Diệt Vong

Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
I - BỨC ĐIỆN TÍN

❊ ❊ ❊

Hôm hăm chín, sau khi trở về từ Wolfsegg và có buổi trò chuyện trên đồi Pincio nhằm khớp lịch học tháng Năm với anh học trò Gambetti của tôi, một thanh niên mà trí thông minh tuyệt vời vẫn làm tôi phải kinh ngạc ấy - ông Franz-Josef Murau viết - lòng tôi trở nên khoan khoái và vui vui cùng ý nghĩ, mình quả thực đã sống từ lâu ở Rome rồi chứ không còn ở Áo nữa, niềm vui làm tôi phấn chấn đến mức trái thói quen thường ngày, tôi không đi ngay qua phố Condotti để về nơi tôi ở tại Piazza Minerva nữa, mà vòng qua ngả Flaminia và Piazza del Popolo, đi dọc cho hết cả dãy đại lộ Corso mới về tới căn hộ tôi ở, là nơi khoảng hai giờ trưa tôi nhận được bức điện tín báo tin về cái chết của bố mẹ và ông anh trai Johannes. Bố mẹ và anh Johannes bị tai nạn chết. Caecilia, Amalia, cầm bức điện trên tay, đầu óc hoàn toàn tỉnh táo, tôi bình thản bước đến bên cửa sổ phòng làm việc nhìn xuống Piazza Minerva vắng tanh không một bóng người. Tôi đã đưa Gambetti năm quyển sách mà tôi tín chắc là trong mấy tuần tới sẽ có ích và cần thiết cho anh ta, đồng thời yêu cầu anh ta đọc hết sức cẩn thận, cũng có nghĩa là thật thong thả, cả năm quyển sách đó: Luật sư Siebenkäs của Jean Paul, Vụ án của Franz Kafka, Amras của Thomas Bernhard, Người đàn bà Bồ Đào Nha của Musil, Gã Esch hay chủ nghĩa vô chính phủ của Broch, và bây giờ, sau khi mở toang cửa sổ cho dễ thở, tôi nghĩ tôi đã quyết định đúng khi đưa đúng năm quyển ấy, chứ không phải quyển nào khác cho Gambetti, bởi năm quyển ấy sẽ mỗi lúc một quan trọng hơn trong quá trình học, rằng tôi đã rất kín đáo mách khéo, lần tới tôi sẽ cùng anh ta phân tích mổ xẻ cuốn Tình đầu ý hợp chứ không bàn đến cuốn Thế giới như là ý chí và biểu tượng. Chuyện trò với Gambetti đối với tôi cũng lại là một hứng thú lớn, sau bấy nhiêu cuộc trò chuyện nặng nề, khó nhọc, loanh quanh độc những nhu cầu thường nhật, hết sức riêng tư và tầm thường với gia đình tôi ở Wolfsegg. Từ ngữ tiếng Đức như những quả cân bằng chì treo vào ngôn ngữ Đức, tôi đã bảo Gambetti vậy, và chắc chắn sẽ đè tư duy xuống một bình diện vốn rất có hại cho chính tư duy ấy. Cả tư duy Đức lẫn tiếng nói Đức đều bị tê liệt rất nhanh dưới sức nặng phi nhân của ngôn ngữ Đức, một gánh nặng đè bẹp mọi ý nghĩ ngay trước khi chúng được phát ngôn thành lời, như lịch sử hàng trăm năm lao tâm khổ tứ của dân Đức đã cho thấy. Do bị nằm đè dưới ngôn ngữ ấy, nền tư tưởng Đức dường như đã rất khó phát triển và không bao giờ có thể bột phát toàn diện, ngược hẳn nền tư tưởng Roman dưới ngôn ngữ Roman. Mặc dù tôi đánh giá tiếng Tây Ban Nha cao hơn, có lẽ chỉ vì tôi thạo nó hơn chăng, nhưng buổi sáng hôm đó Gambetti đã lại cho tôi một bài học quý giá về tính nhẹ nhàng, thanh thoát lẫn sự linh hoạt vô cùng tận của tiếng Ý. Đem thứ tiếng này so với tiếng Đức cũng giống như đem so một đứa trẻ hoàn toàn tự do lớn lên trong một gia đình khá giả và hạnh phúc với một đứa trẻ xuất thân từ gia đình nghèo khó, bần cùng, bị đè nén, bị đánh đập mà đâm ra lươn lẹo. Bởi thế, càng phải đánh giá cao công sức của các triết gia và văn sĩ của chúng tôi, tôi bảo Gambetti vậy. Mỗi một từ tức khắc sẽ níu suy nghĩ của họ xuống, câu nào cũng đè ý nghĩ của họ xuống đất, bất kể họ dám nghĩ điều gì, và như thế bao giờ cũng có nghĩa là đè tất tật xuống đất. Chính vì thế mà triết lý của họ, cũng như những gì họ sáng tác ra, đều như thể bằng chì hết cả. Tự dưng tôi xướng to để Gambetti nghe một câu của Schopenhauer trích từ Thế giới như là ý chí và biểu tượng, bằng tiếng Đức trước, tiếng Ý sau, nhằm thử minh họa cho anh ta, Gambetti, thấy bên tay trái tôi, tượng trưng cho đĩa cân đặt tiếng Đức bị vít thấp xuống đến mức nào, trong khi tay phải tượng trưng cho đĩa cân bên đặt tiếng Ý được hất cao bổng lên ra sao. Trong sự khoái chí của tôi lẫn của Gambetti, tôi nói vài câu của Schopenhauer bằng tiếng Đức trước, rồi bằng tiếng Ý do chính tôi dịch ứng khẩu, đoạn đặt chúng lên hai đĩa cân ở hai bên tay tôi ấy cho toàn thể thiên hạ, nhưng trước hết là cho Gambetti, nhìn rõ điều đó; rồi dần dần nó biến thành một trò chơi mà tôi đẩy lên đến tột đỉnh, một trò chơi rốt cuộc kết thúc bằng các câu nói của Hegel và cách ngôn của Kant Thật đáng tiếc, tôi bảo Gambetti, không phải những từ ngữ nặng nề bao giờ cũng thuyết phục nhất đâu, y hệt các câu nặng nề không phải bao giờ cũng thuyết phục nhất. Trò chơi này chẳng mấy chốc làm tôi kiệt sức. Đứng dừng lại trước khách sạn Hassler, tôi kể Gambetti nghe ngắn gọn về chuyến đi Wolfsegg, nhưng càng về cuối, tôi lại càng thấy câu chuyện đâm ra chi li đầy đủ quá, vâng, thậm chí ba hoa quá. Tôi định dọn chỗ, đặt anh ta trước một buổi cân đong, so sánh giữa hai gia đình, đặt yếu tố Đức của gia đình tôi ở bên này, đối diện với yếu tố Ý trong gia đình anh ta ở bên kia; song, rốt cuộc tôi lại để gia đình tôi đối đầu với gia đình anh, khiến câu chuyện tôi kể bị méo mó, và làm Gambetti, thay vì được dạy dỗ, được khai minh chỗ này điều nọ, chắc lại bị quấy rầy khó chịu lắm. Gambetti là người rất biết lắng nghe và có đôi tai thật thính, lại được tôi dạy thêm thủ thuật nghe sàng lọc về nội dung sự thật cũng như về tính nhất quán của bất cứ một cuộc thuyết trình nào. Gambetti là học trò của tôi, nhưng ngược lại, tự tôi cũng là học trò của Gambetti. Ít ra tôi cũng học được ở Gambetti bấy nhiêu bài học, ngang đúng số bài Gambetti học được ở tôi. Quan hệ giữa hai chúng tôi là quan hệ lý tưởng, bởi lần này tôi là thầy của Gambetti và anh ta là trò của tôi, lần sau Gambetti là thầy, tôi là trò, và một tình huống rất hay xảy ra là cả hai chúng tôi đều không biết lúc ấy Gambetti là trò, tôi là thầy, hay ngược lại. Đó chính là lúc tình huống lý tưởng nảy sinh. Nhưng đằng thẳng ra thì bao giờ tôi cũng là thầy học của Gambetti vì tôi được Gambetti, hay nói đúng hơn là được ông bố giàu có của Gambetti trả công dạy học. Hai ngày sau khi trở về từ đám cưới của Caecilia em gái tôi với tay chủ xưởng sản xuất nút chai vang ở Freiburg, tức là chồng nó, bây giờ thành em rể tôi, tôi lại phải xếp lại chỗ quần áo tôi vừa bỏ ra, mới hôm qua chứ đâu, chưa kịp dọn, còn nằm ngổn ngang trên chiếc ghế bành kê cạnh bàn làm việc của tôi vào túi xách du lịch và quay lại Wolfsegg - cái chốn từ mấy năm trở lại đây tất tật mọi thứ thật sự trở nên ít nhiều đáng ghê tởm đối với tôi, tôi nghĩ bụng, lúc vẫn đang đứng bên cánh cửa sổ mở toang nhìn xuống Piazza Minerva không một bóng người - vì một duyên cớ lúc này không còn nực cười và lố bịch nữa, mà là một duyên cớ thật kinh khủng. Thay vì được ngồi chuyện trò với Gambetti về Luật sư Siebenkäs và Người đàn bà Bồ Đào Nha, tôi sẽ phải nộp mình cho hai con em gái đang đợi tôi ở Wolfsegg, tôi tự nhủ, thay vì được trao đổi với Gambetti về Tình đầu ý hợp, tôi sẽ phải bàn chuyện với hai đứa chúng nó về chuyện chôn cất bố mẹ và ông anh, cũng như về tài sản họ để lại. Thay vì được cùng Gambetti đi qua đi lại trên đồi Pindn, tôi sẽ phải lui tới văn phòng Thị trưởng, ra vào nghĩa địa hay nhà thờ rồi cãi nhau với hai con em gái về việc thu xếp đám tang. Trong lúc xếp số quần áo hôm qua tôi vừa lôi ra vào túi, tôi cố hình dung xem các hậu quả sinh ra từ cái chết của bố mẹ tôi cùng cái chết của anh trai tôi sẽ như thế nào, nhưng chẳng hình dung được gì. Song, tất nhiên tôi rất hiểu cái chết của ba người, mà chí ít xét trên giấy tờ, cũng là gần gũi nhất với tôi ấy, sẽ đòi hỏi những gì ở tôi: tức là toàn bộ sức lực, toàn bộ sức mạnh ý chí của tôi. Sự bình thản trong tôi lúc tôi lần lượt nhồi nhét các thứ cần thiết cho chuyến đi vào túi xách, cũng như sự bình thản trong lòng tôi lúc suy tính đến tương lai bị rung chuyển ngay sau tai nạn chắc chắn là kinh khủng đó, mãi một lúc lâu, sau khi đã đóng túi lại, tôi mới thấy là kỳ quái. Cái câu hỏi, liệu tôi có thương yêu bố mẹ và anh trai không, tuy bị ngay cái từ dĩ nhiên gạt đi - không những chỉ là chung chung, mà nói cho đúng - vẫn chưa được trả lời. Đã từ lâu rồi, cả đối với bố mẹ lẫn đối với ông anh trai, tôi không còn có mối liên hệ nào gọi là tốt đẹp nữa cả, mà phải gọi là căng thẳng thì đúng hơn, và dần dần, cho đến những năm gần đây, trở nên hờ hững. Tôi chẳng thiết gì đến Wolfsegg, như thế cũng có nghĩa là không thiết gì đến bố mẹ và ông anh tôi nữa, thì ngược lại, bố mẹ và ông anh cũng chẳng thèm quan tâm gì đến tôi nữa; đó là sự thật. Xuất phát từ một nhận thức như thế, các mối liên hệ của chúng tôi chỉ còn được đặt trên một nền tảng ít nhiều đủ để gọi là có nữa mà thôi. Tôi nghĩ, hai chục năm trước ông bà già mày không những để mày tuột khỏi Wolfsegg, là nơi ông bà định buộc xích vào chân mày suốt đời, mà ông bà mày còn để mày tuột hẳn khỏi lòng dạ ông bà nữa kia. Ông anh tôi ghen tị khôn nguôi với tôi suốt hai chục năm trời ấy, vì tôi đã bỏ đi, vì tính tự lập đầy hoang tưởng của tôi, như gã có lần đã đốp thẳng mặt tôi như thế, vì các đòi hỏi được tự do đến độ tàn nhẫn của tôi; tóm lại, gã căm ghét tôi. Còn hai con em gái tôi chỉ dành cho tôi mối nghi ngờ bao giờ cũng lớn hơn mối nghi ngờ thường có giữa anh chị em, chúng nó dõi theo tôi với những cặp mắt hằn học, ngay từ thời điểm tôi quay lưng lại với Wolfsegg để ra đi, cũng là lúc quay lưng lại với chúng nó. Đó là sự thật. Tôi nhấc cái túi xách lên, như mọi khi, nó nặng trình trịch, quá nặng, tôi nghĩ bụng, mà thật ra thì nó cũng chẳng để làm gì, vì ở Wolfsegg tôi có đủ mọi thứ kia mà. Tha nó theo làm quái gì chứ? Tôi quyết định không mang túi về Wolfsegg nữa và lôi các thứ trong túi ra xếp lại vào ngăn kéo. Chúng ta vẫn thường thương yêu bố mẹ một cách tự nhiên, và vẫn thường thương yêu các anh chị em chúng ta, cũng một cách tự nhiên như thế - tôi tự nhủ, lúc tôi lại đến đứng bên cửa sổ nhìn xuống Piazza Minerva vẫn không một bóng người ở dưới kia - mà không nhận thấy rằng, đến một thời điểm nhất định nào đó, ta bắt đầu căm ghét họ, hoàn toàn trái với ý muốn của chính ta, nhưng cũng hoàn toàn tự nhiên y như lúc trước đó ta yêu thương họ vậy, xuất phát từ tất cả những nguyên do mà phải nhiều năm sau, thường là hàng chục năm sau, ta mới vỡ nhẽ. Ta không thể xác định được chính xác cái thời điểm từ đó trở đi ta không còn yêu thương bố mẹ và anh chị em ta nữa mà xoay ra căm ghét họ là lúc nào, và chúng ta cũng không còn cất công tìm cho ra cái thời điểm ấy nữa làm gì, vì xét cho cùng, ta rất sợ tìm ra nó. Những ai đã trái ý nguyện người thân để từ bỏ họ ra đi, thêm vào đó, lại ra đi theo một cách hết sức ác độc như tôi đã ra đi, thì tất phải tính đến lòng căm ghét của họ, và tình thương yêu trước đó dành cho ta lớn lao bao nhiêu thì bây giờ, khi ta đã hoàn thành những gì ta đã định, sự căm ghét của họ càng sâu sắc bấy nhiêu. Hàng chục năm trời tôi từng đau khổ vì bị người nhà căm ghét, giờ đây tôi tự nhủ, song những năm gần đây, chẳng còn chút đau đớn nào nữa cả, tôi quen bị căm bị ghét rồi và không còn vì thế mà bị tổn thương nữa. Lòng căm ghét mà cả nhà đổ lên đầu tôi ấy, không thể tránh khỏi, đã đương nhiên khơi dậy trong tôi sự căm ghét dành cho cả nhà. Và, từ mấy năm gần đây, cũng chẳng ai còn đau khổ vì bị tôi căm ghét nữa. Cả nhà khinh bỉ cái thằng thành Rome, cũng như tôi coi thường bọn Wolfsegg vậy, và nói cho cùng, chẳng ai nhớ đến tôi, cũng như tôi không mấy khi nhớ đến ai trong nhà. Cả nhà chỉ toàn gọi tôi là thằng bịp bợm hay thằng ba hoa, một kẻ ăn bám cả gia đình lẫn thiên hạ. Còn tôi, tôi chỉ còn mỗi một từ lũ đần độn để gọi mọi người trong nhà. Cái chết của cả ba người, chắc chỉ có thể là do tai nạn xe hơi mà thôi ấy, tôi tự nhủ, chẳng mảy may làm thay đổi sự thật đó. Tôi chẳng hề lo ngại tôi sẽ vì thế mà sinh ra đa sầu đa cảm. Đôi tay tôi thậm chí còn chẳng run rẩy chút nào khi cầm đọc bức điện tín, thân thể tôi chẳng mảy may rung động, dù chỉ một phút giây ngắn ngủi. Tôi sẽ báo tin để Gambetti biết, bố mẹ và anh trai tôi đã chết, nên tôi phải bỏ qua vài buổi dạy, tôi nghĩ thầm, chỉ vài ngày thôi, bởi tôi sẽ chẳng lưu lại Wolfsegg lâu hơn vài ba ngày; cùng lắm chỉ một tuần là đủ, ngay cả khi có bao nhiêu thủ tục rắc rối không lường trước được cũng vậy thôi. Tôi đã thoáng có ý nghĩ, hay là đưa Gambetti đi theo, bởi tôi cảm thấy e ngại trước số đông vượt trội của đám người ở Wolfsegg và muốn có lấy ít nhất một người về phe mình, một người có thể giúp tôi đủ sức chống đỡ cuộc tấn công ồ ạt của đám người Wolfsegg, một con người, một đồng đội tương ứng với tôi trong tình thế có thể sẽ là vô vọng ấy, nhưng tôi lại gạt ngay ý nghĩ đó đi, vì tôi muốn tránh cho Gambetti cuộc đối mặt với Wolfsegg. Bởi có thể anh ta sẽ thấy tất cả những gì suốt mấy năm qua tôi nói với anh ấy về Wolfsegg thật là vô hại so với sự thật và thực tế mà anh ta sẽ được chứng kiến, tôi nghĩ bụng. Lúc nãy tôi vừa định kéo Gambetti đi cùng, lúc sau lại thôi, không đưa anh ta theo nữa. Rốt cuộc tôi nhất quyết không đem anh ta theo. Mang Gambetti theo, tôi tự nhủ, thể nào tôi cũng gây nhiều ồn ào ở Wolfsegg và nhất là gây một vố náo động giật gân mà đối với tôi, nói chung, chắc chắn sẽ rất đáng ghê tởm. Một người như Gambetti, đám Wolfsegg sẽ không bao giờ hiểu nổi. Ngay cả với những người lạ hết sức hiền lành, bọn họ ở Wolfsegg bao giờ cũng đón tiếp một cách ghê tởm và hằn học, tất tật những ai lạ mặt đều bị họ khước từ, họ không bao giờ hành động như tôi, vốn vẫn quen trong chớp mắt đã có thể sà ngay vào tìm hiểu một cái gì đó lạ lẫm hay làm quen với một người lạ mặt nào đấy. Đưa Gambetti về Wolfsegg sẽ có nghĩa là cố tình đối xử bất nhã với anh, và nói cho cùng, là xúc phạm anh ta một cách nặng nề. Đến chính tôi còn chưa đủ sức thanh toán xong mọi sự với Wolfsegg, huống hồ một con người đầy cá tính như Gambetti. Sự đối đầu giữa Gambetti với Wolfsegg biết đâu sẽ dẫn tới một tai họa thật sự, tôi nghĩ bụng, và nạn nhân không chừng sẽ chẳng là ai khác ngoài Gambetti. Lẽ ra tôi đã có thể đưa Gambetti về thăm Wolfsegg một lần rồi đấy, tôi thầm nghĩ, nhưng rồi tôi lại thôi, mặc dù tôi vẫn thường tự bảo, sẽ đưa Gambetti về Wolfsegg chơi, may ra, không những sẽ chỉ có lợi cho tôi, mà còn có lợi cho cả Gambetti nữa. Các câu chuyện tôi thuật về Wolfsegg lẽ ra sẽ nhờ đó, nhờ thông qua con mắt tinh tường của chính Gambetti, mang một tính xác thực không thể đạt tới bằng bất cứ cách nào khác. Tôi quen Gambetti, tính đến giờ đã mười lăm năm, nhưng tôi chưa đưa anh về thăm Wolfsegg lấy một lần, tôi nghĩ bụng. Rất có thể Gambetti suy nghĩ về việc đó khác tôi, giờ đây tôi tự nhủ, bắt nguồn từ sự bất thường cũng rất chi là tự nhiên ấy rằng, tôi, trong suốt mười lăm năm trời ấy, không mời và không đưa theo, dù chỉ một lần, con người mà mười lăm năm ròng rã tôi đã ít nhiều trở nên thân thiết ấy, về một nơi vốn là nơi chôn nhau cắt rốn của tôi. Tại sao suốt mười lăm năm ấy tôi đã không để Gambetti ngó vào lá bài quê hương của tôi nhỉ? - tôi tự hỏi. Bởi vì tôi đã luôn luôn e sợ, và cho đến tận bây giờ vẫn còn e sợ điều đó. Một mặt, vì tôi muốn tự bảo vệ mình chống lại những hiểu biết của anh ta về Wolfsegg và như thế cũng là chống lại hiểu biết của anh ấy về gốc gác của tôi, nhưng mặt khác, tôi cũng muốn bảo vệ chính anh ấy trước những hiểu biết như thế, thứ hiểu biết rất có thể chỉ gây các tác động thảm hại cho anh ấy mà thôi. Suốt mười lăm năm quen biết nhau, tôi chưa từng một lần nộp trắng Gambetti cho Wolfsegg. Mặc dù đi cùng Gambetti chứ không phải một thân một mình về Wolfsegg, và cùng anh ta lưu lại ở đó, lẽ ra, sẽ hết sức dễ chịu với tôi, song tôi luôn luôn cưỡng lại việc đem Gambetti đi theo. Dĩ nhiên Gambetti sẽ sẵn lòng đi với tôi về Wolfsegg bất kỳ lúc nào. Anh ấy chờ tôi mời suốt bấy lâu nay rồi. Nhưng tôi không mời. Đám ma không những là một dịp buồn thương mà còn là một dịp hết sức ghê tởm nữa là khác, giờ đây tôi tự nhủ, nên tôi sẽ không mời Gambetti nhân đúng một dịp như thế theo tôi về Wolfsegg. Tôi sẽ báo tin cho anh ấy, rằng bố mẹ tôi chết, và không cần chờ ai khẳng định, tôi sẽ bảo bố mẹ tôi bị tai nạn ô tô chết cùng anh trai tôi, nhưng tôi sẽ không nói lấy một lời mòi anh ấy đi cùng tôi. Vừa mới được hai tuần chứ đâu, trước khi lên đường về Wolfsegg dự đám cưới con em gái tôi, tôi đã chẳng ngần ngại nói trước mặt Gambetti những lời hết sức thô lỗ về bố mẹ tôi và gọi ông anh tôi là người mang tính cách ít nhiều đê tiện, đồng thời cũng còn là kẻ ngu đần hết đường dạy dỗ nữa kia. Tôi đã mô tả Wolfsegg là nơi chứa chấp tất cả những gì ngu si đần độn nhất đời. Tôi đã kể về thứ khí hậu khủng khiếp luôn luôn ngự trị và tàn bạo hủy hoại mọi thứ, kể cả mọi sinh linh phải sống, hay nói đúng hơn, bị ép phải tồn tại ở đó, và khiến họ, cũng giống như khí hậu ở đấy, trở nên tàn nhẫn khôn cùng. Tuy nhiên, khi đó tôi cũng nhắc đến những lợi thế tuyệt đối của Wolfsegg, đến những ngày trời thu tuyệt đẹp, đến cái lạnh lẽo của mùa đông và sự tĩnh mịch của những cánh rừng và thung lũng bao quanh mà ngoài tôi chẳng ai ưa. Tôi cũng kể, rằng thiên nhiên ở đó tuy tàn nhẫn nhưng cũng thật sự trong sáng và tuyệt vời. Rằng thiên nhiên thật sự trong sáng và tuyệt vời đó, tuy vậy, vẫn không hề được những con người sinh sống ở đó trân trọng, bởi họ, do ngu si và đần độn, không còn khả năng ấy nữa. Giá không có những người thân của tôi ở đó mà chỉ có những ngôi nhà che chở họ thôi, hồi đó tôi đã nói vậy với Gambetti, thì lẽ ra tôi phải nhận Wolfsegg là một nơi hoàn hảo cho tôi mới đúng, bởi chính nơi đây chứ không còn nơi nào khác, là nơi tương hợp với tinh thần tôi hơn cả. Song tôi không thể, chỉ vì do tôi muốn vậy, mà loại bỏ người thân của tôi được, tôi đã từng nói vậy. Tôi nghe rõ ràng tiếng tôi nói câu ấy và bây giờ, do cái chết thật sự ập đến với bố mẹ lẫn anh trai tôi mà nó bỗng trở nên kinh khủng và dữ dội, đến mức khiến tôi, khi vẫn đứng bên cửa sổ nhìn xuống Piazza Minerva như lúc này, phải cất tiếng nhắc to câu nói ấy lần nữa. Câu nói Song tôi không thể, chỉ vì do tôi muốn vậy, mà loại bỏ người thân của tôi được, dạo xưa tôi từng thốt lên trước mặt Gambetti, cùng mối ác cảm lớn dành cho ba người thân bị nạn, bây giờ được tôi nhắc lại khá to, thậm chí với một vẻ rất kịch tính, to và kịch tính, như thể tôi là diễn viên đang phải học thuộc lòng câu nói để biểu diễn trước đám đông công chúng, cho nên, trong chốc lát, tôi đã làm câu nói mất hết vẻ gay gắt vốn có của nó. Câu nói bỗng dưng không còn sức tàn phá nữa. Nhưng chẳng mấy chốc câu nói Song tôi không thể, chỉ vì do tôi muốn vậy, mà loại bỏ người thân của tôi được ấy lại ngoi lên trước và nắm toàn quyền sai khiến tôi. Tôi gắng hết sức đè cho nó lịm đi, nhưng nó không chịu để bị bóp nghẹt. Tôi không những chỉ cất tiếng nói một lần thành câu, tôi còn lảm nhảm nhiều lần trong miệng, cố làm sao biến nó thành lố bịch, nhưng câu nói ấy, sau tất cả mọi nỗ lực hòng bóp chết nó, hay biến nó thành lố bịch, lại càng trở nên nguy hiểm hơn. Tự dưng nó mang một sức nặng hơn hết thảy mọi câu chữ tôi từng thốt ra. Ta không thể nhấn dìm chết câu nói ấy, tôi tự nhủ, ta sẽ phải sống cùng với nó. Hiểu ra được như thế, tức khắc tôi bình tâm ngay. Tôi nhắc lại câu nói Song tôi không thể, chỉ vì do tôi muốn vậy, mà loại bỏ người thân của tôi được, nhắc lại lần nữa, như tôi đã nói lúc đối diện Gambetti. Bây giờ nó lại mang ý nghĩa như hồi đó, trước mặt Gambetti rồi. Trên Piazza Minerva không có gì sống động, ngoài mấy con chim bồ câu. Tôi ngồi xuống bên bàn làm việc. Trên bàn vẫn còn một lô thư từ, một lá của Eisenberg, lá thư khác của lão Spadolini, vị Tổng Giám mục và cũng là nhân tình của mẹ tôi, cùng một mảnh giấy của Maria nữa. Các giấy mời của dăm Viện Văn hóa ở Rome lẫn vài ba bức thư mời riêng tư khác, tôi vứt ngay vào sọt rác, cũng như một vài lá thư nữa mà thoáng nhìn qua bên ngoài tôi đã biết ngay là thư hăm dọa hay xin xỏ, của những kẻ hoặc muốn vòi tiền tôi, hoặc muốn biết tôi đang cố đạt được cái gì qua lối suy nghĩ và cách sống của tôi, của những kẻ vin vào đôi bài báo tôi đăng gần đây vốn không làm vừa lòng họ, bởi dĩ nhiên đấy là các bài báo được suy ngẫm và viết ra chống lại tất cả những kẻ như họ, và các bức thư ấy của họ, tất nhiên, đều gửi từ Áo sang, do những kẻ vốn lâu nay vẫn mang bao nhiêu nỗi thù hận trong lòng dõi theo tôi cho đến tận thành Rome này, thảo ra. Bao nhiêu năm nay rồi, tôi vẫn nhận được những bức thư như thế, những bức thư hoàn toàn không phải do mấy đứa điên rồ viết như tôi nghĩ lúc ban đầu, mà hóa ra lại là của những nhân vật có uy tín, tức là những nhân vật không thể bắt bẻ vào đâu được về tư cách pháp lý, những người đe dọa truy nã và đập chết tôi vì các bài báo tôi đăng trên nhiều nhật báo hay tạp chí khác nhau, phát hành không những ở Frankfurt hay Hamburg, mà cả ở Milano lẫn thành Rome. Tôi không ngừng bôi nhọ nước Áo, bọn họ quả quyết vậy, tôi hạ nhục quê hương tôi theo một lối trắng trợn hơn bao giờ hết, bằng mọi cách, ở mọi nơi, mọi lúc, tôi gắn cho người Áo cái tính cách Thiên chúa giáo quốc gia xã hội chủ nghĩa kiểu Áo hèn hạ và đê tiện, trong khi thực ra, như bọn người kia quả quyết, tính cách Thiên chúa giáo quốc gia xã hội chủ nghĩa hèn hạ và đê tiện không hề phổ biến ở Áo. Nước Áo không hèn hạ và cũng không đê tiện, nước Áo chỉ luôn luôn đẹp đẽ mà thôi, và dân tộc Áo là dân tộc đáng kính, họ viết thế. Những bức thư như thế, cả sáng nay cũng vậy, bao giờ tôi cũng đều vứt bỏ ngay lập tức. Tôi chỉ giữ lại thư của Eisenberg, anh bạn thời sinh viên của tôi, giờ là giáo sĩ Do Thái ở thành Wien, hẹn tôi gặp ở Venice, nơi anh ấy sẽ đến có việc vào cuối tháng Năm, như anh ấy viết đây, rồi dự định cùng tôi đến Teatro La Fenice, không phải đến xem cái thứ như Câu chuyện lính của Strawinski như năm ngoái, mà là xem Tancredo của Monteverdis. Đương nhiên tôi sẽ nhận lời anh Eisenberg mời, tôi sẽ trả lời anh ấy ngay lập tức, tôi nghĩ bụng, song ngay lập tức có nghĩa là sau khi tôi đi Wolfsegg về đã. Đi chơi khắp Venice cùng Eisenberg vốn luôn luôn là niềm thích thú của tôi, tôi nghĩ bụng, hay đúng hơn, gặp Eisenberg thôi, đã là đủ thú vị rồi. Nếu có đặt chân đến Ý, dù chỉ là đến Venice vài ngày thôi, bao giờ anh ấy cũng báo trước, rủ tôi tham dự một cuộc vui mang tính nghệ thuật cao, như anh ấy vẫn nói, và tôi nghĩ Tancredo ở La Fenice chắc chắn là một cuộc vui như thế. Họ gửi cho tôi tờ Corriere della Sera trong đó có in bài viết của tôi về Leos Janacek. Tôi mở rộng tờ báo, lòng đầy hy vọng, song chỉ thấy bài viết của tôi, một là không được xếp in vào chỗ nổi bật, làm tôi tiu nghỉu ngay, hai là, chỉ mới đọc lướt qua lần đầu tôi cũng đã phát hiện ngay ra một loạt các lỗi in ấn không thể tha thứ, tức là những lỗi in kinh khủng nhất có thể xảy ra. Tôi quẳng tờ Corriere sang bên và đọc lại những dòng chữ trên mảnh giấy Maria viết và bỏ vào thùng thư cho tôi. Nữ thi sĩ lớn của tôi viết rằng tối thứ Bảy nàng muốn đi ăn tối cùng với tôi, với một mình anh thôi, vả lại nàng mới viết vài bài thơ cho anh, như nàng viết đây. Nữ thi sĩ lớn của tôi dạo này viết lách có vẻ được đây, tôi tự nhủ, rồi kéo ngăn kéo tôi để mấy tấm ảnh gia đình ra. Tôi chăm chú nhìn tấm ảnh chụp bố mẹ tôi trên sân ga Victoria ở London, đúng lúc cả hai đang lên tàu đi Dover. Ảnh tôi chụp lúc hai vị không chút để ý. Ông bà đến thăm tôi, vì vào năm một ngàn chín trăm sáu mươi tôi đang học đại học ở London, và sau hai tuần lưu lại Anh, sau khi đã đi từ Glasgow đến Bristol, các vị sang Paris, là nơi hai con em gái tôi đang chờ sẵn; chúng nó đi từ Cannes - ghé thăm chú Georg ở đấy - rồi đến Paris gặp bố mẹ. Dạo năm một ngàn chín trăm sáu mươi, tôi nghĩ bụng, tôi vẫn còn giữ một mối liên hệ nói chung là chịu đựng được với bố mẹ tôi. Tôi ước ao sang Anh học đại học và bố mẹ không hề gây chút khó dễ nào, vì ông bà hẳn đã chắc mẩm, sau khi học ở Anh xong, tôi sẽ quay về Wien và rốt cuộc cũng sẽ về Wolfsegg thôi, để thỏa ước nguyện của ông bà, là tôi sẽ cùng ông anh quản lý và vận hành, rồi hoàn thiện Wolfsegg của hai vị. Song ngay từ hồi đó tôi đã không hề có ý định quay về Wolfsegg, mà chỉ mang một ý nghĩ duy nhất là rời bỏ Wolfsegg sang Anh, đến London, chứ không bao giờ quay lại Wolfsegg nữa. Tôi căm ghét nghề nông, vốn là niềm ham mê của bố và anh trai tôi. Tôi căm ghét tất cả những thứ liên quan đến Wolfsegg, bởi chỉ có những gì sinh lợi cho gia đình mới đáng kể, không thì thôi. Ở Wolfsegg, ngay từ lúc khai trương và lọt gọn vào tay gia đình tôi, họ chẳng quan tâm đến thứ gì khác ngoài năng suất và làm sao để lợi nhuận thu được từ các ngành sản suất mỗi ngày một lớn, tức là từ nghề nông, một nghề mà dẫu gì đến tận giờ cũng còn ôm đến mười hai ngàn hecta, và từ nghề khai thác các hầm mộ. Họ chẳng còn gì khác trong đầu, ngoài việc nghĩ cách moi được thật nhiều từ những gì họ sở hữu. Mặc dù họ luôn mồm giả bộ quan tâm đến nhiều thứ khác chứ không phải chỉ say sưa cơn nghiện kiếm lời, rằng họ cũng quan tâm đến văn hóa, thậm chí đến cả nghệ thuật, nhưng thật ra thì đó chỉ là một thứ quan tâm đáng buồn và đáng hổ thẹn mà thôi. Mặc dù họ tàng trữ hàng ngàn đầu sách trong các thư viện của Wolfsegg, ít gì cũng đến năm cái, và số sách này, hàng năm ba hay bốn lần, đều đặn một cách quái đản, được lau chùi bụi bặm sạch bong, nhưng chính họ thì chẳng bao giờ đọc đến số sách đó. Họ luôn giữ gìn các thư viện ấy sạch sẽ như lau như ly, để họ có thể, không chút ngượng ngùng, phô trương, hãnh diện khoe khoang cái kho báu chữ in với khách khứa đến thăm, nhưng bản thân họ chẳng bao giờ đụng đến kho báu gồm hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn cuốn sách ấy. Năm thư viện ở Wolfsegg, bốn nằm trong tòa nhà chính, một trong khu nhà phụ, vốn được các cụ kị tôi dựng nên, chứ bố mẹ tôi chẳng mua thêm lấy mệt quyển nào xếp thêm vào đó. Người ta bảo toàn bộ các thư viện nhà tôi cũng quý giá ngang thư viện nhà thờ Lambach, vốn là thư viện nổi danh toàn thế giới. Bố tôi không đọc sách bao giờ, mẹ tôi thỉnh thoảng lắm, cốt cho vui, mới lật lật mấy quyển sách cũ về khoa học tự nhiên, ngắm nghía tranh ảnh màu sặc sỡ vốn in nhằm mục đích trang trí. Hai con em gái tôi không vào thư viện bao giờ, trừ những lúc chúng phải dẫn khách khứa vào thăm thú theo lời thỉnh cầu của họ mà thôi. Bố mẹ tôi, trên tấm ảnh tôi chụp ở ga Victoria, đang ở độ tuổi còn đủ sức rong ruổi đó đây chứ chưa bị bệnh tật hành hạ. Cả hai vị khoác áo mưa vừa mua ở hiệu Burberry và trên tay khoác mỗi vị một chiếc ô mới, cũng vừa mua ở hiệu Burberry đó.

Y hệt như lũ dân lục địa tiêu biểu, hai vị muốn tỏ vẻ Anh quốc hơn cả người Anh và do đó, gây một ấn tượng lố bịch và kỳ khôi, chẳng còn chút tính tế và sang trọng nào cả, khiến tôi trước đây, mỗi khi nhìn bức ảnh này đều phải bật cười. Song, bây giờ không còn cười được nữa. Cổ mẹ tôi hơi dài, vốn không thể cho là đẹp được, và đúng giây khắc tôi nháy chụp - vì đúng lúc bà đang bước lên tàu - bà lại ngỏng cổ lên vài centimét dài hơn so với mọi ngày, khiến mức độ lố bịch của bức ảnh phải tăng lên gấp đôi. Tư thế của bố tôi lại luôn luôn là tư thế một người không thể che đậy sự xấu hổ lương tâm của mình trước thiên hạ và vì thế mà trở nên bất hạnh. Hồi ấy, lúc tôi chụp bức ảnh này, bố tôi đội chiếc mũ kéo sụp xuống trán, sâu hơn so với mọi khi, khiến trông ông trong ảnh có vẻ vụng về lúng túng hơn ngoài đời thực. Tôi không biết vì sao tôi giữ lại đúng bức ảnh này của bố mẹ tôi. Tôi nghĩ bụng, rồi lúc nào đó sẽ tìm hiểu xem nguyên cớ là gì. Tôi đặt bức ảnh lên bàn giấy rồi lục tìm bức ảnh khoảng hai năm về trước, chụp gã anh tôi bên hồ Wolfgangsee, trên chiếc thuyền buồm mà suốt năm gã vẫn để nằm yên tại Sankt Wolfgang trong túp lều thuê của Furstenberg. Người đàn ông trong ảnh là một người mang đầy vẻ cay đắng, bị cuộc sống đơn độc bên bố mẹ hủy hoại. Bộ quần áo thể thao khó nhọc lắm mới che đậy được các thứ bệnh tật đang hoành hành trong người gã. Nụ cười, như thiên hạ thường vẫn nói, méo mó, khổ sở và bức ảnh chỉ có thể do em trai gã, tức là tôi vậy, chụp mà thôi. Lúc tôi đưa một tấm cho gã, gã đã chẳng nói chẳng rằng xé vụn nó ra ngay. Tôi đặt bức ảnh chụp gã anh trai bên cạnh tấm chụp bố mẹ tôi lên tàu hỏa ở London đi Dover, rồi ngắm nghía hai tấm ảnh khá lâu. Anh đã yêu thương những con người này lâu như họ từng yêu thương anh vậy, rồi chính từ giây phút họ căm ghét anh trở đi, anh cũng bắt đầu căm ghét họ. Dĩ nhiên, tôi chưa bao giờ nghĩ, tôi sẽ sống lâu hơn họ mà ngược lại, tôi đã luôn luôn nghĩ, một ngày nào đó, tôi sẽ là kẻ ra đi đầu tiên về cõi bên kia. Tình huống đang xảy ra đây là tình huống tôi không bao giờ tính đến; mọi tình huống có khả năng xảy ra khác tôi đều đã suy đi tính lại mãi, duy tình huống này lại không. Tôi đã thường hình dung và cũng thường nằm mơ mình sẽ chết, sẽ để họ lại một mình trên đời, không có tôi, thông qua cái chết của tôi để giải phóng cho họ, chứ chẳng bao giờ tôi hình dung hay mơ tưởng bị họ bỏ lại thế này. Sự thật là giờ họ đã chết, chứ không phải tôi chết, bỗng nhiên, trong chớp mắt, không những đã trở thành một sự kiện không thể tiên liệu trước, dù chỉ là trong trí tưởng tượng, mà còn trở thành sự thật gây xúc động mạnh mẽ. Sự thật gây ra nỗi xúc động ấy, vâng, cơ sở gốc gác của nỗi xúc động ấy, mới chính là nguyên nhân làm tôi bị sốc, chứ nói của đáng tội, không phải là cái sự thật rằng nay họ đã chết, một cái chết không thể nào lật ngược lại nữa ấy. Bố mẹ tôi, đôi vợ chồng cho dù bao giờ cũng thảm bại trong mọi chuyện, nhưng đối với tôi là một cặp vợ chồng ma quỷ độc ác ấy, giờ đây, sau có mỗi một đêm, bỗng chốc teo tóp lại, nằm gọn lỏn, trong tấm ảnh kỳ khôi lố bịch tôi đang bày trên bàn làm việc rồi chăm chú xem xét, soi mói một cách trơ trẽn đây. Tấm ảnh gã anh trai tôi cũng vậy. Suốt đời anh từng run sợ trước những con người này hơn trước bất kỳ ai khác, tôi nghĩ bụng, và anh đã biến nỗi sợ hãi ấy thành điều quái dị lớn nhất trong đời, tôi tự nhủ. Mặc dù đã luôn luôn tìm mọi cách, nhưng suốt đời anh, anh đã không làm sao lánh mặt nổi những con người này, mọi nỗ lực nhằm lẩn tránh của anh trước sau đều thất bại, chuồn sang Wien, trốn sang London, rồi sang Paris, sang Ankara, sang Konstantinopel, và rốt cuộc đến thành Rome, đến đâu cũng đều vô ích cả. Họ phải chết bất đắc kỳ tử, vì bị tai nạn, và teo co lại trên mẩu giấy được gọi khác đi là tấm ảnh này, họ mới hết đường hãm hại anh. Nỗi ám ảnh bị truy lùng thế là tiêu tan, tôi thầm nghĩ. Họ chết cả rồi. Anh được tự do. Lần đầu tiên tôi cảm thấy thương hại ông anh tôi, khi liếc nhìn tấm ảnh gã ở Sankt Wolfgang trên chiếc thuyền buồm nọ. Lúc này trông gã trong ảnh còn nực cười hơn nhiều so với lần tôi giở ảnh ra xem trước đây. Sự tàn nhẫn, không chút động lòng, khi xem xét bức ảnh, khiến tôi thấy hoảng sợ. Cả bố mẹ tôi, trong bức ảnh chụp ở ga Victoria, trông cũng thật nực cười. Lúc này, nằm trước mặt tôi trên mặt bàn giấy đây, cả ba đều chỉ cao chừng mười centimét, quần áo đều tân thời, tư thế người ngợm đều kỳ cục, cho thấy một trạng thái tình thần cũng kỳ cục không kém, và trông đều lố bịch hơn những lần tôi nhìn thấy trước đây. Ảnh chụp bao giờ cũng chỉ ghi lại cái khoảnh khắc buồn cười và lố bịch mà thôi, tôi nghĩ bụng, chứ không ghi xem con người ấy suốt cả quãng đời đã ra sao, ảnh chụp là một thứ giả mạo tai ác, quỷ quyệt, bức ảnh nào cũng vậy, bất kể do ai chụp, bất kể chụp ai, đều là sự xúc phạm nhân phẩm con người ở mức tuyệt đỉnh, một sự giả mạo, bóp méo thiên nhiên cực kỳ tàn ác, một sự vô nhân đạo đểu cáng. Mặt khác, tôi lại thấy hai bức ảnh đặc trưng một cách tàn nhẫn cho cả ba người được chụp trong đó, cả cho bố mẹ tôi lẫn gã anh tôi. Đây chính là họ, tôi nghĩ bụng, đúng thực sự như họ ở đời, đây vốn là họ, đúng như họ đã từng thực sự ra sao ở đời. Lẽ ra tôi cũng có thể lấy vài bức ảnh khác chụp bố mẹ và ông anh trai tôi ở Wolfsegg đem theo, nhưng tôi lại mang theo và gìn giữ đúng hai bức này, bởi vì xét ở thời khắc tôi chụp, hai bức ảnh này đã ghi lại hình ảnh bố mẹ và ông anh tôi đúng không sai một tẹo nào, cho thấy bố mẹ vốn thực sự thế nào, ông anh tôi từng thực sự ra sao. Tôi không hề ngượng ngùng chút nào khi nhận ra điều đó. Chẳng phải ngẫu nhiên mà tôi đã không hủy, ngược lại còn mang đúng hai bức ảnh này về Rome, cất kĩ vào ngăn kéo. Ở đây tôi không có hình ảnh bố mẹ được lý tưởng hóa, tôi tự nhủ, ở đây bố mẹ tôi đúng như là bố mẹ tôi thật, à, tôi xin chữa lại, từng đúng như là bố mẹ tôi hôm xưa thật. Ở đây tôi có ông anh đúng như ông anh tôi hồi xưa. Cả ba vốn đều rụt rè, đều độc địa, đều lố bịch như nhau. Nói của đáng tội, dĩ nhiên tôi đã chẳng chịu gìn giữ bức tranh giả tạo nào về bố mẹ và ông anh tôi trong ngăn kéo. Chỉ những bức ảnh nào thật nhất, trung thực nhất. Chỉ bức nào tuyệt đối xác thực, và càng kỳ cục, thậm chí càng đáng ghê tởm thì càng xác thực. Có lần, khoảng một năm về trước, tôi còn nhớ ở đâu nữa kia, tức là trong quán cà phê ở Piazza del Popolo, tôi cho Gambetti xem chính những bức ảnh chụp bố mẹ và ông anh tôi này. Anh ta ngắm nghía mấy bức ảnh nhưng không bình luận lấy một lời. Tôi chỉ nhớ, xem xong mấy bức ảnh, anh ta hỏi tôi: Bố mẹ anh chắc rất giàu có, phải không? Tôi đáp: phải. Tôi còn nhớ, sau đó tôi rất ngượng vì đã cho anh ta xem ảnh. Lẽ ra mình không nên cho anh ta xem đúng những bức này, tôi đã nghĩ thế. Rõ ngu xuẩn. Đã có và vẫn còn có vô số ảnh chụp bố mẹ tôi, thấy bảo vậy, thật sự nghiêm túc, nhưng đó là những bức ảnh không đúng với hình ảnh tôi mang trong tôi suốt đời tôi về ông bà. Ảnh chụp gã anh tôi cũng nhiều bức nghiêm túc giống vậy, nhưng hễ nghiêm túc thì giả tạo. Lẽ ra, tôi đã chẳng bao giờ cho Gambetti xem một bức ảnh giả tạo nào như thế. Cũng cần nói thêm, trên đời này có lẽ tôi không căm ghét gì hơn trò khoe ảnh. Tôi chẳng khoe, mà cũng chẳng xem ảnh ai khoe bao giờ. Việc tôi cho Gambetti xem bức ảnh chụp bố mẹ tôi trên sân ga Victoria là một ngoại lệ. Tôi làm vậy nhằm mục đích gì nhỉ? Về phần Gambetti, anh ta chưa bao giờ cho tôi xem ảnh. Dĩ nhiên, tôi quen bố mẹ và anh chị em anh ta, cho nên nếu đưa tôi xem ảnh họ thì đúng là không có ý nghĩa gì cả và anh ta chắc cũng chẳng bao giờ có ý định như thế. Nói cho cùng, thì tôi ghét các loại ảnh iếc và tự tôi chẳng bao giờ tôi có ý định chụp chiếu gì, trừ mấy tấm chụp ở London, ở Sankt Wolfgang, ở Cannes ấy. Cả đời tôi, tôi chưa từng có máy ảnh bao giờ. Tôi khinh bỉ những ai chụp ảnh liên hồi và lúc nào cũng quàng máy ảnh qua cổ chạy lăng xăng. Lúc nào họ cũng ngó quanh ngó quất tìm cảnh này vật nọ hay người đứng chỗ này, người ngồi chỗ kia để chụp, để ghi hình, ghi chụp thậm chí cả những thứ vô nghĩa lý nhất. Trong đầu họ, họ không nghĩ đến việc gì khác ngoài việc tìm cách lấy dáng cho chính họ, theo những kiểu đáng ghét nhất, nhưng tự họ, họ lại chẳng thấy làm sao. Họ ghi lại một thế giới bị méo mó đến mức quái đản trên các bức ảnh của họ, một thế giới không còn gì là chung với thế giới thật ngoài sự méo mó đến quái dị mà họ phải chịu tội. Chụp ảnh là một thứ nghiện ngập chung mà dần dần toàn nhân loại đã nhiễm phải, bởi vì nhân loại không những đã phải lòng cả sự méo mó lẫn sự quái dị đó, mà còn bị mê muội vì nó và theo thời gian, do không ngừng chụp ảnh, nhầm tưởng thế giới méo mó và quái dị trong ảnh là thế giới duy nhất thực. Như thế, những kẻ nhiếp ảnh đã phạm một trong những tội ác độc địa nhất mà con người có thể phạm phải, vì họ thông qua các bức ảnh, đã biến thiên nhiên thành thứ gì lố bịch kỳ quái nhất. Trong các bức ảnh của họ, con người biến thành mấy con búp bê lố bịch, xa lạ, méo mó đến mức không còn nhận ra nữa, những con búp bê sững sờ trố mắt nhìn thẳng vào ống kính máy chụp nhẫn tâm, câm lặng, đáng tởm. Nhiếp ảnh là niềm ham mê hèn hạ cuốn hút con người ta ở mọi châu lục, mọi tầng lớp xã hội, là một thứ bệnh tật lan tràn khắp thiên hạ và nhân loại sẽ không bao giờ thoát khỏi căn bệnh ấy nữa. Kẻ phát minh ra nghệ thuật nhiếp ảnh chính là kẻ phát minh ra thứ nghệ thuật phản nhân sinh nhất. Chính tại hắn mà hôm nay chúng ta có sự biến dạng hoàn toàn của thiên nhiên cũng như của con người sống trong đó, khiến cả thiên nhiên lẫn con người đều mang vẻ mặt cau có đến quái dị. Tôi chưa từng thấy trên ảnh một người thật tự nhiên, cũng có nghĩa là một con người đúng là người, cũng như tôi chưa bao giờ thấy một phong cảnh thiên nhiên thật sự thiên nhiên trong ảnh. Nhiếp ảnh là tai họa lớn nhất của thế kỷ hai mươi. Tôi luôn cảm thấy tởm lợm khi nhìn các bức ảnh hơn khi nhìn bất cứ thứ gì khác. Song, giờ đây tôi tự nhủ, dù hình ảnh bố mẹ tôi và ông anh tôi trên các bức ảnh duy nhất do tôi chụp bằng chiếc máy ảnh của anh tôi có bị méo mó đến thế nào đi nữa thì, càng nhìn lâu tôi càng nhận rõ sự thật và tính chất xác thực đằng sau sự quái dị và méo mó của những người trong ảnh, bởi vì tôi không quan tâm đến mấy bức ảnh và tôi không nhìn người trong ảnh đúng như lăng kính méo mó đã ghi lại họ ở trạng thái méo mó độc địa và quái đản đó ra sao, mà đúng như là tôi nhìn thấy họ ra sao. Bố mẹ trên sân ga Victoria ở London, tôi đã viết như thế ở mặt sau tấm ảnh. Còn ở mặt sau của tấm thứ hai chụp ông anh tôi ở Sankt Wolfgang, tôi ghi Ông anh đi thuyền buồm tại Sankt Wolfgang. Tôi mở ngăn kéo và lôi một tấm ảnh nữa ra, chụp hai con em gái tôi, Amalia và Caecilia, đứng tạo dáng trước căn biệt thự của chú Georg ở Cannes, em trai bố tôi, căn nhà chú mua bằng tiền ông anh chú, sau khi ông bà tôi qua đời, đã trả trọn cho chú thành một gói và chú đã khôn khéo rải ra, góp mua cổ phần làm ăn tại nhiều nơi trên khắp nước Pháp, khiến chú không những có thể luôn tận hưởng một cuộc sống sung túc thoải mái mà còn dư dả để sống xa hoa theo ý thích. Lúc này, nhìn tấm ảnh chụp các em gái tôi với hai bộ mặt ít nhiều mang vẻ nhạo báng giễu cợt kia, tôi nghĩ bụng, chú đã chọn được lá số may mắn hơn nhiều so với ông anh chú ấy, tức là bố tôi. Cách đây bốn năm chú Georg cũng qua đời đột ngột như ông anh chú, tức là bố tôi, chỉ có điều chú ấy mất do một cơn đau tim bất ngờ ập đến, đúng lúc chú đang chăm sóc chỗ hoa hồng trồng trong khu vườn của biệt thự, một thú đam mê vốn đã trở thành duy nhất vào những năm cuối đời của chú. Mới ba mươi lăm tuổi chú đã rời bỏ Wolfsegg rút về Riviera, mang theo một đống bộn tiền bạc và sách vở. Chú mê cả văn học Pháp lẫn biển cả và hoàn toàn chìm đắm trong hai niềm say mê đó. Tôi thường vẫn nghĩ, tôi thừa hưởng khá nhiều thứ của chú Georg, hay nói gì thì nói, cũng nhiều hơn các thứ tôi thừa hưởng của bố tôi. Suốt đời tôi, tôi cũng mê văn học, cũng ham sách ham vở, cũng say sưa biển cả. Tôi cũng rời bỏ Wolfsegg, thậm chí từ lúc còn trẻ hơn cả chú ấy. Tôi ghi dòng chữ các em gái tôi Amalia và Caecilia trước biệt thự chú Georg lên mặt sau tấm ảnh. Tôi đến Cannes lần cuối năm một ngàn chín trăm bảy tám. Tôi đến thăm chú Georg ít nhất mỗi năm một lần. Ở với chú vài ngày trong biệt thự của chú bao giờ cũng làm tôi sảng khoái. Trước sự căm tức tột độ của gia đình tôi, chú đã chỉ định ông quản gia của chú, một người luôn trung thành phụng sự chú, người lúc nào chú cũng gọi là Jean tốt bụng của tôi một cách thân thương ấy, làm người thừa kế duy nhất. Chú Georg tôi từng nhiều lần ở Rome, một thành phố mà chú ấy, giống hệt tôi, yêu nhất, quý nhất, trong tất cả các thành phố trên đời này. Gambetti và chú Georg thân thiện với nhau ngay, nhiều buổi tối họ từng ngồi chuyện trò ngoài trời ở Piazza del Popolo, hoặc giả nếu trời có mưa, thì trong quán cà phê Greco, về mọi thứ chuyện trên đời, song nhiều nhất vẫn là chuyện về nghệ thuật, về hội họa. Chú Georg tôi là người đam mê sưu tầm nghệ thuật và như tôi biết, phần lớn lợi tức từ đống tài sản của chú, chú bỏ cả ra mua tranh tượng của các nghệ nhân đương thời. Bởi chú có khiếu thẩm mỹ và đặc biệt bén nhạy khi đánh hơi giá trị các tác phẩm chú ưa chuộng, cho nên, nhờ cái thú sưu tầm say sưa ấy mà không bao lâu chú đã gom vào khối tài sản sẵn có thêm một khoản đáng kể, tính phải đến bạc triệu chứ chẳng ít. Các nghệ sĩ vô danh được chú bảo trợ đã nhanh chóng trở nên nổi tiếng, sau khi ít nhiều có thể xem là được chú phát hiện và khiến công chúng chú ý bằng cách mua rồi giới thiệu rộng rãi các tác phẩm của họ. Chú Georg tôi không ưa lối làm ăn nguyên thủy của gia đình tôi chút nào, hay nói cho cùng, chú căm ghét việc thiên nhiên bị bóc lột năm này qua năm khác ở nông thôn và chú cũng khinh bỉ cái truyền thống hàng trăm năm của Wolfsegg, dù đấy là truyền thống sản xuất nào thịt với mỡ, nào da với bì, nào gỗ với than, hay truyền thống săn bắn, là thứ chú căm ghét thậm tệ, nhưng lại là thứ làm ông anh chú, tức là bố tôi, và thằng cháu chú, ấy là ông anh tôi, say đắm nhất trong số những niềm đam mê có thể có. Săn bắn là thứ đam mê chú căm ghét thậm tệ nhất trong số các niềm đam mê đáng ghét nhất. Trong khi cả bố mẹ chú, tức ông bà tôi, lẫn bố tôi, tức ông anh chú, đều mê mẩn với săn với bắn thì chú Georg tôi bao giờ cũng khước từ việc nhập cuộc với họ. Chú cũng như tôi, không ăn thịt thú rừng và trong khi cả nhà kéo nhau đi săn, lại chui vào một thư viện nào đó, vùi đầu đọc sách để quên cơn điên đi săn của cả nhà, trong khi bọn họ giương súng hạ một hươu nào đó thì ta lại ngồi thư viện, sau mấy tấm cửa sổ đóng kín, để khỏi phải nghe tiếng súng, chú vẫn bảo thế, và đọc Dostoyevsky. Cũng như tôi, chú Georg yêu văn học Nga, mà trước hết là Dostoyevsky và Lermontov; chú cũng thường nói nhiều điều thật thông thái về hai văn sĩ Nga này, đồng thời chú cũng tìm hiểu cặn kẽ và đọc đi đọc lại hai nhà cách mạng Kropotkin và Bakunin, là hai người xét theo cái gọi là văn chương hồi ký, được chú đánh giá là hay nhất trong thể loại đó, và chú chính là người, với tư cách một chuyên gia dày dạn về văn học Nga, một người thông thạo tiếng Nga như thông thạo tiếng Pháp, đã dẫn dắt tôi đến với nền văn học đó, và cũng chính chú là người tôi mang ơn vì chú đã trao cho tôi tình yêu đối với văn học Nga và về sau, với văn học Pháp. Cũng như, phải nhờ ơn chú tôi mà tôi mới có được một mảng lớn trong vốn liếng tinh thần. Chính chú Georg, từ rất sớm, đã mở mắt cho tôi nhìn ra thế giới, cho tôi thấy ngoài Wolfsegg, ngoài nước Áo ra, còn cái gì đó khác nữa, cái gì đó tuyệt vời hơn nhiều, cái gì đó dữ dội hơn nhiều, và thế giới, không như người ta vẫn tưởng, không chỉ do một gia đình duy nhất, mà do hàng triệu gia đình tạo nên, không phải chỉ bao gồm một chốn duy nhất, mà bao gồm triệu triệu nơi chốn như thế, và cũng không chỉ do một dân tộc duy nhất, mà do hàng trăm, hàng ngàn dân tộc hợp thành, không phải từ một nước duy nhất, mà từ hàng trăm, có khi hàng ngàn nước hợp lại mà nên, trong đó nước nào cũng đẹp nhất, cũng quan trọng nhất. Toàn thể nhân loại là một tập hợp vô cùng tận của tất tật những cái đẹp và các tiềm năng, chú Georg vẫn bảo thế. Chỉ kẻ nào ngu si đần độn nhất mới tưởng thế giới sẽ phải tận cùng ở nơi hắn tận số. Song, chú Georg không những đã dẫn dắt tôi vào thế giới văn chương và mở nó ra trước mắt tôi như một thiên đường bất tận, chú còn dẫn tôi vào thế giới của âm nhạc, cũng như mở mắt cho tôi chiêm ngưỡng mọi môn nghệ thuật khác. Khi nào ta có được một quan niệm nghiêm túc về nghệ thuật, thì lúc ấy ta mới có một quan niệm nghiêm túc về thiên nhiên. Chỉ khi nào ta có thể vận dụng và thưởng thức nghệ thuật, ta mới có thể vận dụng và thưởng thức thiên nhiên đúng đắn được. Đa phần con người ta không bao giờ có được một quan niệm về nghệ thuật, dù chỉ là sơ đẳng nhất mà thôi, và do đó không bao giờ có thể nhận thức được thiên nhiên. Một nhãn quan lý tưởng về thiên nhiên đòi hỏi một quan niệm lý tưởng về nghệ thuật làm điều kiện tiên quyết, chú Georg vẫn nói vậy. Những ai khoe khoang họ hiểu rõ thiên nhiên, nhưng lại không hề có một khái niệm nào về nghệ thuật, thì họ sẽ chỉ hiểu thiên nhiên một cách hời hợt, chứ không bao giờ hiểu theo mệt cách đầy đủ lý tưởng, cũng có nghĩa là họ không thể hiểu được sự cao quý vô tận của thiên nhiên. Một kẻ có đầu óc bao giờ cũng có thể, trước hết, dựa vào thiên nhiên để có được quan niệm hoàn hảo về nghệ thuật, rồi từ khái niệm nghệ thuật ấy, trở lại có nhãn quan hoàn thiện lý tưởng về tự nhiên. Trong các chuyến đi thăm Ý với nhau, chú Georg chẳng bao giờ lôi tôi hùng hục chạy, như bố tôi, từ cột trụ cổ này đến cột trụ cổ nọ, từ tượng đài này đến tượng đài kia, từ nhà thờ này đến nhà thờ khác, từ công trình Michelangelo ở chỗ này để công trình Michelangelo ở chỗ khác. Chú chẳng đưa tôi đến thăm bất kỳ công trình nghệ thuật nào. Chính vì thế mà các hiểu biết của tôi về nghệ thuật đều nhờ chú mà có, bởi chú không lôi kéo tôi phải thăm tác phẩm nổi tiếng này, phải ngắm kiệt tác kia; chú cứ để tôi yên, chỉ lưu ý tôi nên thưởng thức những công trình, tác phẩm nào, chúng được trưng bày ở đâu, chứ không như bố mẹ tôi, lúc nào cũng nhăm nhăm dúi đầu tôi về phía một cột trụ, hay một bức tường La Mã, hoặc Hy Lạp nào đấy. Chính cái trò người nhà tôi, trừ chú Georg ra, ngay từ thời tôi còn rất bé, lúc nào cũng dúi đầu tôi theo một lối hết sức cẩu thả và võ đoán về phía các công trình thời cổ đại như thế, đã làm đầu óc tôi chẳng mấy chốc thành ra hoàn toàn vô cảm với mọi thứ nghệ thuật ở đời; cái lối ấy không những không đưa tôi đến gần với nghệ thuật, mà lại làm tôi ghê tởm nó. Tôi phải mất nhiều năm tháng để sắp xếp lại hàng trăm hàng nghìn công trình nghệ thuật họ đã nhét theo một lối dốt nát như thế vào đầu tôi. Giá như tôi, ngay từ hồi còn bé, tức là từ dạo bố mẹ tôi không chút nương tay, không chút chọn lựa, nhồi nhét ứ ự vào đầu tôi trăm thứ bà giằn ấy, đã sớm được chịu ảnh hưởng của chú Georg thì, tôi nghĩ bụng, chắc chắn đó sẽ là mối lợi thật lớn cho đời tôi rồi. Song, nói cho gọn, tôi phải bị bố mẹ hủy hoại gần như hoàn toàn đi đã, đợi mãi đến khi quá hai mươi tuổi, khi dường như đã tiệt đường cứu chữa rồi, tôi mới được chú Georg ra tay chữa chạy. Một cách có suy nghĩ, có cân nhắc, và hết sức thận trọng. Khi tôi rốt cuộc hiểu được ra, chú Georg tôi đóng vai trò quan trọng như thế nào đối với tôi, với quá trình lớn lên và sự trưởng thành của tôi sau này, thì hầu như đã quá muộn để bắt đầu điều tộ. Tuy nhiên, nói cho cùng, chính nhờ vào ý chí mạnh mẽ của tôi muốn thoát bằng được khỏi tai họa Wolfsegg, tức là mối tai họa bố mẹ tôi đã gieo vào người tôi ấy, cũng như may có thêm sự sáng suốt của chú Georg nữa, nên tôi mới được cứu vớt. Để khi trưởng thành, thay vì bị buộc phải sống như mọi người trong gia tộc, trừ chú Georg, tôi lại sống - giống như chú Georg tôi - theo một lối hoàn toàn đối nghịch với bọn họ. Cả đời họ, họ căm ghét chú Georg tôi, và, vào những thập niên cuối đời, cũng chẳng buồn che đậy lòng căm ghét ấy nữa; dần dần họ đối xử với chú y hệt như đối xử với tôi, nghĩ về chú y hệt như nghĩ về tôi, lừa dối chú y hệt như lừa dối tôi. Song, họ nghĩ gì về chú, đối xử với chú thế nào, chú cũng mặc kệ. Để đến một hôm, sau khi thu xếp xong xuôi chuyện tiền nong, chú lên tàu làm một mạch đến Nice. Đến đấy, chú lăn ra ngủ một trận mấy tuần liền, rồi, như chú vẫn nói, hoàn toàn tươi tỉnh, chú mới bắt đầu đi loanh quanh tìm chỗ cắm dùi. Chỗ nào sát biển, có vườn rộng, không khí trong lành tươi mát, nhưng phải thuận đường đi lại. Ở Wolfsegg, bọn họ đã phải cay đắng biết chừng nào khi nhận được các bưu ảnh đầu tiên chú gửi về. Dưới mắt họ, chắc chú giờ đang nằm ườn sưởi nắng hay đang đóng bộ âu phục bằng vải lanh, tất nhiên, được may đo, cắt thửa đúng dáng đúng kiểu từ các tay thợ Paris, nhởn nhơ đi dạo bờ biển. Và, trong các giấc mơ, mà thực ra chỉ là các cơn ác mộng, bọn họ sẽ chỉ thấy chú - một người mà suốt đời bọn họ vẫn gọi là thằng ranh vô dụng ấy - ra ra vào vào các nhà băng lộng lẫy tại khu Riviera sang trọng để nhận khoản tiền lời thu được từ đống tài sản mỗi ngày một tự phình ra của chú. Bọn họ đần độn, ngu si đến mức không thể hình dung nổi rằng, ngoài lối sống của họ, còn một đời sống tinh thần trí thức nữa. Chú Georg đã sống cuộc sống tình thần ấy; hàng trăm cuốn sổ ghi chép đầy kín chú để lại đã cho thấy rõ điều đó. Ngay từ hồi chú còn rất trẻ, sự ngu xuẩn tăm tối của dân chúng vùng Trung Âu, những kẻ, như thiên hạ vẫn nói, sống để làm lụng, thay vì làm lụng để sống ấy, mặc dù họ hoàn toàn dửng dưng, chẳng thèm để tâm xem cái việc họ làm có nghĩa lý gì, đã làm chú Georg không chịu được, buộc chú phải tìm cách thoát đi chỗ khác. Chú không thể sống yên một chỗ. Chú vẫn nói, con người ta phải để gió mới thốc vào đầu, có nghĩa là, hằng ngày phải luôn luôn tiếp nhận thế giới vào đầu mình. Ở Wolfsegg, bọn họ không bao giờ đón nhận luồng gió mới nào vào đầu, thì cũng chẳng bao giờ đón nhận được thế giới. Sinh ra đã cứng nhắc và vô hồn, bọn họ ngồi cứng nhắc và vô hồn trên đống tài sản được thừa kế, và trong đời họ, họ không còn mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu làm sao ôm thật chặt đống tài sản thừa kế kếch sù ấy, khiến nó mỗi ngày một kiên cố, chứ không rã ra. Dần dần, tất cả bọn họ, ai cũng nhiễm cái cứng nhắc, cái bất di bất dịch lẫn cái rắn chắc tuyệt đối của đống tài sản ấy mà không biết. Bọn họ hòa tan mãi mãi cùng đống tài sản đó thành một khối hữu cơ đáng sợ và kinh tởm, mà bọn họ không hay. Nhưng chú Georg tôi thì đã sớm nhận ra điều đó. Chú không muốn dính dáng gì tới đống tài sản ấy. Chú chỉ chờ một thời cơ, có lẽ là một khoảnh khắc thích hợp nào đấy, để dứt mình ra khỏi đống tài sản ở Wolfsegg. Bọn họ, theo tôi biết, khuyên chú đừng tách khoản chú được thừa kế ra khỏi Wolfsegg, thay vào đó chú chỉ nên bằng lòng nhận một khoản lương hưu đảm bảo đến cuối đời. Đầu óc tỉnh táo của chú đã giúp chú không mắc vào sai lầm ngu ngốc ấy. Đối với người thân trong gia đình, những kẻ như trong gia đình tôi, nếu cần, chính lại là những kẻ nhẫn tâm bậc nhất. Họ không chùn tay trước bất kỳ thủ đoạn đê tiện nào. Khoác bên ngoài tấm áo choàng của Cơ đốc giáo, của lòng cao thượng và tương thân tương ái xã hội, nhưng bên trong, bọn họ chỉ là một lũ tham lam không hơn không kém, và, như người ta vẫn bảo, sẵn sàng đạp lên xác chết mà đi. Chú Georg, ngay từ đầu, đã không khớp với các mưu toan của họ. Đúng ra thì bọn họ sợ chú, vì chú nhìn thấu ruột thấu gan họ từ rất sớm. Hồi còn bé chú đã bắt quả tang bọn họ trong nhiều trò bẩn thỉu và, chẳng hề sợ hãi, chỉ rõ cho bọn họ thấy cái đáng ghê tởm của những trò như thế và bao giờ cũng mạnh dạn lên án những trò bẩn thỉu đó. Người ta vẫn bảo, có lẽ, vì thế mà chú từng là đứa trẻ đáng sợ nhất ở đất Wolfsegg, vốn sáng suốt ngay từ đầu, chú đã sớm bị đồn thổi là thích làm người nhà bẽ mặt. Khi mới chỉ là đứa bé con, chú đã rình để bắt quả tang bọn họ làm những trò hạ đẳng nhất. Tôi nghe người ta bảo, ở Wolfsegg chẳng có đứa trẻ nào hỏi vặn hỏi vẹo nhiều như chú, không đứa nào nằng nặc đòi trả lời cho bằng được như chú. Người trong nhà rất hay đe tôi, rằng về sau tôi sẽ như chú Georg. Cứ như thể họ đang nhắc đến một người đáng sợ nhất trên đời, lúc nào họ cũng có thể dằn mặt tôi bằng câu: rồi mày sẽ như chú Georg mày cho mà xem. Nhưng nào có ích gì khi họ lấy chú Georg ra dọa tôi; bởi ngay từ đầu, ở Wolfsegg tôi chẳng yêu quý ai bằng chú Georg. Chú Georg mày là con quái vật! - bọn họ hay nói vậy! Chú Georg mày là thằng ăn bám! Chú Georg mày là mối nhục của chúng tao! Chú Georg mày là thằng tội phạm! Bọn họ luôn luôn có sẵn một lô một lốc những danh hiệu kinh khủng như thế để úp lên đầu chú Georg, nhưng chúng chẳng tác động được đến tôi như họ mong muốn. Cứ vài năm chú lại ở Cannes về thăm chúng tôi vài ngày, đôi khi cũng được vài tuần. Đó là những lúc tôi hạnh phúc nhất đời. Những lúc chú Georg về Wolfsegg là những lúc sung sướng nhất của tôi. Bỗng dưng, ở Wolfsegg có gì đó trở nên khác với mọi ngày. Như có thêm không khí đô thị vậy. Mấy cái thư viện bỗng dưng được thông thoáng, sách vở được chuyển đi chuyển lại, còn các phòng ốc, trước đó vốn chỉ như những hang động tối tăm, lạnh lẽo và im lặng như tờ, bỗng chan hòa tiếng nhạc. Những căn phòng vẫn thường thấy ghê ghê bỗng trở nên thoải mái, ấm cúng lạ thường. Những giọng nói ở Wolfsegg, thường ngày nghe vẫn thấy hoặc thô lỗ, sỗ sàng hoặc bị kìm nén, giờ tự dưng nghe thấy tự nhiên làm sao. Mọi người được phép cười, được phép nói với tông giọng bình thường, chứ không như mọi ngày, chỉ khi nào sai bảo người làm mới được lên giọng. Chú Georg vẫn mắng bố mẹ tôi, tại sao khi có mặt người làm, anh chị cứ phải nói tiếng Pháp với nhau? Thật lố bịch. Nghe chú nói như thế, tôi sướng lắm. Sao trời đẹp thế này mà anh chị không mở cửa sổ ra? Mọi khi, nhất là vào những năm về sau, lúc nào bên bàn ăn vốn chỉ độc chuyện lợn, chuyện bò, chuyện giá thuê xe chở gỗ hoặc mướn nhà kho rẻ hay đắt, bây giờ bỗng dưng nghe thấy những chuyện về Tolstoy, Paris hay New York, chuyện Napoleon, chuyện Alfons Thứ Mười ba hay chuyện Meneghini, Callas, Voltaire, Rousseau, Pascal, Diderot. Chị xem thế nào chứ tôi chẳng nhìn rõ mình đang ăn cái gì nữa, chú nói chẳng chút ngượng ngùng, khiến mẹ tôi phải bật dậy mở mấy cánh cửa chớp ra. Chị mở toang ra đi thì tôi mới thấy món xúp tôi ăn là xúp gì, chú Georg lại bảo mẹ tôi thế. Chú lại hỏi, làm sao anh chị cứ chui nhủi mãi trong cảnh tranh tối tranh sáng thế này chứ? Anh chị cứ như sống trong viện bảo tàng vậy! Mọi thứ trông cứ như cả năm chẳng ai đụng đến. Bộ đồ sứ đẹp thế kia để làm gì nếu anh chị không dùng đến? Còn bộ dao nĩa bạc kia nữa? Tôi một lòng khâm phục chú Georg. Có mặt chú một cái, là nỗi buồn chán cố hữu sẽ tan biến ngay. Bên bàn ăn, chú không bao giờ ngồi thuồn thuỗn cứng đơ như mọi người, chú thường xuyên quay từ người này sang người khác, hỏi han, giảng giải hay khen ngợi chuyện gì đó. Chị nên mặc đồ màu xanh dương, chú nói với mẹ tôi thế, màu xám không hợp với chị. Trông cứ như chị đang để tang, trong khi ông cụ đã mất mười lăm năm rồi còn gì. Anh này, chú nói với bố tôi, sao trông anh cứ như người làm thuê ấy. Nghe vậy tôi phải bật cười. Nếu có món ăn nào được bưng ra - mọi khi quy trình này vẫn diễn ra trong im lặng gần như tuyệt đối - thì nay chú lại nói đùa vui với mấy chị hầu bàn, thường là cảnh tượng mẹ tôi không chịu được. Không để ý đến sự có mặt của mấy chị hầu bàn, chú bảo, chẳng bao lâu nữa đâu, sẽ chẳng còn ai đến làm hầu bàn cho anh chị. Thì anh chị mới hoạt bát lên được. Đang có hơi hướng cách mạng đấy, chú bảo vậy. Tôi đánh hơi thấy sẽ sắp có chuyện gì đó xảy ra, để mọi thứ lại có thêm chút sức sống. Nghe những câu như thế, bố tôi chỉ lắc đầu. Còn mẹ tôi thì cứ nhìn trân trân vào mặt chú, như thể bà chẳng muốn giấu giếm rằng bà không ưa chú đến mức nào. Tại các nước vùng Địa Trung Hải, mọi thứ đều khác hẳn, chú bảo vậy, chứ không giải thích gì thêm. Tôi, hồi bấy giờ khoảng mười bảy, mười tám tuổi gì đó, muốn biết xem cái gì ở những nước vùng Địa Trung Hải kia khác với ở vùng Trung Âu của ta, thì chú bảo, sau này, bao giờ tôi tự mò đến thăm những nơi đó, chú sẽ chỉ cho biết. Chú bảo, cuộc sống vùng Địa Trung Hải đáng sống gấp trăm lần cuộc sống ở đây. Tất nhiên tôi rất khao khát muốn biết xem tại sao. Dân Trung Âu nhà mình không phải người, cứ như búp bê cả một lượt, mọi thứ đều căng thẳng, cứng nhắc, lố lăng đến cực độ, chú Georg bảo vậy, đến đi lại cũng chẳng tự nhiên, ai nấy đều lên gân lên guốc, thành ra lố lăng. Và chịu không nổi. Y hệt tiếng nói của họ, là thứ đáng khó chịu nhất. Chú bảo, tiếng Đức chính là thứ tiếng không thể chịu được nhất. Lúc chú ấy nói đến các nước vùng Địa Trung Hải, tôi rất khoái. Quay lại đây, chú nói, chú bị choáng. Bảo rằng những điều chú nói ra đấy làm người nghe ăn mất hết cả ngon, chú cũng chẳng mảy may lấy làm ngượng nghịu. Ối giời, chú kêu lên, lại còn các món ăn tởm lợm nữa chứ! Ăn uống ở Đức, ở Áo, và ở cả cái vùng gọi là Thụy Sĩ nói tiếng Đức kia nữa, không phải là ăn mà là đớp, là ngốn thì đúng hơn! Khen các món ăn Áo ngon thì thực trắng trợn không hơn không kém. Một vụ cưỡng bức dạ dày và toàn bộ cơ thể con nhà người ta thì đúng hơn. Về đến Cannes, bao giờ tôi cũng phải mất hàng tuần mới gột rửa hết các món ăn Áo khỏi ruột gan, bao tử. Hơn nữa, đất nước gì lại không có lấy chút bờ biển ấy! Chú chỉ thốt lên vậy, không nói gì thêm. Mỗi khi phải uống một ngụm rượu vang, tôi lại thấy chú nhăn nhăn mũi. Nếu tôi để ý không sai, thì đến nước khoáng ở Áo, vốn vẫn được xem là rất tốt, chú cũng chê, nhưng không bình phẩm. Hồi ấy, tôi đã nghĩ, phải về thăm Wolfsegg, chắc chú chán đến cùng cực, bởi vì, ở đấy chẳng bao giờ chú khơi được một buổi chuyện trò hào hứng - là thứ mà chú thích thú nhất. Thỉnh thoảng, nhất là vào những ngày mới về, chú cũng thử, làm như vô tình, tung ra một cái tên như Goethe chẳng hạn, ra giữa bàn ăn; nhưng bọn họ không có lấy một chút hiểu biết nào để góp chuyện. Ấy là chưa nói đến Voltaire, Pascal, Sartre. Và, bởi không góp được chuyện với chú, họ sinh ra tấm tức, hậm hực; tấm tức, hậm hực dồn tích ngày này qua ngày khác, để đến những ngày trước khi chú về, bao giờ cũng biến thành nỗi căm ghét ra mặt. Họ thường nói gần nói xa là họ phải làm việc nặng nhọc, trong khi chú chỉ ngồi chơi xơi nước, chẳng làm gì, và biến cái sự ngồi chơi xơi nước ấy thành nếp sống hàng ngày, và có vẻ, thành lẽ sống cả đời. Cháu biết không, có lần chú bảo tôi, chú về thăm Wolfsegg, đâu phải để thăm gia đình, mà cốt chỉ thăm lại căn nhà và cảnh vật thời niên thiếu. Rồi ngừng một lát, chú nói tiếp, và cũng là để thăm cháu nữa. Trong di chúc của chú, chú dặn - trái với mong đợi của đám họ hàng - không chôn chú ở Wolfsegg, mà ở Cannes. Chú ước mong được chôn bên bờ biển. Đóng bộ lộng lẫy, song hết sức quê kệch, đám họ hàng hớt hải kéo nhau đến Cannes dự tang lễ chú, lòng chắc mẩm sẽ nhận đống tài sản kếch sù chú để lại. Nào ngờ, như tôi hé lộ lúc đầu, họ phải chứng kiến và mang về nhà - như mẹ tôi cứ đay đi đay lại mãi - nỗi thất vọng lớn nhất trong đời họ. Ông Jean tốt bụng, con của cặp vợ chồng dân chài nghèo khổ ở Marseille, đã nhận thừa kế của chú hơn hai mươi hai triệu Schilling ở dạng cổ phần chứng khoán, cộng thêm các bất động sản khác đáng giá còn gấp đôi như thế. Bộ sưu tập tranh, chú Georg tôi để lại cho các bảo tàng ở Cannes và Nice. Trên tấm mộ chí ông Jean tốt bụng sau này thuê đặt lên mộ chú, phía dưới họ tên, chỉ khắc thêm độc một dòng: người đàn ông đã ra đi đúng lúc, bỏ lại sau mình một bầy man di mọi rợ. Ông Jean đã làm đúng y lời chú Georg dặn. Khoảng một năm trước đây, thấy bảo lúc bố mẹ tôi trên đường sang Tầy Ban Nha tạt vào ghé thăm mộ chú, ông bà đã nổi xung nổi đóa đến mức, bà mẹ tôi sau đó buông lời thề độc, suốt đời không bao giờ ghé thăm mộ chú Georg nữa; bà mẹ tôi cho dòng văn bia kia là nỗi ô nhục kinh khủng nhất đời, và trở lại Wolfsegg lần ấy, thấy bảo bà cứ nhai đi nhai lại mãi những lời độc địa nguyền rủa cái tội tày đình ấy của thằng em chồng, tức là chú Georg của tôi. Tôi đã cùng với chú Georg đi những chuyến dạo chơi xa và thú vị quanh vùng Wolfsegg; tôi với chú đi tới tận Ried ở Innkreis, lần khác lại ngược hướng về Gmunden. Bao giờ chú cũng dành thời gian cho tôi. Chính nhờ chú mà tôi được biết trên đời còn nhiều thứ khác hơn là bò, là bê, là người hầu, cùng những ngày lễ buộc phải nghỉ làm theo luật định. Cũng chính nhờ chú, tôi không những học được cách viết, cách đọc, mà còn thật sự học được cách phải biết suy nghĩ và tưởng tượng ra sao. Cũng nhờ công của chú, cho nên tôi, mặc dù coi trọng tiền bạc, nhưng cũng không hề coi tiền bạc là tối cao, và nhờ chú mà tôi, khác với bố mẹ tôi, không những chỉ biết coi đám nhân quần sống ngoài Wolfsegg là một thứ đối thủ tồi tệ cần phải có ở đời, mà còn biết coi họ như một thách thức, một thách thức mà suốt đời tôi, tôi sẽ phải đối chọi như đối chọi với một con quái vật dữ dội nhất, nhưng cũng làm tôi đắm say. Chú Georg đã đưa tôi vào thế giới bí mật của âm nhạc và văn học, cho tôi làm quen với những nhạc sĩ, nhà thơ bằng da bằng thịt, chứ không phải ở dạng những bức tượng to nhỏ bằng thạch cao, hàng năm phải lau chùi bụi bặm đôi ba lần. Nhờ ơn chú mà tôi biết đọc những cuốn sách dường như đã bị đóng gập lại mãi mãi trong các thư viện gia đình tôi và, từ đó cho đến tận ngày nay, tôi vẫn không ngừng đọc, để rốt cuộc, học được cả cách triết lý ở đời; nhờ ơn chú Georg, tôi không bị cuốn vào guồng cối xay sinh tiền đẻ của ở Wolfsegg, để thật sự trở thành một kẻ có thể xem là tự do. Tôi không chỉ đi những chuyến đi vớ vẩn, gọi là để mở mang đầu óc, mà bố