(TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ)

ĐÔ ĐỐC BÙI THỊ XUÂN

Lượt đọc: 125 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương IX

❊ ❊ ❊

Sau khi tự mình đem một cánh quân đi quật mả Nguyễn Huệ rồi sai toán lính dùng búa đập lấy sọ, hạ vào ngục tối, Nguyễn Ánh trở về đại bản doanh, một dinh cơ đồ sộ vững chãi, ngay cạnh đường vào thành Phú Xuân. Ánh những tưởng sau khi làm được cái việc mà từ lâu Ánh mong muốn, vì chín đời mà trả thù Nguyễn Huệ, Ánh sẽ thanh thản lại. Nhưng một cái gì vẫn làm Ánh bứt rứt khó chịu, tưng tức ở ngực. Ánh muốn đi nghỉ nhưng vừa nằm, Ánh lại vùng dậy đi lại trong gian điện lớn. Phải rồi, Ánh đã lấy được thành Phú Xuân nhưng không bắt được Cảnh Thịnh, cũng không giết được tên nữ tặc tướng đã cứu sống Cảnh Thịnh. Hôm ấy nếu không có nữ tặc tên là Bùi Thị Xuân ấy - Ánh thầm nghĩ - thì Cảnh Thịnh đã bị bắt sống và việc lấy đất Bắc Hà sẽ không đến nỗi khó khăn. Cũng chính vì nữ tặc ấy mà thế trận của Ánh suýt bị vỡ ở cửa Thuận An, và việc lấy thành Phú Xuân mới kéo dài. Lúc này thì chúng đã chạy được về Thăng Long và chắc nay mai sẽ đem đại binh tới. Bây giờ phải làm gì - Ánh tự hỏi - Đánh tiếp ra Bắc Hà hay phòng giữ Phú Xuân để nghe ngóng tình hình? Nếu không quyết đoán sớm, một ngày nào đám quân của Cảnh Thịnh từ Thăng Long đánh vào, quân của Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng từ Quy Nhơn đánh ra, Ánh khó lòng mà thoát được. Trong lúc ấy, Ánh thấy rõ dân chúng thành Phú Xuân số đông vẫn chưa chịu trở lại. Hơn thế, Ánh đã bắt gặp cái nhìn không thiện cảm, hoặc một sự lảng tránh cố ý của những người đã trở về. Như vậy, điều mà Ánh sợ nhất đã rõ ràng: Ánh lấy được thành mà không thu phục được nhân tâm dân chúng. Tâu bẩm của các đạo trưởng Phú-lãng-sa, giáo dân sẽ nổi dậy hưởng ứng khi Ánh đem quân ra Phú Xuân quả là chuyện hoang đường.

Chợt có thị vệ vào. Ánh dừng lại chờ đợi:

- Tâu Chúa thượng, có đạo trưởng A-lếch-xăng xin làm lễ triều kiến.

Ánh nghĩ thầm: bọn đạo trưởng cứ như là ma quái ấy, bao giờ chúng cũng biết rõ ruột gan ta.

- Cho vào - Ánh không giấu được sự vui mừng ra lệnh cho thị vệ.

Đạo trưởng A-lếch-xăng cao lớn, cử chỉ lịch thiệp, nói tiếng Việt rất sõi, tiến vào nghiêng đầu chào Ánh:

- Tôi xin có lời chúc mừng Chúa thượng. - A-lếch-xăng cười to - điều mà người Phú-lãng-sa (22) mong muốn, Chúa thượng yêu cầu từ 14 năm trước đã thành  sự thật. Đạo quân vô địch của Phú-lãng-sa đã giúp Chúa thượng chiếm được Phú Xuân một cách dễ dàng.

Ánh chỉ A-lếch-xăng ngồi xuống chiếc kỷ chạm hình hổ phù đặt ở giữa phòng, sai thị vệ dâng trà rồi lấp lửng, nói:

- Ồ, thưa Đạo trưởng! Không dễ dàng chút nào đâu!

Biết rõ con người Ánh, A-lếch-xăng nhấn mạnh:

- Sao Chúa thượng lại nói là không dễ dàng? Chẳng lẽ các chiến hạm Phương Phi (Le Phenix), Long Phi (Le Dragon), Bằng Phi (L'aigli), mỗi chiến hạm trang bị từ 30 đến 46 đại bác do các tướng lão luyện Va-ni-ê, Sai-nhô, Phóc-răng điều khiển và hàng nghìn binh lính Phú-lãng-sa thiện chiến tham dự không phải là một lực lượng ghê gớm đối với Cảnh Thịnh sao? Chẳng lẽ lực lượng vô địch ấy không giúp Chúa thượng chiếm Phú Xuân nhanh chóng đó sao?

Thấy A-lếch-xăng bỗng nhiên nhiều lời, Nguyền Ánh vẻ đau buồn và đấu dịu:

- Ta không giấu Đạo trưởng, lòng ta chưa hết u sầu nên nói vậy thôi. Đầu năm, Thai tử Cảnh mới 22 tuổi bị đậu mùa chết, giữa năm, Thế tử Hi tử trận ở Diên Thành. Một năm ta mất hai đứa con.

- Xin có lời chia buồn với Chúa thượng. Tôi thực vô tâm. Nhưng bù lại mất mát đó, có sự giúp đỡ của chúng tôi, Chúa thượng đang thắng to. Đừng quên sự đóng góp máu xương của binh lính Phú-lãng-sa. - A-lếch-xăng đai lại.

Lòng ta hằng biết ơn sự giúp đỡ của quý quốc và của Đạo trưởng. Chứng cớ là khi người anh em của Đạo trưởng, giám mục Bá Đa Lộc (23)  tạ thế ở Diên Khánh, ta đã cho ướp thuốc đặt trong quan tài bằng gỗ tứ thiết, mang xác từ Diên Khánh về Gia Định chôn cất trọng thể và truy phong là Thái tử thái phó Bi Nhu quận công. Đạo trưởng cũng biết lúc đó việc quân đang bận nhưng ta đã quàn giám mục 2 tháng để lo liệu mọi nghi lễ cần thiết cho việc quốc tang. Ngày đưa đám, các điển lễ về Thiên chúa giáo được cử hành. Tất cả giáo dân, giáo sĩ, theo lệnh ta, không thiếu một ai, đều đến dự lễ. Ta lại để các bà Thái hậu, Hoàng hậu và cung tần, cùng các quan văn võ mặc lễ phục chỉnh tề, do đích thân ta đẫn đầu đưa ra tận huyệt. Rồi, để thưởng công lao của đấng trung thần, đảm trách sứ mạng nối nhịp cầu giao hảo giữa ta với quý quốc, từng chung lưng đấu cật cùng ta thuở ba đào, ta đã sai sửa chiếc kiệu 80 người khiêng thật đẹp đẽ và huy động đạo quân cận vệ chẵn 12.000 người với đạo tượng binh 100 con, kéo theo đại bác để đưa cố giám mục về nơi an nghỉ. Xem cái chết của một đạo trưởng là quốc tang, dùng đến nghi  lễ trang nghiêm, trọng thể bậc nhất ấy, quả là từ cổ đến kim, nước Nam chưa làm như thế bao giờ. Khi làm lễ hạ huyệt, ta thân ném nắm đất đầu tiên và khóc nức nở vì thương tiếc. Ta lại còn cho xây một ngôi đền bằng gỗ quý, cắt 50 lính ngày đêm canh phòng cẩn mật. Đạo trưởng thấy chăng, tấm lòng ta yêu quý các đạo trưởng và biết ơn đại quý quốc Phú-lãng-sa hùng cường? A-lếch-xăng không mảy may tỏ ra cảm động trước thái độ yếu mềm của Nguyễn Ánh:

- Mọi việc làm cho người chết là để vì những người đang số. Ân huệ mà Chúa thượng ban cho cố giám mục chẳng qua Chúa thượng muốn bày tỏ lòng ngưỡng mộ đến nước Phú-lãng-sa hùng cường. Điều đó tỏ rõ Chúa thượng rất khôn ngoan. Nhưng tôi vẫn lưu ý Chúa thượng quan tâm đến việc lớn. Hiện Chúa thượng đã có tàu chiến, đại bác và vô số binh lính Phú-lãng-sa giúp đỡ. Chúa thượng lại là người có tài, giỏi dụng binh, sao không nghĩ đến việc tiến binh lấy Bắc Hà?

