10
Thoát khỏi tử địa
“Không nghi ngờ gì nữa, y là điệp viên gây tổn hại bậc nhất cho KGB”.
Hai tướng KGB Pavel Sudoplatov và Boris Solomatin
Đến thứ ba, ngày 11-6-1985, thì Oleg Gordievsky, sĩ quan KGB đồng thời cũng là điệp viên của Cục Tình báo mật MI6, biết rằng vòng vây của KGB đang siết chặt lại xung quanh mình và nếu không hành động nhanh, anh ta sẽ chết.
Trước đấy hơn một tháng, vào chiều thứ năm, ngày 16-5-1985, khi đang ngồi trong văn phòng của trạm KGB tại London, O. Gordievsky nhận được một bức điện mật mã hóa gửi từ Moscow. Bức điện viết: “Để thống nhất việc bổ nhiệm đồng chí làm người phụ trách địa bàn, đề nghị khẩn cấp quay về Moscow trong vòng hai ngày để thảo luận với các đồng chí Mikhailov và Alyoshin”.
Ngay lập tức, O. Gordievsky cảm thấy có điều gì đó không ổn. Mikhailov là mật danh chỉ Chebrikov, chủ tịch KGB; còn Alyoshin là mật danh của Kryuchkov, Tổng cục trưởng Tổng cục 1 KGB. Rõ ràng cấp cao nhất trong bộ máy KGB đã thông qua lệnh triệu hồi này. Tháng 4-1985, Trung tâm KGB ở Moscow đã thông báo bổ nhiệm O. Gordievsky là điệp viên phụ trách tạm thời địa bàn Anh quốc. Trong chuyến quay về Moscow trước đó hồi tháng 1-1985, O. Gordievsky đã trải qua tất cả mọi quy trình để chuẩn bị cho việc tiếp nhận cương vị điệp viên phụ trách địa bàn, gặp tất cả những người cần gặp, nghe tất cả những chỉ dẫn cần nghe. Nay bỗng nhiên có lệnh triệu hồi khẩn cấp chỉ để lại bàn tiếp những vấn đề đã giải quyết từ bốn tháng trước rồi thì quả là có điều gì đó hơi bất thường.
Tuy nhiên, ngày hôm sau, O. Gordievsky cảm thấy dễ chịu hơn một chút khi nhận được bức điện thứ hai, trong đó viết: “Về chuyến quay về Moscow của đồng chí, hãy lưu ý rằng đồng chí sẽ báo cáo về nước Anh và các vấn đề liên quan đến nước Anh. Vì vậy, hãy chuẩn bị thật kĩ để thảo luận về những vấn đề đó, với đầy đủ số liệu”.
O. Gordievsky cảm thấy giờ của sự thật đã tới! Có lẽ Moscow cho rằng bức điện thứ nhất đã đánh động đối tượng nên gửi tiếp bức điện thứ hai để tạo ấn tượng là mọi việc đều diễn ra một cách bình thường. Cũng có thể đúng là như thế, không có gì đặc biệt ngoài một chuyến báo cáo công tác như mọi lần. Tuy nhiên, bản năng vẫn mách bảo O. Gordievsky rằng có một mối nguy hiểm lơ lửng ở đâu đó. Đã đến lúc phải rời khỏi giá lạnh, rời khỏi hoạt động điệp báo nhị trùng đầy căng thẳng, vấn đề là nên thực hiện việc đó ở London hay ở Moscow?
O. Gordievsky lập tức liên lạc với điệp viên MI6 phụ trách mình là Stephen - dĩ nhiên đó là tên giả, và Joan, một phụ nữ cũng dưới cái tên giả, điệp viên dày dạn kinh nghiệm của tình báo Anh. Sau khi nghe lại câu chuyện về hai bức điện triệu hồi khẩn cấp từ Moscow, cả hai không có vẻ gì lo lắng; trái lại, bọn họ rất háo hức muốn biết về kế hoạch tình báo tổng thể mà Chủ tịch KGB Chebrikov đưa ra nhằm vào nước Anh. Lợi ích tình báo lúc này được đặt cao hơn rủi ro đe dọa sinh mạng của điệp viên.
O. Gordievsky chờ đợi một câu nói, đại loại “Nào, Oleg, chúng tôi không thích điều này. Tại sao anh không ở lại đây và biến mất, bắt đầu một cuộc đời mới?”, nhưng hai nhân viên tình báo Anh không nói một câu nào như thế. Họ chỉ hỏi O. Gordievsky là liệu có lí do nào khiến tay điệp viên nhị trùng không nên quay về Moscow hay không? Không, không có lí do nào cả, O. Gordievsky trả lời. Khi O. Gordievsky hỏi là qua kênh phân tích của tình báo Anh hoặc những thông tin nhận được từ các trạm MI6 ở nước ngoài liệu có bất cứ một dấu hiệu nào cho thấy mình đang gặp nguy hiểm hay không, hai nhân viên tình báo Anh trấn an, khẳng định không có bất cứ điều gì chứng tỏ có sự bất thường.
Tất cả những điều đó đều chỉ dựa trên trực giác của những người tham gia vào trò chơi mà thôi.