mẹ tôi vẫn đi, và lúc đầu cũng thường kéo tôi theo, chẳng hạn, sang Ý, sang Đức, Hà Lan hay lầy Ban Nha, mà nhờ ơn chú Georg, tôi còn vỡ nhẽ ra nghệ thuật đi du lịch là thứ thú vui tuyệt nhất ở đời mà tôi vẫn gắng hưởng cho đến tận ngày nay. Nhờ chú Georg, tôi được thăm những thành phố không phải các thành phố chết, mà là thành phố sống động, được làm quen không phải các dân tộc chết, mà là các dân tộc sống động, được đọc không phải các nhà văn, nhà thơ chết, mà là những nhà văn, nhà thơ sống, được nghe không phải thứ âm nhạc chết, mà là âm nhạc sống, được ngắm nhìn không phải những bức họa chết, mà là những bức họa sống. Chú, chứ chẳng ai khác, không găm tên tuổi các nhân lịch sử vĩ đại vào mặt phía trong của vỏ não tôi, như găm vài bức tranh nhạt nhẽo ghi lại đôi câu chuyện lịch sử cũng nhạt nhẽo không kém lên tường, mà chú đã biến những nhân vật ấy thành những diễn viên sinh động trên sân khấu sinh động của chính họ. Trong khi ngày này qua ngày khác bố mẹ tôi chỉ vẽ cho tôi độc một thế giới buồn chán, một thế giới trước sau sẽ làm tê liệt đầu óc, và xét cho cùng, chẳng đáng để sống chút nào, thì ngược lại, chú Georg lại mở chính thế giới ấy ra trước mắt tôi thành một thế giới thú vị, và sẽ thú vị mãi mãi. Thành ra, từ khi còn rất bé, bao giờ tôi cũng có hai thế giới để lựa chọn, một thế giới của bố mẹ tôi mà lúc nào tôi cũng thấy buồn tẻ, nặng nề chứ chả có gì hơn, và một thế giới của chú Georg, trong đó dường như chỉ độc các cuộc phiêu lưu phi thường mà thôi, trong đó cuộc sống không bao giờ buồn chán và con người ta sẽ thật sự luôn luôn ham muốn sống mãi, và cũng là lẽ tự nhiên, để mong rằng trong thế giới đó, lòng ham sống đó sẽ chẳng bao giờ nguôi, một điều tự khắc dẫn đến hệ quả là: tôi muốn được sống mãi mãi ở trong thế giới đó, cũng có nghĩa là sống vĩnh viễn. Bố mẹ tôi, nói cho đơn giản, ở đời mọi sự ra sao, đều chấp nhận và cam chịu như thế, còn chú Georg tôi lại chẳng bao giờ chấp nhận hay cam chịu chuyện gì. Bố mẹ tôi từ lúc sinh ra đã chỉ biết cung cúc sống theo các luật lệ do các bậc tiền bối đã vạch sẵn cho hai vị và trong đầu hai vị không bao giờ dám nảy ra ý định tự lập ra các luật lệ mới và sống theo các luật lệ tự mình lập ra ấy; còn chú Georg tôi, chú lại chỉ sống theo các luật lệ riêng, do chính chú lập ra cho mình. Và các luật lệ do chính mình lập ra ấy, lúc nào chú cũng có thể đạp đổ ngay. Hai cụ nhà tôi bao giờ cũng chỉ dám bước trên lối đi được vạch sẵn và không bao giờ, dù chỉ trong một giây khắc ngắn ngủi, dám rời khỏi lối đi đó; còn chú Georg, chú chỉ riêng đường chú, chú đi. Có thể kể thêm ở đây một chuyện, để cho thấy rõ bố mẹ tôi trái ngược với chú Georg đến mức nào: hai ông bà ghét cay ghét đắng cái gọi là sự ngồi không, không làm gì, bởi hai vị không bao giờ có thể hình dung được rằng, một con người có đầu óc tinh thần không hề biết sự ngồi không là gì, cũng như hai vị không đủ trí khôn để hiểu rằng, lúc một người trí tuệ chìm đắm say sưa trong cái sự gọi là ngồi không ấy, chính là lúc đầu óc anh ta đang ở trạng thái căng thẳng và phấn khích cực độ, bởi vì, thật ra, hai vị chẳng biết làm gì khi thật sự ngồi không, bởi vì lúc họ ngồi không, trong đầu họ chẳng hề nảy ra bất kỳ một ý nghĩ nào hết, bởi vì thật ra, nào họ có bao giờ nghĩ ngợi, nói gì đến khả năng ngồi yên cho trí óc vận động. Với một người có đầu óc để tư duy, không thể xảy ra cái gọi là sự ngồi không đó. Nhưng với bố mẹ tôi, sự ngồi không lại chính là ngồi không thật sự, không làm gì thật sự, bởi khi không làm gì cả như thế, trong đầu họ hoàn toàn trống rỗng. Người có đầu óc tư duy thì hoàn toàn ngược lại, khi anh ta tưởng như ngồi không, không làm gì cả, lại là lúc anh ta hoạt động tích cực nhất. Thế nhưng, cả bố mẹ tôi, lẫn đống bà con họ hàng nhà tôi, đều là hạng ngồi không là ngồi không thật sự, thì họ làm sao hiểu nổi điều đó. Song, khổ một nỗi, họ vẫn có một ý niệm mơ hồ về kiểu cách ngồi không của chú Georg, và bởi vì họ mơ hồ như thế, nên họ căm ghét chú. Họ căm ghét chú, bởi họ có linh tính rằng cái sự ngồi không của chú, nó khác họ, thậm chí trái ngược lối ngồi không của bọn họ, nên không những có thể sẽ nguy hiểm, mà sẽ còn mỗi lúc một nguy hiểm hơn cho họ nữa. Đối với những kẻ chỉ hiểu sự ngồi không đúng thực là ngồi không, và thật sự không làm gì cả, vì khi ngồi không, chúng hoàn toàn không nghĩ ngợi gì cả, thì người ngồi không có đầu óc tư duy chính là mối đe dọa và cũng là những người nguy hiểm nhất. Bọn họ căm ghét chú, bởi dĩ nhiên họ không thể coi thường chú được. Thiên hạ vẫn kháo nhau chuyện, dạo mới lên bốn, chú từng một mình cuốc bộ, vượt những chín cây số đường dài đến tận làng Haag, rồi thản nhiên bảo với đám dân làng lạ hoắc ở đấy, rằng chú từ Wolfsegg đến và không có ý định quay lại Wolfsegg nữa. Dân Haag, tất nhiên, đã vô cùng lãnh ngạc, và không biết xử trí ra sao, bèn đưa thằng bé Georg bướng bỉnh quá sức tưởng tượng đó trả về cho bố mẹ ở Wolfsegg. Từ đấy, cả bố mẹ thằng nhỏ lẫn đám gia nhân được cắt cử canh chừng nó, hầu như lúc nào cũng phải xích nó lại, chả khác xích chó con là mấy, để nó khỏi chuồn mất. Ngay từ thuở ấu thơ, chú đã khăng khăng một mực, chú sẽ lưu lại Wolfsegg đủ mức cần thiết rồi thôi, về sau này ở Cannes, có lần chú bảo tôi, hồi ấy, đương nhiên chú chỉ chờ đến lúc thuận tiện để thoát khỏi Wolfsegg mà không hề hấn gì, có nghĩa là lúc nào chú thấy đã thu lượm đủ mọi thứ cần thiết cho cuộc đời hoàn toàn tự do là được. Wolfsegg thật ra rất tuyệt, chú bảo tôi, nhưng nhà mình đã biến nó thành nơi chú không sao chịu nổi nữa. Ông anh chú, tức là bố cháu đấy, có lần chú bảo tôi, là người yếu đuối. Thật ra, ông ấy cũng là người đáng mến thôi, nhưng chú chịu không nổi. Còn mẹ cháu, chị dâu chú, lại là con mẹ hết sức tham lam; lấy bố cháu chỉ do tính toán cầu lợi mà lấy thôi. Bà ấy xuất thân đúng ra là từ tay trắng. Thấy bảo hồi xưa bà ấy có nhan sắc lắm, nhưng bây giờ còn thấy gì nữa đâu. Bố của cháu, đúng ra, không phải phường hám tiền, ham của. Phải vào tay mẹ cháu, bà ấy mới khơi lòng tham đê tiện của ông ấy lên. Nhưng, từ trước khi bố mẹ cháu quen nhau, chú đã chẳng chơi thân được với bố cháu rồi. Hai anh em đối nghịch nhau trong mọi chuyện. Bố cháu tốt tính, thì rõ rồi, đến giờ vẫn tốt tính thế, nhưng chú nói cháu đừng giận, bố cháu đần độn lắm. Mẹ cháu nắm chắc ông ấy trong lòng bàn tay. Thế mà, hồi đi học bao giờ bố cháu cũng giỏi hơn chú đấy. Mọi thứ ông ấy làm đều tuyệt vời. Bài làm bố cháu nộp bao giờ cũng nhất. Mọi người quý bố cháu, chẳng ai quý chú. Điểm của bố cháu bao giờ cũng cao hơn chú. Thế nhưng, mặc dù bố cháu với chú quần áo giống nhau, chú trông bao giờ cũng sang trọng hơn. Chả hiểu tại sao. Nhưng chú chỉ nói vậy với cháu, vì nói thật, lúc nào chú cũng thương bố cháu, là ông anh chú đấy. Chú Georg bảo tôi thế. Mà đúng thật, lúc chú lần cuối cùng đến Rome, chú chỉ nói mỗi một chuyện là chú đã yêu quý ông anh chú hơn bất kỳ ai trên đời này, vâng, có lẽ sẽ vẫn còn yêu quý mãi như thế, nếu con mụ đàn bà kia, tức là mẹ cháu, chú nói, không tự dưng xuất hiện. Một mụ đàn bà xuất hiện, tìm cách lấy bằng được một thằng đàn ông làm chồng - dù gã có đồng ý hay không đồng ý cũng mặc - rồi làm mai một dần các đức tính tốt của hắn, rốt cuộc hủy hoại đời hắn, hoặc biến hắn thành con rối cho mụ giật dây. Mẹ cháu đã biến bố cháu thành con rối như thế. Lạy Chúa, chú Georg đã thốt lên như vậy, giá bố cháu gặp người đàn bà nào khác, thì có phải bây giờ bố cháu đã thành người khác thế này rồi không! Chú bảo, chú không biết còn ai trên đời mù văn hóa như mẹ tôi. Bà ấy đi nghe nhạc kịch, nhưng nào có tí hiểu biết gì về âm nhạc đâu. Bà ta ngắm một bức tranh mà không hiểu tí gì về hội họa. Bà ta bịa, bảo rằng đã đọc sách này sách nọ, nhưng thật ra chưa đọc quyển nào. Ấy thế, nhưng cứ ngồi vào bàn ăn là ba hoa, chú tôi bảo, bắt mọi người ngồi quanh phải nghe những chuyện hết sức vớ vẩn. Lẽ ra thì bà ấy phải biết làm cách nào để tiền tự nó sinh sôi mới đúng, chứ không phải bằng cái cách ngu si và bệnh hoạn bà ấy làm, cái cách sau này cả bố cháu cũng nhắm mắt làm theo ấy. Nói như thế là chú Georg muốn nhắc đến nghệ thuật làm ra tiền và không ngừng bắt tiền sinh sôi nảy nở của chú. Thật khó mà tin được là cả hai anh em, bố cháu với chú, đều cùng một lò mà ra cả. Đầu óc chú lúc nào cũng đầy các ý tưởng, bố cháu chẳng bao giờ có gì trong đầu. Chú đi đây đi đó, bởi chú ham đi đây đi đó, bố cháu lại không hề có chút nhu cầu đi đâu bao giờ; nếu có đi, thì cũng chỉ vì thiên hạ đi thì mình cũng đi, theo những chương trình đần độn do kẻ khác, những kẻ tởm lợm lúc nào cũng tự xưng là người am hiểu nghệ thuật lập ra ấy. Họ bảo bố cháu, anh phải đến Rome thăm nhà nguyện Sistine, thế là bố cháu lên tàu đến Rome, chui vào thăm nhà nguyện Sistine cho bằng được. Bọn họ bảo bố cháu, ông phải xem bức họa của Giorgione, trưng bày ở Accademia, gọi là bức La Tempesta, thì bố cháu nhảy tàu đi Venezia xem bức La Tempesta của Giorgione. Chúng nó bảo bố cháu, ông phải đến Verona thăm mộ Romeo và Juliet thì bố cháu đến đấy thăm mộ hai người. Bọn nó bảo ông phải thăm Acropolis thì bố cháu đến Athens thăm Acropolis. Bọn nó bảo, ông phải xem Rembrandt, phải xem Vermeer, ông phải thăm nhà thờ Strafiburg, phải thăm nhà thờ chính tòa Metz. Thì bố cháu đi, bố cháu xem, đi xem hết những gì cái bọn gọi là sành sỏi nghệ thuật kia của bố cháu mách bảo. Mà cái bọn mách bố cháu đi xem những thứ đó là bọn đáng kinh tởm làm sao chứ, chú Georg rên lên - cái bọn mang đầu óc tiểu tư sản đáng sợ, đeo danh hiệu giáo sư ấy, bọn người lân la làm quen với bố cháu chỉ cốt một mục đích duy nhất là được trọ không dăm ba bữa ở Wolfsegg tuyệt vời của nhà mình mà thôi. Cái đám toàn những hình hài đáng ghê tởm bố cháu vẫn mời ở Wien về ấy, những là giáo sư đại học với chuyên gia lịch sử nghệ thuật vân vân... ấy! Bởi bố cháu cứ tưởng bọn chúng là những người am tường văn hóa thật. Cái bọn đê tiên, cái bọn cứ cuối tuần lại từ Salzburg với Linz kéo nhau mang theo cái mùi hôi ghê tởm của chúng về đầu độc Wolfsegg ấy, cái bọn gọi là triết gia, học giả hay luật gia ấy, tất cả bọn chúng đều chỉ lăm le lợi dụng bố cháu mà thôi. Chúng kéo nhau cả lô cả lốc những vợ chồng con cái lên nhà mình, đánh chén ứ ự suốt hai ngày cuối tuần, để rồi bên bàn ăn, chỉ phun toàn những thứ khoa học giả hiệu vớ vẩn nhất đời ra nữa thôi. Lại còn đám thầy thuốc tởm lợm bố cháu cứ lôi từ Vöcklabruck hay Weis về nhà nữa chứ. Bọn chúng chỉ làm bố cháu ngu muội thêm. Nghe chúng nó tán, bố cháu cứ tưởng chức danh hàn lâm cao thì khả năng tư duy cũng chắc chắn cao. Bố cháu hoàn toàn nhầm. Phần chú, suốt đời chú căm ghét tất cả các chức danh lẫn những ai mang các chức danh kiểu đó. Bởi đối với chú, chúng đáng ghét hơn bất kỳ thứ gì khác. Hừ, chỉ cần nghe đến cái danh: Giáo sư đại học! là chú đã thấy ghê hết cả người rồi. Bởi một chức danh như thế, gần như bao giờ cũng là bằng chứng hiển nhiên cho một kẻ đần độn ở tầm hết sức đặc biệt. Chức danh kiểu đó, nghe càng oai bao nhiêu thì kẻ mang chức danh càng đần độn bấy nhiêu. Lại thêm bà vợ ông ấy, tức mẹ cháu đấy, nữa chứ! Bà ta vốn đã xuất thân từ một xứ sở trí tuệ luôn luôn bị chà đạp rồi. Qua mấy chục năm bà ta bắt được bố cháu làm chồng, bà ta còn hoàn thiện nghệ thuật chà đạp trí tuệ đó thêm nhiều lần. Song, nói của đáng tội, bố cháu chưa bao giờ biết suy nghĩ độc lập cả, hay nói cho đúng hơn, bố cháu cũng không đủ sức để suy nghĩ độc lập nữa kia. Bố cháu chỉ biết ngưỡng mộ kẻ khác, những kẻ bố cháu tưởng họ biết nghĩ và để những kẻ đó nghĩ thay cho mình. Do đó bố cháu, tất nhiên, mỗi ngày một thêm ỷ lại. Song, một cuộc sống ỷ lại kiểu như thế không lẳng lặng trôi qua mà chẳng để lại dấu vết gì. Đầu óc bố cháu, vì ỷ lại, nên không mở mang thêm chút nào. Chú Georg bảo tôi, đáng tiếc là chú phải nói thẳng rằng bố cháu là kẻ hết sức ngu si đần độn. Và, một người đàn bà bao giờ cũng tinh quái như mẹ cháu, lại rất cần một kẻ hết sức ngu si đần độn như bố cháu. Cho nên, rốt cuộc, bố mẹ cháu rất đẹp đôi. Tôi vẫn còn nghe rất rõ những lời chú nói; trong một kỳ nghỉ, lúc hai chú cháu ngồi ở Piazza del Popolo; chiều tối hôm ấy, chú Georg đâm lắm nhời hơn mọi khi, vì hoàn toàn trái với lệ thường, ngay từ chiều chú đã uống khá nhiều vang trắng. Chính vì chú bao giờ cũng rất thương bố cháu, ông anh chú đấy, cho đến giờ vẫn thương, cháu phải biết vậy, cho nên chú mới dám nói như thế về bố cháu. Chú bao giờ cũng cầu mong cho bố cháu kiếm được một mụ đàn bà khác với mẹ cháu, nhưng nói gì thì nói - chú bỗng ngừng, nhìn tôi kinh hãi trong giây lát, rồi mới tiếp - bà ấy cũng là mẹ cháu. Đoạn, chú trầm ngâm, biết đâu cháu không nên than với chú thế này. Ai biết được, có khi không có chú, cháu lại sướng hơn cũng nên. Đáp lại, tôi chỉ làu bàu, không phải đâu. Chú thường ở Hotel de la Ville, khách sạn chú ưa nhất, nằm ngay kề Bậc thang Tây Ban Nha; từ đó chỉ vài bước là đến quán café Greco. Năm nào chú cũng đến Rome ít nhất một lần; lần nào đến chú cũng bảo, Cannes làm chú điên đầu nên chú bỏ đi. Thì ra mỗi năm Cannes làm chú điên đầu một lần. Chú thường nói, chú không thích Paris, Rome thì bao giờ chú cũng thích. Cũng bởi vì chú biết cháu ở Rome. Chú bảo, thành phố nào mình yêu thích, thì bao giờ mình cũng có một người mình yêu quý ở đấy. Chỉ tiếc Rome bây giờ ồn quá. Thế nhưng, bây giờ thành phố nào chả ồn. Mặc dù không hề thấy chú đâu trên tấm ảnh chụp Amalia và Caecilia hai đứa em gái tôi trước biệt thự của chú, nhưng lúc nhìn tấm ảnh, tôi ít nhiều lại chỉ nghĩ đến chú ấy. Chỉ để tâm đến chú. Chỉ để tâm đến chú, hòng nhờ thế mà không phải nghĩ đến bức điện tín từ Wolfsegg kia, bức điện tín mà mức độ kinh khủng của nó tôi vẫn chưa thể hình dung hết được ấy. Bố mẹ tôi chết, chết chắc chắn; ông anh Johannes tôi, cũng chết. Tôi chưa đủ sức đối đầu với sự thật đó, cũng như với các hậu quả của nó. Bởi vậy, tôi tìm cách trì hoãn. Trong những giờ phút như thế này, lẽ ra chú Georg sẽ là chỗ dựa chắc chắn nhất cho tôi. Nhưng không, tôi không còn chỗ dựa nào nữa cả. Tôi không được nghĩ gì hết, về những gì đang chờ đón tôi. Trên mặt bàn giấy, tôi xếp chồng ba tấm ảnh lên nhau, để sao cho chú Georg - mặc dù không có mặt trên tấm ảnh chụp hai con

em gái tôi Ở Cannes - lên trên cùng, tức là, lên trên ảnh bố mẹ tôi, và dưới ảnh ông bà là ảnh ông anh Johannes tôi. Chỉ một nhát, bọn họ bây giờ đều chết cả rồi. Tôi tự hỏi, không biết cái gì, đã móc nối họ với nhau, và móc nối họ với tôi? Ở khách sạn Hotel de la Ville đó, trong một căn phòng đương nhiên là tốt nhất, đẹp nhất mà chú vẫn thuê của khách sạn, có lần chú bảo tôi, mặc dù buộc phải căm ghét bà con họ hàng trong gia đình, nhưng lẽ ra, chú phải yêu quý họ mới đúng. Chú dùng đúng những từ ngữ đó để nói về quan hệ giữa chú với họ hàng. Ông anh chú, tức ông bố tôi, chú vừa thương, vừa khinh thường. Bà chị dâu chú, tức bà mẹ tôi, chú ghét bà trong vai chị dâu, song, lại tôn trọng bà trên cương vị mẹ của tôi và anh Johannes. Bọn họ sẽ sống rất dai, có lần chú bảo thế, kiểu người như vậy sống rất dai, bởi vì qua năm tháng, sự đần độn của họ sẽ biến dần thành một thứ vỏ bọc, giống như áo giáp kim khí, bao lấy họ, che chắn cho họ. Họ sẽ chẳng lăn đùng ra chết như ta đâu. Chú đã nhầm. Các căn bệnh mạn tính kinh niên bọn họ ủ trong người, thay vì rút ngắn đời bọn chúng, lại kéo dài nó ra, chú bảo vậy. Kiểu bệnh tật như thế, tuy có thể làm khó chịu thật, nhưng không hiểm nghèo, không bùng phát rồi đánh gục anh ngay đâu. Bọn người ấy không bị các hứng thú ở đời làm mòn mỏi, chúng không bao giờ hóa điên hóa cuồng bởi các mối đam mê, bởi chúng chẳng có mối đam mê nào hết. Sự bàng quan, hay rốt cuộc là sự thờ ơ, lãnh đạm đã điều tiết bộ máy tiêu hóa của chúng hàng ngày, bởi vậy bọn chúng cứ thế yên thân sống thật dai, cho đến khi lú lẫn. Nói cho cùng, chẳng có gì ở đời hấp dẫn họ, cũng chẳng có gì trên đời khiến họ phải chê bai. Bọn chẳng say mê thứ gì đến mức làm chúng tàn hơi mất sức. Khi bọn họ chợt nhận ra, trong bọn họ, chú chính là kẻ gây rắc rối, chú Georg tôi bảo vậy, thì bọn họ gạt chú ra khỏi giới của họ, mới đầu còn kín đáo, về sau thì chẳng buồn giấu giếm nữa. Đúng ra, giá có thể thuê được kẻ nào, thậm chí với giá thật cao, để trừ khử chú thì bọn họ có lẽ cũng chẳng ngại ngần gì đâu. Tự chú, ở Wolfsegg chú đã chiếm một vai mà bọn họ không chấp nhận được; chú chính là kẻ luôn luôn chỉ ra cho họ thấy mọi sai trái của họ, chính là kẻ không bỏ sót bất cứ biểu hiện kém cỏi nào của họ, là kẻ bắt quả tang họ trong mọi chuyện thấp hèn. Cháu có biết bọn họ đã trố mắt ra như thế nào không, chú Georg kể, khi mà một hôm, chú bảo, cả nửa năm nay rồi họ không mở cửa các thư viện nhà mình, và chú đòi họ để chú vào các thư viện ấy. Cứ bao giờ chú nói đến các thư viện nhà chúng tôi, dân tình thường ai cũng ngạc nhiên, bởi hầu hết người ta, giỏi lắm, chỉ nói thư viện nhà chúng tôi, là cùng, bởi vì người ta chỉ có một thư viện, trong khi nhà mình có cả những năm cái; thế nhưng, với năm cái thư viện ấy - chú Georg bảo tôi - nhà ta lại tụt hậu một cách nhục nhã về tình thần so với nhiều nhà chỉ có một thư viện duy nhất mà thôi. Một trong những bậc cụ cụ kị kị gì đấy của nhà mình đã lập ra năm cái thư viện, mà suốt đời chú, bao giờ chú cũng lấy làm hãnh diện. Cụ chắc chắn không phải điên, không phải cuồng sĩ, như bọn ở Wolfsegg vẫn cằn nhằn, để có đủ khả năng tiền bạc lẫn sự am hiểu tuyệt vời về văn học, cộng thêm ý chí, dám dành hẳn bấy nhiêu phòng ốc trong các dinh thự nhà ta làm thư viện, chứ không để làm phòng giải trí vốn chỉ dùng vào việc gieo cấy rồi nuôi dưỡng sự ngu si đần độn mà thôi. Cho đến một hôm, chú Georg bảo tôi, chú phá cửa vào các thư viện ngủ yên im ỉm ấy. Suốt đời họ, họ chẳng bao giờ tha thứ cho chú vì cái tội lần đó. Thế nhưng, chờ chú đi khỏi Wolfsegg, bọn họ lại cho bịt chặt cửa các thư viện suốt mấy năm liền; mãi đến khi thiên hạ kháo nhau ầm lên về các thư viện này, thì cho khỏi bẽ mặt, họ mới lại mở cho những ai hiếu kỳ đến xem. Nếu không có chú lôi ra dùng, thì ở Wolfsegg, chẳng có thứ đồ đạc nào được đem ra dùng cả, chú Georg kể với tôi. Chú điềm nhiên ngồi lên những chiếc ghế bành cả chục năm nay không ai đặt đít ngồi lên, chú mở toang các cánh tủ hàng chục năm nay không ai mở, chú uống nước, uống rượu bằng các loại ly cốc cả chục năm nay không ai dám đụng đến. Chú đi dọc các hành lang hàng chục năm nay không ai dám đặt chân lên. Ngay từ đầu chú đã là đứa tò mò, khiến bọn họ phải lo ngại. Chú lục lọi, lần mở đống tài liệu ghi chép, lưu trữ từ cả trăm năm nay và xếp đầy trong những chiếc hộp to tướng trên gác xép. Bọn họ biết có những chiếc thùng như thế nằm ở đó, nhưng chẳng bao giờ để mắt tới. Bọn họ e ngại phát hiện ra những điều không hay ho trong đó. Chú Georg nói, chú bao giờ cũng quan tâm đến mọi thứ, và cũng là chuyện tự nhiên thôi, chú quan tâm trước hết đến các mối quan hệ gia đình, đến lai lịch các mối quan hệ đó. Nhưng, không phải theo kiểu họ quan tâm, tức là chỉ làm sao xếp hàng trăm hàng ngàn trang ghi vinh quang lên trên là được; chú quan tâm đến cái tổng thể. Chú dám liều lĩnh làm cái việc họ không bao giờ dám, là bới tận đáy, soi tận gốc, cái lai lịch kinh khủng của nhà mình. Điều đó khiến họ chống lại chú. Rốt cuộc, thằng Georg biến thành một tiếng gọi làm tất cả bọn họ kinh hãi, chú tôi bảo. Bọn họ sợ thằng nhỏ, tức là chú đấy, sẽ làm chủ bọn họ chứ không phải ngược lại. Bố mẹ chú, tức ông bà nội cháu đấy, trói chú, bịt mồm bịt miệng chú ở Wolfsegg. Lẽ ra, ông bà ấy không bao giờ được phép làm như thế với chú. Rồi đến bố mẹ cháu, hai vị đã chẳng học bài học thất bại của bố mẹ chú, tức của ông bà cháu thì chớ, đằng này hai vị lại đối xử với cháu còn thậm tệ hơn nhiều lần nữa chứ. Nhưng nói thật, chú nói, không biết cháu sẽ lớn lên thành hạng người nào, nếu họ không cư xử với cháu, theo cái lối họ đã cư xử với cháu nhỉ? À, mà đấy là câu hỏi không cần câu trả lời, tự nó đã trả lời rồi. Nhìn cháu, nói thật tình, lúc nào chú cũng như thấy hình bóng chú hồi xưa vậy, chú Georg bảo tôi. Cháu đã chọn con đường y hệt như chú. Cháu tách khỏi bọn họ, cháu tránh con đường của bọn họ, cháu quay lưng lại với họ, cháu chọn đúng thời cơ để rời xa họ. Bọn họ đã không tha thứ cho chú thế nào, thì cũng không tha thứ cho cháu y như thế. Lạy Chúa, Cannes đối với chú thế nào, thì Rome đối với cháu như thế. Nhờ vậy, đứng từ xa, chú cháu mình có thể đối chọi với Wolfsegg. Cứ nhớ đến những buổi tối trò chuyện cứng đơ đơ của người nhà mình là chú lại thấy ớn; bất cứ đề tài nào, dù hay ho tuyệt vời đến đâu cũng vậy, vừa nêu ra đã tịt ngóm. Anh nói gì thì nói, chẳng ai hiểu. Anh muốn gợi chuyện gì thì gợi, chẳng một ai để ý. Bố cháu, ông ấy có đọc báo, thì cũng chỉ tờ Nông nghiệp vùng Thượng Áo mà thôi, ông ấy có đọc sách, thì cũng chỉ cuốn sổ kế toán là hết. Rồi cũng chỉ là khỏi phí vé nghe nhạc đã trót mua bao hàng tháng, họ đánh xe đến Linz vào nhà hát, chẳng chút ngượng ngùng, xem một vở hài kịch đáng tởm, rồi ghé nghe buổi giao hưởng lố bịch trong cái nhạc viện gọi là Brocknerhaus, nơi mà chỉ các âm thanh lạc điệu với âm lượng hết cỡ là nghe rõ ấy. Bọn người đó, tức là bố mẹ cháu, chú bảo vậy, không những chỉ mua bao vé tháng nhà hát và nhạc giao hưởng mà thôi, họ sống cuộc đời họ cũng theo kiểu mua bao vé tháng như thế, hàng ngày họ bước vào đời họ như bước vào nhà hát, trong đó đang diễn vở hài kịch tởm lợm, và họ không hề thấy ngượng ngùng khi bước vào đời như đi nghe một bản giao hưởng kinh khủng, trong đó chỉ toàn các âm thanh lạc điệu, và họ sống, vì họ phải sống, chứ không phải vì họ muốn sống, không phải vì cuộc sống ấy là niềm đam mê của họ đâu, không đâu, mà vì cuộc sống ấy đã được đặt trước, được bố mẹ họ thuê bao từ trước cho họ rồi mà thôi. Và, cũng như trong rạp hát, họ vỗ tay không đúng lúc, thì trong cuộc đời, họ vỗ tay không bao giờ đúng chỗ, họ hoan hô tán thưởng trong nhà hát giao hưởng hệt như trong cuộc đời, đúng vào lúc không có gì đáng hoan hô tán thưởng cả, lại còn lên mặt vênh vang ngạo mạn một cách đáng ghét, trong khi lẽ ra phải thả sức cười mới phải. Và, nếu như các vở kịch bọn họ chọn để xem hay bản nhạc chọn để nghe, theo vé tháng thuê bao ấy, là các vở kịch, bản nhạc tồi tệ và tầm thường bậc nhất, thì cuộc đời họ cũng tồi tệ, tầm thường thậm tệ y như vậy. Song, chú bảo tôi, có lẽ đã đến lúc chú cháu mình phải mặc kệ họ làm gì thì làm, sống ra sao thì sống. Chả can hệ gì đến chú cháu ta! Vả lại, ai dám bảo đảm đường chú cháu mình đi là đúng? Chính chúng ta đây cũng đâu phải là những kẻ sung sướng, hạnh phúc nhất đâu - những kẻ lúc nào cũng lông nhông trên đường tìm chân lý, mà có tìm thấy đâu. Sự thật là, tất cả chúng mình, ai nấy cũng đều tìm một con đường để xích đến gần nhau, nhưng càng tìm, lại càng xa nhau ra. Các nỗ lực tìm lại gần nhau càng lớn bao nhiêu, ta lại càng xa nhau ra bấy nhiêu. Các cố gắng của ta theo hướng đó, chú nói, bao giờ cũng kết thúc cay đắng. Và bao giờ mình cũng bỏ dở cuộc tìm kiếm, vì nếu không, chính những lời trách móc lẫn nhau sẽ làm ta chết ngạt, chú nói. Sai lầm của chú cháu ta là ở chỗ, ta không bao giờ chịu bằng lòng với sự thật là Wolfsegg chẳng dính dáng gì đến ta nữa, đấy là Wolfsegg của bọn họ, chú nói, không phải Wolfsegg của chúng ta. Thay vì để họ yên, ta lại luôn luôn muốn dúi bằng được vào tay họ, bắt họ phải nhận một Wolfsegg, một Wolfsegg của ta, chứ không phải Wolfsegg của họ. Ta đã luôn luôn tìm cách xía vào Wolfsegg của họ, trong khi lẽ ra, ta nên để họ đi đường họ, thì tốt hơn. Họ đã trả đứt khoản đền bù cho ta, nhẽ ra ta đã gật thì cũng phải cho xong mới đúng. Chú bảo tôi, ta chẳng có quyền gì ở Wolfsegg nữa. Tôi ngắm nghía lã tấm ảnh hai con em gái tôi, chụp lúc một đứa khoảng hăm hai và một đứa khoảng hăm ba gì đó. Hai gương mặt có vẻ giễu cợt của chúng mày, tôi nghĩ bụng, giờ quay lại giễu cợt chính bọn mày đây. Bọn chúng mày còn lại một thân một mình, chúng mày không đủ sức thoát khỏi Wolfsegg, vẻ mặt giễu cợt kia vốn là thứ vũ khí duy nhất của chúng dùng để chống lại mọi thứ xung quanh, chống lại bố mẹ mà chúng không thoát khỏi nanh vuốt, song, cũng chính vẻ mặt đó lại làm mấy gã đàn ông chúng nó muốn vơ làm chồng, rốt cuộc, đều đánh bài chuồn hết. Hai đứa em gái tôi không đẹp, tôi thầm nghĩ, chưa bao giờ có thể xem là đẹp. Đã xấu, chúng nó cũng lại không thú vị nữa. Đầu óc chúng chẳng được mở mang là mấy, vẫn là hai đứa con gái quê mùa ngốc nghếch thuở nào. Chỉ có điều, bây giờ đã già thêm hai chục tuổi, vẻ mặt giễu cợt không còn nét trẻ trung nữa, bị nhiều nếp nhăn cay đắng làm rúm ró. Nói trắng ra là chúng nó quá xấu. Rất có thể Caecilia tốt bụng hơn Amalia đấy. Nhưng, thêm vào thói tham lam kế thừa của bà mẹ chúng nó, cả hai đứa, đứa nào cũng nhiễm tật nhìn đời cay đắng. Thoạt đầu, hai đứa có vẻ có chút khiếu âm nhạc, và chú Georg tôi đã toan dạy hai đứa sau này thành nhạc công - một ý định đến là tội nghiệp và chẳng bao lâu đã tắt ngóm. Hai đứa nó không đủ kiên nhẫn học, mà cũng chẳng thích thú gì âm nhạc, thành ra năng khiếu ban đầu tiêu tan dần, chỉ còn vừa đủ để giữ được hai chân dự bị cho dàn đồng ca nhà thờ nữa mà thôi. Dạo chúng nó mới bốn hay năm tuổi gì đó, mẹ chúng nó ấn hai đứa, mỗi đứa vào một bộ áo váy Dirndl giống hệt nhau từ họa tiết đến đường may; mặc cái thứ áo váy ấy trên người, chả trách chúng cứ dần dà teo tóp. Sức khỏe cả hai đều èo ợt, vốn thừa hưởng từ bà mẹ chúng nó, nhưng lại là thứ èo ợt báo trước sự trường thọ. Cả hai đứa lúc nào cũng ho húng hắng. Tôi chưa bao giờ thấy chúng nó không ho. Wolfsegg chúng nó ho từ trên gác đi xuống, từ dưới nhà đi lên. Song, thứ ho này không phải thứ ho đáng để tâm, không phải thứ ho chết người. Đó là thứ ho hắng, nghe cứ như một thứ đam mê, như một trò tiêu khiển tuyệt vời của chúng. Dường như, trong tiếng ho ấy chứa đựng năng khiếu âm nhạc dạo nào đã tiêu tan của chúng nó. Ngay cả khi khách khứa đông người, chúng nó cũng ho. Chúng nó chẳng có gì để góp chuyện, chỉ húng hắng ho suốt buổi. Mỗi đứa đeo trên cổ một sợi dây chuyền bằng bạc, kế thừa của bà nội, và mỗi khi có ai hỏi, là lại nhanh mồm đáp, chúng tôi theo đạo Thiên chúa. Một dạo, hai đứa chúng nó phải đến Bad Ischl học nấu ăn, bởi bố mẹ chúng nó ai cũng tưởng, ở đấy, chúng nó hẳn sẽ học kiểu cách nấu ăn theo lối ở cung đình. Song, ở Bad Ischl chẳng đứa nào học nấu ăn cho ra hồn, nấu thậm chí còn kém cả mẹ chúng tôi, là người mà, vào những ngày chị nấu bếp nghỉ phép về Aschau bên sông Danube, lại lòi đuôi ra là chẳng biết nấu nướng gì. Mẹ chúng tôi biết nấu mỗi món xúp khoai tây. Chỉ có điều, chả ai trong chúng tôi ưa món ấy. Còn mỗi bố tôi, ít ra thì cũng như ông luôn mồm thề thốt, là mê món xúp khoai tây. Hai em gái tôi, như thiên hạ vẫn nói, thuộc loại ngoan ngoãn, song điều đó hoàn toàn không che đậy được sự thật hai đứa chúng nó là những kẻ ranh ma tráo trở bậc nhất. Nếu đứa này có bao giờ cầm lấy một quyển sách, thì đứa kia đã lại hất đi ngay. Hai đứa chúng nó, chẳng bao giờ đứa nào một mình, lúc nào cũng cặp kè. Cách nhau một tuổi, nhưng chúng nó cứ y hệt như chị em sinh đôi. Nếu tôi có bảo, tôi từng luôn luôn yêu quý chúng nó, thì cũng không có nghĩa là tôi không bao giờ căm ghét chúng thậm tệ cả. Khi cả bốn anh em đã thành người lớn cả, thì đương nhiên, ghét nhiều hơn thương; tôi nghĩ bụng, hay đúng hơn là lòng yêu quý đã tiêu tan, chỉ còn mỗi mối căm nỗi ghét. Dường nhu tôi bao giờ cũng làm hai đứa chúng nó thất vọng. Theo tôi biết, bao giờ chúng nó cũng nói xấu tôi, thằng anh trai chúng, nhất là trước mặt bố mẹ hay khách khứa. Đó là những lúc chúng nó chắc mẩm, lời chúng nói sẽ có hại cho tôi hơn cả. Còn những chuyện gì mà chúng không bịa ra để hại tôi kia chứ! Xưa nay, tôi vẫn tin chắc một điều là, trong mọi hạng người, hạng người đần độn bao giờ cũng hại người khác ghê gớm hơn cả. Tôi đã từng yêu quý chúng, cũng không có nghĩa là tôi không bao giờ nguyền rủa chúng. Bà mẹ của chúng nó, ngay từ đầu, đã buộc chặt chúng nó vào chân bà, không bao giờ muốn thả ra nữa. Chúng không được đi đâu xa, không được dự vũ hội; ngay cả khi đã ngót nghét những hai chục tuổi đầu rồi, thế mà nếu có muốn đến Lambach xem chợ phiên thứ Năm, chúng vẫn còn phải xin phép mới được đi. Bố mẹ chỉ cho chúng nó vừa đủ một số tiền, để không thể nhảy đi đâu xa được, nếu tiền có dôi ra, thì giỏi lắm, cũng chỉ vừa để mua thêm cốc nước với miếng bánh mì nữa là hết. Giày chúng nó mang bao giờ cũng là thứ do thợ giày ở Schwanenstadt đo rồi đóng - những ông thợ xưa ơi là xưa, từng thửa giày cả cho ông bà chúng tôi đến giờ. Bởi thế, giày dép chúng nó mang bao giờ cũng cổ lỗ sĩ, không hợp thời trang, và dần dà, theo thời gian, khiến hai đứa em gái tôi có dáng đi đến là vụng về, dáng đi lố bịch mà chúng nó, cả về sau này, khi đã có dịp sắm giày ở Wien rồi, vẫn còn giữ nguyên. Tôi chẳng nói được xem trong hai đứa, đầu óc đứa nào sáng sủa hơn. Tôi không thể bảo con Caecilia có khiếu thẩm mỹ hơn con Amalia. Tôi không thể quả quyết con Amalia biết nhiều hơn con Caecilia. Giọng hai đứa giống nhau như đúc, đến mức, khó nhận được ra xem con nào trong hai con vừa ới gọi. Chính vì hai đứa chúng nó ở đâu cũng kè kè thành đôi như thế, lại có vẻ như đứa này chẳng bao giờ muốn tách khỏi đứa kia, cho nên cả hai đứa chúng nó mất bao nhiêu lâu vẫn chẳng đứa nào kiếm được cho mình thằng chồng xứng đôi. Thậm chí, tôi đã tưởng, chắc chúng nó không nuôi ý định lấy chồng là đằng khác. Mãi đến hồi năm ngoái, con Caecilia đi chơi hồ Titisee, thuộc vùng Schwarzwald, đến trọ nhà bà cô già của chúng tôi ở đó, rồi làm quen gã chủ xưởng sản xuất nút chai rượu vang, thì tôi mới biết tôi nhầm. Nó lấy chồng, và, dĩ nhiên, phải hứng tất cả mối căm tức em gái nó đổ lên đầu. Amalia chuyển ngay từ khu nhà chính đến ở trong khu nhà vốn dành cho thợ làm vườn. Ló mặt ra sau buổi lễ thành hôn ở nhà thờ và bữa tiệc tiếp theo được một lúc, nó biến đi đâu không rõ. Tôi biết tính nó, nên tôi cầm chắc rằng sau đấy nó không bước chân ra khỏi khu nhà thợ làm vườn ấy nữa. Cho đến khi có tin về vụ tai nạn. Bởi thói đóng kịch ở nó thường vẫn trội hơn ở con chị, tôi có thể mường tượng, nó đã kêu thất thanh, hốt hoảng chạy từ khu nhà làm vườn sang khu nhà chính như thế nào. Dĩ nhiên, tôi không thể biết được mọi sự thật sự đã diễn ra ra sao. Chắc vào lúc xảy ra tai nạn, tay chồng con Caecilia vẫn đang ở Wolfsegg, bởi như tôi biết, gã định hai tuần nữa mới quay lại Schwarzwald để về Freiburg. Nói cách khác, như người ta vẫn bảo, bà cô ở Titisee đã làm mối cho vợ chồng con Caecilia. Thì cũng rất đúng kiểu con Caecilia thôi, nó nghĩ sau đám cưới nó sẽ vẫn ở lại Wolfsegg được. Có biết mẹ tôi từng thầm nguyện từ lâu, rằng bà sẽ không bao giờ cho đứa con gái nào đi khỏi Wolfsegg ra ở riêng, thì mới biết mẹ tôi đã phải dằn lòng chịu đựng đến thế nào để khuyên con gái bà theo chồng về Freiburg! Lời nguyền đó bắt nguồn từ nỗi sợ bà từng canh cánh suốt đời, là nỗi sợ phải sống cô đơn. Cả hai đứa con gái đều phải ở lại Wolfsegg với bà, bởi theo tính toán của bà, nếu có mất một đứa, bà vẫn còn đứa kia, để khỏi phải sống một thân một mình. Mẹ tôi bao giờ cũng biết tính rộng nhìn xa, nhất là tính những việc sau này sẽ dính dáng đến tương lai của chính bà. Từ lâu, bà đã trù tính, lúc nào đó bà khắc mất chồng, tức bố tôi; nhưng, cho dù bọn con trai sau này không ở Wolfsegg nữa, ta vẫn còn hai đứa con gái. Lối trù tính như thế còn dẫn bà đi xa hơn: hai đứa con gái, nếu đứa này bỏ đi, ta vẫn còn đứa khác. Bà giận con Caecilia về tội lấy chồng lắm và trong mấy ngày đám cưới, bà cũng chẳng thèm giấu con gái bà điều đó, song, do bản tính bà ranh ma - à không, phải nói cho đúng hơn là, do bản tính bà từng rất ranh ma - bà không để lộ ra ngoài sự hằn học và cơn giận hừng hực bà những muốn trút ngay lên đầu đứa con gái phản phúc kia, mà ngược lại, mọi nơi mọi lúc, bà luôn mồm làm như thể bà vui mừng về mối tơ duyên hạnh phúc này lắm. Bà bảo, đến giờ bà mới thực sự là người mẹ hạnh phúc. Nghe mà thấy kinh, nếu biết bà thật sự nghĩ thế nào về đám cưới con gái mình. Bà, một người vốn không bao giờ cho người lạ chụp ảnh mình, lại lôi anh con rể đến mọi ngóc ngách ở Wolfsegg để anh này chụp ảnh cho bà, ở những tư thế mà dưới mắt tôi, đến thật lố bịch, thậm chí trơ trẽn; và, còn hơn thế, mọi nơi mọi lúc, bà bá vai bá cổ con rể bà, rối rít bắt người này người kia đang đứng gần chụp ảnh giúp bà ở tư thế bá vai bá cổ ấy. Nghệ thuật đóng kịch của bà trong đám cưới, chắc chắn, đã đạt đến cực đỉnh. Ôi, nó lại là người Schwarzwald nữa chứ! Bà mừng rỡ reo lên. Từ xưa đến giờ tôi vẫn yêu Freiburg! Mà cả hồ Titisee nữa! Sự khiếm nhã của bà thật vô bờ. Trong thâm tâm bà, bà không mong ước gì tha thiết hơn mong ước sớm đạp đổ cuộc hôn nhân giữa con Caecilia với thằng chồng ít nhiều hậu đậu kia, một anh chàng có lẽ cũng chẳng rõ đầu đuôi thế nào mà mọi sự lại thế này. Bà mẹ tôi, bà có bao giờ thèm kiêng nể hay giữ ý giữ tứ đâu. Chả biết đâu được, tôi nghĩ bụng, có khi bà cô chúng tôi ở Titisee xui con Caecilia lấy gã chủ xưởng sản xuất nút chai rượu vang là để cho mẹ tôi một vố cũng nên. Bởi, mọi sự rõ rành rành rằng, chính cô là người mối lái cho cuộc hôn nhân quái đản này. Cô tôi chưa bao giờ chịu nổi mẹ tôi, nên bây giờ là lúc cô hân hoan lắm đây. Tôi cầm chắc là, suốt mấy ngày đám cưới, trong lúc chọn dáng đứng, thế ngồi để chụp ảnh một cách trơ trẽn như thế, mẹ tôi đã tính toán rất lung trong đầu những cách bà có thể ra tay để phá hủy cuộc hôn nhân bà chẳng hề mong ước này càng sớm càng tốt. Trong đầu bà, bộ máy chuyên dùng cho việc hủy hoại đã bắt đầu chạy, nhưng trước mắt khách khứa hai họ dự đám cưới, bà vẫn chỉ phô ra hình ảnh một bà mẹ đang quá đỗi vui mừng với cuộc hôn nhân mà thôi. Ôi, bà thốt lên, thật thương chú Georg không còn sống để tận mắt chứng kiến cảnh này! Ông bố tôi suốt mấy ngày hôm đó tỏ ra khá dửng dưng. Ông cứ làm việc của ông, loay hoay đâu đó, lúc trong trại bò sữa, khi ngoài rừng cây. Kiểu hội hè như thế vẫn làm ông ngán ngẩm, nên ông tìm cách lảng, phần vì chiều vợ, phần vì vợ ông bắt ông phải lảng đi. Suốt ngày, như mọi người bảo, ông chẳng nói chẳng rằng gì. Tôi đã lấy làm lạ, không hiểu sao bố tôi bỗng già hẳn đi như thế, có vẻ thân tàn sức kiệt, chẳng còn ham hố gì thế kia. Song, cũng khó mà nói được rằng tôi thương hại ông. Tôi nghĩ bụng, mặc dù giữa tôi với các con em gái tôi từ thời nhỏ cũng chỉ thường thường, chẳng mặn mà gì cho lắm - thậm chí càng lớn càng tồi tệ đi, nhưng nói cho cùng, đó cũng là mối quan hệ anh em bình thường. Thế nhưng, bây giờ, sau cái chết của bố mẹ và ông anh Johannes, tôi lại e ngại phải đối đầu với hai đứa chúng nó. Tôi thầm nghĩ, chúng nó sẽ gây trở ngại nhiều nhất cho mà xem. Trước hết, tôi sẽ không chịu nổi vẻ mặt mới đầu có vẻ giễu cợt, như trong tấm ảnh, rồi chuyển sang vẻ cay đắng của hai đứa chúng nó, tôi sẽ không chịu nổi lối ăn lối nói, kiểu đi kiểu đứng, cách ăn cách mặc của hai đứa chúng nó, cũng như những lời chì chiết chúng vẫn đổ lên đầu tôi vì bao nhiêu lỗi lầm chẳng có chút căn cứ nào ấy. Chúng vẫn buộc tội tôi đã bỏ Wolfsegg mà đi, vì thế mà tôi đã xúc phạm, đã làm tổn thương bố mẹ, những lời buộc tội chúng vẫn thường đổ lên đầu tôi ấy, giờ đây, sau cái chết đột ngột của ông bà, càng vô liêm sỉ bội phần. Chúng nó, tôi cầm chắc, sẽ chẳng từ lời buộc tội nào đâu, cho dù có vô lý, có ác độc đến thế nào đi nữa. Sẽ chỉ là vô ích, nếu tôi nén lồng chịu đựng hay cố tránh mặt chúng nó; chúng nó sẽ luôn luôn có mặt, để đổ lỗi cho tôi. Đổ cho tôi, thậm chí, đổ cả cho chú Georg, dầu chú đã mất từ lâu. Chúng nó sẽ tìm mọi cách để bảo tôi đã làm bố mẹ điên đầu, đã làm bố mẹ tổn thương đến cùng cực. Dù tôi nào có dính dáng gì đến những chuyện đó đâu. Ngay từ lúc bố mẹ còn sống, tôi đã luôn luôn là kẻ gây tai họa cho ông bà rồi, cũng chẳng riêng gì cho bố mẹ, mà còn gây cả các tai họa cho hai đứa chúng nó nữa kia. Theo cách chúng nó nghĩ, bởi tôi bỏ đi khỏi Wolfsegg, bởi tôi quay lưng lại với Wolfsegg, cho nên chúng nó mới bị trói chân, buộc cẳng ở Wolfsegg, nên chúng bị héo hon ở Wolfsegg, nên chúng không được mở mang, không được lấy chồng, vân vân và vân vân. Chính lỗi tại tôi, nên bầu không khí ở Wolfsegg hai chục năm trở lại đây - đúng từ lúc tôi bỏ Wolfsegg ra đi, rồi chuyển về Rome - trở nên tăm tối kinh khủng. Lỗi tại tôi, nên cả bố lẫn anh Johannes lâm bệnh, nên mẹ vốn đã bị đau nửa đầu kinh niên, lại chuốc thêm bệnh dạ dày lẫn đau thận. Tại tôi, nên sức khỏe chúng nó tồi tệ hẳn đi. Tại tôi, nên ở Wolfsegg chẳng được sửa sang gì nữa cả. Ngay cả công việc sửa sang mái nhà hoàn toàn bị bỏ bễ suốt hai chục năm nay, cũng lỗi tại tôi. Cứ bao giờ mưa dột và chúng nó phải đem giẻ lau cùng xô chậu chạy lên gác xép lau nước mưa, là chúng nó lại đổ lỗi cho tôi. Hồi trước, dạo tôi còn ở Wolfsegg, bao giờ cũng vui vẻ là thế, từ ngày tôi biến về Rome, thì chẳng còn gì. Chẳng hạn như, đùng một cái, ở Wolfsegg không còn tiếng nhạc nữa. Wolfsegg câm hẳn, con Amalia đã có lần nói thế với tôi, chỉ tại anh, chỉ tại anh cứng đầu cứng cổ, đòi về Rome ở cho bằng được. Tại tôi, nó còn dám mở miệng nói thẳng vào mặt tôi như thế nữa chứ, tại tôi vô trách nhiệm, tại tôi không thương yêu bố mẹ, tại tôi bao giờ cũng căm ghét bố mẹ, bao giờ cũng căm ghét bố mẹ, trong khi hai đứa chúng nó lúc nào cũng yêu thương ông bà. Tiền bạc, trong đó dĩ nhiên có cả phần của riêng chúng nó, bố mẹ dốc hết cho tôi, rút bớt của chúng nó. Tại tôi, theo lời con Caecilia, tiêu pha hoang phí, nên chúng nó phải bóp hầu, bóp miệng, và, rốt cuộc, cũng lỗi tại tôi, nên món của hồi môn của chúng nó ngày càng mất giá ghê gớm, vân vân và vân vân. Trong lúc say sưa luận tội, chúng nó còn leo cao đến mức dám mở mồm quả quyết, tôi học đại học và chọn những trường giá tiền học cao bậc nhất châu Âu để học, chỉ nhằm mỗi một mục tiêu duy nhất là, làm sao tiền nong chúng nó bị cạn kiệt càng nhiều càng tốt. Chúng nó căn vặn đi căn vặn lại, sao cứ phải London, trường Oxford mới được, trong khi ở Innsbruck cũng có trường đấy thôi. Từ xưa đến giờ, nếu tôi nhớ không nhầm, chúng nó luôn mồm gọi tôi là thằng anh vĩ cuồng kiêu căng, một gã tiêu xài phung phí tiền bạc của chúng nó - mặc dù đấy là tiền của tôi, hay cùng lắm cũng chỉ có thể bảo là tiền bố mẹ tôi. Chúng luôn mồm than vãn, tôi bao giờ cũng đánh lên người những bộ cánh đắt tiền nhất để lăng xăng đây đó, trong khi chúng - chỉ vì cái thói muốn làm vĩ nhân của tôi - lúc nào cũng buộc phải ăn mặc thật thô thiển. Con em gái Amalia có lần bảo tôi, lỗi tại anh, nên quần áo bọn em mới rách rưới thế này. Lúc đầu, chúng nó còn đổ hết lỗi cho chú Georg, sau rồi đổ cho tôi. Ngay đến ông anh tôi cũng chẳng chút ngượng mồm khiển trách lối sống của tôi, gã còn bảo, nói đúng nguyên văn, ở Wolfsegg không lấy đâu mãi ra tiền cho tôi phung phí được. Mặc dù tôi chẳng dám tin ở hai lỗ tai mình, nhưng lời gã nói đúng là như thế thật. Đúng ra thì cả ông anh lẫn hai đứa em gái chỉ lặp lại những gì quanh năm suốt tháng chúng nghe từ miệng bố mẹ tôi mà thôi; cứ khi nào tôi về Wolfsegg, cả bọn lại chẳng cần giấu giếm để tuôn những lời trách móc ngu si, hiểm độc như thế ra. Lũ chúng nó lúc nào cũng bảo cuộc đời tôi vô tích sự, có sống cũng bằng thừa và bao giờ cũng cố xúi bẩy, thúc giục bố mẹ tôi đừng chuyển tiền hàng tháng cho tôi, hoặc nếu có chuyển, thì cũng cắt xén thật mạnh tay vào. Ngày này qua ngày khác, chúng rót vào tai ông bà, ông bà phải trừng trị tôi thẳng cánh, chứ đừng để tôi xỏ mũi mãi như thế - như có lần chính tôi, do đến sớm hơn so với giờ hẹn, vô tình nghe thấy con Caecilia rủ rỉ với mẹ giữa lúc mấy mẹ con ngồi uống trà buổi chiều mùa hè tại cái gọi là chòi vọng lâu trong vườn. Thường xuyên tôi cứ phải đối mặt với những ngón xấc xược kiểu như vậy của lũ chúng nó chĩa vào tôi. Và, nếu tôi còn nhớ hết, thì mối nghi ngờ thầm kín giày vò, dằn vặt chúng nhiều nhất là mối nghi ngờ cho rằng, tôi được hưởng lợi chẳng những nhiều hơn chúng, mà lại còn nhiều hơn cả những gì tôi đáng được hưởng; thêm vào đó, là mối nghi ngờ cho rằng, tôi được hưởng, như chúng suy đoán, một cuộc sống sung sướng hơn, nhàn hạ hơn, vốn không phải dành cho tôi. Anh ấy là ai mới được chứ? Anh ấy tưởng mình ghê lắm hay sao? Lúc nào chúng cũng đặt những câu hỏi như thế về tôi. Bên bàn ăn, tôi có lặng yên chúng cũng khó chịu, tôi có nói gì chúng cũng mất lòng. Chúng nó cằn nhằn, sao anh cứ làm thinh suốt thế, hoặc, sao anh cứ luôn mồm thế. Tôi ngồi lại trong nhà, chúng nó sẽ suốt ngày nhấm nhẳn, sao anh không đi đâu đi? Tôi có đi chơi, chúng lại suốt ngày lầu bầu, sao anh không chịu ngồi ở nhà lấy một lúc? Tôi mặc bộ đồ sáng màu, chúng nó xía vào cho bằng được, anh mặc bộ sẫm màu thì hơn; tôi đánh bộ sẫm lên người, chúng nó lại gắt, anh mặc bộ sáng màu cho chúng em nhờ. Tôi có chuyện trò với tay bác sĩ trong vùng, thể nào chúng cũng lại trách, suốt ngày anh ấy trò chuyện với lão thầy thuốc về chúng nó. Nếu tôi không nói năng gì với ông ta, thì chúng nó lại kêu, đến ông bác sĩ anh ấy cũng chẳng thèm bắt chuyện. Tôi có bảo tôi thích Rome hơn Paris, là thể nào chúng nó cũng chộp lấy ngay, tôi thích Rome chỉ vì chúng nó ghét. Tôi có bảo, tôi không thích ăn tráng miệng, chúng lại luận lời tôi nói về món tráng miệng vào mình, mặc dù lúc nói về món tráng miệng tôi không ám chỉ đến chúng. Bất kể tôi nói gì, vào tai chúng cũng thành lời đả kích. Riêng chuyện ấy thôi, dần dà, cũng đủ khiến tôi không sao ở Wolfsegg được nữa. Tôi có hứng lên, đánh xe ra hồ nghỉ, thì thế nào chúng cũng sồn sồn lên, tôi bao giờ cũng chỉ nhăm nhăm đánh xe ra hồ chơi; thật quái đản, bởi mỗi năm, cùng lắm tôi chỉ hứng lên một lần để ra hồ như thế, trong khi ông anh tôi, cứ hai, ba ngày lại ra hồ một lần thật; sang hè, gã còn ra đấy đều hơn. Nhưng chê trách ông anh tôi thì chúng nó chẳng bao giờ mở miệng. Tôi có vào rừng đi dạo, chúng nó xem là điên rồ; nhưng ông anh tôi mà vào rừng, chúng nó lại coi là chuyện hết sức bình thường. Độc mỗi một lần, tôi đặt mua Martini từ nhà khách mang về, thế mà chúng nó quang quác lên rằng bao giờ anh ấy cũng đặt toàn thứ Martini cực đắt. Tôi có gửi từ đâu đó về tấm bưu ảnh cho bọn chúng, chúng nó lập tức ngoạc mồm ra, anh ấy gửi bưu thiếp về chỉ cốt chọc tức mình. Vâng, anh được đến Cannes, đến Lisbon, đến Madrid, đến Dubovnik, chứ chúng em lấy đâu tiền mà đi. Thành ra, đã từ lâu, tôi thôi không gửi bưu thiếp về nữa. Ấy nhưng, từ ngày chúng không nhận được bưu thiếp tôi gửi về, chúng nó lại ngoa ngoắt bảo, anh ấy thật keo kiệt, đến bưu thiếp cũng tiếc không gửi. Bọn chúng nó giận tôi suốt năm, sáu ngày, chỉ vì tôi giữa mùa đông lạnh giá mở toang cửa sổ phòng để thông gió, nếu không sẽ vì bí mà ngạt thở; chúng nó mắng tôi, tôi mở cửa sổ cho gió vào như thế là vung tiền vãi bạc của chúng nó, đúng vào thời tiền hiếm, củi khan như thế này. Chúng không bao giờ tha thứ cho tôi cái tội mở cửa thông gió vào mùa đông, và không chịu hiểu rằng, tôi không thể sống, chứ đừng nói còn tỉnh táo đầu óc để làm việc, trong những căn phòng bí rì rì như thế. Còn chúng nó lại thà chết ngạt còn hơn, chứ không muốn hiểu, vì sao mỗi khi về Wolfsegg, tôi cứ phải thông gió căn phòng tôi bằng được, ở đâu không biết, chứ ở Wolfsegg này, chúng nó còn đủ củi để sưởi cả ngàn năm chưa chắc hết. Lần đầu tiên tôi từ Rome trở về Wolfsegg thăm nhà - trong bụng cứ tưởng sẽ được đón tiếp nồng nhiệt lắm - tôi vui vẻ kể, ở Rome, vào khoảng tháng Hai tuyệt vời thế nào, khi ai nấy chỉ cần mặc áo khoác mỏng là ngồi ở các quán ngoài trời uống café được rồi. Chúng nó lập tức điên ruột, bởi vào tháng Hai tôi đã được ngồi uống cà phê ngoài trời, và từ đấy, không ngừng trách móc tôi vì tội, lúc nào cũng ngồi ngoài trời uống cà phê, trong khi chúng nó, chả riêng gì tháng Hai, mà suốt cả năm, phải lăn lưng ra làm. Anh có biết chúng em ở Wolfsegg phải làm cực nhọc thế nào không?! Chúng nó luôn mồm hỏi xỏ tôi như thế. Chúng em đâu được hưởng thụ cái gì. Anh sống trong xa hoa như thế, chứ chúng em ở đây phải làm cật lực, thì mới giữ được Wolfsegg thế này! Trong khoảng thời gian hai chục năm, từ lúc tôi đi khỏi Wolfsegg đến giờ, hai con em gái tôi dần dần quen cái lối dùng giọng kẻ cả rất khó chịu ấy với tôi, làm tôi đương nhiên không thể chấp nhận được. Sao anh cứ phải bay máy bay, đi tàu hỏa chỉ mất một phần ba số tiền; mẹ vặn hỏi tôi như thế. Lập tức, bọn em gái tôi phụ họa lời trách cứ vớ vẩn ấy bằng những giọng điệu xỏ xiên, đểu cáng nhất của chúng nó. Hồi còn nhỏ, chúng nó dùng cái giọng the thé, eo éo để theo đuôi mẹ chửi bới tôi, thì bây giờ chúng nó lại trách cứ tôi, với giọng nói đáng ghét, khàn khàn, già nua, mà mỗi lần phải nghe, tôi lại thấy ghê đến tận chân răng. Mẹ tôi buông ra lời độc địa nào với tôi, thì các em tôi liền hớp lấy ngay, và, chẳng cần nghĩ ngợi lâu la gì, làm cho nó độc địa thêm lên gấp vài ba lần. Đúng là tôi chẳng bao giờ dám đưa Gambetti đến xứ Wolfsegg đáng ghét này và suốt bấy nhiêu năm tôi đã lảng tránh, không mời anh ta về đây thật. Những gì xưa nay tôi kể anh ấy nghe về Wolfsegg, tôi nghĩ bụng, thực ra chỉ là những chuyện quá ư vô hại so với những gì đang diễn ra ở đấy. Tôi sẽ chẳng bao giờ để Gambetti ghé mắt nhìn vào hang hốc điên rồ này. Tôi biết, ở Wolfsegg chẳng ai ưa hai đứa em gái tôi; nếu để ý nghe ngóng, tôi toàn nghe dân tình kháo nhau những chuyện xấu xa về chúng nó. Trong làng, cũng chẳng ai ưa mẹ tôi. Nhưng bố tôi, dân tình lại nể trọng và thầm thương hại ông phải chung sống với mụ đàn bà và hai đứa con gái như thế. Còn ông anh Johannes của tôi, dân trong vùng phải chung đụng làm ăn, trong điền trang, ngoài lâm trường hay dưới hầm mỏ than thì tôi không rõ, liệu họ có ưa gã không. Tuy nhiên, gã không phải người không cởi mở chút nào, và nói chung, cũng không đến nỗi kiêu ngạo, như thiên hạ vẫn bảo nhau. Duy có cách cư xử của gã làm người ta khó chịu thì đúng thật. Do nhút nhát, nên bên ngoài gã tỏ ra ngạo mạn như thế, chứ không phải do gã kênh kiệu. Khác với mẹ và hai đứa em gái, gã - cũng như bố và tôi - luôn có quan hệ tốt với dân trong vùng và biết cách lấy lòng và lôi kéo họ. Hai đứa em gái tôi thì chẳng ai ưa, tôi có thể nói trắng ra như thế. Chúng nó cũng chẳng bỏ công lấy lòng thiên hạ bao giờ. Rằng hai đứa chúng nó đến lúc về già vẫn suốt ngày suốt buổi kè kè bên nhau, thì không còn là chuyện nực cười nữa, mà đã thành chuyện đáng ghét lắm rồi, không còn chỉ là trò lố bịch, mà đã thành trò đáng tởm lắm rồi. Ấy là chưa kể đến lúc cả đống tuổi thế này mà chúng nó vẫn giữ cái lối ăn mặc y như nhau. Cho đến tận giờ, hai đứa chúng nó vẫn từ đầu đến chân, hoàn toàn chỉ là hai con rối của mẹ chúng nó, hai con rối nói giọng the thé đến đáng ghét mà thôi. Khi nào chúng nó chịu mạng giúp mấy đôi tất cho tôi, thì chúng nó mạng thô đến mức không thể mang tất vào chân được nữa, ấy là chưa kể chúng nó mạng bằng thứ sợi màu không còn hợp với chiếc tất tí nào. Chẳng hạn, chúng nó không chút ngần ngại lấy sợi len màu đỏ mạng vào tất len màu lục; ấy thế nhưng,

lúc tôi - thay vì phải cảm ơn chúng nó đã giúp - có bực tức ném trả đôi tất gớm ghiếc vào mặt chúng, thì chúng lại đùng đùng nổi cơn tự ái. Tôi thấy cảnh tượng bọn em gái tôi vênh vang đóng bộ y phục địa phương vùng Thượng Áo xấu xí kỳ quái để rong chơi mới ngớ ngẩn làm sao; hay lúc nào tôi cũng thấy gớm bộ y phục gọi là áo liền váy Dirndl, mà mỗi năm hai lần, bà thợ may của mẹ tôi vẫn may đo cho chúng nó. Mỗi lần từ Rome về Wolfsegg, gặp chúng nó trong bộ Dirndl như thế, thì lần nào cũng như lần nào, tôi lại phải nén lòng lắm mới không buột ngay ra đôi lời chế nhạo. Hồi nhỏ chúng nó để tóc đuôi sam, về sau chúng nó búi tóc cao lên thành búi phía trên gáy. Hai búi tóc vàng hôm xưa giờ đây đã chuyển sang bạc. Tôi còn nhớ, ngay từ thời còn bé, chúng nó không chịu được cảnh tôi ngồi trong vườn đọc sách bao giờ. Chúng không để tôi yên, gọi tôi bằng danh hiệu tôi rất ghét là thiên tài yểu chúng nó hớp được từ miệng lưỡi của bà mẹ chúng tôi, và chúng nó lải nhải rót những lời vô duyên ấy vào tai tôi, cho đến khi tôi phải gập sách, nhảy dựng lên trốn biến về phòng mới thôi. Tôi cố tìm ở hai con em gái tôi những nét dễ thương mà nào có tìm được. Cố nhiên, có lẽ dần dần rồi tôi cũng sẽ kể được đôi chuyện sáng sủa hay ho về chúng nó, nhưng, đôi ba chuyện như thế thật quá ít ỏi, chẳng bõ đem so với những chuyện kinh tởm từng diễn ra với mấy anh em chúng tôi. Phải thú thật, rằng tôi chẳng ngại gì kê ra đây những điều tôi thật sự biết về chúng nó, những đứa chỉ biết hành hạ tôi suốt đời và không ngớt ghen tị ngay cả với từng hơi thở tôi thở ra ấy. Tôi sẽ mang tiếng gian dối, nếu bây giờ tôi im, không nhắc đến những trò đê tiện, các chiêu giày vò hành hạ chúng từng giáng vào tôi. Chúng nó chẳng đáng để tôi phải dối trá, mà chính tôi, tôi cũng không đáng chịu mang tiếng dối trá làm gì. Mỗi năm đôi lần, để cho vui, nhưng cũng là để cho mát, tôi lại sắm thứ mũ rơm kiểu Rome vẫn bán với giá chẳng đáng bao nhiêu ở Trastevere, là loại mũ - do nhẹ hơn hẳn các loại khác - rất tuyệt khi dùng để chống nắng nóng ở thành Rome, thứ nắng nóng mà, có những hôm, hầm hập đến mức khó ai chịu nổi ấy. Một lần tôi đội thứ mũ rẻ tiền đó về Wolfsegg, tức là về nhà mình, như dạo ấy tôi vẫn nhầm tưởng, thì mẹ tôi triệu tôi đến gặp bà ngay, để bắt bẻ - không phải về chuyện gì khác, ngoài chuyện chiếc mũ rơm tôi đang đội trên đầu. Liệu có thật sự là cần thiết để tôi phải sắm thứ mũ đắt tiền như thế kia không, trong khi khủng hoảng kinh tế tệ hại đang hoành hành khắp nơi và cả nhà phải khó nhọc lắm mới gìn giữ nổi Wolfsegg như thế này. Đây chỉ là một thí dụ rất đỗi bình thường về sự quái dị của người nhà tôi, những kẻ - tôi trộm nghĩ - hầu như không biết ngượng ngùng, tế nhị hay nể nang là thế nào. Và, đấy cũng là những kẻ chưa bao giờ có nhu cầu, dù chỉ một chút thôi, tự hoàn thiện mình, những kẻ hàng chục năm nay chỉ nằm yên tại chỗ và tự lấy thế làm thỏa mãn. Trong lúc tôi tìm mọi cách tự hoàn thiện mình, hấp thụ và lôi kéo về cho mình tất tật những gì có thể hấp thụ và lôi kéo được, thì bọn họ lại không thèm bỏ chút công sức nào cho những việc như thế. Giống như đa phần các nhà hàn lâm, hay cũng như phần lớn các bác sĩ y khoa tôi quen - những người vốn thường đinh ninh rằng, một khi họ đã nắm trong tay bằng tốt nghiệp cao học hay đại học, có nghĩa là họ đã làm đầy đủ những gì họ cần làm cho cuộc đời họ và, như thế, cũng có nghĩa là họ đã vươn tới đỉnh cao của họ ở đời, cho nên họ chẳng cần mất công học hỏi nhằm mở rộng thêm học vấn, để nâng tầm hiểu biết hay rèn luyện bản lĩnh làm gì nữa cả - thì người nhà tôi cũng y như vậy; sau khi học xong cái gọi là trung học khối nhân văn, họ chẳng buồn học hỏi thêm gì nữa và suốt đời họ, họ giữ mãi niềm tin đó. Song, thật đáng kinh hãi, khi bọn họ nghĩ rằng, mở rộng đầu óc là việc vô ích, nâng cao học vấn - bất kể trên lĩnh vực nào - là việc chẳng để làm gì, không ngừng tôi rèn bản lĩnh là việc rỗi hơi, vô bổ. Từ lúc kết thúc trung học, nghĩa là từ rất sớm, lúc chưa đầy đôi mươi, bọn họ đã thôi, không học hỏi, luyện rèn gì nữa và do tự đánh giá mình quá cao, họ lấy làm tự mãn với những gì họ đã đạt được. Trong khi chú Georg tôi chẳng hạn, suốt đời chú, chú không ngừng gắng sức mở rộng vốn hiểu biết, rèn luyện bản lĩnh, tận dụng, khai thác đến cùng các năng lực của chính mình, thì bọn họ - chỉ vừa mới tập tễnh với được mức học vấn tối thiểu thôi - đã chẳng buồn bỏ thêm chút công sức nào cho những việc như thế nữa. Tôi buộc lòng phải nói, ở độ tuổi mười chín đôi mươi, họ đã ngừng, không học hỏi gì thêm, họ đã thôi, chẳng thèm cố công, gắng sức mở mang thêm tầm hiểu biết cho mình nữa. Ấy thế mà, việc con người ta, chừng nào còn sống ở đời là còn phải mở rộng hiểu biết, còn phải rèn luyện bản lĩnh, là một việc tự nhiên tất yếu. Bởi vì, những ai ngừng mở rộng tầm hiểu biết và ngừng rèn luyện bản lĩnh, có nghĩa là ngừng lao động với chính mình, thì những kẻ đó cũng thôi, không còn sống ở đời nữa; cứ xét như thế, thì tất tật bọn họ, từ độ đôi mươi trở đi, đều không còn sống nữa, tôi buộc lòng phải nói như thế, họ chỉ ườn ra đấy, như những xác chết, vô hồn, vô tri, vô cảm rồi tự mình biến thành gánh nặng đè lên chính mình. Phải mất cả trăm năm, tôi nghĩ bụng, dòng họ này mới sinh ra được một người như chú tôi, một con người có bản lĩnh khác thường đến nhường ấy, song, chính con người bản lĩnh khác thường ấy còn sống ngày nào, thì họ lại khước từ, thù hận ông ngày ấy. Nhìn những tấm ảnh chụp người nhà, tôi thầm nghĩ, lẽ ra bọn họ đã có thể nên người và làm được nhiều chuyện rồi đấy, song, họ đã chẳng nên người chỉ vì quá lười, quá nhác. Bọn họ thỏa mãn với nhịp sống đều đặn, nhàm chán mỗi ngày, một nhịp sống chẳng đòi hỏi gì hơn ở họ ngoài tính khí lù khù thâm căn cố đế mà họ đã mang trong huyết quản ngay tự lúc chào đời. Bọn họ không dám mạo hiểm, không dám liều lĩnh trong bất cứ việc gì và, như thiên hạ vẫn nói, từ thời họ còn rất trẻ, đã chỉ thích khoanh tay ngồi không. Bọn họ không bao giờ tận dụng tiềm năng của mình, những tiềm năng bao giờ cũng bày sẵn ra đó cho chúng, giống như cho mọi người khác. Nếu có một ai trong bọn họ biết tận dụng các tiềm năng như thế cho mình, như chú Georg tôi chẳng hạn, chứ chưa nói đến tôi làm gì vội, thì họ xoay ra hành hạ người ấy bằng mọi cách, từ chỗ thiếu cảm thông, đến chê bai độc địa. Giờ khắc hai con em gái tôi bắt đầu chết gí chết gị một chỗ, chính là giờ khắc chúng rời khỏi trường trung học. Chúng rời khỏi trường, vênh vênh váo váo, cầm mảnh bằng tốt nghiệp trên tay, như thể đang cầm mảnh giấy chứng nhận có giá trị suốt đời cho một hành động phi thường nào đó lắm - trong khi mảnh giấy, thật ra, cùng lắm cũng chỉ là mảnh bằng làm chứng cho sự nông cạn đến cùng cực của chúng nó mà thôi. Rồi chúng dừng lại ở mức đó. Bây giờ, ở độ tứ tuần, đầu óc chúng nó vẫn chỉ ngang tầm đôi mươi, khiến mọi thứ ở chúng đều ít nhiều kệch cỡm, và cứ dựa vào tuổi tác mà xét, thì cố nhiên, không những chẳng đáng để thương hại, mà chỉ đáng để khinh miệt. Song le, cả ông bố chúng tôi cũng dừng lại rất sớm trong đời. Vừa học qua được cái gọi là trường dạy nghề mộc ở Wiener Neustadt, ông cầm chắc mình đã đạt tới đỉnh cao trí tuệ, và từ đó, ông chỉ còn đường suy thoái. Đời ông dừng lại ở tuổi hăm hai, từ đó trở đi, chỉ mỗi lúc một xơ cứng, teo tóp đi mà thôi. Ông anh Johannes cũng vậy, đúng vào cái ngày tốt nghiệp trường lâm nghiệp Gmunden là gã dừng lại, không phát triển mở mang gì thêm nữa trong đời. Cũng giống như chín mươi phần trăm nhân loại, anh tín chắc tấm bằng do ngôi trường cuối cùng anh theo học trong đời cấp cho, chính là tuyệt đỉnh của đời gã. Đó là niềm tin của đa số con người chúng ta, một sự thực đủ làm ta phát điên lên được. Vừa ra khỏi nhà trường, là họ dừng lại, thôi không bỏ công, gắng sức nữa. Và ta có thể yên tâm mà nói, họ bắt đầu suy đốn từ đấy. Một kẻ không còn thiết gắng công, cố sức làm gì nữa, chắc chắn là kẻ đáng khinh, là kẻ mỗi khi ta gặp, ta không thể không cảm thấy ghê tởm. Hắn làm ta ngao ngán, làm ta không những mỗi lúc một thêm bất hạnh, mà còn mỗi lúc một thêm điên tiết. Mọi việc ta làm để cưỡng lại hắn đều vô hiệu. Nhân loại chúng ta dường như chỉ gắng công, bỏ sức khi có cơ giành được mảnh bằng ngu xuẩn nào đó làm thứ khoe mẽ, phô trương với đời. Một khi đã nắm đủ trong tay số mảnh bằng dớ dẩn như thế, thì con người ta dừng lại, chỉ còn khoanh tay ngồi ườn ra đó nữa thôi. Con người ta, phần lớn cuộc đời, chỉ cốt sống để đạt bằng cấp hay học vị, chứ không vì bất kỳ lý do nào khác đâu, và một khi giống nhân sinh ấy nghĩ nó đã kiếm đủ số bằng cấp cùng học vị rồi, nó liền buông người, thả mình nằm ườn trên chiếc giường mà tấm nệm được nhồi êm bằng các loại văn bằng học vị đó. Con người ta, dường như thế, chẳng màng gì đến một cuộc đời riêng, đến sự sinh tồn độc lập, mà chỉ thiết kiếm bằng cấp và học vị, đống bằng cấp và học vị vốn chồng chất từ hàng trăm năm nay trở thành nguy cơ đè xuống nhân loại, làm nó trước sau cũng phải chết ngạt. Con người ta hết tranh đấu cho độc lập và tự chủ, hết đời được phát triển tự do, chỉ còn tranh đấu, đòi hỏi những bằng cấp, học vị như thế nữa mà thôi; các bằng cấp, học vị ấy, giá mà được trao tay hay cấp phát vô điều kiện, là họ sẵn sàng hiến dâng mạng sống họ ngay lập tức. Đó là sự thật trần trụi, sự thật trĩu nặng cõi lòng. Họ coi nhẹ mạng sống đến mức, họ chỉ thấy có bằng cấp và học vị mà thôi. Họ treo bằng cấp, học vị của họ lên tường nơi họ ở; căn hộ những tay đao phủ ở lò mổ hay căn hộ các triết gia, căn hộ anh phụ bếp, căn hộ các luật sư hay các vị quan tòa đều có treo các bằng cấp học vị như thế và suốt đời họ, họ dán mắt vào các bằng cấp, học vị đó bằng những cặp mắt hau háu, những cặp mắt do suốt ngày suốt buổi hau háu ngắm nghía bằng cấp với học vị mà trở nên bần tiện đê hèn đến thế ấy. Thông thường, họ không nói, không xưng về mình, rằng tôi là người thế này thế kia, mà bằng cấp tôi thế này, học vị tôi thế nọ. Và, họ đánh bè kết bạn không phải với người này, người kia mà là với học vị này, bằng cấp khác. Bởi vậy, có thể nói chẳng ngoa rằng, đám nhân quần kia không phải đám sinh linh, mà là đám các bằng cấp và học vị và, nói nôm na, con người trong chốn nhân sinh đây chẳng mang chút giá trị đáng kể nào, chỉ có học vị và bằng cấp mới đáng kể mà thôi. Từ hàng trăm năm nay rồi, người ta không nhìn vào con người mà chỉ soi vào học vị và bằng cấp. Người đàn ông ta vừa gặp ở quán cà phê không phải ông Huber, mà là học vị tiến sĩ của ông Huber, người ta ra quán dùng cơm, không phải với ông Maier, mà với ông kỹ sư đáng lánh trùng tên. Dường như con người ta chỉ đạt được tới đích, khi họ không còn là con người nữa, mà là ông kỹ sư mang bằng cấp, khi họ không còn đơn giản chỉ là bà Müller, mà là phu nhân ông cố vấn hội đồng toà án. Và, người họ nghênh tiếp tại phòng giấy, không phải là một tiểu thư nào đó, mà là một mảnh bằng tuyệt hảo. Mặc dù chứng nghiện bằng cấp và học vị kiểu này, trên đất châu Âu, đâu đâu cũng có, nhưng ở Đức, mà nhất là ở Áo, thì không còn nghi ngờ gì nữa, chứng tật ấy đã điên rồ, quái dị tới mức khiếp đảm. Mới đây thôi, tôi bảo Gambetti rằng, dân Áo, dân Đức không coi trọng con người, mà chỉ coi trọng bằng cấp và học vị thôi, vâng, đúng thế, họ còn mụ mị đến mức tin ngay rằng, mãi đến thời điểm thi xong một tấm bằng, hay giành được một học vị nào đó, con người mới thật sự hình thành, chứ trước đó, họ chưa phải người. Gambetti cho nhận định của tôi quá cực đoan, anh bảo tôi thổi phồng chuyện, song, trong các bài học sắp tới, rồi tôi sẽ còn chứng minh cho anh thấy, tôi không phóng đại, tôi không thổi phồng chút nào, và, như tôi đang nghĩ đây, căn bệnh đó không những chỉ phổ biến trên đất Áo mà thôi, mà còn rải rộng trên toàn cõi Âu châu, và chả mấy chốc sẽ tràn nhanh ra khắp thế gian với tốc độ khủng khiếp cho mà xem. Chứng nghiện bằng cấp và học vị đó, đương nhiên không phải riêng thế kỷ này mới có. Căn bệnh này, nhân loại đã mắc sẵn từ lâu. Bởi họ quá tự coi thường mình, cho nên, vào một ngày nào đó, trước đây cũng phải hàng trăm năm rồi, họ bắt đầu tự xưng theo bằng cấp này học vị nọ, những hòng qua đó sẽ nâng thêm lòng tự trọng. Chú Georg tôi thường vẫn kể, mỗi lần chú lên tàu về Áo, chú cứ nghĩ, ngồi cùng khoang tầu với chú chỉ độc các chức danh giáo sư với học vị tiến sĩ, chứ không phải người, ngoài đường phố chỉ thấy nhung nhúc một bầy các loại bằng cấp, học vị hay các quan chức bậc nọ, hàm kia, chứ không thấy bóng các trang thanh niên, hay đấng lão thành đâu cả. Y gương ông bố tôi - hồi xưa từng đóng khung bằng tốt nghiệp trường thợ mộc để treo lên tường trước bàn giấy - gã anh trai tôi, con trai ông ấy, cũng lồng mảnh bằng tốt nghiệp trường lâm nghiệp Gmunde của mình vào cái khung ảnh to tổ bố, rồi trịnh trọng treo nó lên tường, như thể đó là tấm ảnh thờ tổ tiên không bằng. Hai vị coi văn bằng tốt nghiệp của những trường chắc chắn là quan trọng, nhưng cũng hết sức kệch cỡm ấy, là đỉnh cao trong cuộc đời hai vị. Còn hai con em gái tôi thì chẳng chờ ai hỏi, cứ luôn mồm quang quác khoe trường trung học của chúng nó. Khắp nơi, bàn dân thiên hạ đều mắc căn bệnh sính bằng cấp và học vị, căn bệnh đã làm cuộc sống