Ánh thoáng sự thích thú:

- Ngần ấy binh sĩ, tàu chiến, đại bác chỉ có thể lấy được Phú Xuân, chưa chắc đã giữ được. Nói chi đến việc tiến ra Bắc Hà.

- Sao lại như thế? Chúa thượng nên nhớ rằng nước Phú-lãng-sa sẽ còn giúp nhiều, từ ngày Chúa thượng thân cô thế cô chúng tôi còn giúp huống hồ Chúa thượng đã có quyền uy trong tay. Vào lúc này - A-lếch-xăng tiếp, giọng trầm xuống - Cảnh Thịnh chưa lấy lại sức, Chúa thượng phải đánh nữa, nếu không phải là đánh gấp. Tôi vừa nhận được thư của đạo trưởng Pie hiện đang ở ngoài ấy, cho biết giáo dân Bắc Hà sẽ nổi dậy ủng hộ một khi Chúa thượng đem quân đánh ra.

- Liệu có chắc không? Nguyễn Ánh hỏi - Lần trước khuyên ta đem đại binh đánh Phú Xuân, Đạo trưởng cũng nói như thế. Vậy mà, có ai nổi lên đâu? Dân chúng Phú Xuân đâu chịu theo ta?

- Lần nay xin Chúa thượng đừng lo - A-lếch-xăng quả quyết - vả, vì Chúa thượng, tôi đã trù tính một kế khác. Chúa thượng cũng biết rằng Bắc Hà vốn là đất của vua Lê. Dân chúng không ít người bề mặt theo Cảnh Thịnh mà trong lòng vẫn hoài tưởng đến các vua Lê. Nguyễn Huệ đánh thắng chúa Trịnh quá ư dễ dàng vì biết lợi dụng chỗ yếu ấy. Vậy nay Chúa thượng chỉ cần phao tin đem quân ra Bắc Hà diệt Tây Sơn phù Lê thì Chúa thượng sẽ lấy được Bắc Hà nhanh hơn lấy thành Phú Xuân này. Chẳng lẽ Chúa thượng không biết rằng Chúa thượng đang có cơ hội làm nên chuyện sấm vang, chớp bủa, biển lệch, núi nghiêng rồi đó sao?

Nguyễn Ánh trố mắt kinh ngạc.

- Đạo trưởng quả là người am hiểu tường tận nội tình xứ này, lại nhanh trí nữa. Ta chịu không thể bằng được. Tuy vậy...

- Không tuy vậy nữa. A-lếch-xăng cướp lời - Tôi sẽ báo cho các đạo trưởng ngoài ấy thúc giục giáo hữu sẵn sàng nổi dậy và phao tin thật dữ dội về việc Chúa thượng đem binh ra.

- Đã đành. Nhưng ta muốn đạo trưởng giúp thêm binh lính. Ta biết rằng, có người Phú-lãng-sa trong quân ngũ, Cảnh Thịnh sẽ không dám cự chiến.

- Tôi biết rõ quân Tây Sơn không khiếp nhược như Chúa thượng nghĩ đâu - A-lếch-xăng bỗng to tiếng - Dù thế tôi sẽ cố giúp.

Nguyễn Ánh phấn chấn:

- Được như thế ta đem đại binh đánh lấy Bắc Hà ngay. Vậy việc đánh Bắc Hà sớm hay muộn chính là do Đạo trưởng quyết đoán vậy.

A-lếch-xăng nhếch mép cười:

- Chúa thượng lấy được đất Bắc Hà thì người được lợi nhiều không phải là người Phú-lãng-sa. Tất nhiên, hai nước chúng ta đều có lợi.

- Ta sẽ không bao giờ quên công ơn trời biển của Đạo trưởng, Ánh nói.

Rồi để bày tỏ tấm lòng tôn kính, biết ơn, Ánh truyền làm bữa tiệc thật thịnh soạn thết đãi tên Đạo trưởng.

***

Nghe tiếng chân người chạy rầm rập, Nguyễn Ánh tỉnh giấc chồm dậy. Chưa kịp đeo thanh bảo kiếm, Ánh được bọn vệ sĩ báo có Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường dẫn theo một người dân thường, đang đứng chờ sau rèm gấm.

Được lệnh vào, Nguyễn Văn Thành vội vái Ánh, dâng thư rồi chỉ vào người dân thường nói:

- Tâu Chúa thượng! Người hào trưởng này đem thư của Đạo trưởng A-lếch-xăng cho hay đại binh Cảnh Thịnh chỉ nay mai sẽ kéo đến đánh ta. Hiện tướng Tây ngụy là Bùi Thị Xuân đốc suất quân bản bộ và Nguyễn Thận thống lĩnh quân thuỷ đợi ngày khởi sự.

Đọc xong thư của A-lếch-xăng, Nguyễn Ánh trợn mắt:

- Quái lạ về lời tâu của các ngươi. Vừa mấy bữa trước khi ta từ Phú Xuân ra lũy Đồng Hới (24)  này các người nói Cảnh Thịnh còn đang vét lính sau lần đại bại ở Phú Xuân, lẽ nào thằng nhãi ấy lại lấy sức nhanh thế được.

Ánh đảo mắt nhìn tên hào trưởng, hất hàm hỏi:

- Nhà ngươi từ đâu tới?

- Muôn tâu Chúa thượng! Đạo trưởng A-lếch-xăng tìm gặp thần ở gần Thăng Long và lệnh cho thần phải đi ngày đêm, kịp ra mắt Chúa thượng trước khi địch quân tới.

- Khá khen nhà ngươi đã đem cái tin hệ trọng này cho ta. Người theo Đạo trưởng từ bao giờ?

Tên hào trưởng cúi rạp xuống tâu:

- Thần đội ơn Chúa cũ (25) mà dòng dõi mấy đời được phú quý. Khi Tây ngụy kéo ra Bắc Hà, chúng lấy hết của cải của gia tộc thần chia cho bọn bần tiện. Đạo trưởng thấu hiểu tình cảnh đó nên khi gặp, đã cho thần tiền và giao cho việc do thám nội tình Tây ngụy ở Bắc Hà. Đạo trưởng trả tiền cho thần theo từng việc và tỏ ra rất hào hiệp. Từ bấy đến nay, đêm ngày thần cầu mong Chúa thượng đem binh ra để cải tử hoàn sinh, bề tôi một lòng vì chúa cũ. Dịp may ấy đã đến. Thần được Đạo trưởng phái ra mắt Chúa thượng cấp báo tình hình địch quân. Âu cũng là mệnh trời run rủi để thần được bày tỏ tấm lòng ngưỡng mộ tài đức của Chúa thượng vậy.

