetti ạ, đứng bên nhà mồ tôi nhớ tôi đã nói với Gambetti như thế. Nói cho cùng thì đất nước nực cười ấy, Nhà nước lố bịch ấy, thật ra, cũng chẳng đáng để nhắc đến, tôi nhớ, tôi đã bảo anh ấy, và để tâm suy nghĩ về nó chỉ tổ mất thời gian vô ích. Thế nhưng, tôi bảo Gambetti, những ai không mù, không điếc và vẫn còn trí khôn trên đất nước này, thì hãy liệu hồn! Làm dân Áo thời nay là bị tội tử hình, và tất cả dân Áo đều mang cái án tử hình đó, đứng bên nhà mồ, tôi nhớ lại, tôi đã bảo Gambetti như thế. Mọi thứ của Áo đều phi cá tính, tôi bảo anh ta. Đi xa trở về Áo, lần nào cũng như lần nào anh đều cảm thấy bị vấy bẩn, đứng bên nhà mồ, tôi nghĩ bụng. Bọn công thần Quốc xã đeo huấn chương, tụi cựu sĩ quan SS chống nạng, chống gậy - các anh hùng thời Quốc xã ấy - nói như thiên hạ vẫn nói, chẳng thèm để mắt đến tôi. Ngoại trừ các Đức cha Tổng Giám mục và Giám mục cũng như bà con gần gũi nhất của gia đình, tất cả khách khứa dự đám ma đều được mời vào dùng bữa trong các quán BrandlGesswagner. Caecilia em gái tôi cắt cử ban nhạc làng đến chơi cả ở quán Brandl lẫn quán Gesswagner. Còn các vị Tổng Giám mục, cùng các Giám mục và bà con họ hàng thì được mời lên trên nhà chúng tôi dùng bữa, như người ta vẫn nói. Đa số họ còn lưu lại đến chiều tối hôm sau. Ngay buổi tối, Spadolini đã lên đường về Rome ngay. Thoạt tiên, tôi thoáng nghĩ, hay là mình đi cùng với y, nhưng rồi tôi cũng gạt ý nghĩ đó đi ngay vì tôi cũng phải thừa nhận nó thật hết sức vớ vẩn. Ít hôm nữa rồi tôi sẽ xin yết kiến gặp Đức cha ở Rome, tôi hẹn với y như vậy. Y biến đi tuyệt nhiên không chút ồn ào. Tôi kéo Alexander về phòng tôi rồi khóa trái cửa lại, tôi không muốn chúng tôi bị ai quấy rầy. Anh Alexander đã lại say sưa với một ý đồ lớn lao mới của mình; chả là anh định viết đơn thỉnh cầu Tổng thống Chile, tên độc tài khét tiếng dã man nhất trong các tên độc tài, thả tất cả các tù chính trị ở Chile. Khi tôi bảo anh, đơn thỉnh cầu của anh sẽ chẳng đi đến đâu, anh vẫn chẳng hề thấy bận lòng. Sau khi Spadolini đi khỏi được độ một tiếng thì anh Alexander cũng lên đường về lại Brussel. Tôi ngồi đến tận khuya trong căn phòng khóa trái và chỉ bước ra khỏi phòng khi tôi cầm chắc sẽ không gặp khách khứa nào nữa cả. Suốt cả quãng thời gian ấy, tôi đã nghĩ mãi về việc tôi sẽ làm gì với Wolfsegg. Giờ đây, không còn nghi ngờ gì nữa, Wolfsegg chỉ còn thuộc về một mình tôi, hay theo giọng luật pháp mà nói, thuộc về riêng tôi với tất cả các quyền lợi lẫn nghĩa vụ kèm theo. Lúc tôi ngồi cùng các em gái - không có mặt gã em rể, vì tôi nhất quyết khước từ nói chuyện với gã về việc này - đến tận hai giờ sáng để thông báo chúng nó biết ý định của tôi về tương lai của Wolfsegg, trong đầu tôi đã chín muồi một ý định chắc chắn về tương lai của Wolfsegg cũng như của tất các tài sản phụ thuộc vào nó nằm ở các miền Hạ Ao, Burgenland và Wien rồi. Tuy thế, cho đến cuối buổi nói chuyện, tôi vẫn không thể nói cho chúng nó biết chuyện gì sẽ xảy ra với Wolfsegg, mặc dù, đến thời điểm đó, trong đầu tôi đã định hết cả rồi. Hai đứa chúng nó, nói cho cùng, suốt buổi chẳng dám nói gì, chỉ lúc nào cũng chìa hai gương mặt mang vẻ giễu cợt và chua chát ra cho tôi mà thôi. Với chúng nó, tôi bảo tỗi chưa biết sẽ làm gì với Wolfsegg cả, tôi bảo tôi chưa hình dung được tôi sẽ giải quyết việc này ra sao, nhưng trong lòng tôi, một quyết đinh đã chín muồi, rằng tôi sẽ hẹn một buổi nói chuyện với anh Eisenberg tại Wien; trong buổi nói chuyện đó, tôi sẽ xin được hiến tặng, vô điều kiện, toàn bộ Wolfsegg, nguyên xi như nó hiện nay, cùng tất tật những gì thuộc về nó, cho cộng đồng người Do Thái ở Wien. Quả vậy, hai ngày sau buổi đưa ma, tôi đã có buổi nói chuyện như thế với anh Eisenberg, người anh em tri kỷ của tôi, và anh Eisenberg đã thay mặt cộng đồng Do Thái đứng ra nhận món quà đó của tôi. Ông Murau (sinh năm 1934 tại Wolfsegg, mất năm 1983 tại Rome) viết: từ thành phố Rome, là nơi giờ đây tôi đang có mặt và sẽ cư ngụ về sau, và cũng là nơi tôi đã viết xong tác phẩm Diệt vong này, tôi xin cảm tạ anh ấy về việc tiếp nhận món quà đó.

HẾT

Hoàng Đăng Lãnh dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.