không sao còn tự nhiên được nữa ấy. Thế nhưng, chú Georg bảo tôi, bệnh tình ở các nước Latin, dù sao cũng chưa đến nỗi trầm trọng và cực kỳ ngao ngán như ở Áo và Đức. Phần tôi, tôi tin các nước Latin sẽ chẳng bao giờ lâm vào tình trạng bệnh hoạn như Đức - Áo. Dân các nước Latin, xưa nay, vốn không nông cạn đến vậy. Ở các dân tộc này, cuộc sống tự nhiên còn khá phổ biến, trong khi đó ở chỗ chúng tôi, đã hoàn toàn bị triệt hủy. Cuộc sống thật sự tự nhiên, từ cả trăm năm nay rồi, không thể diễn ra nữa ở Đức và Áo, vì nó đã bị căn bệnh nghiện bằng cấp, sính học vị nuốt chửng và hủy hoại từ lâu. Hồi nhỏ tôi với anh Johannes chơi với nhau cũng khá thân; chúng tôi chênh nhau có một tuổi, anh ấy lớn tuổi hơn, à, không, anh ấy vốn lớn tuổi hơn, hai anh em chúng tôi - từ bé, cho đến khi đi học và có thêm hai đứa em gái - vốn vẫn chơi với nhau như bạn với bè. Song, vừa bước chân vào đời đi học, là tôi với anh ấy đã mỗi đứa một ngả. Ngay từ lúc lên sáu, tôi chắc vậy, hai anh em đã đi về hai hướng ngược hẳn nhau, ngược ngay từ đầu, và suốt quãng đời về sau vẫn ngược. Trong khi Johannes hăm hở đi xa mãi ra các cánh đồng, chui sâu mãi vào các khu rừng rậm thì tôi, cũng hăm hở không kém, mỗi ngày một rời xa đồng ruộng lẫn rừng cây, tức là, trong khi tôi mỗi ngày một rời xa Wolfsegg, thì gã anh tôi lại lún ngày một sâu thêm vào đấy; rốt cuộc, gã không những bị Wolfsegg nuốt chửng, mà còn bị nó thao túng, hay nói cho đúng hơn, bị nó hút cạn máu, mút sạch tủy, còn tôi, thì ngược lại, bị thế giới bên ngoài Wolfsegg nuốt chửng và thao túng. Trong lúc vốn từ vựng gã khoái dùng không có gì khác hơn là ngũ cốc, lợn heo, tùng bách vân vân và vân vân, thì của tôi lại là Paris, London, Kaukasus, Tolstoi, Ibsen vân vân và vân vân, và, rốt cuộc, mọi nỗ lực của gã hòng làm tôi cũng hào hứng với những từ ngữ gã yêu thích đều tỏ ra vô ích thế nào, thì các mưu mẹo của tôi toan mê hoặc gã bằng đống từ ngữ tôi ưa chuộng cũng đều trở nên công cốc như thế. Trong lúc tôi, theo gương chú Georg, hầu như suốt ngày chui thư viện, thì ông anh tôi chỉ loanh quanh chuồng gia súc từ sáng đến tối; gã nôn nóng trong chuồng bò chờ con bò cái trở dạ sinh con, trong khi tôi loay hoay trong thư viện để giải mã một câu văn của Novalis, gã sốt ruột sốt gan lúc đứng trong chuồng bò chờ con bê con lọt lòng thế nào, thì tôi, y hệt như gã, cũng nóng lòng, sốt ruột mong chờ một ý văn cửa Novalis sẽ nảy sinh trong đầu tôi như thế. Vừa tốt nghiệp trung học, gã sắm ngay chiếc thuyền buồm, còn tôi, tôi dùng số tiền thưởng tốt nghiệp bỏ vào chuyến đi chơi với chú Georg đến Anatolie. Dạo chú Georg còn ở Wolfsegg, trong khi tôi tranh thủ từng phút rảnh rỗi để gần chú, thì gã lại chẳng màng gì đến chú; lúc nào gã cũng chỉ bám đuôi ông bố tôi, theo ông ra đồng, vào rừng, xuống mỏ hoặc đến chầu chực ban này, phòng nọ tại các thị trấn quanh đây. Ngay từ đầu, tôi đã xem chú Georg như thầy dạy của tôi, còn với gã, Johannes ấy, thầy dạy của gã chính là ông bố tôi. Tôi cũng không suốt ngày quanh quẩn bên mẹ như gã; thậm chí tôi còn rất ghét cái cảnh gã anh tôi, dạo còn bé, suốt ngày bám váy mẹ. Tôi không bao giờ bám váy mẹ và bao giờ cũng quay đầu, ngoảnh mặt tránh sang một bên, mỗi khi mẹ tôi chợt hứng lên, làm ra vẻ định hôn má tôi. Còn gã, gã cứ đòi mẹ hôn chùn chụt suốt ngày. Đêm đêm, trong lúc gã ngủ say, tôi rất hay chuồn khỏi phòng hai anh em ngủ đến phòng chú Georg, đòi chú kể chuyện cổ tích, loại chuyện chú nghĩ ra hàng trăm, chỉ cốt để chiều tôi. Anh trai tôi không dám luồn lách, trốn tránh các quy định, phép tắc ở Wolfsegg bao giờ, còn tôi, tôi tìm cách trốn suốt. Muốn lúc nào, tôi chuồn lúc ấy, xuống dưới làng, nhập với dân ở đó, xem họ sinh sống ra sao, còn gã, tuyệt nhiên không. Tôi tán gẫu với dân làng khi nào tôi muốn, còn gã, gã chẳng dám chuyện trò với họ nếu không được phép. Từ rất sớm, tôi đã sắp xếp, bài trí phòng riêng theo sở thích, còn gã chẳng bao giờ nghĩ tới việc đó cả. Sách giáo khoa gã giữ bao giờ cũng sạch bong, chữ gã viết bao giờ cũng đều đặn, ngay ngắn, còn sách giáo khoa tôi học đầy vết bẩn, chữ viết nguệch ngoạc, khó ai đọc nổi. Đến bữa ăn bao giờ anh tôi cũng đúng giờ, trong khi tôi lúc nào cũng trầy trật mà không làm sao đúng được giờ. Chỉ có tôi xui anh tôi mạo hiểm trò này trò khác, chứ anh tôi chẳng bao giờ rủ rê tôi làm gì. Các trò mạo hiểm tôi vẫn rủ gã chơi, thường kết thúc, nếu không với một vết thương, vệt xước trên người gã, thì cũng cùng tiếng gã khóc ré lên, bởi vì, trong hai đứa, bao giờ gã cũng vụng về hơn. Gã rất hay ngã xuống suối, lộn xuống ao, vấp thân cây chỗ này, đụng rễ cây chỗ khác, đầu đâm bụi rậm, cành cào rách mặt, gai quệt xước đùi, còn tôi, chả bao giờ bị làm sao. Nếu tôi có hỏi, anh thấy cái này ở đây, hay cái nọ ở đằng xa kia không thì gã đều chịu, chẳng thấy gì, bởi gã bị cận thị, ngược hẳn với tôi, mắt mũi lúc nào cũng tinh tường. Người ta bảo, vèo một cái đã tôi đã đạp được xe, còn gã phải mất khá là lâu mới ngồi thẳng được trên xe. Chạy đua, chẳng bao giờ gã đuổi kịp tôi. Nếu hai đứa có phải bơi vượt sông, thì gã thường bỏ cuộc, đành chịu thua. Cứ như thế, ngay từ khi còn ít tuổi, tuy chưa đến mức thù hận tôi ghê gớm, nhưng trong lòng gã đã sớm nảy sinh và trĩu nặng thứ mặc cảm tự ti tồi tệ, một thứ mặc cảm dai dẳng, ngày ngày, tháng tháng hành hạ gã, để rốt cuộc, lúc này lúc khác, lại bột phát thành thứ hằn học khá ư trắng trợn, công khai nhằm thẳng vào tôi. Chẳng hạn, tôi chỉ cần ba phút là vụt chạy từ nhà xuống làng, gã cần những năm phút. Ở trường, gã mang danh học trò chăm chú bậc nhất, hễ thầy gọi một tiếng là bật dậy ngay, còn tôi, thấy bảo vậy, là đứa chúa lơ đãng, nếu thầy giáo có gọi, cũng toàn không nghe thấy, và tất nhiên, thể nào cũng vì thế mà bị phạt. Vào những năm học đầu, cả hai anh em đều chẳng bạn bè với ai, bởi chúng tôi không được phép đón bạn về nhà. Hết buổi học là phải lên Wolfsegg ngay. Nhưng vào các năm học về sau, khi được phép mời bạn bè về Wolfsegg, thì tính khí hai anh em chúng tôi trái ngược nhau thế nào, tính khí bạn bè chúng tôi cũng trái ngược nhau như thế. Anh trai tôi bao giờ ngủ cũng say và đẫy giấc, còn tôi, từ lúc nhỏ đã mắc chứng mất ngủ. Tôi nằm mơ toàn những giấc mơ hồi hộp đến mê hồn, còn gã chả bao giờ mơ mộng quái gì. Nhìn bản đồ, gã phải loay hoay mãi mới tìm được nơi cần tìm, tôi chỉ nhìn một loáng là xong. Tôi thích bản đồ địa lý hơn bất kỳ thứ gì khác. Chỉ cần mở rộng một tấm bản đồ ra trước mắt là tôi đã có thể lên đường đi tới những nơi xa lắc xa lơ, ghé thăm những đô thành nổi tiếng nhất trần gian và dẫn lái những con tàu trong mơ dọc ngang biển cả. Anh tôi bị cuốn hút bởi những thứ hoàn toàn khác: gã vẫn quen lẻn vào ngồi một góc kín nào đó, say sưa ngắm không biết chán mấy con ngựa trong chuồng. Dạo chúng tôi vừa lên năm lên sáu gì đó, gánh xiếc rong Medrano đến dựng rạp dưới làng. Thế là tôi không để lỡ dịp nào để lân la xuống đấy xem các diễn viên xiếc luyện tập, nhất các diễn viên nhào lộn trên không. Tôi có thể ngồi hàng giờ ở một chỗ nào đó không ai thấy, há mồm xem họ luyện các động tác trong màn diễn hết sức hấp dẫn. Còn anh trai tôi, gã chẳng mảy may thích xiếc. Sang mùa đông, tôi rất khoái ngồi xem - thậm chí đến lúc lạnh cóng cả người - trò chơi bắn băng dưới làng và chỉ mong được chơi cùng. Mặc dù lúc đầu bị nghiêm cấm, nhưng tôi - thấy mọi người bảo vậy - phớt lờ lệnh cấm, cứ tự mình xuống làng, xin được của người ta cả chiếc bàn đẩy để chơi cùng. Có dịp, là tôi chuồn xuống làng. Từ lúc tôi chập chững biết đi, cái làng ấy đã cuốn hút tôi, đối với tôi, mọi người trong làng thật là mới, thật là lạ. Anh trai tôi không có cái thú đó; tôi cũng không sao rủ gã đi với tôi xuống làng choi được. Đi với tôi, sẽ là phá lệ, một việc gã chẳng bao giờ dám, bởi đối với gã, ngay từ lúc còn nhỏ, phạm luật, phá lệ là việc tối kị. Nhà nào dưới làng tôi cũng vào, chẳng chút ngần ngại ngượng ngập gì, tự giới thiệu tôi là ai, rồi cứ thế bắt chuyện với người ta. Tôi làm quen, đánh bạn với họ, ngó nghiêng xem xét, tìm hiểu cuộc sống hàng ngày, góp chân vào các cuộc vui, chung tay vào công việc làm ăn của họ, và mỗi lần xuyên làng du ngoạn như thế - đoạn đường dài cũng phải bốn cây chứ không ít - càng quen được nhiều người, tôi càng khoái. Tôi thích làm quen nhất với những người bình dân, xem họ sinh sống, làm lụng, vui chơi thế nào. Trước khi lên bốn lên năm, tôi không hề biết còn nhiều người khác với người ở Wolfsegg, thế nhưng rồi tôi cũng vỡ nhẽ ra nhanh là còn rất nhiều người khác nữa, phải hàng trăm, hàng nghìn, hàng trăm nghìn, hàng triệu chứ không vừa. Tôi cũng rất ham đến xem các bác thợ lúc họ hành nghề - ông thợ tiện, thợ giày, bác hàng thịt, bác thợ may. Tôi thường hay ghé vào nhiều nhà nghèo và rất ngạc nhiên thấy ai cũng niềm nở, thân thiện với tôi. Ngạc nhiên, vì trước đó tôi vẫn tưởng, theo như lời bố mẹ vẫn dạy, bọn nhà nghèo, đứa nào cũng nôn nóng, nông cạn, khó gần, trâng tráo, nham hiểm, lại hay thù vặt. Song, tôi lại phát hiện ra rằng, ở dưới này họ đáng mến hơn người nhà tôi trên Wolfsegg, rằng họ mới tử tế và thân mật, chứ không phải người nhà tôi, rằng chính họ mới là những người luôn vui vẻ, chứ không phải chúng tôi. Và, tôi chợt cảm thấy, hóa ra, ngược hẳn với dân làng, chính chúng tôi mới khó gần, mới trâng tráo, nham hiểm, hay thù vặt. Bố mẹ tôi không ngớt bảo tôi xuống dưới làng rất nguy hiểm, thế mà tôi lại thấy trong làng không có tí gì là nguy hiểm cho tôi cả. Tôi xông chẳng chút ngần ngại vào mọi nhà; không cửa sổ nào mở mà tôi không ngó vào; trí tò mò của tôi không hề có giới hạn. Anh trai tôi chả bao giờ lang thang thám hiểm cùng tôi như thế, mà ngược lại, gã đi mách với bố mẹ. Gã sẽ mách, nó lại vừa xuống dưới làng, rồi thản nhiên, không chút hổ thẹn nhìn tôi bị phạt. Mẹ tôi bao giờ cũng quật tôi bằng chiếc roi da bò đã để sẵn một chỗ, bố tôi thì bạt tai. Trong khi tôi bị phạt roi không biết bao lần, tôi lại chả nhớ gã anh tôi có bị mẹ quật roi, hay bố bạt tai như thế bao giờ không. Nhìn bức ảnh chụp gã trên chiếc thuyền buồm ở hồ Wolfgangsee, tôi lại nghĩ, mình bao giờ cũng thích thú, tò mò với những gì khác lạ, còn gã chả bao giờ. Có lần tôi bảo Gambetti, anh tôi bao giờ cũng ra vẻ hiền lành ngoan ngoãn, tôi chả bao giờ. Dĩ nhiên, tôi phải nói để Gambetti rõ, ở đây, ý tôi hiền lành ngoan ngoãn là thế nào. Vào các bữa ăn, anh tôi khi nào cũng ngoan ngoãn yên lặng ngồi bên bàn, không bao giờ dám hé răng hỏi lấy một câu, trong khi tôi, vào bữa ăn là hỏi, hết chuyện này đến chuyện khác - như bố mẹ tôi vẫn quở - hỏi những câu vô lý. Cái gì tôi cũng muốn biết, cũng hỏi cho bằng được. Anh tôi ăn uống chậm rãi, còn tôi bao giờ cũng ăn sao cho thật nhanh, đến tận giờ vẫn vậy. Tôi bước cũng vội vàng, càng sớm đến đích càng tốt, còn anh tôi - thong thả, nếu không bảo là cân nhắc, tính toán từng bước. Ngay cả viết lách, bao giờ tôi cũng ngoáy thật nhanh, đâm ra cẩu thả, và như người ta nói lại, chữ tôi viết gần như không ai đọc nổi; còn gã, bao giờ gã cũng viết từ từ, từng nét, từng chữ. Khi đi xưng tội, gã ngồi thật là lâu trên ghế xưng tội, còn tôi, vừa ngồi chưa ấm chỗ, đã vọt vội ra ngoài. Bấy nhiêu tội lỗi tôi mắc, thấy bảo là khá nhiều, tôi xưng rõ nhanh, còn gã, tội tình chắc phải ít hơn tôi, bao giờ cũng mất gấp đôi thời gian mới xưng được hết. Tôi còn nhớ, dạo hai anh em còn chung nhau một phòng - vâng, đến lúc tôi mười hai tuổi hai anh em vẫn còn chung phòng - thì vừa sáng ra, tôi đã mặc xong quần áo. Loáng một cái, tôi đã rửa ráy xong xuôi, quần áo đâu ra đấy, còn gã, phải lâu hơn ít nhất ba lần. Về mọi mặt, đúng là gã giống bố nhiều hơn giống mẹ, trong khi tôi, chỉ xét riêng về sự nhanh nhẹn, hiếu động, hiếu kỳ, nhanh trí, thì ngay từ nhỏ, đã giống mẹ nhiều hơn. Bảo rằng, các bài luận của tôi, ngay từ dạo tiểu học, bao giờ cũng hay hơn của gã, là chuyện đương nhiên. Song, điều đó không có nghĩa là tôi bao giờ cũng được điểm khá hơn đâu, thậm chí ngược lại, các bài luận rõ ràng hay hơn của tôi, bao giờ cũng được điểm kém hơn. Cứ xem các ông thầy dạy chúng tôi học dạo ấy thì chuyện đó chẳng có gì đáng lạ, vì các vị, thật ra, để ý đến vẻ ngoài nhiều hơn đến nội dung các bài luận. Các đề luận, khi nào được tự chọn, tôi chọn bao giờ cũng hấp dẫn, hoặc khác thường - như tôi vẫn tự nhủ - còn anh tôi, gã chỉ lựa đề tài nào dễ nhất, dễ trình bày, dễ mở rộng bằng những cách đơn giản nhất, nhưng cũng tẻ nhạt và lằng nhằng nhất. Trong khi đó, các đề tài tôi chọn, bao giờ tôi cũng xử lý phong phú và thú vị. Đó là sự thực; bấy nhiêu vở tập làm văn xếp đầy các thùng giấy lẫn hộp các tông để trên gác xép nhà chúng tôi ở Wolfsegg sẽ đủ làm chứng cho điều đó. Anh trai tôi không chú trọng học hỏi sao cho đầu óc mỗi ngày một thêm mở mang, gã chỉ lo học sao làm vừa lòng thầy giáo. Tôi chả bao giờ có ý định lấy lòng các thầy, ngược lại, thấy mọi người kể lại, chẳng thầy nào ưa tôi. Không ưa cũng phải, bởi các thầy không biết xử trí với tôi ra sao, trong khi thầy nào cũng quý, cũng yêu anh tôi, vì gã dễ bảo, bất kỳ ở đâu, lúc nào, đều một dạ hai vâng. Tôi thường ít chịu ngồi yên, hay cãi, mồm miệng lý sự không chịu ai; còn gã, thầy sai làm gì cung cúc làm ngay, cấm có cãi bao giờ, trong khi tôi gần như suốt ngày cãi bướng, chả trách các thầy, ai nấy đều ghét cay ghét đắng tôi. Ở nhà, tôi vặn vẹo bố mẹ nhiều thế nào, thì ở trường tôi cũng hay hỏi vặn hỏi vẹo các thầy đủ thứ như thế, khiến họ đôi lúc phát điên, vì - bây giờ thì tôi rõ tại sao - các thầy không đủ hiểu biết đặng trả lời hết các câu hỏi của tôi. Tôi không tin các thầy, họ ngờ vực tôi cũng chả kém. Anh tôi luôn phục tùng các thầy, còn tôi, tôi lại chẳng nể nang gì họ. Từ lâu, chú Georg đã chỉ cho tôi rõ, về thực chất, các thầy chỉ là một lũ nhát gan hèn hạ, chỉ vì ở nhà chẳng dám ho he gì trước mặt các bà vợ, đành đem bấy nhiêu bực bội ấm ức đổ lên đầu học trò cho hả. Trong hạng người gọi là có học, giáo viên là hạng hiểm độc và xấu xa nhất, chú Georg đã sớm gieo vào đầu tôi như vậy; và, xét về mức độ nham hiểm, họ đứng cùng hàng với các quan tòa, ở bậc thang rất thấp của xã hội loài người. Cháu nên nhớ, chú Georg từng dạy tôi, nhà giáo cùng quan tòa chính là bọn đầy tớ đê tiện nhất của chính quyền nhà nước. Chú ấy nói đúng. Tôi đã kiểm nghiệm điều đó không phải chỉ một vài lần, mà hàng trăm, hàng ngàn lần. Chớ bao giờ đặt lòng tin vào bất cứ một thầy giáo hay một quan tòa nào. Xuất phát từ tính khí đồng bóng đáng kinh tởm, cũng như từ khát khao muốn phục hận cuộc đời tan hoang, bất hạnh của chính mình, họ ra tay hủy hoại không đắn đo, không thương tiếc - lại còn được trả lương - biết bao nhiêu sinh mạng những kẻ bị xua vào tay họ. Cái gọi là tính khách quan của giáo giới, cũng như của quan tòa, là sự bịa đặt độc địa và giả nhân giả nghĩa, chú Georg vẫn bảo tôi vậy, và chú nói chẳng ngoa chút nào. Nếu có dịp chuyện trò với một vị giáo viên, hay với một vị quan tòa nào đó, người ta sẽ nhận ra rất nhanh, các vị này, do bất mãn với chính mình, nên dễ hại người, và, xét cho cùng, cũng dễ hại đời như chơi. Anh tôi hay tin người, nên cũng dễ điên đầu cáu giận, vì hầu như bao giờ gã cũng bị người ta lừa gạt. Tôi thì ngược lại, chẳng mấy khi nhắm mắt tin ai, cho nên cũng ít khi bị thất vọng. Chính vì hay bị lừa gạt như thế, cho nên anh trai tôi, từ khi còn nhỏ, thường mang tâm trạng cay đắng và chẳng bao lâu sau, gã đã sớm mang, hay đúng hơn là thừa hưởng - như thừa hưởng tài sản vậy - vẻ mặt chua chát, cay đắng của ông bố gã, một người bị thất vọng về mọi mặt ở đời ấy. Mà, nói chung, gã giống bố gã về mọi mặt rất nhanh. Không biết tôi đã bao nhiêu lần tự hỏi, sao thằng anh mày bước đi giống bố mày như đúc, ngồi, đứng, ăn uống đúng như bố mày, mở miệng nói những câu, những chữ chả khác gì bố mày, cũng loằng ngoằng, rắc rối mà chán phè như thế. Ba chục năm nữa, tôi tự nhủ, hẳn gã sẽ y hệt như bố mình. Gã nhập tâm tất tần tật các thói tật của ông bố gã, mà cũng là bố tôi ấy. Giống như ông bố gã, mà cũng là bố tôi, chẳng mấy chốc gã trở thành một kẻ biếng nhác, một kẻ luôn luôn làm ra vẻ bận rộn, nhưng thật ra, lại là hiện thân của sự lười biếng, gã trưng ra trước bàn dân thiên hạ một nhân vật suốt ngày làm lụng, luôn chân luôn tay, dù chỉ chốc lát cũng không dám ngừng, không dám nghỉ - chỉ nhằm hết lòng tận tụy vì lợi ích của gia đình dòng họ mà thôi. Và dòng tộc bao giờ cũng mong muốn thấy gã như trong vai gã đang diễn; chỉ có điều, cả dòng cả tộc, ai cũng cứ tưởng những gì gã đang diễn là thật, chứ không nhận ra, hay chẳng bao giờ muốn nhận ra rằng, đằng sau kẻ đang diễn vai, đóng trò kia, lại là kẻ, từ lúc lọt lòng, vốn đã hết sức lười biếng. Ông anh tôi, quả nhiên, làm lụng cũng ít như ông bố tôi; gã chỉ trưng diễn sự chăm chỉ cũng như sự ham hố, năng nổ làm ăn ra ngoài, khiến cả dòng họ trầm trồ khen ngợi và hài lòng, nhưng rồi, đến một lúc nào đó, chính gã cũng tự hài lòng về mình, bởi tự gã, gã chẳng còn đủ sức để thừa nhận, rằng gã chỉ diễn kịch thôi, chứ thực ra, nào có ham hố, năng nổ gì. Suốt đời ông, bố tôi đóng vai một chủ điền trang tham công tiếc việc, nếu không nói là nghiện công nghiện việc - một người, vì lợi ích gia đình và dòng tộc, không tự cho phép mình ngồi yên bao giờ, dù chỉ một giây khắc ngắn ngủi, cũng không dám. Ông anh tôi cũng đúng y như vậy, gã nhập vai vốn do bố tôi đóng một cách tài tình; cả hai bố con đều hiểu ra rất nhanh, họ chỉ cần đóng giả là đủ, chứ không cần phải bắt tay thật sự làm việc gì. Xét cho cùng, hai bố con thật ra chẳng phải làm gì khác, ngoài việc suốt đời không ngừng hoàn thiện vai họ diễn, và trên lĩnh vực này - nếu không nói là trong bộ môn nghệ thuật này - cả bố lẫn con, quả thực, đã vươn tới mức điêu luyện. Đa phần con người ta, nhất là ở vùng Trung Âu này, chỉ giả bộ làm việc thôi, họ chẳng bao giờ ngừng đóng màn kịch họ đang làm việc và, càng già, càng hoàn thiện cái công việc họ diễn đó, một thứ công việc chẳng dính dáng gì đến công việc ở đời thực, cũng như màn diễn trên sân khấu chẳng liên quan gì đến đời thực cả. Nhưng, bởi con người ta bao giờ cũng ưa xem cuộc đời như một tấn trò hơn, chứ không thích xem nó như cuộc đời thực - cuộc đời thực đối với họ, xét cho cùng, vốn khô khan, mệt mỏi, khác gì nhục hình đày đọa đâu - cho nên, họ thà đóng kịch, còn hơn sống thực, họ thà đóng kịch, chứ không lăn lưng làm lụng thật làm gì. Cứ như thế, ai khen ngợi trầm trồ các công việc của bố tôi thì cứ việc khen, riêng tôi chẳng bao giờ thấy chút giá trị to lớn nào trong các công việc ông làm, bởi vì đa phần đấy chỉ là các màn kịch ông đóng mà thôi, cũng như các công việc của ông anh tôi vậy, gã bắt chước hết sức khéo léo các màn diễn của bố gã rồi tự mình hoàn thiện và diễn lại ở mức còn ngoạn mục hơn nhiều trước sự ngưỡng mộ của bao người. Song, ngày nay không phải chỉ trong giới được gọi là thượng lưu đây, người ta mới đóng kịch là chính chứ không thật sự làm lụng như vậy đâu, mà ngay cả trong giới gọi là bình dân kia, cái trò diễn kịch ấy cũng lây lan chẳng kém, đâu đâu người ta cũng chỉ giả bộ làm lụng, lăng xăng phô diễn các hoạt động này nọ, nhưng sự thực, nào họ có làm gì, chỉ ngồi không và, đa phần, đã vô dụng thì chớ, lại còn gây tai gây họa. Số đông thợ thuyền thời nay đều tưởng họ chỉ cần khoác bộ quần áo lao động màu xanh lên người là đủ, chẳng cần làm bất cứ cái gì thêm, chứ đừng nói làm được cái gì hữu ích, họ giả vờ làm việc trong bộ quần áo lao động màu xanh nặng mùi ấy, không ngớt hớt hải ngược xuôi, chạy đi chạy lại và thậm chí cũng đổ cả mồ hôi trong bộ quần áo đó, song, đó là thứ mồ hôi giả - đổ ra do đóng kịch, chứ không phải do làm thật sự - cho nên, rốt cuộc thứ mồ hôi đó cũng đáng tởm nốt. Đến bọn bình dân cũng vỡ nhẽ từ lâu là giả bộ làm, cho dù còn chán mới khỏe mạnh bằng làm thật, nhưng vẫn hời hơn làm thực rất nhiều, thành ra ngày nay người ta chỉ còn giả bộ làm, thay vì làm thực sự, cho nên - như ta thấy - các quốc gia bỗng dưng đều đứng trước nguy cơ bị suy sụp là vì vậy. Sự thật là từ nay, trên đời không còn kẻ cần lao, chỉ có các diễn viên đóng vai cần lao mà thôi. Mọi thứ đều diễn, chẳng còn gì gọi là làm thực. Cứ nhìn ông bố tôi làm lụng gì đó, tôi thường vẫn nghĩ, ông ấy chỉ đóng kịch thế, chứ có làm gì đâu. Với ông anh tôi, tôi cũng y một ý nghĩ như thế. Đúng ra thì tôi có chê trách gì hai vị giả vờ giả vịt và khéo đánh lừa bà con xung quanh đâu, bởi hai vị cũng chỉ hành động như bàn dân thiên hạ chung quanh mà thôi. Có điều, tôi vẫn tự nhủ, hai vị đừng có lúc nào mở mồm cũng giở giọng than vãn, rằng hai vị phải cật lực làm đến chết. Mà chưa kể, hai vị còn quả quyết, họ làm như thế chỉ vì lợi ích của gia đình, dòng họ, và vào những dịp long trọng, lại còn vênh lên thành chỉ vì lợi ích của tổ quốc nữa chứ. Tôi thì cứ nói thẳng ra là, cả ông bố lẫn ông anh tôi, chẳng ai phải vất vả để điều hành mọi công việc ở Wolfsegg cả. Hai vị nào có phải gắng công tốn sức gì đâu. Trong tay hai vị, Wolfsegg chỉ càng suy sụp thêm mà thôi. Chú Georg có lý, khi có lần chú bảo tôi: ông bố với thằng anh cháu ranh lắm, trước mắt thiên hạ, hai bố cứ làm như hai bố là hai cỗ máy phụng sự gia đình họ hàng, nhưng thực ra, hai bố chỉ biến Wolfsegg thành cái sân khấu tiện lợi ở quê nhà đặng biến bọn ta thành lũ hề ở trên đó. Không phải ta lợi dụng họ, mà chính họ lợi dụng ta. Thế mà bọn ta, ai nấy đều bị mắc lừa. Để được tiếng trung thực và làm ăn chăm chỉ ở đời, một tay chủ trại thường chỉ cần mở he hé cổng trang trại, rồi chỉnh như chỉnh máy phát thanh, cho tiếng lợn khụt khịt, ủn ỉn vọng qua cổng trại ra ngoài thế giới của những lương tri đã hủ bại kia là đủ. Và, quả nhiên, thiên hạ đần độn đến mức ai nấy đều bị lừa. Sáng sáng, hàng triệu người chỉ cần khoác bộ quần áo lao động lên người là, lập tức, họ được xếp ngay vào hạng dân chúng cần lao, trong khi thực ra họ chỉ là một bầy những kẻ lười biếng hết sức xảo trá, chỉ độc nghĩ đến miếng ăn mà thôi, và không làm gì khác, ngoài ra tay phá hoại thế gian này. Song, chú Georg bảo tôi, dân trí thức, quả thực, lại ngu đến mức không nhận thấy điều đó. Thậm chí, chỉ cần một tay thợ biếng nhác nào đấy khoác quần áo lao động màu xanh, bước lên một sân khấu giả dối từ trong ra ngoài để diễn một vở làm lụng hết sức rẻ tiền nào đó, là đã đủ khiến lương tâm dân trí thức chúng ta bị cắn rứt rồi. Giới trí thức chỉ đóng những vai phụ, vô thưởng vô phạt, trên cái sân khấu tàn nhẫn, sinh bệnh gây hoạn ấy mà thôi - một sân khấu mà trên đó, đã hơn suốt nửa thế kỷ này, mọi công việc làm ăn lẫn mọi hoạt động sinh sống của con người ta lúc nào cũng được trình diễn, phô trương một cách điêu luyện đến mức, khiến ta phải lạnh cả sống lưng. Nhưng, như lời chú Georg, chú không phản đối việc người ta không muốn động chân động tay làm lụng, cũng chẳng chê bai việc thiên hạ không ưa bỏ công bỏ sức kiếm ăn, có điều, họ phải thú nhận sự lười nhác ấy, chứ đừng ngày ngày diễn đi diễn lại mãi màn lao lực đáng ghét đó. Cả ông bố lẫn thằng anh cháu đều là những diễn viên chính tuyệt vời trên sàn diễn. Còn bà mẹ cháu, ở Wolfsegg, chính là người đạo diễn tất tật những màn đấy. Hai con em gái tôi, tôi nghĩ bụng, từ nhỏ đã quen cái thói nhảy tưng tưng như điên, khiến về già, thành cái tật, chúng nó nhảy tưng tưng suốt ngày; chúng nó không đi lại bình thường, chúng nhảy tưng tưng từ bếp ra hành lang, vào phòng khách rồi quay lại, thật vậy, chúng nó không đi, chúng tưng tưng nhảy, tôi thấy chúng nó nhảy tưng tưng và vẫn trẻ con như thế y hệt như ba chục năm về trước, tất nhiên, đúng là chúng nó bước đi thật, nhưng tôi vẫn thấy chúng nó nhảy, tưng tưng, chồm chồm, chúng nó đi thật, song tôi không thấy chúng nó bước, vẫn chỉ thấy chúng nó - hai con nhóc tóc tết đuôi sam dài - như hồi còn bé, suốt ngày nhảy tưng tưng như điên ở Wolfsegg. Giờ chúng nó đều ngấp nghé bốn mươi cả, tóc đã điểm sương, thế mà tôi vẫn chỉ thấy chúng nó tưng tưng nhảy. Có những lúc, tôi đã tưởng thoát được chúng nó, ai dè chúng đã lại bất ngờ tưng tưng nhảy đến quấy rầy, lại còn cười rúc rích, thứ rúc rích cứa ruột cứa gan làm tôi lắm lúc muốn phát điên. Suốt ngày, chẳng những chúng nó nghêu ngao hát đúng những bài tôi ghét, bất kể chúng làm gì, cũng đều làm để chống lại tôi. Cứ như thể bố mẹ tôi cố tình sinh chúng nó ra cốt để chống lại tôi, chúng nó xoắn lấy tôi không rời, thậm chí các giấc mơ của tôi, chúng nó cũng xông vào. Giấc mơ thường làm tôi rùng mình choàng dậy ngay là giấc mơ chúng nó toan giết tôi. Ông anh tôi, chúng nó để yên, vì hành hạ gã không mấy thú vị, trong khi đối với tôi, chúng nó không còn niềm ham mê nào lớn hơn niềm ham mê đẩy tôi tới chỗ tuyệt vọng. lầm địa hai đứa chúng nó bao giờ cũng ác độc và với tôi chúng đã biến sự nham hiểm ác độc đó thành hành động. Suốt một dạo, tôi nằm gọn trong tay chúng nó, không đường nào thoát. Chúng rình rập, theo dõi tôi ở mọi nơi, mọi lúc, rồi đem những gì chúng dò la được thưa bố mách mẹ và hân hoan sung sướng ra mặt, một khi tôi vì thế mà bị phạt; chúng nó khoái trá hả hê lắm, đến mức không nén nổi tiếng cười rúc rích đểu cáng, mỗi khi được chứng kiến mẹ tôi nện roi da bò lên đầu tôi hay bố tôi bạt tai tôi bôm bốp. Tôi cũng chẳng biết đứa nào trong hai đứa yêu ma quỷ quái hơn, bởi lúc này con Caecilia xui con Amalia chơi đểu tôi chỗ này, lúc khác con Amalia lại xúi con Caecilia hại tôi chỗ khác. Ngay từ dạo ấy, do chúng nó ham giày vò hành hạ tôi bằng những trò không trắng trợn ít thì trắng trợn nhiều, cho nên tôi đã sớm vỡ nhẽ, phái gọi là phái yếu, thực ra, mạnh hơn và tàn nhẫn hơn tôi tưởng rất nhiều. Những trò bọn em gái tôi ra nhằm hành hạ tôi nhiều vô kể, mỗi ngày chúng nghĩ ra một trò hành hạ mới, tai quái, hiểm ác hơn, hèn hạ hơn. Ngay từ khi còn rất nhỏ, chúng nó đã giăng bẫy hại tôi. Mọi người tin chúng, chẳng tin tôi, lời chúng nói luôn có trọng lượng, lời tôi nói không nghĩa lý gì. Vì thế, tôi phải tự tìm cách trả miếng. Tôi cài cửa nhốt chúng nó trong gian nhà kho kín mít, tối om, tôi huých chúng nó xuống ao, tôi đẩy từ phía sau khi chúng nó đang diện bộ váy dài trắng ngày Chủ nhật, khiến hai đứa ngã sõng soài, từ đầu đến chân đều lấm bẩn, xây xước, chảy cả máu. Dù biết chắc mình sẽ bị trừng phạt nặng vì những tội ấy, tôi vẫn không chừa tìm cách thật độc, trả đũa những đòn nham hiểm của chúng nó cho bằng được. Có lần, tôi dẫn hai đứa vào rừng rồi bỏ đấy, chạy biến; chúng nó có sợ chết khiếp mà kêu khóc thảm thiết, tôi cũng mặc. Thế nhưng, bao giờ chúng nó cũng là những đứa giở trò trước và các trò của chúng nó bao giờ cũng kinh khủng hơn các đòn trả miếng của tôi nhiều. Trên tấm ảnh trước mặt tôi đây, cái ác độc hiện ra rõ mồn một; hai gương mặt phèn phẹt trong ảnh đây phơi trần bóc trụi cả cuộc đời lẫn bản tính của hai đứa chúng nó trước mắt tôi. Hai con bé độc ác dạo nào, nay lớn lên thành hai mụ đàn bà ác độc không kém. Lúc bé, chúng nó đã chẳng xinh đẹp gì, nay trưởng thành rồi, trông hai con mà kinh. Thật khó mà nói, trong hai con, con nào giống bố, con nào giống mẹ hơn. Cố nhiên, cả hai đều thừa hưởng mọi thứ, cả của bố lẫn của mẹ, có điều, ở dạng thô thiển nhất. Bên bàn ăn, chúng nó ngồi như hai hình nộm, mở mồm chỉ biết phát ra độc những chuyện vớ va vớ vẩn, vẫn lặp đi lặp lại từ mấy chục năm nay đến giờ. Chúng nó ngồi xuống hay nhảy dựng lên cùng một lúc; nếu một đứa đi cầu, đứa kia cũng phải cắp đít chạy theo cho bằng được. Lúc nhỏ đã vậy, lớn lên hai mụ đàn bà ấy vẫn thế, không rời được nhau, đến cả đi cầu. Sang đông, gần suốt cả mùa, thể nào chúng nó cũng chỉ ngồi chết gí trên chiếc ghế bành trong phòng, để đan áo len cho chúng tôi, những chiếc áo đã không ai mặc vừa, lại xấu tệ xấu hại, ở mức tôi chưa bao giờ thấy ở đâu xấu hơn. Tay áo bên dài bên ngắn, lưng áo quá rộng, còn eo lẫn cổ lại quá hẹp, rốt cuộc áo chẳng ra áo, mũi đan cẩu thả, xộc xà xộc xệch, bởi vì lúc đan chúng nó có bao giờ thật sự để tâm để ý đâu. Ấy là chưa kể màu len chúng nó chọn để đan áo, bao giờ cũng là thứ màu khiếm nhã nhất. Chúng nó nằng nặc đòi hai ông anh phải mặc thử những chiếc áo đan chưa ra đầu ra đũa ấy cho bằng được, rồi đứa xốc bên này, đứa kéo bên kia, miệng xuýt mồm xoa, ô, áo chúng em đan đẹp ghê, mặc dù ngay từ đầu, ai nấy đều rõ trò chúng nó làm là trò con trẻ, chẳng ra đâu vào đâu. Đến Lễ Giáng sinh, hai đứa đặt những món quà kinh tởm do tay chúng nó đan ra ấy xuống gốc cây thông Giáng sinh, rồi cả nhà, ai nấy đều phải khó nhọc so vai thụt cổ, vặn vẹo đủ kiểu để choàng được áo lên người, đã thế lại còn phải cất tiếng hết lời khen chúng nó nữa chứ. Suốt đêm Giáng sinh, ở Wolfsegg cả nhà cứ ngồi cả đống với nhau, chết gí trong những chiếc áo bọn em gái tôi đan hỏng ấy, hệt như những người bị tàn tật. Với trò đan áo lẩm cẩm này, hai đứa em tôi cứ như thể đã nuôi sẵn ý định, dùng những chiếc áo len đan thô lỗ nọ đặng biến chúng tôi thành một lũ người lố bịch. Cứ như thể chúng nó đã mờ ám thông đồng hàng tháng trời với chỗ len ấy. Trước Giáng sinh hàng tháng, ở Wolfsegg chỉ còn độc mỗi chuyện về len. Tối Giáng sinh, cả nhà bị hai đứa chúng nó quấn thứ len đáng tởm ấy lên người, thế mà ai nấy đều phải rối rít cảm tạ. Từ quần áo tự may, tự đan, đến thức ăn tự nấu, cũng như tất tật những món tự chế trong nhà, tôi đều ghét cay ghét đắng. Đối với tôi, mỗi một chai đựng mứt hay thức ăn tự làm, tự đóng chai như thế vốn đã là một ác mộng, thế mà ở Wolfsegg, có đến hàng trăm chai loại đó, chẳng những chất đầy kho, mà còn chứa chật ních trong các thùng gỗ xếp chồng nhau ở khắp các phòng. Riêng cái viễn ảnh, cả chục năm tới phải cố ăn sao cho hết số mứt mẹ tôi cùng hai đứa chúng nó đã đổ đầy đống chai đó - rồi ghi nhãn, đánh dấu cẩn thận - khiến tôi, ngay từ khi còn nhỏ, đã lúc nào cũng căm ghét mọi thứ thức ăn đóng hộp, nhất là mứt hoa quả, tự làm, tự đóng chai để dành kiểu đó rồi. Ngoài ra, trong kho dự trữ thức ăn nhà tôi, bao giờ cũng đầy ứ hàng trăm chai lọ lớn nhỏ như thế, đựng nào đùi gà, đùi chim trĩ đến đùi chim bồ câu, mà mỗi lần thoáng liếc thấy chúng, với cái màu vàng vàng đùng đục đó, là tôi lại buồn nôn. Mặc dù ở Wolfsegg, càng ngày càng ít người đụng đến các loại mứt hoa quả hay ăn đến thứ thức ăn gọi là tự nấu, tự đóng chai để dành đó, nhưng mẹ tôi và hai đứa em gái tôi vẫn tiếp tục tự nấu, tự đóng chai thật nhiều; từ lúc nào tôi không rõ, cả ba mẹ con đều bị mê bị cuồng bởi căn bệnh nấu nấu, nghiền nghiền, đóng chai, đóng lọ - một căn bệnh về sau không sao trị được nữa. Bánh mì cũ, tuần nào ba mẹ con cũng hì hục gom lại, bóp vụn ra, trữ vào một loạt những lọ thủy tinh to nhỏ, nhưng chẳng bao giờ lấy ra dùng, bởi vì ở Wolfsegg chẳng mấy khi rán thịt lợn tẩm vụn bánh mì nữa, hay nói cho đơn giản, là vì cả nhà không ai ăn kiểu thành Wien nữa. Ai nấy đều chuyển sang ăn theo kiểu Paris, hợp với khẩu vị bà mẹ chúng tôi hơn. Vả lại ở Wolfsegg, chả riêng khẩu vị, mà dần dần mọi sự đều diễn ra theo sở thích của mẹ tôi. Cứ quan sát kĩ mọi sự ở Wolfsegg là thấy ngay thị hiếu mẹ tôi chiếm ưu thế thế nào. Từ ngày về làm dâu Wolfsegg, bà đã gạt các sở thích của bố tôi sang một bên, áp đặt cho ông các sở thích của bà; bởi vậy, tôi phải nói ngay, nhà bố tôi chẳng mấy chốc thành nhà mẹ tôi. Song, không phải do đó mà bố tôi được nhờ đâu. Cứ nhìn vô số những đảo lộn lung tung xòe trong các phòng ốc ở Wolfsegg thì khắc rõ điều đó, mà nói cho cùng, chẳng riêng các phòng ốc, mà tất tật các thứ ở Wolfsegg, kể cả các khu vườn, đều bị mẹ tôi nhúng tay vào, và với thị hiếu lẫn sở thích của bà, đã từ lâu, bà làm chúng hư hại đi mất bao nhiêu. Cả trăm năm nay, khu vườn hoa, vườn cây cảnh ở Wolfsegg bao giờ cũng được chăm sóc theo những quy trình nghiêm ngặt, cho đến khi mẹ tôi ra tay, làm cả khu vườn cũng phải xáo trộn, lộn nhào hết cả lên, từ một khu vườn - như tôi vẫn biết qua các bản in khắc cũ - vốn thênh thang và tràn ngập thiên nhiên, nó bị biến thành một thứ vườn đến là tầm thường và chán ngắt, nếu không muốn nói thành loại vườn tẻ nhạt của cánh tiểu chủ mạt hạng. Mọi thứ, có thể nói thẳng ra vậy, đều mang dấu ấn mẹ tôi. Tôi cũng phải thưa ngay, chính cái thói chuộng to cao, ưa đồ sộ của bà đã làm mọi thứ dần dần teo tóp lại. Đối với một gia sản như Wolfsegg, chưa hẳn bất kỳ mụ đàn bà nào ngoi từ lớp dưới lên cũng sẽ là một tai họa không tránh khỏi; nhưng bà mẹ tôi, thì quả thật, đã là một tai họa như thế. Ông bố tôi, vốn yếu hèn, chẳng bao giờ đủ sức và bản lĩnh để ngăn chặn cái thói chơi ngông ngu ngốc của bà vợ ông ấy. Ngược lại, ông bao giờ cũng chấp thuận tất tật những gì mụ vợ, tức bà mẹ tôi, mong ước hay đòi hỏi, ông xuýt xoa, coi đấy là vốn hiểu biết thông thái của mụ, ông trầm trồ khen ngợi mọi việc làm méo mó, phá hại thẩm mỹ của vợ, xem đó như những thành công mỹ mãn, lớn lao, nếu không nói là tuyệt vời nhất, khiến mẹ tôi dần dần cũng tưởng mình là vị nữ cứu tinh của Wolfsegg thật, rồi cứ ngang nhiên đóng vai trò ấy mãi. Nhưng, đúng ra, bà mẹ tôi vốn bao giờ cũng chỉ là kẻ bòn rút, phá hại Wolfsegg mà thôi. Ngay từ dạo hai con em gái tôi còn nhỏ, mẹ tôi đã biến chúng thành hai trợ thủ trung thành vô điều kiện, nhắm mắt cổ xúy và thực hiện đến cùng các ý đồ phi thẩm mỹ của mẹ chúng ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào. Dần dần, chúng nó tự biến thành hai chiếc loa lợi hại của mẹ tôi. Những chiếc loa này luôn đứng, ngồi hay nằm ở tư thế rình mò, chờ đợi. Có lần tôi bảo Gambetti, loại em gái như chúng nó dễ làm một cảnh tượng vui tươi hạnh phúc nào đó lập tức tối sầm như chơi. một trang trại như Wolfsegg đây, một bà mẹ như vậy cùng hai đứa em gái chỉ mẹ bảo sao làm nấy như thế, nếu muốn, họ sẽ dư sức biến bất cứ một ngày chói chang ánh nắng nào thành đêm đen như bỡn. Và, quả nhiên, cả ba đã chung tay làm biết bao nhiêu ngày, thậm chí năm hay thặng ở Wolfsegg này trở thành tăm tối. Chỉ vì họ muốn vậy, họ chẳng ngại tắt ánh sáng của chúng tôi đi. Một người đàn ông như bố tôi, tôi bảo với Gambetti, lấy một người đàn bà làm vợ, thì như thế, ông cũng tự tắt ánh sáng đi. Từ đấy, ông không còn sống như trước nữa, ông chỉ còn lần mò, loay hoay, lóng ngóng sờ soạng trong bóng tối, trước sự khoái trá của kẻ đã chủ mưu kéo màn đêm kia xuống. Loại đàn ông như bố tôi, tôi nói với Gambetti, thoạt đầu chỉ dính líu đàn bà đã ngại, chứ chưa nói kết duyên vợ chồng với ai, nên cứ lưỡng lự, chần chừ kéo dài mãi, cho đến lúc - vì sợ ế, sợ quá lứa sẽ biến thành trò cười cho thiên hạ - các bố bỗng cuống cuồng nhắm mắt đâm đầu vào chiếc bẫy do một mụ đàn bà ranh ma nào đấy giăng sẵn, một cái bẫy chết người, sẽ sập ngay xuống. Khác với chú Georg, tôi cũng bảo Gambetti vậy, bố tôi thuộc loại đàn ông sinh ra để sống có đôi, có lứa; nhưng lẽ ra, không đời nào nên thành đôi thành lứa với một người đàn bà như mẹ tôi. Ông đã lấy phải một người hủy diệt ông, một người phản bội ông. Dĩ nhiên, mấy đứa chúng tôi, ai cũng yêu thương mẹ, tôi nói với Gambetti, song chúng tôi đều chứng kiến và thấu rõ cả tâm địa độc ác lẫn niềm ham mê phá phách của bà. Một khi cái độc, cái ác đã ngóc đầu - tôi nói với Gambetti - thì đạo lý cũng thành lố bịch thôi. Tất nhiên, ở đời, cũng rất dễ có chuyện ngược lại: một người đàn bà xuất hiện và sẽ cứu vớt tất tật. Song le, người đàn bà này, bà mẹ chúng tôi đây, chỉ là một nữ quái chuyên phá phách mà thôi. Mặt khác, tôi nói thêm với Gambetti, cũng có thể tôi chỉ tưởng vậy, trong khi mọi sự đều khác, thậm chí ngược hẳn lại cũng nên. Rằng, nếu không có người đàn bà ấy, tức là mẹ tôi, thì nỗi bất hạnh đổ ập lên Wolfsegg ấy, biết đâu còn lớn hơn nhiều. Chú Georg chả vẫn thường nói, các tình huống do mẹ tôi mà hình thành ở Wolfsegg này quả quá ư may mắn cho chú là gì. Chú vẫn bảo, các toan tính của chú đều trúng cả đấy thôi. Và tự tôi, tôi cũng phải tự nhủ rằng các toan tính của riêng tôi đều nghiệm cả. Bởi, xét cho cùng, thì rất có thể chính tôi đây, lẽ ra, cũng đã thành người hoàn toàn khác rồi, nếu Wolfsegg đã phát triển theo một hướng hoàn toàn khác, tức là, nếu nó phát triển không phải dưới tay mẹ tôi, mà dưới tay một người vợ khác của bố tôi. Tôi sẽ không phải là người như tôi hiện nay, nếu Wolfsegg là một Wolfsegg khác với bây giờ. Bởi vì, nếu xét chung về mọi mặt, hay chỉ xem xét riêng cái cơ hội may mắn cho tôi được sống ở Rome thôi, thì tôi cũng có thể tự xem mình sung sướng lắm rồi - tôi nói vậy với Gambetti - và, như thế, thật ra, tôi chẳng có cớ gì để luôn mồm nói đến Wolfsegg như nói đến một thứ hiểm họa cả. Rất có thể, dạo ấy tôi bảo Gambetti, chỉ vì do tôi cảm thấy hối hận về việc tôi - chỉ cốt sao thoát khỏi Wolfsegg cho bằng được - đã rời bỏ chốn này theo một cách phải thừa nhận là khá nhẫn tâm, bất chấp lúc ấy nó đang ở tình trạng thế nào. Chúng ta, như ai nấy vẫn biết, thường căm ghét kẻ nuôi dưỡng mình, và tôi ghét Wolfsegg - dù tôi có quyền ghét, hay không có quyền ghét cũng vậy - ít nhiều cũng vì lý do như thế, tôi bảo Gambetti, vì Wolfsegg chả nuôi dưỡng tôi là gì. Ta thường nổi cơn căm hờn, chỉ vì ta sai trái, hoặc chỉ lúc nào ta sai trái mà thôi. Tôi đã thành thói quen luôn luôn nghĩ trong đầu (và nói ra miệng!) rằng mẹ tôi đáng ghét, hai đứa em tôi đã đáng ghét lại còn ngu, bố tôi yếu hèn, anh tôi nhố nhăng, vâng, rằng cả nhà rặt một lũ đần độn. Thói quen đó là một loại vũ khí, nói cho cùng là thứ vũ khí hèn hạ, chỉ đem ra dùng cốt để làm lương tâm đỡ bị cắn rứt mà thôi. Sau lưng tôi, tôi bảo Gambetti, cả nhà ai nấy đều có quyền luôn mồm kể tội, bêu xấu tôi, biến tôi thành kẻ xấu xa độc địa, y hệt như bao lâu nay tôi vẫn kể tội, bêu riếu mọi người trong nhà như vậy. Ta dễ quen và nhanh quen cái thói căm ghét, nguyền rủa người khác, nhưng không bao giờ tự hỏi xem sự căm ghét đó, những lời nguyền rủa đó có công bằng, chính đáng chút nào không. Nhìn chung, rốt cuộc đó đều là những con người tội nghiệp, mà lẽ ra, vì ta tự biết mình, ta phải cảm thông mới phải. Bởi vì, hệt như ta đang vật vờ khốn khổ, họ cũng đang lay lắt sống một cách đáng thương như thế trên đời này và, dù muốn hay không - tôi bảo Gambetti - họ vẫn phải sống, cho hết ngày, tận tháng. Tại sao ta cứ hay vồ ngay lấy rồi bấu chặt vào thói hư tật xấu của người khác, nhưng lại tảng lờ nết hay tính đẹp của họ như thế, tôi nói với Gambetti. Tuy nhiên, nhìn tấm ảnh chụp hai con em gái tôi, tôi lại quay ngay về cách nhìn cũ, bức ảnh làm hiện lên rõ mười mươi cái lố bịch của chúng ngoài đời. Bảo chúng nó lố bịch thì tôi không bàn thêm. Nhưng, tôi tự hỏi, liệu chúng nó có đáng bị mình gọi là đê tiện hay không? Lại đúng lúc này? Tôi thấy ngường ngượng thế nào, song, tôi lại tự chống chế ngay, đúng là trong đầu ta, đã nghĩ sẵn thế nào, thì khó mà sửa ngay được và tôi khăng khăng quả quyết, hai đứa em gái tôi quả là vừa lố bịch vừa đê tiện thật. Cái gọi là bi kịch gia đình, tôi tự nhủ, sẽ không bào chữa được cho việc ta giả mạo, vẽ lại toàn bộ bức tranh thật về gia đình này, cũng không thanh minh nổi cho việc, chỉ do ích kỷ mà thôi, ta đột nhiên trở nên mềm lòng và ít nhiều xao xuyến. Một tai nạn, dù thảm khốc đến đâu đi nữa, không thể biện minh cho ta, cho phép ta xuyên tạc các ý nghĩ trong đầu ta, giúp ta ngụy tạo thế giới quanh ta, để ta bóp méo tất tật, hay nói cách khác, để ta thông đồng với sự dối trá. Tôi thường chứng kiến tình huống, khi phải nói đôi lời về những kẻ quá cố nào đấy, những kẻ lúc đương thời vốn vẫn bị xem là đáng ghét, đáng ghê tởm, người ta bỗng dưng xoay ra nói về họ như thể họ chưa từng đáng ghét, không hề đáng tởm bao giờ cả. Cái lối trơ trẽn đó luôn luôn làm tôi khó chịu. Cái chết của một con người không làm hắn thành con người khác được, cái chết không hóa hắn thành người tốt hơn, không biến hắn thành thiên tài, nếu sinh thời hắn vốn đần độn, không nâng hắn lên thành bậc thánh hiền, nếu sinh thời hắn vốn là đồ quái vật. Ta buộc phải chịu đựng một tai họa kiểu như thế một cách hoàn toàn tự nhiên, phải cam chịu tất tật những gì khủng khiếp nhất của nó, kể cả sự thật hiển nhiên là, những người gặp nạn kia chết đi, nhưng bức tranh thật sự về họ không vì thế mà thay đổi. Người ta vẫn bảo, không nên nói điều gì xấu, chớ nên bàn chuyện gì gở về người đã khuất; song, như thế là dối trá, là giả tạo chứ còn gì. Một kẻ suốt đời vốn đáng ghê tởm, một kẻ tâm địa vốn hèn hạ, thì khi hắn chết đi, làm sao tôi lại đột nhiên quay ra quả quyết, hắn không đáng ghê tởm, không hèn hạ, mà ngược lại, còn rất tốt bụng được kia chứ! Tấn trò nhạt thếch ấy, ta chứng kiến hàng ngày, khi một ai đó qua đời. Một khi chúng ta đã không ngần ngại để nói rằng con người cao quý này vừa mất, thì ta cũng không nên ngại ngần để nói thẳng ra, kẻ độc ác và đê tiện kia vừa chết. Con người đó chết đi, mang theo tất cả các tật xấu, hoặc các đức tính tuyệt vời của mình, ta cần nói rõ như thế. Cái chết của một ai đó không được phép - bất kể bằng cách nào - bóp méo bức tranh về con người ấy theo ý ta. Người chết vốn ở đời thế nào, sẽ tồn lại trong ta thế ấy, ta cần biết vậy và để người đó yên nghỉ. Tôi đã bảo Gambetti còn lâu tôi mới về lại Wolfsegg, thế mà bây giờ tôi lại phải về đó ngay. Tôi đã bảo, tôi không muốn thấy Wolfsegg nữa, tôi không chịu nổi những bức tường lẫn người ngợm trong ngôi nhà ấy, cả đến thời tiết ở đó tôi cũng không chịu được nữa. Tôi không hề nghĩ vì sao mọi thứ ở đó, tôi bảo anh ấy vậy, nhanh làm tôi khó chịu đến thế. Tôi không chịu đựng nổi ông bà già tôi, anh em cũng thế, nhất là hai con em gái, tôi bảo vậy, làm tôi phát điên. Tôi sống đã quá lâu ở Rome, hay nói rộng ra là ở nước ngoài, ở đấy, tôi thành người ngoại quốc mất rồi; lưu lại Wolfsegg chỉ một tiếng đồng hồ thôi, tôi cũng chịu không nổi. Tôi không thể hình dung, có một lúc nào đó, rồi tôi sẽ dừng chân, lưu lại Wolfsegg mệt thời gian dài. Tôi chẳng còn mối liên hệ nào với Wolfsegg nữa. Tôi ghê tởm tất tật, những gì liên hệ tôi với chốn ấy. Lịch sử của Wolfsegg là một gánh nặng chết người mà tôi không muốn đưa lưng ra gánh vác nữa. Thế mà giờ tôi lại phải quay lại Wolfsegg ngay. Vào hoàn cảnh thế nào chứ! Vào hoàn cảnh đáng lảnh hoàng biết chừng nào chứ! Tôi tự nhủ. Mới chừng bốn tiếng đồng hồ thôi chứ đâu, tôi còn bảo Gambetti, tôi chỉ ước ao, sao không bao giờ phải quay lại Wolfsegg nữa. Ước ao ấy của tôi chẳng bao giờ thành nữa. Ở đấy, tất tật đều dối trá, Gambetti ạ, bao trùm mọi thứ ở đấy là một thứ giả tạo kinh khủng anh sẽ không thể hình dung nổi. Người nhà tôi ở đấy, ai nấy đều thờ ơ, với tất tật những gì tôi nâng niu, yêu quý, với thiên nhiên, với nghệ thuật, với mọi sự đáng quý ở đời. Họ không đọc sách, không nghe nhạc, suốt ngày chỉ nói với nhau những chuyện chả ra đâu ra đâu, tầm phào hết cỡ. Tôi không làm sao bắt nổi một câu chuyện nào gọi là thật bõ với họ, toàn chuyện chán phè phè. Tôi có nói gì, họ cũng chẳng hiểu. Tôi có giảng giải cái này cái kia, họ cũng chỉ trân trân nhìn tôi, hoàn toàn ghẻ lạnh mà thôi. Họ chẳng có lấy chút thị hiếu nào. Tôi có kể họ nghe về Rome - thì ít gì, đấy cũng là trung tâm thiên hạ cơ mà - họ ngáp dài, ngán ngẩm. Tôi có kể về Paris, về văn học hay hội họa, thì cũng thế thôi. Mỗi khi dẫn đến tên tuổi vĩ nhân nào quan trọng đối với tôi ra, tôi lại e ngại, không chừng ở nhà này, chưa ai nghe đến họ bao giờ cũng nên. Mọi thứ ở đó đều xơ cứng, và chẳng rõ vì lẽ gì mà mùa hè cũng vẫn lạnh lẽo, khiến tôi hầu như lúc nào cũng phải run lên vì lạnh. Anh không biết đấy thôi, trong đầu họ không còn gì khác ngoài những thứ hạ đẳng nhất. Tiền bạc, săn bắn, rau cỏ, lúa má, khoai sắn, than củi, Gambetti ạ, ngoài ra không còn gì nữa sất. Mẹ tôi chỉ luôn mồm về các cổ phần của bà, những cổ phần mà bà bao giờ cũng than phiền bà toàn gặp rủi ro. Bố tôi mở miệng là nói đến nhà kho. Với ông anh tôi, trung tâm thế giới nằm ở chiếc thuyền buồm và chiếc xe Jaguar của gã. Anh thử hình dung mà xem: ra vào lui tới chốn ấy chỉ rặt một lũ người đáng tởm, ngớ ngẩn, lố bịch, nhạt nhẽo mà thôi - đám dân tình lẻ đáng chán, không sao bắt chuyện nổi, không thể nào bàn bạc, tranh luận chuyện gì cho đến đầu đến đũa được ấy. Nếu được, thì ít nhất cũng phải mất một năm nữa tôi mới quay lại Wolfsegg, tôi bảo Gambetti vậy, thậm chí Lễ Giáng sinh cũng không về. Đến cả tục lệ ấy tôi cũng thấy đáng ghét, bởi Giáng sinh chính là dịp Wolfsegg trở nên nhố nhăng dối trá nhất. Ít nhất một năm, tôi sẽ không về Wolfsegg, cùng lắm chỉ về vào dịp sinh nhật bố tôi! tôi bảo vậy, lúc hai chúng tôi dừng lại trước khách sạn Hassler. Cả lần này tôi cũng chuồn rõ nhanh khỏi Wolfsegg, làm người nhà tôi giận dỗi, tôi bảo vậy, mặc dù, sức mấy họ đã giận di cơ chứ, bởi vì ai trong số họ chả vô cảm, vâng, Gambetti ạ, khó mà tả cho hết được chứng vô cảm bao trùm lên mọi sự ở đấy. Nói đúng ra thì gần đây, những gì mang hơi hướng Áo, cũng như tất tật những gì nhuốm màu sắc Đức vậy, tôi đều không chịu được. Tôi bảo Gambetti, ở Rome, đầu óc tôi đâm ra hư đốn đối với Wolfsegg. Rome làm tôi không chịu được Wolfsegg nữa. Ngay London đã đủ làm đầu óc tôi không chịu nổi Wolfsegg rồi, sau đó đến Oxford, Paris và cuối cùng là Rome. Tôi không hiểu làm sao mà, có dạo, tôi từng băn khoăn, bứt rứt vì không về Wolfsegg như người nhà mong muốn được, bởi họ có đáng để tôi phải lặn lội về Wolfsegg đâu. Thì cứ bay về đấy, tôi nghĩ bụng, bay về cho họ riếc móc làm nhục ngươi. Chỉ riêng sự xuất hiện của tôi ở Wolfsegg thôi đã luôn luôn là mối nhục cho tôi rồi. Tôi vừa đến nơi là họ đã xỉ vả tôi. Vừa bước chân đến Wolfsegg là tôi đã bị làm nhục rồi. Ở đấy, tôi bảo vậy, nếu bỏ qua đôi khoảnh khắc hiếm hoi có thể gọi là dễ chịu đi, thì mọi thứ còn lại đều hèn hạ và hiểm ác. Đứng trước Gambetti, tôi vừa kể, vừa tự bị cuốn hút vào cơn phẫn nộ mỗi lúc một ngùn ngụt trút xuống Wolfsegg, mặc dù chính tôi, tôi cũng bỗng nhiên cảm thấy tràng chửi rủa tôi dành cho Wolfsegg quả là thối tha, khó chịu, song tôi không đừng được nữa, phải làm sao tuôn cho hết ra; bởi quả thực, tôi quá mừng được quay lại Rome, tôi chưa bao giờ mừng rỡ hân hoan đến mức không sao kìm lòng được nữa, và biến Gambetti thành một thứ nạn nhân phải bất lực đứng nghe những lời tôi nguyền rủa Wolfsegg, những lời nguyền rủa thật ra là dành cho mọi thứ mang chất Áo cũng như chất Đức, hay nói cho cùng, dành cho tất tật những gì ở vùng Trung Âu ấy. Đối với tôi, Gambetti ạ, đất bắc trở nên khó chịu tự bao giờ, càng lên phía bắc, tôi bảo vậy, càng khó chịu, mà Wolfsegg, trong mắt tôi, đã là nằm ở cực bắc rồi, đã tới tột đỉnh của sức chịu đựng rồi. Gambetti thân mến ạ, tôi không biết làm sao mô tả hết để anh thấy hết, những buổi tối chán chường, dài như vô tận, các món ăn vô vị cùng rượu vang nhạt nhẽo, lại thêm những câu chuyện trao qua đổi lại gượng gạo ấy đã hành hạ, dằn vặt tôi ghê gớm đến mức nào. Anh khó hình dung nổi tại sao, đối với tôi - được trở lại Rome, được lên đồi Pincio, được lượn qua lượn lại trong các khu vườn Borghese, được phóng tầm mắt từ đây xuống thành Rome yêu quý - lại có nhiều ý nghĩa như thế. Chao ôi, thành Rome tôi tôn kính! Thành Rome đẹp tuyệt vời! Ai từng sống ở Rome lâu như tôi, muốn hay không muốn, người ấy cũng tự xây tường, bịt lối dẫn về một nơi như Wolfsegg, anh ta không thể quay lại đấy nữa, tịt đường rồi. Tôi ra vào các dinh thự ở đấy suốt bao nhiêu ngày, chỉ nhằm sao tự trấn tĩnh, nhưng vô hiệu. Tôi mất bao nhiêu lâu để loanh quanh trong các căn phòng dành cho tôi, với hy vọng rồi sẽ quen dần, nhưng tất nhiên, vẫn không quen nổi; đã biết bao nhiêu lâu tôi uổng công tìm cách, làm sao lưu lại Wolfsegg mà không bị cảm giác sắp phát điên ám ảnh. Có cả năm cái thư viện một lúc, tôi bảo Gambetti, thế mà bầu không khí phản trí tuệ lại nặng nề đến thế! Ở các nước La-tinh, một người dù rất bình dân cũng đã ít nhiều có thị hiếu, có văn hóa rồi, tôi bảo vậy, còn ở Wolfsegg, một tí teo thị hiếu cũng chẳng ma nào có. Từ lâu lắm rồi, dân chúng Áo không còn chút thị hiếu nào nữa. Nhìn vào đâu cũng chỉ rặt những thứ cực kỳ vô vị và nhạt nhẽo. Mà thói thờ ơ, tật lãnh đạm mới lan tràn làm sao chứ. Tôi bảo với Gambetti, cứ như thể bây giờ người ta chỉ cần có dạ dày là đủ, đầu óc đâm ra thừa thãi. Một đám dân đần độn, tôi nói vậy, trong khi quê hương họ tuyệt vời là thế, đất nước họ đẹp có một không hai như thế. Thiên nhiên họ đẹp không nơi nào sánh nổi, vậy mà họ vô cảm, hờ hững với nó. Một nền văn hóa lâu đời, vốn đáng kính là thế, tôi nói, mà giờ đây, vô văn hóa dã man đến vậy, một sự phản văn hóa kinh hoàng nhất thì đúng hơn. Ấy là chưa nói đến nền chính trị tồi tệ ở đấy. Ôi, không biết loài súc sinh ghê tởm nào đang cai trị đất nước Áo ngày nay! Những kẻ hạ đẳng leo lên ngồi tít bên trên. Những kẻ đáng ghê tởm nhất, những tên hung ác nhất đang nắm mọi thứ trong tay và chúng đang manh tâm hủy hoại hết thảy. Đang ra tay chính là bè lũ phá hoại say sưa cuồng nhiệt, là tụi bóc lột người không nương tay, cái bọn choàng vỏ chủ nghĩa xã hội kiểu Áo ấy. Chính quyền này đang vận hành một bộ máy hủy diệt đồ sộ, ngày ngày hủy hoại tất tật những gì tôi quý mến. Phố phường thay hình đổi dạng, tôi bảo vậy, đến mức không còn nhận ra được nữa, làng quê trở nên xập xệ đến mức đáng thương. Bao nhiêu vùng thiên nhiên đẹp đẽ hôm xưa trở thành nạn nhân của thói tham tiền hám lọi, vừa khát khao chức trọng quyền cao của lũ dã man tân thời. Cây cối đẹp chỗ này, chúng cho đốn đi, ngôi nhà cổ tráng lệ nơi kia, chúng cho kéo đổ, chốn khác có dòng suối ngọt đổ xuống thung lũng, chúng cũng cho lấp đi bằng được. Mọi thứ đẹp đẽ đều bị giẫm đạp, chà nát. Và tất cả đều nhân danh chủ nghĩa xã hội kiểu Áo, theo một lối giả nhân giả nghĩa ngoài sức tưởng tượng. Tất tật những gì, dù chỉ tí ti, dính dáng đến văn hóa đều bị nghi vấn, cho đến khi tuyệt diệt mới thôi. Chính là bọn chuyên nghề hủy diệt, lũ sát thủ ấy, đang ra tay. Ta đang đối mặt với bọn chuyên hủy diệt và bè lũ sát thủ đó, chúng đang hành sự ở mọi nơi, mọi chỗ. Bọn chuyên nghề hủy diệt lẫn bọn giết thuê, chém mướn ấy phá phách rồi triệt hạ phố phường, giết hại, rồi hủy diệt đồng quê. Các cặp mông phì nộn của chúng bít chật hàng ngàn, hàng trăm ngàn văn phòng sở này, bộ nọ ở mọi vùng miền, mọi xó xỉnh quốc gia này, và trong đầu chúng không chứa bất cứ thứ gì khác, ngoài cơn say phá phách và hủy hoại, trong đầu chúng không toan tính bất cứ chuyện gì khác, ngoài chuyện làm sao tận diệt, làm sao xóa sạch sành sanh mọi thứ nằm giữa hồ Neusiedlersee và Bodensee. Thành Wien đang bị đẩy gần đến chỗ chết, Salzburg cùng bao nhiêu thành phố tuyệt vời khác cũng vậy, những thành phố, tôi nói với Gambetti, tuy anh chưa đến, nhưng thật sự là những thành phố nằm trong số thành phố đẹp nhất thế gian này. Phong cảnh ta thấy, mỗi khi từ Wien lên đường xuyên đất Áo ta vẫn qua, cũng bị hãm hại và gần như tuyệt diệt. Suốt quãng đường, hình ảnh ghê người này nối tiếp hình ảnh ghê người khác, các cảnh tượng quái dị chen nhau diễu qua trước mắt ta, và nếu vẫn khăng khăng bảo nước Áo hiện giờ rất đẹp, thì quả là quá ư dối trá. Đất nước này, sự thực, từ lâu đã trở thành nạn nhân của các dịch vụ làm ăn xảo trá, bị hủy hoại, bị phá phách, bị nhồi nặn hoàn toàn tùy tiện, một đất nước khó lòng còn xó xỉnh nào nguyên vẹn. Bảo đất nước này đẹp là dối trá, bởi sự thực, đất nước này đã bị giết hại mất rồi. Có cần phải thế không, tôi hỏi Gambetti, để ngay trong thế kỷ này, con người ta chiếm đoạt mảnh đất đẹp nhất trần đời ấy, rồi giết hại và tuyệt diệt nó? Sau nhiều năm xa cách, ta không còn nhận ra cả làng xóm lẫn dân quê nữa đâu, Gambetti ạ. Mới vài năm trước đây thôi, họ còn là những con người thế nào mà bây giờ, họ lại trở thành những kẻ như thế! Ai nấy dường như đều mắc thứ bệnh chết người - vô bản lĩnh, phi cá tính, tham lam, tàn nhẫn, hèn hạ, dối trá, giả nhân giả nghĩa, đê tiện. Ngày nay, để đạt được đôi mục tiêu thấp hèn, những kẻ như thế có thể làm tất cả, kể cả những trò tàn nhẫn đáng tởm nhất. Anh khấp khởi vào các thôn làng ấy, những tưởng sẽ hưởng niềm vui tái ngộ, ai ngờ gặp toàn chuyện độc địa, khiến anh chả mấy chốc phải quay lưng tháo chạy. Anh tìm thăm lại các thành phố hôm xưa từng tráng lệ là thế, để rồi gằm mặt thất vọng bỏ đi, nặng trĩu lòng trước cảnh tượng tan hoang của các thành phố ấy. Chúng đã bị bọn tà ma mới chà xát, triệt hạ mất rồi, anh chỉ còn tìm thấy chúng trong sách cổ, trên tranh khắc thời xưa nữa mà thôi. Thực tiễn hôm nay đã tuyệt diệt chúng từ lâu. Như những ngôi nhà tráng lệ ở Salzburg, vùng Thượng Áo chẳng hạn, hay ở Hạ Áo cũng vậy thôi, đã mất hết diện mạo vốn có của chúng, trong cơn sốt sính kiểu cách tân thời, người ta mù quáng cắt xén, băm vằm diện mạo tuyệt vời và cổ xưa trăm năm có lẻ đó, giật đổ tất cả những gì đẹp đẽ vốn có trên các tòa nhà ấy, để giờ đây, với vẻ ít nhiều giễu cợt, chúng trơ trẽn phô bộ mặt rách nát, bầm giập ra trước những cặp mắt xót xa của kẻ qua đường, người còn nhớ hôm xưa trông chúng thế nào. Tôi bảo Gambetti, nhìn đâu cũng rặt những mặt nhà sần sùi tan nát, kinh khủng như bệnh hủi. Chưa kể bọn chúng còn thẳng tay moi gan mổ ruột hẳn cả nhiều khu phố một lúc, tôi nói với Gambetti, khiến chúng mãi mãi què quặt, đổ nát. Bọn kiến trúc sư đã làm méo mó mặt đất chúng ta - tôi bảo vậy - chính cái bọn kiến trúc sư là bọn đã được tụi chính trị gia tàn nhẫn kích động và xúi giục gây nên sự méo mó dị dạng đó. Thoạt tiên, có thể tưởng chiến tranh đã tàn phá phố phường, làng mạc chúng tôi; song thực ra, trong mấy chục năm gần đây, phố phường, làng quê chúng tôi bị nền hòa bình quái đản tàn phá còn thậm tệ hơn nhiều, qua những vụ làm ăn bất lương của bọn cầm quyền, cái bọn đã dung túng cho tụi kiến trúc sư hung đồ thả sức hoành hành phá phách ấy. Và anh có biết chúng đã hoành hành ghê gớm đến thế nào trong mấy chục năm qua! So với sự tàn phá của chúng, mức độ tàn phá do chiến tranh gây ra thật không đáng là bao, tôi quả quyết với Gambetti như thế. Và không ở đâu như ở Áo, sự tàn phá lại xảy ra như thế. Không ở đâu trên đất châu Âu này, sự tàn phá lại ác nghiệt đến thế. Tôi bảo Gambetti, bọn chúng lừa bịp dân chúng, che mắt bịt tai con nhà người ta để rảnh tay đào bới, đục bỏ, rốt cuộc, không ít thì nhiều, hủy dập hoàn toàn cả làng quê lẫn phố phường của họ. Hàng chục năm nay, bọn chúng thuyết giáo, nhồi nhét vào đầu con người ta một thứ thị hiếu cực kỳ vô vị và rẻ tiền. Mấy chục năm trở lại đây, tôi bảo Gambetti, chúng tôi đội trên đầu biết bao nhiêu vị Bộ trưởng đầu cơ trục lợi, vừa độc ác vừa trắng trợn, những kẻ ngồi lì ở các ghế Bộ trưởng cho đến khi nào triệt hạ, tàn phá xong các cánh đồng quê, các đô thành, của chúng tôi mới thôi, lại phải cõng trên lưng thêm biết bao nhiêu bọn chuyên nghề hủy dập quốc gia, mà cũng là đất nước của chúng tôi ấy, tôi nói với Gambetti, cứ nghĩ mà phát khiếp. Nhưng, trên một đất nước mà hàng chục năm nay chỉ độc có sự thô lỗ và thị hiếu rẻ tiền hoành hành cai tri, thì cũng chẳng có gì là lạ, khi giờ đây kết cục mọi mặt lại thảm hại đến thế này. Bởi vì, lúc ra tay hủy hoại, tàn phá, hủy dập phố phường, làng mạc chúng tôi, thì bọn cầm quyền cũng tàn sát và hủy hoại luôn cả linh hồn lẫn chí khí nhân dân chúng tôi vậy, tôi nói với Gambetti. Linh hồn đồng bào tôi bị hủy hoại, bản lĩnh họ trở nên thấp hèn, tính khí họ đâm tàn nhẫn. Tôi bảo, hiện giờ, ở đâu cũng bị bầu không khí hằn học bao trùm, đặt chân đến bất kỳ đâu, anh đều phải đối mặt với tính khí hằn học, ác hiểm đó. Anh bắt chuyện với một người anh vẫn tưởng lương thiện như xưa, nhưng anh ngã ngửa ra ngay rằng đây là một kẻ nham hiểm và thấp hèn, bởi con người lương thiện hôm xưa ấy, theo trào lưu biến đổi tâm tính chung, đã biến thành kẻ nham hiểm và hèn hạ tự bao giờ rồi, và hắn cũng chẳng buồn che đậy hay giấu giếm sự sa đọa, thoái hóa đó, hắn còn ngang nhiên phơi bày nó ra trước mặt bàn dân thiên hạ. Anh bước chân vào một ngôi làng mà trong ký ức anh, vốn là nơi thân tình và cởi mở với anh, thì chẳng mấy chốc anh đã phải ngao ngán nhận ra, rằng nơi đây đã trở nên hằn học, không còn chút gì cởi mở nữa, rằng anh chỉ bắt gặp mối nghi hoặc hèn hạ mà thôi. Cả nước Áo biến thành cửa hàng bán buôn lèo lá, trong đó người ta chỉ còn cò kè mặc cả, bớt một thêm hai với nhau, tên này bịp kẻ nọ nữa mà thôi. Anh đinh ninh anh đang rong ruổi thăm thú một đất nước đẹp đẽ, nhưng hóa ra, anh đang loanh quanh trong một cửa hàng bách hóa thì thụt bất lương. Anh chắc mẩm đang đến thăm một đất nước văn hóa, thì đâu đâu anh cũng bị cái dã man và thô thiển làm tổn thương. Tôi bảo Gambetti, ngay từ đầu, bầu không khí ngu muội ở đấy sẽ làm anh ngạt thở. Các bức tượng, tôi nói thêm, từ thế kỷ trước từng được dựng đặt khắp nơi kia, dường như cũng đang chán ngán nhìn xuống đống hỗn mang khôn tả do bọn cầm quyền tạo ra. Gambetti ạ, tôi nói, anh không thể hình dung nổi, mọi thứ trở nên ghê tởm và lố bịch đến thế nào. Những thứ đáng ghê tởm ấy, những món lố bịch, vô vị và nhạt nhẽo ấy, hẳn sẽ không thể có ở nước Ý, tôi nói, ở lầy Ban Nha cũng không. Không ở đâu như ở nước Áo, bọn họ lại nhắm mắt nhắm mũi rập khuôn các khẩu hiệu ngớ ngẩn cổ xúy cho tiến bộ một cách nghiêm túc như thế, tôi nói, và do đó, hủy hoại hết thảy. Ở Áo, mọi thứ ngu xuẩn đều được rập khuôn nghiêm túc, đều được bắt chước nghiêm chỉnh, ở mức triệt để nhất, tôi nói với Gambetti, và tự anh, anh khắc biết, như thế có nghĩa là gì. Cho đến giờ tôi vẫn một mực đinh ninh cái gọi là chủ nghĩa xã hội kiểu Áo ấy, chỉ là như cơn nhức đầu vô hại, sớm muộn khắc qua thôi, tôi bảo Gambetti, ai dè, nó quả thực là thứ bệnh gây tử vong đáng sợ. Thứ chủ nghĩa xã hội tôi muốn nói đến ở đây, Gambetti ạ, là thứ chủ nghĩa xã hội đang thịnh hành, tức là thứ giả dối, quỷ quyệt, bị xuyên tạc một cách vô liêm sỉ nhất. Hiện nay, ta không có chủ nghĩa xã hội thực sự, nó không tồn tại ở bất kỳ đâu trên thế giới này cả, anh cần biết điều đó, đâu đâu cũng chỉ một thứ chủ nghĩa xã hội giả dối, trí trá, bị xuyên tạc ấy mà thôi. Cũng như những người xã hội chủ nghĩa hiện nay không phải là những người xã hội chủ nghĩa chân chính, mà về thực chất, chỉ là những kẻ giả dối, xảo quyệt, trí trá không hơn không kém. Thế kỷ này đã thành công biết bao trong việc bôi tro trát trấu vào thanh danh chủ nghĩa xã hội - vốn là thứ đáng tôn đáng kính - đến mức anh phải buồn nôn, tôi bảo Gambetti vậy. Giá các vị tiền bối hôm xưa từng mang nặng đẻ đau thứ chủ nghĩa xã hội chân chính và từng chắc mẩm đã xây được nền, đặt được móng cho nó trường tồn mãi mãi mà biết được bọn đệ tử xấu xa của các vị đã biến con đẻ các vị thành thứ gì, thì hẳn các vị phải đội mồ chồm dậy. Các vị sẽ phải đội mồ chồm dậy, nếu các vị mở mắt nhìn thấy được những thứ mà ngày nay người ta đem ra rao bán dưới danh hiệu Chủ nghĩa xã hội cao quý của các vị và dúi vào tay dân chúng khắp nơi. Các vị sẽ điên tiết đội mồ chồm dậy, nếu các vị thấy những trò bịp bợm bẩn thỉu nào đang đội danh Chủ nghĩa xã hội cao quý ấy của các vị để diễn ra ở châu Âu, cũng như trên thế giới này. Các vị sẽ phải bàng hoàng đội mồ nhổm dậy, nếu các vị được nghe nói tới chiêu trò bịp bợm chính trị gớm ghê chưa từng có này. Các vị sẽ đội mồ nhổm dậy, đội mồ ngồi dậy, tôi nói đi nói lại nhiều lần với Gambetti như thế. Tôi cũng bảo Gambetti, còn lâu, ít nhất một năm nữa tôi mới quay về chốn ấy, thế mà bây giờ tôi lại phải lập tức quay về đó. Trong ảnh, dáng ông anh tôi đứng có vẻ hơi co ro khúm núm, tôi tự nhủ, và mặc dù trông khá sang trọng, gã vẫn chỉ là gã nhà quê, trong khi tôi bao giờ cũng là dân thành thị, dân phố lớn, dù có ăn mặc theo kiểu thị thành đến đâu đi nữa, bản mặt nhà quê của gã vẫn lộ rành rành. Y hệt ông bố gã, tuy rất hay đóng bộ kiểu thị thành, như ông anh tôi, nhưng bao giờ ông cũng lộ rõ chất quê mùa. Thế rồi, bởi mẹ muốn thế, họ lên xe, hay đúng hơn là đã lên xe đến Wien nghe nhạc kịch - vào dịp Phục sinh thì nhất thiết phải là vở Parsifal - rồi vào khách sạn Sacher dùng bữa, ở Wien, họ không ăn tối, mà dùng bữa tối, họ không ăn trưa, mà dùng bữa trưa, họ dùng bữa điểm tâm, rồi đi dạo tay ba, hoặc - gặp lúc mềm lòng, rộng bụng - thì mời bà cô Elisabeth tôi sống ở Wien đi cùng, để thành tay tư kéo nhau qua khu Graben, lượn hết phố Kãmtnerstrasse đến tận khu Ring. Y phục thị thành, nhưng thoáng nhìn, ba vị lộ ngay tướng nhà quê. Cả bọn dắt díu nhau đến những cửa hàng danh tiếng nhất, ở đấy, mẹ tôi sẽ chọn mua bộ trang phục cắt theo kiểu mẫu Milano hay Paris - đắt tiền nhất, mà cũng vô duyên, khiếm nhã