Nguyễn Ánh thoáng xúc động:

- Nếu không có Đạo trưởng làm môi giới giúp đỡ, cấp thêm cho ta nhiều binh lính ta đâu được như ngày nay. Ơn Đạo trưởng ta ghi lòng tạc dạ. Chẳng hay Đạo trưởng hiện sống ra sao?

- Muôn tâu Chúa thượng! Hiện nay Tây ngụy dò biết được các đạo đồ làm loạn là do người Tây Dương dụ dỗ. Vì vậy, Tây ngụy đã ngăn cản việc đi lại của các đạo trưởng, sai bắt các trùm trưởng, triệt hạ nhà giảng, phá huỷ các ảnh, tượng và đốt các sách của người Tây Dương. Bởi thế, tính mạng Đạo trưởng thật khó bảo toàn. Nhưng Đạo trưởng vẫn xin Chúa thượng hãy vững lòng tin vào sự giúp đỡ của người Phú-lãng-sa.

- Điều ấy ta không bao giờ nghi ngờ - Ánh nói - Chứng cớ là người Phú-lãng-sa đã giúp ta trong muôn một. Chính họ thúc ép ta đánh ra Bắc Hà ngay lúc Cảnh Thịnh mới nối ngôi cha hắn. Và, ngay ở lũy Đồng Hới này, binh lính Phú-lãng-sa đang gối đất nằm sương với binh lính ta. Còn Đạo trưởng - Ánh tiếp - con người uyên thâm ấy sẽ biết lợi dụng sự tức giận của đạo đồ để làm nội công cho ta.

- Chúa thượng xét đoán việc trước việc sau như Khổng Minh tái sinh - tên hào trưởng khúm núm nói nịnh.

- Người Bắc Hà lâu hẳn phải biết hiện tình của Cảnh Thịnh. Binh lực hắn ra sao?

- Tâu Chúa thượng! - Tên hào trưởng mất hết vẻ rụt rè ban đầu - sức Cảnh Thịnh hiện đã kiệt. Trong hàng tướng lĩnh của hắn chỉ còn vợ chồng Thiếu phó Trần Quang Diệu là đáng gờm. Nhưng Diệu đang mắc kẹt ở Quy Nhơn. Vợ Diệu, con mụ Bùi Thị Xuân thật đáng kinh hãi. Phép dụng binh của mụ trước sau đều hệt như Nguyễn Huệ dụng binh. Nhưng mụ bị các quan trong triều ghen ghét. Cảnh Thịnh cũng mới trao cho binh quyền, chưa dễ đã được quân sĩ tuân thủ. Xem thế, Cảnh Thịnh khó mà gỡ được thế bại. Nói chi đến oai danh của Chúa thượng, địch quân nghe tiếng đã hồn siêu phách lạc. Thần dám cam đoan, Chúa thượng đem đại binh ra Bắc Hà lần này như đi vào chỗ không.

Nguyễn Ánh cười nhạt:

- Xưa nay những kẻ luyến chủ có khi giết chủ vì những lời tâu, cố làm đẹp lòng chủ.

Tên hào trưởng tái mặt. Hắn định nói thì Ánh đã quay sang Nguyễn Văn Thành:

- Người có kế gì chưa?

- Tâu Chúa thượng, Thành đáp, giọng tự tin - Phép dụng binh ở đất lạ là công để mà thủ hoặc thủ cũng là để công. Thần đã tăng thêm binh những nơi xung yếu, cấp báo cho viên thống suất thuỷ quân Tường Quang hầu đang trấn ở sông Gianh hay biết. Thần cũng đã tiếp phái đi những đội do thám sành sỏi và lệnh cho quân sĩ không được rời binh khí.

Nguyễn Ánh thầm nghĩ: tên tướng này bao giờ cũng biết nhìn xa thấy rộng. Rồi đây khi đế nghiệp đã thành tất phải giết đi mới đành. Thấy Ánh im lặng, Thành tiếp:

- Cấp báo của Đạo trưởng thật đáng lưu tâm. Dẫu Cảnh Thịnh chưa kén được nhiều binh mã nhưng thế cùng mà phải khỏi đạo binh đánh ra.

Nguyễn Ánh bất thần nổi nóng:

- Đã vậy Đạo trưởng chỉ một mực giục ta tiến đánh. Ta thật không còn hiểu chính sự Bắc Hà thực là như thế nào?

Sau một phút suy nghĩ, bỗng Ánh hỏi Đặng Trần Thường:

- Ý người định liệu ra sao?

- Tâu Chúa thượng! - Thường đáp - Thần xin lấy đầu để tâu rằng, nội tình Cảnh Thịnh hiện trong ngoài chia lìa, Bắc - Nam nhốn nháo. Cảnh Thịnh trẻ người non dạ, lúc tin dùng người này khi giao binh quyền cho kẻ khác, xét việc tùy tiện, nên thế ngụy triều đã yếu lắm. Chỉ đáng gờm là Cảnh Thịnh có dưới trướng tên nữ tướng kiệt tài là Bùi Thị Xuân. Mụ đốc suất đội quân áo đỏ rất thiện chiến. Hiện Cảnh Thịnh trao binh quyền cho mụ. Tuy vậy, Chúa thượng không nên đem binh đi đâu cả. Nếu giặc kéo tới, ta dựa vào thế lũy kiên cố chống cự rồi tùy cơ ứng biến.

- Lời người rất hợp ý ta - Nguyễn Ánh khen - Bây giờ các ngươi hãy đâu về đó, không được trễ nải việc quân.

Bọn Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường định lui thì một kỵ sĩ phóng ngựa tới như bay. Nhảy vội từ trên con ngựa đã sùi bọt mép xuống đất, người lính vừa vái Ánh vừa nói líu cả lưỡi:

- Muôn tâu Chúa thượng! Địch quân do nữ tặc tướng Bùi Thị Xuân đang trùng trùng điệp điệp kéo đến bủa vây thành lũy của ta rồi. Bao nhiêu lính do thám đều bị đội quân áo đỏ của giặc bắt hết. Tiểu thần may thoát chết kịp về cấp báo tin dữ.

Ánh và bọn tướng đứng lặng như hóa đá. Một lúc sau, Ánh ra lệnh bắn súng hiệu rồi quắc mắt:

- Các ngươi theo ta lên mặt thành.

Thành, Tường và đám võ sĩ vội vã xách đèn lồng chạy theo Nguyễn Ánh.

Vừa lên đến mặt thành, qua ánh lửa hắt ra từ các chòi canh, Nguyễn Ánh hài lòng vì thấy quân sĩ nghe hiệu lệnh đều đã binh khí trong tay đứng vây quanh các ụ súng thần công và súng bắn đá. Ánh hỏi Nguyễn Văn Thành:

- Thuốc súng trù liệu thế nào?

- Tâu Chúa thượng! Chỉ sợ mưa ẩm chứ đủ dùng trong mấy ngày.

- Những chỗ lũy bị Hoàng Ngũ Phúc san phẳng đã chữa lại chắc chưa?

- Thần đã cho chữa lại chắc chắn. Bên ngoài binh lính đóng cột gỗ thông, rào kín, trong thành đắp đất 5 bậc như cũ, để voi ngựa có thể đi được.

- Khanh có nhớ lũy này đắp từ bao giờ không?

Nguyễn Văn Thành lúng túng. Thấy vậy, Đặng Trần Thường vội nói:

- Tâu Chúa thượng! Đào Duy Từ đốc suất xây trong 3 năm. Năm 1631, lũy được xây xong. Nói là lũy nhưng nó chắc như thành vậy.

-Hình thế lũy như thế nào? Ta chưa có dịp đi xem hết.

- Tâu Chúa thượng! - Luỹ xây theo hình cánh cung dựa theo hai dãy núi - Thành vừa nói vừa chỉ tượng trưng - một dãy chạy từ ngọn Đầu Mầu (28) đến sông Nhật Lệ, một dãy từ Đầu Mầu chạy ra biển. Lũy vây bọc lấy cánh đồng bán nguyệt lầy lội, binh mã không qua được và dài tới 3 nghìn trượng  (29).

- Vậy địch quân có thể tiến đánh như thế nào?

- Từ Bắc Hà vào chỉ có 2 đường: Một theo dải Hoàng Sơn, nhưng hiểm trở khó trèo, một theo hướng Quan Báo dọc bờ Nhật Lệ đâm thẳng vào làng Trấn Ninh.

- Vậy Cảnh Thịnh chỉ có đi đường Quan Báo. Đi đường ấy quân thuỷ bộ nương tựa vào nhau được.

- Thần cũng nghĩ như vậy.

- Hiện trên lũy ngươi cho đặt bao nhiêu súng thần công.

- Trên lũy có nhiều chòi, một chòi cách nhau ba hay năm trượng, ở mỗi chòi như thế thần cho đặt hai khẩu thần công. Giữa các chòi này, cách nhau nửa trượng, có đặt súng bắn đá. Thần cứ y vậy mà bày trận.

- Theo ngươi, giặc có thể vượt lũy bằng những cách gì?

- Tâu Chúa thượng! Chỉ có dùng thang trèo hoặc cho thần công bắn vỡ lũy mới vượt được. Ngoài ra, trừ phi giặc có cánh bay.

Nguyễn Ánh đắc ý:

- Nếu vậy, Cảnh Thịnh sẽ đại bại ở đây, ngay chân lũy này. Việc lấy Bắc Hà dễ hay khó là ở trận này. Bây giờ theo lệnh ta - Nguyễn Ánh nhìn bọn tướng - Đặng Trần Thường đem quân giữ mặt tây; Nguyễn Văn Thành giữ mặt giữa, còn ta, ta đích thân thống lĩnh đại binh giữ mỏm Trấn Ninh này. Hơn một nghìn lính Phú-lãng-sa, cho chúng uống rượu thoả thích rồi cũng điều đến chỗ ta. Phân rõ như thế nhưng cũng phải tùy cơ ứng biến. Phải nghĩ đến việc tiếp ứng cho nhau. Mặt quân thuỷ, khỏi lo, ta biết Tường Quang hầu lắm.

Khi Ánh cùng đám vệ sĩ lên ngựa đi lại đầu lũy thì trời đã sáng rõ. Ánh dừng lại bên một khẩu thần công, căng mắt quan sát phía trước. Ánh bỗng kêu lên:

- Quân Tây Sơn.

Nghe tiếng kêu của Ánh lại thấy quân Tây Sơn trùng trùng điệp điệp kéo tới, một vệ sĩ của Ánh hoảng hốt đánh rơi kiếm. Quay lại nhìn tên vệ sĩ, Ánh quát:

- Ngươi sợ phải không? Những kẻ hèn nhát phải trông gương ngươi...

-Tâu Chúa thượng...

Tên võ sĩ chưa nói hết câu Ánh đã vung kiếm chém đứt đầu. Đạp vào cái xác đầm đìa máu, Ánh điềm tĩnh, mặt lạnh như tiền quay lên nhìn. Mấy chục khẩu thần công chĩa nòng lên lũy cũng đang thận trọng tiến lên.

Cụm quân Phú-lãng-sa bỗng nhốn nháo. Những tên say rượu hăng máu xì xồ chỉ chỏ. Có tên gầm gừ như chó đói tranh mồi. Bọn chỉ huy đã phải dùng đến súng, cùi tay để giữ kỷ luật.

Ánh bắn pháo hiệu rồi nhìn khắp lượt từng dãy quân sĩ của hắn đã đen đặc trên từng bậc lũy, hét to:

- Binh khí sẵn sàng, thần công nạp đạn, chờ lệnh!

Bên Tây Sơn trận địa cũng đã được phân rõ. Vua Cảnh Thịnh đốc suất gần 2 vạn quân men theo cánh đồng, đánh vào khoảng giữa lũy. Bùi Thị Xuân thống lĩnh một vạn quân đánh vào mặt lũy kiên cố nhất giáp làng Trấn Ninh.

Nguyễn Ánh ra lệnh cho mấy chục khẩu thần công bắn thị uy khi thấy viên nữ tướng Tây Sơn cưỡi voi trận dẫn đầu dòng thác quân Tây Sơn đang ào ào tiến về phía hắn. Đạn quân Ánh rơi xuống trước quân Tây Sơn. Đất đá tung lên rào rào. Súng quân Ánh lại nổ, tiếng nổ nối nhau không dứt. Trên bành voi chiến, Bùi Thị Xuân tuốt kiếm chỉ lên mặt lũy, nơi Nguyễn Ánh và hơn một nghìn lính Phú-lãng-sa đang đứng. Cờ lệnh quân Tây Sơn chúc hẳn xuống. Quân Tây Sơn theo sau voi chiến của Bùi Thị Xuân lớp lớp xông lên.

- Nữ tặc tướng Bùi Thị Xuân - Ánh nói với viên tùy tướng - Nó như một con thú dữ. Phải coi chừng.

- Các người - Ánh thét giật giọng - Ai bắn chết nữ tặc tướng ta thưởng công đầu. Thần công điểm hoả!

Hàng chục phát đạn xé không khí lao vút đi.

Ánh chưa kịp ra lệnh tiếp, hắn đã thấy Bùi Thị Xuân cho đẩy 12 khẩu thần công căn hàng nhích lên, và đằng sau dẫy súng, bộ binh Tây Sơn, áo và khăn đều đỏ rực, binh khí tua tủa, đông như kiến cỏ cũng đang thận trọng tiến lên theo.

Quảng cách giữa hai đội quân ngày càng ngắn lại. Một loạt thân công của Ánh lại khạc lửa, gầm lên và quét ngang một vệt trước đầu voi của Bùi Thị Xuân. Trong khói súng mờ mịt, tiếng Bùi Thị Xuân lanh lảnh:

- Giặc Ánh còn phải nạp đạn, bộ binh dừng lại, thần công tiến lên và phát hoả. 

Mười hai khẩu thần công của quân Tây Sơn bám theo chủ tướng tiến vọt lên. Và cũng nổ một loạt. Một cơn bão lửa quật vào lũy. Trường lũy rung chuyển, lớp rào bị phá 12 chỗ, những cọc thông bị dập nát. Dứt tiếng súng, voi chiến của Bùi Thị Xuân lại tiến lên, các cỗ súng của quân Tây Sơn vội đẩy lên theo.