nhất, rồi đóng lên người, xúng xính đến Linz, vào nhà hát, hoặc đến Salzburg nghe buổi giao hưởng trong chương trình vé tháng, mà từ cả chục năm nay ông bà vẫn đặt mua. Trên ảnh, trông ông anh tôi có vẻ khỏe khoắn hơn ngoài đời. Nhưng thật ra, gã đã kịp nhiễm mọi thứ bệnh bố gã mang trong người rồi, chỉ chưa phát ra như ở bố thôi, mà vẫn còn ủ, ngấm ngầm, âm ỉ. Nhưng tôi, chỉ nhìn gương mặt gã, chỉ nhìn dáng người tội nghiệp từ trong ra ngoài của gã trong ảnh là tôi đủ thấy các căn bệnh gã mắc rồi. Có lần tôi bảo Gambetti, bọn họ ai cũng có dáng điệu tội nghiệp, bắt nguồn từ tính cách tội nghiệp của họ. họ, cả trong lẫn ngoài, mọi thứ đều tội nghiệp, và tôi giảng giải cho Gambetti biết tội nghiệp là thế nào. Ở Ý, người ta không biết khái niệm này, trong tiếng Ý không có từ nào tương ứng, cũng không thể dịch nó cho đúng nghĩa được. Bọn họ dắt nhau vào nhà hát nhạc kịch hay nhà hát kịch nói, song của đáng tội, chỉ là để ngồi ngán ngẩm, ngáp lên ngáp xuống. Ấy nhưng cứ hết buổi diễn, bao giờ họ cũng vỗ tay, dậm chân hoan hô cuồng nhiệt, chẳng buồn để tâm giữ vẻ sang trọng, tinh tường tế nhị nữa chỉ vì họ đã mất rất nhiều tiền để mua vé, mua với giá gốc, là chuyện dân thành Wien chính hiệu chẳng bao giờ làm, dân Wien chính hiệu không bao giờ mua vé giá gốc, cùng lắm chỉ trả một nửa, họ dành vé giá gốc cho đám dân ngoại quốc hay cánh nhà quê thả sức mua, và đám này, vốn dĩ phải bỏ tiền mua vé gốc giá cao, nên cũng thường vỗ tay hoan hô nồng nhiệt hơn cả. Trước tủ kính trưng hàng của các cửa hàng danh tiếng, nhưng chưa hẳn đã là tốt nhất, bao giờ chúng tôi cũng phải cùng với mẹ dừng lại ngắm nghía. Bước vào các cửa hiệu này, bao giờ bà cũng ngẩng cao đầu, và tôi chưa bao giờ chứng kiến bà ra khỏi một cửa hiệu danh tiếng nào đấy mà không mua sắm gì. Cứ qua hai, ba cửa hiệu như thế, thì y như rằng, cả tôi lẫn những ai đi cùng đã phải tay xách nách mang một lô một lốc những túi với bị, bao giờ túi đeo túi xách quả thật nặng không tha được nữa, bà mới chịu thôi và để cho cả bọn, ai nấy mệt nhoài, lê lết kéo nhau về nghỉ ở khách sạn Sacher hay Bristol, là hai nơi chúng tôi thường dừng chân trọ. Nếu được, bà đã mua bằng hết đem về Wolfsegg cho hả. Bà làm gì với bao nhiêu thứ thế này - thể nào bố tôi cũng cằn nhằn - rồi bà có mặc đến đâu? Ở Wolfsegg, bà không mặc được, bởi trông buồn cười đến chết; ở Salzburg chả ma nào để ý xem mấy thứ này quý giá ra sao, ở Linz cũng vậy, chứ chưa nói ở Weis. Rồi mọi thứ cứ treo đấy trong tủ, cho đến khi hết thời, bà lại quẳng hoặc đem cho chứ gì. Song, nào mẹ tôi có chừa. Đi Wien về, số kiện hàng bà mang theo bao giờ cũng lên hàng tá, chưa kể chừng nửa tá nữa, do các cửa hiệu sẽ còn gửi vế sau. Ấy là số quần áo bà mua lúc vắng mặt chúng tôi. Mẹ tôi bao giờ cũng chi cả đống tiền bạc để sắm quần mua áo, mặc dù bà chẳng bao giờ mặc hết, và nếu có mặc, thì cũng hai, ba lần là cùng, rồi thì vứt bỏ hoặc cho đi. Ấy nhưng, thấy bảo vậy, nếu tụi em gái tôi hứng lên, muốn mua áo váy tân thời thì liệu hồn! Ở Wien, chúng chưa bao giờ được phép mua bất kỳ chiếc áo nào; thậm chí ngay cả khi bốn chục tuổi đầu rồi, cũng không được phép. Bốn chục tuổi đầu, tụi nó cũng chỉ mới đôi lần được mua thứ áo váy hạ giá ở Weis mà thôi, bởi vì cánh thợ may ở Lambach trước sau vẫn là những người may quần áo cho chúng nó, thứ quần áo Dirndl đáng ghét, mà bà mẹ chúng tôi - như tôi đã kể - mỗi năm hai lần, thuê thợ may đo. Đến vải may, chúng nó cũng chẳng được phép chọn, bởi bà mẹ - mặc dù chính bà, chưa bao giờ có thể coi là có khiếu thẩm mỹ - từ xưa đến giờ vẫn khăng khăng, hai đứa không đủ thị hiếu để tự chọn. Các phù điêu trên các bộ váy Dirndl này, nếu không quá to, thì sẽ quá nhỏ, hoặc màu sắc đá nhau, cổ áo không quá rộng thì quá hẹp, tay áo hoặc quá ngắn hoặc quá dài, váy bao giờ cũng dài quá cỡ ít nhất hai chục phân và yếm bên ngoài không khi nào hợp với váy bên trong. Mẹ tôi bao giờ cũng diện hai đứa con gái bà như diện hai con búp bê, bởi bà bao giờ cũng đối xử với chúng nó như đối xử với hai con búp bê vậy, và nói cho cùng, chưa bao giờ thấy chúng nó khác hai con búp bê thế nào cả. Cũng như nhiều bà mẹ khác, ngay từ lúc đẻ con ra, bà đã luôn luôn xem hai đứa con gái bà như hai con búp bê. Và có lẽ sẽ không phải là quá lời, để bảo rằng hình như bà cố tình sinh nở hai con búp bê, chứ không phải hai đứa con gái. Dù đã có tuổi, dường như bà vẫn muốn có một, hai con búp bê để chơi thì phải. Hai đứa con gái bà nào khác gì hai con búp bê cho thú chơi của bà, cho nên bà cũng chưa bao giờ buông chúng ra cả, và chúng phải nhất cử nhất động theo ý bà, hàng ngày bà mặc quần khoác áo cho chúng, bón thức ăn, rót nước uống, sáng dẫn đi chơi, tối bế lên giường, ru chúng nó ngủ, y như với mấy con búp bê. Bốn chục tuổi đầu rồi, mà hai con búp bê ấy - tức các em gái tôi - vẫn phải chiều thú chơi búp bê của mẹ chúng, tôi nghĩ bụng. Nhưng cả gã anh tôi, suốt đời cũng sống cuộc đời một con rối, nói cách khác, làm thằng hề cho mẹ tôi, ngay từ đầu, bà đã nuôi dạy gã thành một thứ con rối phụ, đặng thay thế con rối chính, tức chồng bà, mỗi khi ông đi vắng. Với mẹ tôi, một người nghiện chơi búp bê, bọn em gái tôi quả là hai con búp bê biết nói thật; bà có thể bắt chúng cười hay khóc tùy ý bà, đuổi ra xa hay triệu đến gần khi nào bà muốn, mặc hay cởi quần áo chúng nó, tùy ý và tùy lúc bà ưng, còn chồng bà, ông bố tôi, và con trai bà, gã anh tôi, đều là hai con rối nữa của bà, bà có thể giật dây tùy hứng. Mẹ tôi nghiện thú chơi con rối, một thú chơi khá ư tai ác. Bà đã biến Wolfsegg thành một thế giới vận hành hoàn hảo của các loại con rối và búp bê, trong đó mọi thứ đều chạy ro ro, răm rắp theo lệnh bà. Wolfsegg biến thành ngôi nhà búp bê và mọi thứ xung quanh nó - thành thế giới búp bê của bà. Vì tôi không muốn làm búp bê trong ngôi nhà và thế giới búp bê đó, cho nên tôi đã sớm tự tách mình khỏi ngôi nhà và thế giới ấy. Và, đứng từ bên ngoài nhìn vào, từ xa nhìn về, ngôi nhà búp bê ấy, thế giới búp bê ấy, trông còn nặng nề, ngột ngạt, còn đáng sợ hơn bội phần. Tôi bảo Gambetti, Wolfsegg là ngôi nhà búp bê, bao quanh nó chính là thế giới búp bê do mẹ tôi điều khiển một cách tàn nhẫn, phi nhân tính, vâng, đến rùng rợn. Gambetti phì cười, bảo tôi giỏi phóng đại, bi quan quá đáng, theo kiểu rất chi là Áo, tiêu cực đến mức vô lý. Đáp lại, tôi chỉ bảo, cái anh gọi là phóng đại hay cường điệu, thật ra, đã là rất kiềm chế, xà xẻo, bớt xén khá nhiều so với sự thật rồi đấy. Wolfsegg tôi mô tả cho anh so với Wolfsegg thật ở đời, vẫn còn thơ mộng chán. Gambetti ạ, tôi nói, anh không thể hình dung nổi Wolfsegg đâu, bởi anh chưa bao giờ có dịp đặt chân vào một ngôi nhà búp bê kinh khủng như thế, một cảnh quan ghê rợn chỉ dành riêng cho các loại búp bê và con rối như vậy quả là độc nhất vô nhị. Bố tôi, tôi nói anh nghe, là một con rối đã hơn bảy chục tuổi đầu, sở dĩ các khớp chân khớp tay ông khô cứng, sở dĩ đầu óc ông đờ đẫn cứng nhắc như thế, là vì suốt đời ông, ông toàn bị giậy dây, lên cót. Anh trai tôi, tôi bảo Gambetti, là con rối bốn chục tuổi đầu, gã cũng không cưỡng lại việc mình bị giật dây, gã đã đầu hàng, không dám chống lại bà mẹ ham mê các con rối đến mức quái đản ấy. Dân Đức, cũng như dân Áo, tôi bảo Gambetti, phần lớn đều bám mẹ, ở hai nước này, dân chúng xem uy tín người mẹ là bất khả xâm phạm, họ nâng các bà mẹ lên hàng thánh thần thiêng liêng, thế nhưng, trong đời thực, đa phần các bà chỉ là các bà mẹ chơi búp bê hay con rối đáng sợ mà thôi; các bà giật dây con cái, vặn cót gia đình các bà y như giật dây, vặn cót con rối vậy, đến khi cả con cái lẫn các đức ông chồng của họ lăn ra chết mới thôi. Ở Đức và ở Áo không có các bà mẹ như các bà mẹ các nước La-tinh; ở đó các bà mẹ tự nhiên, không phải mẹ búp bê. Còn ở Áo với Đức, tôi nói, chỉ toàn mẹ búp bê thôi và các bà mẹ này, cả đời họ, không làm gì khác ngoài việc giật kéo không nương tay các ông chồng, đứa con búp bê của họ, giật kéo cho đến khi các búp bê chồng, búp bê con lăn ra chết mới hả. Ở miền Trung Âu này, không còn các bà mẹ tự nhiên nữa, chỉ còn các bà mẹ giả tạo, tức là các bà mẹ nhân tạo, tôi bảo vậy, các bà mẹ búp bê, những bà mẹ, nói cho đúng, chỉ sinh ra thứ con cái nhân tạo, nghĩa là, thứ con cái ít nhiều giả tạo nữa mà thôi. Ngay cả trên các rẻo núi cao hẻo lánh, anh cũng không tìm thấy các bà mẹ tự nhiên nữa, độc các bà giả tạo. Và cố nhiên, các bà mẹ giả tạo này chỉ cho thứ con cái giả tạo ra đời; thứ con cái giả tạo này, đến lượt chúng, cũng chỉ đẻ ra con cái giả tạo. Cứ như thế, ngày nay ta chỉ còn thứ con người giả, con người nhân tạo, không phải con người tự nhiên nữa, thật là sai lầm, nếu ta bảo con người là tự nhiên, con người tự nhiên đó không còn nữa ở đời, con người ta gặp gỡ, giao lưu, chung đụng hiện giờ là những con người giả tạo, chúng ta sẽ hoảng sợ nếu chẳng may đụng phải con người tự nhiên, bởi ta bị bất ngờ, bởi đã từ lâu ta chỉ còn gặp thứ người giả, thứ người nhân tạo mà thôi, những người từ lâu đã thống trị thế giới này, một thế giới cũng đã từ lâu không còn tự nhiên nữa, mà trở nên hoàn toàn giả dối, một thế giới nhân tạo, Gambetti ạ. Thế giới nhân tạo đẻ ra con người nhân tạo và ngược lại, con người nhân tạo dựng nên thế giới nhân tạo; thế giới giả tạo đẻ ra thứ người giả tạo và ngược lại. Tuyệt không còn thứ gì tự nhiên nữa cả, tôi bảo Gambetti, tuyệt nhiên không, hoàn toàn không còn gì tự nhiên nữa. Song, ta vẫn luôn luôn tưởng, Gambetti ạ, mọi thứ là tự nhiên. Đó là ảo tưởng. Mọi thứ đều giả tạo, mọi thứ đều nhân tạo. Thiên nhiên không tồn tại nữa. Hiện giờ ta vẫn tưởng ta thưởng ngoạn thiên nhiên, trong khi đúng ra, ta phải hiểu ta đang ngắm nghía khung cảnh nhân tạo mới phải. Bởi vậy, tôi bảo Gambetti, mọi thứ lộn tùng phèo hết cả lên. Thật giả dối. Thật bất hạnh. Rối rắm đến mức tuyệt vọng. đâu không còn thiên nhiên, thì đương nhiên, ở đó cũng không ai thưởng ngoạn thiên nhiên được nữa, Gambetti ạ, đó là điều hoàn toàn hợp lý, tôi bảo Gambetti thế. Bức ảnh ông anh tôi đúng vào khoảnh khắc leo lên chiếc thuyền buồm ở hồ Wolfgangsee đây, chụp gã đang ở dáng vẻ ra chiều sung sướng lắm, thế nhưng, thật ra, gã lại là kẻ bất hạnh nhất trên bức ảnh này. Gương mặt hai đứa em gái tôi, trên bức ảnh chụp trước biệt thự của chú Georg tôi ở Cannes, như đông cứng lại trong vẻ hân hoan sung sướng, song chính vì thế, trông còn khổ sở hơn nhiều so với ngoài đời. Bố mẹ tôi khốn khổ, bất hạnh ngoài đời thế nào thì trong bức ảnh chụp trên sân ga Victoria ở London, trông hai vị bất hạnh, khốn khổ y như thế, mặc dù ông bà gắng gượng hết sức, làm cho ra vẻ đang sung sướng lắm. Tôi cứ nghĩ, không biết cái gì khiến con người ta lúc phơi mặt ra cho người khác chụp, luôn luôn có ý muốn, làm sao để trong ảnh, trông mình sung sướng, mãn nguyện mới được, hay ít nhất, cũng đừng để lộ mình đau buồn? Ai ai cũng chỉ muốn được chụp tươi rói, hơn hớn hạnh phúc, chứ không bao giờ bất hạnh, buồn đau cả, không bao giờ muốn chụp mình là kẻ bất hạnh, bao giờ cũng chỉ muốn được chụp lúc mình hoàn toàn bị xuyên tạc, không bao giờ muốn chụp một tấm hình chân thực, tức là bức hình một kẻ bất hạnh nhất. Mọi người, ai cũng muốn được chụp hình sao cho thật đẹp đẽ và hạnh phúc, trong khi ai nấy thực ra đều xấu xí và bất hạnh. Người ta náu mình vào ảnh, cố tình thu nhỏ mình lại, để chui vào những bức ảnh chụp họ, những bức ảnh, theo một cách giả tạo - sẽ cho thấy họ thật sung sướng và xinh tươi, hay ít nhất cũng ít xấu xí, ít bất hạnh hơn họ ngoài đời. Họ đòi hỏi những tấm hình lý tưởng họ mong ước và họ sẽ không chừa bất kỳ biện pháp nào, kể cả những biện pháp gây méo mó thô bạo nhất, để có được tấm hình lý tưởng họ vẫn ao ước ấy. Họ chẳng hề nhận thấy khi làm như thế họ đã tự hạ mình kinh khủng và đáng sợ đến mức nào. Người đẹp trong ảnh chắc chắn bao giờ cũng là người xấu xí nhất, người rạng rỡ nhất trong ảnh bao giờ cũng là kẻ bất hạnh nhất. Nơi họ ở, họ treo những bức ảnh họ cho chụp, để phô ra một thế giới tưởng chừng đẹp đẽ và hạnh phúc lắm, nhưng thực ra, chỉ là một thế giới vô cùng xấu xa, bất hạnh và giả tạo. Suốt đời, họ trân trân nhìn ngắm các bức ảnh dường như đẹp đẽ và hạnh phúc treo trên tường ấy của mình và cảm thấy mãn nguyện lắm, trong khi lẽ ra, họ phải cảm thấy tự ghê tởm mới đúng. Song, họ chẳng hề nghĩ ngợi gì, và nhờ thế, cũng trốn tránh được một nhận thức đáng sợ rằng họ, thực ra, đến là xấu xí, bất hạnh và giả dối. Thậm chí họ còn khoe những bức ảnh này, những tấm ảnh mà trên đó, họ tưởng họ đẹp đẽ và hạnh phúc lắm, với khách khứa đến thăm nhà, những vị khách vốn vẫn thừa biết chủ nhà xấu xí, bất hạnh, đần độn và độc ác ra sao, họ cũng chẳng ngượng ngùng gì để khoe các tấm ảnh này với những ai biết rõ họ trong đời thực thế nào, và do đó, tất nhiên, sẽ nhận ra ngay bọn lừa đảo trong ảnh, bọn thật sự dối trá và lạc lõng ở đời. Chúng ta đang sống ở hai thế giới, tôi bảo Gambetti, một thế giới thực, sầu thảm và độc địa đến chết người và một thế giới trong ảnh, tuy hoàn toàn giả tạo, nhưng đối với đa phần nhân loại, lại là thế giới lý tưởng họ luôn thèm khát. Nếu thời nay anh tước bỏ hết ảnh một ai đó, nếu anh lột hết ảnh gã treo trên tường xuống rồi hủy sạch sành sanh đi, không để sót tấm nào nữa, tôi bảo Gambetti, thì cũng chẳng khác gì anh đã lột hết mọi thứ của gã. Như vậy, có thể luận tiếp rằng con người ta chẳng còn ham hố gì nữa sất, chẳng còn bấu víu vào bất cứ thứ gì khác nữa, và như thế, cũng có nghĩa là không phụ thuộc vào bất cứ thứ gì khác nữa cả, ngoài trò nhiếp ảnh. Nhiếp ảnh chính là sự cứu rỗi của họ, Gambetti ạ, tôi nói vậy khiến Gambetti bật cười, bảo tôi đúng là kẻ hão huyền buổi sáng, một danh hiệu ngộ nghĩnh tôi chưa nghe bao giờ, khiến tôi phải phá lên cười, tiếng cười lôi cuốn Gambetti cười theo, và hai chúng tôi phải mất một lúc lâu để thả sức cười khoan khoái cho hết cơn. Nếu chúng ta không nắm nghệ thuật phóng đại trong tay, tôi bảo Gambetti, thể nào ta cũng phải gánh chịu một cuộc đời nhạt nhẽo tột độ, sống mà chẳng đáng sống. Và, tôi cam đoan với Gambetti, tôi đã nâng nghệ thuật phóng đại của tôi lên đến độ cao khó ai tin nổi. Để giảng giải điều gì đó, ta phải phóng to nó lên, tôi bảo với anh ta như thế. Phải phóng đại lên mới thấy rõ được; nếu có vì thế mà bị thiên hạ rủa là anh hề, thì ở độ tuổi cao, điều đó cũng không sao. Ở độ tuổi đã cao, không có gì hay hơn là được gọi là anh hề già. Niềm hạnh phúc lớn nhất tôi biết ở đời này là hạnh phúc của một nghệ sĩ hề già, khi ông ta hoàn toàn tự do hài hước. Nếu được, muộn lắm là ở độ tứ tuần, ta nên tự tuyên bố mình là anh hề rồi tìm cách nâng nghệ thuật hài hước của mình lên đỉnh cao. Nghệ thuật hài chính là thứ làm ta mãn nguyện, tôi bảo Gambetti. Tôi đặt tấm ảnh chụp ông anh Johannes tôi lên trên, còn tấm bố mẹ tôi ở sân ga Victoria xuống dưới cùng, xếp như thế, kết cục hóa ra thật lạ lùng: trước mắt tôi, ông anh phía trên, bố mẹ phía dưới, tự dưng có mối liên hệ khác hẳn với hai đứa em gái tôi đang nằm lèn ở giữa. Đối với ông anh tôi, hai đứa chúng nó bao giờ cũng thủ thế, nhưng không ra mặt như với tôi, với gã chúng kín đáo hơn nhiều. Chúng nó cần đến gã, chứ tôi - chúng chẳng cần. Bởi ông anh tôi vốn là người nay mai sẽ chu cấp cho chúng nó, cho nên bao giờ chúng cũng phải đối xử với gã khác với tôi, vì xét cho cùng, chúng nó chả việc gì phải nể nang tôi. Chúng nó buộc phải luôn luôn kính trọng, tuân thủ và phụng sự bố mẹ ở cương vị những người chu cấp và bảo trợ trực tiếp cho chúng; với ông anh cả, là người nay mai sẽ chu cấp và bảo trợ cho chúng, chúng nó cũng phải kính trọng và nghe lời, nhưng không thường xuyên, mà chỉ lúc nào cần thôi. Tôi, chúng nó chẳng cần trọng, chẳng cần nghe, bởi tôi có bao giờ sẽ là người chu cấp hay bảo trợ cho chúng nó đâu. Đối xử với tôi dễ hơn cả, bởi ngay cả trong mắt bố mẹ tôi, tôi đã là thằng chẳng đáng trọng rồi. Tuy nhiên, vì một lý do hoàn toàn khác, chúng vẫn phải dè chừng tôi, vì chúng luôn nghĩ tôi trái tính trái nết, lòng dạ khó lường, nhưng, như chúng nó vẫn đinh ninh, tôi chưa bao giờ là nhân vật đáng kể, mà chúng phải lệ thuộc, hay một ngày nào đó, chúng sẽ phải lệ thuộc vào. Đến lúc nào đó, chắc chắn chúng nó sẽ lệ thuộc vào ông anh tôi, chứ không lệ thuộc vào tôi, chúng vốn lệ thuộc vào bố mẹ, cho nên, chúng phải kính trọng, phải phụng sự bố mẹ, vân vân, thì cũng là lẽ đương nhiên thôi. Chúng không trọng tôi, không nghe tôi, bao giờ cũng chỉ dè chừng tôi thôi. Tấm ảnh anh tôi nằm trên, có nghĩa là gã đã trở thành nhân vật quan trọng nhất trong nhà, còn bố mẹ tôi, nằm phía dưới, chẳng còn mấy vai trò nữa. Hai đứa em gái tôi vốn chật vật trong vòng cương tỏa của cả bố mẹ, lẫn của ông anh cả - nghĩa là, với cả người đang và sắp dừng chu cấp, nuôi dưỡng chúng, lẫn với người sắp giữ vai trò đó nay mai. Chúng hoàn toàn không nể trọng, không nghe theo tôi, chỉ luôn luôn e ngại tôi; song, cũng chỉ e ngại đến lúc tôi - phải nói là mãi mãi - đi khỏi Wolfsegg mà thôi. Từ Rome, tôi chẳng làm chúng sợ, tất nhiên là không, ngay từ dạo tôi ở London hay ở Wien cũng đã vậy. Hay như người ta nói, từ lâu chúng nó đã chẳng tính đến tôi rồi. Thế mà bây giờ - tôi vừa nhìn hai gương mặt có vẻ giễu cợt của chúng nó, tôi vừa nghĩ bụng - tai họa kinh hoàng vừa đổ sập lên đầu chúng, bởi vì, không còn nghi ngờ gì nữa, bây giờ tôi lại là kẻ chúng sẽ phải lệ thuộc vào. Cùng với cái chết của bố mẹ và ông anh tôi, Wolfsegg nay chuyển sang tay tôi. Như tôi biết, luật định như thế. Ba tuần trước, tôi bảo Gambetti, sau đám cưới con Caecilia, còn lâu tôi mới lại về Wolfsegg. Với tôi, Wolfsegg thế là xong. Tôi chẳng còn cớ gì để về Wolfsegg cả, tôi không cần Wolfsegg nữa, lũ người ở đấy, họ cũng chẳng cần tôi. Gambetti hỏi tôi, chủ xưởng sản xuất nút chai rượu vang là thế nào? Tôi cố giải thích cho anh ta, rồi bảo Freiburg là một thành phố đáng tởm, tiểu tư sản, Thiên chúa giáo, không chịu được. Gã chủ xưởng nút chai rượu vang của con Caecilia em tôi cũng là một gã tiểu tư sản, Thiên chúa giáo và khó chịu kinh khủng. Song, tôi bảo Gambetti, rất có thể gã hợp đôi với con Caecilia. Thậm chí gã đàn ông này còn có thể là vị cứu tình cho ả nữa kia. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng một trong hai đứa em tôi sẽ có ngày đi lấy chồng. Chúng nó sinh ra không phải để lấy chồng. Bố mẹ chúng, nhất là bà mẹ, đã làm mọi cách làm sao ngăn cản các vụ cưới xin của con gái ông bà. Tôi bảo Gambetti, bà cô tôi ở Titisee đã làm mối cho cặp vợ chồng đến là kệch cỡm này. Anh cứ tưởng tượng cảnh một tay chủ xưởng sản xuất nút chai rượu vang bỗng đột nhập vào Wolfsegg! Một tay tiểu tư sản Thiên chúa giáo, một tay phải chờ đến mẹ tôi nhắc mới biết lúc ngồi bàn ăn, người ta không được mang dây đeo quần. Một gã người Đức, đến từ một xó xỉnh hết sức Đức, tôi bảo Gambetti vậy, từ cái chốn Schwarzwald ấy, nơi chồn cáo chào nhau đi ngủ, nơi sự ngu xuẩn rất Đức ấy hân hoan làm lễ khải hoàn. Bây giờ tôi chẳng ngại gì gã chủ xưởng sản xuất nút chai rượu vang nữa cả, và nói cho cùng, đến hai đứa em gái, tôi cũng chẳng sợ. Tôi không sợ chúng, song tôi hiểu, trong tình huống khủng khiếp này, chúng sẽ làm tôi khó chịu cho mà xem, khó chịu đến cùng cực, chứ không vừa. Thỉnh thoảng tôi cũng có nghĩ, có thể con Amalia lúc nào đó sẽ lấy chồng, chứ con Caecilia thì không bao giờ, có lần tôi bảo Gambetti vậy. Giờ chúng nó đứng trơ ra đó, hoàn toàn lệ thuộc vào tôi. Sự mong đợi, song đồng thời, cả lòng nghi hoặc của chúng nứa, hiện đang căng thẳng đến cực độ. Rất có thể, huyệt mộ đào đã xong, tôi tự nhủ. Các cửa sổ ở Wolfsegg chắc đã treo cờ đen. Lần cuối cùng người ta đem cờ ra treo lên là dạo chú Georg mất. Dạo ấy, sau khi được tin chú mất mới nửa giờ, cả nhà ai nấy đều đã mặc đồ tang đen kịt. Tôi ước, giá gì chú Georg còn sống. Thì chú sẽ chả gánh hết cho tôi rồi không. Hiện giờ, chất hài hước của hai khuôn mặt ra điều nhạo báng của bọn em gái tôi, ghi lại trên bức ảnh đây, tôi nghĩ bụng, tự dưng tăng lên gấp bội. Cái vẻ nhạo báng ấy trên gương mặt chúng, tôi tự nhủ, chắc chắn là kết quả của hàng chục năm chúng nó nằm gọn trong tay mẹ tôi. Khuôn mặt ra vẻ nhạo báng đó là vũ khí tự vệ duy nhất của chúng. Con Amalia lui ngay ra ở khu nhà người làm vườn và hiện giờ quay ra ghét cay ghét đắng con Caecilia, là đứa lấy gã chủ xưởng sản xuất nút chai rượu vang hẳn chỉ nhằm trêu ngươi mẹ, bà luôn cấm chúng nó, chỉ đến gần đàn ông thôi cũng không được là gì. Nói cách khác, con Amalia thù ghét kẻ đã may mắn thoát khỏi vòng cương tỏa. Ả nhập ngay vào cùng một phe với mẹ ả, cùng bày mưu tính kế để đạt mục tiêu chung là làm sao phá vỡ cuộc hôn nhân của con Caecilia. Tôi thừa biết tâm địa con này; ả sẽ ngồi trên một chiếc ghế nào đấy trong khu nhà thợ làm vườn và vắt óc nghĩ xem có cách nào, bất kể cách gì, để phá ngang cuộc hôn nhân bất ngờ và tuyệt nhiên không ai mong muốn của chị ả. Hai mẹ con lập mưu chống bằng được cuộc hôn nhân giữa Caecilia với gã chủ hãng sản xuất nút chai rượu vang. Hước khi lên đường về Wollfsegg, tôi đã bảo Gambetti, con Caecilia cặp với gã chủ hãng nút chai rượu vang ở Schwarzwald chắc chắn không ổn, sớm muộn cũng đổ vỡ thôi, bởi mọi người, ai cũng chống lại. Vả lại, con Caecilia không địch nổi gã chủ hãng nút chai rượu vang, mặc dù gã cũng đần độn lắm. Sự đắc thắng của con em tôi, với thủ đoạn thoát thân của ả - tôi bảo với Gambetti - sẽ lúc nào đó biến thành tai họa. Chắc chắn ả sẽ không sống nổi ở Schwarzwald. Chắc chắn ả đã linh tính thấy chuyện này, cho nên sau đám cưới ả chưa chịu theo chồng về Freiburg ngay. Nó tưởng, cứ để chồng nó về, còn một mình nó ở lại Wolfsegg cũng được. Rõ vớ vẩn; muốn hay không, thì nó vẫn phải theo chồng. Gã khắc bắt nó phải theo. Ai lại làm bộ lấy chồng, chỉ cốt chơi cho mẹ một vố, rồi thôi, sau đó đánh bài chuồn, lờ tít chồng đi như thế được. Lúc đặt chân đến Wolfsegg, tôi bảo Gambetti, gã đàn ông này chắc phải ngỡ ngàng, lạc lõng lắm, và nếu gã tưởng vừa đào được mỏ ở nhà lắm tiền nhiều của, thì theo tôi, đúng là gã nhầm to. Đừng có mà hòng, đường tưởng bở! Mẹ tôi sẽ lo hết để gã khỏi mơ mộng, ước ao gì. Trong thiên hạ, ai cũng biết và nể sợ sự sành sỏi của bà trong các vụ kiện tụng. Nếu gã không phải kẻ đầu cơ, mưu toan đào mỏ, tôi bảo Gambetti, thì tôi phải tự hỏi, không rõ cái gì đã xui khiến gã lấy con Caecilia. Con Caecilia em tôi là gì cũng được đi, nhưng chắc chắn không phải là đứa hấp dẫn, không phải là đứa đáng để cưới làm vợ. Con Amalia cũng vậy. Song, ta chẳng vẫn thường tự hỏi nhau đấy thôi, không biết cái gì đã khiến hai con người nào đó sắp lấy nhau phải lấy nhau, phải cuới nhau cho bằng được và, ta thường vẫn phải vò đầu bứt tai, nhưng không làm sao cắt nghĩa được, tại sao đúng hai con người này lại lấy nhau mới được? Thông thường, ta có thể quen một người nào đó, thuộc loại ta tin chắc sẽ không bao giờ lấy một người khác kia, là người ta cũng biết rất rõ. Ta tưởng chuyện đó không bao giờ xảy ra, thế mà rốt cuộc, chính hai con người đó lại lấy nhau mới lạ, và điều đó chưa có nghĩa ngay là họ sẽ không hạnh phúc với nhau đâu, thậm chí còn ngược lại là khác, mặc dù, nói cho hết nhẽ, thì các cuộc hôn nhân giữa những cặp cố tình bỏ ngoài tai mọi lời dự đoán không hay, mọi lời khuyên can của ta, thường bất hạnh thật. Có thể gã chủ xưởng nút chai rượu vang tưởng gã tung mẻ lưới đúng lúc, trong khi thật ra, tôi bảo Gambetti, gã đang phạm sai lầm lớn. Bởi, con Caecilia em gái tôi cũng là đứa láu cá ra trò, tôi bảo Gambetti. Nó ranh lắm, con Amalia cũng thế. Sự ngu xuẩn không ngăn chúng ranh ma, láu cá đâu. Và, ai chả biết kẻ ngu xuẩn nhất cũng chính là kẻ đáng gờm nhất vậy, nhất là khi - tôi nói chẳng chút ngượng mồm với Gambetti - nhất là khi cái ngu xuẩn kết duyên với cái ranh ma quỷ quái. Giờ tôi chợt nghĩ, trước mặt Gambetti tôi chỉ toàn nói những cái xấu, kể rặt những chuyện đáng ghét, đáng tởm về người nhà tôi, bởi xù trước mặt anh ta, tôi bao giờ cũng rất tự nhiên, nghĩ sao nói vậy và chia sẻ các cảm xúc của tôi với anh ấy một cách hết sức cởi mở và chân thành, thế mà, trong những năm gần đây, cảm xúc của tôi về gia đình chỉ toàn những cảm xúc xấu xa, đáng ghét và kinh tởm nhất thật. Chẳng có lúc nào để tôi chia sẻ với anh ta những cảm xúc khác cả. Độc thứ đáng ghét. Toàn thứ kinh tởm. Nếu không đến nỗi vậy, thì cũng rặt thứ lố bịch, nhố nhăng. Mà kể những chuyện như vậy, tôi tuyệt nhiên không thấy hổ thẹn chút nào. Tôi đã luôn tự răn mình, ngươi không bao giờ được phép để Gambetti nhận ra ngươi là kẻ giả dối, không bao giờ được để anh ta bắt quả tang nhà ngươi đang bịa đặt hay nhà ngươi không thẳng thắn, bởi nhà ngươi là thầy giáo, còn anh ta, anh ta trông chờ thầy chân thật và thẳng thắn là chuyện đương nhiên. Ngươi với Gambetti phải tuyệt đối tin cậy nhau. Trước mặt Gambetti nhà ngươi không bao giờ được bày trò né tránh bằng cách quanh co, hay bịa đặt, mặc dù rất có thể, Gambetti sẽ vì thế mà cho ngươi là kẻ ác nghiệt, thậm chí độc địa nữa là khác. Mà bảo tôi nhiều lúc rất ác nghiệt và độc địa, thì cũng chẳng ngoa. Một người có đầu óc suy nghĩ độc lập sẽ không bao giờ tránh được nguy cơ có lúc bị người đời coi là ác nghiệt và độc địa, anh ta phải tính đến nguy cơ đó, phải chịu đựng, phải chung sống với nó. Anh ta phải để mặc cho thiên hạ chửi rủa mình mà không được phép cãi. Wolfsegg đối với tôi đã trở nên không chịu nổi, tôi bảo Gambetti. Bầu không khí ở đấy ngột ngạt, muốn phát điên lên được! Ấy thế nhưng, Gambetti ạ, giá như anh được thấy những căn phòng tuyệt vời ở đấy, những mái vòm, những hành lang, cái sân độc đáo có hàng cột trụ bao quanh ấy. Hồi còn nhỏ, vào mùa đông, tôi nuôi hươu ở đó. Anh Johannes với tôi mùa đông nào cũng nuôi hai con hươu ở cái sân có hàng cột trụ bao quanh này. Hai anh em chúng tôi, mỗi thằng một con, chăm chúng nó ăn, trò chuyện với chúng nó, tẩm bổ cho chúng nó! Gambetti tất nhiên không hiểu tẩm bổ nghĩa là gì và tôi thử tìm cách cắt nghĩa cho anh ta, nhưng không thành. Sang xuân, bọn tôi lại thả chúng vào rừng. Mấy con hươu chúng tôi đem về nuôi ở sân có hàng cột trụ bao quanh là hươu bị thương nhẹ, tôi phải giải thích thêm cho Gambetti như thế. Chúng nó phải trú qua đông ở sân có hàng cột trụ của chúng tôi thì mới có cơ sống sót. Anh em tôi bịa tên, đặt cho chúng nó, kiểu như Sarabande hay Locarnell chẳng hạn. Sang xuân, lúc được thả về rừng, chúng nó quen với anh em tôi rồi, đâm ra đôi khi khó nhọc lắm mới dứt đi được. Anh Johannes với tôi, hai anh em còn lượn ngang dọc khắp khu rừng để tìm xác mấy chú hươu già ốm không qua nổi mùa đông, kéo dồn về một chỗ rồi chôn cất chúng. Cánh thợ rừng bao giờ cũng giúp bọn tôi một tay. Tôi thường chơi thân với cánh thợ rừng; họ vốn là những người bạn thân nhất của tôi. Tôi quý họ hơn bất kỳ ai khác, tôi thuộc tên từng người; họ rất hay chơi đùa với tôi và bao giờ cũng sẵn lòng kể tôi nghe về họ. Tôi bảo Gambetti, người bình dân bao giờ cũng hấp dẫn tôi. Ớ bên họ, hay đúng hơn là chỉ khi nào ở bên họ, tôi mới thấy dễ chịu. Mối thiện cảm của tôi hoàn toàn dành cho họ. Khi chuyện trò, bao giờ họ cũng bình dị, không ba hoa chích chòe. Thứ tiếng họ nói bao giờ cũng mộc mạc, tự nhiên. Họ không giả bộ, như nhiều hạng người khác chuyên giả vờ giả vịt. Tất nhiên, tôi đã nhiều lần bảo Gambetti, Wolfsegg đối với tôi, cũng từng là chốn thiên đường thật, nhất là vào những năm tháng thơ ấu và những năm đầu đi học. Vâng, tôi từng nghĩ nơi đây là chốn thiên đường thật. Tuy nhiên, thiên đường ấy chẳng bao lâu trở nên tăm tối, biến dần thành chốn u minh, thềm bước vào địa ngục, trước khi thành địa ngục thật sự trước mắt tôi. Tôi phải thoát khỏi chốn địa ngục ấy, càng sớm càng hay. Tôi bảo Gambetti, tôi chỉ nóng lòng được vào trường nội trú, để sau đó chuyển đến Wien, trong đầu không hề nghĩ sau này mình sẽ làm gì, thành người thế nào, tuyệt nhiên không biết phải bắt đầu từ đâu. Tôi mù tịt, hoàn toàn không biết tí gì hết. Tôi yêu thích sách vở tôi từng đọc, yêu thích cả những quyển rồi tôi sẽ còn phải đọc, vô vàn những sách, trong đó - tôi cầm chắc như thế - chứa đựng mọi điều tôi cần biết. Tôi có thể nói thẳng ra là, từ bé, tôi đã ưa cuộc sống tinh thần hơn, song, tôi lại không hề biết tôi phải làm gì để có thể tham dự, có thể góp phần vào cuộc sống tinh thần tôi ưa thích ấy, hoặc có thể tự mình được sống một cuộc đời tinh thần như thế. Tôi không biết ai có thể chỉ dẫn cho tôi, mãi đến khi chú Georg nhận ra sự hoang mang lúng túng ấy của tôi và bắt đầu cho tôi những chỉ dẫn đầu tiên. Trước hết, cháu phải tự giải thoát khỏi gia đình cháu, chú Georg bảo tôi, cháu phải hoàn toàn tự lập, mới đầu tự lập nội tâm, về sau - tự lập cả về thể xác. Tôi đã làm theo lời khuyên của chú. Mới đầu, tôi tự giải phóng, nội tâm trước, thể xác sau; tôi cũng trở nên tự lập, nội tâm trước, thể xác sau. Và, chú Georg bảo, tất nhiên, cháu phải rời khỏi Wolfsegg. Cháu phải thoát khỏi mọi cách nhìn, cách nghĩ của gia đình cháu ở Wolfsegg và cháu phải đi khỏi Wolfsegg, đi ngược lại ý muốn của bố mẹ, anh em cháu. Cháu không được nghe theo những gì họ khuyên bảo, bởi những lời khuyên bảo của họ, trước sau chỉ nhằm duy nhất một mục tiêu xiềng chân cháu suốt đời vào Wolfsegg, chỉ cốt hiến được mạng cháu cho Wolfsegg mà thôi, cháu phải làm ngược lại tất cả những gì họ khuyên, cháu không được chia sẻ cách nhìn nhận của họ, bởi cách nhìn nhận của họ bao giờ cũng đối nghịch cách nhìn nhận của cháu, cũng có nghĩa là gây hại cho sự trưởng thành của cháu. Mọi lời khuyên của họ đều vô giá trị, mọi lời họ bàn bạc với cháu đều vô nghĩa, chú Georg bảo tôi vậy. Thì chính cháu cũng biết, tuy mồm miệng họ leo lẻo, chỉ mong mỏi những gì tốt đẹp nhất cho cháu thôi, nhưng sự thực, họ chống lại cháu, họ tìm mọi cách, chỉ cốt làm sao xiềng chân cháu và, nếu cháu không chịu để họ xiềng chân, họ khắc tìm mọi cách đánh gục cháu cho bằng được. Để thoát được họ, cháu phải gắng sức, gắng hết sức là đằng khác, phải cứng đầu cứng cổ không kém gì họ. Chú Georg bảo tôi, cháu có đủ sức để tự lập, để không phụ thuộc vào họ, song chú phải lưu ý cháu rằng cái giá phải trả sẽ rất đắt. Và, tự cháu sẽ phải trả cái giá cao tối đa đó. Quả vậy, tôi tự nhủ, tôi quả thực phải trả giá rất cao để thoát khỏi Wolfsegg. Lời chú Georg quả không sai. Tôi phải ngang ngạnh đương đầu với sức ép của cả nhà, và tôi đã chiến thắng, vì tôi không khoan nhượng, tôi bền bỉ hơn. Tôi đã phải trả giá cao đến thế nào để thoát được đến Wien, thành phố mà họ gọi là thành phố vô dụng ấy! Tôi đã phải trả giá cao đến thế nào, để sang được Anh, rồi sau đó đến Paris! Tôi đã phải trả giá cao đến thế nào để giành được tự do nội tâm, vươn đến tự do về thể xác. Nhờ ơn chú Georg mà tôi có được sự độc lập ấy, tôi nói với Gambetti như vậy trên đồi Pincio, lúc tôi dúi quyển Vụ án của Kafka vào tay anh ta, một tác phẩm khi đọc lại lần thứ hai thậm chí còn quyến rũ tôi nhiều hơn khi đọc lần đầu. Có những nhà văn như thế, tôi bảo Gambetti, khi độc giả đọc lại lần thứ hai tác phẩm của họ, thì họ còn lôi cuốn, thuyết phục độc giả gấp bội so với lần đọc đầu tiên. Lần nào tôi đọc Kafka cũng đều vậy. Tôi bảo Gambetti, trong ký ức tôi, Kafka vốn là nhà văn lớn; song, khi đọc lại ông ấy lần nữa, bao giờ tôi cũng có ấn tượng rất rõ, dường như vừa đọc một nhà văn còn lớn hơn nhiều, số nhà văn khi đọc lại ta thấy hay hơn, tuyệt vời hơn như thế không nhiều. Phần đông là số văn sĩ mà khi đọc lại lần nữa, ta cảm thấy hổ thẹn vì đã từng giở sách họ ra đọc. Ta hổ thẹn với hàng trăm nhà văn như thế, nhưng, với Kafka, với các nhà văn Nga vĩ đại Dostoyevsky, Tolstoi, Turgeniev, Lermontov thì không bao giờ, với Proust, Flaubert, Sartre, là những nhà văn tôi liệt vào hàng vĩ đại nhất, cũng không. Tôi nghĩ bụng, đọc lại một lần nữa các nhà văn mà khi đọc lần đầu, họ từng làm ta rung động - là cách không đến nỗi tệ để đánh giá xem họ thuộc hạng nào, vì sau lần đọc lại, hoặc họ sẽ trở nên đáng ngưỡng mộ hơn nữa, trở thành quan trọng hơn nữa đối với ta, hoặc sẽ không còn đáng kể gì nữa. Bằng cách này, ta sẽ tránh được phải đeo suốt đời một gánh nặng văn chương lảnh khủng trong đầu, tôi bảo với Gambetti lúc đứng trên đồi Pincio, một gánh nặng rốt cuộc sẽ làm đầu óc ta sinh bệnh hoạn, bệnh hoạn chết người. Chú Georg đã dạy cho tôi gần hết những thứ về sau hẳn sẽ quan trọng cho đời tôi. Chú là thầy tôi, chứ chẳng phải ai khác. Chú vốn là người dạy dỗ tôi khôn lớn, chứ không phải ai khác. Với tính cách đần độn sẵn có của hai ông bà, bố mẹ tôi thay vì dạy dỗ, đã dằn nén tôi lúc còn thơ ấu, đến tận những năm tôi lên chín lên mười. Sau đó, chú Georg tôi phải ra tay, mới hòng từng bước khôi phục những đổ vỡ gần như tan hoang do bố mẹ tôi gây ra trong lòng tôi. Tôi bảo Gambetti, chú Georg đã phải mất khá nhiều công để sắp xếp, thu dọn lại đầu óc vốn đã trở nên hết sức hỗn độn của tôi thành cái đầu có thể lĩnh hội thêm điều này điều nọ. Bố mẹ tôi, trong lúc đinh ninh đang dạy dỗ tôi, thì sự thực, hai ông bà lại hủy hoại tôi, y như họ đã hủy hoại ông anh Johannes và hai con em gái tôi vậy. Ông bà tiếng rằng dạy dỗ, nhưng nhẽ ra, phải bảo ông bà đang hủy hoại tôi mới đúng. Bằng cái lối giáo dục, mà đúng ra là lối hủy hoại không hơn không kém ấy - nói như người ta vẫn thường nói trong một vài hoàn cảnh khác - ông bà đã làm đui què, thui chột tất tật mọi thứ trong đầu tôi. Suốt bao nhiêu năm, hai vị thi nhau dùng các thủ đoạn Thiên chúa giáo và Quốc xã tàn nhẫn của hai vị, làm xáo trộn, đảo lộn tùng phèo mọi thứ trong đầu óc non trẻ của tôi. Nó trở nên hỗn độn đến mức chú Georg cũng lại phải mất hàng năm để xếp đặt lại. Nói cho cùng, thay vì giáo dục, dạy dỗ anh em tôi, bố mẹ tôi thậm chí còn làm hư hỏng, còn nhồi nhét rặt những thứ rác rưởi vào đầu óc chúng tôi. Tôi bảo Gambetti, bố mẹ tôi - vốn dĩ theo Thiên chúa giáo - đã làm đầu óc chúng tôi tan hoang bằng những biện pháp Thiên chúa giáo tàn ác như thế. Nếu bố mẹ ít nhiều trung thành với đạo Thiên chúa, thì tất nhiên, Nhà thờ Thiên chúa sẽ gây tổn hại đầu óc trẻ thơ ở mức khó ai hình dung nổi. Gambetti ạ, bảo chúng tôi được giáo dục theo Thiên chúa giáo cũng có nghĩa là, về căn bản, chúng tôi bị hủy hoại. Thiên chúa giáo chính là kẻ hủy hoại tâm hồn trẻ thơ, kẻ khủng bố, kẻ phá hoại tính cách con trẻ ghê gớm nhất. Đó là sự thật. Chính do Nhà thờ Thiên chúa giáo mà hàng triệu, hàng tỉ con người trên thế gian này bị tàn phá, bị hủy hoại, bị mất bản chất tự nhiên của họ. Nhà thờ Thiên chúa giáo mang tội với những con người bị hủy hoại, bị rối loạn và, rốt cuộc, hoàn toàn bất hạnh đó. Đấy là sự thật không thể chối cãi. Bởi Nhà thờ Thiên chúa giáo chỉ khoan thứ những ai theo đạo Thiên chúa mà thôi. Đó chính là ý đồ và mục tiêu mãi mãi của nó. Nhà thờ Thiên chúa biến con người thành tín đồ Thiên chúa giáo - một sinh vật ngu xuẩn, kẻ đã quên khuấy thế nào là tư duy độc lập, kẻ phản bội đầu óc độc lập của mình, đặng đổi lấy đạo Thiên chúa. Đó là sự thật! Tôi nói với Gambetti như vậy trên đồi Pincio. Gambetti ạ, hồi còn nhỏ, các nghi lễ Nhà thờ Thiên chúa bao giờ cũng làm bọn trẻ chúng ta mê hoặc, bởi các nghi lễ này, đối với chúng ta khác nào chuyện thần tiên giữa chốn đồng quê đâu. Đối với người lớn, các nghi lễ này thậm chí còn là màn trình diễn hoành tráng, hấp dẫn nhất trong đời họ. Tuy nhiên, cả câu chuyện thần tiên lẫn màn trình diễn ấy vẫn hủy hoại, chà đạp tất cả những gì là tự nhiên trong con người chúng ta. Thông qua câu chuyện thần tiên dành cho con trẻ cũng như qua màn trình diễn tuyệt vời dành cho người lớn tuổi hơn, Nhà thờ Thiên chúa giáo không nhằm mục tiêu nào khác, ngoài mục tiêu dụ dỗ họ, cả già lẫn trẻ, dẫn dụ họ vào vòng cương tỏa của nhà thờ, biến họ thành những kẻ ngoan ngoãn, dễ bảo, hủy diệt tư cách con người của họ, khiến họ trở thành những tín đồ Thiên chúa giáo nhu nhược và đần độn - tôi bảo Gambetti vậy - những người mà nhà thờ vẫn gọi một cách bỉ ổi là con chiên ấy. Đạo Thiên chúa, cũng như mọi tôn giáo khác, là sự giả mạo thiên nhiên, là một căn bệnh mà hàng triệu sinh linh tự nguyện tiêm nhiễm vào người, bởi vì nó là sự cứu rỗi duy nhất của họ, của kẻ yếu hèn, của kẻ hoàn toàn không có đầu óc tư duy riêng và độc lập - những kẻ phải nhờ một cái đầu khác, gọi là cao siêu hơn, nghĩ ngợi thay; tín đồ Thiên chúa giáo để mặc Nhà thờ Thiên chúa giáo nghĩ thay họ và do đó, rồi cũng sẽ hành động thay cho họ vậy, bởi vì như thế, thật là nhàn nhã và thuận tiện cho họ, và bởi vì, đối với họ - như họ vẫn đinh ninh - không thể còn con đường nào nữa cả. Và, tôi bảo Gambetti, đầu não Nhà thờ Thiên chúa giáo nghĩ ngợi theo một lối đáng sợ. Nó chỉ nghĩ cho riêng nó, theo những lối thù địch với bản tính con người, nó chỉ nhăm nhăm mục tiêu của nó, chỉ mưu cầu thanh danh của riêng nó, Gambetti ạ. Không một nhà nước nào khác ở châu Âu này, tôi bảo Gambetti, tự xưng là nhà nước Thiên chúa giáo, rồi để mặc cho đầu não Thiên chúa giáo nghĩ ngợi thay mình cả. Và, ta có thể thấy, rồi mọi sự đã dẫn ta đến đâu. Giờ ở Áo chúng tôi chỉ có độc các tín đồ Thiên chúa giáo, không còn một ai mang tư duy tự do, độc lập nữa cả. Rặt tín đồ Thiên chúa giáo, ở ngay một xứ mà tư duy độc lập mới thật cần thiết làm sao! Ở Áo, ngoài đầu óc Thiên chúa giáo, chẳng còn đầu óc nào nghĩ ngợi nữa cả. Bao nhiêu biến đổi chính trị khác nhau trong mấy chục năm trở lại đây vẫn không làm thay đổi thực trạng đó, thậm chí các nhà xã hội chủ nghĩa cũng để đầu óc Thiên chúa giáo trên đất Áo suy nghĩ thay họ, bởi nói cho cùng, đến cái đầu xã hội chủ nghĩa riêng, họ cũng chẳng có nốt. Khắp nơi trên đất nước Áo, ở đâu cũng có thể bắt gặp tính thần Thiên chúa giáo, một tinh thần tuy đã để lại cho chúng tôi hàng trăm, hàng ngàn công trình nghệ thuật Thiên chúa giáo tuyệt vời, song, lại hủy diệt toàn bộ cái tính thần riêng, tinh thần tự do độc lập, là tình thần duy nhất tự nhiên. Tôi bảo Gambetti, các công trình nghệ thuật kia, các nhà thờ, các cung điện Thiên chúa giáo kia phỏng có ích gì cho chúng tôi, nếu suốt hàng thế kỷ nay, chúng tôi không có nổi một đầu óc độc lập? Song, dân tộc chúng tôi đã phải luôn luôn khốn khổ vì cái tật nhu nhược kinh niên tuyệt đối về tinh thần ấy rồi, tôi bảo Gambetti, một thứ tật nhu nhược đã bị Nhà thờ Thiên chúa giáo lợi dụng nhiều hơn ở bất kỳ nước châu Âu nào khác, đến như ở Đức cũng không đến nỗi như thế này, bởi ở đó, chút tình thần độc lập, tự do, ở chừng mực nào đó, vẫn được gìn giữ đến tận ngày nay. Trên đất nước Áo chúng tôi, ngay từ đầu, Nhà thờ Thiên chúa giáo và đạo Thiên chúa đã chẳng gặp chút trở ngại nào trong việc gây áp lực lên người dân Áo và, rốt cuộc, buộc cả dân tộc lẫn nhà nước Áo khấu đầu dưới trướng mình. Mãi đến những chục năm gần đây, mới bắt đầu thấy các dấu hiệu vươn ra, tự giải phóng, thoát khỏi ách thống trị Thiên chúa giáo, thoát khỏi sức đè nén ghê gớm của Giáo hội, thoát khỏi vòng vây hãm tàn nhẫn, từng kéo dài hàng trăm năm nay của đạo Thiên chúa, mãi đến những thập niên gần đây, mới lại thấy ở nơi này chỗ nọ - tuy còn rụt rè, dè dặt - sinh sôi nảy nở đôi lối tư duy, cách triết lý độc lập với tinh thần Thiên chúa giáo, tôi bảo Gambetti thế, cũng mãi đến gần đây, một vài cái đầu thuần Áo của chúng tôi mới lại dám độc lập nghĩ ngợi thêm bằng chính bộ não riêng của người Áo, chứ không chỉ bằng bộ não Thiên chúa giáo mà thôi nữa. Chính Thiên chúa giáo là thủ phạm khiến cho hàng thế kỷ nay, nước Áo không sinh ra nổi một triết nhân nào hết và do đó, không mang một lối tư duy triết học, cũng như không sở hữu một nền triết học riêng. Ta có thể bình thản mà quả quyết, trong thiên niên kỷ này, tư duy của dân tộc đã bị Nhà thờ Thiên chúa giáo áp bức triệt để và tàn bạo. Và dân tộc này đã tự lấy làm khoan khoái và thỏa mãn với cái đầu Thiên chúa giáo ấy, cái đầu đã luôn luôn nhân danh dân tộc họ để nghĩ theo cách của riêng nó, tôi bảo Gambetti vậy. Trong thiên niên kỷ này, đạo Thiên chúa cùng gia tộc Habsburg đã chung tay hợp sức hủy hoại đầu óc dân tộc chúng tôi. Ở Áo, mọi thứ đều chứng minh điều đó. Có thể nói, trong thiên niên kỷ này, Thiên chúa giáo đã dập tắt tư duy trong đầu óc dân tộc chúng tôi và thay vào đó, gieo mầm cho âm nhạc - thứ vô hại nhất trong mọi thứ nghệ thuật - ra hoa, kết trái. Tôi bảo Gambetti, sở dĩ hiện giờ đất nước chúng tôi là đất nước âm nhạc chỉ vì đầu óc tư duy ở xứ sở chúng tôi bị đè nén thậm tệ hàng trăm năm nay mà thôi. Chúng tôi trở thành một dân tộc giàu khiếu âm nhạc, tôi bảo Gambetti, bởi vì trong các thế kỷ Thiên chúa giáo, đầu óc chúng tôi trở nên u mê, dại dột vô cùng, trí tuệ càng bị Thiên chúa giáo tẩy não bao nhiêu, chúng tôi lại càng cho âm nhạc tràn ngập vào bấy nhiêu. Vâng, tôi bảo, thôi thì dẫu sao chúng tôi cũng nhờ vậy mà có Mozart, Haydn, Schubert. Song, tôi bảo Gambetti, nào có hay ho, hãnh diện gì, nếu chúng tôi, tuy có Mozart thật, nhưng lại không còn đầu óc tư duy độc lập nữa, tuy được Haydn đấy, nhưng lại quên mất cách nghĩ ngợi, thậm chí sắp thôi hẳn, chẳng buồn nghĩ suy gì nữa cả, tuy có Schubert đó, nhưng chẳng ít thì nhiều, lại trở nên ngu si, đần độn suốt lượt. Chẳng có đất nước nào như đất nước này, tôi bảo Gambetti, để mặc Nhà thờ Thiên chúa giáo trắng trợn cướp đoạt mất khả năng tư duy như thế, chẳng có đất nước nào lại tự vươn cổ ra cho đạo Thiên chúa chặt phăng đầu đi như thế cả. Chúng tôi, không có Montaigne, chẳng có cả Descartes lẫn Voltaire, tôi nói với Gambetti, chỉ có độc một lũ thầy tu lẫn quý tộc ngớ ngẩn, võ vẽ ngọng nghịu chút thơ ca theo tinh thần Thiên chúa giáo mà thôi. Gần đây, tôi bảo, quả bắt đầu có ít nhiều thay đổi thật, song, sẽ mất không chỉ vài thập niên, mà hàng thế kỷ, may ra chúng tôi mới hàn gắn, mới gây dựng lại được những đổ vỡ và mất mát về trí tuệ do Thiên chúa giáo gây ra. Ấy là may ra mới được, tôi bảo Gambetti vậy! Chẳng dân tộc nào như dân tộc chúng tôi lại để mặc Nhà thờ Thiên chúa giáo lợi dụng mình nhiều, và lâu đến thế. Gần trọn cả một thiên niên kỷ, chứ ít đâu! Chắc chắn chúng tôi sẽ rất khó nhọc mới thoát được vòng vây và nanh vuốt Thiên chúa giáo. Các cuộc cách mạng hời hợt, ít nhiều ấu trĩ, tôi bảo Gambetti, sẽ chẳng giúp được gì ở đây, như ta vẫn thấy ở các nước châu Âu khác, tôi bảo Gambetti, sự cứu vớt chỉ có thể là một cuộc cách mạng thật sự triệt để, từ cội rễ trở lên, một cuộc cách mạng mà ngay từ đầu, sẽ đạp đổ và phá hủy tan tành mọi thứ, đúng là tất tần tật mọi thứ, mới được. Có điều, ngày nay chúng tôi vẫn còn quá yếu đuối, vẫn chưa đủ trưởng thành, để tiến hành một cuộc cách mạng sâu xa từ gốc rễ trở lên như thế; thậm chí mưu tính ngầm cuộc cách mạng sâu xa, cội rễ ấy, chúng tôi cũng còn chưa dám. Hiện nay, tôi cam đoan với Gambetti, chúng tôi quả là một đám dân Áo bạc nhược, vô hồn đến mức, đối với chúng tôi, chẳng còn gì thực sự là cốt yếu, là căn bản được nữa cả. Đằng đẵng suốt hơn một thế kỷ, dân chúng Áo hoàn toàn bạc nhược, tôi nói với Gambetti. Bố mẹ tôi, cố nhiên, chỉ tính đến chuyện giáo dục tôi theo kiểu Thiên chúa giáo, chứ hai vị nào biết đến lối giáo dục khác đâu, tôi bảo Gambetti vậy. Từ xa xưa, mọi thế hệ ở Wolfsegg này đều được giáo dục theo Thiên chúa giáo. Cho đến khi chú Georg tôi ra mặt chống lại Thiên chúa giáo, mà như thế, cũng có nghĩa là chống lại tất cả. Tôi bảo Gambetti, chú Georg chính là người mở đường cho tôi, thoạt tiên chú mới chỉ vạch nó ra trong đầu tôi thôi, về sau chú mới dắt tôi thật sự bước chân đi trên con lộ nghịch hành ấy. Trong thư viện - tôi bảo Gambetti, anh cố hình dung mà xem - bọn họ chỉ cho bày sách Thiên chúa giáo lên giá, còn số sách tạm gọi là thế tục thì đem khóa chặt, cất kín. Các tủ sách thế tục ấy bị khóa chặt, bị cất kín ròng rã hàng chục năm, nếu không phải là hàng thế kỷ. Tôi bảo Gambetti, chỉ có sách Thiên chúa giáo mới được phơi ra trước mắt, sách thế tục bị họ giấu kín, bị họ giam cầm, tù hãm, không cho ai đọc đến, cứ như thể họ đã nhốt tình thần tư duy tự do trong các tủ sách ấy vậy, Gambetti ạ, bọn chúng đã giam hãm, cầm tù số sách phi Thiên chúa giáo vào các tủ sách ấy, anh hiểu không. Chúng cầm tù cả Voltaire lẫn Montaigne, tôi bảo Gambetti, còn bấy nhiêu điều ngu xuẩn của các thầy tu hay bá tước nào đó, từng được thu lượm vào hàng trăm, hàng ngàn tập sách bìa da sang trọng, thì phơi ra lồ lộ. Anh có tưởng tượng nổi không, tôi bảo Gambetti, những Voltaire, những Montaigne, những Descartes ấy phải bị niêm phong mãi mãi trong các tủ gỗ như thế! Các tủ đựng sách này chưa từng được mở ra bao giờ, mãi đến khi, do chú Georg khăng khăng đòi họ phải mở chúng ra cho bằng được; lúc các tủ sách được mở ra, chính đám người nhà tôi cũng là lũ người lập tức hoảng hốt thoái lui, làm như thể các tủ sách vừa mở ra kia là những tủ chứa hơi độc bị niêm phong cả thế kỷ nay không bằng, và bọn họ ai nấy đều cầm chắc như vậy, luồng khí độc tuồn ra khỏi tủ sẽ làm cả lũ lăn ra chết nhăn răng. Người nhà tôi không bao giờ tha thứ cho chú Georg tôi vì chú đã mở những tủ đựng khí độc ấy ra, tôi bảo Gambetti, vì chú bỗng dưng trả tự do cho thứ khí độc tinh thần ấy. Bọn họ ai nấy quả thật đều đồng thanh đổ lỗi cho chú Georg đã đầu độc Wolfsegg, bởi chú đã cho mở các bình đựng bị niêm phong, từng giam giữ trí tuệ từ hàng trăm năm kia ra, bởi chú đã thẳng cánh mở toang các tủ sách bị khóa chặt cả trăm năm nay ấy ra. Họ không tha thứ cho chú Georg tôi, bởi vì ở Wolfsegg vốn chỉ nồng nặc mùi Thiên chúa giáo ngu xuẩn bỗng dưng thoang thoảng cả hương thơm của tư duy tự do; họ không tha thứ cho chú, bởi vì bầu trời Wolfsegg bỗng dưng không những chỉ chứa các luồng gió Thiên chúa giáo và chủ nghĩa Quốc xã, mà còn phảng phất thêm cả các luồng gió Descartes hay Voltaire nữa. Bọn họ từng đinh ninh đã giam hãm được tư duy tự do như giam hãm con ác quỷ vào các tủ sách bị khóa chặt đó, thế mà giờ đây, chú Georg lại thả nó ra. Song, chẳng bao lâu sau bọn họ đã lại nhốt con ác quỷ ấy vào tủ. Ấy chính là lúc chú Georg tôi quay lưng với cả nhà, bỏ Wolfsegg đến sinh sống ở Cannes. Đối với cả nhà tôi, sống ở đâu, chứ ở Cannes là điều không thể tưởng tượng nổi - ở Riviera, vùng bờ biển quỷ quái mà bọn họ từng xếp ngang địa ngục ấy. Chú Georg tôi vừa hai tay hai va li rời khỏi Wolfsegg, thì như thể không còn gì gấp gáp, quan trọng hơn, bọn họ lao ngay tức thì vào việc bắt giam bằng được con ác quỷ từng đầu độc nặng nề Wolfsegg mấy năm qua. Họ nhốt nó trở lại vào các tủ sách, khóa chặt không phải bằng một, mà hai, ba lần khóa. Như giờ đây tôi biết - do nơm nớp sợ hãi đến mức như sợ chết - mà họ cũng cứng đầu cứng cổ, một mực khăng khăng ngăn cản, không cho tôi mở các tủ sách đó ra. Thậm chí đến lúc hơn hai chục tuổi đầu rồi, bố mẹ tôi vẫn không chịu cho tôi đụng đến số tủ sách ấy, và tôi, dần dà cũng đành thôi không đòi hỏi nữa, bởi tôi vừa căm ghét, vừa ghê sợ những cuộc cãi cọ diễn ra hàng ngày về chuyện đó. Khi chuyển đến sống ở Wien, tôi bảo Gambetti, việc đầu tiên tôi làm là lập tủ sách, trong đó sẽ phải chứa tất cả những tác phẩm mà chú Georg từng lưu ý tôi là tác phẩm bắt buộc phải đọc đối với những ai gọi là trí thức. Chỉ trong một thời gian ngắn, tôi đã tiêu gần hết số tiền tôi có để tìm mua những tác phẩm quan trọng nhất, lập thành cái gọi là tủ sách ác quỷ của riêng tôi. Và, cũng là lẽ tất nhiên, tôi bắt đầu lập tủ sách bằng các tác phẩm của Montaigne và Descartes, của Voltaire và Kant. Tôi bảo Gambetti, rốt cuộc, tôi đã tập hợp được - đúng như chú Georg vẫn nói - những thứ quan trọng nhất cho đầu óc mình, mà ở trung tâm, tất nhiên, không phải ai khác ngoài Schopenhauer. Tôi lập cho tôi một tủ sách gọn nhẹ, tôi vẫn gọi là tủ sách lưu động, bao gồm những tác phẩm quan trọng nhất của ác quỷ, khiến tôi bao giờ cũng có thể mang nó theo mình đi khắp nơi và không bao giờ phải sống bơ vơ thiếu sách cả. Trước hết, tôi chọn mua tác phẩm của các triết gia ở Wolfsegg tôi bị cấm đọc - tức là các tác phẩm bị xếp vào hạng độc hại chết người - rồi về sau, dần dần mua thêm cả các tác phẩm của những văn sĩ có tên tuổi nhất. Để chọn mua sách, tôi bảo Gambetti, tôi đã tuân theo một chương trình chú Georg từng vạch sẵn cho tôi. Cuốn đầu tiên tôi mua là Heinrich von Ofterdingen của Novalis. Cuốn thứ hai, tôi còn nhớ rõ, là cuốn Lịch thư của Johann Peter Hebei. Từ đây, tôi bảo Gambetti, còn lâu mới đến Kropotkin và Bakunin, còn lấu hơn nữa mới đến Dostoyevsky, Tolstoi và Lermontov, là nhà văn tôi yêu thích nhất. Giờ đây, tôi tự nhủ, việc đầu tiên tôi phải làm là trả tự do cho các linh hồn ác quỷ vốn bị người nhà tôi cấm cố chung thân trong hầm ngục ở Wolfsegg; tôi không những sẽ không bao giờ đóng các tủ sách lại, mà sẽ cho mở toang chúng ra vĩnh viễn. Chìa khóa các tủ sách tôi sẽ ném xuống giếng sâu, để không bao giờ có bàn tay kẻ nào có thể khóa các tủ sách ấy lại nữa. Lý do duy nhất khiến tôi đi suốt một lượt Wolfsegg là để mở toang các cửa sổ, cho không khí trong lành tràn vào. Có lần, tôi đã bảo Gambetti, anh cứ tưởng tượng mà xem, ai đời vô số cửa sổ ở Wolfsegg hàng chục năm không mở ra lấy một lần, thì anh bảo có kinh khủng không! Rồi tôi sẽ quay về Rome và báo cho Gambetti biết: này Gambetti ạ, tôi đã mở toang hết các cửa sổ ở Wolfsegg cho không khí trong lành lùa vào. Tôi đã bụng bảo dạ, cửa sổ hay cửa ra vào, tôi sẽ mở toang hết ra. Nhìn bức ảnh chụp ông bà già tôi trên sân ga Victoria ở London, tôi tự nhủ, hai vị toan trói chân trói cẳng tôi suốt đời theo cái lối Thiên chúa giáo - mà tôi phải nói ngay là rất ngu xuẩn ấy - của các vị. Họ từng nhốt chặt bọn ác quỷ vào các tủ sách thế nào, thì với tôi - một kẻ trong mắt họ cũng là một con ác quỷ không hơn không kém - họ cũng mưu toan giam cầm, cấm cố ở Wolfsegg thế ấy. Giam hãm chung thân kẻ dám cãi bướng, kẻ dám chống đối. Cầm cố mục xương kẻ đào ngũ. Có nát óc, tôi cũng không thể nhớ đã bao giờ bố mẹ tôi, dù chỉ một lần, để tôi yên với các sở thích của riêng tôi, hay có bao giờ khen tôi lấy một lần về các sở thích đó không. Các vị chưa bao giờ tuôn ra lấy một lời khen từ cửa miệng, chứ nếu có, tôi đã không để sót ngoài tai. Ngay từ dạo tôi còn là trẻ con, bố mẹ tôi đã rất nghi ngờ tôi. Tôi thầm nghĩ, thậm chí ngay từ những năm tháng đầu tiên, khi các vị còn phải cúi xuống, bới bới trong nôi hay lật lật cũi tập đi mới tìm thấy tôi ấy, dường như bố mẹ tôi đã thấy tôi đáng ngờ rồi. Có lẽ từ dạo ấy, hai vị đã thấy ngờ ngợ mọi thứ về tôi và thầm lo sợ, không biết chừng đã cho ra đời một thằng con sau này có thể sẽ vượt khỏi tầm tay họ, quay ra phản lại, rồi thậm chí sẽ hủy hoại và tiêu diệt họ cũng nên. Ngay từ những năm tháng đầu tiên, cũng như suốt quãng đời về sau, họ đã luôn luôn dõi theo tôi bằng những cặp mắt đầy ngờ vực, và đã từ lâu, có lẽ họ đã ấp ủ trong tiềm thức mối căm ghét mà sau này họ thẳng thừng thể hiện ra. Thoạt tiên, tôi không hiểu vì sao chính tôi phải hứng chịu sự căm ghét đó, nguyên do gì, mục đích gì, do tính cách hèn hạ, độc ác bẩm sinh nào mà tôi bị ông bà ấy căm ghét như thế. Ông anh Johannes tôi, bố thương mẹ quý ngay từ lúc mới lọt lòng, còn tôi, ông bà chẳng hề thương, không hề quý. Giờ đã đến lúc cần nói thẳng sự thật đó ra, tôi vừa nhìn tấm ảnh, vừa nghĩ thầm trong bụng. Ông bố tôi tạo mầm cho tôi, còn mẹ tôi sinh tôi ra đời, nhưng ngay từ đầu, hai ông bà chẳng ai muốn có tôi; vừa sinh ra tôi, tôi nghĩ bụng, giá nhét được, hẳn mẹ tôi đã nhét tôi trở lại ngay vào bụng bà cho bằng được rồi. Thoạt đầu, ta thường vẫn tưởng các bậc phụ mẫu, theo một lẽ đương nhiên, sẽ thương yêu ta. Song, ta sẽ sớm hiểu ra rằng, vẫn rất tự nhiên thôi, có thể họ cũng sẽ căm ghét ta, vì một lý do nào đấy, nếu ta, trong mắt họ, hay như tôi trước mắt bố mẹ tôi chỉ là một đứa trẻ không hợp với mong muốn của họ, một đứa trẻ - nói như thiên hạ vẫn nói - sinh tật đẻ nguyền. Ông bà đã hết hồn hết vía vì cặp mắt của tôi, cặp mắt vừa nứt mở ra đã có vẻ nhìn thấy tất tật những gì họ không bao giờ muốn tôi được thấy. Nghe thiên hạ nói lại, tôi thoạt tiên chỉ đưa mắt nhìn ông bà một cách hoài nghi, rồi về sau, toàn nhìn trân trân soi mói vào họ, và đến một lúc nào đấy, đã có thể nhìn thấu tâm can họ. Đó là điều ông bà không bao giờ tha thứ cho tôi, không tài nào tha thứ cho tôi được. Tôi nhìn thấu tâm can ông bà và, thấy bảo vậy, rút ra một đánh giá ngay thẳng, không thể dụ dỗ, mua chuộc, mà ông bà không thể nào ưa. Nói trắng ra, khi sinh ra tôi, họ cũng sinh ra một kẻ sẽ phanh thây, moi ruột moi gan họ từ đầu đến chân. Ngay từ giây khắc đầu tiên, tôi phải nói ngay, tôi đã là đứa chống đối lại, chống đối một cách quyết liệt nhất. Có lần, vào một bữa trời thu tuyệt đẹp, tôi thử mô tả Wolfsegg cho Gambetti nghe. Chúng tôi từ Rocca di Papa quay về Piazza del Popolo - tức cũng kể như đã về nhà đi - và ngồi với nhau ở sân hiên trước quán cà phê. Lúc đó, tuy đã quá chín giờ tối, song mặt trời vẫn còn đủ sức tỏa ấm dễ chịu trên quảng trường. Tôi bảo Gambetti, tôi gắng mô tả anh nghe thật chi tiết về Wolfsegg. Lúc còn ở Rocca di Papa, như bây giờ tôi chợt nghĩ lại, tôi đã tuôn ra với anh ta những điều thật hết sức vớ vẩn về tác phẩm Zarathustra của Nietzsche. Bao giờ tôi cũng thấy rất khó nhọc khi phân tích Nietzsche. Hôm đó cũng vậy, tôi không làm sao nói được điều gì cho thật trúng về Nietzsche. Đấy anh xem, Gambetti, tôi bỏ công cả chục năm trời để đánh vật với Nietzsche mà không sao khá lên được. Nietzsche bao giờ cũng làm tôi mê mẩn, nhưng có lẽ, tôi sẽ mãi mãi chẳng hiểu ông ấy viết gì, dù chỉ một tí ti thôi, cũng không. Nói thật lòng, tôi bảo Gambetti, các triết gia khác cũng vậy, dù đấy là Schopenhauer hay Pascal - ấy là ngoài Nietzsche, tôi chỉ dám nêu thêm tên hai vị này thôi - ai trong số họ đối với tôi cũng đều là khó hiểu cả, các lập luận của họ, có cố hết đời, may lắm tôi cũng chỉ hiểu được mang máng mà thôi. Đối với tôi, họ mãi mãi lạ lùng khó hiểu, nhưng bao giờ họ cũng hấp dẫn, lôi cuốn tôi ở mức cao nhất. Tôi bảo Gambetti, nghiền ngẫm tác phẩm của các vị này càng nhiều bao nhiêu, tôi càng trở nên bất lực bấy nhiêu. Chỉ trong cơn vĩ cuồng, tôi mới dám huênh hoang tôi hiểu các vị, cũng như chỉ khi nào lên cơn vĩ cuồng, tôi mới dám quả quyết tôi hiểu rõ chính bản thân tôi vậy; trong khi, nói cho đúng ra, cho đến tận hôm nay, tôi chưa bao giờ tự hiểu rõ mình. Càng nghiền ngẫm, càng suy nghĩ về mình nhiều bao nhiêu, tôi càng rời xa sự thật về mình bấy nhiêu, mọi thứ liên quan đến tôi càng tối tăm đi bấy nhiêu, cũng hệt như với các vị triết gia kia vậy, tôi bảo Gambetti. Tôi tưởng tôi đã hiểu họ, nhưng đúng ra là tôi chẳng hiểu tí gì, tôi bảo Gambetti, không chừng mọi thứ tôi lao tâm khổ tứ học hỏi, mất công tốn sức vật vã từ xưa đến giờ đều thế cả cũng nên. Song, tôi vẫn tự tin lắm, tôi bảo Gambetti, vào những lúc ngông cuồng, tôi còn dám liều quả quyết đã lĩnh hội được đôi điều bổ ích từ các vị, cũng như từ các công trình viết lách của họ. Nhưng, thật ra, không ai hiểu nổi các vị, cũng như các công trình của họ, tôi bảo Gambetti. Cả Pascal lẫn Descartes, cả Kant lẫn Schopenhauer hay Schleiermacher đều vậy, không ai hiểu nổi họ. Ấy là kể sơ sơ tên tuổi mấy vị hiện đang làm tôi quan tâm, mấy vị tôi đang mổ xẻ thôi. Phải thẳng thừng mổ xẻ, như mổ xẻ chính mình vậy, tôi bảo Gambetti. Với tất cả sự táo bạo và láo xược có thể có! Bởi vì, Gambetti ạ, tôi nói, khi ta nghiên cứu mổ xẻ một triết gia nào đó trong số họ, khi ta dám liều lĩnh tóm lấy họ, rồi moi móc phần ruột gan triết học của họ ra ngoài thân xác họ, cũng có nghĩa là ta đã rất táo tợn, láo xược. Hễ khi nào ta ra tay mổ xẻ một công trình triết học, là ta đã trâng tráo lắm rồi, song, không có sự trâng tráo ấy, ta sẽ không thể tiếp cận nó, ta sẽ không thể tiến thêm một bước nào về mặt triết học cả. Quả thật, ta luôn luôn phải xông vào các tác phẩm triết học với tất cả sức mạnh thô lỗ và mạnh bạo có thể có, hệt như khi xông vào các tác giả của chúng vậy, những tác giả mà ta phải luôn luôn xem là kẻ thù, là địch thủ đáng gờm nhất của ta vậy, Gambetti ạ. Tôi phải đối đầu với Schopenhauer, nếu tôi muốn hiểu ông ta, phải đối đầu với Kant, với Montaigne, với Descartes, với Schleiermacher, anh hiểu không. Tôi phải chống lại Voltaire, nếu tôi muốn ít nhiều thành công trong việc tranh luận với ông ấy một cách trung thực. Tuy nhiên, mọi cuộc tranh luận từ trước đến giờ của tôi với các triết gia cũng như với các công trình của họ đều không thành công. Cuộc đời sắp trôi qua, sự tồn tại của tôi sẽ tuyệt diệt, tôi bảo Gambetti, thế mà tôi vẫn chẳng đạt được tí gì cả, mọi sự vẫn khép chặt trước mặt tôi. Cũng như cuộc vật lộn của tôi với chính tôi cũng chẳng hề thành công. Tôi coi mình là kẻ thù của chính mình và tôi chống lại chính mình về mặt triết học, tôi bảo Gambetti, tôi tiếp cận mình với tất cả những mối hoài nghi có thể có, và tôi đã thất bại. Tôi tuyệt nhiên không thu được gì sất. Tôi phải xem tư duy là kẻ thù và chống lại nó bằng các biện pháp triết học, tôi nói với Gambetti, thì mới thực sự tận hưởng được nó. Song, có lẽ tôi sẽ không đủ thời gian để làm nổi việc này, cũng như họ, đã chẳng ai có đủ thời gian. Nỗi bất hạnh lớn nhất của con người ta chính là ở chỗ, thời gian bao giờ cũng quá ngắn ngủi cho họ, khiến nhận thức không bao giờ trọn vẹn cả. Bởi thế, bao giờ ta cũng chỉ lĩnh hội được một cái gì đó gần đúng, na ná, không trọn vẹn. Còn không, thì rặt chuyện nhăng cuội mà thôi. Nếu ta nghĩ ngợi và không ngừng nghĩ ngợi - một hoạt động ta gọi là triết lý ấy - thì rốt cuộc, bao giờ ta cũng đi đến kết luận rằng ta đã suy nghĩ sai lầm. Cho đến giờ, bọn họ - bất kể tên tuổi họ thế nào, bất kể họ đã viết nên những công trình ra sao - tất cả đều suy nghĩ sai lầm; song, tôi bảo Gambetti, họ không chịu bỏ cuộc, họ bỏ cuộc không phải do tự ý mà do thiên nhiên bắt buộc họ bỏ cuộc, bắt họ lâm bệnh, làm họ mất trí, và đẩy họ đến chỗ chết. Họ đã không muốn dừng lại, họ bất chấp mọi luật lệ, mọi lời cảnh báo, dù có phải kham khổ đến đâu, dù có phải chịu đựng ghê gớm đến mức nào. Thế nhưng, tôi bảo Gambetti, họ đã tận tâm vật lộn như thế để rốt cuộc, chỉ rút được ra các kết luận sai lầm, chỉ rút được cái hư vô, bất kể cái hư vô ấy là gì cũng vậy thôi. Và, tôi bảo Gambetti, mặc dù ta biết đó là hư vô, tức cũng là cái không có thực vậy, nhưng chính nó lại buộc mọi thứ phải lụi bại, khiến mọi sự phải dừng sững lại, để rốt cuộc, phải kết liễu. Tối hôm đó ở Piazza del Popolo, thay vì mô tả Wolfsegg như đã hứa với Gambetti trên lúc đi trên đường Flaminia, tôi lại sa đà vào một trong những câu chuyện tràng giang đại hải - tôi vẫn quen gọi là những câu chuyện triết lý - mà chính tôi là người e ngại chúng nhất, bởi mấy năm gần đây tôi càng hay sa vào và cũng vì chúng trơn tru tuồn tuột như chính môn triết học vậy, trơn tru như mọi thứ đàm luận tuy gọi là đàm luận triết học thật, nhưng ngoài động cơ sâu xa ra, sự thật, chẳng có gì chung với triết học hết. Vâng, thay vì mô tả Wolfsegg cho Gambetti nghe như đã hứa, tôi lại đi huyên thuyên cái gì đó về Nietzsche mà lẽ ra không nên nói thì hơn, vênh vang điều gì đó hết sức vớ vẩn về Kant, hùng hồn đôi điều về Schopenhauer mà thoạt tiên, chính tôi cũng tự khen là rất thông thái, nhưng chỉ một loáng sau đã phải nhận là điên rồ, ba hoa đôi điều về Montaigne mà chính tôi - lúc cắt nghĩa cho Gambetti - cũng có hiểu mô tê gì đâu. Tôi vừa tuôn ra nhận định của tôi về Montaigne với Gambetti, thì anh ấy lại xin tôi cắt nghĩa điều đó, nhưng nào tôi có cắt nghĩa được nữa, bởi vì tôi không biết mình vừa phét lác những của nợ gì về Montaigne nữa. Thường thường, ta vừa nói xong cái gì đó, thì ngay khoảnh khắc sau đấy, ta lại nhận ra ngay rằng ta không biết mình vừa nói gì. Tôi bảo Gambetti, đấy anh xem, tôi vừa nêu ra nhận định gì đó về Montaigne, nhưng bây giờ, chỉ hai, ba giây sau đó thôi, tôi không còn biết, tôi thực sự vừa nói gì về Montaigne. Ta cần phải luyện được khả năng vừa phát ngôn điều gì đó ra, vừa đồng thời ghi nhớ điều vừa nói ra đó vào đầu mình, tôi bảo Gambetti, song ta không có khả năng làm như thế. Tôi không còn biết, tại sao trong khoảnh khắc ấy, tôi lại tuôn ra điều gì đó về Montaigne, tôi bảo Gambetti, và đương nhiên, tôi càng không còn biết, tôi đã nói cái gì về Montaigne. Ta những tưởng ta đã tiến xa đến mức ta đã trở thành một cỗ máy tư duy, nhưng sự thực, ta không thể ỷ lại vào cỗ máy ấy. Nó không ngừng hoạt động chống lại đầu óc ta, tôi bảo Gambetti vậy. Tôi nói