Bên Ánh lại nổ súng, nhưng không kịp chỉnh nên làn đạn vượt qua đầu các xạ thủ Tây Sơn. Được dịp, các cỗ súng của quân Tây Sơn đã tiến gần tới lũy, kịp nổ trước khi quân Nguyễn Ánh bắn trả. Sau loạt súng, tường lũy giặc Ánh bị nứt toác nhiều chỗ. Rồi súng hai bên thi nhau nổ. Trong khói súng, Bùi Thị Xuân chợt nhìn thấy hai đoạn lũy đã bị vỡ. Bùi Thị Xuân vội nổ pháo hiệu. Lập tức các nam nữ binh Tây Sơn tay cầm mộc che thân, tay cầm hoả hổ đã được châm lửa, hoặc cầm giáo dài lớp lớp xông lên. Một cơn mưa đá, mưa tên từ trên lũy dồn dập dội xuống. Các khẩu thần công của giặc Ánh cũng chúc nòng xuống gầm thét. Phút chốc hàng ngũ quân Tây Sơn ngả nghiêng. Nhưng theo gót Chủ tướng, quân Tây Sơn lại ùn ùn xông lên. Ở hai khoảng lũy vỡ, hàng loạt binh lính Nguyễn Ánh cố sức vác gỗ chẹn lại đã bị chết trước mũi giáo quân Tây Sơn. Quân Tây Sơn dẫm lên xác giặc Ánh, tràn qua những thân gỗ, nhảy lên mặt lũy đông như bầy chim sẻ. Một cuộc ác chiến khủng khiếp diễn ra trên lũy. Giặc Ánh không chịu nổi hoả hổ của quân Tây Sơn phải lùi dần. Lính Phú-lãng-sa bị bỏng rống lên như bò bị chọc tiết. Những bó đuốc của quân Tây Sơn được chuyền tay đưa lên mặt lũy. Ở đấy xác giặc Ánh và xác binh sĩ Tây Sơn nằm đè lên nhau quằn quại. Trận địa náo động tiếng rên la, gào thét, tiếng súng nổ, tiếng gươm khua, giáo động rung trời chuyển đất cùng tiếng reo hò của hàng vạn binh lính Tây Sơn. Trước cảnh hỗn chiến Bùi Thị Xuân xuống voi, cầm kiếm vượt lên lũy tiếp sức quân sĩ. Một tên Phú-lãng-sa to như hộ pháp chưa kịp nổ súng đã bị Bùi Thị Xuân đưa một mũi kiếm bén ngọt vào bụng. Tên giặc lăn xuống chân lũy.

Thần công của giặc Ánh ở đầu lũy đã câm bặt. Quân Tây Sơn đã chiếm được một đoạn lũy dài và đang đánh dồn binh lính Nguyễn Ánh chạy dạt ra. Vừa lúc ấy, binh lính của Ánh bỗng ào ào dồn lại như thác lũ. Bùi Thị Xuân lo lắng nghĩ thầm: Trận địa vua Cảnh Thịnh vỡ rồi chăng? Chỉ một lúc sau., Bùi Thị Xuân đã bị đánh bật trở lại. Trên mặt lũy, máu quân Tây Sơn và máu giặc Ánh nhuộm thẫm cả đất, ngấm xuống cả tường lũy.

Thấy vậy, Bùi Thị Xuân đành ra lệnh cho quân mình vừa đánh vừa chuyển các thương binh ra phía sau. Dân chúng ở Trấn Ninh và các vùng lân cận túc trực trước ở đó, đã vây quanh các thương binh Tây Sơn với những chậu nước, giẻ lau, băng, phèn chua, rượu. Họ hiểu thế nào liền chữa vết thương như thế ấy. Các binh sĩ Tây Sơn không một ai rên rỉ.

Trận địa dần dần im lặng. Bùi Thị Xuân tóc bết mồ hôi đau xót lặng nhìn các thương binh. Mặt trời đã lên cao, Bùi Thị Xuân thấy nghèn nghẹn ở cổ, nước mắt muốn trào ra. Và, trong cái lặng lẽ mênh mông sau trận đánh, Bùi Thị Xuân hồi hộp nhìn sang trận địa vua Cảnh Thịnh, ở đấy, khói còn đang bốc lên cuồn cuộn. Qua lớp khói, Bùi Thị Xuân kinh hoàng thấy ở đó không còn một bóng người.

Một nữ binh phóng ngựa chạy như bay lại, hốt hoảng:

- Thưa Chủ tướng! Vua Cảnh Thịnh đã cho lui quân từ lâu rồi.

- Trời ơi! - Bùi Thị Xuân không kìm được tiêng kêu. Viên nữ tướng sắc mặt đỏ gay vì nắng và mệt, vội vã lên yên ngựa:

- Các đội trưởng nghe lệnh ta, giữ vững trận địa không cho giặc Ánh tràn ra. Ta phải đi gặp Hoàng thượng xem sự thể ra sao rồi quyết đánh lấy bằng được lũy này.

- Chủ tướng! Chúng tôi vâng lệnh người! - Các đội trưởng cùng trả lời.

Bùi Thị Xuân quay ngựa, phóng như bay đuổi theo vua Cảnh Thịnh. Ngựa chạy một thôi dài, sau khi vượt qua bao nhiêu binh sĩ Tây Sơn, Bùi Thị Xuân mới nhìn thấy vua Cảnh Thịnh, chiến bào sạm khói súng, đang phi ngựa nước đại ở phía trước.

- Xin Hoàng thượng hãy dừng lại! Xin Hoàng thượng hãy dừng lại.

Bùi Thị Xuân gò mình trên lưng ngựa, gọi to.

Vua Cảnh Thịnh ngoảnh cổ nhìn lại và dù đã nhận ra Bùi Thị Xuân nhưng vẫn cho ngựa phi đều bước .

- Hoàng thượng dừng lại thần thiếp xin tâu bày - Cuối cùng Bùi Thị Xuân đã đuổi kịp, níu lấy hoàng bào của Vua van vỉ.

Cảnh Thịnh buộc phải dừng ngựa, nhưng lộ rõ sự khó chịu:

- Đánh đến nửa ngày không thắng thì phải rút. Vả, lũy lại kiên cố, giặc đã biết trước nên phòng ngừa rất kỹ.

- Tâu Hoàng thượng! Bùi Thị Xuân đã xuống ngựa, quỳ xuống - Trận đánh chưa phân thắng bại. Hơn thua ăn nhau là ở chỗ bên nào dám liều mình cự chiến đến phút chót. Và, còn thuỷ quân của Nguyễn Thận, của thần thiếp, Hoàng thượng nỡ lòng nào vội thối chí.

Vua Cảnh Thịnh vùng vằng:

- Ta đã nói không thắng được, đánh nữa cũng vô ích.

- Quân sĩ của thần thiếp đã tràn lên mặt lũy. Tiếc rằng Hoàng thượng đã sớm lui quân.

Ta sẽ về Thăng Long huy động đại binh mã. Nguyễn Ánh phải bỏ xác ở đấy.

- Muôn tâu Hoàng thượng! - Bùi Thị Xuân nức nở - nếu vậy thì cơ đồ nhà Tây Sơn hỏng thật rồi sao? Không chặn được giặc ở đây lòng quân sẽ nản, giữ sao được Thăng Long? Xin Hoàng thượng nghĩ lại.

- Binh sĩ cũng không còn lòng dạ nào đánh nữa. Chẳng nên làm trái lòng quân.

Lúc đó quân Tây Sơn đã vòng ngoài vòng trong vây kín lấy Cảnh Thịnh và Bùi Thị Xuân. Thấy vậy, Bùi Thị Xuân hướng về họ nói lớn:

- Bớ quân sĩ! Các ngươi được Tiên đế đổi đời cho. Nay vận nước lâm nguy, giặc Ánh quật mồ mả của Tiên đế, định bắt dân đen làm trâu ngựa. Chẳng lẽ các ngươi đành phó mặc nước này cho giặc Ánh muốn làm gì thì làm?

Nhiều binh sĩ kêu lên:

- Chúng tôi đâu muốn thế! - Rồi, gần như tất cả ngàn vạn nam, nữ đồng thanh:

- Hãy quay lại theo Nữ đại tướng.

Bùi Thị Xuân lại quỳ xuống, hai tay dâng kiếm:

- Khi trước, tiền nhân nói: Nếu bệ hạ muốn hàng thì trước xin hãy chém đầu thần đi đã. Nay, thế trận chưa phân rõ thắng bại, quân sĩ vẫn một lòng quyết chiến, vậy nếu Hoàng thượng muôn lui quân xin cũng hãy chém đầu thần thiếp đi.

Vua Cảnh Thịnh cảm động trước tấm lòng sắt đá của đấng trung thần lại thấy quân sĩ một lòng hưởng ứng lời của nữ tướng đành quay ngựa trở lại chiến lũy.

Bùi Thị Xuân nét mặt tươi rói, thúc ngựa vượt lên đầu đoàn quân.

*

Cánh quân của Bùi Thị Xuân vừa rút khỏi lũy, Nguyễn Văn Thành tức tốc phi ngựa đi tìm Nguyễn Ánh.

- Tâu Chúa thượng! - Thành đã tìm thấy Ánh đang ngồi trên một chiếc đôn quân sĩ vừa đem tới - xin Chúa thượng cho thần đem quân đuổi theo giặc.

- Không nên. - Ánh đáp, dáng mệt mỏi - khi nào Cảnh Thịnh lại điên rồ rút chạy như thế. Chứng cớ là nó vẫn để nữ tặc ở lại cự chiến với ta. Ta đồ đó là mưu gian của Cảnh Thịnh muốn dụ ta ra khỏi lũy.

- Thật là khó hiểu. Đám quân của Cảnh Thịnh lao lên lũy như con thiêu thân. Thần phải vất vả lắm mới đẩy lùi chúng được.

- Cảnh Thịnh dẫu trẻ người non dạ, nhưng phải biết quân sĩ nó hơn ta. Ta chẳng dại đuổi theo sợ trúng độc kế. Còn nữ tặc Bùi Thị Xuân - Ánh lộ vẻ thán phục - quả là danh bất hư truyền. Một tướng cầm quân rất lợi hại. Các khẩu thần công do nó điều khiển, tránh đạn của ta như ma quái. Chính ta trông thấy nó vượt lũy đâm chết tên đội Phú-lãng-sa rồi xông vào trận như mãnh hổ. Ta giận chưa giết được nó!

Đột ngột Ánh bảo Thành:

- Ngươi gấp cho quân sĩ sang sửa lũy. Ta chắc chỉ chốc nữa chúng sẽ quay lại. Phải dốc sức cự chiến. Được thua là ở trận này đó.

Thành lạy tạ cáo lui.

Ánh gọi một viên tướng tùy tùng:

- Ngươi đến chỗ Đặng Trần Thường truyền lệnh ta, đem tất cả quân sĩ tăng viện cho mặt này.

Vừa lúc ấy, Ánh lại thấy quân Tây Sơn ùn ùn kéo đen đầy nội. Dưới nắng gay gắt, đoàn quân lại như một dòng tháp màu đỏ uốn khúc đổ vào lũy.

Nguyễn Ánh vội vã lên ngựa chiến, bắn pháo hiệu. Các xạ thủ của Ánh tất bật trên những khẩu thần công. Trên mặt lũy lại tái diễn cảnh nhốn nháo. Ánh lo lắng phóng ngựa về phía đầu lũy và kịp nhận ra địch thủ của hắn vẫn là viên nữ tướng kiệt liệt đang cưỡi voi trận đi đầu hàng quân.

*

Trận đánh lại tiếp tục. Lần này Bùi Thị Xuân dành cho cánh quân của vua Cảnh Thịnh tất cả số súng thần công còn lại. Cánh quân của mình Bùi Thị Xuân cho làm nhiều thang và những tấm thảm rơm rất lớn tẩm dầu để vừa làm mộc che vừa quăng vào đội hình quân địch. Bùi Thị Xuân còn lựa chọn một nghìn cảm tử quân khi có thời cơ thuận lợi nhất, vượt lên chiếm lũy cho bằng được.

Dàn trận xong, Bùi Thị Xuân liền thúc voi vượt lên, dẫn đầu đoàn quân xông vào lũy. Lần này, giặc Ánh khôn ngoan đã không cho thần công nổ đồng loạt mà điểm hỏa xen kẽ ở những cự ly khác nhau. Ánh đã cho xoay nhiều khẩu thần công chếch nòng, bắn chéo cánh sẻ vào đội hình quân Tây Sơn.

Bị bất ngờ trước sự thay đổi cách đánh ấy, Bùi Thị Xuân cho quân tiến dè dặt, rồi chọn cơ hội nổ pháo hiệu. Nghe hiệu lệnh, quân Tây Sơn dàn thành hàng trăm mũi lao vút lên. Rừng thang bay về tường lũy, chọc thẳng lên pháo đài quân giặc. Những tấm rơm tẩm dầu bốc cháy dữ dội ném lên mặt lũy. Sau những tấm rơm ấy, quân Tây Sơn trèo lên thang, tới tấp ném hỏa cầu (31)  và phóng tên như mưa vào quân địch. Doanh trại giặc bốc cháy ngùn ngụt. Giặc bị bỏng kêu thét lên rùng rợn. Bên Ánh, các khẩu thần công chúc nòng xuống khạc lửa. Đá từ trên lũy được nhất loạt lăn xuống. Nhiều chiếc thang quân Tây Sơn bám vào trèo lên, bị hất tung đổ xuống, mở ra một lối đi giữa đông đảo binh sĩ đang ken lại. Không gian nồng nặc mùi thuốc súng, mùi lưu huỳnh, mùi khét của thịt người cháy.

Quân Tây Sơn sau phút ngả nghiêng lại lớp lớp tràn tới. Nhiều thang bị hất ra nhưng càng nhiều thang mới được lao vào lũy. Binh sĩ Tây Sơn thoăn thoắt vượt lên trên những cái thang phút chốc đã nhầy nhụa máu ấy để nhảy lên chiến lũy.

Bùi Thị Xuân lại bắn pháo hiệu. Tức thì đội quân cảm tử vai vác thang, tay cầm binh khí vùn vụt lao lên như một dòng thác. Quân cảm tử này đã nhanh chóng chiếm được khoảng lũy giặc sơ hở rồi căn hàng đánh thốc vào sườn giặc. Thế trận của Nguyễn Ánh bỗng nhiên bị vỡ. Máu giặc nhuộm đỏ 5 bậc lũy. Rồi cuộc ác chiến dồn về phía trong lũy.

Nhưng cùng lúc ấy, Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường đem đại binh ùn ùn kéo lại tăng viện cho Nguyễn Ánh. Cánh quân của Bùi Thị Xuân đang trên đà thắng bỗng sững lại. Và, mặc dù đã cố sức trụ lại nhưng vì lực lượng quá chênh lệch, cuối cùng quân Tây Sơn lại phải bật xuống chân lũy.

Bùi Thị Xuân lo lắng nhìn sang bên trận địa của vua Cảnh Thịnh. Một lần nữa, viên nữ tướng dũng mãnh kinh hoàng thấy ở đó không còn một bóng dáng nào của quân Tây Sơn. Bùi Thị Xuân càng hiểu rõ cái gan cáy của vị Hoàng đế trẻ mà mình đang phò.

Trong cơn giận dữ xen lẫn đau xót đến tột độ, Bùi Thị Xuân muốn đuổi theo Vua để hỏi cho ra lẽ. Nhưng mệt mỏi, chán chường sau cả ngày xung trận, Bùi Thị Xuân đành quay voi chiến đi chặn hậu rồi lệnh cho quân mình rút về Nghệ An.

Lúc ấy trời đã gần tôi.