thêm, nó liên tục làm nảy sinh những ý nghĩ mà chính ta, ta cũng không biết chúng ở đâu ra, nảy ra để làm gì và có liên hệ với nhau như thế nào. Chúng ta quả thật bị kiệt sức bởi cỗ máy tư duy hoạt động không ngừng không nghỉ ấy, đầu óc ta bị quá tải, song ta không ngắt nó ra được nữa, cái đầu ta đã bị gắn liền suốt đời vào cỗ máy tư duy đó mà không thể cưỡng lại được. Tận đến lúc ta chết đi. Anh nói Montaigne hả, Gambetti? Song, trong giây khắc đó, tôi không biết anh nói gì. Descartes ư? Tôi không biết đó là gì. Schopenhauer à? Tôi không biết. Anh cũng có thể nói hoa bồ công anh với tôi, tôi bảo Gambetti, nhưng tôi sẽ không biết đó là gì đâu. Tôi bảo với Gambetti, tôi cứ tưởng về Sils Maria, tôi cứ tưởng thuê nhà ở gần đèo Malojapass, tôi sẽ hiểu Nietzsche rõ hơn, từ Sondrio trèo ngược lên, tôi khắc hiểu Nietzsche hơn, thậm chí hiểu Nietzsche trọn vẹn cũng nên. Song, tôi đã nhầm. Sau khi đến Sils Maria, từ Sondrio lên, tức trèo từ dưới lên đấy, tôi hiểu Nietzsche còn ít hơn trước, thậm chí tôi dám quả quyết, hiện giờ tôi chẳng hiểu tí gì của Nietzsche nữa cả. Mò đến Sils Maria, tự tôi đã đạp đổ Nietzsche. Tôi cũng đã có lần tự tay phá hủy cả Goethe, tôi bảo Gambetti, chỉ vì tôi đã lỡ ngu ngốc một cách tai hại mò đến thăm Weimar, cũng như tôi đã phá hủy Kant, do tôi dò dẫm về xứ Kồnigsberg. Thì tính tôi xưa nay vẫn vậy, chính vì tất cả những triết gia, thi sĩ, văn nhân ấy mà tôi đã có lần rong ruổi khắp châu Âu để tìm nơi ở của tất cả những triết gia, thi sĩ, văn nhân, và kết quả là, từ đấy, tôi đâm ra hiểu họ ít hơn xưa rất nhiều. Anh hãy cẩn thận, Gambetti ạ, anh đừng dại đến thăm những nơi chốn các văn nhân, thi sĩ hay triết gia từng lưu trú; sau đó anh sẽ không hiểu chút gì về họ nữa đâu. Chỉ vì từng đến thăm những nơi chốn như thế - nơi họ chôn nhau cắt rốn, nơi họ từng sinh sống, nơi họ lìa đời - nên trong đầu anh, anh thật sự không sao hiểu nổi họ nữa. Tôi bảo Gambetti, anh đừng tự cho phép mình lần đến các xứ sở từng dính dáng tới Dante, Vergil hay Petrarca, bởi vì anh sẽ làm tiêu tan tất tật những gì anh từng chất chứa vào đầu anh về các bậc vĩ nhân trí tuệ ấy. Đây, Nietzsche hả, tôi hỏi Gambetti, tự gõ gõ ngón tay lên đầu tôi, đây anh xem, đầu tôi trống rỗng, rỗng tuếch rỗng toác. Tôi tự hỏi, Schopenhauer à, rồi lại vỗ vỗ tay lên trán, đầu tôi cũng trống rỗng. Tay đập đập lên đầu, tôi gọi Kant và nhận ra ngay, đầu tôi rỗng không. Điều đó làm ta nhụt chí kinh khủng, tôi bảo Gambetti vậy. Anh gắng nghĩ đến một khái niệm hàng ngày rất quen thuộc nào đó, thế mà đầu anh trống rỗng. Tuyệt nhiên không một thứ gì. Không còn một thứ gì trong đầu anh cả, trong khi anh mong muốn nắm lấy một khái niệm thường nhật hết sức bình thường. Ngày qua ngày, anh lang thang cùng cái đầu rỗng tuếch ấy, thỉnh thoảng vỗ vỗ lên đầu và lúc nào cũng chỉ thấy nó rỗng không. Sự thật đó làm ta phát điên, phát cuồng, làm ta bất hạnh - vâng, điên dại một cách bất hạnh - và khiến ta đâm ra chán đời kinh khủng, Gambetti thân mến ạ. Tôi tuy là thầy dạy anh thật đấy, song đầu tôi hầu như lúc nào cũng trống rỗng, trong đó thật sự không có tí gì hết cả. Có lẽ do tôi bắt nó ráng quá sức, tôi nói với Gambetti. Do tôi đã phó thác cho nó quá nhiều. Do tôi đánh giá nó quá cao mà thôi. Ta thường đánh giá quá cao cái đầu của ta và kỳ vọng ở nó quá nhiều, tôi bảo Gambetti, để đến lúc vỗ vỗ lên đầu mới lại kinh ngạc vỡ nhẽ, hóa ra nó bị vét sạch sành sanh tự lúc nào rồi. Đến chút cặn trong đó cũng chẳng còn, tôi bảo Gambetti vậy. Rất có thể, do ta đã quá lạm dụng các triết gia, những triết gia mà lúc này lúc khác, đối với ta có ý nghĩa hoặc rất lớn, hoặc tuyệt đối lớn - tôi bảo Gambetti - khiến họ chốc chốc lại biến đi, để lại cái đầu ta toang hoác. Họ cứ thế bỏ đi, để lại cái đầu rỗng tuếch rỗng toác, khiến chúng ta - thay vì sẽ nghĩ thế này, suy thế nọ trong đầu và toan tính vận dụng chúng vào việc này việc kia, khôn ngoan hoặc không khôn ngoan, có lý hoặc không có lý - lại chỉ cảm thấy đau đớn kinh khủng, đến mức ta chỉ còn muốn kêu rống lên mà thôi. Song, cố nhiên, ta sẽ thận trọng để không rống lên tiếng kêu khủng khiếp đó, bởi nếu không sẽ làm lộ tẩy cái đầu đang trống rỗng của ta. Và - trong một thế giới mà thiên hạ, ai nấy chỉ rình nghe ta kêu rống lên và qua đó tự thú nhận đầu óc ta hoàn toàn trống rỗng - hẳn nhiên đó chính là sự kiện kết liễu chúng ta, kết liễu một cách không sao cưỡng lại nổi. Với thời gian, ta quen dần thói quen giữ kín mọi chuyện, hay ít nhất cũng giữ kín những gì ta nghĩ, hoặc dám liều nghĩ, để khỏi bị giết, bởi vì như ta vẫn biết, tôi bảo Gambetti, ai không giữ kín được những gì mình nghĩ, những ý nghĩ thật sự của riêng mình - những ý nghĩ không ai khác có thể biết được ấy - chắc chắn sẽ bị giết. Mang ý nghĩa sống còn là các ý nghĩ được giữ kín, tôi bảo Gambetti, chứ không phải các ý nghĩ đã phát ngôn thành lời hay đã công bố thành văn, bởi phần lớn chúng hoặc ít có, hoặc tuyệt nhiên không có gì chung với những ý nghĩ thầm kín kia và, thường còn thấp hèn hơn. Các ý nghĩ được giữ kín bao giờ cũng chứa đựng tất thảy, trong khi các ý nghĩ đã công bố thành văn chỉ chứa đựng, như ai cũng biết, cái tối thiểu, không mấy đáng kể mà thôi. Tuy nhiên, tôi bảo Gambetti, nếu ta có cơ hội công bố các ý nghĩ thầm kín của ta thành văn bản in ấn, hay ta chỉ cần phát ngôn chúng ra thành lời trong giây lát thôi, thì chúng ta sẽ tiêu đời ngay. Hẳn mọi sự sẽ bỗng dưng kết thúc. Hẳn mọi sự sẽ tan vỡ tanh bành trong vụ nổ kinh hoàng. Mới đầu, ta tiếp cận triết học hết sức cẩn thận, chỉ rón rén thôi, mà không được, tôi bảo Gambetti. Sau đó, ta tiếp cận mạnh bạo hơn, cũng không được nốt. Ngay cả khi ta không hề kiêng nể, cởi mở hết lòng mình để tiếp cận nó, ta vẫn thất bại. Cứ như thể ta không có quyền chia sẻ gì với triết học vậy, tôi bảo Gambetti. Triết học luôn luôn giống như không khí ta hít vào, nhưng ta không thể giữ được nó lâu trong lòng mình, mà phải thở nó ra. Suốt đời ta, ta thường xuyên hít nó vào, rồi thở nó ra, song không thể giữ nó lâu thêm một khoảnh khắc, một khoảnh khắc lẽ ra có thể quyết định tất cả ấy. Chà, Gambetti ạ, chúng ta muốn nắm lấythấu hiểu mọi sự rồi kéo về cho mình, song ta không thể làm nổi việc đó. Ta mất hẳn cả cuộc đời ta để tự thấu hiểu mình còn không được, thì làm sao ta lại nghĩ, ta có thể thấu hiểu thứ gì đó khác, không phải là ta chứ?! Vậy là, thay vì mô tả Wolfsegg cho Gambetti nghe như đã hứa, thì - suốt quãng đường đi loanh quanh, hết xuôi lại ngược trên đường Flaminia trước khi đến được Piazza del Popolo - tôi lại luôn mồm làm Gambetti điên đầu với những lập luận lằng nhằng, ồn ào quá sức chịu đựng của anh ta như thế. Và tôi cũng không để anh ta chen nổi lấy một lời, mặc dù suốt buổi, tôi biết chắc anh ta đã đôi lần rất muốn xen vào vài lời bình luận rằng tôi đã quá sa đà vào cái lối gọi là diễn văn triết học theo kiểu rất điển hình của tôi. Lẽ ra tôi nên để anh ta ngắt lời tôi và đưa ra đôi lời bình luận thì sẽ tốt hơn là mải mê tự nghe những lời huênh hoang tràng giang đại hải của chính mình, rồi tự tâng mình lên mây như thế. Bởi tôi cũng thừa biết rằng chỉ một loáng nữa thôi, chính những lời huênh hoang tràng giang đại hải đó cũng sẽ làm tôi điên đầu và khiến tôi phải hổ thẹn và tự xỉ vả mình, làm sao lại không tự kiềm chế, mà còn tuôn tuồn tuột ra như thế, đã vậy lại trước mặt Gambetti nữa chứ, là người có quyền đòi hỏi ở ông thầy mình đôi chút kỷ luật. Lúc hai chúng tôi bước lên tới Piazza del Popolo - dạo ấy chín giờ tối vẫn còn đông xe cộ như ở nhiều thành phố lớn khác lúc đổ trưa - tôi sực nghĩ, trước mặt Gambetti tôi phải cẩn thận hơn mới được, đừng buông thả, đừng để bị lôi cuốn vào các cuộc phiêu lưu triết học như thế. Thế nhưng, tôi bảo Gambetti, ta không nên lấy làm hổ thẹn, nếu lúc này lúc khác ta không tự kiếm chế nổi mình, ấy là cái đầu ta nó muốn thế, mỗi khi ta bắt nó phải căng óc ra suy nghĩ, thì bao giờ nó chả hưng phấn như thế chứ. Chắc Gambetti phải buồn cười lắm khi nghe lời thanh minh muộn màng đó của tôi. Tế nhị và khôn khéo như mọi ngày, anh ta chỉ gọi nửa chai rượu vang trắng và tôi có thể kể về Wolfsegg được rồi. Mỗi khi mô tả Wolfsegg, bao giờ tôi cũng tả từ dưới làng, nhìn ngược lên. Phía trên đỉnh, tôi bảo Gambetti, ở độ cao hơn tám trăm thước, là Wolfsegg - một pháo đài, suốt hàng trăm năm nay chưa từng kẻ nào công phá nổi, bao gồm một tòa nhà chính và nhiều gian nhà phụ, nhà thợ làm vườn, nhà thợ săn, trại gia súc và khu gọi là khu nhà lánh trồng cây ăn quả. Ngoài ra, còn ngôi biệt thự trẻ thơ, tôi nói thêm, là một biệt thự khá sang trọng, hình như được xây cất từ ba trăm năm trước cho bọn trẻ Wolfsegg thì phải, nằm hơi chếch sang phía đông, tuy có ra ngoài rìa một chút, nhưng từ đó, có thể phóng tầm mắt ra xa, bao quát được cả vùng núi Alpen rộng mênh mông. Nói chung, tôi bảo Gambetti, đứng trên Wolfsegg anh có thể ngắm nhìn quang cảnh hùng vĩ của dãy núi Alpen mà không đâu có được. Anh có thể phóng tầm mắt nhìn bao hết vùng đất bao la trải từ những dãy núi ở Tirol tới phía đông miền Hạ Áo. Trên đất Áo, tôi dám chắc không còn nơi nào khác được như thế, tôi cam đoan với Gambetti như vậy. Gambetti là người biết nghe chăm chú, anh ấy không bao giờ nói xen vào, lúc nào cũng kiên nhẫn để yên cho tôi xoay xở với những gì tôi định nói. Ta rất hay bị phá rối, bị trì hoãn, hoặc ít nhất cũng hay bị một ai đấy cản trở ngay từ khi vừa định mở miệng kể chuyện hay thuyết trình gì đó, nhưng Gambetti thì không bao giờ; chàng thanh niên này từng được bố mẹ nhẹ nhàng và thận trọng dạy dỗ thành người biết lắng nghe kẻ khác. Wolfsegg nằm cao phía trên làng chừng một trăm thước; lối đi từ dưới làng lên đó là lối đi độc đạo, một con đường có thể bị ngắt đứt ra bất cứ lúc nào bởi chiếc cầu rút xây ngay vào vách đá nằm chắn giữa Wolfsegg với ngôi làng. Từ dưới làng nhìn lên, không thấy được Wolfsegg. Suốt hàng trăm năm nay, khu rừng rậm rạp toàn cây thân cao mọc chen vào giữa đã che khuất nó khỏi mọi con mắt kẻ lạ. Con đường rải đá dăm, tôi bảo Gambetti, chạy dốc ngược đến bức tường cao ba mét, cao đến mức che khuất cả tòa nhà chính lẫn nhà phụ ở phía trong. Bước qua cánh cổng chính, thoạt tiên, khách viếng thăm sẽ nhìn thấy ngay khu nhà kính với nhiều cửa kính rộng và cao nằm phía bên trái. Trong đấy, tôi bảo Gambetti, cho đến giờ vẫn trồng cam. Do địa thế thuận lợi, nắng chiếu vào khu nhà kính suốt ngày, cho nên cả cam lẫn chanh, cũng như đủ loại cây cối nhiệt đới hay cận nhiệt đới khác ở trong đấy đều tươi tốt, cứ y như trong khu nhà kính của Hoàng đế ở Wien vậy. Ngay từ hồi còn bé, tôi bảo Gambetti, tôi đã thích nhất hoa sơn trà, vốn cũng là thứ hoa bà nội tôi cũng ưa chuộng hơn cả. Dạo ấy, bọn trẻ con chúng tôi thích đến chơi khu nhà kính nhất. Tôi thường ở liền trong ấy với chú Georg cả buổi, say sưa nghe chú ấy kể về nguồn gốc các loài cây, loại cỏ. Đó thật sự là niềm ham mê lớn nhất của tôi hồi ấy. Chính trong khu nhà kính này tôi được nghe một số danh từ La-tinh đầu tiên, tôi khoe với Gambetti, tức là các danh pháp La-tinh của bao nhiêu là loại hoa do ba người làm vườn gieo trồng, chăm bẵm cẩn thận trong vô số bình với chậu lớn nhỏ. Đến giờ, ba người làm vườn này vẫn được nhà tôi thuê làm ở Wolfsegg. Này Gambetti, chính anh cũng biết, ở đất Trung Âu, đến thời buổi này mà vẫn nuôi trong nhà những ba thợ làm vườn là xa xỉ lắm đấy. Tiếp xúc đầu tiên của tôi với mấy người bố mẹ tôi vẫn gọi là người ngoài ấy, chính là tiếp xúc với các bác thợ làm vườn này; tôi có thể ngó nghiêng xem họ làm công việc của họ bất kể lúc nào, bất kể bao nhiêu lâu hay bao nhiêu lần trong ngày cũng không chán. Tuy nhiên, ngay từ đầu tôi đã không chịu chỉ ngắm nghía các loại màu sắc rực rỡ của cỏ cấy hoa lá mà thôi, tôi bảo Gambetti, tôi còn muốn biết ngay tại sao hoa lại có những màu sắc rực rỡ như thế, chúng nó lôi đâu ra màu sắc ấy, màu như thế gọi là màu gì. Thợ làm vườn ở Wolfsegg là những người hết sức kiên nhẫn, ở họ luôn toát ra sự bình thản lạ thường, cuộc sống của họ bao giờ cũng đúng mực và giản dị, khiến tôi khâm phục hơn ai hết. Bao giờ công việc của họ cũng hấp dẫn và lôi cuốn tôi, các thao tác của họ cực kỳ chính xác, có chủ định và đúng mực, họ nói năng bao giờ cũng hết sức mạch lạc và rõ ràng. Từ khi tôi tự đi được, khu nhà kính biến thành nơi tôi thích đến chơi nhất, trong khi anh Johannes tôi suốt ngày suốt buổi chỉ loanh quanh trong khu chuồng gia súc, với rặt những bò, những ngựa, những lợn, những gà. Có thể nói, tôi là người của cây cối, còn gã - của gia súc. Mọi niềm vui của tôi nằm ở cỏ cây, hoa lá mọc trong nhà kính, còn mọi niềm vui của gã - trong chuồng gia súc. Vào mùa đông, lúc ngoài trời tuyết phủ, lạnh lẽo, trơ trọi, tôi bảo Gambetti, là lúc trong nhà kính tuyệt vời nhất. Tôi được phép đến chơi chỗ các bác thợ làm vườn, xem họ chăm cây tỉa lá, rồi về sau, còn được làm cùng với họ nữa kia. Tôi khoái nhất những lúc được ngồi trên chiếc ghế băng nhỏ trong nhà kính, chỗ cạnh mấy cây hoa đỗ quyên để xem họ làm, tôi bảo Gambetti. Ngay chữ nhà kính đã từ lâu làm tôi mê mẩn rồi, đó là một từ tôi khoái nhất trong các từ tôi thích. Nhà kính được xây sát bên bờ vách núi đổ thẳng xuống phía ngôi làng, khiến mọi thứ cây cối trong nhà kính luôn được nắng dìu dịu chiếu vào. Các nhà xây dựng hồi xưa thật khôn ngoan, khôn ngoan hơn cánh xây dựng ngày nay nhiều. Điều đáng kinh ngạc là, hồi xưa họ chỉ cần một thời gian ngắn, chứ không như các nhà xây dựng thời nay, phải cần nhiều hơn, có khi hàng năm, mới xong nổi độc mỗi một công trình. Hồi xưa, tôi bảo Gambetti, một lâu đài sừng sững hàng trăm năm, người ta mất cùng lắm vài tháng, để xây xong đâu vào đấy, với tất cả các chi tiết đẹp đẽ, cầu kỳ, tinh xảo nhất. Còn ngày nay, bọn họ bỏ ra hàng năm trời chỉ để cất lên những của nợ xấu xí, gốm ghiếc mà cũng chẳng dùng vào được việc gì, tôi bảo Gambetti, và ai nấy đều bứt đầu bứt tai, không hiểu vì đâu nên nông nỗi ấy. Hồi xưa ai nấy đều có óc thẩm mỹ, ai nấy hết lòng với công việc, họ làm say sưa. Anh cứ nhìn các công trình xây dựng ngày xưa mà xem, công trình nào cũng hoàn hảo, ngày nay chẳng cái nào sánh bằng. Mọi chi tiết tại các công trình xa xưa ấy, đều được xử lý, lắp đặt bằng tất cả lòng yêu thương trân trọng, tôi bảo Gambetti, với khiếu thẩm mỹ tinh tế, ngay cả trong các chi tiết nhỏ nhặt nhất. Khu nhà kính chẳng những được xây ở một địa thế tuyệt vời, tôi bảo Gambetti, nó còn là một công trình nghệ thuật, được xây nên dưới con mắt đầy thẩm mỹ - một công trình có thể sánh ngang bất kỳ tuyệt tác cùng loại nào khác ở vùng Bắc Ý cũng như Toscana. Xưa kia, bất cứ nhà xây dựng nào cũng là một tiểu Palladio, tôi bảo Gambetti vậy. Nghệ thuật xây dựng của chúng ta ngày nay thoái hóa mất rồi, nó không những chỉ trở nên phi thẩm mỹ thôi đâu, mà xét về nhiều mặt, còn vô dụng và cực kỳ vô nhân đạo nữa kia, trong khi ngày xưa, nền xây dựng bao giờ cũng giàu tính nghệ thuật chứa đầy nhân tính. Phía bên trái nhà kính là một cổng vòm lớn, xây bằng sỏi kết khối, khá cao, xe cộ cỡ nào chạy qua cũng lọt. Bến trong là khoảnh sân nằm trải thênh thang trước khu nhà quản sự mà tầng dưới chủ yếu gồm ba dãy chuồng bò và một dãy chuồng ngựa khá rộng. Tầng trên gồm các căn hộ của cánh nông phu; họ được thuê làm với những khoản lương lậu khá hậu hĩnh. Khu nhà quản sự xây theo hình móng ngựa, tôi bảo Gambetti, phòng ốc trong các căn hộ phía trên trại gia súc khá rộng, không chật hơn các phòng trong tòa nhà chính chút nào và, nếu có đem gộp cả lại, cũng phải chứa được trăm mạng chứ không ít. Đối diện với khu nhà quản sự và nằm cách xa chừng hai trăm thước trên một mô đất cao là tòa nhà chính, xây theo một nghệ thuật kiến trúc khá tính vi. Toàn cảnh tòa nhà chính, trông từ trang trại lên qua cổng vòm tôi nhắc lúc nãy, thật tuyệt vời. Tòa nhà cao ba tầng, vọt lên đúng ba mươi tư mét, tôi bảo Gambetti vậy. Tôi rất thích ngắm tòa nhà này. Tôi chưa từng thấy ở đâu trên đất Áo một tòa nhà nào có mặt tiền oai nghiêm đến thế, mà trông nó cũng có vẻ sang trọng hơn bất kỳ tòa nhà nào tôi biết. Chính giữa là cổng ra vào cao tám thước tây; cánh cổng sơn màu lục, sẫm đến mức nhìn cứ như đen kịt, không trang hoàng bằng thứ gì khác, ngoài nắm đấm cửa bằng đồng thau gắn bên ngoài - nhưng không bao giờ đánh bóng - và sợi dây kéo chuông bằng sắt treo bên trái. Các cửa sổ tầng dưới được trổ ở độ cao đủ không cho ai nghểnh cổ nhìn vào được. Mỗi lần ở Rome về, tôi bảo Gambetti, bước vào gian tiền sảnh bao giờ tôi cũng có cảm giác rất quái dị; trước vẻ lạnh lẽo, song tráng lệ của gian tiền sảnh, lại thêm bề cao lẫn chiều sâu của nó, khiến lần nào tôi cũng phải nín thở. Gian tiền sảnh trải dài ba mươi tư thước, chạy đến tận bức tường bao quanh sân; ánh sáng ban ngày chỉ chiếu từ trên xuống nền nhà lát bằng những tấm gỗ thông xưa đến một trăm năm mươi năm chứ không vừa, mỗi tấm rộng phải nửa mét, tôi bảo Gambetti, tấm nào tấm nấy xám xịt bởi dấu chân nhiều thế hệ từ xa xưa vẫn từng đặt lên. Tôi chưa thấy gian tiền sảnh nào đẹp hơn thế, tôi bảo Gambetti. Trông nó rất oai nghiêm, với khoảng không gian rộng lớn cùng cái vẻ hết sức nghiêm trang tuyệt đối của nó, lại không chút trang trí nào, chẳng tranh cũng chẳng ảnh, tuyệt nhiên không thứ gì hết. Các bức tường đều quét vôi trắng, tạo cảm giác khổ hạnh kiên cường. Hàng trăm năm nay đều vậy. Gần đây, lúc này lúc khác mẹ tôi lại cố đặt vài ba lẵng hoa vào gian tiền sảnh; hoa hoét chẳng làm cảnh trí trong đó đẹp thêm, hay hỏng đi, tôi bảo Gambetti vậy, vâng, có làm vướng mắt đôi chút, nhưng hỏng thì không hỏng. Nó quá ư tráng lệ, làm nó hỏng đâu có dễ. Tôi bảo Gambetti, bước vào gian tiền sảnh tôi vẫn cho là quá rộng, quá lạnh lẽo và quái dị ấy, nhiều người hẳn sẽ cảm thấy ghê ghê, không ít người thậm chí còn e ngại, không khéo chết cóng ngay trong đấy cũng nên. Phần lớn đều thấy run run khi bước chân vào đấy, tôi bảo Gambetti vậy, bởi có mấy ai quen bước vào một gian tiền sảnh rộng mênh mông, tráng lệ và oai nghiêm như vậy đâu. Mọi gian tiền sảnh tôi biết ở những tòa nhà khác, đều không rộng khủng khiếp, không quá ư hoành tráng và cũng không cực kỳ oai nghiêm như gian tiền sảnh nhà tôi và do đó, tất nhiên, cũng không gây cảm giác lạnh lùng, xa lạ như thế cho những ai đặt chân vào. Mọi người thấy lạnh lùng xa lạ, song với tôi lại khác; chính cái hoành tráng, cái lạnh lẽo ở đấy lại là cái hấp dẫn tôi từ xưa đến giờ. Anh bước chân vào gian tiền sảnh nhà chúng tôi, tôi nói với Gambetti, lập tức anh sẽ có cái cảm giác, anh sắp lãn ra chết ngay tắp lự, khiến anh phải tìm ngay một chỗ nào đó làm chỗ dựa. Gian tiền sảnh bao giờ cũng được che cho tối bớt so với bên ngoài, khiến mắt anh vừa từ ngoài bước vào là bị lóa ngay lập tức. Trong giây lát anh cảm thấy anh hoàn toàn trơ trọi. Bước vào trong, ngay bên trái là cánh cửa dẫn sang phòng người hầu, tiếp theo là cửa vào nhà kho chứa các loại dụng cụ nội trợ của gia đình. Tiếp theo nữa là cửa vào gian nhà thờ riêng của gia tộc tôi. Gian nhà thờ này lớn phải xấp xỉ loại nhà thờ hạng nhỡ ở vùng quê, tôi bảo Gambetti, với ba bàn thờ, bàn thờ Gothic ở giữa, hai bàn thờ khác hai bên. Đến tận giờ, sáu giờ sáng Chủ nhật nào cũng tổ chức thánh lễ ở đấy, do ông linh mục dưới làng chủ trì - hoặc đích thân ông, hoặc ông cử giáo sĩ lên thay. Cuốc bộ leo từ dưới làng lên, âu cũng là sự khó nhọc lắm lắm cho ông linh mục già. Trong kho áo lễ, tôi bảo Gambetti, cho đến giờ vẫn còn những thùng gỗ to đùng chất đầy áo lễ của các linh mục từ suốt ba thế kỷ nay. Wolfsegg may mắn, hầu như không bị cuộc chiến tranh lớn nào ở châu Âu đụng đến và các trận hỏa hoạn chớm bùng lên hồi thế kỷ trước đều bị dập đi rất nhanh. Tôi bảo Gambetti, đội cứu hỏa làng chúng tôi là một trong những đội giỏi giang, điêu luyện có tiếng nhất nước Áo. Không tối nào mẹ tôi không quỳ cầu nguyện trong gian nhà thờ này. Bọn con cái chúng tôi được dạy ngay từ khi còn bé, tối tối phải đến đó cầu nguyện. Cố nhiên, ở đây bao giờ cũng diễn ra các sự kiện đình đám, chẳng hạn lúc nào đón đích thân Tổng Giám mục xứ Salzburg xúng xính lễ bộ đến dự nào lễ đặt tên, lễ ban phước hay đám cưới, tôi bảo với Gambetti. Đã có dạo, những cảnh tượng tưng bừng diễn ra tại gian nhà thờ này, đối với tôi - cũng giống như đối với mọi người trong nhà - mang nhiều ý nghĩa đặc biệt lắm. về sau, tuy trong lòng không còn thấy hay ho gì nữa, nhưng tôi vẫn còn nhớ như in các nghi lễ quái đản đó, nhớ cả ánh sáng xuyên qua những cánh cửa kính đồ sộ và choáng lộn của nhà thờ lẫn các lễ hội tưng bừng, lung linh màu sắc. Đối diện gian nhà thờ là gian nhà bếp, rộng thênh thang như sân dạy ngựa, ngay mùa đông cũng không đốt lò sưởi; khá nhiều bếp lò lớn, một số không còn dùng làm bếp nấu ăn nữa, mặt bếp biến thành nơi chất các thứ đồ đạc vặt vãnh. Hàng trăm, nếu không phải hàng ngàn bộ bát đĩa, tô tách lớn nhỏ cất trong tủ chén và chất trên giá dựng áp vào tường. Mãi đến lúc tôi ba chục tuổi, tôi nhớ vẫn còn những tám các bà các cô làm ở đây và hồi đó họ đã phải hối hả chạy ngược chạy xuôi thế nào trong bếp vào dịp lễ sinh nhật ba mươi của tôi. Tôi thích nhà bếp gần như thích nhà kính vậy, chỉ có điều, ở nhà kính toàn đàn ông, còn ở đây toàn các bà các cô - nhưng không phải vì thế mà không thú vị. Ở nhà kính tôi thích mùi thơm các loài kỳ hoa dị thảo thế nào, thì hàng ngày trong bếp, hương vị tuyệt vời của đủ các loại bánh ngọt lại hấp dẫn tôi như thế. Vả lại, sự niềm nở và thiện cảm mà các bà các cô nhà bếp vẫn dành cho tôi ngay từ hồi còn bé khiến tôi bao giờ cũng thích thú mỗi khi ghé vào đây. Đến chơi trong bếp, không bao giờ tôi thấy chán. Quả vậy, tôi bảo Gambetti, suốt phần đầu thời thơ ấu, nhà bếp và nhà kính là hai nơi tôi hay qua lại nhất, hay có thể nói, đời thơ ấu của tôi đã trôi êm ái, giữa một bên là các loài hoa trong nhà kính, với bên kia là các loại bánh ngọt trong bếp. Trong bếp chẳng ai hỏi han, bắt bẻ vặn vẹo tôi chuyện gì, ở nhà kính cũng vậy, tức là cứ chỗ nào không có mặt bố mẹ tôi, thì tôi muốn làm gì thì làm tùy thích, chẳng ai ngăn, không ai cản. Gần như lúc nào tôi cũng chỉ ao ước xuống bếp hoặc chạy vọt sang nhà kính. Đến tận giờ tôi vẫn thường nằm mơ tôi đang xuống bếp hoặc chạy sang nhà kính, tôi bảo Gambetti vậy, bất kể thời tiết thế nào. Thằng bé chạy xuống bếp tìm những người, theo cách nghĩ của nó, bao giờ cũng vui vẻ và niềm nở; nó chạy sang nhà kính, đến chỗ các bác làm vườn lúc nào cũng tỏ ra thỏa mãn với đời. Nó tìm mọi cách thoát khỏi những người nó cho là rất nghiêm khắc và độc ác, toàn đòi hỏi nó những chuyện quá quắt. Trong các giấc mơ, tôi bảo Gambetti, tôi luôn trốn sự nóng nảy và khắt khe của bố mẹ, tôi chạy từ gian tiền sảnh ra ngoài, bỏ qua nhà kính lẫn trại gia súc để trốn vào các khu rừng xung quanh. Tôi nằm hàng giờ bên bờ suối xem cá bơi dưới nước hay ngắm mấy con bọ cánh cam bò trên lá sậy. Ngày bao giờ cũng dài, buổi tối lại quá ngắn ngủi. Tôi bảo Gambetti, bước vào gian tiền sảnh, đi thêm hai chục bước anh sẽ gặp cầu thang gỗ rộng dẫn lên tầng trên. Quay sang phải là hành lang tầng thượng và chạy dài về hướng đông, ở tận cùng anh sẽ thấy gian phòng ăn rất lớn, cửa lúc nào cũng mở toang. Phòng ăn nằm đúng ngay trên gian tiền sảnh và có cái ban công rất rộng. Bọn trẻ con chúng tôi bị nghiêm cấm bước vào đây, ngoại trừ vài ba dịp hội hè nhất định, khi có lệnh cho phép chúng tôi, quần áo chỉnh tề và mồm miệng ngậm tăm, đến ngồi bên bàn. Cho đến giờ, một loạt tủ búp-phê, tủ kính lẫn chạn bát đĩa, chứa đầy ắp các loại tô đĩa, tách chén bằng sứ hiếm hoi và dao nĩa vô cùng quý giá vẫn dựng bên nhau san sát. Bày ra khắp nơi trong các ngăn tủ này chính là kho báu vô giá mà các bậc tiền bối trong dòng họ nhà tôi đã gom góp tích trữ hàng thế kỷ nay. Trên tường treo chân dung các vị từng cất công xây nên Wolfsegg lẫn các vị đã trông nom, gìn giữ nó - những vị đã mồ yên mả đẹp từ lâu trong ngôi nhà mồ gia đình ngoài nghĩa địa. Giá gian phòng ăn này mà biết nói năng, tôi bảo Gambetti, thì ta đã được nghe câu chuyện hoàn chỉnh, không chút méo mó, sai lệch về nhân loại rồi, một câu chuyện vừa thần kỳ vừa rất thực, vừa hiển hách vừa kinh hoàng. Tôi bảo Gambetti, chắc chắn lịch sử - mà không chỉ riêng lịch sử địa phương đâu - đã được viết nên bên chiếc bàn ăn ở đây. Thế nhưng, cũng may mà các bàn ăn không nói năng được gì, tôi bảo Gambetti vậy, chứ không thì chúng đã bị những kẻ phải ngồi ăn ở đó đập vụn ngay rồi. Tôi còn nhớ đã từng được ngồi ăn bên chiếc bàn này với cả thảy tám vị Tổng Giám mục lẫn Đức Hồng y và ít nhất cũng cả tá Hoàng tử khác nhau chứ không ít, tôi bảo với Gambetti. Và đương nhiên, điều đó đã để lại trong một đứa trẻ như tôi hồi đó những ấn tượng thật mạnh mẽ. Ấy là chưa kể một số lớn các quý bà, các tiểu thư quý phái - mà tên tuổi giờ đây tôi không còn nhớ nữa - từ Wien, Paris hay London lặn lội đến thăm chúng tôi. Tất cả bọn họ đều nghỉ đêm ở Wolfsegg, trong các căn phòng thường ngày khóa kín, chỉ vào những dịp thế này mới mở ra - những căn phòng rộng, ngột ngạt mùi mốc, giấy bồi tường tối tăm, với những tấm màn che cửa nặng trình trịch, nặng đến mức, ai yếu sức hẳn không thể sáng kéo ra, tối kéo vào được. Vào những phòng gọi là phòng khách, mà tất cả đều xoay lưng ra hướng bắc ấy, tôi nói với Gambetti, bao giờ tôi cũng thấy kinh hãi. Bất kỳ ai từng ở đó, dù chỉ ngắn ngày thôi, trước sau thể nào cũng sinh bệnh. Tuy nhiên, chủ nhà ở Wolfsegg đã cố tình sắp đặt, bày biện nội thất các phòng này theo một cách cừu địch như thế, cũng như bọn họ đã cố ý chọn các căn phòng nằm ở hướng bắc làm phòng khách và giữ các phòng này lạnh ở mức sớm muộn khách cũng bị cảm. Bọn họ không muốn khách lưu lại đây lâu hơn hạn cần thiết. Vả lại, cũng phải vì một lý do bức thiết nào đó, lúc họ phải nhờ vả khách để đạt được việc nào đấy có lợi cho họ, những việc phải có khách giúp mới xong, thì họ mới mời khách mà thôi. Sáng ra, ngay bữa điểm tâm, các vị khách ngủ qua đêm tại các phòng khách đó đã để lộ các dấu hiệu cho thấy họ bị thấm lạnh; tôi bảo Gambetti, các vị hoặc quấn khăn quàng cổ, hoặc húng hắng ho vẻ bất thường. Mặc dầu vậy, tôi bảo Gambetti, khách khứa vẫn ham quay lại, bởi Wolfsegg có sức quyến rũ lạ lùng. Ai nấy dường như đều nôn nóng chờ được mời lại lần sau. Dạo xưa, ông bà tôi rất hay mời đông khách. Bố mẹ tôi ít mời khách hơn hẳn; hai vị không giao du rộng. Bố tôi đã không, mẹ tôi lại càng không; vả lại, lúc mới về nhà chồng, mẹ tôi còn bị ức chế suốt một dạo và mang nhiều mặc cảm về đám người, như bà vẫn đỉnh ninh, thích đến Wolfsegg cốt chỉ để dò la các thói tật thiếu thượng lưu của bà, rồi đem rêu rao khắp nơi, cho xấu mặt bà mà thôi. Thành ra, khoảng chục năm đầu, bà chẳng bao giờ mời ai trong số bạn bè bố tôi, chỉ mời bạn bè bà, những người bà ít phải ngại hơn, nên rốt cục, khách của bà rặt bọn người đáng sợ thuộc giới gọi là giới trung lưu có học, những kẻ nếu anh đối mặt, Gambetti ạ, chắc chắn anh phải bủn rủn chân tay, nhất là khi bọn nó lại từ Weis hay Vocklasbruck, từ Linz hay Salzburg đến và vênh vang tự cho mình cao hơn hẳn thiên hạ một bậc nữa. Tôi bao giờ cũng ghét đám khách khứa kiểu đó. Mặt khác, cũng phải nói rằng Wolfsegg không những hoàn toàn mới mẻ và xa lạ, mà còn tuyệt nhiên không hợp với bà, khiến bà chẳng mấy chốc hẳn sẽ hoàn toàn cô đơn bên một ông chồng chẳng mấy lý thú như bố tôi, tôi bảo Gambetti, chắc bà sẽ buồn chán đến mục xương ra ở đấy mất Chẳng mấy chốc Wolfsegg hẳn sẽ nghiền nát bà, và nói đùa như bố tôi dạo mới cưới còn dám nói, người đàn bà ngoi từ dưới lên ấy rồi sẽ tiêu tan dần thành cát thành bụi. Bởi vậy, đến một lúc nào đấy, vào thời điểm có thể định đoạt tương lai bà, bà liền cứ thế lôi những người cùng giới với bà lên Wolfsegg và rốt cuộc, như lời bố tôi lầu bầu, làm vô sn hóa Wolfsegg, tôi bảo Gambetti. Dầu sao thì, tôi nói thêm, bà cũng có quyền tìm cách sống sót, dù cách ấy có vừa mắt chúng tôi hay không cũng mặc. Riêng trong tòa nhà chính đã có tới hơn bốn chục phòng, tôi chưa bao giờ đếm chính xác. Tụi trẻ con chúng tôi mãi đến lúc tròn mười hai tuổi mới được chia phòng riêng và điều thú vị là tôi và anh tôi đều được nhận phòng chái nhà phía nam, còn phòng cho bọn em gái lại chái nhà phía bắc. Hai đứa chúng nó rất hay bị cảm lạnh và rất có thể, sở dĩ chúng nó nhạy cảm với cái lạnh chính là do bị đẩy ra ở chái nhà phía bắc đó. Bọn con gái bị đuổi ra ở phần chái nhà phía bắc, tức là bị phạt, chỉ vì chúng nó là con gái. Thế nhưng, tôi bảo Gambetti, ấy là tôi ngờ vậy thôi, chứ không chắc. Những ai lớn lên từ chái nhà phía bắc về sau đều bị thiệt thòi, tôi bảo Gambetti, mà rồi họ cũng bị thiệt thòi suốt đời thật. Cả vào mùa hè, chái nhà phía bắc vẫn thấy khó chịu, bởi nó không ấm lên được. Các bức tường nhà ở Wolfsegg, dù hướng bắc hay hướng nam, chẳng bao giờ ấm lên, lúc nào cũng lạnh lẽo, bước đến gần còn nguy hiểm là đằng khác. Cửa sổ ở Wolfsegg, đến ở tầng ba vẫn còn cao hơn hai thước và bọn trẻ chúng tôi rất khó mở chúng ra. Muốn mở cửa ra thông gió, bao giờ chúng tôi cũng phải nhờ người giúp, nhưng có điều, bên giường nằm của bố mẹ tôi, mới để sẵn chuông gọi người làm, chứ chúng tôi làm gì có. Thời trẻ con, chưa có cầu tiêu trên tầng ba - là nơi chúng tôi ngủ nghê, học hành, chơi bời gần như suốt ngày. Tối đến, chúng tôi phải ỉa đái vào những cái bô sứ cũ, hoàn toàn tự nhiên như ông bà chúng tôi hồi xa xưa vẫn từng làm, rồi sáng sớm hôm sau hết sức khéo léo, tôi nói thật đấy, thản nhiên dốc đổ bô qua một cánh cửa sổ riêng ở tầng ba xuống đất. Tối tối, chúng tôi phải tự xách những chiếc bình sành đựng nước lên tầng ba vào phòng, bởi trên đó không có nước vòi. Nước bẩn, chúng tôi cũng cứ thế đổ qua cánh cửa sổ. Ngay dưới cửa sổ đó, chỗ chúng tôi vẫn đổ bô và nước bẩn xuống, sâu xuống phải năm chục thước, lau sậy mọc tươi tốt, vọt cao hẳn hơn bất kỳ chỗ nào khác. Tụi trẻ Wolfsegg trước sau rồi cũng hết sợ, do cũng nhanh quen với cảm giác bị bỏ rơi trong tòa nhà mênh mông và lạnh lẽo này. Bọn trẻ nơi khác đến Wolfsegg thì bao giờ cũng sợ run, nếu không có ai ở gần, dù chỉ mệt loáng, là khóc ré lên ngay. Còn chúng tôi chả sợ gì. Tôi còn nhớ, dạo mới bốn, năm tuổi gì đó, tôi bảo với Gambetti, mẹ tôi đã đuổi chúng tôi ra khỏi phòng bà, bắt về ngủ ở phòng riêng, dạo đầu là phòng chung của hai anh em, vâng, đưa hay đuổi thì cũng thế cả. Tối nào cũng như tối nào, chờ chúng tôi rửa ráy xong xuôi, bà đến hôn hai đứa trước khi ngủ. Johannes bao giờ cũng chìa ngay má cho mẹ hôn, còn tôi rất ghét, trong bụng chỉ muốn lẩn, nhưng của đáng tội, có bao giờ lẩn được đâu. Đến tận giờ, tôi bảo Gambetti, mẹ tôi vẫn đeo đuổi tôi trong các giấc mơ để đòi hôn tôi trước khi ngủ. Bà đến bên giường, cúi xuống bên tôi và bỗng chốc tôi bị bó chân bó tay, phải đem mình nộp cho cái hôn của bà. Bao giờ bà cũng dán chặt môi vào má tôi, chặt như thể muốn trừng phạt tôi. Hôn hít hai anh em xong xuôi, bà tắt đèn, nhưng chưa ra khỏi phòng ngay đâu, bà còn dừng lại hồi lâu ở ngưỡng cửa, chờ chúng tôi xoay mình và chìm dần vào giấc ngủ. Bởi tai tôi hồi bé đã rất thính, nên tôi biết, khép cửa lại rồi bà vẫn còn đứng phía ngoài nghe ngóng một lát rồi mới xuống phòng ngủ của bố mẹ tôi dưới tầng hai. Tôi không biết vì lẽ gì, tôi nói với Gambetti, mà đến bọn nhóc chúng tôi, bà cũng nghi ngờ. Bệnh đa nghi mẹ tôi mắc thật kinh khủng hiếm thấy, thường xuyên giày vò, không lúc nào thuyên giảm, vô phương cứu chữa và, bây giờ thì tôi phải nói thẳng, hết sức quái đản và không tự nhiên chút nào. Ở Wolfsegg, phòng lớn phòng nhỏ đều quét vôi trắng hết một lượt. Rèm cửa các phòng tầng hai đều màu lục sẫm, gần như đen sì, rèm của các phòng tầng một đều đỏ sẫm, cũng gần như đen sì. Trong các phòng tầng ba, cả trong phòng của bọn trẻ chúng tôi, rèm may bằng vải gai vùng Mủhlviertler, còn trong các phòng tầng một, bằng vải nhung dày, thấy bảo do bà nội tôi cho sắm ở Ý về từ dạo thế kỷ cũ chuyển sang thế kỷ mới đến nay. Từ lúc còn nhỏ đến giờ, tôi chưa thấy ai giặt các tấm rèm này bao giờ, có nghĩa là chưa bao giờ dỡ xuống cả. Để làm bài tập ở nhà, anh Johannes với tôi, về sau thêm cả bọn em gái nữa, đều bị nhốt chặt trong phòng cho đến khi bài vở xong xuôi mối được ra ngoài, trừ phi bài tập nan giải lắm mới được phép cầu cứu. Nhưng mẹ chả giúp chúng tôi bao giờ, chỉ một mực lạnh lùng, các con phải tự tìm ra lời giải thì mới khá lên được. Cái lối ấy của bà không nhằm mục tiêu giáo dục quái nào đâu, chỉ để bà dở mệt óc đấy thôi. Còn bố tôi không để tâm đến bài vở chúng tôi học bao giờ. Ông chỉ nổi cáu nếu chúng tôi vác điểm xấu về nhà. Đứa nào bị điểm năm hay thậm chí điểm sáu - vâng điểm sáu là điểm thấp nhất đã có từ thời tôi học tiểu học - là ông mắng, mày không xứng đáng làm con bố. Bị hai con sáu là tự khắc ở lại lớp, song chúng tôi chẳng bị hai con sáu bao giờ, nhưng một con thì nhiều. Phòng chúng tôi ở tầng ba, khi nào lạnh lắm, mười độ dưới không, mới được sưởi, mặc dù củi đốt lò nhà tôi ở Wolfsegg bao giờ cũng thừa mứa, và vào những lúc như thế, chúng tôi phải tự tay vác củi lên tầng, bởi người làm không ai được phép giúp chúng tôi. Bố tôi đích thân ban lệnh này cho họ, bởi ông muốn tôi luyện chúng tôi thành những con người thật sự. Gambetti không hiểu thế nào là tôi luyện, buộc tôi phải tìm cách giảng giải cho anh ta một lúc. Song rốt cuộc, các biện pháp tôi luyện mà ông bố chúng tôi còn gọi là giáo dục thông qua tôi luyện ấy, chẳng tôi luyện hai anh em chúng tôi thêm chút nào, thậm chí làm chúng tôi dễ mắc đủ các thứ bệnh, mặc dù cũng chưa dễ đến mức như hai đứa em gái tôi, vốn phải ở trong hai căn phòng nằm ở chái nhà phía bắc. Do kiểu giáo dục thông qua tôi luyện ấy của ông bố tôi, chúng tôi chẳng những không được tôi luyện, tôi bảo Gambetti, mà còn yếu đi, rất dễ mắc bệnh là đằng khác. Với lối tôi luyện của ông, ông nuôi chúng tôi thành hai thằng con ngược hẳn ý ông. Chúng tôi yếu ớt hơn hẳn tụi trẻ không được hưởng phương pháp giáo dục thông qua tôi luyện, yếu ớt hơn hẳn bọ trẻ dưới làng, vốn được lớn lên hoàn toàn tự nhiên trong các căn phòng sưởi ấm, mặc dù bố mẹ chúng ít nhiều đều nghèo kém, trong nhà chúng nó của nả chẳng có gì, trong khi, tôi có thể nói thẳng ra với anh như thế, gia đình bố mẹ chúng tôi ngập ngụa dưới đống tiền bạc và châu báu ngút trời. Tôi bảo Gambetti, lối sống keo kiệt đến rùng rợn đã từng thao túng Wolfsegg từ xưa đến giờ. Mẹ tôi chính là người keo kiệt nhất, bủn xỉn nhất, không ai sánh bằng. Tôi vẫn ngờ từ lâu, có lẽ niềm đam mê độc nhất của bà chính là sự keo kiệt. Nếu không tính đến số tiền khổng lồ mẹ tôi từng bỏ ra mua sắm quần áo thì bà quả là người keo kiệt nhất tôi từng gặp trên đời này. Bà không khi nào dám hưởng thụ bất cứ thứ gì. Trong bếp ở Wolfsegg, chỉ được phép nấu những món tối cần thiết, tốt nhất là tự cung tự cấp, không mua bất cứ thứ gì từ dưới làng lên. Bởi thế, ở Wolfsegg, quanh đi quẩn lại chúng tôi chỉ toàn ăn thịt lợn với thịt bò, lúc nào cũng thấy hết dồi lại lòng, cùng đủ loại cháo bột, cháo yến mạch, mì luộc, mì xào. Vâng, tất nhiên, còn bao nhiêu món trứng nữa. Chỉ khi nào gọi là có khách quan trọng thì trong các gian bếp ở Wolfsegg mới lại ú ụ các thức ngon của lạ, chỉ cốt toe toe khoe chủ nhà hào phóng. Mẹ tôi thuộc hạng người sống với bề nổi là chính. Câu hỏi luôn luôn làm bà băn khoăn là không biết thiên hạ nghĩ thế nào về bà, không rõ họ đánh giá bà ra sao và, cố nhiên, bao giờ bà chả muốn họ nghĩ hay, nói đẹp về bà. bếp họ nấu ăn mới ngon chứ, tôi trầm trồ thốt lên như vậy với Gambetti, nhưng thường ngày họ chỉ nấu một vài món chán phè, cứ ba, bốn ngày lặp lại một lần. Tôi vẫn tự hỏi, tôi bảo Gambetti, không biết nhà tôi nuôi ba bác làm vườn làm gì mà chúng tôi chẳng bao giờ được ăn rau quả tử tế. Chả lúc nào chúng tôi được thưởng thức món gì cho ra hồn từ trong vườn; dọn lên bàn một vài món rau ngon lành trồng được thì có khó gì đâu nhỉ, nhất là khi ai cũng biết tôi thèm ăn rau tươi và xa lát lắm. Không! Cả rau tươi lẫn xa lát xanh thu hoạch trong vườn đều phải đem bán bằng hết, không chừa một lá một cọng nào để ăn cả. Để các bác làm vườn đem ra chợ Weis hay Vocklabruck bán hẳn có lời hơn. Bố tôi chẳng phải vô cớ mà đau dạ dày là vì thế, tôi bảo Gambetti. Cả các bà đầu bếp lẫn mấy cô phụ việc, như tôi đã kể, phần lớn thời gian chỉ xoay trần với việc vào chai, muối cái này cái kia, thậm chí với cả làm dồi, nhồi xúc xích, bởi vì ở Wolfsegg cũng mổ lợn, mổ bò và cả nhà từ xưa đến giờ đều chỉ ăn thịt mổ tại gia như thế thôi. Quả thật, chẳng cần bàn cãi gì thêm, thứ dồi họ làm ở đấy đúng là thứ tuyệt vời nhất tôi từng ăn trong đời. Một ông hàng thịt sẽ được gọi từ dưới làng lên, ra tay mổ bò, mổ bê, chọc tiết lợn rồi xẻ thịt chúng gọn gàng, sạch sẽ trong lò mổ riêng của Wolfsegg dựng ngay cạnh trại gia súc. Xem ông hàng thịt mổ lợn hay mổ bò thật khoái. Tất nhiên, lúc còn nhỏ, chúng tôi đứa nào cũng thấy ghê sợ và khiếp đảm. Nhưng về sau, tôi dám xếp nghề mổ thịt vào hàng những nghệ thuật cao, ngang hàng với món phẫu thuật trong bệnh viện, đối với tôi thậm chí nghề mổ thịt còn có vẻ đáng ngưỡng mộ hơn là đằng khác. Ở Wolfsegg, ngay từ khi còn rất nhỏ, chúng tôi đã nhận thức được rằng việc gia súc rồi sẽ bị chọc tiết, bị mổ bụng xẻ thịt và chế biến là lẽ tự nhiên; những gì lúc ban đầu vốn làm chúng tôi kinh hãi thì dần dần không còn làm chúng tôi kinh sợ nữa và, về sau, thậm chí chúng tôi còn xem như thế là hoàn toàn cần thiết, cũng như coi công việc của ông hàng thịt là công việc rất nặng nhọc, và nếu ông ta còn lành nghề thạo việc nữa, thì đấy là công việc đáng khâm phục. Sau những cú sốc ban đầu, tụi trẻ ở làng quê đã làm quen ngay từ rất sớm với sự sống và cái chết. Đối với chúng, cái đó sẽ không còn gì đáng sợ nữa hết, bởi vì chẳng có gì là giật gân nữa cả, mà chỉ là cái hết sức tự nhiên nữa thôi. Tôi phải nói thêm anh biết, trên gác mái nhà trại gia súc chúng tôi còn có một lò hun khói rất lớn. Cái từ lò hun khói có vẻ làm Gambetti khoái chí, cứ muốn nghe tôi nhắc đi nhắc lại mãi. Trong trại gia súc có một gian chuyên dùng làm nơi hun khói, tôi bảo Gambetti, bao giờ cũng treo lủng lẳng tới hàng trăm xâu xúc xích, hàng trăm tảng thịt hun khói chứ không ít. Xung quanh khu sân sau của tòa nhà chính, tôi bảo Gambetti - phần lớn mọi sinh hoạt của gia đình đều diễn ra ở đây - tầng gác nào cũng có một dãy cột chạy từ đầu này tới đầu kia, cũng là nơi tôi hay chùi giày bẩn vào. Đang rót rượu vào ly cho tôi, Gambetti nghe tôi nói vậy lại phì cười. Chính ở cái sân sau này, về mùa đông, chúng tôi vẫn thường chăm nuôi mấy con nai, con hươu yếu sức hoặc bị thương, tôi bảo Gambetti, do cánh thợ săn bắt đem về Wolfsegg cho chúng tôi. Ngôi nhà cánh thợ săn nằm trước cái gọi là ngôi biệt thự trẻ thơ, nhưng đằng sau nhà thợ làm vườn. Ở tầm chim bay cao nhìn xuống Wolfsegg, quang cảnh hiện ra hẳn sẽ là: tòa nhà chính nằm cao vọt lên so với ngôi làng; ngay trước mặt tòa nhà chính, khu vườn trải rộng về hướng đông theo hình na ná trái xoan, dài tới một trăm năm chục, một trăm bảy chục thước đến sát bờ tường. Chen vào bức tường là cái cổng đá cao và rộng, nơi xe cộ, máy móc nghề nông vẫn qua lại; xây gá vào tường về phía bên phải chính là nhà kính, Gambetti ạ, nằm đối diện với cánh bên trái trại gia súc xây hình móng ngựa - một cái trại dài ít gì cũng đến hai trăm năm chục thước chứ có vừa đâu. Phía đằng sau, nhìn thẳng ra hướng đông, là nhà thợ làm vườn và xa nữa ra sau thì đến nhà thợ săn, rồi, thêm một đoạn sau rốt - ngôi biệt thự trẻ thơ. Ngôi biệt thự trẻ thơ này xây đã xấp xỉ hai trăm năm nay theo kiểu biệt thự vùng Florenz, loại biệt thự vẫn thường thấy trên đường đến Fiesole ấy. Tất nhiên, tôi bảo Gambetti, ngôi biệt thự ở Wolfsegg không được lộng lẫy như thế, nhưng đối với vùng đất Thượng Áo cũng là lạ mắt lắm rồi. Ấy thế nhưng chẳng ai bảo nó không hợp với phong cảnh ở đây. Trái lại, ngôi biệt thự quả thật rất quyến rũ, quyến rũ hơn mọi thứ ở vùng đất chúng tôi. Nghe nói có vẻ lạ đời, nhưng nó đúng là được xây cho trẻ con thật. Trong đó có hẳn một sâu khấu múa rối, bao giờ cũng chỉ diễn những vở kịch do trẻ con dàn dựng thôi. Kịch do tụi trẻ tự viết vở, các vở hài kịch tụi trẻ tự nghĩ ra, cả những vở kết thúc có vẻ buồn, nhưng ngẫm kĩ thì chẳng buồn tí nào. Dĩ nhiên, kịch đây là kịch thơ. Trong biệt thự cho đến giờ vẫn còn lưu giữ hàng trăm bộ trang phục chỉ dành riêng cho trẻ em diễn kịch. Hiện nay cửa ngôi biệt thự bị đóng chặt, tôi nghĩ chắc từ nhiều năm nay không còn ai đặt chân vào đấy Nhiều cửa sổ kính bị vỡ, có lẽ do tụi trẻ nghịch ngợm dưới làng, nhưng nóc chưa bị dột, Gambetti ạ. Tôi đã tính thuê sửa chính ngôi biệt thự trẻ con này, tôi bảo với Gambetti, song người nhà tôi không cho, ai lại bỏ tiền vào một việc dớ dẩn như thế bao giờ. Mấy anh em chúng tôi còn chơi diễn kịch ở đấy khá lâu, trước khi bị cấm hẳn, bởi chúng tôi phải học nhiều hơn đóng kịch. Ngôi biệt thự bây giờ chết ngóm, tôi bảo với Gambetti, rõ thật tiếc. Lại đúng biệt thự cho trẻ em nữa chứ, ngôi biệt thự đẹp nhất vùng. Anh khó hình dung nổi sức hấp dẫn của nó kỳ lạ đến mức nào Gambetti ạ, nhất là ở cái xứ chẳng mấy ngôi nhà nào quyến rũ, vui tươi, chẳng mấy nhà cửa nào được xây theo lối kiến trúc cho thật sự ra hồn như xứ chúng tôi. Thôi được, biết đâu sau này tôi chả thuyết phục được người nhà tôi, tôi nói với Gambetti, cho tôi mở lại biệt thự trẻ em - vâng, sửa sang xong, rồi mở lại và cho khai trương bằng một vở hài kịch do bọn trẻ dưới làng đóng chẳng hạn. Tôi bảo Gambetti, một màn kịch do tụi trẻ con dưới làng diễn sẽ làm tôi sung sướng biết mấy - diễn trong những bộ hang phục cổ xưa hàng thế kỷ, những trang phục màu sắc rực rỡ ngần ấy, giàu sáng tạo nhường ấy, khéo léo, nên thơ nhường ấy. Nhưng bao giờ chả vậy, tôi bảo Gambetti, cái gì thật sự thi vị đều bị coi thường hơn mọi thứ khác, cứ như thể chẳng ai buồn màng tới cái thật sự thi vị. Ngôi biệt thự bị khóa chặt và để mặc cho mục nát dần đi ấy là một chương đáng buồn, nhưng cũng thú vị của lịch sử Wolfsegg chúng tôi, tôi bảo Gambetti, vâng, có lẽ là đáng buồn nhất thì đúng hơn. Tôi chẳng bao giờ đánh bạn với đám thợ săn, tôi nói với Gambetti, đến vào nhà họ tôi còn miễn cưỡng, trong khi đây lại là nơi gã anh tôi thích lui tới nhất. Giống như bố tôi, săn bắn sớm trở thành niềm ham mê thật sự và duy nhất của gã. Cho đến giờ vẫn vậy, tôi bảo Gambetti, hở lúc nào gã đi săn lúc ấy. Hàng năm ở Wolfsegg vẫn nhiều lần diễn ra các lễ hội đi săn, nhưng mấy năm gần đây, tôi chẳng buồn ló mặt đến nữa. Vào những dịp như thế, quý vị thuộc tầng lớp gọi là tầng lớp trên ở châu Âu đều kéo nhau cả về Wolfsegg, tôi nói với Gambetti, khiến suốt mấy ngày liền ở đấy léo nhéo bao nhiêu là thứ tiếng khác nhau, to nhất là tiếng lây Ban Nha, do họ hàng nhà tôi từ Bilbao hay Cadiz cũng về dự. Các lễ hội săn bắn này diễn ra nhu thế đều theo ý ông bố tôi, vợ ông có hậm hực, mặt nặng, mày nhẹ, ông cũng mặc; ông bảo truyền thống lâu đời của gia đình ở Wolfsegg là thế, không bỏ được. Vào những dịp này, khách khứa ở kín hết các phòng, kể cả phòng xấu nhất, lạnh lẽo nhất. Khách người Ý đến dự phần vào các dịp như thế cũng khá đông. Và, các kho chứa thức ăn thôi thì đều sạch nhẵn, mứt đóng lọ mở ra cả đống, thậm chí rau tươi, xà lách cũng được dọn ra. Do thích khu nhà thợ săn, gã anh tôi hay chui vào đấy làm các công việc của gã. Nhà thợ săn là nơi gã làm sổ sách kế toán. Tôi chẳng bao giờ ưa thú sưu tầm vật săn, tôi bảo Gambetti, từ xưa đến giờ, lúc nào tôi cũng ghê tởm trò sùng bái chiến lợi phẩm săn bắn. Đến ngay nghề đi săn đi bắn, trong bụng tôi cũng chẳng ưa và tẩy chay, mặc dù tôi vẫn biết săn bắn là cần. Gã anh tôi, cứ gặp dịp, là mò sang tận Ba Lan đi săn, thậm chí sang cả Nga. Gã say đi săn đến mức, cả cái gọi là chế độ cộng sản cầm quyền ở mấy nước đó cũng chẳng làm gã phải chờn. Phải chi bao nhiêu tiền cho săn bắn, gã cũng chi. Một đường gã si mê thuyền buồm, đường khác gã si mê săn bắn. Lúc nào cũng thấy gã đóng sắc phục thợ săn, tôi bảo Gambetti, thứ sắc phục từ lâu như thể đã biến thành quần áo dân tộc trên đất Áo rồi ấy. Bởi nó tiện, anh hiểu không, bất kể thuộc tầng lớp nào, ai nấy đều khoác quần áo thợ săn lên người, mặc dù họ có thể chả dính gì đến săn với bắn cả. Ai nấy độc một màu lục với màu xám suốt cả lượt, cứ như thể toàn dân tộc Áo bây giờ là dân tộc thợ săn không bằng. Đến như ở Wien, dân tình cũng đàn đàn lũ lũ diện quần áo thợ săn ra đường. Ở các thành phố khác cũng thế, cơn nghiện săn bắn dường như đang bốc lên làm ai nấy mụ mị cả đầu lẫn óc vậy, tôi bảo Gambetti, chứ nếu không, thì làm sao cắt nghĩa, cớ gì ở đâu cũng thấy lăng xăng toàn người mặc quần áo thợ săn ấy, ngay cả những nơi kiểu áo xống như thế trông chỉ tổ nhố nhăng, vâng, nhố nhăng và kỳ quái. Ngồi nhà thợ săn này mãi cuối thế kỷ trước mới xây, trên nền ngôi nhà cũ bị cháy. Trong đấy, cụ cố ông tôi có dạo đã cho lập một thư viện riêng. Anh cứ tưởng tượng mà xem, Gambetti, tôi bảo anh ta, lẽ ra đó sẽ là thư viện thứ sáu ở Wolfsegg đấy nhé, mới đầu toan định chỉ lưu các loại sách vở, tài liệu săn bắn, nhưng sau cũng lưu giữ cả những thứ khác nữa. Sau này, tôi tìm được ở đấy không biết nhiêu là của quý, tôi bảo Gambetti. Đấy đúng là nơi dành cho những ai không muốn bị quấy rầy, ngồi một mình một sách mà đọc thôi thật. Chẳng ma nào lai vãng đến ngôi nhà thợ săn, cũng chẳng phải ngại có ai đột nhập vào đây làm gì. Trong nhà đã thoáng đãng, ấm áp, trên tường lại treo những bức églomisé tuyệt vời, phần lớn do các nghệ nhân cao tay của thế kỷ mười bảy làm nên. Ở đây còn có bản sao cuốn Biên niên sử thế giới của Schedel do cụ cố bà tôi tô màu từ dạo xưa, đặt nằm trên mặt chiếc bàn giấy kiểu Josefin xuất xứ từ vùng Steyr. Mặt chiếc bàn này đúng là độc nhất vô nhị, tôi bảo Gambetti, xẻ từ đá cẩm thạch xứ Carrara - loại đá cẩm thạch cực hiếm ở vùng bắc núi Alpen - và dày phải hai chục phân là ít. Chú Georg tôi vẫn bảo, bên chiến bàn này, đúng trên mặt bàn đá cẩm thạch này, chính là nơi tuyệt vời nhất để chú ghi chép các luồng suy nghĩ của mình ra giấy. Và, cũng là trên mặt bàn đá cẩm thạch này thật, chú bắt tay viết bản thảo cuốn tự truyện, mà chính chú gọi là phản tự truyện, một bản thảo viết tay hàng mấy trăm trang, trong đó chú, từ những ngày ấy cho đến cả hơn hai chục năm ở Cannes về sau, vẫn không ngừng tự tay ghi lại tất tật những gì chú cho là đáng ghi. Thế nhưng, lúc chú qua đời, không ai trong chúng tôi tìm thấy bản thảo ấy đâu nữa cả; chỉ thấy mọi người xì xào ri tai nhau, hình như ngay trước khi mất, chú tự tay đốt nó đi rồi, bởi vì hai tuần trước đó, nghe nói chú vẫn còn ghi chép thêm đôi dòng, đôi dòng về Wolfsegg thì phải. Chính ông Jean tốt bụng có nhìn thấy những dòng viết thêm ấy, nhưng không thuật lại được nội dung nó thế nào, chỉ biết rất ngắn gọn và hết sức cô đọng. Tôi biết tính chú Georg tôi; tôi đồ chừng đấy phải là những lời ghê gớm lắm, khi đọc tới người nhà tôi hẳn phải uất hộc máu mà chết chứ chả chơi. Rất có thể, tôi bảo Gambetti, chính ông Jean tốt bụng cho giấu biến bản thảo đi. Thế nhưng, cũng không loại trừ khả năng chính mẹ tôi, chứ không ai khác, đã tiêu hủy nó. Thì mẹ tôi chả vẫn giữ chìa khóa vào phòng giấy chú Georg trước khi thu dọn mọi thứ ở đấy là gì. Mọi khi chú vẫn để nó trong ngăn kéo, thế mà chỉ hai ngày sau khi mẹ tôi vào phòng giấy của chú Georg, bản thảo chắc chắn thú vị của cuốn phản tự truyện không cánh mà bay, biến đi đằng nào không biết nữa. Trong cuốn phản tự truyện ấy, có lẽ mẹ tôi là người bị chỉ trích nặng lời nhất và tôi dám cho rằng bà làm bộ đau buồn, đóng chặt cửa phòng một lúc lâu để một mình ngồi đọc cho trọn xấp bản thảo đó. Chắc bà đã phải nổi đóa lên và thẳng thừng thanh toán ngay xấp bản thảo có cơ làm bẩn thanh danh bà. Suốt cả đời chú, lúc nào chú Georg cũng đổ hết lỗi lên đầu bà. Chú chả vẫn thường nói với tôi, mẹ cháu chính là mối tai ương của Wolfsegg đấy thôi. Cũng dám lắm, rằng chú cũng đã viết như thế vào cuốn phản tự truyện của chú. Mặt bàn bằng đá cẩm thạch Carrara đặt trên chiếc bàn giấy kiểu Josefin gốc gác Steyr ấy bao giờ cũng lạnh, lạnh như băng, tôi bảo Gambetti, dù trời đất xung quanh nóng lạnh thế nào cũng vậy. Ngay giữa mùa hạ, trong lúc ai nấy đều rên lên vì nóng nực, mặt bàn cẩm thạch Carrara vẫn lạnh băng. Chú Georg tôi vẫn ghi lại các ý nghĩ của chú trên chính mặt bàn lạnh như băng ấy. Chú thường nhắc đi nhắc lại, ngồi bên tấm đá cẩm thạch mát lạnh ấy, đầu óc sáng suốt hơn để nghĩ ngợi. Tôi bảo Gambetti, suốt những năm sau rốt, tuy vẫn còn ở Wolfsegg thật, nhưng trong lòng tôi, cố tình hay không, đã mãi mãi vĩnh biệt Wolfsegg rồi, thì cũng trên mặt bàn cẩm thạch Carrara đó, hồi ấy chính tôi vẫn từng ghi lại đôi điều tôi cho là đáng ghi, đôi suy tư mang tính triết lý, những suy tư quả thật chẳng đưa đến đâu và rốt cuộc, tôi cũng hủy bỏ nốt, như nhiều suy tư khác của tôi vậy. Trên một tấm đá lạnh, lạnh như băng càng tốt, ta dễ suy nghĩ mạch lạc hơn cả, tôi bảo Gambetti vậy, ta viết lách ngon lành, trôi chảy hơn cả. Tấm đá cẩm thạch Carrara ấy, tôi bảo Gambetti, quả là tấm độc nhất vô nhị, hết sức độc đáo. Chỉ nó mới thỉnh thoảng hấp dẫn tôi đến khu nhà thợ săn, chứ nếu không, như đã nói, nào mấy khi tôi đến đấy, vào mùa săn lại càng không. Cánh thợ săn là bạn bè của gã anh tôi, chứ không phải bạn bè tôi, tôi đã có mấy bác làm vườn của tôi rồi. Tôi thường lui tới nhà thợ làm vườn, hầu như ngày nào cũng tới. Đến nhà họ là tôi đến với người bình dân, tôi nói với Gambetti vậy, bởi tôi quý họ. Tôi thèm được đến đấy và không ở đâu tôi thấy thoải mái sung sướng bằng ở đó. Tôi quý người bình dân, quý cung cách giản dị của họ. Mỗi khi tôi đến chơi, họ đối xử với tôi thân thiết, y hệt như đối xử cỏ cây, hoa lá của họ. Họ thông cảm với tình cảnh khó xử, với nỗi hoang mang của tôi, mối thông cảm mà cánh thợ săn không khi nào có. Cánh thợ săn bao giờ cũng ra vẻ bề trên, kẻ cả với tôi, bọn họ nghĩ chắc họ phải nhét vào đầu một đứa trẻ con non nớt như tôi hồi ấy các chuyện tiếu lâm bẩn thỉu của họ mới được, hoặc phải mua vui cho tôi bằng cách vung vẩy vài chai rượu quá đầu họ là xong, trong khi cung cách đáng ghét ấy của họ, thật ra, chỉ tổ làm tôi, vốn đã thiếu tự tin và buồn nản, càng thiếu tự tín và buồn nản thêm mà thôi. Không như các bác làm vườn, chẳng cần nhiều lời, họ đã thông cảm với tôi và thể nào cũng giúp tôi. Từ đằng xa, lối huênh hoang, khoác lác của cánh thợ săn, cũng như kiểu nói năng ồn ào, nửa say nửa tỉnh của họ đã khiến tôi sợ hết hồn, trong khi các bác làm vườn, với cung cách nhạy cảm tình tế của họ, lại giúp tôi yên lòng. Khi nào tôi buồn rầu không chịu nổi nữa, khi nào tôi hết sức chán nản, là tôi tìm đến chỗ các bác làm vườn, chứ không bao giờ đến chỗ cánh thợ săn, tôi bảo Gambetti. Ở Wolfsegg từ xưa đến giờ vẫn có hai phe đối nghịch nhau, phe thợ săn với phe thợ làm vườn. Hàng thế kỷ nay họ vẫn phải ăn ở sát nách nhau, hẳn không phải dễ dàng. Chẳng lẽ không đáng lạ hay sao, tôi bảo Gambetti, khi thỉnh thoảng lại có tay thợ săn nào đấy tự sát, dĩ nhiên bằng súng, chứ thợ làm vườn không bao giờ như thế. Bao nhiêu vụ tự sát ở Wolfsegg đều do cánh thợ săn, không vụ nào của thợ làm vườn. Vài năm lại có một tay thợ săn nào đấy dùng súng tự vẫn, lại phải cho tìm người mới thế chân. Thợ săn không thọ lâu, ngày nối ngày, họ sớm đâm ra đờ đẫn, lẩm cẩm đi rất nhanh, tôi bảo Gambetti, rồi sinh ra rượu chè. Trong khi thợ làm vườn bao giờ cũng thọ lâu. số thợ làm vườn thọ đến chín mươi tuổi không phải hiếm, còn phần đông thợ săn đến tuổi năm mươi đã phải thôi việc rồi, bởi họ không còn sức để hành nghề nữa. Tay họ đâm ra run rẩy khi ngắm bắn; mới độ tứ tuần họ đã bắt đầu có triệu chứng rối loạn tiền đình, thế là, suốt ngày suốt buổi toàn thấy họ lê la các quán trọ dưới làng, ngồi lì cùng khẩu súng săn không thèm cài chốt an toàn trong một xó xỉnh nào đấy rồi vừa ăn uống nhồm nhoàm vừa ba hoa vớ vẩn về chuyện chính trường, những chuyện rồi thể nào cũng dẫn đến cãi vã to tiếng và tất nhiên, ở làng quê là thế, rốt cuộc sẽ ẩu đả to, không đổ máu chết người, cũng sứt đầu bể trán. Cánh thợ săn là bọn chúa hay cà khịa, hay gây rối. Ai ngứa mắt chúng, gặp dịp là chúng chả run tay làm một phát chết tươi, đến lúc có ra tòa thì trắng trợn khai, bẩm tòa con nhìn nhầm, con tưởng nạn nhân là thú rừng. Tòa án vùng Thượng Áo từng xử vô khối vụ tai nạn săn bắn kiểu như thế và, thông thường, thủ phạm gây án cùng lắm chỉ bị khiển trách, bởi phương châm xét xử nói chung vẫn là: ngu lắm mới bị thợ săn bắn nhầm. Bọn thợ săn bao giờ cũng là bọn cuồng tín, tôi bảo Gambetti thế. Thật vậy, có thể chứng minh rằng phần lớn tai họa của thế giới này đều do một tay tụi thợ săn gây ra cả. Tất cả bọn độc tài đều là bọn say mê săn bắn, chúng có thể trả mọi giá, kể cả giết hại chính dân mình, như ta vẫn chứng kiến đấy thôi, chỉ cốt để săn bắn. Bọn thợ săn từng là bọn phát xít, từng là bọn Quốc xã, tôi bảo Gambetti. Dưới thời Quốc xã, bọn thợ săn là bọn cầm đầu dưới làng và, rốt cuộc, cũng chính bọn thợ săn đã ép bố tôi phải ngả theo phe Quốc xã. Lúc phe Quốc xã lên, bọn thợ săn thắng thế, còn bố tôi vốn bạc nhược, đành luồn cúi bọn chúng. Như thế, chính do tụi thợ săn mà Wolfsegg nhanh chóng ngả hẳn về phe Quốc xã. Gambetti ạ, anh phải biết, bố tôi vốn bất đắc dĩ mà thành Quốc xã, vâng, tất nhiên, ông còn bị mẹ tôi xúi bẩy, kích động thêm vào. Vì, suốt thời Quốc xã, anh nên nhớ, mẹ tôi từng là một mụ Quốc xã điên cuồng, một mụ đàn bà Đức, như dạo ấy bà vẫn vênh vang hãnh diện. Nhân ngày sinh của Hitler, ở Wolfsegg bao giờ cũng treo đầy cờ Quốc xã, tôi bảo Gambetti, trông phát tởm lên được. Chú Georg tôi bỏ Wolfsegg ra đi, trước hết, chính vì chú không muốn, mà cũng không chịu nổi sự hoành hành trắng trợn của bọn theo chủ nghĩa Quốc xã ở đấy. Chú bỏ đến Cannes, sau về Marseille và hoạt động chống lại quân Đức từ đấy. Chuyện này là chuyện bố mẹ tôi khó bỏ qua cho chú nhất, bởi nói cho đúng ra, bố tôi hôm xưa không phải chỉ là tên Quốc xã bất đắc dĩ đâu, ông còn rất trung thành với Quốc xã là đằng khác, còn mẹ tôi trước sau vẫn là tín đồ cuồng nhiệt của chủ nghĩa Quốc xã mà thôi. Đó là thời kỳ kinh tởm nhất Wolfsegg từng trải qua, tôi bảo Gambetti vậy, thời kỳ hạ nhục, giáng đòn trí mạng vào Wolfsegg, một thời kỳ không thể cố tình lãng quên, không bao giờ bưng bít hay che giấu đi được nữa. Bởi đó là sự thật. Khi tôi bảo anh, sở dĩ bố tôi ân cần mời mọc bọn cầm đầu Quốc xã lên Wolfsegg chỉ vì mẹ tôi muốn thế, thì thú thật, đến tận giờ tôi vẫn ớn lạnh cả dọc xương sống. Anh cứ tưởng tượng ra cái cảnh bọn cảnh vệ SA từ dưới làng mò lên, xếp hàng xếp ngũ trong sân tòa nhà chính rồi ngoạc mồm hô Heil Hitler mà xem! Khỏi phải bàn, bố tôi chắc chắn đã hưởng lợi nhờ bọn Quốc xã. Ấy thế nhưng khi bọn nó cuốn đi, ông vẫn chẳng bị làm sao, tuyệt nhiên không hề hấn gì. Sau chiến tranh, ông vẫn mặc nhiên là ông chủ. Vậy mà, chính ông đã từng đem ngôi biệt thự của trẻ em hôm xưa hiến cho tụi Quốc xã làm nơi hội họp và, như tôi biết, ông hiến hoàn toàn tự nguyện, chứ không phải chờ đến mẹ tôi hối thúc, bắt buộc gì đâu. Bọn thiếu niên Quốc xã học hành, chơi bời ở đấy, tập hát, tập hò mấy bài hát Quốc xã quái gở của chúng ở đấy. Năm này qua năm khác, lá cờ chữ thập ngoặc không ngừng bay phần phật trước ngôi biệt thự trẻ thơ đó, mãi đến khi mẹ tôi hốt hoảng tháo xuống - vì chỉ còn vài giờ nữa là quân Mỹ sẽ tiến vào - thì nó đã gần bục hết vải, bạc hết màu rồi. Lúc tháo cờ, tôi bảo Gambetti, chả biết vội vàng thế nào, mẹ tôi bị vẹo cổ và, từ đấy, bà bị chứng thấp khớp cổ kinh niên. Cũng phải nói thêm là hàng tá lá cờ chữ thập ngoặc ở Wolfsegg dạo đó - sau khi mẹ tôi đích thân nhuộm các mảnh vải cờ ấy sang màu xanh đậm - thì đem may thành tạp dề cho đám thợ làm vườn và các bà, các cô phụ bếp. Vâng, tôi bảo Gambetti, bố tôi từng nghe lời mẹ tôi mà vào đảng Quốc xã và từ ngày vào đảng, tôi phải nói ngay, ông nghênh ngang đeo huy hiệu đảng mọi nơi, mọi dịp, không chút ngượng ngập nào. Cho đến giờ, đôi chiếc áo khoác của ông vẫn còn nguyên lỗ thủng, là do nhiều năm đeo huy hiệu đảng Quốc xã mà thủng, chứ chẳng vì lý do nào khác cả. Tôi còn nhớ, trong buổi chú Georg về thăm Wolfsegg lần chót, ở nhà tôi nổ ra cuộc tranh luận về đủ thứ chuyện trên trời dưới biển, nhưng gay gắt nhất vẫn là tranh cãi về cân bằng vũ trang Nga - Mỹ. Đến cuối buổi, chú Georg gằn giọng bảo bố tôi đừng nên quên ngày trước từng là đảng viên đảng Quốc xã - đảng viên khá lâu chứ không phải chỉ dăm ba ngày. Bố tôi nhảy dựng ngay dậy, giận dữ hất đổ đĩa xúp đang ăn dở rồi đùng đùng bỏ phòng ăn ra ngoài. Trước khi nối gót chồng ra theo, bà mẹ tôi còn ném thẳng mặt chú Georg tôi thằng khốn. Chuyến chú Georg về thăm Wolfsegg lần cuối, rốt cuộc, đã vì thế mà mất vui. Thật ra thì lần nào chú Georg về Wolfsegg cũng vậy, tôi bảo Gambetti, về cuối, hầu như bao giờ chủ nghĩa Quốc xã cũng là nguyên nhân đáng tởm khiến anh em hục hặc nhau. Bọn Quốc xã vừa cuốn gói, tôi bảo Gambetti, lũ người nhà tôi đã lại ôm chân quân Mỹ ngay và cầu lợi từ mối quan hệ bẩn thỉu ấy rồi. Từ xưa, người nhà tôi đã sẵn tính cơ hội, vâng, thứ bản tính có thể nói thẳng ra là hèn hạ ấy, cho nên chiều hướng chính trị thế nào họ cũng xoay ngay được sang chiều đó, và họ sẽ không từ bất cứ thủ đoạn nào đặng mưu lợi cho mình, bất kể chế độ cầm quyền là chế độ thế nào. Bao giờ họ cũng ngả ngay về phe cầm quyền, và vốn dĩ là người Áo bẩm sinh, họ chính là bậc thầy của hghệ thuật cơ hội chủ nghĩa vậy, gió chiều nào, xoay ngay chiều ấy, cho nên chẳng bao giờ họ bị thất sủng về chính trị cả. Vâng, tôi buộc lòng phải nói, chính nhờ bản tính yếu hèn nhu nhược ấy của dòng họ nhà tôi mà Wolfsegg, cho đến tận ngày nay, mới được bảo toàn như thế; ý tôi muốn nói tài sản ở đấy - nào nhà cửa, nào đất đai - chưa bao giờ bị đối phương bắn phá hay phóng lửa tiêu hủy cả. Sự thật bất ngờ nhất lại là: dưới thời Quốc xã, Wolfsegg đã từng đồng thời là pháo đài của cả chủ nghĩa Quốc xã, lẫn của Thiên chúa giáo. Các Tổng Giám mục và các thủ lĩnh Quốc xã vùng thay phiên nhau lên đây, cuối tuần này các vị nọ tấp nập khai hội thì cuối tuần sau các vị kia lại nườm nượp họp hành. Dạo ấy, mẹ tôi cầm trịch trong nhà, thu xếp mọi việc cùng đám thợ săn; đám này, cho đến tận giờ đầu óc vẫn sặc sụa mùi Quốc xã, chả khác gì mẹ tôi, mãi đến nay vẫn là một mụ đàn bà Quốc xã sâu xa trong tâm khảm, dù bên ngoài bà có giả vờ ngoan đạo đến thế nào cũng vậy thôi. Chủ nghĩa Quốc xã vẫn luôn luôn là lý tưởng của bà, tôi bảo Gambetti, cũng như nó vẫn là lý tưởng của ít nhất cũng phải chín chục phần trăm đàn bà Áo còn lại. Nói cách khác, tôi bảo Gambetti, cánh thợ săn bao giờ cũng về phe với mẹ tôi. Ông bố tôi, theo cách nói của bọn Quốc xã, suốt một đời chỉ giữ vai trò cơ quan thừa hành cho bà vợ thôi, Gambetti ạ. Lão ngốc, như chính bà vẫn thường văng ra, lão đã chẳng hiểu, chẳng biết của khỉ gì, thì tôi bảo sao phải làm vậy chứ sao. Kỷ niệm về ngôi nhà thợ săn khiến câu chuyện tôi kể lan man, lộn xộn thế này, tôi bảo Gambetti, bởi cứ nói đến ngôi nhà thợ săn là thời Quốc xã lại hiện ra rõ mồn một trước mắt tôi. Lẽ ra, tôi bảo Gambetti, tôi có thể kể anh nghe đôi câu chuyện khác về ngôi nhà thợ săn mà hồi nhỏ tôi vẫn thấy ghê ghê bí hiểm ấy. Chẳng hạn, kể anh nghe mấy vụ án mạng có liên quan đến cả ngôi nhà ấy lẫn đến tụi Quốc xã; nhưng vào lúc dù sao cũng vui vẻ thế này, tôi chả có hứng kể chút nào. Song, sẽ đến lúc, tôi nói với Gambetti, rồi tôi khắc ghi hết mọi chuyện dính dáng đến Wolfsegg vốn vẫn không để tôi yên ấy lại. Vâng, phải hàng chục năm nay rồi, Wolfsegg không để tôi yên, nó ám ảnh tôi cả ngày lẫn đêm. Người nhà tôi, chẳng ai có ý định mô tả Wolfsegg như đúng bản chất của nó, mà cũng chẳng ai có khả năng làm việc đó thật, thì rốt cuộc, việc ấy đương nhiên rơi vào tay tôi là phải rồi. Tôi bảo Gambetti, thì chí ít tôi thấy Wolfsegg thế nào, tôi khắc mô tả thế ấy, bởi vì ai cũng vậy thôi, chỉ có thể mô tả cái gì anh thấy, mô tả đúng mọi sự hiển hiện ra trước mắt anh ra sao, chứ anh không thể làm khác được. Và, nếu tôi buộc phải thú nhận với chính tôi rằng tôi chỉ nhìn thấy một Wolfsegg kinh khủng cùng những con người kinh khủng ở đấy, thì tôi, cố nhiên, cũng không được phép lảng tránh để ghi chép đúng sự thực đó. Tôi cầm chắc là chú Georg tôi cũng từng nuôi một ý định na ná như thế trong phản tự truyện của chú. Vì cuốn phản tự truyện của chú tôi không còn nữa, nên tôi bây giờ phải có bổn phận vô tư xem xét, nhìn nhận về Wolfsegg và trình làng kết quạ xem xét ấy một cách vô tư, không chút thiên vị. Còn lúc nào hơn lúc này nữa, tôi bảo Gambetti, khi tôi đã đủ sức, khi đầu óc tôi đã đủ minh mẫn, khi khoảng cách từ Rome đã đủ xa, để thực hiện một ý đồ như thế. Ở đây - trong ngôi nhà trên Piazza Minerva này, nơi nằm ngay giữa trung tâm của thế giới hôm nay - lại chính là nơi tuyệt vời, hoàn toàn yên lĩnh, hầu như không bị ai phá rối - để tôi bắt tay viết một bản tường trình như thế. Bao nhiêu năm nay tôi đã nuôi ý nghĩ, tôi phải viết về Wolfsegg, về con người ở đó, về cuộc sống của họ ở đấy, về các nỗi bất hạnh lẫn các thói tật đê tiện của họ, về sự cổ lỗ cũng như về sự đớn hèn của họ, có nghĩa về tất tật những gì họ tự phơi ra trước mắt, những thứ - tôi nói thật với anh, Gambetti à - ít nhiều đã làm tôi dằn vặt thâu đêm suốt sáng. Người nhà tôi thế nào, tôi sẽ gắng mô tả họ như thế, mặc dù, họ cũng sẽ chỉ được mô tả theo cách của tôi từng thấy họ thế nào, hay theo cách của tôi đang thấy họ ra sao mà thôi. Bởi vì cho đến nay, vẫn chưa có ai ngoài chú Georg tôi viết lách gì về họ, nhưng cuốn phản tự truyện của chú lại bị hủy mất rồi, cho nên tôi phải viết, Gambetti ạ. Điều khó khăn bao giờ cũng là mở đầu bản tường thuật ấy như thế nào, lấy đâu ra câu đầu tiên, vâng, câu mở đầu khả dĩ dùng được cho bản tường trình đó. Tôi thú thật với anh, Gambetti ạ, tôi đã rất nhiều lần bắt tay viết, nhưng lần nào tôi cũng thất bại ở ngay câu đầu tiên. Vậy là, hết lần này qua lần khác tôi đành chịu cứng, và lần nào cũng như lần nào lại ôm đầu tự rủa, có lẽ tôi điên thật, khi tôi định viết một bản tường trình như thế về Wolfsegg, bởi chỉ có thằng điên mới đâm đầu vào làm một việc tương tự. Mà viết để làm gì mới được, lần nào tôi cũng tự hỏi vậy, để rồi lần nào cũng như lần nào tinh ngộ ra rằng, một bản tường thuật như thế chẳng hề có lọi cho một ai hết cả. Ấy thế, nhưng đối với riêng tôi thì bao giờ cũng rõ như ban ngày và gần đây lại càng rõ, rằng bản tường thuật đó phải do tôi viết, rằng tôi không thể trốn tránh viết một bản tường thuật như vậy về Wolfsegg và, dù tôi muốn cưỡng lại thế nào thì cưỡng, đến một ngày nào đó tôi sẽ vẫn phải viết nó ra như thường. Đầu óc tôi đòi tôi phải viết. Và, đầu óc tôi đã trở nên không khoan nhượng tự lúc nào, nhất là với chính tôi. Khắt khe đến cực độ. Anh biết đấy, tôi bảo Gambetti, thời gian còn lại của tôi cũng chỉ còn cực kỳ ngắn ngủi, nếu tôi không nhanh tay bắt đầu viết, thì sẽ quá muộn. Tôi không chắc, tôi bảo Gambetti, song tôi linh cảm thấy tôi chẳng còn mấy thời gian. Vậy mà, một bản tường thuật như thế đòi người viết phải lao tâm khổ trí với nó hàng năm, không phải chỉ vài ba năm, mà thậm chí nhiều năm. Tôi bảo Gambetti, chỉ phang phác ra thôi ắt không đủ. Cái duy nhất mà tôi đã tuyệt đối chắc trong đầu là nhan đề Diệt vong, bởi bài tường thuật tôi viết ra sẽ chỉ để xóa sổ tất cả những gì được tường thuật trong đó mà thôi, tẩy diệt sạch sành sanh những gì tôi biết về Wolfsegg, tất tật những gì thuộc về Wolfsegg, tất tật, anh hiểu không, Gambetti, sạch nhẵn, không để sót bất kỳ cái gì. Sau bản tường thuật này, tất tật những gì thuộc về Wolfsegg sẽ phải bị tận diệt. Bản tường thuật của tôi sẽ không là cái gì khác ngoài hành động tận diệt cả, tôi bảo Gambetti. Nó sẽ xóa sổ Wolfsegg hoàn toàn, có thế thôi. Tôi ngồi với Gambetti trên Piazza del Popolo đến gần mười một giờ tối, tôi vừa nhìn mấy tấm ảnh đặt nằm trên bàn giấy, vừa nghĩ bụng. Chúng ta, ai nấy đều mang theo mình một Wolfsegg đi khắp nơi và ai cũng khao khát xóa sổ nó, để thoát thân, xóa sổ nó bằng cách viết nó ra, để tiêu hủy nó đi. Ấy vậy, nhưng hầu như không bao giờ ta đủ sức để hoàn thành cuộc xóa sổ ấy. Có lẽ, mãi đến bây giờ, thời khắc ấy mới điểm chăng. Tôi đã đến đúng độ tuổi, tôi đã bảo Gambetti, độ tuổi vừa đẹp cho công việc đó. Trong căn hộ tranh tối tranh sáng của tôi ở Piazza Minerva, rèm cửa đã hạ xuống gần hết, tôi nói với anh ta, để tôi được yên tĩnh, để tránh bớt nắng thành Rome và bắt tay vào việc. Không rõ cái gì đã ngăn trở tôi bắt tay ngay vào việc, tôi bảo Gambetti, rồi nói thêm: ta thường đinh ninh, ta có thể bắt tay thực hiện ngay một ý định như thế, nhưng rồi lại thôi, không bắt đầu được. Mọi sự đều chống lại ta, đều cưỡng lại một ý định kiểu như vậy, khiến ta luôn chần chừ, và rốt cuộc, bỏ dở cho công việc nằm lại đó. Cứ như thế, nhiều hoạt động tinh thần đáng nhẽ phải viết ra thành văn bản, rốt cuộc lại không được viết ra nữa, cũng như biết bao nhiêu phác thảo ta ấp ủ trong đầu rất lâu, hàng năm, có khi hàng chục năm, cứ thế mà nằm lại mãi trong đầu ta. Ta viện đủ cớ để chưa phải bắt tay ngay vào những việc như vậy, ta bới ra đủ lời biện bạch, ta cầu cứu đủ loại thánh thần - cố nhiên, làm những việc như thế, ta chỉ dám cầu cứu các hung thần mà thôi - cốt sao trì hoãn được những việc lẽ ra ta đã phải bắt đầu từ lâu. Tôi bảo Gambetti, tấn bi kịch của người nào định viết lách chính là ở chỗ anh ta sẽ luôn luôn cầu bằng được một kẻ ngăn trở anh ta đặt bút viết, đúng vậy, đó là một tấn bi kịch, nhưng đồng thời cũng là một tấn hài kịch hoàn hảo và hết sức hiểm độc. Rồi thể nào cũng phải thảo được một văn bản, nếu không thật đầy đủ, thì cũng khả dĩ chấp nhận được về Wolfsegg, cái chốn mà tôi đã kể anh nghe không biết bao nhiêu điều về nó, Gambetti nhỉ, cái chốn mang thật nhiều ý nghĩa đối với tôi và, có lẽ, cũng là nơi quan trọng hơn bất kỳ nơi nào khác trong đời tôi ấy. Sẽ không đủ đâu, nếu chỉ dùng vài mảnh giấy con con ghi chép đôi dòng về một thứ thật hệ trọng cho ta, một thứ có thể là hệ trọng bậc nhất cho ta cũng nên ấy, tôi bảo Gambetti, tức là về toàn bộ hội chứng cội nguồn của chúng ta. Sẽ không thể đủ, nếu chỉ ghi chép dày đặc hàng trăm, hàng ngàn mảnh giấy về đề tài ấy, một đề tài của cả cuộc đời ta. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, quả thực chúng ta sẽ phải trình làng một bản tường trình đầy đủ hơn, nếu không phải là dài hơn, về cái thứ sinh ra ta, cấu thành nên ta và ghi dấu ấn lên ta suốt cả cuộc đời. Rất có thể nhiều năm qua ta đã chùn tay, có thể ta đã co rúm lại trước một nhiệm vụ quá sức người như thế, thế nhưng rốt cuộc rồi ta sẽ phải bắt tay thực hiện thôi. Tôi có bầu không khí thành Rome này để làm gì, tôi thuê căn hộ ở Piazza Minerva này để làm gì, tôi bảo Gambetti, nếu không phải là để thực hiện mục tiêu đó. Song, có lẽ tôi đã suy đi nghĩ lại chuyện này nhiều quá rồi, không khéo lại làm tôi nhụt chí. Tôi bảo Gambetti, tôi sẽ gọi bản tường thuật này là sự tận diệt, bởi trong đấy, quả thật, tôi sẽ hủy diệt hết thảy. Tất cả những gì tôi sẽ viết trong bản tường trình này, sẽ bị tuyệt diệt. Toàn bộ gia đình tôi cùng cuộc đời họ sẽ bị tuyệt diệt. Wolfsegg sẽ bị tuyệt diệt trong bản tường trình này, theo cách của tôi, Gambetti ạ. Tôi nợ chú Georg tôi món nợ này. Nằm ở Cannes, tôi bảo Gambetti, chú Georg tôi vẫn viết được bài mô tả Wolfsegg, thì ở Rome, tôi cũng phải viết được, thậm chí còn ở vị trí độc lập hơn, trung thực hơn. Thành Rome, tôi bảo Gambetti, chính là nơi tuyệt vời để tiến hành cuộc tuyệt diệt từ lâu tôi vẫn ấp ủ trong đầu. Bởi vì Rome không phải là thành Rome cũ, không phải thành Rome cổ đại của lịch sử thế giới hôm xưa nữa, y như ta vẫn chứng kiến, như ta vẫn hàng ngày hàng giờ cảm nhận dược, hếu ta biết để ý - chính Rome mới là trung tâm hiện nay của thế giới, tôi bảo Gambetti. Trung tâm hiện nay của thế giới không phải New York, không phải Paris, không phải London, không phải Tokyo, không phải Bắc Kinh, không phải Moskva, như ta vẫn đọc, vẫn nghe nói ở khắp nơi. Không đâu, Rome mới là trung tâm, hiện nay Rome đã trở lại thành trung tâm rồi. Tôi không chứng minh được điều đó, ít nhất là vào lúc này, bằng lời lẽ của tôi, song tôi cảm nhận được điều đó. Anh chắc không tin, tôi nói với Gambetti, nhưng đúng là ở Piazza Minerva, tôi đã thành một con người mới rồi. Mãi ở đây tôi mới tìm về lại với tôi; sau một quãng thời gian khá dài bôn ba chỗ này chỗ kia, tôi tự đánh mất mình, đánh mất mình cùng tất cả những gì thuộc về tôi. Và, suốt bấy nhiêu năm tháng, tôi không còn tin vào sự giải thoát nữa, lúc nào tôi cũng chỉ nhìn thấy sự suy sụp của tôi, sự tận số của tôi, chỉ nhìn thấy tôi chết teo chết tóp ra sao thôi, Gambetti ạ, teo tóp dần dà, chậm rãi. Suốt những năm tháng đằng đẵng ấy, tôi chỉ nhìn thấy tôi tiêu tan dần ra sao, chết héo chết mòn như thế nào, chỉ nhìn thấy cái chung cuộc không thể níu kéo đang dần đến và mọi thứ trong tôi thật sự trở thành vô nghĩa. Ở Paris, ở Lisbon tôi đều không tìm thấy thứ tôi từng tìm kiếm suốt bấy nhiêu năm tháng, tức là một chỗ dựa mới, một nơi khởi đầu mới. Nhưng ở Rome, tôi lại tìm thấy nó. Vậy mà lúc đầu, tôi vốn không trông chờ gì ở Rome cả. Tôi cứ nghĩ, thành phố này chắc chỉ để giải trí cuối tuần là tốt, chứ làm gì hơn. Giỏi lắm, cũng làm nơi choi bời, nghỉ ngơi vài tháng là cùng, chứ làm gì ở đây được. Cũng phải nói ngay rằng chính do gợi ý của chú Georg mà rốt cuộc, tôi rời Lisbon, vốn là thành phố tôi rất thích, để về Rome. Đẹp thế nào thì đẹp, chú Georg bảo tôi vậy, Lisbon vẫn chỉ là một thành phố tỉnh lẻ, địa phương mà thôi, còn Rome là thành phố ở tầm quốc tế, à - chú vội chữa lời - một thành phố gọi là có tầm cỡ quốc tế thì đúng hơn. Thế nên tôi về Rome, những mong trì hoãn được ít nhiều quá trình mục rữa đang không ngừng diễn ra trong tôi, chứ không nuôi chút hy vọng được cứu vớt nào. Ấy vậy mà quyết định về Rome của tôi, hóa ra, lại làm đổi mới cuộc đời tôi, tạo ra một bước có thể gọi là bước ngoặt trong đầu óc. Đột nhiên tôi thở phào, như trút được gánh nặng. Một thành phố ồn ào, ồn ào đến kinh khủng thế này, một thành phố hôi hám thế này, lúc đầu tôi nghĩ vậy, Gambetti ạ, song tôi lại nhận ra ngay đây đúng là thành phố hợp với tôi, thành phố duy nhất tôi cần, thành phố sẽ cứu vớt tôi. Rome, tôi lại bắt tay làm những việc mà bao nhiêu năm nay không sao làm nổi nữa, là ghi chép, là bắt đầu suy nghĩ lại về nhiều thứ khác nhau, chứ không phải chỉ đờ đẫn nghĩ độc đến giờ tận số của mình nữa mà thôi. Đúng là nghĩ ngợi đủ thứ, đủ điều, Gambetti ạ. Đột nhiên, tôi lại quay ra để tâm đến mọi thứ, đến mọi người, thậm chí đến cả tình hình chính trị, là thứ bao nhiêu năm trời nay tôi không còn màng đến nữa; vâng, tôi để ý đến cả những thứ gọi là đối tượng của nghệ thuật, và còn để tâm, để mắt đến người này người nọ, Gambetti ạ. Quả thật, nhiều năm qua, đến cả người, tôi cũng chẳng còn thiết đến ai, ai đối với tôi cũng từng là gánh nặng khó chịu và chẳng khơi gợi được chút hứng thú nào trong tôi. Ở Rome, lần đầu tiên sau bao nhiêu năm, tôi mới lại đi nhà hát. Đi nghe opera, Gambetti ạ, là thứ nhiều năm tôi trốn tránh như trốn tránh dịch hạch. Và, tôi cũng lại bắt đầu đọc sách. Thì ròng rã bao nhiêu năm nay rồi, ngoài báo chí, tôi còn đọc gì khác nữa đâu? Vầng, tôi lại giở sách ra đọc, Gambetti ạ, sách thật sự, chứ không phải mấy thứ nhật báo mà lâu nay tôi ngày này qua ngày khác vẫn đọc ngấu đọc nghiến và nhồi đầy, nhét chặt toàn những thứ bẩn thỉu kinh người đăng trong các tờ báo ấy vào mình, chỉ cốt làm sao không vì buồn chán mà lăn ra chết thôi. Đúng thế thật Gambetti ạ, bao nhiêu năm tôi đã buồn phát chết đi được. Mọi thứ buộc phải làm tôi buồn chán, bởi tôi không tìm ra cách nào để giải trí nữa cả. Tôi đã lảng tránh mọi người, mọi thứ, thậm chí cả khí trời, khiến thân thể tôi rốt cuộc cũng phải héo hon dần. Vâng, tôi thật sự lâm bệnh, và từ đấy, tôi chỉ còn tìm đến các thầy thuốc, tìm đến nơi không có ma nào khác ngoài thầy thuốc cả. Quanh tôi chỉ còn rặt các thầy thuốc, và tôi chỉ còn độc những chuyện về bệnh tật, tất nhiên phần lớn là các thứ bệnh không rõ là bệnh gì của chính tôi để nói với họ - toàn các thứ bệnh nan y, hay như bọn họ vẫn nói, các thứ bệnh gây tử vong của chính tôi. Và, còn gì đáng sợ hơn nữa không, là phải chuyện trò với các thầy thuốc, lũ người nói chung là tẻ nhạt nhất trên quả địa cầu này, bởi bọn họ là bọn thờ ơ và bàng quan nhất đời. Lũ thầy thuốc là lũ người hết sức tẻ nhạt để anh chuyện trò, tẻ nhạt đến mức anh không tưởng tượng nổi đâu, nhưng đồng thời, bọn chúng cũng là bọn trò chuyện nham hiểm và độc ác nhất, bởi lúc nào chúng cũng chỉ khăng khăng một mực, anh sẽ chẳng còn sống bao lâu nữa đâu, vả lại, một khi cuộc đời chỉ còn loay hoay với chính mình và bệnh tật như thế, ghê rợn, khốn khổ, vô nghĩa và tai quái như thế - thì cũng chẳng đáng để kéo dài thêm làm gì. Tôi co người, rúm ró, lay lắt trong các căn hộ ở Paris, Madrid hay Lisbon, các lối đi về duy nhất còn lại của tôi là các đường phố dẫn tới bưu điện, nơi tôi đến để xem xem đường dây chuyển tiền từ Wolfsegg đến cho tôi còn hoạt động bình thường hay không nữa thôi, sống như thế chán lắm, chán đến nỗi, dạo ở Lisbon hay Madrid tôi chỉ còn đi đi về về giữa một bên là bọn bác sĩ độc địa và tham lam hám tiền với bên kia là bưu điện thành phố mà thôi. Ở Napoli, nơi tôi ở một thời gian cũng y như vậy, chẳng khác gì, tôi bảo Gambetti, nhưng Napoli không hợp với tôi, khí hậu ở đấy tôi không chịu được, vả lại, nói gì thì nói, nó quá ư tỉnh lẻ. Nếu tôi có bảo Napoli quá ư tỉnh lẻ, thì anh cũng phải tha lỗi cho tôi, Gambetti ạ, bởi tôi không nói thế nào khác đi được. Đối với tôi, ngắm ngọn núi lửa Vesuvio là một tai họa, bởi vì, chắc cũng phải cả triệu, có khi cả tỉ người từng ngắm nó rồi. Suốt những năm tháng gần đây, trước khi về Rome ở, tôi chỉ còn để tâm vào một mình tôi, song, cũng chính vì vậy mà tôi lại tự bỏ bê chính mình một cách thô bạo nhất, không thể tha thứ được nhất. Tôi đã để mặc cho tinh thần đồi bại, thể chất sa đọa. Vâng, tôi trở thành kẻ hoàn toàn sa đọa. Bệnh hoạn từ đầu đến chân, lại cố chấp và hay nghi kị đến mức không chịu nổi như thế, tôi gần như chết ngạt trong quá trình tự quan sát và tự đánh giá mình không ngừng ấy. Tôi quên khuấy đi rằng, ngoài thế giới đáng ghê tởm của tôi ra, còn một thế giới khác nữa, không đáng ghê tởm đến vậy. Và, đáng trách hơn cả là tôi đã quên hẳn cuộc sống tư duy, tôi quên hết các triết gia của tôi, các nhà thơ, các nghệ sĩ của tôi, Gambetti ạ. Vâng, có thể nói, tôi đã quên hẳn cái đầu tôi. Tôi bấu chặt vào thân thể ngày một trở nên bệnh hoạn của tôi, và trong lúc không buông tay bấu víu suýt nữa tôi đã tự hủy hoại cả chính mình. Mãi cho đến lúc tôi đến Rome. Mãi đến lúc anh Zacchi, bạn tôi, lo được căn hộ trên Piazza Minerva cho tôi, vì như anh cũng biết, lúc đầu tôi còn ở trong Hassler, không phải ở khách sạn de la Ville như chú Georg, không, do cái chứng vĩ cuồng cố hữu, nên tôi cứ phải ở Hassler mới chịu. Ngay từ giây phút đầu tiên, phóng tầm mắt từ Hassler qua quảng trường spagna xuống thành Rome, tôi hít một hơi thở sâu và lập tức có ngay cảm giác thoát nạn. Ngay trong khoảnh khắc đầu tiên ấy, tôi đã nghĩ ngay, tôi sẽ không rời khỏi nơi đây nữa. Tôi đứng bên cánh cửa sổ mở toang và tự nhủ, ta đã về đây và sẽ ở lại đây, không có gì khiến ta rời khỏi nơi đây cả. Và, quả nhiên, điều tôi tiên liệu đã đúng, tôi ở lại Rome, không rời đi đâu nữa. Mặc dù tôi đã yêu thích tất cả những thành phố tôi từng sống, song, không nơi nào có tác động sâu xa nhường ấy đến tôi, không nơi nào có ý nghĩa sống còn đến vậy đối với tôi. Tôi đã ở, đã sống rất lâu hay khá lâu ở tất cả những thành phố kia, nhưng không ở đâu tôi có cảm giác đấy là thành phố của mình, nhà của mình cả. Dù tất cả các thành phố ấy đều chiếm một phần trong trái tim tôi - như thiên hạ thường quen nói, mà chẳng nghĩ ngợi gì - thì cũng chẳng có thành phố nào trở thành thành phố của tôi cả. Các thành phố ấy, nhất là Lisbon, rồi Warsawa, Krakow hay Palma, rồi cả Wien lẫn Paris, hay London và thậm chi Palermo - thành phố nào tôi cũng yêu, cũng thích, nhưng từ giờ tôi sẽ chẳng bao giờ dừng chân lâu ở những nơi đó được nữa. Tôi đã để chúng lại sau lưng tôi mà không hề có chút cảm giác vừa đánh mất thứ gì đó rất riêng tư, thứ gì đó chỉ thuộc về riêng mình cả. Đôi khi tôi cũng nghĩ bụng, giá có ở lại Lisbon, có lẽ rồi mình cũng trụ được lâu như ở Rome, nhưng tôi lại nhớ đến chú Georg với lời bình thật đích đáng của chú về thành phố tôi cho là tuyệt vời nhất trong mọi thành phố này. Lisbon, quả thật, còn đẹp hơn Rome, nhưng nó đúng là thành phố tỉnh lẻ. Tôi đã trải qua một quãng đời đẹp đẽ ở Lisbon, nhưng đó không phải quãng đẹp nhất, như ở Rome đây. Lisbon là nơi kiến trúc hòa trộn với thiên nhiên ở mức độ tuyệt hảo, Gambetti ạ, thật tiếc là anh chưa có dịp đến Lisbon. Nơi đó từng là những năm tháng đẹp đẽ nhất của tôi, có lẽ cũng là sung sướng nhất. Thế nhưng, xét cho cùng, Lisbon rốt cuộc vẫn không phải là thành phố hoàn hảo cho đầu óc tôi, trong khi Rome luôn luôn là nơi hoàn hảo như thế và, chính vì vậy, nó mới là nơi đầu óc tôi cần. Rome là thành phố dành cho đầu óc tư duy. Nó vốn đã là một thành phố lý tưởng cho nền tư duy cổ đại; đối với nền tư duy hiện đại cũng thế, nó lại đóng vai trò hoàn hảo đó, nhất là lúc này, khi tình hình chính trị ở đây rối ren, hỗn loạn, thì nó lại càng hoàn hảo cho đầu óc tư duy. Mỗi khi thầm bình chọn một thành phố lý tưởng và hoàn hảo cho tư duy đầu óc, tôi lại tự nhủ, chỉ có Rome mới đúng là thành phố như thế - dứt khoát và chắc chắn như thế - không thành phố nào khác được như vậy cả, đến như New York cũng không. Ở đây bùng nổ các cảm xúc mạnh mẽ, nên hợp với tôi. Ở đây, thành phố sôi động, dễ bùng nổ, khiến tôi yêu mến, Gambetti ạ. Đến đây tôi chợt nghĩ, hóa ra mình đã kéo Gambetti ra khá xa khỏi vòng tay bố mẹ anh, và tôi tự hỏi, không rõ mình có thể, hay mình được phép kéo anh ta ra xa chừng nào, khỏi vòng ảnh hưởng của bố mẹ và thế giới của họ - tức là ra khỏi các ý đồ của họ. Song, ngay sau đó, tôi lại thấy mình rõ lẩn thẩn, thậm chí thấy bực mình vì đã suy nghĩ dớ dẩn như thế, bởi vì mối quan hệ giữa tôi với Gambetti, đương nhiên, sẽ kéo anh ta ra khỏi vòng tay bố mẹ và các ý đồ của họ. Dạy anh học tiếng Đức, ấn vào tay anh ta hết Luật sư Siebenkäs đến Vụ án, tôi cứ làm như thể chỉ muốn đưa anh tiếp cận, rồi dần dà thông thạo nền văn học Đức mà thôi, nhưng thực ra, tôi đã kiên tâm bền bỉ lôi anh ta ra khỏi vòng ảnh hưởng của bố mẹ cũng như các ý đồ của họ, tôi nghĩ bụng, tôi đã xử sự như thể tôi có quyền làm việc đó không bằng, như thể tôi có quyền lôi kéo anh ta mỗi ngày một xa khỏi thế giới của họ - một thế giới, xét cho cùng, hoàn toàn tương phản với thế giới của tôi. Nói cách khác, hiện giờ tôi đang làm với Gambetti cái việc tôi đã làm từ lâu với chính mình, khi tôi rời bỏ Wolfsegg ra đi. Cái gì hồi xưa tốt lành cho mình thì cũng tốt lành cho Gambetti, tôi nghĩ vậy. Mình đang đóng vai chú Georg hôm xưa; những suy nghĩ, khám phá và tiết lộ của chú về Wolfsegg dạo ấy từng xua mình khỏi Wolfsegg và khiến mình không thể ở lại đấy được nữa, thì bây giờ, mình đang xua Gambetti. ra khỏi thế giới bố mẹ anh ta, hệt như chú Georg ngày xưa xua mình khỏi Wolfsegg. Song, tôi đã không cố tình kéo Gambetti ra khỏi thế giới của bố mẹ anh ta, tôi nghĩ bụng, mọi sự cứ vậy mà tự diễn ra, nằm ngoài chủ định ban đầu của tôi, hay nói cách khác, trong quá trình tôi dạy bảo Gambetti, nó tự diễn ra lúc nào không hay. Lúc tôi dúi cuốn Luật sư Siebenkäs vào tay Gambetti và dặn anh ta, bao giờ đọc xong hãy nhớ đặt câu hỏi cho sát với tác phẩm đó, sự chú ý của Gambetti, hay đúng hơn niềm hào hứng của anh ta không lớn bằng lúc anh ta nghe tôi diễn giải cách nghĩ của tôi về việc nên thay đổi thế giới bằng cách nào, theo đó, trước hết, ta phải phá hủy nó tận gốc, thậm chí tiêu hủy sạch sành sanh, để rồi bắt tay kiến tạo nó lại từ đầu - theo cách thức mà tôi khả dĩ chấp nhặn được - thành một thế giới hoàn toàn mới, mặc dù tôi không thể nói phải làm việc đó như thế nào, tôi chỉ biết duy nhất một điều là phải hủy diệt hoàn toàn thế giới đi đã, rồi xây dựng lại từ đầu, bởi vì, nếu thế giới không bị hủy diệt một cách triệt để, thì không thể đổi mới được nó. Đầu óc Gambetti đã tiếp nhận khá nhiều thứ từ đầu óc tôi, tôi nghĩ bụng, nay mai, trong đầu anh ta không khéo lại nhiều ý tưởng của tôi hơn ý tưởng của chính anh ta cũng nên. Dõi theo một diễn biến như thế, tôi tự nhủ, bố mẹ anh ta hẳn không khỏi khó chịu và lo ngại. Họ chẳng thích gặp tôi như Gambetti vẫn bảo. Tuy có mời tôi đến nhà ăn cơm thật, nhưng trong bụng, thật ra họ chỉ mong sao quỷ tha ma bắt tôi đi, bởi vì từ nhiều năm nay rồi, ông bà đã xem tôi là kẻ xúi giục thằng con độc nhất của mình, thằng con bây giờ đã lớn phổng lên, cao hơn ông bà hẳn cái đầu. Ông bà đâm hốt hoảng, bởi rốt cuộc, trái với ý định ban đầu, hóa ra ông bà lại sinh thành một nhà triết gia, một nhà cách mạng tương lai, một kẻ thay vì suốt đời nhắm mắt bám đuôi họ, sẽ lại lăm le chờ ngày tiêu diệt họ. Giờ họ đổ hết lên đầu tôi cái tội, không những là kẻ quyến rũ thằng con, dĩ nhiên, rất đáng yêu của họ, mà rất có thể, cũng là kẻ hủy diệt con họ, và do đó, tất nhiên cũng là kẻ sẽ hủy diệt cả họ, một kẻ chính họ đã tự rước vào nhà họ đã đành, lại còn trả lương rất hậu nữa, bởi những giờ tôi dạy Gambetti không rẻ chút nào, tiền công dạy học tôi đòi trả trội hơn hẳn giá cả thông thường, nhưng bố mẹ Gambetti khá giả, tôi tự nhủ, tiền công tôi đòi tuy cao, tôi vẫn chả việc gì phải băn khoăn, cho dù số tiền ấy, tôi chả cần. Tiền nong tôi dư thừa, nhưng bố mẹ Gambetti chỉ ngờ ngợ, chứ không chắc như thế. Gambetti thì biết rõ. Có lần anh ta bảo tôi, bố mẹ tôi mà biết thầy giàu thế, chắc chắn ông bà đã chẳng chi xu nào và cũng chẳng cho tôi học thầy. Do ông bà không biết thực hư thế nào, nên cứ tưởng mình đang hào phóng lắm, rồi tự coi mình như Mạnh Thường Quân, chứ đúng ra, các giờ học này đã làm họ lo ngay ngáy từ lâu. Vả lại, đóng vai vị Mạnh Thường Quân hào phóng như thế, tất nhiên, ít nhiều họ cũng muốn tự làm yên lòng, muốn lảng đi khỏi mối lo canh cánh họ trả lương thầy dạy con không phải là việc tốt lành mà chỉ gây hại. Riêng Gambetti lại coi việc bố mẹ vung tiền phí của cho tôi lôi kéo anh ta khỏi vòng ảnh hưởng của họ và gieo rắc vào đầu anh ta những tư tưởng sau này chắc chắn sẽ bùng lên dữ dội chống lại họ và mọi thứ trong thế giới của họ, là việc hoàn toàn ổn, chẳng cần bàn cãi gì. Nhưng có lẽ, họ không thể chỉ xem tôi là anh giáo tiếng Đức vô hại từ bên Áo xuống đây mà thôi, tôi nghĩ bụng, bởi tôi là kẻ thế nào, làm những trò gì, đều rõ mồn một Thành ra, tôi chẳng việc gì phải tự trách mình, ở cương vị thầy giáo, ngoài các kiến thức về văn học Đức, còn nhồi nhét vào đầu Gambetti thêm cả các suy nghĩ của tôi về phương thức biến đổi thế giới, tức cũng đồng nghĩa với hủy diệt nó. Nói của đáng tội, tôi nghĩ bụng, nào tôi có luồn lách hay cưỡng ép họ đâu. Nhờ anh Zacchi mách, Gambetti tìm đến tôi; rồi bố mẹ anh ta khẩn khoản xin tôi dạy con trai họ, còn tâng tôi làm ông thầy lý tưởng cho Gambetti nữa. Mà tự tôi, tôi cũng cảm thấy mình là thầy giáo lý tưởng của Gambetti thật. Và Gambetti cũng cùng một cảm giác ấy với tôi. Những gì tôi khiến bố mẹ anh ta mỗi ngày một thêm kinh sợ, thì Gambetti lại cho là cần thiếtlà tất yếu. Gambetti thường nhắc đi nhắc lại, tôi dạy anh ta một cách rất hợp lý và nhất quán; vả lại, chính anh ta, thực ra cũng hiểu ra rằng nền văn học Đức, nền văn học chỉ do ngẫu nhiên mà anh ta chọn làm môn học ấy, nói cho cùng, cũng chỉ là tấm bình phong che giấu những gì tôi thật sự muốn truyền dạy cho anh ta - tức là những ý tưởng, những suy nghĩ của tôi, mà dần dà, rồi anh ta cũng thấm thành của chính mình ấy. Chúng ta phải từng bước, từng bước chối bỏ tất thảy - trên đồi Pincio tôi nói vậy với Gambetti - ta phải dần dần chống lại tất cả và cùng tác động vào quá trình hủy diệt chung đang diễn ra trước mắt ta, kết liễu và sau rốt sẽ có thể hoàn toàn tiêu diệt được cái Cũ, dành chỗ, mở đường, cho cái Mới. Ta phải bỏ, phải hủy cái Cũ đi, dẫu cho quá trình hủy diệt đó có đau đớn đến mấy cũng vậy, để dọn đường cho cái Mới, mặc dù chúng ta cũng không thể biết trước được cái Mới ấy là cái gì. Nhưng chúng ta biết, mọi sự rồi sẽ phải như vậy, Gambetti ạ, tôi nói với anh ta, không còn đường thoái lui nữa. Khi chúng ta nghĩ như vậy, tất nhiên, vô hình trung ta đã kích động cái Cũ chống lại ta, tức cũng có nghĩa, kích động mọi thứ chống lại ta rồi. Song, điều đó không được phép cản trở ta phá hủy cái Cũ, thay nó bằng cái Mới ta hằng mong đợi. Phải vứt bỏ tất cả, tôi bảo Gambetti, cự tuyệt hết thảy và, xét cho cùng, phải tận diệt sạch sành sanh, Gambetti ạ. Đứng trên cao nhìn xuống Piazza Minerva, bỗng nhiên tôi lại thấy mình đang kể cho Gambetti nghe về một giấc mơ, trong đó tôi mơ mình đang cùng mấy bạn học thời sinh viên - Eisenberg, có cả Maria lẫn Zacchi nữa - lang thang trong một nhánh phụ của thung lũng Gröden. Giấc mơ này, tôi bảo Gambetti, lần đầu tôi mơ cũng phải bốn, năm năm trước rồi. Trong mơ, tôi còn rất trẻ, tôi bảo Gambetti vậy, chỉ độ hai mươi, hai mốt gì đó thôi, Eisenberg ngang tuổi tôi, còn Maria cũng chẳng lớn tuổi hơn bao nhiêu. Bọn tôi thuê phòng tại một nhà trọ nhỏ, tên là Zur Klause. Đến giờ tôi vẫn thấy biển hiệu nhà trọ rõ mồn một trước mắt, tôi bảo Gambetti, y như thấy lần đầu vậy. Tôi rất hay nhớ đến giấc mơ này và lần nào cũng như lần nào, đều muốn chìm mình trở lại vào giấc mơ đó. Bây giờ ý muốn đó còn mãnh liệt hơn bao giờ hết, bởi vì, trong khi vẫn cầm bức điện tín trên tay, tôi chỉ muốn tìm mọi cách để không phải nghĩ đến nó nữa. Giấc mơ ấy đối với tôi có vẻ là cách tốt nhất để tự đánh lạc hướng khỏi bức điện tín chắc chắn là rất kinh khủng này. Tôi không thể giải thích do đâu tôi lại nhớ tới giấc mơ đó. Có lẽ, do một câu nói Gambetti buột ra khoảng hai, ba tiếng gì đó trước khi tôi nhận được bức điện tín, loại câu nói ta vẫn gọi là như gió thoáng qua, trong đó loáng thoáng nghe nhắc đến vùng Núi Cao. Vâng, đúng là Gambetti có nói với tôi, mùa hè tới anh ta sẽ cùng bố mẹ và tôi, vâng, mời cả thầy cùng đi, như anh ta nhấn rõ thêm, lên vùng Núi Cao, là nơi anh ta rất đỗi yêu thích và ở đó, tìm đến một thung lũng hẹp anh ta vốn biết và thông thạo từ nhỏ, một nơi chắc chắn sẽ vô cùng dễ chịu và tiện lợi cho hai thầy trò tiếp tục các công việc khảo cứu, vì được cách ly hoàn toàn khỏi các trở ngại vẫn gây phiền toái lâu nay. Phải, Gambetti vô tình nói thoáng qua rằng, tuy anh ta sẽ đi cùng bố mẹ lên vùng Núi Cao ở miền bắc Ý, song, đúng ra là cùng với tôi, nếu tôi không ngại, anh ta xin mời tôi tham gia chuyến đi anh ta gọi là kỳ nghỉ khảo cứu trên Núi Cao ấy. Hai chúng tôi hiện đang đề cập đến Schopenhauer, đến cả con chó của triết gia này, con vật mà ông ta đã xếp cao hơn cả bà quản gia của ông, cốt để nghĩ ngợi cho đến cuối ngọn cùng ngành và viết cho xong cuốn Thế giới như là ý chí và hiểu tượng; vâng, chúng tôi đang bàn đến một sự thật là, nhu Gambetti nói, chính con chó cùng bà quản gia đã khơi bút cho Schopenhauer viết sách, thì đột nhiên - hay ít nhất cũng hết sức bất ngờ đối với tôi và chẳng ăn nhập gì với câu chuyện - Gambetti bỗng nói về chuyến đi lên Núi Cao vào mùa hè tới, về một quyển sổ tay giấy kẻ ca-rô nào đấy anh ta muốn mang theo, mà không hề nói tôi hay quyển sổ tay ấy có ý nghĩa gì ở đây cả. Tôi cũng không gặng hỏi về ý nghĩa quyển sổ tay giấy kẻ ca-rồ anh ta trịnh trọng nhắc đến đó làm gì nữa, nhưng tôi còn nghe rất rõ Gambetti nói đi với bố mẹ, nhưng nghe chả khác gì đi với thầy lên vùng Núi Cao. Gambetti đã nói vậy trên đồi Pindo, tôi nghĩ bụng, phải, chính câu nói đó của anh ta khiến tôi bây giờ nhớ lại giấc mơ lạ lùng, nói thế nào nhỉ, hàng năm vẫn hiện về thăm tôi vài lần ấy. Tôi còn nhớ rõ, lần đầu tiên tôi mơ như thế bốn, năm năm về trước, ở Neumarkt in Steiermark, trong căn phòng đôi tối tăm, gọi là phòng đôi, thuộc một ngôi biệt thự cũ kĩ của họ hàng mà hồi ấy tôi bị ấn vào suốt hai ngày liền. Họ bảo, để tôi bình phục. Chả là vì tôi bị sốt, do một căn bệnh chẳng ai biết thật sự là bệnh gì, nên tôi đành phải nằm trong cái phòng đôi thả rèm kín mít ấy của họ hàng nhà tôi. Họ làm chủ một xưởng mộc lớn ở Neumarkt và, do họ hàng với mẹ tôi, đâm ra cũng thành họ hàng với tôi nốt. Tôi không nhớ dạo ấy tôi đến chỗ họ làm gì; bây giờ nhớ lại, tôi chỉ nghĩ, ai mà lại mò đến cái xó tối tăm và ẩm ướt nhất trần đời như Neumarkt ấy chứ, chắc chỉ để bị cảm lạnh, chứ để làm gì hơn ở đấy. Sau hai ngày hai đêm, không ăn, không uống trong căn phòng rèm rủ kín ở cái xó xỉnh Neumarkt hết sức đáng tởm nọ, mặt mũi họ hàng nhà tôi ra sao, dù chỉ lờ mờ thôi, tôi cũng chẳng nhớ; tôi chỉ nhớ dạo nằm ở đấy, tôi đã nằm mơ thế nào thôi. Bọn tôi - tức là tôi, cùng với Eisenberg, anh bạn ngang một lứa với tôi, Zacchi, triết gia, cũng ngang lứa tôi và Maria, nữ thi sĩ đầu tiên của tôi, tôi bảo Gambetti vậy, vâng, Maria dạo ấy đã là nữ thi sĩ vĩ đại nhất của tôi rồi - cùng đến cái thung lũng miền bắc Ý khi tiết trời đang lúc mua nhiều. Maria từ Paris đến nhập hội với bọn tôi, chứ không phải từ Rome, nơi nàng có căn hộ nàng vẫn ở, có điều, dạo ấy trông nó chua nhu bây giờ, chưa chất đống cả ngàn quyển sách như thế, mới vài trăm thôi. Cũng chưa trải thảm, Gambetti ạ. Song, ngay từ dạo ấy Maria đã hầu như suốt ngày suốt buổi chỉ nằm trên giường là chính và, đến cả khách khứa, nàng cũng ngồi tiếp trên giường. Từ Paris đến nhập hội với bọn tôi lần ấy, Maria đóng một bộ cánh đến là điên rồ, trông nàng như thể sắp sửa đi xem opera hay như vừa ở nhà hát ra. Quần nhung đen, Gambetti ạ, với hai chiếc nơ lụa to đùng gắn phía dưới đầu gối, thêm vào đó là chiếc áo vét màu đỏ ối, cổ áo lại màu xanh Thổ. Tất nhiên, sự xuất hiện của Maria trong bộ cánh tuồng chèo như thế giữa thung lũng vùng Núi Cao đó đã làm náo động hết cả lên. Eisenberg chạy ra đón nàng, nhưng tôi thì từ xa đã thấy nàng tiến về phía nhà trọ Zur Klause ra sao rồi. Như trên sân khấu opera vậy, Gambetti ạ, cả chân tay lẫn đầu nàng đều cử động như trong một vở opera, như thể nàng đang vừa đi vừa múa, tiến về phía nhà trọ vậy, anh hiểu không Gambetti. Từ xa, thoạt tiên chưa thể nhận ra rõ bộ cánh của nàng được, và dĩ nhiên, tôi cũng không nghĩ ngay đấy là Maria, bởi lẽ, tôi chẳng hề nghĩ Maria sẽ đến đây đã đành, bây giờ bỗng dưng nàng lại đến trong bộ cánh thế kia, mà từ Paris, chứ không phải từ Rome, thì càng không thể ngờ. Như thể biết nàng đúng lúc ấy sẽ đến, chỉ mỗi một mình Eisenberg chạy ra đón, còn cả Zacchi lẫn tôi, đều không chạy ra, bởi hai đứa tôi rõ ràng không biết Maria đến thật. Đứng bên cửa sổ phòng tôi trong nhà trọ, tôi đoán Zacchi lúc ấy vẫn đang trong phòng anh ấy, tỉnh ngủ rồi nhưng chưa ra khỏi giường, bởi anh chàng này vốn có tiếng dậy muộn, ngược hẳn tôi và Eisenberg chuyên dậy sớm. Đã thế, tay Eisenberg thường bao giờ cũng dậy trước tôi, cho nên, cũng là lẽ thường tình khi chạy ra đón Maria là Eisenberg, chứ không phải Zacchi hay tôi. Maria đến chỗ bọn tôi rất sớm, lúc chưa đen năm giờ sáng. Lần nào lên Núi Cao cũng vậy, suốt đêm tôi không ngủ được. Tôi đứng gần thâu đêm bên cửa sổ, nhìn ra ngoài; tôi bảo Gambetti, tôi đứng đấy, hết giờ này qua giờ khác, đến lúc đầu gối muốn khuỵu xuống, sắp ngã gục - tưởng vậy thôi, tôi bảo Gambetti, chứ thật ra đâu đã gục được - thì trông thấy Maria tiến về phía nhà trọ. Tối hôm qua, tôi cùng Zacchi và Eisenberg ghé vào đây nghỉ trọ chỉ nhằm mỗi một mục đích duy nhất là trao đổi về Schopenhauer và thơ của Maria. Trong giấc mơ của tôi, chúng tôi bỏ tiền thuê nhà trọ cũng chỉ để nhằm mục đích ấy, chúng tôi chọn nơi được xem là lý tưởng nhất cho việc ấy, tìm đúng cái thung lũng hẹp giữa vùng Núi Cao, nơi không có đường cái chạy vào, chỉ có độc một lối mòn cho người đi bộ thôi. Lẽ ra, tối hôm qua Maria đã phải ở trong thung lũng này với chúng tôi, nhưng chưa thấy nàng đâu, và tôi vẫn còn thấy mình đang gắng vỗ về tay chủ quán trọ, đang luôn mồm hết thuyết phục lại cam đoan với gã rằng nhân vật chính, tức là cô bạn gái Maria của chúng tôi, chắc chắn sẽ đến, xin cứ yên tâm. Gã chủ quán Zur Klause sợ chúng tôi rồi sẽ chỉ trả tiền ăn cho ba người thôi, tức là cho Eisenberg, Zacchi và tôi, bởi vì chúng tôi không những đặt phòng, mà còn đặt trọn gói các bữa ăn trước, để thực hiện ý định mà không bị ngắt giữa chừng; tức là ý định đối chiếu và so sánh tác phẩm Thế giới như là ý chí và biểu tượng của Schopenhauer với các bài thơ của Maria. Lúc ở Rome, Eisenberg, Zacchi và tôi đều nhất trí về ý định có vẻ rất hấp dẫn ấy. Ý tưởng này do Eisenberg xướng ra trước, Zacchi hưởng ứng nồng nhiệt ngay, còn tôi lo chuyện đặt phòng trọ ở Zur Klause, sau khi nghe Maria tuyên bố tán thành ý định của chúng tôi. Nàng bảo, Heidegger thì không, chứ Schopenhauer thì được. Nàng rất vui đến nhập bọn cùng chúng tôi, có điều, đêm nàng phải đến Paris cái đã, nhưng đến Paris làm gì thì nàng không muốn lộ ra với tôi, dù tôi cật vấn, vặn hỏi mãi. Trong giấc mơ ấy, tôi bảo nàng, cất công từ Rome đến Paris chỉ để ở lại đó mỗi một đêm thôi thì thật là lạ lùng, hẳn phải có lý do sống còn nào đây. Tôi nói vậy, song, nàng không để tai nghe tôi nói gì, cứ thế lẳng lặng khoác áo choàng, rời khỏi thành Rome ngay, lúc đi ra chỉ nói với lại, cứ yên chí, rồi nàng khắc đúng hẹn. Và, quả nhiên, lúc này, đúng vào giờ hẹn, tôi đang thấy nàng khoác bộ cánh phường chèo ấy tiến về phía nhà trọ, trong đấy, chúng tôi đã sẵn sàng cho cuộc tranh luận. Hôm qua, từ chập tối, mặc dù suốt buổi tôi hầu như chỉ đứng bên cửa sổ nhìn ra ngoài thôi, tôi cũng đã ít nhiều để tâm suy nghĩ về Schopenhauer và các bài thơ của Maria, so sánh cách suy nghĩ của hai người, cụ thể là các suy nghĩ của Schopenhauer với những suy nghĩ của Maria, thử tìm mối liên hệ thuần túy triết học giữa hai lối tư duy đó với nhau - giữa lối tư duy bằng thơ của Maria với tư duy triết học của Schopenhauer. Tôi cố lần lượt lồng lối tư duy của người này vào lối tư duy của người kia và ngược lại, rồi tôi đặt cách nghĩ của người này đối lại cách nghĩ của người kia; tôi gắng làm sao sàng lọc tính triết học từ thơ của Maria cũng như tính thi ca, hay nói đúng hơn là tính nên thơ từ các công trình của Schopenhauer. Việc tôi suốt đêm thức trắng, ấy vậy mà có ích, vâng, thật tuyệt vời, tôi bảo với Gambetti. Ta phải mừng vui với từng đêm ta mất ngủ trong đời, Gambetti ạ, tôi bảo anh ta, bởi mỗi đêm như thế là một bước tiến của ta về triết học. Gambetti chăm chú nghe tôi tiếp tục thuật lại giấc mơ, trong khi kể, tôi không hề để ý đến bao nhiêu tiếng động trên đồi Pincio, thậm chí tiếng chim ríu rít - thứ tiếng ríu rít tôi vẫn cho là phản tư duy nhất ấy - cũng chẳng ngăn được câu chuyện trong mơ của tôi. Tôi đứng suốt đêm bên cửa sổ căn phòng tôi trọ ở Zur Klause, Gambetti ạ, để suy nghĩ về Maria và Schopenhauer. Có lẽ, do tối hôm qua tôi định bụng sẽ nghĩ ngợi càng lâu càng tốt về đề tài này, cho nên suốt đêm tôi không ngủ. Tôi nhìn thấy bóng người kỳ quái kia - mới đầu trông chỉ đen sì sì chứ chưa thể nhận ra là ai - bóng người bước ra từ tấm màn tuyết vừa bị gió thốc dựng lên phía xa, cách chỗ tôi đứng đây chừng bốn, năm chục thước gì đó, và tiến dần về phía nhà trọ Zur Klause, Gambetti ạ, được một lúc thì tôi vỡ nhẽ, dáng người kỳ cục với cách đi đứng như con rối kia chỉ có thể là Maria mà thôi. Ngay lúc đó, tôi sực hiểu tại sao đêm qua Maria phải đến Paris và ở lại đó bằng được. Nàng đến Paris chỉ cốt để xem một vở opera, Gambetti ạ, và nhất định phải trong bộ y phục mà cả tôi cũng biết ở đâu ra đó, vì Maria đã cùng với tôi đi sắm cả chiếc quần lẫn cái áo vét ấy ở Rome. Hai chúng tôi kéo nhau đi mua sắm vào một buổi chiều - như Maria vẫn nói - một buổi chiều đầy tuyệt vọng. Và, nhờ vụ mua sắm đó, chúng tôi biến buổi chiều tuyệt vọng ấy thành buổi chiều thật sung suớng. Đi mua sắm, tôi bảo Gambetti, đôi lúc có thể là cách duy nhất còn lại của ta để tự cứu vớt mình, nếu ta biết nhẫn nại và không ngại cả những thứ xa xỉ nhất hạng, có nghĩa là không sợ phải mua sắm thứ gì rực rỡ nhất, đắt giá nhất, hay nói cách khác, thứ quý giá bậc nhất, dù cho nó có lố bịch, kỳ quặc nhu bộ cánh của Maria đang mặc, cũng kệ. Thay vì lăn ra chết vì tuyệt vọng, có lẽ ta nên ra phố thì hơn, mò vào một cửa hàng thật sang trọng nào đấy, sắm một bộ cánh thật quái đản, vâng, tự biến mình thành nhân vật nhố nhăng trong một vở Don Giovanni rởm, âu vẫn còn hay hơn là nằm ườn trên giường rồi nốc gấp đôi, gấp ba lần liều thuốc ngủ thường ngày, mà không chắc rồi mình có thức dậy nổi nữa hay không, mặc dù trong lòng, mình thừa biết, vẫn còn đáng để thức dậy lắm. Phải, đúng lúc nhìn thấy Maria trong bộ cánh quái gở tiến về phía Zur Klause như thế, tôi liền vỡ nhẽ ra ngay, nàng đến Paris xem vở opera Pelléas và Mélisande của Debussy mà xưa nay nàng vẫn rất thích. Vâng, đứng bên cửa sổ nhìn Eisenberg chạy ra đón Maria trong lúc nàng tiến về Zur Klause, tôi đã bụng bảo dạ, Maria quả thật không quản ngại gì để từ nhà hát opera Paris đến thẳng thung lũng vùng Núi Cao là cốt giữ lời hứa với chúng tôi. Nhìn theo Eisenberg, tôi nghĩ bụng, tay này hẳn đêm qua cũng thức trắng như mình, và đương nhiên, nhìn thấy Maria trước nên chạy ra đón nàng ngay. Đứng bên cửa sổ, vâng, tôi cũng nghĩ, đúng là kiểu của Eisenberg. Maria với Eisenberg chẳng những chi hiểu nhau, hai người còn rất hiểu nhau là đằng khác. Họ thật sự ngang nhau về trí tuệ. Eisenberg đam mê cùng một thứ triết học như Maria, hai người có cùng một quan điểm như nhau về thơ. Tôi nghĩ, với Maria tôi đã học được nhiều bao nhiêu, thì ở Eisenberg cũng học được nhiều bấy nhiêu. Maria đi tay không, tôi bảo Gambetti, nàng bước từ bức màn tuyết ra với vẻ hớn hở và tiến về phía nhà trọ Zur Klause. Bây giờ, giá cũng nhìn thấy nàng như tôi lúc này, gã chủ nhà trọ hẳn sẽ yên lòng lắm, tôi nghĩ bụng. Trong bọn, độc có Zacchi là không tin Maria sẽ đến. Anh ấy bảo, lẽ ra tối qua đi ngay cùng cả bọn đến Núi Cao ở miền bắc Ý, nàng lại đi Paris, thì làm sao vừa sáng ra đã có mặt trong phòng thuê trước cho nàng ở nhà trọ Zur Klause được? Zacchi bao giờ cũng ngờ vực, tôi bảo Gambetti. Nên bọn tôi vẫn gọi anh là kẻ hoài nghi là vì thế. Maria đứng dừng lại chờ Eisenberg bước đến gần - lúc này đây đang đứng bên cửa sổ phòng làm việc của mình nhìn xuống Piazza Minerva, tôi nhớ mình đã nói với Gambetti như vậy. Đúng lúc đó - tiếp tục câu chuyện về giấc mơ, tôi nói với anh ta - phải, đúng lúc đó, tôi bỗng nghe thấy một tiếng nổ kinh khủng, như sét đánh, làm rung chuyển cả mặt đất. Chỉ lạ một nỗi - sau này tôi mới biết - là ngoài tôi ra, không ai nghe thấy tiếng sét và chẳng ai biết mặt đất lúc ấy rung chuyển thế nào. Cả Maria lẫn Eisenberg cũng đều không hay biết gì về tiếng sét lẫn cơn động đất ấy. Lúc Maria và Eisenberg tiến về phía nhà trọ mà không để ý gì đến tôi đang đứng bên cửa sổ chăm chú theo dõi họ, tôi có cảm giác, như thể Maria đang đi chân không. Rồi tôi nhìn thấy Eisenberg quả thật đang xách đôi giày của Maria trên tay thật, còn nàng đúng là đi chân đất. Eisenberg bao giờ cũng là người chu đáo với người khác, tôi bảo Gambetti, như thiên hạ vẫn nói, tính chu đáo thấm trong máu anh ta tự bao giờ. Tôi còn đứng bên cửa sổ nhìn xuống một lúc lâu nữa và gắng nhìn lần ngược về phía xa, càng xa càng tốt, theo vết chân Eisenberg và Maria để lại khi tiến về nhà trọ Zur Klause. Tôi đếm được khoảng một trăm hai chục vết chân, tôi còn nhớ rõ, Gambetti ạ, như thể đang mơ giấc mơ đó ngay lúc này, chứ không phải bốn hay năm năm về trước. Rồi trình tự lại bị ngắt quãng, và đột nhiên, tôi lại thấy Maria cùng Eisenberg dưới gian tiền sảnh nhà trọ; Maria cởi giày Eisenberg rồi xỏ giày nàng vào chân anh ta, còn Eisenberg mang giày của anh ta cho Maria. Hai người cười vang, ra vẻ khoái trá lắm, nhưng lúc tôi bước vào, họ liền im bặt. Được một lúc, họ lại phá lên cười rất to, to đến mức rung chuyển cả nhà trọ Zur Klause. Maria duỗi hai chân ra phía trước, đưa đôi giày của Eisenberg lên lơ lửng, đôi bốt đen ống cao rất mềm mại anh ta vẫn thường mang, vâng, tôi nói, Gambetti ạ, cái đôi bốt ống rất mềm, mà cũng cao và đen ấy. Còn Eisenberg thì hai chân xỏ trong đôi giày múa ba lê màu bạc ánh kim của Maria và nhảy lò cò lui tới trong gian tiền sảnh nhà trọ Zur Klause. Cả hai ngoạc mồm kêu to: Chúng tớ đổi giày cho nhau! Chúng tớ đổi giày cho nhau! Chúng tớ đổi giày cho nhau! Đến khi hai người mệt lử thì Maria quàng tay ôm lấy cổ tôi, kéo tôi xuống chiếc ghế băng trong gian tiền sảnh rồi cứ thế là hôn, còn Eisenberg đứng tựa lưng vào tường, trân trân nhìn hai chúng tôi ôm hôn nhau trên ghế băng. Maria cứ hôn tôi mãi, cho đến khi tôi đứng bật dậy. Đúng lúc đó Eisenberg cất tiếng đòi Maria cởi giày anh ta ra. Maria cởi giày Eisenberg ra rồi ném vào đầu anh. Anh ta né sang một bên, tránh không để giày trúng đầu. Eisenberg cúi người nhặt đôi giày mình dưới sàn nhà, còn Maria chỉ tay vào đôi giày của nàng mà Eisenberg vẫn còn mang. Cảnh tượng lúc ấy trông đến là kỳ cục Gambetti ạ, anh hiểu không: Eisenberg trong chiếc áo choàng đen dài đến tận mắt cá, còn chân lại mang đôi giày vũ ba lê của Maria. Eisenberg bảo anh ta không tự cởi giày của Maria mà hai chúng tôi phải cởi cho anh ta. Maria thè lưỡi ra đáp lại. Song, khi thấy Eisenberg tỏ ra thất vọng vì phải tự cởi giày, nàng liền cúi xuống cởi giày giúp anh ta. Chân không, anh ta đứng trơ trơ ra đó giữa gian tiền sảnh nhà trọ Zur Klause, tôi bảo Gambetti, rồi đột nhiên tiến về phía Maria lúc nàng đang nép người vào tôi. Eisenberg quỳ xuống trước mặt nàng và trao đôi giày cho nàng. Anh ta bảo, đây là đôi giày của em, tôi cởi nó ra cho em đây, rồi lại đứng dậy. Maria hôn Eisenberg - tôi bảo Gambetti - rồi chạy vụt ra ngoài, xách đôi giày vũ ba lê trên tay. Eisenberg với tôi, hai đứa đứng nhìn theo. Mong sao cô bé của bọn mình không chết cóng ngoài ấy, lúc đó Eisenberg chỉ nói có vậy, tôi bảo Gambetti. Ngoài trời, tuyết lại rơi. Đoạn, tôi thấy tôi đang ngồi bên chiếc bàn con trong góc nhà trọ Zur Klause cùng với Eisenberg và Zacchi. Trên bàn, chúng tôi để tập thơ của Maria và quyển Thế giới như là ý chí và biểu tượng của Schopenhauer trước mặt. Quyển nào cũng mở sẵn, Gambetti ạ. Tay chủ quán trọ Zur Klause bước vào, định dọn bữa sáng lên bàn cho chúng tôi, bảo chúng tôi dọn sách vở trên bàn ra chỗ khác. Gã nói nguyên văn, các ông dẹp cái đống kia khỏi bàn đi, rồi toan bắt tay dọn dẹp trên bàn thật. Vừa hay Maria bước vào, đúng lúc gã chủ quán tự ý, không thèm hỏi chúng tôi lấy một câu, định gập mấy quyển sách đang nằm mở sẵn trên bàn vào. Song, gã chưa kịp chạm vào cuốn Thế giới như là ý chí và biểu tượng của Schopenhauer thì Eisenberg sấn sổ hét to. Ông thôi ngay đi! Eisenberg quát thẳng vào mặt tay chủ quán, trong khi Maria vẫn còn đứng sau lưng tay này. Nàng ngơ ngác không hiểu chuyện gì xảy ra, tôi bảo Gambetti, trong khi Eisenberg vẫn tiếp tục sừng sộ, không ngừng quát vào mặt gã chủ quán Ông thôi ngay đi! Thái độ nóng nảy đó khiến thằng cha chủ quán nổi đóa. Gã chồm tới định giật quyển sách của Schopenhauer đang nằm trên bàn, song Eisenberg nhanh tay hơn. Anh này vớ quyển sách, hai hay ôm chặt nó vào ngực. Tôi giật vội tập thơ của Maria vào tay, còn Zacchi thì vơ nhanh mấy cuốn sổ ghi chép cũng đang nằm trên bàn. Lúc này tay chủ quán Zur Klause phát điên, giở giọng dọa giết chúng tôi. Hắn quả là to khỏe thật, khiến chúng tôi cũng run. Maria đến ngồi bên tôi, rồi nép vào người tôi, tôi bảo Gambetti. Nàng không hiểu đầu đuôi thế nào nữa. Lúc ở Rome, chúng tôi chả vẫn bảo, nào quán Zur Klause thật tuyệt cho bọn tôi, nào ông chủ quán đã vui tính, lại chu đáo, thật thích hợp cho ý định của chúng tôi ở đó là gì. Bây giờ nàng lại vừa chứng kiến một tay chủ quán dáng vẻ bất cần đời đang đùng đùng nổi cơn điên, dọa giết cả lũ chúng tôi. Mà trông tướng gã thế kia, không khéo gã ra tay giết thật, chứ chẳng phải dọa. Ấy vậy mà chính chúng tôi đã chọn quán Zur Klause này, bởi chúng tôi không tìm thấy nơi nào thích hợp hơn cho dự định của chúng tôi, tức là dự định đối chiếu và so sánh thơ của Maria với các suy nghĩ của Schopenhauer trong cuốn Thế giới như là ý chí và biểu tượng. Trong lúc mồm miệng không ngớt dọa giết cả lũ chúng tôi, tay chủ quán Zur Klause vẫn dọn bữa sáng lên bàn. Dọn bữa sáng lên bàn cho khách vốn là thói quen của gã, tôi bảo Gambetti, bằng bất kỳ giá nào gã cũng phải dọn, bởi vợ gã đã dặn gã như vậy. Thế là, vừa dọa giết, gã vừa dọn bữa sáng lên bàn. Mà đến tiền trọ, các vị cũng chưa trả nhá! Tay chủ quán nói to, trong khi cả bọn chúng tôi vẫn run rẩy ôm chỗ sách vở, giấy tờ vào ngực mà không ai cất nổi lấy một lời. Các anh phải trả tiền ngay! Tay chủ quán hét lên nhiều lần như thế, cho đến khi dọn xong bữa sáng lên bàn mới tạm nguôi nguôi. Chúng tôi không ai đủ gan mở miệng đốp lại gã, song chúng tôi biết mụ vợ gã đang đứng dỏng tai nghe ngóng sau cách cửa bếp nhà trọ Zur Klause. Hay ít ra, cũng một mình tôi biết mụ đang đứng đấy; thậm chí tôi còn có cảm giác nghe thấy mụ thở gấp sau cánh cửa bếp thế nào nữa kia. Gã chủ quán dọn xong bữa sáng lên bàn, song, nhìn số sách vở, giấy tờ trên tay chúng tôi, hắn lại nổi xung, lấy lại giọng hăm dọa. Chợt hắn gằn giọng nói, phải nhốt các người này vào tù, phải tống bọn như các người vào ngục - hắn hằn học, nói không ra hoi nữa - bọn người lúc nào cũng khư khư sách vở như thế này, ăn mặc như thế này - hắn trỏ bộ quần áo Maria trước, rồi trỏ chiếc áo choàng đen, dài lượt thượt Eisenberg khoác trên người và, sau rốt, không kìm được nữa, hắn lại chỉ vào bộ râu của Eisenberg - bọn người râu ria thế này, cứ phải treo cổ hết lên. Cơn điên khùng của gã chủ quán Zur Klause mỗi lúc một bốc, hắn hét to, bọn rác rưởi các người (ấy là hắn nói chúng tôi đấy) thì cứ phải triệt hạ bằng hết. Hắn hét triệt hạ, triệt hạ mấy lần liền như thế vào mặt chúng tôi. Rồi như thể bất ngờ lên cơn đau tim, hắn đột nhiên đưa một tay lên ôm lấy ngực và, toàn thân loạng choạng, tay kia đưa ra sau mò mẫm tìm chỗ dựa ở mép bàn. Nhân lúc gã chủ quán Zur Klause như đang lên cơn đau tim như thế, chúng tôi lập tức xô cửa ra khỏi phòng ăn và bỏ chạy khỏi nhà trọ Zur Klause. Khư khư sách của Schopenhauer và tập thơ của Maria trên tay, tôi bảo Gambetti, chúng tôi để Maria chạy ở giữa, cả bọn đua nhau cắm đầu chạy bán sống bán chết khỏi thung lũng. Tuyết rơi dày đến mức chúng tôi chẳng nhìn thấy gì nữa cả, nhưng vì thung lũng cũng hẹp, nên chúng tôi rồi vẫn tìm được lối ra. Cũng như mọi khi, Gambetti lắng nghe tôi chăm chú, không chen câu hỏi nào vào về giấc mơ của tôi. Giấc mơ này, tất nhiên, tôi có kể cho cả Eisenberg, Zacchi lẫn Maria nghe. Nghe xong, ai nấy đều lặng im. Nhắc đến Maria, Gambetti bao giờ cũng nói như nói về một người mà mọi thứ trên đời đều như đang diễn ra trong hiện tại, và nhờ vào sức mạnh trí tuệ của nàng, nên nàng có thể chịu đựng được tất cả, bất kể trong môi trường xã hội nào. Giữa đám đông, bao giờ Maria cũng lập tức trở thành nhân vật trung tâm mà chẳng cần phải nói lấy một lời. Còn lão Spadolini, theo kiểu cách riêng của y, bao giờ y cũng là nhân vật trung tâm của mọi đám đông. Maria là người khiến mọi người xung quanh, dù muốn hay không, đều ngay lập tức phải để ý đến nàng. Nàng biết rất rõ điều đó, cũng như lão Spadolini biết ngay lập tức rằng, y phải đóng vai nhân vật trung tâm của mọi đám đông. Nếu Maria gặp lão Spadolini, hai người sẽ khiến mọi đám đông xúm quanh họ phải tan tác ra ngay, như thể họ cố tình xua mọi người xung quanh đi ra chỗ khác. Tôi đã chứng kiến khá nhiều lần như thế, tôi bảo Gambetti, những khi hai người cùng xuất hiện ở một buổi tiếp tân hay tụ họp đông người nào đấy, đám đông lập tức bị hai người xé lẻ thành nhiều nhóm nhỏ. Hoặc Spadolini hoặc Maria là nhân vật trung tâm, tôi nói với Gambetti, chứ cùng một lúc là không xong. Lão Spadolini ít ra cũng còn làm ra cái vẻ như thể y không căm ghét hay thù hằn gì Maria cả. Nhưng Maria thì ngược lại, tôi bảo Gambetti, nàng chẳng bao giờ giấu giếm nỗi khinh bỉ nàng bao giờ cũng dành sẵn cho Spadolini đã đành, mà hễ gặp dịp là nàng liền phơi bày nó ra ngay, Spadolini leo lẻo luôn mồm y hết lòng ngưỡng mộ thơ của Maria, những mong đánh lạc hướng thiên hạ, để không ai biết y thù ghét nàng cỡ nào. Y mượn những lời lẽ màu mè, y tỏ vẻ bái phục và ái mộ thơ nàng, cốt sao che giấu lòng căm ghét y dành cho nàng mà thôi, nhưng, tất nhiên, y chẳng bao giờ che giấu thành công, Gambetti ạ. Spadolini bao giờ cũng khen thơ Maria hod quá lời, mặc dù thơ nàng không thể làm y ưa thích, tôi bảo Gambetti, bởi thơ nàng bao giờ cũng chống lại y, thậm chí, làm hại y ghê gớm. Spadolini khen nức nở bản dịch thơ Ungaretti của Maria trước bàn dân thiên hạ, Gambetti ạ, có điều y khen thái quá, khen tới mức sự hằn học của y đối với nàng lồ lộ hết cả ra. Y tâng bốc Maria hết lời, mặc dù y chẳng ưa gì nàng, và bất kể nàng nói gì, đều làm y khó chịu. Còn Maria không hề giấu giếm nàng ghét Spadolini, và nàng không thể hiểu tại sao tôi không cắt hẳn mọi liên lạc với Spadolini, Gambetti ạ. Nàng không thể thông cảm vì sao tôi cứ bám lấy Spadolini, không muốn buông y ra. Nàng bao giờ cũng coi tính cách của Spadolini là tính cách đồi bại, Gambetti ạ, nàng cũng giải thích cho tôi biết, vì sao nàng nghĩ như thế. Nàng còn quở trách tôi vì tôi gặp gỡ Spadolini khá thường xuyên, như nàng vẫn nói, vì tôi gặp tên đàn ông thô bỉ luôn luôn tìm cách quyến rũ mẹ anh ấy. Trong mắt nàng, Spadolini là kẻ giả dối tệ hại nhất trong số kẻ giả dối nàng từng gặp trên đời, y là tên bịp bợm bẩm sinh, là kẻ cơ hội ngay từ lúc lọt lòng, một khi các lợi ích riêng tư - không phải lọi ích mang tính chất tôn giáo đâu - mà các lợi ích riêng tư hèn hạ nhất, bị đụng chạm. Còn tôi, mới tối qua nàng còn mắng tôi bạc nhược, vẫn tiếp tục đánh đeo lấy Spadolini, tôi bảo Gambetti vậy lúc đứng trên đồi Pincio. Maria đọc thơ nàng tại Viện Văn hóa Áo và lão Spadolini vỗ tay hoan hô nồng nhiệt, Maria bảo tôi, bởi y muốn mọi người để ý đến y, chứ không phải vì y thích mấy bài thơ đâu, tôi bảo Gambetti. Giới thiệu Maria với viên đại sứ Peru, Spadolini nói nguyên văn, đây là nữ thi sĩ đương thời lớn nhất của chúng tôi, trong khi trong bụng y, y căm ghét nàng tột độ. Y ghét nàng, song, mỗi tháng ít nhất một lần, y mời nàng đi ăn tối ở Via Veneto, một khu phố y ưa chuộng, nhưng Maria lại ghét cay ghét đắng, tôi bảo Gambetti vậy. Và mặc dù Maria bao giờ cũng khước từ các lời mời như thế, Spadolini vẫn tiếp tục mời. Y bảo tôi, ta lại vừa mời Maria dùng bữa tối, nhưng cô ấy không nhận lời; rồi ta vẫn cứ mời và cô ấy vẫn khước từ cho mà xem, Gambetti ạ. Spadolini, ở mức độ nào đó, là một nhân cách lớn, cho nên Maria buộc phải từ chối, bởi vì nàng không thể chấp nhận thêm bất kỳ một nhân cách lớn nào khác bên cạnh mình. Thật ra, Spadolini cũng không chấp nhận thêm nhân cách lớn nào khác ở bên cạnh y, song y là nhà ngoại giao lọc lõi ở đời, y thành thạo mọi thủ đoạn giao tế tình vi, trong khi Maria chẳng thành thạo bất cứ thủ đoạn nào, nàng cũng không hề che giấu điều đó trước mắt thiên hạ, bởi nàng không thể hành động khác đi được. Ai trong bọn họ, cả Spadolini lẫn Maria, tôi bảo Gambetti, cũng đều là tâm điểm - Spadolini nhờ sự tình vi của y, còn Maria do sự tự nhiên của nàng. Tuy nhiên, không thể có hai tâm điểm, tôi bảo Gambetti. Chất tự nhiên của Maria bắt nguồn từ bản chất Áo trong nàng, còn chất giả dối của Spadolini - từ chất Vatican trong tâm can y, tôi bảo Gambetti vậy. Cả hai đều là hai bản lĩnh lớn và lòng căm ghét dành cho nhau đều ghê gớm dữ dội như nhau. Cả hai đều hiểu rõ bản lĩnh cũng như nỗi căm thù nung nấu trong lòng mình. Song, Spadolini là kẻ mạnh hơn, bởi vậy, y không cần lúc nào cũng phải thoái lui như Maria, trong khi, đối với nàng, thoái lui bao giờ cũng là vũ khí duy nhất của nàng. Lúc lâm nguy, trong khi Maria thu mình ẩn náu thì Spadolini mới lại thật sự ra mặt. Cả hai đều chuộng lối ăn mặc nhố nhăng, hoang tàng, không những thế, cả hai đều có thiên hướng ngông cuồng trong mọi thứ. Nói cho cùng, Gambetti ạ, cả hai người đều xuất thân từ tình lẻ, chỉ bằng cách ngông nghênh, hoang tàng họ mới ngoi lên tự khẳng định mình được. Mọi thứ ở Spadolini đều hoang tàng, mọi thứ ở Maria cũng vậy, đều ngông cuồng. Chỉ có điều, Gambetti ạ, ở y là thứ hoang tàng giả tạo, ở nàng lại là thứ rất tự nhiên. Tôi nói với Gambetti, có lần Maria bảo tôi, nếu nàng có định viết một cuốn sách về các ngón bịp bợm, nàng sẽ chẳng chút ngần ngại lấy Spadolini làm nhân vật chính cho cuốn sách đó. Phải nói thêm ngay, viết văn vốn đã là ước mơ từ lâu của nàng. Thế nhưng mọi nỗ lực của nàng theo hướng này, rồi trước sau đều bại, bởi nàng thường sớm bỏ cuộc, giá như có viết đến cùng, thì rốt cuộc nàng đành thừa nhận, không phải nàng sáng tạo được một công trình nghệ thuật đáng giá, không, nói như chính nàng nói, nàng chỉ mới hoàn thành một công việc đáng ngạc nhiên mà thôi, Spadolini là một kẻ cuồng tín ngoại cỡ, còn Maria là nghệ sĩ lớn, tôi bảo Gambetti. Nói cho cùng, Gambetti ạ, tôi thật may mắn khi được làm bạn với hai con người như thế, hai nhân vật thật sự quan trọng, dù thiên hạ bên ngoài có xì xào, bàn tán như thế nào về tình bạn đó, tôi cũng mặc, dù Spadolini có đánh giá Maria thế nào, hay ngược lại, dù Maria đánh giá Spadolini ra sao cũng thế. Tôi muốn gìn giữ hai tình bạn đó, không bao giờ muốn đánh mất chúng, tôi bảo với Gambetti. Nghe Spadolini kể về Peru cũng như nghe Maria đọc thơ vậy, y hệt nhau, Gambetti ạ. Nếu lúc nào ta cũng chỉ giao du với loại người có bản lĩnh cao cường, tôi bảo Gambetti, thì chẳng mấy chốc ta sẽ trở nên cô đơn vô cùng. Cho nên, ta phải làm ngược lại, nhập bọn cùng đám người gọi là đớn hèn, bạc nhược thì ta mới sống sót, đầu óc ta mới không bị ù lì. Lũ người gọi là có bản lĩnh cao, tính nết tử tế dần dần sẽ chỉ làm ta buồn chán đến chết mà thôi, cho nên, trước hết ta phải tránh kết bạn kết bè với đám này, tôi bảo Gambetti vậy. Cả Maria lẫn Spadolini đều là những người từng dạy tôi nhiều bài học, mặc dù tôi chưa bao giờ lộ điều đó ra với họ. Tôi quen Maria qua anh Zacchi, một anh chàng chuyên móc nối người này với người khác, kẻ lập dị lắm triết lý, kẻ từng lang thang rong ruổi cùng trời cuối đất, con người của thế gian ấy. Zacchi quen Eisenberg trước, anh này lại giới thiệu tôi với Zacchi. Ba năm trước khi dời đến Rome, Eisenberg từng sống ở Wien. Anh ta trốn khỏi nhà bố mẹ ở Thụy Sĩ tìm đến Wien và, ở đây, kết thành người bạn thân thiết nhất của tôi. Bây giờ nhớ lại, tôi có thể nói, sau khi chạy khỏi Wolfsegg - là việc tôi phải mang ơn chú Georg - thì giai đoạn tôi trải qua ở Wien cùng anh bạn Eisenberg chính là quãng thời gian có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển và mở mang đầu óc tôi sau này. Eisenberg là người đã chỉ lối cho tôi, theo đó tôi bắt đầu tìm hiểu thế giới, từng bước, từng bước học cách giải mã và phân tích thế giới. Kế theo chú Georg, Eisenberg - anh bạn đồng lứa của tôi ấy - chính là người hướng dẫn, mở mang đầu óc tôi, khơi dòng nắn lối cho các suy nghĩ của tôi đi đúng hướng. Đứng bên cửa sổ nhìn xuống Piazza Minerva bây giờ đã lác đác đôi người đang thong thả và ung dung đi lại, tôi nghĩ bụng, mỗi lần tôi với Maria về Wien, có bao nhiêu thời gian hai chúng tôi đều hầu như chỉ đi cùng Eisenberg hoặc do anh ấy dẫn đi, lên Kahlenberg, Kobenzl hay lên tận những Heiligenstadt Anh ấy dẫn Maria đi thăm các danh lam thắng cảnh của Wien, đưa nàng nhập vào cái thành phố mà sau này sẽ mang ý nghĩa sống còn đối với nàng ấy. Tôi nghĩ bụng, quả thế thật, có mặt Eisenberg chúng tôi không bao giờ thấy chán, lúc nào cũng vui vui trong lòng. Ngay từ đầu, giữa Eisenberg và Maria đã nảy sinh một mối liên hệ triết học vô cùng lôi cuốn mà tôi có thể thản nhiên quan sát không chút vướng víu gì trong lòng. Trông vào họ, lần đầu tiên tôi chứng kiến những con người của tư duy thấu hiểu lẫn nhau như thế nào và bao giờ tôi cũng nghĩ, sự thấu hiểu đó mới hiếm hoi làm sao. Maria xuất thân từ một thành phố tỉnh lẻ, nhỏ bé và nhố nhăng ở miền nam nước Áo, một xó xỉnh vốn là nơi chôn nhau cắt rốn của Musil, mặc dù về sau, suốt đời ông chẳng dính dáng tẹo nào đến xó xỉnh ấy nữa, nhưng cái tiếng là quê hương Musil của nó đã bị Maria lợi dụng đến cùng và hết sức trắng trợn. Tai hại là ở chỗ, cái xó xỉnh đó nằm ở chính khu vực sát đường biên, đúng là mảnh đất mà chủ nghĩa quốc gia thuần túy pha lẫn tư tưởng chủ nghĩa Quốc xã, trộn cùng chủ nghĩa địa phương tầm thường và hạ đẳng xưa nay vẫn đâm chồi nẩy lộc rồi ra hoa kết trái. Maria ra đi từ chính thành phố ấy, một nơi thường thường giới trưởng giả già nua meo mốc, ngu si và đần độn, vĩ cuồng kinh niên, nắm hết mọi quyền lực trong tay, một nơi phố xá xấu xí, xây đắp vụng về nằm giữa vùng đồi núi trung nguyên nhàm chán và chìm ngập trong bầu khí trời tù hãm, chẳng mấy khi trong lành, nơi mang mọi đặc điểm nhố nhăng tiêu biểu của một thành phố con con với năm chục ngàn dân, đám dân chẳng biết gì về thế giới bên ngoài nhưng vẫn tưởng mình đang ở trung tâm vũ trụ ấy. Từ một động cơ rất riêng tư, có thể ví với động cơ từng khiến tôi đi khỏi Wolfsegg hôm xưa, Maria đã rời bỏ thành phố tuổi thơ vốn cũng chỉ gây tai sinh họa cho nàng ấy, để đến Wien và, nói như thiên hạ vẫn nói, toan dừng chân định cư ở đó lâu dài. Song, đó chính lại là nơi khó định cư nhất, trong đầu mang đầy những dòng thơ của mai sau, tôi còn nhớ, và trên tay chỉ một túi xách nhỏ, cô gái trẻ Maria đến Wien, mang theo những ảo tưởng của kẻ chống đối, một kẻ đào tẩu, một kẻ không những chỉ tìm kiếm lối thoát, mà - cũng giống như tôi hồi trước - còn tìm cả nơi biến ngay các giấc mơ đó thành hiện thực. Sau chiến tranh, Wien vốn là miền đất hứa cho tất cả những cái đầu biết suy nghĩ ở tỉnh lẻ. Song, không phải như người ta tưởng, ngay từ thời đó thành Wien đã chẳng giữ được lời hứa nào cho họ, cho cả Maria lẫn cho tất tật những người khác. Thoạt tiên, Wien có vẻ như cọc sào cuối cùng cho kẻ sắp chết đuối bám vào thật, nhưng chẳng được bao lâu - hồi trước, cũng như bây giờ - những ai từng, hay đang lấy nó làm nơi dung thân, đều như bị tê liệt. Như tôi biết, và tính đến giờ cũng được khẳng định đi khẳng định lại cả triệu triệu lần rồi, thì thành Wien chỉ là nơi dung thân tạm thời và ngắn ngủi cho những kẻ hay triết lý, những kẻ chuyên nghiền ngẫm, đắn đo - những kẻ toan tự kích thích đầu óc tư duy của mình mà thôi. Chạy đến Wien có nghĩa là thoát chết một thời gian ngắn, chứ không lâu la gì. Song, như thế cũng có nghĩa là những ai đã chạy đến Wien ẩn náu thì cũng phải chuồn khỏi Wien càng sớm càng hay, bởi vì, nếu họ không càng sớm càng tốt quay lưng bỏ cái thành phố tàn nhẫn và hoàn toàn mục ruỗng ấy mà đi, thì họ khắc bị tiêu vong. Maria sớm nhận ra điều đó, tôi cũng vậy, trong số chúng tôi duy nhất có Eisenberg cho đến giờ vẫn chịu nổi Wien. Đứng bên cửa sổ, tôi nghĩ bụng, nhưng Eisenberg là người cứng cỏi, đầu óc sáng sủa, minh mẫn hơn Maria và tôi nhiều. Một tâm hồn như tâm hồn Maria sẽ sớm bị đè bẹp gí ở Wien, đứng bên cửa sổ tôi nhớ lại những lời Eisenberg nói, và đưa mắt, mới đầu nhìn xuống Piazza Minerva, rồi sang phía Pantheon, thấy cửa sổ của căn hộ Zacchi, nhưng tôi nghĩ bụng, chắc anh ta không có nhà. Maria dứt được khỏi Wien, mới đầu sang Đức, sau đến Paris, rồi về Rome, tôi nghĩ bụng, đúng như kiểu cách thơ mộng của nàng. Thế nhưng, nàng vẫn nhiều lần thử quay về định cư ở Wien, vẫn tìm cách liên lạc với đủ hạng người mà nàng nghĩ có thể giúp nàng quay lại Wien. Thế nhưng, cứ đến lúc có thể thật sự quay về Wien, thì mọi sự lại đổ vỡ, mọi dự định dính dáng đến Wien đều thành mây khói. Bao nhiêu người, nhu những người thuê giúp căn hộ nào đấy cho nàng chẳng hạn, đều vì thế mà chưng hửng. Mà nào có phải một căn hộ như vậy đấu, biết bao nhiêu căn hộ nàng tính mua hay thuê, như người ta vẫn nói, để ở trọn đời, nhưng chưa dọn đến nàng đã đùng đùng giao trả. Nàng dễ dàng để bọn người bần tiện, nhất là mấy thằng cha ở Bộ Văn hóa, dụ dỗ về Wien, bị bọn người mang các động cơ bẩn thỉu này lừa lọc. Nàng không bao giờ muốn tin lời tôi vẫn cảnh báo đi cảnh báo lại với nàng rằng, tất cả bọn người muốn lôi kéo nàng về Wien đều độc một động cơ bẩn thỉu cả thôi. Bọn chúng chẳng quan tâm thật sự đến nàng, chúng chỉ nhăm nhăm một mục tiêu đểu cáng và thấp hèn là lợi dụng nàng, lợi