*

Lui quân về đến Nghệ An, Bùi Thị Xuân quyết định dừng lại nghỉ ngơi. Cũng chỉ tới lúc này Bùi Thị Xuân mới hiểu rõ thuỷ binh của Nguyễn Thận chỉ huy bị vỡ, vua Cảnh Thịnh đã đơn độc rút lui, bỏ mặc cánh quân của Bùi Thị Xuân trên lũy Trấn Ninh. Bùi Thị Xuân đau lòng lắm. Vậy là chỉ vì vua nhát gan, đã hai lần bỏ lỡ cơ hội có thể giành được chiến thắng. Bây giờ thì họa giặc Ánh khó lòng mà chặn nổi. Chưa lúc nào Bùi Thị Xuân thất vọng về vua Cảnh Thịnh như lúc này. Càng thất vọng về vua Cảnh Thịnh, Bùi Thị Xuân càng nhớ da diết đến vua Quang Trung. Phải rồi, nếu là vua Quang Trung thì giặc Ánh làm sao chiếm nổi Phú Xuân và lũy Trấn Ninh này. Chao ơi! Con người cao lớn có nước da ngăm đen, mái tóc xoăn, có đôi mắt sáng như sao, tiếng nói vang như chuông đồng, từng làm cho quân Nguyễn, quân Trịnh, giặc Xiêm, giặc Thanh phải kinh hồn khiếp vía, nhưng cũng lại là người biết cổ vũ, khích lệ các tướng có hoài bão. Chính con người cực kỳ thông minh, táo bạo và quyết đoán mọi việc nhanh chóng ấy đã truyền cho mình nguồn sức mạnh lòng kiên trì để thực hiện những mục đích lớn.

Họa giặc Ánh đã đến rồi! Bùi Thị Xuân căng thẳng suy nghĩ. Và, trong nỗi đớn đau, uất ức giày vò, Bùi Thị Xuân bỗng nhớ lại những ngày sôi động ở kinh đô năm nào. Hồi ấy, sau khi cản phá giặc Thanh trở về Phú Xuân, Hoàng đế Quang Trung bắt tay ngay vào việc mộ binh. Không phải trên 10 vạn như khi đánh giặc Thanh mà là 30 vạn. Và, một kế đánh vũ bão, diệt tận gốc giặc Ánh đã được vị Hoàng đế thiên tài vạch ra. Theo kế ấy, đạo quân Tây Sơn sẽ chia thành 3 đạo cùng tiến vào đất Gia Định. Ba đạo quân ấy như ba lưỡi gươm sắc cùng bổ vào đầu Nguyễn Ánh, chặn mọi ngả đường Ánh chạy ra các hải đảo hay sang Xiêm. Dẫu lúc ấy nhờ có bọn Tây Dương giúp sức, Ánh còn vùng vẫy nhưng số phận tên bán nước cầu vinh đã như cá nằm trên thớt. Nếu kế đánh ấy được thực hiện, đội quân áo đỏ năm nghìn người của Bùi Thị Xuân được theo đạo quân do đích thân Hoàng đế Quang Trung thống lĩnh sẽ từ Phú Xuân xuống Nam Vang, đánh vào bản doanh của Ánh ở Gia Định. Nhưng lúc đó đang mùa gió nồm thổi, bất lợi cho việc tiến quân thuỷ nên trận đánh diệt tận gốc giặc Ánh phải hoãn lại. Tháng tám năm ấy (1792), Hoàng đế truyền hịch để yên lòng dân nước lúc xuất quân khiến cho giặc Ánh và bọn đạo trưởng Tây Dương nơm nớp lo sợ. Nhưng Hoàng đế bỗng mắc bạo bệnh rồi băng hà. Hoàng đế mất, lưỡi gươm cực kỳ sắc bén bổ vào đầu Nguyễn Ánh bỗng sững lại giữa chừng.

Hoàng đế Quang Trung không còn nữa, nhưng từ tiếng nói, dáng đứng trước ba quân và những chiến công phi thường làm nức lòng quân sĩ, vẫn như vọng về lời khuyên bảo ân cần, khích lệ Bùi Thị Xuân gan góc chống lại kẻ thù. Và, chính vì vậy, Bùi Thị Xuân đã quyết định không theo vua Cảnh Thịnh ra Thăng Long mà ở lại Nghệ An, mảnh đất giáp mặt với quân thù để chiêu binh mãi mã, chiến đâu đến cùng, bảo vệ cơ nghiệp nhà Tây Sơn.

Chí đã quyết, Bùi Thị Xuân viết sớ tấu vua nói rõ ý đồ của mình. Và, trong tình cảm xáo trộn ấy, Bùi Thị Xuân bỗng nhớ đến Ngọc Hân, người vợ yêu của Hoàng đế Quang Trung, đã vì mình mà chạy vào Quảng Nam, hiện sống ra sao. Bùi Thị Xuân đâu ngờ cuộc chia tay vội vàng ở Phú Xuân hôm ấy, buổi chia tay mà cả hai người đều cố nén nỗi lo lắng, đau xót cho vận nước lại là lần chia tay cuối cùng. Trong ấy, bây giờ giặc đã chiếm. Bùi Thị Xuân không dám nghĩ đến những điều rủi ro. Và, chính lúc đang gặp khó khăn vượt quá sức mình này, sự vắng mặt Ngọc Hân, người con gái có cái nhìn sắc nhậy, minh mẫn, quyết đoán được mọi việc, nhất là cùng chung chí hướng, Bùi Thị Xuân thấy lòng mình trông trải, hiu quạnh.

Thương nhớ, lo lắng cho Ngọc Hân, Bùi Thị Xuân đã cử một bộ tướng của mình lần vào Quảng Nam để tìm Ngọc Hân. Nhưng viên tướng ra đi đã lâu mà tin về vẫn bặt tăm. Hay là Ngọc Hân đã gặp sự chẳng lành, Bùi Thị Xuân cồn cào lo lắng thầm hỏi và vội đưa tay lên quệt nước mắt.

Chợt một nữ binh bước vào cúi thưa:

- Mọi việc em đã sắp xếp xong, xin đợi lệnh cua Chủ tướng.

Ngắm nhìn người nữ binh đã nai nịt gọn gàng, Bùi Thị Xuân trao bản sớ đã được gắn sáp giọng nhỏ nhẹ mà rành rọt:

- Ngươi dâng lên Hoàng thượng rồi đợi Hoàng thượng truyền lệnh. Khi trở về nhớ mang theo con gái ta về đây để ta được gần con.

Người nữ binh vừa lui ra, phó tướng Lộc nét mặt hồ hởi bước vào:

- Thưa Chủ tướng! Đất Nghệ An này quả là đất thượng võ. Người Nghệ An kiên trinh rất mực. Ai cũng lo cho vận nước và sẵn lòng sinh tử cho triều Tây Sơn. Trên đường tuyển quân được các bô lão khích lệ, trai tráng theo về nhiều lắm.

Nét mặt Bùi Thị Xuân bừng sáng:

- Em lưu tâm thu xếp nơi ăn chốn ở cho các tân binh được chu đáo. Xưa Tiên đế hành quân ra đánh giặc Thanh chỉ dừng lại ở đây mười ngày mà tuyển được gần 10 vạn trai tráng. Lòng người vẫn thuỷ chung son sắt vậy thay! Ta phải đến an ủi, khích lệ họ mới được.