dụng tên tuổi Maria giờ đây đã lừng lẫy, để mưu cầu lợi ích riêng của chúng mà thôi. Tôi từng đi guốc trong bụng bọn này, tôi thừa biết, nhưng Maria - bắt nguồn từ mối tình đa sầu đa cảm nàng vẫn mù quáng dành cho cái thành Wien hết sức bạc bẽo, và trái với những gì thiên hạ vẫn tưởng, vô cùng tàn nhẫn và cực kỳ vô cảm ấy - nàng rất hay sa chân vào cạm bẫy của bọn chúng. Thế nhưng, nàng cũng chỉ sa chân đến mức nào thôi, rồi kịp rút ngay lại, khiến tụi kia lần nào cũng bị vố mất mặt. Maria ở lại Rome, trong căn hộ rốt cuộc vẫn là dễ chịu nhất cho nàng đó. Có lần nàng bảo tôi, đúng ra là em muốn quay lại về Wien, nhưng ngay sau đấy, chỉ chừng vài ba phút sau thôi, nàng đã lại khăng khăng điều ngược lại, nói quả quyết không kém với tôi, nói đúng ra thì em chả muốn quay lại Wien, đúng ra em muốn ở lại Rome, thậm chí chết ở Rome. Maria đã nhiều lần bảo nàng sẽ chết ở Rome, tôi nhớ lại. Lý trí buộc nàng ở lại Rome - ở lại Rome, trong khi lòng dạ lại yêu Wien hơn. Song chỉ được vài tuần, sau khi nàng vừa làm tất cả những người đúng là đã bằng mọi cách chạy nhà lo cửa cho nàng ở Wien chưng hửng và mất lòng, nàng lại quay ra bàn chuyện, rốt cuộc và dứt khoát quay về Wien, về quê hương, theo lời nàng nói, khiến lần nào tôi cũng chỉ biết cười nhạo đáp lại mà thôi, bởi vì, cái tiếng quê hương ấy thốt ra từ miệng nàng nghe bao giờ cũng lố bịch y hệt như khi thốt ra từ miệng tôi. Có điều, tôi chẳng bao giờ mở miệng nói cái từ ấy ra, bởi vì, mỗi khi dùng đến nó, tôi lại thấy nó tởm lợm, trong khi Maria luôn luôn muốn tìm ở nó một chốn che chở cho mình và, nàng luôn cam đoan, theo nàng, từ quê hươngmột từ ngữ có sức cám đỗ tột độ vậy. Rồi nàng lại bắt tay thảo thư viết từ gửi đến bọn người thành Wien kia ở Ban này Bộ nọ, tìm đến sứ quán Áo hay đến cái gọi là Viện Văn hóa Áo trên phố Bruno Buozzi, tòa nhà lòe loẹt gần phố Flaminia, nơi mà con yêu tính văn hóa Áo, với tất cả các bóng đen tăm tối của nó, đặt chi nhánh ngay từ ngày ngôi nhà này được dựng lên ấy; nàng cất công đến dự những buổi gọi là buổi đọc thơ của những kẻ gọi là thi sĩ Áo, cũng như đến dự đủ loại thuyết trình ngụy khoa học do đủ loại nhà ngụy khoa học của nước Áo múa may trình diễn tại Bruno Buozzi, thậm chí nàng còn đến tham gia cả những buổi gọi là tối ca nhạc, thường diễn ra đều đặn ở đó, với một lô những ca sĩ Áo từng nổi tiếng một thời, nhưng từ nhiều năm nay đã mất giọng, chỉ còn giữ lại chút khò khè già nua, gây cho màng nhĩ thính giả Ý những thương tổn không tài nào chữa khỏi. Maria, người nữ thi sĩ muốn vừa làm dân thành Rome, vừa làm người thành Wien, và có lẽ, tôi nghĩ, chính trong tình trạng chênh vênh hiểm nghèo giữa cảm xúc và lý trí ấy mà nàng viết ra được những vần thơ tuyệt vời chăng. Giấc mơ về quán Zur Klause có dạo từng làm nàng xúc động ấy, làm tôi nhớ đến Maria, và giờ đây đứng bên cửa sổ nhìn xuống Piazza Minerva, tôi khoan khoái nghĩ đến nàng. Tôi nghĩ bụng, không biết, thành Rome này sẽ ra sao nếu vắng nàng. Thật may mắn khi tôi chỉ cần bước vài bước là sẽ đến được bên nàng, phấn chấn, tươi tỉnh hẳn lên bên nàng, vâng, có nàng ở đời thật may mắn biết bao. Các buổi chuyện trò với nàng bao giờ cũng đầy ý vị, bao giờ cũng rất lôi cuốn. Nói chuyện với nàng bao giờ cũng phấn khích, bao giờ cũng sôi nổi, hầu như bao giờ cũng làm ta sung sướng, tôi nghĩ bụng. Maria bao giờ cũng sẵn trong đầu các ý tưởng độc đáo, và đối với Gambetti - như chính lời anh ta nói - gặp nàng bao giờ cũng là một trải nghiệm. Trong ý nghĩ của nàng, tôi tự nhủ, nàng không e ngại, né trách bất cứ ý nghĩ nào. Trong thơ nàng, trăm phần đều mang dấu ấn nàng cả trăm; bọn người kình địch và ganh đua với nàng, một lũ người, như tôi biết, không ngừng bày mưu tính kế chống lại nàng - tức chính là các nữ thi sĩ, bạn thơ của nàng chứ ai - dù họ có nổi tiếng giỏi giang đến đâu đi nữa, cũng không thể được như nàng. Mỗi câu thơ nàng viết ra, đều hiện diện hình bóng nàng, tất thảy đều mang chất độc nhất vô nhị của nàng. Nếu ở Spadolini tôi mới thật sự học được cách nhìn và quan sát, tôi bảo Gambetti, thì ở Maria, tôi học được cách nghe. Chính hai người này đã dạy tôi thành người như tôi bây giờ. Đoạn, tôi bỗng chuyển sang kể cho Gambetti nghe về một sự thật là lão Spadolini chẳng bao giờ ngượng ngùng nhận tiền của mẹ tôi để chi tiêu vào những việc thậm chí hết sức riêng tư của y. Y dùng số tiền ấy cốt chỉ để thỏa mãn thói háo danh của y mà thôi, Gambetti ạ. Hàng năm, mẹ tôi vẫn chuyển đến tay y nhiều khoản tiền lớn, những khoản, tất nhiên, rút từ ngân quỹ Wolfsegg. Ông bố tôi chắc cũng thừa biết như thế, nhưng nhắm mắt làm ngơ, bởi bao giờ ông chả làm mọi việc, cốt sao vừa lòng vợ là được. Thậm chí ông cũng chẳng ngại ngần gì, đi tay ba, tức là cùng với mẹ tôi và lão Spadolini, sang Ý, nói cách khác, ông tự nguyện đóng vai nhân chứng chính cho mối quan hệ quái đản, trong đó không phải Spadolini, mà chính ông là kẻ chầu rìa, hóng chuyện. Thế nhưng, ông bố tôi cũng say mê Spadolini đắm đuối y như tôi; ông không muốn, tôi bảo Gambetti, ông không đời nào muốn buông y ra. Spadolini không phải là hạng người ta có thể dễ dàng buông ra được, bất kể trong mắt ta họ là người thế nào, họ vẫn là hạng người ta không sao giãy ra được nữa, bất kể họ có gây chuyện tày đình đến thế nào cũng chịu, tôi bảo Gambetti. Nói rồi, tôi chợt nghĩ, kể cũng kỳ quặc, thế quái nào mà chính tôi lại là thằng phải giúp Gambetti làm quen với văn học Đức, vâng, đúng văn học Đức, văn học Áo, Thụy Sĩ, đúng nền văn học mà thiên hạ lúc nào cũng không may gọi một cách ghê tởm là nền văn học các nước nói tiếng Đức ấy, nền văn học mà, nói cho cùng, tôi không thể yêu, nền văn học tôi vẫn coi nhẹ hơn văn học Nga, văn học Pháp, lẫn văn học Ý. Tôi bỗng băn khoăn, chỉ vì tự cho mình thông thạo văn học Đức hơn các nền văn học khác, nên tôi nhận dạy đúng thứ của nợ mình không thích này thì không biết có phải đạo không. Nền văn học Đức, tôi bảo Gambetti, ngay cả ở tuyệt đỉnh của nó cũng không thể sánh ngang các nền văn học tôi yêu thích, như văn học Nga, văn học Pháp, Tây Ban Nha hay văn học Ý. Ngay như tiếng Đức, nói cho đúng, cũng đã là một thứ tiếng xấu xí, thứ tiếng nói - như tôi đã nói rồi - chẳng những đè gí gị mọi luồng suy nghĩ xuống bùn đen, mà do tính ù lì, ục ịch sẵn có, nó còn thật sự làm méo mó, xuyên tạc mọi thứ một cách trắng trợn. Nó không đủ sức diễn đạt sự thật nguyên vẹn như chính sự thật đó, từ trong bản chất nó đã bóp méo mọi sự thật rồi. Nó là một thứ tiếng nói thô thiển, không chút nhạc tính nào, và tôi bảo Gambetti, nếu không phải tiếng mẹ đẻ của tôi, có lẽ chả bao giờ tôi mở miệng dùng đến nó. Đấy, anh xem tiếng Pháp mà xem, tiếng Pháp có thể diễn đạt mọi thứ chính xác đến mức nào! Thậm chí tiếng Nga, vâng, thậm chí tiếng Anh, tôi nói, chứ chưa cần viện đến tiếng Ý hay tiếng Tây Ban Nha, những thứ tiếng mà khi nghe, cảm thấy thật ngọt ngào trong tai, trong khi tiếng Đức, dù đấy là tiếng mẹ đẻ thật, chúng tôi nghe sao lạ lẫm và thê thảm thế. Với những người có năng khiếu âm nhạc và toán học như tôi và anh, Gambetti ạ, tôi nói với anh ta, tiếng Đức không khác gì thứ đòn hành hạ. Tiếng Đức, nghe đến là khó chịu, không hay, vụng về, lủng củng, ngay cả tại những nơi chúng tôi những tưởng đã nâng nó lên hàng nghệ thuật. Tiếng Đức là thứ tiếng hoàn toàn phản âm nhạc, tôi bảo Gambetti, hết sức tầm thường và thô lỗ, chính vậy nên nền văn chương của chúng tôi có vẻ cũng tầm thường và thô lỗ như thế. Vì giới văn sĩ Đức chỉ nắm trong tay một công cụ thô sơ như thế, tôi bảo Gambetti, chả trách họ bao giờ cũng phải vất vả cực nhọc trăm lần hơn giới văn sĩ mọi nơi khác. Lúc này, đứng xem xét các bức ảnh gia đình, tôi tự nhủ, đôi khi ta toan tính kĩ lưỡng chuyện gì đó, song, đã chắc gì mọi sự rồi sẽ thành; một tai nạn bất ngờ có thể sẽ phá tan hoang hết cả. Hai bộ mặt giễu cợt của hai con em gái tôi trên tấm ảnh chụp ở Cannes cũng chính là hai con em gái tôi. Nhìn chúng nó, bao giờ tôi cũng chỉ thấy hai bộ mặt giễu cợt đó của chúng nó; bất kể thấy chúng ở đâu, gặp chúng lúc nào, đối phó chúng trong tình huống thế nào, tôi cũng chỉ nhìn thấy hai bộ mặt giễu cợt đó. Giả như có lúc nào, tôi nghĩ đến tụi nó chẳng hạn, tôi cũng lại chỉ thấy chúng, đúng hai gương mặt ấy. Tôi cất vào ngăn kéo bàn làm việc của tôi ở Rome đúng hai gương mặt mang vẻ giễu cợt này, chứ không phải hai gương mặt với vẻ khác mà đôi khi chúng nó cũng có, buồn rầu, hãnh diện, vênh vang, hay tự cao tự đại hết nước, không, tôi chỉ cất vào ngăn kéo đúng hai bộ mặt mang vẻ giễu cợt này thôi. Mỗi khi tôi nhắc đến hai con em gái tôi, thật ra tôi không nhắc đến hai con em thật sự, có lần tôi đã nói vậy với Gambetti, mà nhắc đến hai bộ mặt mang vẻ giễu cợt, do vô tình mà được ghi lại trên tấm ảnh đây thôi. Giá chúng nó có lăn ra chết, tôi nghĩ bụng, chắc mình cũng chả giữ lại được hình ảnh nào khác của chúng nó ngoài vẻ mặt giễu cợt này. Trong mơ, tôi nghe tiếng chúng nó cười, song đôi khi, lúc đang đi giữa thành Rome tôi cũng bất ngờ nghe thấy tiếng cười quái lạ của chúng; tiếng cười tự tin với cuộc đời còn dài-của chúng, và trước mắt tôi, lập tức chỉ hiện ra hai gương mặt mang vẻ giễu cợt ấy của chúng nó mà thôi. Ngoài ra không còn thêm gì nữa cả. Hai đứa chúng nói chuyện gì đấy với tôi, thì trọng lúc nghĩ lại xem chúng nó vừa nội gì, tôi lại chỉ thấy độc hai gương mặt giễu cợt đó hiện ra. Tôi nghĩ bụng, bộ mặt giễu giễu cợt cợt ấy chúng nó nhận từ bà mẹ - mặt bà chả cũng mang cái vẻ giễu cợt ấy mà lại - nhưng hai đứa con gái bà phóng đại vẻ giễu cợt ấy lên gấp bội, trông mới quái đản, mới ghê gớm làm sao. Đã nhiều lần tôi thử tách tôi khỏi hai gương mặt giễu cợt đó của hai con em gái tôi, thử trộn vẻ mặt đó với những vẻ mặt khác, không giễu cợt, nhưng không bao giờ thành. Tôi tự nhủ, tôi chẳng hề có đứa em gái nào, chỉ hai bộ mặt mang vẻ giễu cợt kia, chẳng có Caecilia lẫn Amalia nào cả, chỉ độc hai bộ mặt mang vẻ giễu cợt đông cứng lại mãi mãi trên tấm ảnh gớm guốc này thôi. Nhìn bức ảnh, tôi tự nhủ, chúng nó muốn tỏ ra xinh đẹp, trẻ trung, muốn làm ra vẻ sung sướng lắm, nhưng, hóa ra trong tấm ảnh lưu lại cho hậu thế đây, trông chúng nó lại xấu điên xấu đảo, và mặc dù ngoài đời thật sự còn ít tuổi, nhưng nhìn chẳng trẻ trung là mấy, trông lại vừa già, vừa hết sức bất hạnh. Chúng nó mà biết trước chúng nó sẽ chỉ để lại trong ảnh vẻ mặt giễu cợt và ấn tượng thật sự bất hạnh cho những ai sau này xem ảnh thế này, thì thể nào chúng nó cũng không chịu cho chụp đâu. Song, tôi tự nhủ, chúng nó đòi chụp, đòi chui bằng được vào bức ảnh này. Tôi còn nhớ rõ, chúng nó dứt khoát muốn có bức ảnh này, chúng nó lấy dáng, đứng nép vào nhau, làm ra bộ sung sướng và tự nhiên lắm, một vẻ tự nhiên mà trong khoảnh khắc chụp, chúng nó tưởng là vẻ tự nhiên thiên phú của chúng nó, nhưng thật ra, làm như thế, chúng nó chỉ phũ phàng tạo ra một dáng vẻ giả tạo, méo mó, trái tự nhiên, một sự bóp méo tàn độc mà thôi. Tôi cũng còn nhớ, miễn cưỡng lắm tôi mới chụp bức ảnh này. Song, không phải tôi có lỗi vì chụp ra bức ảnh tàn nhẫn như thế, tôi tự nhủ, mà chính chúng nó mới có lỗi, vì chúng nó đã ép tôi phải chụp và do vậy, mặc dù ngay lúc ấy, cả tôi lẫn chúng nó đều không thể biết được, cũng đã cưỡng bức tôi suốt đời phải đeo theo mình hai bộ mặt mang vẻ xỏ xiên, giễu cợt ấy của chúng. Tôi không bao giờ thoát khỏi bộ mặt ấy của chúng nó nữa, mọi nỗ lực của tôi nhằm thoát khỏi chúng đều không thành. Bao nhiêu lần tôi đã định hủy bức ảnh, xé nó ra, đốt cháy thành tro. Nhưng rồi mãi tôi vẫn không hủy, không xé cũng không đốt, bởi tôi cứ nghĩ, nếu đã phải dùng đến cả những cách như thế tôi mới tiêu hủy được một thứ hết sức vặt vãnh và tầm thường như bức ảnh đây, thì thật đúng là tột cùng lố bịch. Nghĩ vậy, tôi lại nhét bức ảnh này vào ngăn kéo cùng các tấm ảnh khác. Không phải hai đứa chúng nó đeo đẳng bám theo tôi cả ngày lẫn đêm, tôi tự nhủ, mà hai gương mặt giễu cợt của chúng nó suốt ngày suốt đêm không để tôi yên, hai gương mặt đó hành hạ tôi hàng ngày, thậm chí hàng tuần liền. Ta chỉ ghi lại một khoảnh khắc trong số hàng triệu, thậm chí hàng tỉ khoảnh khắc của hai con người bằng thứ dụng cụ quỷ quái này của nhiếp ảnh, tôi nghĩ bụng, để bây giờ lại suốt đời buộc tội hai con người trong ảnh ấy chỉ vì cái khoảnh khắc họ lộ ra vẻ giễu cợt trên gương mặt. Thế nhưng, tôi có là có hai con em gái, chứ đâu phải chỉ có hai gương mặt giễu cợt của chúng nó, tôi nghĩ bụng, rồi lấy hai tay ôm lấy đầu vì ý nghĩ ngớ ngẩn đó. Ở Wolfsegg tôi có hai con em gái, chứ không phải chỉ hai gương mặt giễu cợt mà tôi luôn nghĩ, chúng chống lại tôi mọi nơi, mọi lúc. Bây giờ, một trong hai bộ mặt giễu cợt ấy lấy chồng - thì tôi cũng phải nhất quán với mình để nói vậy chứ sao - lấy gã chủ hãng nút chai rượu vang ở Freiburg vùng Breisgau, gã đàn ông kỳ quặc và lố bịch, có cái đầu theo tôi là quá nhỏ, cắm trên tấm thân hộ pháp nặng nề, rộng ngang bè bè của gã. Thế là, một gương mặt mang vẻ giễu cợt này có chồng, còn bộ mặt giễu cợt kia không có anh chồng nào, và do đó, bộ mặt không có chồng này, loáng một cái, đâm ra thù ghét bộ mặt giễu cợt vừa lấy chồng kia rồi lui hẳn về ở trong khu nhà thợ làm vườn. Song, tôi không bao giờ nhìn tách biệt hai gương mặt giễu cợt của hai con em gái tôi. Có cố mấy cũng không được. Bao giờ tôi cũng chỉ nhìn thấy hai gương mặt mang vẻ giễu cợt ấy của hai đứa em gái tôi như một cặp ở bên nhau mà thôi. Trên bức ảnh, hai bộ mặt chúng nó mang vẻ giễu cợt, nhưng, tôi tự hỏi, có đung thật là hai con em gái tôi có hai bộ mặt mang vẻ giễu cợt như thế không nhỉ? Ở ngoài đời, chúng nó mang hai bộ mặt giễu cợt như thế thật ư? Liệu có phải chúng nó chỉ mang hai bộ mặt giễu cợt đó trong khoảnh khắc chụp ảnh tại Cannes mà thôi? Biết đâu, tôi nghĩ bụng, hai đứa chúng nó thật ra chỉ có vẻ mặt giễu cợt ấy đúng vào khoảnh khắc chụp ảnh tại Cannes thôi, chứ vào lúc khác thì không. Thế mà bây giờ tôi lại làm như thể chúng nó lúc nào cũng như lúc nào, luôn luôn mang bộ mặt giễu cợt như trong tấm ảnh chụp ở Cannes ấy. Nhiếp ảnh quả thật là thứ nghệ thuật quỷ quái ở thời đại chúng ta, tôi nghĩ bụng, nó buộc ta năm này qua năm khác, thập niên này qua thập niên khác, thậm chí suốt đời, luôn luôn phải nhìn thấy bộ mặt mang vẻ giễu cợt đó, trong khi vẻ mặt ấy chỉ hiện ra độc một lần duy nhất, trong một giây khắc ngắn ngủi trên một tấm ảnh nào đó, do ta chụp vào một lúc hoàn toàn không nghĩ ngợi, suy tính gì, do một ý nghĩ bất ngờ nào đó đưa đẩy thôi. Và ý nghĩ đột ngột ấy lại gây tác động ghê gớm, vâng, lánh khủng suốt đời. Một tác động không cách gì vô hiệu hóa được nữa, một tác động đôi khi có thể đẩy ta đến tuyệt vọng. Tôi không thể xóa hai gương mặt giễu cợt của hai con em gái tôi nữa, có lần tôi đã bảo Gambetti vậy. Trước mặt Gambetti, hình như tôi đã nhiều lần kêu ca phàn nàn với một cách hèn mạt về hai gương mặt mang vẻ giễu cợt ấy của hai con em gái tôi, kể từ khi chụp tấm ảnh, hai gương mặt từ ngày tôi chụp vào bức ảnh đây, quả thực đã luôn luôn giữ vai trò lớn trong đời tôi. Tấm ảnh khủng khiếp này, tôi đã nhiều lần nói vậy với Gambetti. Ở đây, tôi mới chỉ nói đến hai gương mặt mang vẻ giễu cợt của hai con em gái tôi thôi đấy, hai gương mặt tôi không thể xóa đi được, không sao lôi ra khỏi đầu óc tôi được nữa, tôi bảo Gambetti. Thế nhưng, tuy tác động có thể sẽ không đến nỗi dữ dội lắm, điều đó cũng có thể xảy ra khi ta xem xét bất kỳ bức ảnh nào khác, như ảnh người quen hay ảnh các nhân vật nổi tiếng mà ta coi là quan trọng chẳng hạn. Anh cứ thử nghĩ đến bức ảnh chụp Einstein lúc ông ta thè lưỡi ra mà xem. Gambetti ạ, tôi không thể nhắc đến Einstein mà không nghĩ đến hình ảnh ông ấy thè lưỡi ra như thế nữa. Tôi không thể nghĩ đến Einstein mà không thấy cái lưỡi ông ta thè ra, cái lưỡi láu lỉnh, ít nhiều ác ý, ông thè ra trêu ngươi toàn bộ thế giới chúng ta, không, toàn bộ vũ trụ mới đúng, Gambetti ạ. Cũng như tôi không thể nghĩ đến hình ảnh ông Churchill mà không thấy môi dưới ông ấy trề ra đầy vẻ ngờ vực. Tất nhiên, có phần chắc là Einstein chỉ thè lưỡi với vẻ ác ý và láu lỉnh như thế độc mỗi một lần và cũng có phần chắc là Churchill chỉ trề môi ngờ vực như vậy có mỗi một lần duy nhất đó, đúng vào khoảnh khắc những bức ảnh đó chộp được mà thôi. Ấy vậy mà, tôi bảo Gambetti, lần nào đọc các bài viết của Churchill, tôi cũng chỉ nhìn thấy cái môi dưới của ông ta trề ra đầy ngờ vực như thế, cũng như mỗi lần đọc cái gì đó của Einstein thì lập tức tôi lại ám ảnh, như bị bỏ bùa bởi cái lưỡi ông thè ra trêu ngươi thế giới và toàn bộ vũ trụ ấy. Thậm chí tôi còn nghĩ, không phải ông Churchill mà cái môi dưới trề ra ngờ vực của ông ta đã viết ra quyển hồi ký ấy, không phải Einstein mà cái lưỡi thè ra của ông đã phát ngôn những câu nói rung động toàn thế giới. Tôi bảo Gambetti, có dạo tôi đã nghĩ, bây giờ mà làm một bài tiểu luận về hai gương mặt giễu cợt của con Amalia và con Caecilia thì không chừng, tôi có thể thoát khỏi vẻ mặt ấy của chúng nó cũng nên. Nhưng, tất nhiên tôi gạt ý nghĩ đó đi ngay, bởi vì, rõ ràng đó là một trong những ý nghĩ dớ dẩn nhất của đời tôi. Tôi sẽ chẳng bao giờ thoát khỏi hai bộ mặt giễu cợt của hai con em gái tôi, hồi ấy tôi đã bảo Gambetti như thế, tôi sẽ phải sống với hai gương mặt ấy suốt đời, cho đến lúc chết. Rất có thể, thảo một bài luận mang tựa đề Những gương mặt giễu cợt của bọn em gái tôi hẳn cũng sẽ rất có ích đấy. Nhưng để làm gì chứ? Hồi ấy tôi hỏi Gambetti. Hẳn tôi phải chìm đắm trong cơn buồn chán thật sự ghê gớm thì mới bắt tay soạn một bài luận văn loại như thế. Ngay hai gương mặt của hai đứa em đã cản trở tôi làm việc ấy rồi, tôi bảo Gambetti, hai gương mặt đã từ lâu không để tôi lúc nào được yên. Quả thật là điên rồ nếu nghĩ rằng, tôi ắt sẽ thoát khỏi gương mặt giễu cợt của chúng nó bằng cách xé nát tấm ảnh. Hay hủy nó đi, bằng cách vứt vào lò lửa chẳng hạn. Hoặc dùng kéo, cắt nó ra thành hàng ngàn mảnh. Không, chúng nó sẽ hành hạ tôi còn dữ dội hơn nữa, Gambetti ạ. Còn bố mẹ tôi trong tấm ảnh thứ hai, tôi tự nhủ, lúc hai người trên sân ga Victoria ở London lên tàu đi Dover cũng chẳng đẹp đẽ chút nào, trông đến là thảm hại, lố bịch, nhố nhăng. Hai ông bà không mang theo hành lý, chỉ ngoắc ô Burberry trên tay. Ông bố tôi mặc chiếc quần ống chẽn, cũ phải ba chục năm có lẻ, mua từ hồi trước chiến tranh ở Wien trong cửa hàng sang trọng của ông Habig nằm trên phố Kãrntnerstrasse và, suốt thời Quốc xã, ông đã mặc nó trện người. Hầu như bao giờ tôi cũng thấy ông mặc chiếc quần ống chẽn này thì phải, tôi nghĩ bụng. Ngay cả những lúc ông mặc loại quần khác, tôi vẫn thấy ông mặc chiếc quần chẽn của hiệu Habig trên người. Ông luôn mồm hô Heil Hitler trong chiếc quần chẽn ống của ông Habig, một chiếc quần hẳn phải đắt tiền lắp, bởi nó rất bền. Thật ra, tôi nghĩ bụng, chiếc quần trông cũng sáng trọng, nhưng bố tôi mặc trên người thì không sang trọng chút nào, trên người ông, trông nó đến rởm. Trong chiếc quần ống chẽn Habig này, bố tôi đã đứng chờ nghênh tiếp tay thủ lĩnh Quốc xã vùng Salzburg ở cổng vào khu nhà quản sự rồi mời ngay tay này đến tàu ngựa, bởi ông tin chắc như thế, ông sẽ gây được ấn tượng tốt đẹp nhất cho tay này về tầm cỡ khang trang của Wolfsegg cũng như về vai trò ông chủ của chính ông ở Wolfsegg. Các vị Tổng Giám mục, ông cũng đón tiếp trong chiếc quần ống chẽn này, trông tuy có thô bỉ thật, nhưng hợp thời Quốc xã. Trong tấm ảnh chụp ở London, hai ông bà đang lúc lên toa và mẹ tôi vươn cổ lên một chút, khiến chiếc mũ bà đội trên đầu trông vắt vẻo đến quái dị, tôi nghĩ bụng, như thể chỉ được giữ lại bằng mỗi một mũi kim cài mũ nữa thôi. Tại sao tôi lại cất đúng tấm ảnh này của bố mẹ tôi trong ngăn kéo bàn giấy nhỉ, không phải tấm nào khác, mà đúng tấm này - tấm ảnh nực cười và nhố nhăng, chụp bố mẹ tôi ở tư thế hài hước và nhố nhăng như thế. Trong khi, thật ra hai ông bà không phải lúc nào cũng hài hước và nhố nhăng như thế, tôi tự nhủ, thậm chí hoàn toàn khác hẳn - nghiêm nghị, hờ hững, vâng, cố tình ra vẻ lạnh lùng, chứ không hài hước. Trong khi hai chiếc ở Burberry ngoắc ở tay ông bà hướng thẳng đứng xuống đất, tư thế hai ông bà lại nghiêng nghiêng về phía trước, đúng tư thế người đang leo lên tàu. Trông ông bà trong bức ảnh đây sở dĩ nực cười và nhố nhăng như thế, chính là do tư thế nghiêng nghiêng của ông bà, trong khi hai chiếc ô Burberry ngoắc ở tay hướng thẳng đứng xuống đất. Chính quy luật trọng lực khiến họ trong giây khắc ấy trở nên hài hước và nhố nhăng. Hai người tất nhiên không hay biết gì về giây khắc họ bị chụp ảnh đó. Hai ông bà dạo ấy không muốn chụp ảnh, song lại bị tôi chụp. Tôi đã từng có trong tay hàng trăm tấm ảnh bố mẹ tôi, nhưng rồi tôi đều tiêu hủy hết, vứt bỏ tất tật, chỉ còn giữ lại độc tấm này trong ngăn kéo bàn giấy, tấm ảnh trong đó trông hai ông bà hài hước và nhố nhăng thế này. Tại sao nhỉ, tôi tự hỏi. Có lẽ do tôi muốn bố mẹ tôi hài hước và nhố nhăng như trong tấm ảnh tôi giữ lại thì phải. Tôi cũng muốn có của ông anh tôi một tấm ảnh, trong đó trông gã không đúng như thật sự gã thế nào, mà một tấm ảnh như tôi muốn nhìn thấy gã, ở tư thế lố bịch trên chiếc thuyền buồm ở hồ Wolfgangsee - một gã đàn ông trông cũng điển trai, bỗng chốc trở nên lố bịch, vô tích sự, bần tiện, ngu ngốc và bất lực, vâng, một gã chẳng đáng để tâm. Tôi bao giờ cũng chỉ muốn giữ một tấm ảnh chụp ông anh tôi nực cười thế này, có lần tôi đã bảo Gambetti, tức là tôi muốn có một gã anh trai nực cười, lố lăng, y như tôi muốn có ông bố bà mẹ nực cười, lố lăng vậy, cũng chẳng muốn có hai con em gái, chỉ muốn giữ hai gương mặt mang vẻ giễu cợt của chúng nó mà thôi, Gambetti ạ. Thật là như thế! Nói chung, chúng ta mang trong mình một bản tính quỷ quái, bộc lộ qua cái ta vẫn gọi là chuyện vặt vãnh, không đáng kể, như những tấm ảnh ta thu tập ảnh đây cho thấy. Sự thấp hèn của ta, sự đểu cáng, vâng, sự vô liêm sỉ của ta lộ ra rõ rệt đến cỡ nào. Và, chẳng còn nguyên do nào khác ngoài nguyên do ta hèn kém, bởi vì, nếu ta thật sự trung thực, thì ta phải thừa nhận rằng ta, chính ta, kém cỏi hơn tất cả những ai ta muốn thấy họ kém cỏi, ta lố lăng, bạc nhược, tầm thường hơn tất tật những ai ta muốn thấy họ như thế. Không phải họ, chính ta trước hết, mới là kẻ bạc nhược, kẻ lố lăng, tầm thường, đáng tởm, Gambetti ạ. Chỉ riêng việc tôi cất giữ những tấm ảnh này chứ không phải tấm nào khác của người nhà tôi, mà cất giữ trong ngăn kéo bàn giấy nữa chứ, hòng để có thể lôi họ ra xem xét bất kỳ lúc nào tôi muốn thôi, đã là bằng chứng cho sự đểu cáng, vô liêm sỉ và tầm thường của tôi rồi. Tôi chỉ cần mở ngăn kéo bàn giấy tôi ra - tôi đã có lần bảo Gambetti như vậy - là tôi đã có thể hả hê nhạo báng hai con em gái đáng ghét mang vẻ mặt giễu cợt rồi, là tôi đã có thể khoái trá chế giễu vẻ lố bịch của bố mẹ tôi, hay mỉa mai cay độc dáng điệu khổ sở của gã anh trai tôi rồi; vâng, chỉ cần lôi mấy tấm ảnh trong ngăn kéo bàn giấy ra xem xét là tôi đã tự cảm thấy vững vàng hơn trong cơn đớn hèn của chính mình và tự an ủi bằng một hành động phải nói thẳng là xỏ xiên đểu cáng như thế của chính mình. Qua chuyện này ta thấy con người ta hèn hạ đến thế nào. Ta coi kẻ khác là đê tiện và hèn hạ, rồi viện đủ mọi chứng cớ ra làm bằng, nhưng chính ta, khi tìm bằng viện cớ như thế, chính ta lại đê tiện và hèn hạ hơn gấp bội kẻ khác. Lẽ ra ta phải nhét chính mình vào ngăn kéo dưới dạng vài tấm ảnh nhố nhăng và lố bịch, ta lại đi cất giữ ảnh người nhà mình, để lúc cần thì lôi ra, hết dùng vào việc bất lương này lại đến việc bất lương khác, tôi bảo Gambetti. Tất nhiên, tôi bảo anh ta, trên đời cũng có người cất giữ ảnh chụp người thân họ ở những thời khắc đẹp đẽ, song, tôi không nằm trong số đó. Tôi chỉ lưu giữ những tấm nhố nhăng và lố bịch, bởi vì, xét về căn bản, tôi là kẻ yếu đuối và do đó, nhu nhược từ đầu đến chân. Mặc dù mỗi bức ảnh bao giờ cũng là một lần giả mạo thồ thiển, vẫn có những tấm ta cất giữ do kính trọng hay yêu thương những người chụp trong ảnh, song cũng có những tấm ta gìn giữ trong ngăn kéo bàn giấy hay treo lên tường chỉ xuất phát từ lòng thù ghét hay từ thói đểu cáng ta dành cho những người trong ảnh mà thôi. Tôi phải nói, thật đáng tiếc, tôi thuộc loại thứ hai vừa kể ra ở trên, tức là loại đê tiện. Đến độ tuổi nào đấy, tôi nói với Gambetti, khoảng bốn chục gì đó, ta thường có khả năng mình ra sao thì biểu lộ đúng như thế, với tất cả các nét hèn hạ vốn có - việc mà trước độ tuổi đó, đến trong mơ cũng không bao giờ xảy ra. độ tuổi này, thỉnh thoảng ta để yên cho thiên hạ nhìn sâu một cách đáng sợ vào lòng dạ ta. tuổi tôi, Gambetti ạ, chúng ta đã mở khá rộng những rèm cửa ta từng khép kín hàng chục năm, kín đến mức ta sắp ngạt cả thở, tôi bảo Gambetti. Rồi sẽ đến lúc, những tấm rèm đó sẽ mở toang hết ra, Gambetti ạ. Không biết rồi thái độ bọn em gái tôi sẽ thế nào, tôi nghĩ bụng, khi bây giờ tôi xuất hiện trước mặt chúng trong tư cách người thừa kế và quản lý toàn bộ tài sản bố mẹ tôi để lại? Bây giờ chúng nó cũng sẽ đón tôi, theo cái lối xưa nay tôi vẫn thấy rất xấc xược ấy ư? Tôi không dám nghĩ tiếp nữa, đành lảng đi. Những người còn sót lại, tôi tự nhủ, là hai đứa em gái tôi với tôi. Còn sống sót hóa ra lại là những đứa cả nhà chẳng ai ngờ chúng sẽ sống sót. Cái thằng tôi, từ xưa họ vẫn đinh ninh và luôn buông lời rủa, sẽ sớm vì căn bệnh khó thở mà chết vùi chết dập; có điều, chết đâu thì chết, đừng chết ở Wolfsegg là được. Giờ đấy tôi nghĩ, rất có thể, có khi còn chắc chắn là khác, cả nhà tôi từng suốt ngày suốt buổi ngong ngóng một bức điện báo tin tôi chết như thế cũng nên. Rồi cả bọn em gái tôi nữa, cũng sống sót; đấy là hai đứa, nói như mẹ tôi vẫn nói, hoàn toàn vô tích sự, cho nên cũng có được ai thật sự để tâm đến đâu. Song, tôi chưa bao giờ trông ngóng một bức điện báo tin bố mẹ tôi mất cả. Nhiều người thường lo sợ sẽ nhận được bức điện như thế, tôi thì không, tôi chả sợ. Ngày này qua ngày khác, phải có tới hàng triệu người sống ngay ngáy với mối lo nhận được bức điện tín như thế, báo tin về cái chết của người họ yêu thương hay họ kính trọng, tôi vẫn thường nói với Gambetti như vậy. Còn tôi, tôi chẳng bao giờ lo sợ một bức điện như thế. Khi chúng ta xem xét những tấm ảnh loại như những tấm tôi đang để nằm trên bàn giấy đây, ta thường nghĩ, những người chụp trong ảnh, ít nhất là từ trong ảnh, họ không nguy hiểm gì đối với ta, mặc dù ngoài đời, rất có thể họ là những kẻ dễ gây hiểm họa cho mình nhất. Hiểm họa chết người, chứ không vừa! Những người chụp trong ảnh cao cùng lắm được mười phân, và đến cãi lại ta họ cũng chẳng cãi được cơ mà. Ta ném vào mặt họ những lời chửi bới kinh khủng nhất mà họ chẳng buồn cãi lại, ta sồn sồn, lồng lộn xỉa xói họ mà họ chẳng thèm chống trả, ta có thể văng vào mặt họ mọi thứ ta muốn, họ cũng chẳng buồn động chân động tay. Song, chính cái kiểu dửng dưng, bất cần ấy của họ khiến ta điên tiết, càng làm ta lồng lộn. Ta nguyền rủa những người trong ảnh, bởi họ chẳng thèm đáp lại ta, bởi họ chẳng buồn có lấy một lời chống trả, trong khi ta nào có trông đợi gì hơn, nào có vật nài xin xỏ họ cái gì khác đâu, ngoài một lời chống chế. Nói cách khác, ta hung hăng vật lộn với những địch thủ lùn tịt bị thu nhỏ, tôi đã có lần bảo Gambetti, rồi cứ thế mà điên cả tiết. Ta bạt tai những thằng người lùn tí ti, rồi chính vì thế, mọi thứ trong ta đâm ra điên đảo. Thậm chí ta mù quáng lên cơn thịnh nộ, tôi bảo Gambetti, đổ tới tấp lên những cái đầu chỉ to không đến một phân như thế kia, bao nhiêu lời chửi bới thậm tệ và do đó, tự biến mình thành kẻ cực kỳ lố bịch. Tôi ngắm nghía bố mẹ tôi trong tấm ảnh, nhìn cảnh tượng hai ông bà, cao chưa đến chục phân, đang leo lên tàu đi Dover tại sân ga Victoria rồi xỉa xói hai ông bà; tôi bảo, từ xưa đến giờ các vị thật lố bịch biết bao, tôi nói thế, nhưng trong khoảnh khắc đó tôi không hề nhận ra mình đã tự biến thành kẻ lố bịch ra sao, còn lố bịch hơn cả bố mẹ tôi nhiều, nếu quả hai ông bà có khi nào đó từng lố bịch như tôi nghĩ, Gambetti ạ. Mày là thằng ngốc, tôi rủa gã anh trai chưa cao nổi chục phân của tôi. Bọn con gái đáng ghét chúng mày, tôi vặc hai đứa em đứng chỉ nhinh nhỉnh bảy, tám phân trên sân hiên ở Cannes. Chụp ảnh một ai đó cũng có nghĩa là chế nhạo người đó vậy, Gambetti ạ. Xét như thế, thì tất tật những ai cầm máy chụp ảnh, ngay cả khi họ hành nghề và thậm chí đã đưa nhiếp ảnh lên đến mức nghệ thuật cũng vậy thôi, đều là những kẻ nhạo báng thiên hạ. Nhiếp ảnh, tự nó, là sự nhạo báng láo xược nhất ở đời, sự nhạo báng tột cùng nhằm vào toàn thể thế giới này. Thế nhưng, tôi bảo Gambetti, thời nay, số người chụp trong ảnh phải nhiều gấp trăm lần số người thật ngoài đời - hay nói cách khác - nhiều gấp trăm lần số người tự nhiên. Đó là sự thật, buộc ta phải ngẫm nghĩ. Vừa hai hôm trước chứ đâu, sau khi từ Wolfsegg quay về, tôi nói với Gambetti, tôi rất mừng trở lại đây, thoát khỏi cái phương bắc cùng bao nhiêu thứ ngu si đần độn ở đấy ít lâu. Tránh xa nanh vuốt gia đình tôi, xa bà mẹ lúc nào cũng sồn sồn, lẫn ông bố suốt ngày suốt buổi nhấm nhẳn, cũng như tránh cái thời tiết khó chịu ở đất nước ấy. Một năm mười hai tháng thì ở đấy, đã mất chín tháng thời tiết xấu. Và, nếu chúng tôi ở đấy khấp khởi mừng, tưởng đã sang xuân, thì cũng mất cả vài tháng nữa, xuân mới thật sự về, để rồi lại chuyển ngay sang hè. Mà mùa hè thì mỗi ngày một ngắn đi. Rồi mùa thu, thật ra là mùa đẹp nhất ở đấy, hóa ra lại là mùa khiến dân chúng ở cái xứ bị thời tiết xấu hoành hành ấy phải khốn đốn, nhất là những ai chẳng may mắc bệnh gout hay bệnh phong thấp, bởi vì những cơn giông, trận bão thay nhau liên tiếp xộc tới, những ngọn gió lạnh như băng mới tháng Mười đã tràn về - sẽ chỉ hành ha đời họ mà thôi. Ấy là chưa nói đến những mùa đông khinh khủng, là những lúc mọi thứ ở đó trở nên không thể chịu đựng được nữa với những ai ngoài ba mươi tuổi. Ấy thế mà dân tình ở đây nào có biết họ đang hưởng vùng khí hậu tuyệt vời ra sao đâu, họ cứ nằng nặc muốn đến vùng phía bắc mát lạnh, họ khao khát rừng thông, họ thèm thuồng hồ nước trên núi, ao ước không khí trong lành vùng Núi Cao. Anh thấy không, Gambetti, người này ao ước về phương nam, kẻ khác lại thèm lên phương bắc, rốt cuộc ai cũng bất hạnh, vâng, thôi thì cũng còn may là ai cũng bất hạnh như ai. Còn tôi, lúc này tôi cứ tận hưởng bầu không khí tươi mát mà ấm áp ở đây cái đã, giữa những con người ồn ào nhưng dễ chịu, chia sẻ với họ lối sống thảnh thơi vô tư lự ở chốn này. Ở Wolfsegg tôi phải khoác áo khoác mùa đông sù sụ, còn ở đây, chỉ một áo sơ mi mỏng phanh ngực, quàng thêm trên vai chiếc áo len mỏng là xong. Khác biệt là ở chỗ đó. Ở đây, dân chúng không phải khuân trên người cả đống quần áo, không phải xỏ giày nặng trình trịch, không phải choàng nhiều lớp áo dày, không phải đội mũ lông, mũ nỉ trên đầu - suốt cả năm, người ta chỉ cần mặc quần mỏng áo nhẹ ra phố, và gần như suốt năm, lúc nào họ cũng và có thể thản nhiên ngồi ăn uống ngoài trời. Còn lâu! Tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng tôi kêu to lên, còn lâu tôi mới lại về Wolfsegg. Bây giờ bức điện này lại buộc tôi phải tức tốc quay về đấy. Đó là việc đương nhiên! Song, tôi lại nghĩ tôi có thể trì hoãn cái việc không thể cưỡng lại, không thể trốn tránh ấy bằng cách tuyệt nhiên không làm gì hết, cứ thế ngồi lì ra bên bàn giấy và xem xét mấy tấm ảnh này. Suốt buổi, tôi không rời mắt khỏi chúng, nhìn xoáy thật sâu, săm soi từng li từng tí. Bức điện tín, tôi trải rộng ra bên cạnh, để dòng tin báo tử ngắn ngủi luôn hiện trước mắt tôi và không ngừng lẩm nhẩm đánh vần đi đánh vần lại dòng chữ ấy cho đến lúc tôi tưởng sắp phát điên. Khác hẳn tôi, gã anh tôi vốn trầm tính. Ở Wolfsegg, tôi bao giờ cũng là kẻ không chịu ngồi yên, còn gã đứa trầm tĩnh. Bố mẹ tôi thường vẫn xem gã là đứa trẻ mãn nguyện, còn tôi - kẻ bất mãn. Hễ hai anh em có gây chuyện gì, ông bà cứ nhắm đầu tôi mà đổ lỗi; gã thanh minh, biện bạch thế nào, ông bà cũng tín ngay, còn tôi có huyên thuyên nhiều gấp bội ông bà vẫn bỏ ngoài tai. Nói ví dụ, tôi chẳng may đánh mất một số tiền, trước đó ông bà không rõ vì sao lại giao cho tôi giữ chẳng hạn, họ liền lập tức không tin tôi đánh mất, dù tôi có thề thốt thế nào cũng vậy. Ông bà không tín tôi, nghi tôi lấy tiền đút túi và giả vờ bảo mất, còn anh tôi, gã bảo gã mất tiền, ông bà khắc tin ngay. Ví dụ, gã bảo gã đi lạc trong rừng, ông bà tin gã ngay lập tức. Còn tôi, nếu có nói y như gã đi nữa, họ cũng chẳng đời nào tín. Bao giờ tôi cũng mất nhiều công, tốn lắm lời thanh minh, phân trần chuyện này chuyện nọ. Một bữa, gã anh tôi đẩy tôi ngã xuống cái ao phía sau ngôi biệt thự trẻ thơ. Chẳng biết vô tình hay cố ý, nhưng rõ ràng, gã ẩy tôi xuống ao lúc đi ngang qua tôi trên bờ ao, nơi hai anh em đang chơi nghịch trên đấy. Vì bờ ao hẹp, hai đứa không thể sánh đôi trên đó được. Tôi phải gắng hết sức giữ sao cho mình nổi trên mặt nước, chứ không để bị chìm xuống. Quả thực lúc đó tôi rất sợ, không khéo mình chết đuối mất, nhưng trong đầu tôi cũng thoáng ngay ý nghĩ, gã anh tôi cố ý đẩy tôi xuống ao, chứ không phải do gã vô ý hay vụng về gì. Trong lúc vật lộn với cái chết, ý nghĩ đó cứ xoáy vào đầu tôi. Muốn cứu tôi, anh tôi lúc ấy không thể không liều mạng, đúng, phải liều mạng thật. Vâng, thì dĩ nhiên, gã cũng có tìm cách kéo tôi vào bờ thật, nhưng vô hiệu. Cái ao khá sâu và đứa trẻ nào chắc chắn cũng sẽ chết đuối, nếu nó không tìm cách giữ mình nổi trên mặt nước, tôi bảo Gambetti. May sao, đúng lúc tôi chắc mười mươi, mình chết chìm đến nơi rồi, thì tay tôi vớ được chiếc vòng bằng sắt gắn ở bờ ao để leo lên bờ - chiếc vòng sắt nằm dưới mặt nước, vốn dùng để buộc chiếc thuyền con con trước đây vẫn bập bềnh một dạo trong cái ao này. về đến nhà, bố mẹ tôi lập tức căn vặn, làm sao tôi ướt như chuột lột từ đầu đến chân thế kia, thì tôi - để đỡ cho ông anh - lại không nói thật, chỉ nói cụt lủn, con vô ý ngã xuống ao. Hai ông bà lập tức lồng lên, à, mày cố ý nhảy xuống ao cho anh mày gặp rắc rối chứ gì. Tôi cãi lại, không, con chẳng may ngã xuống đấy, thì ông bà mắng tôi sa sả, bảo tôi dối trá, rồi kéo gã anh tôi vào lòng như thể muốn che chở, an ủi gã và quầy quậy đuổi tôi vào bếp, nhanh lên, trút ngay quần áo ướt ra, mặc quần áo khô ráo vào. Suốt lúc ấy, gã anh tôi không mở miệng nói một lời. Thôi, gã không nói sự thể thế nào thì cũng được đi, nhưng một lời thôi, giúp tôi thanh minh, rằng không, tôi chẳng có lỗi gì khi chẳng may ngã xuống ao, gã cũng không thèm nói. Gã dửng dưng trước cảnh tôi bị mắng oan, mặt mũi tỉnh bơ, đã không buông một lời nào bênh vực tôi thì chớ, lại còn dúi đầu vào vạt váy mẹ tôi như muốn tìm nơi che chở, khiến tình thế của tôi đã khốn nạn lại càng khốn nạn thêm. Nếu tôi chẳng may có ngã rồi làm rách tất, thể nào ông bà cũng mắng tôi sa sả vì tội làm rách đôi tất, chứ không bao giờ nghĩ đến chuyện an ủi tôi, do ngã như thế mà sứt cả đầu gối, rớm máu đến là đau. Họ mắng mỏ, xỉ vả tôi hàng giờ liền và thậm chí tối đến, lúc chính tôi cũng quên vố ngã đau của mình từ lúc nảo lúc nào rồi, thì ông bà lại lôi chuyện đó ra đay nghiến tôi, cứ như thể họ lấy chuyện nhiếc móc tôi, khiến tôi phải phát khóc lên, làm trò tiêu khiển không bằng. Gã anh tôi, chỉ xây xước tí ti thôi, ông bà đã xuýt xoa, an ủi rối rít, chứ tôi có sứt cả đầu mẻ cả trán họ cũng mặc kệ. Bởi vì ông bà nghi tôi hay mò đến chơi lâu ở chỗ thợ làm vườn, cho nên hai vị rất hay đe trước, ông bà không muốn tôi đến chỗ thợ làm vườn, bởi hai vị e họ sẽ làm gương xấu cho tôi, ông bà thích tôi đến choi chỗ cánh thợ săn nhiều hơn, ông bà nghĩ đám này sẽ nêu gương tốt cho tôi. Còn tôi, như đã nói, tôi lại ghét đám thợ săn, tôi chỉ quý thợ làm vườn và chỉ thích đến chơi với họ thôi. Bố mẹ tôi mà biết tôi đến chơi chỗ thợ làm vườn là thể nào ông bà cũng mắng mỏ nhặng xị, rồi trách mắng luôn cả cánh thợ làm vườn, đổ lỗi họ dụ dỗ tôi, bởi vì dưới mắt ông bà, đi lại chơi bời với cánh thợ làm vườn chỉ có hại - nói như mẹ tôi - chứ không được tích sự gì. Nếu anh tôi lân la đến chỗ thợ săn, bao giờ ông bà cũng lại khen giỏi, bố mẹ rất hài lòng thấy con đến chơi với thợ săn. Và, bao giờ ông bà cũng cố ý làm sao để tôi phải nghe thấy mới được, làm sao tôi phải cảm thấy bị xúc phạm mới sướng. Cũng có lần tôi đến chỗ thợ săn - tôi không nhớ lý do nào khiến tôi đến đó, chứ không đến chỗ thợ làm vườn, vâng, vì lý do nào, quả tôi không nhớ nữa thật, lúc bố mẹ hỏi tôi vừa đi đâu về, tôi liền đáp, con ở chỗ thợ săn về. Đã không tin thì chớ, bố còn giáng cho tôi cái bạt tai ngay trước mặt thằng anh tôi nữa chứ. Hắn biết rành rành tôi vừa ở đó về, vì hắn cùng tôi đến đó về chứ đâu, nhưng hắn chi lặng thinh, không nói lấy một lời đỡ giúp tôi. Kể cả mẹ tôi có quả quyết tôi nói dối, rồi cho tôi cái bạt tai trời giáng, thì hắn vẫn thản nhiên như không, một mực làm thinh, mặc dù hắn biết thừa tôi nói thật. Ngay cả khi lớn lên rồi, vâng, tôi còn nhớ rất rõ mà, bố mẹ tôi cũng chẳng hề tin tôi. Nếu tôi có bạn bè đến chơi rồi sau đó, ông bà vặn hỏi tên tuổi những ai vừa đến, thì dù tôi có nêu đúng tên gọi đúng tuổi tất cả những ai vừa đến chơi về, họ vẫn không tin mới khổ. Hai vị cứ một mực khăng khăng, họ biết thừa ai vừa đến chơi tôi, chỉ có điều chắc chắn đấy không phải người tôi vừa khai ra với họ. Nếu tôi có ở Weis về và, khi hai vị hỏi vừa ở đâu về, tôi đáp, con ở Weis về, thì họ liền quả quyết, không phải anh vừa ở Weis; chúng tôi biết thừa anh vừa ở đâu, ở Vocklabruck, ở Linz, ở Styer, chứ chắc chắn không phải ở Weis và anh đừng có mà hòng dạy khôn chúng tôi. Hai vị không bao giờ tin tôi lấy một lời, bao giờ họ cũng nhìn tôi như nhìn một thằng dối trá, không phải hạng dối trá vặt bình thường, mà - như mẹ tôi vẫn rủa - hạng dối trá bẩm sinh, dối trá tự lúc lọt lòng. Anh làm gì suốt ngày trong thư viện thế? Các vị vặn tôi, mỗi khi bắt gặp tôi từ thư viện ra, bất kể từ thư viện nào trong số năm thư viện gia đình. Thư viện nào đối với các vị cũng đáng ngờ, bởi quả thật chỉ có một mình tôi thường xuyên vào thư viện mà thôi. Chắc chắn anh vào đấy làm gì khác chứ không phải để đọc sách! Ông bà sẽ nói thế rồi dứt khoát đòi tôi phải trả lời ngay. Dù tôi có thề thốt thế nào với các vị thì thề thốt - quả tình con vào đấy chỉ cốt để đọc sách - đều chẳng ăn thua. Anh vào đấy, cốt để theo đuổi các suy nghĩ xấu xa mất nết chứ gì, bao giờ mẹ tôi cũng sa sả toàn những lời kiểu như thế, không thèm nghe tôi thanh minh, không, con vào thư viện đọc sách thôi, ngoài ra con không làm gì khác trong ấy cả. Tôi bao giờ cũng một mực thề thốt, tôi vào thư viện chỉ để đọc sách, ngồi trong đó bao lâu cũng chỉ là để đọc sách thôi. Song, bà không chịu yên, sừng sộ mắng tôi là thằng nói láo rồi lần nào cũng như lần nào, hằm hằm quả quyết, tôi vào thư viện cốt thả hồn theo các ý nghĩ xấu xa mất nết. Ấy thế, nhưng nếu tôi có bẻ lại, vậy chứ thế nào là ý nghĩ xấu xa mất nết, thì bà lại chẳng đáp mà tru tréo lên, như bà vẫn chửi tôi hồi tôi còn niên thiếu, nào tôi là thằng chuyên gây rối, nào tôi trâng tráo, xỏ xiên, dối trá; rồi bà đùng đùng bỏ đi, mặc tôi trơ ra đó một mình. Bao giờ bà cũng nghi tôi đang đeo đuổi các ý nghĩ xấu xa mất nết, mặc dù chính bà cũng không biết các ý nghĩ xấu xa mất nết ấy là gì. Nhưng nghi ngờ mãi thành quen, bà cứ đổ riệt cho tôi cái tội ấy, ngay cả khi khách khứa đông người, bà cũng chẳng tha. Bên bàn ăn, trước mặt bao nhiêu người lạ, phần lớn là những người tôi chẳng ưa tí nào - những người thuộc cái giới gọi là giới trung lưu ở các thị trấn lẻ nằm rải rác xung quanh Wolfsegg bà từng giao lứu từ dạo bé tí đến giờ - bà cũng chẳng ngần ngại rêu rao tôi đeo đuổi các ý nghĩ xấu xa mất nết. Tôi phải nói ngay, mẹ tôi sở dĩ yêu cưng gã Johannes anh trai tôi, trước hết vì gã chẳng bao giờ có nhu cầu vào thư viện. Lúc nào bà cũng luôn mồm, Johannes không vào thư viện đeo đuổi các ý nghĩ xấu xa mất nết làm gì, nó đến nhà thợ săn chơi, ở đấy vui hơn. Tôi nào có lạ các thú vui ở khu nhà cánh thợ săn, rặt những trò hạ đẳng, xỏ lá, xỏ xiên. Cánh thợ săn ở đấy có lối vui đùa đểu giả và hèn hạ, họ nhai đi nhai lại các câu chuyện tiếu lâm thô tục, bẩn thỉu và tầm thường đến mức, hay ho đâu tôi chẳng thấy, chỉ thấy bẩn tai. Trong khi các câu chuyện tiếu lâm thô lỗ, bẩn thỉu từ đầu đến cuối, tầm thường và hạ đẳng ấy là nguyên nhân chính khiến tôi ghê tởm khu nhà cánh thợ săn, thì chính đó lại là trò mẹ tôi thích thú. Bà không khoái gì hơn khoái nghe loại chuyện tiếu lâm như thế, lần nào như lần nấy, mỗi khi rời khỏi khu nhà bọn thợ săn, bao giờ bà cũng do cười quá nhiều mà rơm rớm cả nước mắt, khiến đến như bố tôi mà cũng phải thấy là nhố nhăng. Bà luôn mồm bảo tôi, sao anh chỉ thích đến nhà thợ làm vườn, nhạt nhẽo, chán chết đi được ấy. Đấy đúng là kiểu của bà. Bà chẳng hề thấy nhạt nhẽo tí nào khi bà suốt đêm cùng bọn thợ săn lè nhè vài bài hát ngu xuẩn, khi bà cùng ngồi chen vai sát cánh sát sàn sạt với bọn họ trên một chiếc ghế băng chật hẹp nào đó rồi mặc cho bọn nó, chẳng những được tha hồ buông lời tán tính cợt nhả, mà còn - vâng, tôi phải nói thật - khi đã về khuya, không cần nể nang, giấu giếm gì nữa cứ việc thả sức hết sờ đùi lại bóp mông bà. Nếu gã anh tôi làm xong bài tập ở nhà rồi trình bố mẹ xem, thì thể nào ông bà cũng lại khen, bài con làm vậy rất tốt; đến lượt tôi trình bài tôi làm, thì hai vị khắc bới lông tìm vết, không lỗi chỗ này, thì sai chỗ nọ, và luôn miệng mắng mỏ tôi về tội chữ xấu, như ông bà vẫn nói, khó đọc chết đi được. Gã anh tôi vác được điểm tốt về nhà là hai vị lại y như rằng khen lấy khen để, còn tôi, nếu có khoe điểm tốt đến giời, hai vị cùng lắm cũng chỉ miễn cưỡng thưởng cho cái gật đầu là hết. Tôi còn nhớ, bố mẹ tôi bao giờ cũng cho gã anh tôi dùng loại vỏ chăn, khăn trải giường thượng hạng, ngược với tôi, chỉ được dùng thứ đã cũ sờn, gối của gã cũng là loại tốt nhất, còn của tôi thì vá chằng vá đụp. Tất tiếc mang ở chân, tôi cũng phải mang lâu hơn gã, áo khoác mặc ngoài, áo khoác mặc trong đều vậy cả. Nếu tôi có xin cho tôi được mặc quần áo mới, như gã anh tôi, cũng vô ích; với gã - nếu tất ngắn, tất dài, áo khoác trong, áo khoác ngoài, vân vân và vân vân của gã có hơi sờn hay chớm bẩn - liền được các vị cho phép sắm thứ mới ngay. Với tôi, ông bà chẳng cho phép. Hai vị vẫn bảo tôi hoang, trong khi ông bà chẳng bao giờ mắng gã anh tôi hoang cả. Bố mẹ tôi, tôi tin chắc như thế, không bao giờ đối xử công bằng với tôi, bởi vì, ngay từ thời tôi còn thơ ấu, hai ông bà đã có cảm giác e ngại rằng tôi hơn hẳn họ. Tôi không rõ cái gì đã khiến ông bà e ngại như thế. Chỉ ông bà nội hồi xưa là công bằng, ông bà đối xử với tôi và Johannes như nhau, không hề phân biệt đứa cháu nào hơn đứa cháu nào. Có thể nói, thời ông bà nội tôi còn sống là thời sung sướng nhất của hai anh em chúng tôi ở Wolfsegg. Cũng phải thôi, có lần tôi bảo Gambetti, ông bà nội tôi quả thật không thiên vị bất kỳ ai. Ông bà tôi vừa mất là tôi liền có ngay cảm giác, bố mẹ tôi muốn trừng phạt tôi, chỉ vì ông bà cứ nghĩ đinh ninh trong đầu rằng tôi thường được ông bà nội nuông chiều hơn anh tôi. Nhưng, đâu có phải vậy; bố mẹ tôi, nhất là mẹ tôi, cứ suy ra thế thôi. Mọi sự cứ như thể, sau khi ông bà nội mất, bố mẹ tôi bảo nhau, giờ ta phải chăm nom thằng Johannes nhiều hơn, vì nó vốn vẫn bị ông bà nội hắt hủi, ta phải chiều chuộng nó nhiều hơn, bởi nó thường bị ông bà nội ghét bỏ và bao nhiêu lâu nay nó phải tủi thân vì ông bà nội nuông chiều thằng em nó - tức là cái thằng tôi đây - nhiều hơn. Song, gã anh tôi không hề bị ông bà nội hắt hủi bao giờ, cũng như tôi không được ông bà nội chiều chuộng hơn. Sự thật là thế! Song, bố mẹ tôi cứ một mực đinh ninh ông bà nội cưng chiều thằng tôi và hắt hủi thằng anh, và từ đó trở đi, hai vị đồng lòng, tìm mọi cách cho tôi phải thấm được điều họ suy diễn tưởng tượng ra đó, mặc dù tôi thừa biết điều đó không đúng với sự thật chút nào. Vâng, từ ngày ông bà nội tôi mất, bố mẹ tôi mỗi ngày một tỏ ra yêu thương, chiều chuộng gã Johannes nhiều hơn, trong khi đối với tôi thì ngược lại, ông bà mỗi ngày một thêm ghét bỏ. Và, cả lối thiên vị mỗi ngày một tăng của hai vị dành cho gã Johannes anh tôi, lẫn sự ghét bỏ ông bà đổ lên đầu tôi, quả thực, đều dần dần làm tôi không chịu nổi. Nói cách khác, ngắn gọn hơn, thì ông bà thương thằng anh tôi và ghét cái thằng tôi, có vậy thôi. Lúc đứng trên đồi Pincio, tôi bảo Gambetti, điều hết sức quái đản là chính trong cái nhà có đến những năm thư viện như nhà tôi mà tư duy, cùng đời sống tính thần nói chung, chẳng những bị coi nhẹ, mà còn thật sự bị khinh rẻ. Đối với những người từng bắt tay xây nên Wolfsegg và sinh sống ở đó trước tiên, tôi buộc phải nghĩ vậy, hẳn là một thư viện thôi chưa đủ. Họ hẳn phải có một nhu cầu tự nhiên, hướng tới trí tuệ cũng như cuộc sống tinh thần và chính họ hẳn cũng phải là những nhà tư tưởng say sưa cuồng nhiệt, những người - tôi tin chắc như thế - hẳn đã lấy tư duy và hoạt động trí óc làm hoạt động sống chính yếu, như vô số tài liệu còn được lưu giữ đây cho thấy rõ điều đó. Họ hẳn phải chắc chắn một niềm tin rằng, đỉnh cao của cuộc đời mỗi người là các hoạt động trí tuệ, là các hoạt động tinh thần, Gambetti ạ, chứ không phải là các mối bận tâm tầm thường, không phải là các hoạt động vớ vẩn thường nhật như bố mẹ, anh em tôi hàng ngày vẫn lăn vào. Kỳ diệu làm sao cái thời xa xưa ấy, cái thời trí khôn được nâng lên tầm tư duy và, như ta vẫn biết, tư duy trở thành điều răn tối thượng. Ngày nay, mọi thứ hôm xưa từng làm Wolfsegg nổi bật lên, đều đã bị khô héo, tàn lụi, bởi chúng đã bị hậu thế, lớp này qua lớp khác, khinh nhờn, miệt thị, hay nói cho đúng hơn là, trong thế kỷ vừa qua và nhất là trong mấy thập niên gần đây, mọi thứ đó đã bị chúng đạp xuống bùn đen. Vậy mà, tôi bảo Gambetti, các thế hệ xưa kia từng lập nên ở đó không phải một, mà những năm thư viện, hai thư viện tầng trên, một cái bên trái, một cái bên phải, hai thư viện tầng dưới, một cái bên trái, một cái bên phải, còn thêm thư viện trong ngôi biệt thự trẻ thơ nữa. Suốt hàng thế kỷ qua, các thư viện đó đã dành chỗ cho mọi ngành khoa học xã hội, cho mọi trường phái tư duy, cho mọi loại hình nghệ thuật khác nhau. Một lần, Gambetti ạ, tôi chui vào thư viện tầng trên, phía bên trái, để đọc cuốn Luật sư Siebenkäs của Jean Paul, cuốn sách chú Georg tôi đặc biệt yêu thích. Tôi đọc hàng giờ liền và dần dần quên hết mọi thứ xung quanh, thậm chí quên cả một việc - thay vì vùi đầu đọc Luật sư Siebenkäs như lúc ấy - lẽ ra tôi đó phải có mặt giúp mẹ tôi sắp xếp đống thư từ của bà. Tôi quên khuấy mất rằng, theo lệnh bà, đúng sáu giờ chiều thứ Bảy hàng tuần, tôi phải có mặt tại căn phòng gọi là phòng làm việc của bà, đặng giúp bà phân loại, sắp xếp các loại thư từ. Luật sư Siebenkäs trong thư viện bên trái của tầng trên, quả thật, đã làm tôi quên sạch mọi thứ, thậm chí cả lệnh của mẹ tôi. Thứ Bảy nào cũng như thứ Bảy nào, từ sáu đến bảy giờ tối, bà ngồi trong phòng làm việc và bắt tôi, hoặc Johannes, luấn phiên nhau, sắp xếp và phân loại thư từ suốt tuần qua gửi đến cho bà, đúng theo thứ tự trước sau, xét theo ngày đến. Sắp xếp xong đâu đấy, tôi phải đặt tập thư từ vào một chỗ nhất định trên bàn giấy của bà. Trong lúc tôi sắp xếp thư từ cho bà như thế, tôi thường có cơ hội thong thả nói chuyện với mẹ tôi, những cơ hội thông thường chẳng bao giờ có. Trong lúc tôi sắp xếp thư từ, bà hí hoáy viết lách và cho tôi được dịp thưa mọi chuyện với bà. Không bao giờ có dịp nào khác. Mặc dù bà không ưa tôi hỏi chuyện này chuyện nọ, bởi bao giờ bà cũng bảo tôi chuyên hỏi lôi thôi, rắc rối. Thế nhưng, những lúc sắp xếp thư từ như thế, tôi vẫn được phép hỏi bà chuyện này chuyện nọ, và bà cũng đáp lại tôi thật. Nói cho cùng, những lúc sắp xếp thư từ như thế trong phòng giấy của mẹ tôi, vào khoảng thời gian chưa đầy một tiếng đồng hồ trước khi ăn tối ấy, là những dịp may duy nhất cho tôi được gần bà. Những lúc ấy, cũng có khi bà thưởng cho tôi đôi lời thân mật, vâng, thậm chí còn âu yếm nữa là khác. Vào những lúc sắp xếp thư từ đó, thường tôi cũng cảm thấy yêu mẹ tôi thật, yêu tự đáy lòng là đằng khác. Nhìn nghiêng, tôi thấy khuôn mặt mẹ những lúc đó thật đẹp, mặc dù lúc khác, vẻ mặt tầm thường của bà vẫn hay làm tôi bối rối. Chiếc đèn bà thắp trên bàn giấy hắt ánh sáng lung linh yếu ớt lên mặt bà, làm gương mặt đẹp hẳn lên, tôi bảo Gambetti lúc đứng trên đồi Pincio, ánh đèn lúc ấy thật nhân từ, độ lượng với bà. Vào những buổi tôi sắp xếp thư từ rồi đặt chúng lên bàn cho bà như thế, đôi khi bà ngẩng lên, và gần như là trìu mến, bà đưa tay xoa đầu tôi. Song, cũng ngay giây phút đó, như thể chợt thấy ngượng ngùng vì một cử chỉ như thế, bà đã rụt ngay tay lại, rồi đuổi tôi đi. Lúc ấy, như thể bà chợt nhận ra đó là tôi, chứ không phải Johannes, nên bà rụt ngay tay về và quay lại với đống thư từ của bà. À, nhưng tôi đang định kể anh nghe chuyện khác, Gambetti nhỉ, tôi nói với anh ta trên đồi Pincio. Vâng, tôi chui vào thư viện tầng trên, phía bên trái, đọc cuốn Luật sư Siebenkäs rồi quên khuấy việc sắp xếp thư từ. Lúc tôi sực tỉnh khỏi cơn mê mải Luật sư Siebenkäs và ít nhiều hoảng hốt đặt quyển sách sang một bên thì đã chín giờ tối. Rồi tôi rời thư viện, là nơi - như anh đã biết - lâu nay tôi vẫn bị cấm lai vãng để vội vàng lần xuống nhà với mọi người, lúc ấy đã xong bữa tối từ lâu. Luật sư Siebenkäs đã cuốn hút và buộc chặt tôi ngồi bất động vào chiếc ghế trong thư viện suốt năm tiếng liền và tôi, không những chỉ quên sắp xếp thư từ, mà cả bữa ăn tối cũng quên nốt. Tôi xuống dưới nhà, Gambetti ạ, thấy cả nhà đang ở trong gian phòng vẫn gọi là phòng khách màu lục, và thoáng nhìn tôi biết ngay, ai nấy chỉ còn chờ tôi ló mặt trình diện. Thấy tôi bước vào, không ai nói một lời. Được một lúc, trong khi gã Johannes anh tôi, đúng như tôi lường trước, hóng hớt với vẻ mặt hả hê hết sức đáng ghét, mẹ tôi - mắt không thèm nhìn tôi - nghiêm giọng hỏi, tôi đi đâu, tại sao không đến sắp xếp thư từ cho bà, làm sao lại dám láo xược và vô lễ đến mức không những ngang nhiên trốn việc sắp xếp thư từ, lại còn trâng tráo bỏ cả bữa ăn tối như thế. Bởi vì, chẳng có lý do nào, ít nhất cũng là những lý do bà có thể chấp nhận được, khiến tôi bỏ bễ công việc sắp xếp thư từ, và để mặc bà ăn tối một mình, lại còn khiến cả nhà phải lo cuống lên vì không biết tôi biến đi đằng nào, làm cả nhà lo sợ, tưởng tôi lâm nạn khủng khiếp ở tít tịt những đâu. Và, liệu tôi có hiểu rằng, tôi đã làm mọi người, nhất là bà, mẹ tôi, sợ chết khiếp không. Theo bà, không hề có lý do nào cho phép tôi không đến sắp xếp thư từ, cũng như không hề có lý do nào cho phép tôi bỏ bữa ăn tối. Cho đến lúc đó, mẹ tôi vẫn chưa thèm nhìn mặt tôi. Bỗng bà đột ngột nhìn xoáy vào mặt tôi rồi nói gằn từng tiếng: Mày là thứ quái vật! Nếu ta không nhầm thì mày vừa ở thư viện ra! Và mày làm gì trong đấy? Đoạn, bà bồi tiếp, mày lại đeo đuổi các ý nghĩ xấu xa, mất nết của mày chứ gì. Bố tôi, cùng anh trai lẫn hai đứa em gái tôi, ai nấy đều nhìn về phía tôi, hồi hộp chờ giây phút mẹ tôi ra lời tuyên án. Lúc ấy, tôi vẫn đứng ở cửa, sợ hết hồn hết vía. Dạo ấy, tôi mới khoảng chín, mười tuổi gì đó, tôi cũng không nhớ rõ, Gambetti ạ. Toàn thân tôi run bắn cả lên. Hai con em gái, dạo ấy tuy còn rất nhỏ, nhưng trên mặt cũng không để lộ cái gì khác, ngoài nỗi háo hức, niềm khao khát xấu xa, mong cho tôi sẽ bị mẹ - vốn vẫn ghét cay ghét đắng tôi - ra hình phạt thật nặng. Mẹ tôi hạ giọng hỏi lại, thôi được rồi, bây giờ nói ta nghe, mày làm gì trong thư viện? Tôi đáp, con mải đọc Luật sư Siebenkäs quá. Nghe vậy, mẹ tôi nhảy dựng ngay dậy, cho tôi một bạt tai thật mạnh rồi tức khắc đuổi tôi về phòng ngủ. Hình phạt chính thức là tôi ba ngày không được phép ra khỏi phòng. Mẹ tôi khóa trái cửa phòng và suốt ba ngày liền không cho tôi ăn gì. Tôi ngồi bên bàn và không làm gì khác, chỉ khóc ròng suốt ba ngày đó. Phía ngoài, hai con em tôi chạy qua chạy lại suốt cả ba ngày liền và, trong lòng hả hê không để đâu cho hết, chúng luôn mồm gào Siebenkäs, Siebenkäs, Siebenkäs. Bao giờ anh đọc cuốn Luật sư Siebenkäs, Gambetti thân mến, tôi bảo anh ta trên đồi Pincio, anh đừng quên câu chuyện nhỏ ấy của tôi. Sau này, tôi quả có đưa cuốn Luật sư Siebenkäs cho Gambetti đọc thật. Không biết hiện giờ Gambetti còn nhớ câu chuyện tôi kể không, tôi tự hỏi. Mọi cuốn sách tôi từng đọc ở Wolfsegg đều kèm theo một câu chuyện hậu như thế, đều gắn với một câu chuyện về sau (hay đến trước nhỉ!) của đời tôi, tôi nghĩ bụng, mặc dù không phải chuyện nào cũng đáng buồn như câu chuyện gắn với cuốn Luật sư Siebenkäs của Jean Paid lần đó. Mẹ tôi, Gambetti ạ, thật sự chẳng biết Luật sư Siebenkäs là gì, bà chỉ nghĩ, tôi nhạo bà. Tôi nói thêm với anh ta, chắc anh vẫn nhớ dạo mẹ tôi đến Rome, vào dịp mùa thu ba năm trước. Đương nhiên, tôi đưa mẹ tôi đi thăm chỗ này chỗ nọ trong thành phố. Song, bà chán, chán đến tận cổ. Bà chỉ muốn vào các cửa hiệu nổi tiếng, nhất là các cửa hiệu ở phố Corso và Via Condotti. Bà mang theo một danh mục dài ghi tên các cửa hiệu nổi tiếng đó và cứ theo danh mục lần đến từng nơi một. Oái oăm là ở chỗ, danh mục bà lập theo thứ tự chữ cái - một sai lầm tai hại, đến như bà cũng phải sớm nhận ra, vì các cửa hiệu đó nào có nằm cạnh nhau theo thứ tự chữ cái abc cho bà, mà thông thường nằm rải rác rất xa nhau khắp thành phố. Thế là, hai mẹ con đưa nhau đi hết cửa hiệu danh tiếng này đến cửa hiệu danh tiếng khác, phần lớn là các cửa hiệu ở gần Piazza di Spagna; vào cửa hiệu nào, bà cũng mất ít nhất nửa tiếng, tại đa số cửa hiệu, mẹ tôi mất hẳn cả tiếng đồng hồ, khiến tôi phát điên lên được. Mẹ tôi vốn say mê các loại nữ trang rẻ tiền, tôi bảo Gambetti, bởi thế, bà hớt hải chạy hết cửa hàng trang sức này sang cửa hàng trang sức khác, tìm mua không phải một, mà cả đống, nào vòng đeo tay, nào chuỗi đeo cổ, đúng theo sở thích của bà. Chắc anh cũng đoán ra, tôi đã phải miễn cưỡng thế nào khi đi kèm mẹ tôi như thế; nhưng tôi không có đường nào mà thoái thác được cả. Anh cũng biết, tự tôi, tôi rất ghét những ai suốt ngày chỉ nháo nhác chạy đi xem hết tượng đài này đến nhà thờ nổi tiếng khác. Song, tôi cũng phải thú thật, tôi cũng chưa từng thấy một ai thờ ơ trơ tráo đến như thế trước cả một kho tàng văn hóa vĩ đại bày ra trước mắt mình ở Rome như mẹ tôi. Tôi đưa bà vào thăm Thánh đường Thánh Peter và, tất nhiên, bàn thờ Bernini - là bàn thờ tôi ghét nhất hạng - lại làm bà xúc động ra mặt; còn thì, suốt cả bấy nhiêu ngày bà dừng chân ở Rome, ngoài nội thất mấy cửa hiệu đồ trang sức và thời trang nữ, bà chẳng còn biết chỗ nào hơn nữa cả. Bà trọ ở khách sạn Hassler theo lời khuyên của tôi, nhưng bà than phiền khách sạn quá cổ lỗ, bà luôn mồm chê bai hết cái này lại nhăn nhó chỉ trích cái khác của khách sạn, mặc dù Hassler chắc chắn là khách sạn hạng nhất ở Rome, và có lẽ, cũng nằm trong số ba hay bốn khách sạn hạng sang nhất thế giới cũng nên. Không có thứ gì đủ tốt làm hài lòng bà cả. Rốt cuộc, tôi bảo Gambetti, bà mua không biết bao nhiêu là thứ, hộp lớn hộp nhỏ chất đầy phòng khách sạn, chẳng biết để đâu cho hết nữa. Hai mẹ con chúng tôi nhận được lời mời dùng năm bữa tối tại nhà bà con, anh bạn Zacchi của tôi, tất nhiên, cũng mời một bữa, tôi bảo Gambetti, nhưng bà chỉ nhận lời độc một bữa, nhưng không phải bữa anh Zacchi đáng kính mời, như anh có lẽ đã tưởng nhầm, mà bữa tiệc do tay đại sứ Áo mời, chỉ vì bà cho rằng đến đó vinh hạnh hơn, oai hơn, mặc dù, anh cũng thừa biết, đó vẫn là loại dạ tiệc buồn tẻ, nhạt nhẽo nhất từ xưa đến giờ. Đám khách khứa tham dự những buổi chiêu đãi kiểu như thế, thường là đám quan chức ngoại giao đầu óc ngu xuẩn, cùng các phu nhân đầu óc còn ngu xuẩn hơn nữa của họ, những người suốt hai tiếng đồng hồ chỉ biết xào đi nấu lại vài ba câu chuyện xã giao khách sáo và cũ rích. Chắc anh đã bắt đầu sốt ruột, không biết tôi dài dòng kể mấy chuyện này làm gì, tôi bảo Gambetti, tôi sẽ vào đề ngay thôi, vâng, chả là trên đường hai mẹ con từ khách sạn Hassler đến sứ quán Áo, mẹ tôi, chẳng ăn nhập đâu với đâu, bỗng đột ngột hỏi tôi về câu chuyện từ cả hàng chục năm trước ấy. Này, cái Siebenkäs anh đem ra nhạo tôi dạo ấy thật ra là cái gì thế? Tôi bảo Gambetti, vâng, có nghĩa là mấy chục năm qua mẹ tôi vẫn nhớ cái vụ bê bối diễn ra với Luật sư Siebenkäs. Tôi nghiệm ra, sự kiện đó in sâu vào ký ức tôi thế nào, thì cũng hằn sâu vào trí nhớ của bà y như thế. Gambetti ạ, lúc đó hai mẹ con vừa ra khỏi Hassler, hòa mình vào một trong những buổi tối tuyệt vời của thành Rome, những buổi tối khiến ta tưởng như đang lọt vào cõi thần tiên nơi thượng giới ấy, thì mẹ tôi vừa bước được vài bước đã gặng hỏi: Anh nói tôi nghe, xem Siebenkäs thật ra là cái gì vậy? Tôi đáp, Luật sư Siebenkäs là sáng tác của Jean Paul. Bởi Jean Paul là ai bà cũng chẳng biết nốt, tôi liền phải nói thêm rằng Jean Paul là một nhà văn, chính nhà văn đã viết ra cuốn Luật sư Siebenkäs. Thế à, mẹ tôi ngạc nhiên, giá tôi biết trước như thế! Tôi lại cứ tưởng Luật sư Siebenkäs là trò anh bịa ra trêu tức tôi. Trong lúc tôi trên đường từ Hassler đến sứ quán Áo cứ cười ngất về tiết lộ ấy của mẹ tôi - vâng, quả là tôi có đủ cớ để cười thật - thì mẹ tôi lại lặng thinh suốt cả quãng đường. Nhưng rồi bà cũng lại hỏi thêm, có đúng như thế không, có thật Jean Paul là nhà văn và Luật sư Siebenkäs là tác phẩm của ông ấy không. Bởi bà thoạt tiên không muốn tin như thế, bởi bà chẳng bao giờ muốn tin tôi cả, Gambetti ạ. Thế hả, thì ra Luật sư Siebenkäs là tác phẩm văn học hả, thì ra Jean Paul là nhà văn hả, mẹ tôi còn lẩm bẩm mãi một lúc như thế, trên đường hai mẹ con chúng tôi đi bộ đến sứ quán Áo. Được chừng nửa đường, mẹ tôi lại chợt hỏi: thế Kafka cũng là nhà văn à? Vâng, Kafka cũng là nhà văn. Tiếc nhỉ, mẹ tôi nói, tôi lại cứ tưởng đấy toàn những thứ do anh bịa ra. Tiếc thật! Bà không thể yên lòng trước sự thật Jean Paul và Kafka là hai nhà văn đã viết ra hai quyển Luật sư SiebenkäsVụ án thật, chứ không phải là các nhân vật do tôi bịa ra, tất nhiên, bịa ra chỉ để trêu chọc và nhạo báng bà. Như vậy là anh biết tình trạng tri thức người nhà tôi, của Wolfsegg thế nào nhé, Gambetti! Chứa trong nhà liền một lúc năm thư viện, Gambetti ạ, nhưng không hay biết chút nào về các văn sĩ lớn của đất nước mình, ấy là chưa kể đến bao nhiêu triết gia lừng lẫy từng làm rạng rỡ bao nhiêu thời đại, mà đến tên tuổi họ thôi, mẹ tôi cũng mù tịt. Ông bố tôi tuy có biết đến danh tiếng họ đấy, nhưng họ đã nghĩ suy những gì, đã viết ra các công trình như thế nào, thì ông cũng ấm ớ nốt. Là chủ điền trang, bố tôi, nói cho cùng, bao giờ cũng là kẻ thuộc loại mạt hạng, chuyên khinh thường tri thức, một kẻ đặt ngựa bò, gà lợn lên trên hết, chứ không gắn cho tri thức chút giá trị nào cả. Giá bố tôi được chọn giữa một bên là hầu chuyện Kant với bên kia là đi nhận một con lợn được vỗ béo ở chợ gia súc nổi tiếng tại Ried im Innkreis, ông sẽ lập tức chọn con lợn, Gambetti ạ. Dạo mẹ tôi đến Rome, tôi không giới thiệu anh với mẹ tôi, vì tôi biết, mẹ tôi sẽ không hiểu anh, anh hiểu không. Bà sẽ chê anh, chẳng hạn, sao anh không

thắt cravat, hoặc sao anh lại cắp cuốn giáo trình triết học trên tay, chứ không cắp bảng tính thuế thu nhập. Tôi biết, do vậy mà anh lỡ mất dịp làm quen mẹ tôi. Tối hôm đó, lúc hai mẹ con tôi đến được buổi tiếp tân của sứ quán thì đã khá muộn. Ai nấy đều đã có mặt và chỉ còn chờ có hai mẹ con chúng tôi. Bọn họ đứng đấy cả lượt, bài bác nhau, phô cho nhau hết dòng dõi họ hàng, lại đến các loại huân chương, huy chương, tranh nhau khoe từng làm sứ giả ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ba Tư hay Peru và khuấy luôn tay vào quá khứ ngoại giao đã dậy mùi của họ. Họ huênh hoang không ngừng rằng họ chỉ biết có Chúa và thế giới chứ ngoài ra chẳng biết gì hơn, họ than phiền, dù ở các tư gia thành phố hay trang trại nông thôn, họ đều thấy chán nản và buồn tẻ. Họ bàn về sách vở như bàn về một thứ bánh mì khô vô vị nào đó, họ tỏ ra hiểu biết về cách thức điều khiển một dàn nhạc giao hưởng cũng nhiều như họ am hiểu về Spinoza, họ am hiểu Heidegger cũng lã càng như am hiểu Dante. Song, ai tinh ý, sẽ có ngay cảm giác, bọn họ quả đã chứng kiến rất nhiều thứ thật, nhưng lại có vẻ như chưa hề thấy một thứ gì ở đời cả. Trong các buổi tiếp tân như thế, mẹ tôi thường vẫn giữ một vai không đến nỗi tôi, bởi bà diễn đã đúng vở, lại nằm đúng khuôn đúng khổ. Vả lại, các câu chuyện phiếm vô thưởng vô phạt bà mang từ quê ra phơi bày toàn bộ sự vô nghĩa lẫn lố bịch của cuộc đời bà xưa nay, bao giờ cũng làm bọn dân thành thị khoái chí. Còn tôi, trong vai tháp tùng, rốt cuộc cũng bị bà biến thành thằng hề và chỉ biết câm miệng đứng đực ra đó, chứ biết nói gì, làm gì hơn. Khoảng mười hai giờ đêm, trên đường từ sứ quán về nhà, mẹ tôi lại hỏi, anh nói thật không đấy, có đúng Jean Paul là nhà văn và Luật sư Siebenkäs là sáng tác của ông ấy không. Bà chẳng bao giờ tin tôi bất cứ chuyện gì, Gambetti ạ, cả chuyện này bà cũng không tin nốt. Mẹ tôi đến thăm tôi ở Rome chỉ vì muốn thỏa chí tò mò, tôi bảo Gambetti. Bà chỉ muốn biết xem tôi sống ở đâu và như thế nào thôi. Tò mò chịu không nổi, bà cứ thế đùng đùng leo lên tàu đến Rome, chú Georg chắc sẽ bảo, để dò la mọi thứ về tôi ở đấy. Chứ Piazza Minerva đối với bà nào có ý nghĩa quái gì đâu, đền Pantheon cũng chỉ vang lên trong tai bà như một địa danh quái đản và vô nghĩa bà từng loáng thoáng nghe đâu đó mà thôi. Dẫu sao, thoạt tiên bà cũng rất lấy làm ngạc nhiên thấy tôi thuê và thực sự chiếm hẳn một căn hộ thuộc loại đẹp nhất thành Rome, nằm trong một tòa palazzo thật sự - nói như bà lúc vừa bước vào tòa nhà có căn hộ của tôi ở tầng tư. trên ấy, tôi bảo mệ, có thể nhìn sang Pantheon rất rõ. Bà liền nóng lòng lên đó ngay. Song, chưa biết căn hộ tôi ở thế nào, bà đã nói anh ở cứ như ông hoàng thế này, và lập tức, giọng bà đã đầy trách móc. Đứng trước palazzo, ngước nhìn mặt tường ngoài ốp cẩm thạch, bà trầm trồ cái cổng nhà này mới ghê chứ! Rồi bà nói, tôi cứ tưởng nhà anh ở khác cơ. Tôi đỡ lời, mẹ vào trong rồi chịu khó theo con trèo cầu thang lên tầng bốn vậy, ngôi nhà này không có thang máy, chắc không hợp với mẹ. Bà lên cầu thang, chốc chốc lại dừng và nói thật đúng y ông hoàng! Tôi bảo, do ngôi nhà này - chứ tôi không nói lâu đài này - không có thang máy, nên căn hộ thuê tuy rẻ được chút ít - tôi nói tiếp - nhưng tiền nhà vẫn là loại cao nhất ở đây. Ở cầu thang, lúc vọt lên trước, lúc tụt lại sau mẹ tôi vài bước, tôi chẳng ngại nói ra như thế với bà, bằng một giọng, chắc anh cũng đoán được, ít nhiều hãnh diện và đắc thắng. Cuối cùng hai mẹ con cũng lên được tầng bốn rồi dừng lại trước cửa căn hộ của tôi. Mẹ tôi tỏ ra hơi bối rối khi thấy tôi không cho gắn bảng tên ở ngoài. Sao không có biển ghi tên anh, bà nói, thế thì đến ông đưa thư cũng chả biết anh ở đây. Chưa kịp bước vào trong, bà đã nói, phải rồi, lúc nào anh chả muốn sống ẩn danh và tôi đáp lại, vâng, giữa bàn dân thiên hạ, ẩn được danh, con vẫn thấy dễ chịu hơn nhiều. Điều đó khác hẳn mẹ tôi; bà lúc nào cũng nghĩ cách làm sao nổi lên thành người đặc biệt, mặc dù chính bà, bà cũng chẳng hề biết nét đặc biệt của bà ở đâu. Nhìn tấm ảnh chụp bố mẹ tôi tại ga Victoria ở London đang lên tàu đi Dover, tôi nhớ lại cảnh mẹ tôi bước vào căn hộ tôi ở Piazza Minerva như thế nào. Phần do kinh ngạc, phần do sợ hãi, bà không tìm ngay được lời nào để thốt lên nữa, khiến bà trong chốc lát, như hụt cả hơi. Còn tôi, Gambetti ạ, ngay từ lúc đưa tay vặn chìa khóa mở cửa phòng, cũng có lẽ do đang nắm chiếc chìa khóa trong tay, tôi lại sực nhớ đến một chuyện cực kỳ dớ dẩn xảy ra đã khá lâu. số là, mẹ tôi hồi ấy không biết làm sao lại để rơi chùm chìa khóa két sắt của bà ở đâu đó, rồi tìm ở đâu cũng không ra. Bà tìm cả trong phòng bà lẫn các phòng khác, bà sai người làm lục tìm khắp nơi, nhưng vẫn không biết chùm chìa khóa mất đi đằng nào. Thế rồi, bà bỗng nhiên quay ra nghi cho tôi, vì một lý do nào đó bà chưa biết hết nhẽ, nhưng - như dạo ấy bà lớn tiếng nói - chắc chắn là tôi đã vì một lý do rất hèn hạ, nên giấu biến chùm chìa khóa két sắt của bà đi. Rồi bà buộc tội tôi, hoàn toàn vô căn cứ, anh hiểu không, rằng tôi - khi biết bà bắt đầu nghi ngờ mình, tức là lúc tôi cảm thấy bị dồn vào đường cùng rồi - đã thủ tiêu chùm chìa khóa, bằng cách vội vàng ném nó xuống cái giếng đào phía dưới cửa sổ phòng bà, xuống cái giếng bỏ không và gần cạn nước cả chục năm nay rồi - anh hiểu không, Gambetti - để khỏi bị bắt quả tang. Và anh cứ tưởng tượng mà xem, Gambetti, mẹ tôi nhất định bắt người chui xuống giếng tìm cho bằng được. Ngay trước mắt mẹ tôi, một ông thợ làm vườn ròng dây cho một ông thợ làm vườn khác lần xuống đáy giếng tìm chùm chìa khóa mà cái thằng tôi, thứ con cái quỷ Sa tăng, trong lúc cùng đường chắc chắn đã ném xuống để giấu tội. Tất nhiên, ông thợ làm vườn lần mò xuống đáy giếng không thấy chùm chìa khóa nào cả, bởi nó không thể ở dưới đó được, bởi thật sự không phải tôi, mà chính trí tưởng tượng độc địa của mẹ tôi, trí tưởng tượng luôn nghĩ ra chuyện này, đặt ra chuyện khác để hành hạ tôi ấy, mới ném chùm chìa khóa xuống đó. Ông thợ làm vườn chui từ dưới giếng lên rồi không ngớt cam đoan, chùm chìa khóa không nằm ở dưới ấy, dưới ấy không có gì cả, ngoài chiếc giày cũ đã mục gần rữa mà thôi. Mẹ tôi tức lắm, vì dưới giếng không phải chùm chìa khóa của bà mà chỉ có chiếc giày mục gần rữa, rồi quay ra chửi mắng ông thợ làm vườn. Cả tôi, bà cũng mắng, cũng chửi, và tôi phải nói thật, Gambetti ạ, chửi mắng rất thô lỗ là đằng khác, rồi sau đó, cứ thế nhấm nhẳng, dai nhanh nhách đến tận tối vẫn chưa thôi. Bao nhiêu ngày sau vụ mất chìa khóa và vụ ông thợ làm vườn uổng công xuống giếng tìm chùm chìa khóa không thấy đó, bà vẫn hằn học bảo tôi, anh giấu chùm chìa khóa, dù anh không ném nó xuống giếng, thì nhất định anh cũng đểu giả quẳng nó đi đâu đổ rồi, dù đi đâu cũng vẫn là tay anh quẳng. Gambetti ạ, cho đến tận giờ tôi vẫn còn bị nghi ngờ, nói cách khác là mối nghi ngờ ấy vẫn bám lấy tôi. Sau bấy nhiêu năm, mẹ tôi vẫn một mực giữ vững niềm tin, dạo ấy, chính tôi đã thủ tiêu chùm chìa khóa két sắt của bà. Song, tôi không lấy chùm chìa khóa, anh hiểu không, tôi bảo Gambetti, tôi chả hiểu, vì cớ gì tôi phải giấu nó, giấu để làm gì. Ngay nghĩ đến một việc như thế, tôi cũng chẳng nghĩ đến, huống hồ làm thật. Hồi ấy, dạo mẹ tôi đến Rome, vừa mới mở cửa cho mẹ tôi bước vào căn hộ của tôi, tôi lại chợt nhớ đến cái vụ xảy ra ngày đó, một vụ tiêu biểu phản ánh rõ ràng hơn bất cứ vụ nào khác về mối quan hệ giữa tôi với mẹ tôi. Đó là một trong những vụ điển hình, có khi điển hình nhất cũng nên, cho thấy thực chất mối quan hệ giữa hai mẹ con chúng tôi là thế nào, Gambetti ạ. Suốt từ lúc mẹ tôi bước vào căn hộ tôi ở, tôi chẳng nghĩ chuyện gì khác ngoài chuyện bà bắt thợ mò xuống giếng chỉ vì bà đinh ninh tôi bởi một mục đích xấu xa, cố tình ném chùm chìa khóa két sắt của bà xuống đó. cầm chìa khóa trên tay mở cửa phòng, tôi nhớ lại và đầu óc tôi như đờ đẫn, không dứt được khỏi cái vụ chùm chìa khóa xảy ra từ hồi xửa hồi xưa ấy. Song, ngay cả khi mẹ tôi hơi bối rối trước sự thẫn thờ bất thường của tôi - cất tiếng lo lắng hỏi tôi làm sao, tôi cũng không lộ cho bà biết tôi đang mải nghĩ chuyện gì khác, chứ không phải bận tâm chuyện có mẹ đến thăm. Tôi đáp, không, có gì đâu mẹ. Tôi đánh trống lảng, không muốn lộ ra cho bà biết tôi đang mải nghĩ đến vụ chùm chìa khóa dưới đáy giếng nhiều hơn nghĩ đến chuyện lần đầu tiên bà đến thăm tôi tại căn hộ ở Piazza Minerva. Tôi mà lộ tôi đang mải nghĩ những gì, tôi bảo Gambetti, thì thể nào tôi cũng làm nổ ra một cuộc cãi vã khó chịu giữa hai mẹ con về câu chuyện đã cũ mèm từ bao nhiêu năm nay rồi. Mà tôi thì rất sợ phải cãi vã với mẹ tôi, đến tận giờ, tôi vẫn sợ, Gambetti ạ. Dạo ấy, bà để bố tôi một mình ở lại Wolfsegg, mặc dù ông - sau này tôi biết - cũng rất muốn đi với bà đến Rome. Bà một mực khuyên ông ở lại, bà quả quyết không ai thay thế ông ở nhà được. Lúc thời thế bất yên thế này, làm sao ông bỏ mặc Wolfsegg được chứ - vừa ngắm nghía tấm ảnh chụp hai ông bà, tôi vừa nghĩ bụng - lần nào cũng như lần nào, đấy là những lời bà nói ra như để trách móc ông chồng. Hoặc, đang giữa mùa săn bắn thế này, làm sao ông để mặc bọn thợ săn một mình được, bà bảo bố tôi vậy, rồi chêm thêm vào, khổ lắm, bà nào có thích thú gì khi phải đi một mình đến Rome đâu, từ xưa đến giờ, bao giờ bà chả quen đi với ông, người che chở cho bà đến Rome; Người che chở cho bà, bà vẫn thường gọi vui ông chồng bà như thế, cốt để nịnh thôi, chứ có bao giờ bà thật sự coi chồng bà, tức ông bố tôi, là người che chở cho bà đâu. Vả lại, nào ông có phải người như thế, ông chẳng bao giờ có thể là người như thế đối với bà cả. Rốt cuộc, bà đi một mình đến Rome, theo tôi biết, hay nói như bà vẫn nói với bố tôi và Johannes, để ngó xem tôi sinh sống thế nào, nhưng sự thực là để chạy lông nhông với ông bạn Spadolini của bà, ông bạn dạo đó đã là quan chức cao ngất ngưởng của Tòa thánh Vatican, một người đã leo lên đến hàng Tổng Giám mục từ khi còn rất trẻ. Tôi bảo Gambetti, đêm nào bà cũng đi với Spadolini. Tôi có gọi điện thoại đến khách sạn Hassler hỏi thăm, Gambetti ạ, thì bao giờ cũng chỉ thấy họ đáp, thưa ông, Signora không có trong phòng ạ. Mười một giờ đêm bà chưa về phòng, mười hai giờ đêm chưa, một rưỡi sáng vẫn chưa, ba giờ sáng cũng chưa nốt. Đó là sự thật về mẹ tôi, về các chuyến viếng thăm Rome của bà, trong đó tôi, thật ra, chỉ là cái cớ cho bà đi thôi, Gambetti ạ. Tôi chỉ là cái lá chắn bà lôi ra chắn trước mặt chồng bà, tức là bố tôi, mỗi khi bà một mình đến Rome. Bà quen Spadolini từ hồi y mới giữ chân cố vấn quèn dưới trướng Sứ thần Tòa thánh ở Wien. Tôi không thể bảo, từ xưa đến giờ, tôi không ưa tay Spadolini này bao giờ. Không phải vậy, trái lại là đằng khác; y là một nhân vật cực kỳ thú vị và tôi cũng không hề phản đối mẹ tôi gìn giữ cũng như vun đắp mối quan hệ quen biết, đúng hơn là bạn bè thân thiết với y từ hàng chục năm qua, tôi chỉ không tán thành cái lối vụng vụng trộm trộm trong mối quan hệ mà thực ra, là tình ái ấy của hai người. Gambetti ạ, tôi cũng thừa biết mẹ tôi không phải chỉ đến Rome mỗi một lần ấy mà thôi, và đấy cũng không phải là lần cuối cùng bà đi một mình đến Rome. Bà thường xuyên hẹn hò với Spadolini; bà rất hay xướng lên bà phải đi Wien có việc gấp, rồi phóng xe hay đáp máy bay đến Rome, cốt chỉ để đến với Spadolini một, hai đêm, rồi về. Spadolini cũng năng đến Wolfsegg, mặc dù ở đấy y không tránh được một việc thường vẫn gây cho chính y ít nhiều sượng sùng, bối rối là làm lễ thánh ở nhà thờ gia tộc chúng tôi, lễ thánh với tất tật những nghi lễ trang trọng và lộng lẫy nhất, y như lễ thánh tại Thánh đường Thánh Peter ở Rome. Mẹ tôi nghiện và say mê các loại nghi lễ tôn giáo lộng lẫy và hoành tráng như thế hơn bất kỳ ai. Tôi nghi lắm, tôi bảo Gambetti, không chừng mẹ tôi sở dĩ theo đạo Thiên chúa, chỉ vì bà say mê khung cảnh lộng lẫy của Nhà thờ Thiên chúa giáo, nhất là các nghi lễ đám ma, của đạo Thiên chúa mà thôi. Được đón tiếp ở ngay nhà mình một vị Tổng Giám mục, ngoài ra lại còn là quan chức cao cấp của Tòa Thánh Vatican, quả là niềm vinh hạnh làm bà say sưa mê mẩn và bằng mọi cách, mọi lúc, kể cả vào những lúc chẳng thích hợp chút nào, bà vẫn kéo y về Wolfsegg cho thỏa niềm đam mê đó. Suốt một dạo rất lâu, bố tôi nhìn không ra cái mưu mô hai mặt ấy, nhưng, đến khi nhìn được ra, thì đã quá muộn, cặp kia đã cài bẫy xong xuôi, đã dàn dựng mọi sự đâu vào đấy. Nhưng, Gambetti ạ, Spadolini là một nhân vật hết sức đặc biệt, vâng, có lẽ đó cũng là điều tất nhiên thôi, bởi nếu không, y đã chẳng leo lên được cao như thế trên bậc thang danh vọng của Tòa thánh Vatican. Nếu không kể đến mối quan hệ tình ái chẳng thơm tho gì giữa y vổỉ mẹ tôi, tôi rất kính trọng y - một trong những con người đầu óc thông minh và học vấn uyên bác nhất tôi từng; biết. Nguyên các chân Sứ thần Tòa thánh y từng giữ ở Lima, Kopenhagen, Paris rồi New York và Madrid đã đáng nể rồi, chưa cần kể thêm bấy nhiêu thứ tiếng y thông thạo, đến hàng ngàn cuốn sách y đã đọc, cùng tất cả những gì con người ấy từng tai đã nghe, mắt đã thấy. Điều đáng ngạc nhiên là ở chỗ, một gã đàn ông tầm cỡ như y lại sa bẫy, rồi dính chặt đúng vào mẹ tôi - mụ đàn bà hời hợt, nông cạn từ đầu đến chân ấy. Bà hẹn hò, gặp gỡ y, tôi bảo Gambetti, nhưng phải đẩy tôi ra làm cớ. Ngoài mặt, bà rêu rao bà phải đến thăm con trai bà, nhưng ngầm bên trong, bà lén lút gặp gỡ vị Tổng Giám mục của bà - một sự lén lút chỉ có thể gọi là hèn hạ, không hơn không kém. Anh cứ hình dung mà xem, bà lên máy bay cùng Spadolini bay đi Palermo hai ngày, sau đó lại ở với y hai đêm nữa ở Cefalù. Gambetti ạ, tôi thật tình không phản đối chuyện hai vị đi lại với nhau như thế, song, tôi ghê tởm cái lối vụng trộm, lén lút bất lương ấy. Trong khi đó, ngoài anh và anh Zacchi ra, quả tình tôi không biết còn con người nào học vấn cao và uyên bác như Spadolini nữa hay không, tôi bảo Gambetti. Một nhân vật đa cảm nhường ấy, một bộ óc uyên thâm ngần ấy, lại dan díu vụng trộm, lén lút đáng tởm như thế với bà mẹ tôi từ nhiều năm nay, từ hàng chục năm nay. Ấy thế, nhưng mẹ tôi không học được ở Spadolini bất cứ thứ gì. Song, biết đâu đấy, có khi chính thói phù phiếm vô duyên, chính sự ngô nghê, đần độn của mẹ tôi lại làm Spadolini say mê cũng nên, Gambetti ạ. Thế là, ban ngày bà cùng tôi rong ruổi các cửa hiệu ở thành Rome, còn đến tối - như tôi biết - bà hẹn gặp Spadolini ở Trastevere. Nhưng không phải chỉ để ăn cá, uống rượu vang, ngồi duỗi chân duỗi cẳng và lấy đó làm khoan khoái, thú vị như anh với tôi vẫn làm đâu, Gambetti ạ. Không, không chỉ có thế thôi đâu. Hai vị dẫn nhau đến khu vực gần cái trại gọi là trại diệt chó mà anh cũng biết đấy, rồi điềm nhiên chui vào mấy quán trọ xập xệ, bẩn thỉu ở quanh đó, không hề bận tâm đến những tiếng tru khiếp đảm của bầy chó - gọi là chó hoang vô chủ của thành Rome, bị bắt rồi đưa về nhốt trong trại này chờ đến lúc bị đập chết - vang lên thảm thiết suốt đêm. Song, tôi sẽ không lộ cho anh biết nguồn tin ấy từ đâu ra, vâng, tôi bảo Gambetti, đến cả anh tôi cũng không lộ ra đâu. Vâng, đấy chính là Spadolini, con người đầu óc thông minh tuyệt vời, nhà bác học ưu tú từng sáng tạo ra bao nhiêu công trình xuất chúng, bậc thiên tài cả trong nghệ thuật diễn thuyết lẫn nghệ thuật giữ im lặng - con người luôn luôn khiến tôi phải ngưỡng mộ ấy! Chao ôi, bữa đầu tiên y đặt chân đến Wolfsegg, tôi nghĩ bụng, trước đó Wolfsegg quả chưa bao giờ được đón tiếp một người đàn ông siêu việt cỡ đó thật. Gambetti ạ, anh không hình dung được tôi đã hồi hộp ra sao khi được chứng kiến y, trong bộ lễ phục Thăng Thiên, ban lễ thánh lần đầu tiên ở Wolfsegg. Lần đầu tiên gặp y, tôi đã cảm phục y đến mức tôi đã định gạt bỏ các mối nghi ngại từ xưa tôi vẫn dành cho Nhà thờ Thiên chúa giáo đi rồi. Tôi phải nói thật, một người đàn ông đẹp trai như thế, với tác phong như thế, tự nhiên hơn ai hết, đồng thời cũng rất kịch, kịch đến mức vô song! Quả thực tôi đã phải lòng Spadolini ngay từ đầu. Nhưng, đối với bố tôi, bao giờ y cũng là cái gai chọc vào mắt; có điều ông bất lực, chẳng làm gì được y, bởi mẹ tôi là người quyết định bao giờ Spadolini đến thăm chúng tôi ở Wolfsegg, bà cũng quyết định bao giờ bà đi thăm Spadolini, tình nhân của bà, ở Wien, Paris hay Rome. Ngoài miệng bà nói với bố tôi, bà đến thăm tôi, trong đầu bà lại nghĩ, mình phải đến thăm Spadolini. Chả biết đâu được, có khi bà bảo với tôi, bà vừa đến Rome, phải, mẹ vừa đến khách sạn Hassler lúc chiều nay, nhưng kỳ thực bà đã ở Rome từ mấy hôm nay rồi với Spadolini cũng nên. Ai chứ mẹ tôi, tôi tin bà dám làm như vậy lắm. Như tôi biết, Spadolini đưa bà đi xem opera, Spadolini đánh xe đưa bà đến Napoli, Spadolini thuê taxi đi với bà về tận Bari thăm ông bạn của hai người. Vâng, chính anh cũng biết đấy, Spadolini quả là người dễ làm đàn bà say đắm, là người khiến các phu nhân đại sứ phải quỳ gối xuống đất, lê lết xin hôn tay y cho bằng được rồi run run đầu gối, ngước nhìn đắm đuối và chứa chan hy vọng vào cặp mắt y. Kể ra thì cũng sẽ rất phi lý và phi tự nhiên lắm lắm thật, nếu cuộc đời trần tục này bị mất đi một gã đàn ông như Spadolini, tôi bảo Gambetti, song, trong số hàng trăm mụ đàn bà sẵn sàng buông mình cho sức quyến rũ ghê gớm của y cuốn đi ấy, y lại chọn đúng bà mẹ tôi, thì quả thật đó cũng lại niềm bất hạnh vô biên cho cõi trần gian này. Gambetti ạ, chính tôi lại là cái bia dối trá che đậy cho Spadolini và mẹ tôi nữa chứ. Ông bố tôi, tất nhiên, không những chỉ đoán già, đoán non, mà ông còn biết tường tận là đằng khác, về mối tình vụng trộm đó của hai vị. Song, ông có muốn nổi trận lôi đình cũng chẳng được ích lợi gì, bởi mẹ tôi muốn làm gì với ông chả được. Ấy thế, nhưng

đến Rome với Spadolini thường xuyên quá, bà quả cũng không dám thật, bà phải lôi cái thằng tôi ra làm lá chắn cho bà - thằng con điên rồ, thằng con vốn mắc chứng vĩ cuồng của bà, thằng con dám ở khách sạn Hassler hàng mấy tháng trời, bất chấp một lề thói xử thế của con nhà đứng đắn, trước khi chọn ngay một trong những căn hộ đắt nhất ở Piazza Minerva để thuê dài hạn luôn nhiều năm, có khi luôn cả chục năm cũng nên, chỉ vì nó muốn sáng sáng, trong lúc điểm tâm được phóng tầm nhìn sang đền Pantheon cho sướng mắt nó ấy. Tôi biết mẹ tôi không hề ngờ tôi biết bà đến Rome cốt gặp Spadolini là chính, lúc đó tôi bảo Gambetti thế. Tôi cũng bảo Gambetti, nếu phải giấu giếm bố tôi chuyện gì, thì phải nói ngay, các màn kịch mẹ tôi đóng thật tuyệt hảo. Những lúc đó, tài diễn kịch của bà thật cao siêu, có lẽ phải đem sánh với tài nghệ già đời của nhiều nghệ sĩ sân khấu chuyên nghiệp mới xứng. Bây giờ nhìn bức ảnh chụp bà cùng bố tôi trên sân ga Victoria ở London, tôi nghĩ bụng, do dạo ấy bà chỉ vì Spadolini mà phóng đến Rome, nên đi với tôi chắc bà chán lắm, vì suốt buổi bà có nghĩ gì khác trong đầu ngoài nghĩ đến Spadolini đâu. Song, tôi bảo Gambetti, cũng phải nói ngay rằng mối tình giữa hai vị không phải do Spadolini, mà hoàn toàn do mẹ tôi mà nảy nở. Bây giờ, sau chuyến bà đến thăm Rome lần ấy đã bao nhiêu lâu rồi, những lời bà nói với bố tôi lúc bấy giờ - đang giữa mùa săn bắn thế này, làm sao ông để mặc bọn thợ săn một mình được - tôi nghe lại thấy còn xỏ xiên đểu cáng hơn so với lúc đầu. Đến cả đám thợ săn, chứ chả riêng gì tôi sau này, cũng bị bà lôi ra làm lá chắn, che cho bà với Spadoliniở Rome. Trong khi trong đầu bà chỉ mong sao chóng gặp Spadolini càng sớm càng hay, bà vẫn không hề ngượng ngùng và - như thiên hạ sẽ rủa - vô liêm sỉ đến mức, ngày nào cũng gửi cho bố tôi một tấm bưu ảnh, chụp nào bảo tàng Engelsburg, nào đền Pantheon hay Thánh đường Thánh Peter - vâng, những tấm bưu ảnh nhất hạng vô duyên - rồi ghi những dòng như, hai mẹ con (tức là cả bà lẫn tôi đấy!) đang dạo chơi ở Rome, vân vân và vân vân trước khi bà bắt tôi ký vào, bởi bà nghĩ, như thế, bà có bằng có chứng hẳn hoi cho thấy bà ngày nào cũng đi với tôi, chứ không đi với ai khác cả. Spadolini bao giờ cũng là nhân vật chính của mỗi lần bà đến Rome, của mọi lần bà đến Rome, Gambetti ạ, chứ không phải tôi. Song, tôi bảo Gambetti, nào tôi có ưa có chuộng đóng vai chính cho bà trong những lần viếng thăm ấy đâu. Trò dối trá của mẹ tôi hồi ấy đã lên đỉnh cao của sự sống sượng rồi. Tôi nói vậy với Gambetti, nhưng tức thì, tôi phải thú nhận ngay, tôi tự cảm thấy hổ thẹn vì đã nói ra như thế. Tôi cảm thấy, nói như thế, tôi đã quá lời, ít nhất là trước mặt Gambetti. Nhìn nét mặt anh ta, tôi cũng biết ngay, tôi đã quá lời. Anh ấy quá nhạy cảm, bây giờ tôi nghĩ bụng, để nghĩ rằng những lời tôi vừa văng ra đó, mà nào có phải chỉ một lần như thế đâu, là do vô ý nhỡ mồm, chứ không phải là những lời đáng tởm. Người thầy không được phép tự phơi mình ra một cách đáng ghê tởm như thế trước mặt học trò, tôi nghĩ bụng, nhưng, sự đã rồi. Mặt khác, tôi tự nhủ, tôi phải thẳng thắn với anh học trò Gambetti của tôi. Phải, thẳng thắn cởi mở thì được, vâng, chứ hèn hạ thì không; thẳng thắn cởi mở - chứ không đểu giả, thẳng thắn cởi mở - chứ không dung tục, thẳng thắn cởi mở thì được - chứ bần tiện thì không. Thế nhưng Gambetti quen biết tôi đã lâu, anh ấy sẽ hiểu thôi, tôi lại nghĩ, anh ấy quen biết tôi đã lâu như thế, hẳn sẽ tha thứ cho tôi thôi. Anh ấy hẳn có cớ để tha thứ. Phần câu chuyện Spadolini với mẹ tôi là phần chuyện nguy hiểm, tôi nói với Gambetti, như lần nữa muốn kết thúc phần câu chuyện đó. Dạo ấy, hai chúng tôi cứ loay hoay đi lên đi xuống trong nhà bảo tàng De Chirico mà mãi vẫn không dứt khoát, nên kéo nhau đến tiệm trà ở spagna uống trà hay vào Greco thì hơn. Rốt cuộc, như thường vẫn vậy ở đời, cơn mưa bất chợt đổ xuống đã lùa chúng tôi vào Greco ngồi để tiếp tục câu chuyện, một câu chuyện thật sự chỉ xoay quanh Pavese, chứ không quanh Spadolini với mẹ tôi nữa. Sở dĩ chúng tôi bàn về Pavese là do tôi nhớ đến một nhận xét trong cuốn sách nổi tiếng Nghiệp vụ sống của ông ta, là một trong cuốn tôi thích nhất và bình giải nó cho Gambetti hôm đó, bằng cách so sánh Pavese với Heine, cũng như giãi bày các quan điếm của tôi về họ cho Gambetti nghe. Tôi không còn nhớ vì cớ gì tôi lại đang từ chuyện hai nhà văn Pavese và Heine tôi hết sức yêu mến, bỗng dung lại nhảy sang chuyện Spadolini với mẹ tôi. Spadolini, tất nhiên, không bao giờ kể tôi nghe về các cuộc gặp gỡ của y với mẹ tôi ở Rome. Mặc dù tôi rất hay gặp Spadolini, thậm chí tôi còn thích gặp y là đằng khác và gần như tuần nào cũng ghé đến nhà hoặc văn phòng làm việc thăm y, nhưng y không bao giờ nhắc đến, dù chỉ phớt qua thôi, chuyện y gặp mẹ tôi. Vị đại diện của Nhà thờ ấy lặng im, đầy bí hiểm. Thật tình, tôi cũng không chắc, liệu y có biết tôi rất rành về các cuộc hẹn hò của y với mẹ tôi không. Một lần, ba chúng tôi - Spadolini, mẹ tôi và tôi - gặp nhau, rồi đưa nhau đến Rocca di Papa ăn trưa theo lời mời chiêu đãi thường bao giờ cũng rất hào phóng của Đức cha Spadolini. Y là một trong những chủ tiệc tuyệt vời nhất tôi từng biết. Bữa ấy ở Rocca di Papa, bà mẹ tôi và Spadolini đã thật sự tỏ ra là những diễn viên tuyệt vời hoàn hảo. Trưa hôm đó, họ không hề có một cử chỉ nào để lộ ra rằng suốt cả tối lẫn cả đêm qua, hai ông bà đã ở bên nhau, cũng như không hề có lấy một chi tiết nào cho hay, họ đã lại hẹn gặp nhau vào đêm nay rồi. Tình thế của tôi giữa hai kẻ dối trá và đạo đức giả, giữa một bên là bà mẹ giả dối với bên kia là vị đại diện Nhà thờ làm bộ làm tịch ra vẻ nghiêm trang, đứng đắn - âu cũng dễ hình dung thôi - quả là không mấy dễ chịu. Song, tôi đã vượt qua tình thế oái oăm đó một cách ngoạn mục; tôi không để lộ một tí ti gì, tôi làm như tôi là kẻ hoàn toàn không biết gì về cuộc tình hai vị. Ở Rocca di Papa, mẹ tôi chia tay Spadolini theo lối như thể chia tay y lần cuối, mặc dù chính bà đã hẹn và thu xếp cuộc gặp tối nay với y rồi. Spadolini đón một chiếc taxi, hai mẹ con tôi đón một chiếc khác, cùng quay về Rome. Tôi thấy cái trò phải leo lên hai xe riêng rẽ, theo nhau chạy về Rome như thế quả là một màn kịch lố lăng nhục nhã - một màn kịch chính vì được dàn dựng quá điêu luyện và hoàn hảo như thế, cho nên tôi càng thấy rõ tình thế của tôi lúc đó thật khốn nạn thế nào. Tôi không biết ai trong hai vị, Spadolini hay mẹ tôi, là người đã dàn dựng màn kịch ấy, song tôi có thể cầm chắc, chỉ có thể là mẹ tôi, bởi vì trong những tình huống như thế, mẹ tôi bao giờ cũng tinh ranh, xảo quyệt hom. Tôi bảo với Gambetti, tôi nghĩ Spadolini cùng lắm cũng chỉ là tay chân để bà sai bảo trong các màn trình diễn nghệ thuật ngụy trang của bà mà thôi. Gambetti ạ, chắc anh cũng hiểu, vì sao tôi cảm thấy nhục nhã, khi phải thú nhận với chính mình rằng, một vị cỡ Hồng y như Spadolini lại chỉ là một con rối ngoan ngoãn trong tay mẹ tôi. Tất nhiên, mối tình giữa Spadolini và mẹ tôi khiến quan hệ của tôi với y đâm éo le, rắc rối. Song, tôi sẽ không bao giờ cắt đứt nó, thậm chí nếu nó còn bị thách thức nặng nề hơn nữa cũng không, bởi tôi không muốn từ bỏ một con người như Spadolini. Tôi rất thích tìm gặp y, tôi lấy làm may quen y ở Rome. Trong đời ta, số người mà khi cần, ta có thể thích thú và say mê muốn gặp, thật không nhiều. Spadolini rõ ràng là một trong số rất ít những con người có đầu óc tôi quen ở Rome. Người hiểu biết không bao giờ lại từ bỏ một người như thế. Không, thật mà, Gambetti, tôi bảo anh ta, đã nói đến Spadolini thì tôi không do dự, ngại ngần gì để nói như thế cả. Chỉ có điều, Gambetti ạ, tôi không muốn để một gã đàn ông như y rơi vào tay mẹ tôi. Mẹ tôi không xứng đáng vớ được ai như Spadolini. Cái thứ hai vị vẫn gọi là tình bạn ấy, tôi phải cười khẩy khi nói lên như vậy, thật ra chỉ là một thứ ái tình vụng trộm bẩn thỉu và hết sức lố bịch mà thôi, Gambetti ạ. Quả thật, tôi nghĩ bụng, lúc vẫn tiếp tục ngắm nghía các bức ảnh. Ảnh chụp đã không che đậy, không phủ kín được gì ráo, lại còn phơi lồ lộ một cách trắng trợn tất cả những gì mọi người trong ảnh muốn mãi mãi che đậy, phủ lấp đi. Sự méo mó, sự dối trá trong ảnh, hóa ra, lại là sự thật. Tôi nghĩ bụng, thì ra, sự xuyên tạc hoàn toàn ở trong đó, lại là sự thật. Ngay cả lúc người trong ảnh, hay nói như họ vẫn nói, người chụp trong ảnh, chết rồi, họ cũng chẳng tốt đẹp hơn lên. Năm một ngàn chín trăm ba mươi mốt ở London, tôi nghĩ bụng, bố mẹ tôi, nói như thiên hạ, còn rất trẻ. Họ rong ruổi khắp nơi. Chưa con chưa cái gì. Suốt nhiều năm trời, mẹ tôi không chịu có con, về sau, chồng bà ép mãi, bà mới đẻ. Ông đòi thì ít nhất bà cũng phải đẻ cho tôi một đứa nối nghiệp. Wolfsegg phải có người thừa kế. Đẻ được Johannes rồi, nghe đâu bà mẹ tôi đã thề độc, không đẻ thêm đứa nào nữa. Thế nhưng, mới một năm sau, đã đến lượt tôi chào đời, thằng con phiền toái, thằng con quỷ quái, thằng con chuyên gây bất hạnh cho bà. Bà không muốn có tôi, như tôi vẫn nghe mọi người nói, bà không muốn có tôi. Thế nhưng, bà phải mang thai tôi, kẻ mang tai, gây họa cho bà. Thật khó mà đếm xuể, đã bao nhiêu lần bà than, bà bốp chát thẳng thừng như thế, vào mặt tôi, ở mọi nơi, mọi chỗ. Song, ngay cả hai đứa em gái sinh ra sau tôi cũng không làm bà vui, bà sung sướng. Nếu ở đời quả có những người mẹ sung sướng thật, thì mẹ tôi chưa bao giờ là người mẹ có thể được coi là sung sướng cả. Như thế, kẻ thừa kế ông bà đã có rồi, được họ thừa nhận rồi, còn tôi - họ chưa bao giờ thật sự thừa nhận, cùng lắm chỉ được ghi nhận là một kẻ thừa kế dự khuyết thôi, không hơn không kém. Suốt đời tôi, tôi phải tự nhận thức được vai trò dự khuyết cho gã Johannes. Suốt đời tôi, người ta dạy tôi, nhắc đi nhắc lại cho tôi hiểu, tôi chỉ đóng vai kẻ thừa kế dự khuyết thôi, có nghĩa là tôi - như sau này tôi biết - chỉ vì nhằm để dự phòng các tình huống không may, cực kỳ khẩn cấp, nên mới được thai nghén vào một tối mùa hè, trong ngôi biệt thự trẻ thơ. Thai nghén miễn cưỡng, như mẹ tôi vẫn luôn mồm oang oang. Tóm lại, tôi là kết quả của một trận đấu nảy lửa, ngay giữa tháng Tám. Nghe đâu, mẹ tôi đã mò đến tận một tay bác sĩ chuyên khoa ở Weis, toan thuê hắn nạo bỏ cái thai chứa cái thằng tôi đi cho bà, song, tay bác sĩ nọ không dám, sợ nguy đến tính mạng mẹ tôi. Hồi đó, cái gọi là phá thai quả không đơn giản chút nào thật, toi mạng như chơi. Buộc lòng, bà phải chấp nhận số mệnh, nhưng suốt đời bà, bà vẫn chỉ xem tôi là đứa con bà phải miễn cưỡng sinh ra, bao giờ bà cũng bêu tôi là đứa con bà không muốn có, bất kể ở đâu, lúc nào, bà cũng rêu rao tôi là đứa con dư thừa nhất ta có thể tưởng tượng được. Mặc dù tôi có thể tìm nơi che chở nơi ông bà ngoại ở Weis hay ông bà nội ở ngay Wolfsegg, nhưng tôi mãi mãi vẫn là đứa không thuộc về ai cả. lình trạng đó khiến việc dạy dỗ tôi không thể thực hiện trọn vẹn, đánh gục tôi ngay từ những năm tháng ấu thơ, nghiền nát tôi vào những năm mười tám, mười chín tuổi. Có lẽ, tôi cũng được phép nói thẳng ra, rốt cuộc, chính chú Georg, chứ chẳng phải ai khác, đã cứu tôi. Chú quan tâm để mắt đến tôi đúng vào lúc tôi cảm thấy bị bỏ rơi, một thân một mình trơ trọi giữa đời. Với một kẻ thừa kế dự phòng như tôi, ai cũng chỉ dửng dưng mà thôi. Ai nấy đều chỉ để mắt đến Johannes, không ai màng gì đến tôi. Chuyện mừng vui, sung sướng bao giờ cũng gắn với Johannes của chúng ta. Tên tôi, tôi chỉ nghe bố mẹ tôi rít lên lúc cáu bẳn hay bực bội mà thôi. Mọi sự càng trở nên tồi tệ, có lần tôi bảo Gambetti, trong thời bọn Quốc xã nổi nên. Mọi người trong gia đình tôi ai nấy đều có thiên hướng Quốc xã cả, nên mọi thứ của bọn Quốc xã đều làm bọn họ hào hứng; vâng, có thể nói, bọn họ gặp chủ nghĩa Quốc xã như cá gặp nước. Bên cạnh Chúa tối cao bọn họ thường vẫn gọi Chúa kính yêu ấy, giờ đây, bỗng dưng họ có thêm cả Lãnh tụ vĩ đại. Mặc dù đến khi tôi bước sang cái tuổi gọi là tuổi trưởng thành, biết suy biết nghĩ, thì chủ nghĩa Quốc xã đã lui vào quá khứ từ lâu, tôi vẫn còn cảm thấy rõ ràng di họa của nó ở khắp nơi nơi. Tư tưởng Quốc xã trong đầu bố mẹ tôi không tiêu tan cùng với sự chấm dứt của thời kỳ Quốc xã. Vì chất Quốc xã vốn thấm trong xương, hòa trong máu bố mẹ tôi, cho nên ở thời kỳ hậu Quốc xã, họ vẫn tiếp tục nuôi dưỡng, cưu mang nó. Chủ nghĩa Quốc xã, cũng như Thiên chúa giáo vậy, chính là nội dung thật sự của cuộc đời họ, không có những thứ ấy, họ không thể sống sót, họ không thể tồn tại ở đời này nữa. Bởi thế, cho nên tôi, mặc dù thời kỳ Quốc xã đã trôi qua từ lâu, vẫn được dạy dỗ theo cả tinh thần Quốc xã lẫn Thiên chúa giáo vậy, bằng các biện pháp bạo lực hỗn hợp kiểu Áo, loại biện pháp giáo dục tác động tàn nhẫn và ác độc lên con trẻ đang tuổi trưởng thành. Song le, phương pháp giáo dục Thiên chúa giáo và Quốc xã - trong đó, các yếu tố Thiên chúa giáo phối hợp chặt chẽ với các yếu tố Quốc xã như thế - thật ra, lại là phương pháp thông dụng, chuẩn mực, phổ biến rộng rãi nhất ở Áo và, ở đâu đâu trên cả nước, nó cũng tự do hoành hành, gây cho dân tộc Áo - một dân tộc xét cho cùng, cũng là dân tộc Quốc xã và Thiên chúa giáo nốt - những hậu quả thảm khốc. Các phương pháp giáo dục Quốc xã và Thiên chúa giáo thật sự khống chế mọi mặt ở Áo; kẻ nào phản bác sự thật đó là kẻ dối trá, hoặc là kẻ ngu ngơ, không biết gì. Các luật lệ ở đất nước này cũng không vượt ra ngoài khuôn khổ các luật lệ Quốc xã và Thiên chúa giáo, được thi hành theo một cơ chế chỉ gây tàn phá và hủy hoại. Đó là sự thật nước Áo. Con người Áo - họ có muốn cưỡng lại thế nào thì cưỡng, cũng vậy thôi - là con người Quốc xã và Thiên chúa giáo về bản chất. Trên toàn đất nước này, trong lòng cả dân tộc này, Thiên chúa giáo một bên, Chủ nghĩa Quốc xã bên kia, bao giờ cũng như hai đĩa của một bàn cân, lúc này nghiêng về phía Thiên chúa giáo, lúc khác lại nghiêng sang phía Quốc xã, nhưng không khi nào lệch hẳn một bên. Đầu óc người Áo bao giờ cũng nghĩ theo hai hướng, Thiên chúa giáo và Quốc xã. Đến các nhà tư tưởng Áo cũng đều suy nghĩ bằng thứ đầu óc Thiên chúa giáo và Quốc xã nuốt không trôi như thế cả. Bước ra đường, lần ra phố ở Wien, nói cho cùng, ta sẽ chỉ đụng đầu rặt một bọn Quốc xã và Thiên chúa giáo mà thôi, một bọn hành xử lúc này thiên theo kiểu Quốc xã, lúc khác lại thiên theo kiểu Thiên chúa giáo, nhưng thông thường, theo cả hai kiểu cùng một lúc. Vâng, Gambetti ạ, đó chính là lý do khiến ta - dù muốn hay không muốn thừa nhận - cũng phải cảm thấy ghê tởm sau đôi lần gặp gỡ, xem xét, quan sát bọn chúng gần hơn, kĩ lưỡng hơn. Ta mở đọc đôi bài nào đó đăng trên báo chí Áo, thì bài nào cũng như bài nào, đều một giọng hoặc Thiên chúa giáo hoặc Quốc xã và cái đó buộc ta phải nói thế thôi, Gambetti ạ, cái đó chính là chất Áo vậy - hai lần xảo trá, hai lần đểu giả, hai lần phản trí tuệ. Nói chuyện một hồi với gã người Áo nào đấy, ta sẽ sớm có cảm giác đang nói chuyện với một tín đồ Thiên chúa giáo, chứ không phải với một con người tự do, con người độc lập, Gambetti ạ, hoặc ta sẽ có cảm giác đang nói chuyện với một tên Quốc xã, và rốt cuộc, ta sẽ có cảm giác ta đang nói chuyện với một kẻ vừa Thiên chúa giáo vừa Quốc xã từ đầu đến chân, một kẻ chẳng mấy chốc sẽ khiến ta phải tởm lợm. Cái tinh thần Thiên chúa giáo và Quốc xã - ở đây, tôi không dùng từ nào khác, ngoài cái từ tinh thần ấy được cả, mặc dù tôi rất biết, tôi bảo Gambetti, như thế là tôi đã bôi bẩn cái từ ấy rồi - tinh thần Thiên chúa giáo và Quốc xã từng thống trị ở Wolfsegg và nó sẽ thống trị mãi mãi ở đó. Gã Johannes anh tôi mang trong người gã tinh thần ấy. Hai con em gái tôi cũng vậy thôi, có điều chất Thiên chúa và Quốc xã ở hai đứa chúng nó vừa xấc xược vừa ngu xuẩn hơn nhiều so với ở gã Johannes anh tôi, một người cũng như bố chúng tôi, thực sự đã nuôi dưỡng tinh thần Thiên chúa và Quốc xã đó gần như suốt đời, cái thứ mà như tôi đã nói, về thực chất là tinh thần phản trí tuệ theo kiểu Áo mới đúng. Tôi, Gambetti ạ, tôi trốn ra khỏi vùng ảnh hưởng của tình thần ấy, song, suốt đời tôi, tôi phải vật lộn với nó, bởi nó là thứ bẩm sinh, thấm trong xương, trong máu. Và thứ tinh thần bẩm sinh ấy, hoặc ta sẽ chẳng bao giờ trừ khử được nó, hoặc phải bỏ công gắng sức ghê gớm mới tạm thời trừ khử được nó, chỉ tạm thời thôi, chứ chắc chắn không thể trừ khử vĩnh viễn được, Gambetti ạ. Thế nhưng, sự tồn tại của tôi ở đời này là cuộc vật lộn suốt đời nhằm thoát khỏi căn bệnh phản trí tuệ kiểu Áo đó, tôi nói với Gambetti. Tôi từng bị nhiễm đi nhiễm lại nhiều lần căn bệnh phản trí tuệ đó, tôi bảo Gambetti. Thế nhưng, hễ tôi thoáng cảm thấy triệu chứng của thứ tinh thần yêu quái gốc gác căn nguyên Áo đó chớm trở lại trong lòng hay trên da dẻ mình mẩy tôi, là tôi lại gồng mình chống lại ngay. Nhìn tấm ảnh bố mẹ tôi chụp năm một ngàn chín sáu mươi trên sân ga Victoria ở London, tôi nghĩ bụng - năm một ngàn chín trăm ba mốt là năm hai ông bà mới lấy nhau, và như thế, mẹ tôi vừa đạt được chiến thắng lớn của bà, tức là, đã leo lên đỉnh cao bà muốn chinh phục. Song, ông bố tôi vẫn chưa đạt được điều mình mong ước, tức là có kẻ thừa kế. Loại đàn ông như bố tôi, con họ không muốn đẻ, họ chỉ muốn có kẻ thừa kế. Họ thường lấy vợ muộn, cốt làm sao đạt mục tiêu duy nhất đó mà thôi. Họ sùng sục cưới ngay người đàn bà họ chẳng mấy quen biết, và, trong cơn cuống cuồng muốn nhanh có kẻ thừa kế, họ cũng chẳng thể biết gì hơn về người đàn bà ấy. Kẻ thừa kế vừa chào đời, là các ông liền yếu xỉu đi ngay và có thể xếp vào loại già nua rồi. Bà vợ bảo một trong số các ông chồng như thế, tôi đẻ cho ông đứa con thừa kế rồi nhá, song đồng thời, bà cũng thật sự lột hết sạch mọi thứ của ông. Ông bố mới, về phần mình, lại yên lòng vì đã làm xong bổn phận. Có đứa con thừa kế rồi, ông chẳng màng gì đến bà vợ nữa. Ông trừng phạt bà bằng cách lờ tịt bà đi, và tùy hứng hoặc tùy cớ, ông chửi xỏ xiên, con mẹ chỉ độc lợi dụng ông, ngày xưa lấy ông chỉ vì hám của cải nhà ông. Cứ thế, dần dà, hai vị chửi bới, xỉ vả nhau chẳng còn thiếu thứ gì, để biến cuộc đời hai vị thành địa ngục. Cuộc sống vợ chồng không đưa hai vị đến chỗ tôn trọng, thương yêu nhau, không biến thành cuộc sống hiểu biết và cảm thông lẫn nhau, mà dần dần, lại biến thành địa ngục cho cả hai. Hai vị, mỗi người theo một kiểu riêng, tự thích ứng với cuộc đời dưới địa ngục đó và, rốt cuộc, xoay ra thù hằn nhau. Thế nhưng, hai vị cũng sớm nhận ra mối thù hằn lẫn nhau ấy thật ra là cần thiết cho họ; bởi vậy, họ an phận sống cùng mối thù hằn nhau ấy cho trọn quãng đời còn lại. Vâng, năm tháng trôi qua, trong khi bố tôi dần dần thu mình lại, bỏ mặc bà vợ làm gì thì làm, đi đâu thì đi, mẹ tôi bèn nhìn quanh nhìn quất, tìm nơi thi thố các ý tưởng, các tài năng cũng như các ham muốn đàn bà chưa hề hao mòn hay tàn lụi chút nào tức là xông xáo đi tìm một Spadolini nào đó - nhìn bức ảnh tôi nghĩ như vậy. Hoàn cảnh ít nhiều bất hạnh đó của bà, hóa ra lại xui khiến bà may mắn vớ được hẳn một tay Tổng Giám mục. Một tay Tổng Giám mục không những thuộc loại thân hình tráng kiện khiến thiên hạ phải ghen tỵ, mà còn thuộc loại đầu óc sáng sủa bậc nhất nữa chứ. Như tôi cứ tự hình dung ra, mỗi khi bà sung sướng bên Spadolini, bà lại rên lên với y, Sứ thần của em. Cảnh tượng ấy, tôi bảo Gambetti, hẳn phải cảm động lắm, phải rung động con tim lắm đấy. Bao giờ cũng vậy, cứ nhắc đến lão Spadolini ám muội, là tôi lại cáu tiết. Thật đúng là dớ dẩn, tôi tự nhủ, ta được thuê dạy văn học Đức lẫn nghệ thuật ngôn từ Đức, nhưng do mắc chứng vĩ cuồng hoang tưởng, ta đòi dạy luôn cả triết học Đức, rồi huênh hoang, ra điều ta thông thạo, hay ít ra, cũng hiểu biết đôi chút, cả về nền văn chương lẫn nền triết học ấy, nhưng thực ra, ta chỉ là một phần của cái xó Wolfsegg rác rưởi, bẩn thỉu mà mỗi lần, chỉ cần thoáng nghĩ đến nó thôi, ta đã thấy kinh hoàng rởn tóc gáy. Ta ra đi từ cái xó ô nhục như Wolfsegg đến Rome, rồi lên giọng ba hoa không chút ngượng mồm với thiên hạ ở đấy về Schopenhauer và Goethe. Tôi tự nhủ, cái trò khốn tôi đang đeo đuổi quả là trò khốn ngang ngược. Tôi đang xắn tay xắn áo toan phanh phui Wolfsegg cùng cả lũ trong gia đình tôi, đập nát tan tành, tiêu hủy, tận diệt chúng đi, thì hóa ra, tôi lại đang tự phanh phui, tự mổ xẻ tôi, tự tiêu hủy, tự trừ khử chính mình. Nhưng, tôi bảo Gambetti, ý nghĩ về sự phanh phui mổ xẻ chính mình, sự tiêu diệt chính mình ấy, lại làm tôi dễ chịu và khoan khoái. Dường như cả đời tôi, tôi chẳng ấp ủ mưu toan nào khác mưu toan đó cả. Mà nếu tôi không nhầm, tôi cũng thành công trong việc phanh phui, mổ xẻ, tuyệt diệt chính mình. Thật vậy, tôi nào có làm gì khác ngoài việc tự phanh thây, mổ xẻ, tiêu diệt chính mình đâu. Sáng sớm thức dậy, ý nghĩ đầu tiên của tôi là bắt tay ngay, thật dứt khoát, vào việc phanh phui mổ xẻ, và hủy diệt chính mình. Bố mẹ chúng ta chỉ đưa chúng ta, con cái họ, đến bên bờ vực thẳm, chứ không bao giờ cho ta thấy vực thẳm đó thật sự thế nào, họ không để ta nhìn xuống đó, họ kéo ta lùi lại, ngay ở giây phút gay cấn nhất, họ cố làm sao chỉ đưa ta đến được bờ vực thôi, chứ không chỉ cho ta thấy cái gì sẽ phá nát chúng ta. Hàng triệu, hàng tỉ cặp bố mẹ trên đời này đều hành động như thế cả, Gambetti ạ. Bây giờ tôi lại đảo lại thứ tự các tấm ảnh. Tấm chụp anh trai tôi cùng chiếc thuyền buồm của gã, tôi đặt lên trên tấm chụp bố mẹ tôi. Dưới cùng là tấm ảnh hai con em gái. Hồi ấy, chúng nó đến Cannes vòi tiền tôi và chú Georg cho chuyến du lịch sang Mỹ mà chúng nó vốn đã định từ lâu. Bố mẹ tôi không nhả cho chúng nó đồng nào, bởi theo ông bà, cho chúng nó sang Mỹ làm khỉ gì cho vô ích. Ở Cannes, chúng nó tìm mọi cách moi của chú tôi khoản tiền chúng nó cần. Song, sau hai tuần, chúng nó đành bỏ cuộc, bởi chú tôi cũng không cho chúng lấy một xu. Chả là, chú cũng cùng ý nghĩ như bố mẹ tôi, cho tiền hai con em gái tôi sang Mỹ chơi, chả khác nào vứt tiền qua cửa sổ. Hai con em tôi vốn đã thù ghét chú Georg, từ đấy lại càng thù ghét chú Georg hơn. Mặc dù ở Nice, theo tôi biết, chú khoản đãi chúng nó khá hậu hĩ, ăn uống toàn cửa hàng sang trọng và đắt tiền nhất hạng, mua tặng chúng nó cơ man nào là quần, là áo, vòng đeo tay, dây chuyền đeo cổ, vân vân và vân vân. Song, chú Georg tôi nhìn xuyên gan, thấu ruột hai đứa chúng nó. Vả lại, hai đứa chúng nó cũng không thể tự nghĩ ra cái bài tìm đến chú Georg ở Cannes vòi tiền đi Mỹ như thế đâu, mà - như tôi biết - do mẹ tôi xui. Chính bà, với ý rất đểu cáng, xúi hai đứa con gái đến Cannes. Nhưng vô ích. Tôi vẫn phải tự nhủ, tôi nói với Gambetti vậy, mọi trò độc ác bao giờ cũng từ mẹ tôi mà ra. Nếu ta chịu khó lần tìm đầu mối của cái ác ở Wolfsegg, thì cuối cùng, bao giờ ta cũng lần đến mẹ tôi, chính bà là đầu mối. Ấy vậy nhưng, tôi bảo Gambetti, nếu ta lên án bà, thì sẽ rất vớ vẩn, bởi vì - nghe có vẻ vô lý thế nào thì vô lý - thật ra, bà chẳng thể làm gì khác được. Chính vì bà luôn luôn là nguồn gốc cái ác, nên bao giờ bà cũng là nạn nhân của cái ác. Có thể nói, bất kỳ ai tiếp xúc với bà, chẳng sớm thì chầy, đều trở nên ác độc, tôi bảo Gambetti vậy. Chính do như thế mà bà biến Spadolini, cũng như biến cả tôi, cả gã anh tôi, vân vân và vân vân, thành những con người ác độc. Và đương nhiên, cả bố tôi, vốn là người không độc ác, thâm hiểm gì, vâng, tôi phải nói thẳng, có lẽ ông vốn hơi ngớ ngẩn, chứ không ác. Một người như mẹ tôi sẽ biến một gia đình, vốn không bao giờ độc ác thành độc ác, biến một căn nhà vốn không độc ác thành độc ác, Gambetti ạ. Thế nhưng, thật hết sức vô lý, nếu cứ bắt một mình bà phải gánh hết mọi tội lỗi cho tất cả những chuyện ác độc đó, như ta vẫn thường làm, bởi ta không còn lựa chọn nào khác, bởi đối với ta, thay đổi cách nghĩ thì quá khó, quá phức tạp, thậm chí không thể thực hiện nổi, cho nên để cho tiện, ta đổ thừa hết cho bà, chỉ việc rêu rao, bà ấy, bà mẹ chúng tôi đó, là người độc ác, rồi, quen đi, cứ vậy mà nghĩ suốt đời. Vằng, người đàn bà này đã làm tất cả chúng tôi, ai nấy đều trở nên độc ác. Đấy anh xem, phần cảm động chắc chắn chứa đựng trong tấm ảnh trước mặt tôi đây - ngay cả lúc này, lúc bố mẹ tôi mất rồi - cũng không ngăn được tôi lên án hai ông bà, vẫn xông vào xỉa xói ông bà một cách hết sức thô bạo như thế này đây. Vàng, trong đầu tôi thậm chí còn đột ngột nảy ra ý nghĩ, hay là bố mẹ tôi, bằng ngón xỏ xiên độc địa xưa nay hai vị vẫn dùng, cố tình để tôi ở lại một mình trên cõi đời này. Song, tôi phải bóp chết ngay ý nghĩ đó, bởi mới nảy ra thôi, nó đã có vẻ hết sức ngớ ngẩn rồi. Các bà mẹ chính là những người phải chịu trách nhiệm, tôi đột nhiên nói với Gambetti như thế, lúc tôi đi với anh ta trên phố Corso, hai ngày trước khi tôi lên đường về Wolfsegg. Khi ấy tôi giống như đã bị Wolfsegg mê hoặc, Wolfsegg đang chờ tôi về dự cái gọi là cuộc hôn nhân giữa con em gái tôi với một gã chủ hãng sản xuất nút chai rượu vang nào đấy, cái chốn trước khi tôi kịp rời khỏi Rome đã choàng ngay thòng lọng lên cổ tôi rồi ấy. Chỉ các bà mẹ thôi, chứ chẳng ai khác, phải chịu trách nhiệm, nhưng chính họ lại trốn tránh trách nhiệm đó của họ, khi họ trở thành người mẹ, bằng cách đổ hết lỗi lầm cho thế giới xung quanh họ. Các bà mẹ là những kẻ phải chịu trách nhiệm chính, song, đến lúc cần tính sổ, họ lại chẳng bao giờ bị lôi ra hỏi tội, bởi từ hàng ngàn năm nay rồi, thiên hạ vẫn luôn luôn mang sẵn lòng kính trọng không bao giờ mai một đối với các bà mẹ. Tại sao thế? Tôi hỏi Gambetti, tại sao chứ? Các bà mẹ quẳng con cái họ ra đời, rồi bắt đời phải chịu trách nhiệm về việc đó, cũng như về tất tật những gì sẽ xảy ra với con cái họ ở đời, chứ chính họ, họ lại không chịu nhận cái trách nhiệm đáng lẽ ra họ phải chịu. Các bà thoái thác không chịu nhận bất kỳ trách nhiệm nào dính dáng đến những đứa con đứa cái do chính họ quẳng ra đời ấy. Đó là sự thật, Gambetti ạ! Điều tôi nói ra đó, đúng với tất tật, hay đúng cho đa phần các bà mẹ. Nhưng với ý nghĩ đó, tôi thật cô độc biết bao nhiêu, vì nào có ai chia sẻ với tôi đâu. Những ý nghĩ như thế ta chỉ được phép nghĩ thầm trong đầu thôi, chứ không được nói thành lời, Gambetti ạ, chỉ giữ cho mình thôi, chứ không công bố công khai được. Rồi ta ít nhiều sẽ bị ngợp bởi những ý nghĩ như thế, trong một thế giới sẽ phản ứng chống lại các ý nghĩ như thế theo kiểu riêng của nó, nghĩa là xa lánh, bài xích chúng. Gambetti ạ, nếu tôi có xuất bản một tiểu luận và đặt tên là Các bà mẹ chẳng hạn, thì hậu quả tất nhiên là thiên hạ sẽ chửi tôi, mày dối trá hay mày ngu, hoặc mày vừa dối trá, vừa ngu cũng nên. Thế giới không chấp nhận nổi một bài tiểu luận như thế, do tôi soạn thảo và công bố, thế giới này quá quen với sự dối trá và thói đạo đức giả mất rồi, không còn biết đến các sự việc và các yếu tố thật nữa. Sự thật là ở chỗ, thế giới này, cuộc đời này đã vứt bỏ các yếu tố thật và lấy các lý tưởng nảy sinh trong trí tưởng tượng làm sự việc hay yếu tố thực, bởi làm như thế, có lời hơn, dễ chịu hơn về mặt chính trị, Gambetti ạ, chứ không phải ngược lại. Bức điện tín, như thiên hạ nói, không làm tôi bị rung động chút nào. Tất nhiên, dần dần nó bắt tôi phải tính đến các hậu quả kéo theo. Song đầu óc tôi vẫn hoàn toàn tình táo, như khi lần đầu tôi đọc bức điện. Ngay cả sau khi đọc lại lần thứ hai, lần thứ ba, tay tôi không hề run, toàn thân tôi không lẩy bẩy. Hàng giờ sau, tay tôi vẫn chẳng run, toàn thân tôi vẫn không lẩy bẩy. Tôi bình thản ngó quanh căn hộ tôi ở. Mấy năm gầy đây, tôi bài trí, sắp xếp nó hoàn toàn theo sở thích của tôi, theo cách tôi nghĩ. Tôi đã quen với căn hộ rộng thênh thang này, tôi hoàn thiện nó cho hợp với các mục tiêu của tôi. Ta tìm được căn hộ này nhờ anh Zacchi, tôi nghĩ bụng, anh bạn sống trong lâu đài riêng phía đối diện. Tâm thế giới của ta nằm trong căn hộ này và nó sẽ nằm ở đây mãi mãi. Ta sẽ không tự từ bỏ tâm điểm này, ta sẽ làm mọi thứ để không phải từ bỏ nó. Không có gì có thể bứng ta khỏi Rome để đưa ta quay trở lại Wolfsegg được cả. Tôi đứng lên, bước tới bên cửa sổ. Tôi chưa thấy Piazza Minerva yên tĩnh như thế này bao giờ, lèo tèo hai, ba bóng người, ngoài ra chẳng còn ma nào, mà lại vào giờ này, năm giờ chiều, quang cảnh như thế quả là bất thường. Tôi hạ tấm mành xuống, khiến căn hộ tối om om. Tôi thích căn hộ nhất chính vào những lúc trong đó tối om om thế này, những lúc tôi nghĩ ngợi tốt nhất. Tôi chợt nghĩ, ngay đêm nay, tôi sẽ về Wolfsegg, bằng chuyến tàu đêm, nhưng sau đó lại nghĩ, thôi, sáng sớm mai hẵng lên đường. Mới đầu tôi tự nhủ, thôi, lên tàu đi ngay; nhưng ngay sau đó lại nghĩ, không, chờ sáng mai, bắt chuyến tàu đầu tiên; tôi nghĩ tới, nghĩ lui, nghĩ đi, nghĩ lại mãi như thế, nhưng rất bình thản, xem nên quay về Wolfsegg thế nào. Tôi cố hình dung xem hai con em gái đang ngóng chờ tôi. Tôi nghĩ bụng, kệ chúng nó, mình không báo bao giờ đến nơi, cho chúng nó thấp thỏm thế nào thì thấp thỏm. Tôi tự nhủ, đi xuống nhà gọi điện thoại, rồi đi ra phía cửa ra vào để đi xuống; song, vừa đến cửa, tôi lại quay lại bên cửa sổ. Cứ thế, tôi ra đến cửa rồi quay lại, có đến chục lần, có khi cả trăm lần cũng nên, tôi chẳng biết rõ bao nhiêu, nhưng rõ ràng rất nhiều lần, không phải chỉ một hay chục lần, quay đi quay lại giữa cửa sổ với cửa ra vào. Rồi tôi lại ngồi xuống bên bàn giấy, như mọi khi, vào giờ này tôi vẫn ngồi, nhưng không phải để làm việc thường ngày của tôi, không phải để ghi chép, không phải để chuẩn bị bài giảng, nhất là bài giảng cho Gambetti, mà là để nhìn lại vào mấy tấm ảnh tôi vẫn để trên bàn. Tôi không cảm thấy có nhu cầu tiếp xúc với ai vào lúc này, tôi chỉ muốn ngồi đây cô độc hoàn toàn. Tôi cũng không có nhu cầu phải thông báo cho ai. Tôi phải ngồi một mình với dòng tin báo tử này. Tôi nghĩ bụng, không biết tôi phải báo tin bố mẹ tôi chết cho ai, báo như thế nào, bằng cách nào. Tôi nghĩ đến người này, người kia, cân nhắc tên người này, tên người nọ, số điện thoại người này, số điện thoại người khác chợt hiện ra trong đầu, nhưng rồi tôi lại bỏ ý định báo tin bố mẹ tôi chết cho một ai đó biết. Hay cứ báo cho Gambetti nhỉ, tôi nghĩ bụng, hay cho Zacchi, hay cho Maria - nàng thi sĩ của tôi ở căn hộ gần phố Condotti và có cuộc hẹn ăn tối với tôi hôm nay đi. Từ ngày ở Rome, tôi gặp Maria đều đặn; nàng là người đàn bà duy nhất tôi thực sự duy trì liên lạc, là người lâu nay tôi vẫn có nhu cầu, mỗi tuần phải gặp được một lần. Bây giờ ta đến gặp người bạn thông minh của ta, tôi vẫn thường tự nhủ, người bạn giàu trí tưởng tượng, một thi sĩ lớn, bởi tôi không bao giờ nghi ngờ, dù chỉ một giây khắc, sự thật hiển nhiên là mọi thứ nàng sáng tác đều lớn lao hơn, đều tuyệt vời hơn tất cả những gì các nữ thi sĩ khác viết ra. Nàng là người đầu tiên tôi phải gọi điện thoại, để báo với nàng vì sao cuộc hẹn của tôi với nàng sẽ không thành, vì sao tôi phải quay lại Wolfsegg, về lại cái chốn tôi vẫn nguyền rủa hết lời, cái chốn tôi vẫn gọi là mắc dịch, gây chết người trước mặt nàng ấy. Maria chẳng biết chốn Wolfsegg nào khác, ngoài chốn Wolfsegg mắc dịch, chết chóc của tôi, cả Gambetti lẫn Zacchi đều không biết Wolfsegg nào khác, tất cả những ai nữa tôi quen ở Rome cũng đều không biết như thế nốt. Với ai, bao giờ tôi cũng chỉ kể về cái chốn Wolfsegg mắc dịch, nguy hiểm chết người - cái chốn địa ngục nơi tỉnh lẻ ấy. Được rồi, gọi điện cho Maria, gọi cho Gambetti, cho Zacchi, tôi nghĩ bụng, rồi lại ngồi xuống bên bàn. Không đem gì về Wolfsegg cả, tôi tự nhủ. Phải bình tĩnh. Gọi điện cho hai con em gái, tôi thầm nghĩ. Báo chúng nó biết, bao giờ tôi về. Nhưng trước hết, tự tôi, tôi phải biết bao giờ tôi lên đường đã. Mà tôi đã biết đâu. Rốt cuộc, tôi đi đến kết luận chung cuộc là, thực ra, tôi chẳng có cách nào để tự quyết định cả. Bên hỏa xa mà đình công, ắt tôi phải bắt máy bay; các hãng hàng không mà đình công, ắt tôi phải đi tàu hỏa; nhưng muốn đi tàu thì tôi phải lên đường ngay đêm nay, muốn đi máy bay thì phải năm giờ sáng sớm mai. Chưa lần nào như lần này, vừa từ Wolfsegg quay về mà tôi - cứ nhớ đến nó - lại thấy tởm lợm và lại giơ tay thề còn lâu nữa mới quay lại đấy. Ấy thế mà bây giờ tôi lại phải lập tức quay lại. Tôi sực nhớ đến tay luật sư của gia đình tôi ở Weis, tay luật sự của bố tôi, đặt văn phòng ở quảng trường Franz Josef - cái văn phòng vừa bước vào tôi đã thấy đáng ghét. Mụ vợ tay luật sư chợt hiện ra trước mắt tôi, thật đáng ghét. Tôi thấy viên bác sĩ của gia đình tôi ở Weis, thật đáng ghét. Vợ hắn, cũng đáng ghét nốt. Thành phố Weis cùng các thị trấn lẻ xung quanh, tôi bỗng thấy đều đáng ghét cả. Nghĩ đến Vocklabruck, tôi thấy đáng ghét, nghĩ đến Gmunden - cũng đáng ghét. Đám dân đáng kinh tởm ở những nơi đấy, trong những chiếc áo choàng mùa đông nặng trình trịch, trông đến phát buồn nôn của họ - tôi nghĩ bụng - bọn người đội mũ lố bịch trên đầu, kéo lệt bệt những đôi giày đã nặng như chì, lại to tổ bố dưới chân ấy. Tôi nghĩ đến chợ trời ở Weis, thấy sao nó đáng ghét, đáng tởm thế, tôi nhớ đến quảng trường thị trấn Gmunden, cũng thấy nó đáng ghét quá thể. Ta mà bắt chuyện với bọn người ở những nơi chốn đáng ghét ấy, thì lập tức, cả thế giới này cũng trở nên đáng ghét nốt. Ta mà sống ở vùng ấy, thì suốt ngày ta sẽ phải đụng chạm với lũ người đáng tởm đó, tôi nghĩ bụng, nhưng ta chẳng chạy đi đâu được, đấy là xứ của họ. Tôi chịu không nổi lối nói năng cũng như kiểu ăn cách mặc của họ. Tôi không chịu nổi những gì họ suy nghĩ tính toán; những gì họ phô trương, những gì họ đã làm và mưu tính làm, tôi đều không chịu nổi. Họ nói gì, làm gì, đều để chống lại tôi. Tôi quả thực không chịu nổi lối sống Thiên chúa giáo và Quốc xã của họ. Tôi chịu không nổi giọng họ nói, không những tôi không chịu nổi họ nói cái gì, mà họ nói như thế nào, tôi cũng chịu không nổi. Những lúc tôi quan sát họ, tôi không làm sao có những tình cảm xứng với họ, trong đầu tôi chỉ rặt những suy nghĩ bất công nhất hạng dành cho họ, tôi tự nhủ. Phải chăng, do chính tôi bị mối ác cảm bệnh hoạn tôi luôn dành cho Wolfsegg làm mê muội, khiến tôi không công bằng với họ, khiến tôi bất công đến mức tàn nhẫn đối với họ và tất cả những gì dính dáng đến họ khi tôi giương mắt quan sát họ. Đơn giản là tôi ghê tởm họ, họ khiến tôi buồn nôn. Những con ngõ xinh xắn tại cái thị trấn đó phỏng có ích gì, tôi nghĩ bụng, nếu ở đó rặt một bọn người đáng ghét như thế kia sống chen sống chúc. Những quảng trường đẹp đẽ kia phỏng có ích gì cho tôi, nếu trên đó lảng vảng vài ba hình hài xấu xí, bẩn thỉu. Từ lâu tôi chẳng còn chút thiện cảm nào dành cho họ. Tôi khinh thường họ, tôi căm ghét họ, nhưng đồng thời tôi cũng thừa nhận sự bất công tệ hại tôi đổ cho họ. Thế nhưng, tôi không thể và cũng không muốn lấy lòng tất cả bấy nhiêu con người, để họ quay ra quý mến tôi; tôi không muốn còn gì chung đụng với đám dân chúng ấy nữa khiến họ yêu thương tôi, tôi tự nhủ, tôi không thể quay lại với họ, với dân tộc họ nữa. Tôi không thể bước vào các cửa hàng lố bịch của họ nữa, không thể ghé vào các văn phòng khăm khẳm của họ nữa, tôi không thể đặt chấn vào các ngôi nhà thờ lạnh lẽo và huy hoàng giả tạo của họ nữa. Chính các tay thầy thuốc ấy đã hủy hoại tôi, chính các viên luật sư ấy đã bịp tôi, chính các vị linh mục ấy đã lừa tôi. Tất cả những con người ấy đã làm tôi thất vọng, đã sỉ nhục niềm tin tôi từng gửi gắm nơi họ bằng những cách bẩn thỉu nhất. Tôi nghĩ bụng, tôi không thể gặp họ nữa, họ trở thành những kẻ tôi không sao chịu nổi, không còn có gì cứu vãn được nữa. Tất cả bọn người lũ ngợm ấy ghét bỏ những gì tôi yêu quý, coi thường những gì tôi kính trọng, ưa chuộng những thứ tôi ngao ngán. Đến bầu không khí họ hít vào thở ra cũng khiến tôi phải buồn nôn buồn mửa. Trên khắp thế giới này, tôi tự nhủ, đâu đâu tôi cũng lắm bạn nhiều bè, duy ở nơi lẽ ra phải là nhà tôi, quê hương tôi, tôi lại chẳng có ai làm bạn, ngoài những con người công nhân, những người thợ mỏ bình thường và giản dị nhất. Khắp nơi trên thế giới, đâu đâu - nếu không phải thường xuyên, thì cũng lúc này lúc khác - tôi cũng luôn luôn là con người hạnh phúc, ở nơi này, nơi kia, tôi còn là người mãn nguyện nhất, sung sướng nhất, vâng, biết ơn nhất nữa kia, nhưng ở nơi lẽ tôi phải được sung sướng, mãn nguyện hơn nữa ấy, thì lại không bao giờ. Bọn chúng không hiểu ta, tôi tự nhủ, bọn chúng chẳng hiểu gì, bọn chúng không hề hiểu bất cứ thứ gì. Bọn chúng không biết cách sống. Bọn chúng sống để làm ăn, chứ không phải làm ăn để sinh sống. Chúng đểu cáng, hèn hạ, nhưng lại vĩ cuồng, hoang tưởng. Bọn chúng mở mồm nói chào buổi sáng một cách quái đản; nhoẻn miệng chào buổi tối, chúc ngủ ngon - cũng theo một kiểu quái đản như thế nốt. Ngươi nghĩ đến bọn người trong nhà, ngươi thấy buồn nôn; nghĩ đến lũ người khác ở đấy, ngươi cũng thấy buồn nôn. Tất nhiên, một kẻ chỉ mang độc những ý nghĩ kiểu như thế trong đầu là kẻ bệnh hoạn, tôi nghĩ bụng, và lập tức hiểu ra, tôi đang chìm đắm trong tâm trạng nguy hiểm như thế nào. Bình tâm lại, tôi tự nhủ, giữ đầu óc cho tình táo, cứ bình tĩnh, phải hết sức bình tính. Song, tôi không thể thoát khỏi tâm trạng nguy hiểm ấy nữa rồi. Tôi nghe thấy rõ rành rành họ rủa: Thằng ấy bị hoang tưởng - nói như họ thường nói - bị mắc chứng hoang tưởng vĩ cuồng khác với của nhà ta, dạng hoang tưởng vĩ cuồng của riêng nó. Trông thấy tôi, bọn chúng liền buồn nôn. Nghe hắn nói chào buổi sáng, bọn họ thấy quái dị, cũng quái dị như khi nghe hắn nói chào buổi tối hay chúc ngủ ngon, tôi tự nhủ. Cách hắn ăn mặc, quần áo, mũ mão, giày dép, bọn họ đều thấy đáng ghét. Hắn nghĩ gì, hắn làm gì hay không làm gì, với bọn họ, đều đáng ghét cả. Bọn họ khinh bỉ hắn giống y như hắn khinh bỉ họ, bọn họ căm ghét hắn y hệt như y căm ghét họ. Vậy thì, sự khinh bỉ của ai, lòng căm ghét của ai đúng hơn, công bằng hơn đây? Chả biết được, tôi nghĩ bụng. Tôi đứng dậy, tiến đến bên cửa sổ, bởi ngồi bên bàn bây giờ khó chịu quá, rồi nhìn xuống Piazza Minerva. Mành nhà Zacchi đều hạ hết cả xuống, tôi tự nhủ, chắc anh ấy không có nhà, có lẽ đến chỗ chị gái ở Palermo rồi. Anh hay đi thăm chị ấy. Chị mắc bệnh thận, phải nằm trong bệnh viện chuyên điều trị bệnh thận, ở một trong những vùng đẹp nhất Sizilien, dưới chân núi Pellegrini. Lúc nào anh ấy thả hết mành xuống, có nghĩa là anh ấy về Palermo thăm chị, tôi nghĩ bụng. Nhưng rồi tôi cũng sẽ thử tìm cách báo tin cho anh ấy biết về cái chết của bố mẹ tôi. Tối muộn, có khi anh ấy sẽ về. Tôi đi đi lại lại trong căn hộ; tôi mở toang hết cửa các phòng để dễ dàng tới lui. Như thế, tôi khỏi phải xuống phố mới thư giãn được, chỉ cần đi đi lại lại nhiều lần trong phòng là đủ. Tôi đã tự mình rời bỏ Wolfsegg, tôi vừa đi một quãng trong nhà, vừa nghĩ bụng. Dần dần, rồi tôi cũng tĩnh tâm lại. Tôi rời bỏ Wolfsegg và xa lánh gia đình một cách có chủ định hẳn hoi. Tôi đã cố tình cắt đứt với Wolfsegg. Tôi đã luôn luôn xúc phạm bố mẹ tôi. Tôi đã làm mọi thứ, khiến họ phật lòng, tôi cũng luôn làm mọi thứ, cốt chỉ để xúc phạm anh em tôi. Và, để xúc phạm bố mẹ, anh em, tôi chẳng hề nương tay chút nào. Tôi đã rất hay hạ nhục họ, thường xuyên chế nhạo họ, ngay cả khi họ không hề có gì đáng để hạ nhục hay chế nhạo cả, tôi tự nhủ, và đầu óc tôi bỗng trở lại tỉnh táo. Tôi thường lên án bố tôi theo một cách đê hèn nhất ở cả những việc chẳng có gì đáng phải lên án cả. Tôi đã thường lừa dối mẹ tôi, tôi cũng thường chế nhạo bà trước mặt bao nhiêu là người, làm nhục bà, làm bà tổn thương với cung cách kiêu ngạo của tôi, bây giờ tôi phải tự thú nhận như thế. Song, quả thực tôi đã bình tĩnh trở lại, đầu óc cũng quả thực đã tỉnh táo trở lại. Tôi đã hoàn toàn tự ý rời bỏ gia đình, và như thế, tôi đã tự tước bỏ mọi quyền phán xét của tôi đối với mọi người thân trong nhà, tôi nghĩ bụng rồi quay người đi ngược lại. Nhiều năm nay rồi, tôi không thuê thợ quét vôi lại căn hộ, bởi tôi không chịu nổi đám thợ lăng xăng, vừa nhìn vết nứt trên trần nhà, tôi vừa nghĩ bụng. Tôi phải dọn đến một lâu đài kiến trúc thời Phục hưng để được cảm thấy tôi chỉ còn lại một mình với mình, tách biệt hết với mọi người. Bởi vì sự thật là ở chỗ, tôi đã tách biệt tôi khỏi tất cả mọi người, chứ không phải chỉ tách khỏi người nhà tôi ở Wolfsegg mà thôi. Gambetti, Zacchi, Maria - giới người tôi giao lưu teo lại còn từng ấy mống. Và, chẳng bao lâu nữa thì cả cái giới người đã teo tóp lại ấy cũng không còn tồn tại nữa, tôi nghĩ bụng, rồi quay gót đi theo hướng ngược lại. Nếu ta sống sót, tôi tự nhủ, ta bỗng trơ trọi, hoàn toàn đơn độc, tuyệt nhiên không còn lấy một sinh linh nào nữa ở gần ta. Tôi chắp tay sau lưng, một thói quen tôi nhiễm từ ông nội tôi. Tôi nghĩ bụng, tôi đã nhiễm không những nhiều, mà hầu hết các thói quen của ông nội tôi. Chao ôi, giá chú Georg tôi biết tôi lúc này bỗng thực sự đơn độc ra sao. Tôi đã luôn luôn khao khát sống đơn độc, thế nhưng, khi tôi đơn độc, tôi lại là kẻ bất hạnh nhất. Tôi không chịu được sự đơn độc, nhưng lại luôn mồm nói về sự đơn độc đó, tôi rao giảng về sự đơn độc, nhưng lại căm thù nó thậm tệ, bởi nó - như tôi vẫn biết, như tôi đang cảm nhận rất rõ ràng bây giờ đây làm ta bất hạnh hơn bất cứ thứ gì khác, tôi khuyên Gambetti chọn cuộc sống đơn độc, nhưng tôi biết rất rõ, sự đơn độc là hình phạt đáng sợ nhất. Miệng tôi bảo Gambetti, Gambetti ạ, sự đơn độc chính là đỉnh cao tuyệt đối, bởi lúc đó tôi đóng vai triết gia riêng của anh ta, nhưng trong lòng tôi, tôi biết rất rõ, sự đơn độc là hình phạt kinh khủng nhất trong mọi hình phạt. Chỉ kẻ nào điên mới rêu rao tán tụng sự đơn độc, và hoàn toàn đơn độc, nói cho cùng, cũng có nghĩa là hoàn toàn điên loạn, tôi nghĩ bụng rồi quay người đi ngược lại. Căn hộ tôi rộng khiến tôi không có cảm giác bị giam hãm, bị ngăn chặn hay đè nén, nó tạo cho các suy nghĩ của tôi một khoảng không gian tự do, khoảng không gian tôi chỉ thường tìm thấy ở các quảng trường rộng trong thành phố mà thôi. Tôi đã tính đến nó, khi chọn căn hộ này trong cơn vĩ cuồng, bởi vì, rõ ràng chứng vĩ cuồng của tôi đã thôi thúc tôi thuê căn hộ rộng thênh thang này ở Piazza Minerva với giá cao kinh khủng, cao tới mức tôi không bao giờ nói thật cho người nhà tôi biết cả. Có lần do bố mẹ gặng hỏi - tôi đã xướng lên một cái giá giời ơi, chưa bằng nửa giá thuê nhà thật; bởi nếu tôi nói thật ra, ông bà sẽ hết hồn mà bảo tôi điên. Tôi bảo, đấy là một trong những căn hộ giá cả phải chăng nhất ở Rome, nói một lần rồi thôi, sau đó không bao giờ có ai nhắc đến giá thuê căn hộ của tôi nữa. Song, ở trong căn hộ này, quả thực, đôi khi tôi cũng có cảm giác từa tựa như ở trong nhà ngục, tôi nghĩ thầm, và đi đi lại lại trong căn hộ này như thể đang đi đi lại lại trong nhà ngục vậy. Thì chính tôi chẳng vẫn hay gọi căn hộ của tôi là ngục tối để nghĩ ngợi là gì nhưng gọi trộm một mình thế thôi, không nói cho ai biết, nếu không, thể nào người ta cũng ngờ tôi mất trí, bởi chắc chắn họ sẽ nghĩ, chỉ ai mất trí mới gọi căn hộ mình ở là ngục tối để nghĩ ngợi như thế. Tôi lại ngồi xuống bên bàn giấy, xem xét mấy bức ảnh tôi đã xem xét suốt từ chiều đến giờ, đồng thời tự nhận thấy chính mình tử tế lên như thế nào. Bây giờ tôi xếp mấy tấm ảnh nằm cạnh nhau rồi tự nhủ, không thể đánh giá những người chụp trong ảnh theo cách như thế này được. Không thể đánh giá họ như đánh giá hình ảnh họ chụp trong ảnh được. Tôi lại chồng các tấm ảnh lên nhau, chồng làm sao cho tấm ảnh chụp bố mẹ tôi trên sân ga Victoria ở London - đúng vào lúc hai người đang bước lên tàu đi Dover - che kín hai tấm kia. Tôi đã mong đợi một cảm xúc khác, nhưng đến lúc này hai ông bà vẫn gây cho tôi cảm giác nực cười và lố bịch y như lúc đầu. Tôi đành cho mấy tấm ảnh vào ngăn kéo bàn giấy, rồi quyết định gọi điện thoại cho bạn bè và đặt chuyến bay sớm mai, bay từ Rome, về nhà. Các ngón tay tôi không hề run, người tôi không lẩy bẩy. Đầu óc tôi hoàn toàn tỉnh táo. Bức điện tín này có ý nghĩa gì, tôi biết rất rõ.

Hoàng Đăng Lãnh dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.