Hai viên tướng bước ra khỏi quân doanh đi về bãi tập. Từ phía ấy các nam nữ binh đang cất cao lời ca:

 “... Chủ tướng ta

Thét voi xông trận ào ào

Suối sâu xá kể, sông, rào vượt qua

Giặc trên núi đá tai mèo

Sườn dốc cheo leo

Voi trèo voi trượt

Ngựa trèo ngựa trượt

Quân ta khí nộ xung thiên

Bủa vây kín khắp bốn bên trùng trùng…”(32)

Lời hát tuy chưa được đều nhưng vang xa, hùng tràng, lặp đi lặp lại. Nghe bài hát ấy, Bùi Thị Xuân dừng bước, mặt đỏ bừng hỏi Lộc:

- Ai làm bài hát ấy?

- Tiểu tướng không rõ lắm. Nghe đâu một nho sĩ nào đó hâm mộ tài sắc của Chủ tướng mà đặt bài ca ấy. Quân sĩ rất thích bài hát ấy nên học thuộc rất nhanh.

Bối rối, xúc động Bùi Thị Xuân lặng đi một hồi lâu.

- “Chủ tướng ta

Giận loài nghịch tặc chăng là

Lo bề tu chỉnh quân xa bỉnh hùng...” (33)

Bài hát lại rộn rã nổi lên thành kính và thiết tha, nghe xa như có cả nhịp chân rầm rập của đoàn quân đi. Bùi Thị Xuân đã nén được xúc động, khoác tay viên phó tướng, sải những bước dài đi về phía trước.

Cánh quân của Cảnh Thịnh ngày đi đêm nghỉ, nửa tuần trăng sau đã đến Thăng Long. Vì vội chạy giặc, không đem theo cung nữ nên vua chẳng được vui. May nhờ có người mai mối, vua lấy công chúa Ngọc Bình, em ruột Thái hậu Ngọc Hân, tuổi 18, nhan sắc không kém Ngọc Hân thuở trước. Sau lễ cưới linh đình, vua phong Ngọc Bình là Hoàng hậu, đêm ngày kề cận bên người đẹp không màng đến việc triều chính.

Giữa những ngày vua vùi đầu vào say sưa yến tiệc thì người nữ binh thân tín của nữ tướng Bùi Thị Xuân phi ngựa tới Thăng Long. Nói khó mãi, vua mới tiếp sứ giả của Bùi Thị Xuân, cầm tờ sớ Bùi Thị Xuân dâng lên, vua Cảnh Thịnh không xem mà nổi giận:

- Ta lấy làm lạ, ở trận Trấn Ninh hôm ấy, biết sức không địch được mà Bùi Thị Xuân cứ nằng nặc đòi ta đánh dấn để đến nỗi đại bại, hao người tốn của. Đã thế khi ta rút ra Thăng Long lại không đem quân theo phò tá. Thử hỏi còn kỷ cương gì nữa? Nếu ta không nể chủ ngươi có chút công lao thì sự thể đã khác. Ta có thể khép tội khi quân và chặt đầu mà không mang tiếng ác.

Người nữ binh ngỡ ngàng:

- Muôn tâu Hoàng thượng! Trận Trấn Ninh hôm ấy quân của nữ tướng Bùi Thị Xuân đã tràn lên mặt thành, đánh dạt quân Nguyễn Ánh xuống chân lũy. Tiếc rằng Hoàng thượng vội lui binh nên quân Nguyễn Ánh đã chuyển bại thành thắng. Lỗi đâu phải tại nữ tướng Bùi Thị Xuân?

Vua Cảnh Thịnh lấp liếm:

- Bây giờ nhà ngươi về bảo chủ ngươi hãy đem quân ra Thăng Long quyết sống mái với giặc. Còn ta đã quyết, khi Nguyễn Ánh dám ra Thăng Long sẽ bị ta bắt sống.

Dứt lời, không đợi người nữ binh nói thêm, cũng không xem sớ của Bùi Thị Xuân, Cảnh Thịnh vội trở vào với hoàng hậu Ngọc Bình.

Chẳng thể làm chuyển lòng vị vua mải ăn, mải chơi hưởng lạc, không mảy may lo cho vận nước, người nữ binh thân tín của Bùi Thị Xuân đi tìm con gái của Bùi Thị Xuân, rồi trở về Nghệ An.

Biết vua Quang Toản mê đắm duyên mới không lo việc chống giặc Ánh, Bùi Thị Xuân buồn lắm. Chính vì vậy, Bùi Thị Xuân càng gấp luyện binh quyết chặn giặc tại Nghệ An, mong cứu vớt cơ đồ triều Tây Sơn.

Một ngày đang ở trong doanh tướng, một thám mã Tây Sơn nhễ nhại mồ hôi hốt hoảng báo tin. Ở Quy Nhơn, sau bao ngày bị vây hãm, giặc hết lương lâm vào nạn đói, tướng giặc là Tĩnh Quận công Ngô Tòng Chu đã phải tự tử. Hai vạn quân giặc sau đó ra hàng quan Thiếu phó Trần Quang Diệu. Trần Quang Diệu tức tốc đem quân về đánh lấy Phú Xuân. Nhưng không đề phòng nên vừa ra khỏi đất Quy Nhơn thì bị tướng giặc là Đắc Lộc hầu chặn đánh. Trần Quang Diệu thua to phải chạy sang Ai Lao rồi ra Nghệ An.

Bùi Thị Xuân nghe tin đem một cánh quân nhỏ đi đón chồng. Bùi Thị Xuân đâu ngờ trên đường trở về, giặc đã dùng mưu giả làm dân thường đem trâu, rượu ra uý lạo, bắt sống được Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và cả đứa con nhỏ.

Mất hai tướng tài một lúc, triều đình Cảnh Thịnh hết người đối địch với Nguyễn Ánh.

Quả vậy, ít lâu sau, Nguyễn Ánh tiến ra Thăng Long như vào chỗ không người. Vua Cảnh Thịnh chịu bị bắt sống, công chúa Ngọc Bình lại lấy Nguyễn Ánh làm chồng.

Chú thích: 

(22) Ngày 28-11-1787, Nguyễn Ánh ký với Pháp hiệp ước Véc-xay (Versaille) . Nội dung chính của hiệp ước là Nguyễn Ánh nhường cho Pháp đảo Côn Lôn ở cửa bể Hội An. Pháp giúp Ánh 4 tàu chiến và một đội quân 1650 người để đánh Tây Sơn.

(23)  Tức Pigneau de Béhaine.

(24) Luỹ này ở Quảng Bình được Đào Duy Từ chỉ huy xây dựng từ năm 1631. Luỹ Trấn Ninh cũng là nó.

(25) Chúa Nguyễn.

(26) Sau khi lên ngôi vua, Ánh đã giết một loạt tướng tài, trong đó có Nguyễn Văn Thành.

(27) Năm 1774, Hoàng Ngũ Phúc, danh tướng của chúa Trịnh đem quân vào đánh chúa Nguyễn, sau khi chiếm được lũy đã san phẳng nhiều đoạn.

(28) Một ngọn núi cao trong dãy Hoành Sơn.

(29) Tương đương 27 km.

(30) Chính sử có ghi việc Bùi Thị Xuân đuổi theo níu áo vua đòi đánh.

(31) Hoả cầu hình tròn chế bằng chất liệu dễ bắt lửa, lại được tẩm lưu huỳnh. Tác dụng của nó chủ yếu để đốt doanh trại, ngoài ra cũng sát thương được quân địch.

(32) Vè Bùi Thị Xuân.

(33) Vè Bùi Thị Xuân.

Đánh máy: hoi_Ls - Nhà xuất bản: Thanh Niên Năm xuất bản: 2006
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Quỳnh Cư

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.