O. Gordievsky quyết định tuân thủ lệnh triệu hồi, quay về Moscow.
Nhưng việc đầu tiên mà O. Gordievsky phải làm là cùng với các nhân viên tình báo Anh ngồi xem xét kĩ lại kế hoạch dự phòng để đào thoát khỏi Moscow, phòng khi có biến xảy ra. Joan đưa cho O. Gordievsky xem những bức ảnh chụp một cánh rừng, nơi được quy ước là điểm hẹn để đón tay điệp viên nhị trùng một khi kế hoạch đào thoát bắt đầu được kích hoạt. Có một bất lợi nho nhỏ nảy sinh là những bức ảnh đó chụp vào hồi tháng 4 và tháng 10, khi cây đã rụng hết lá, chỉ còn lơ thơ một ít trên cành. Trong khi đó, nếu bắt buộc phải sử dụng đến kế hoạch này thì nhiều khả năng nó sẽ diễn ra vào dịp giữa mùa hè, khi quang cảnh cánh rừng trông sẽ hoàn toàn khác.
O. Gordievsky không thể chia sẻ những lo lắng của mình với cô vợ Leila mà chỉ nói là được triệu tập về Moscow cho một cuộc họp cấp cao. Việc cuối cùng mà O. Gordievsky làm ở London là ngày thứ bảy, đưa hai cô con gái nhỏ đi chơi ở công viên Bloomsbury, rồi lên chuyến bay vượt qua biển Baltic vào ngày 19-5-1985.
Phía trước là Moscow.
+++++
Mọi sự ở Moscow có vẻ như hoàn toàn bình thường khi O. Gordievsky trở lại, nếu như không có một vài biểu hiện nhỏ cho thấy là... không bình thường.
Sự bất thường xảy ra ngay ở cửa ngõ vào Moscow: Trạm nhập cảnh ở sân bay. Khi trình hộ chiếu cho người sĩ quan biên phòng làm thủ tục nhập cảnh, O. Gordievsky cảm thấy anh ta hơi khựng lại, săm soi kĩ rồi gọi một cú điện thoại đi đâu đó. Quan sát qua tấm kính chắn, O. Gordievsky có thể thấy viên sĩ quan đã phát hiện ra một điều gì đó bất thường.
Chỉ mãi đến sau này, O. Gordievsky mới biết rằng viên sĩ quan biên phòng đã được lệnh báo cho KGB biết thời điểm O. Gordievsky nhập cảnh vào Liên Xô. Một khi nhập cảnh thì O. Gordievsky đã ở trên lãnh thổ Liên Xô rồi.
Trước khi quay về, O. Gordievsky đã được thông báo rằng Igor Titov, người đứng đầu Ban Anh quốc trong KGB, sẽ ra đón mình ở sân bay; nhưng khi O. Gordievsky đã nhập cảnh xong rồi, vẫn không thấy bóng dáng I. Titov đâu.
Khi ra đến bên ngoài sân bay, O. Gordievsky thấy rất ít xe taxi. Một người lái taxi vừa mới đón được hai người khách và đang tìm người thứ ba, quay sang mời O. Gordievsky lên ngồi ở ghế trước. Khi O. Gordlevsky hỏi xe đi về đâu, người lái xe nói: “Sứ quán Tây Đức”. Lại một trở ngại nữa vì ở Moscow nói chung không khuyến khích công dân Xô viết kết giao với người nước ngoài và rất có thể O. Gordievsky sẽ lọt vào hệ thống giám sát của KGB bên ngoài sứ quán. Nhưng O. Gordievsky không còn lựa chọn nào khác vì dù sao cũng chỉ muốn mau chóng về đến nhà.
Khi O. Gordievsky về đến căn hộ của mình trên tầng tám của tòa nhà chung cư tại số 103 đại lộ Lenin ở khu Tây Nam của Moscow, một “rắc rối” khác lại xuất hiện. Thông thường, mỗi khi đi nước ngoài, O. Gordievsky khóa cửa căn hộ bằng hai ổ khóa, còn ổ thứ ba không dùng đến vì đã đánh mất chìa. Lần này, khi mở xong hai ổ khóa, đẩy cửa định vào nhà thì O. Gordievsky không mở được. Một ai đó đã dùng chìa khóa ổ thứ ba của căn hộ! Không thể là bọn trộm cắp bởi chúng chỉ mở khóa chứ không mất công đâu đi tìm chìa để khóa căn hộ lại giúp chủ nhà!
Như vậy, chỉ còn một khả năng: KGB!
Nghĩ đến đó, O. Gordievsky thấy người lạnh toát.
O. Gordievsky xuống dưới sảnh tòa nhà, dùng điện thoại chỗ thường trực gọi cho Nikolai Gribin. Từng làm việc dưới quyền O. Gordievsky trong thời gian ở Đan Mạch quãng năm 1976, nhưng sau đấy N. Gribin thăng tiến rất nhanh ở Tổng hành dinh KGB, vượt qua cả O. Gordievsky, hiện là Trưởng Ban 3, thuộc Tổng cục 1 KGB.
Mọi lần nói chuyện, dù là qua điện thoại, N. Gribin vẫn tỏ ra niềm nở nhưng lần này, giọng của Trưởng Ban 3 KGB khá lạnh:
- Có việc gì vậy?
- Có hai việc. - O. Gordievsky nói. - Thứ nhất là tôi nghe nói Igor sẽ đón tôi ngoài sân bay, nhưng chẳng thấy anh ta đâu.
- Ồ vậy à. - N. Gribin nói. - Lạ nhỉ. Cậu ấy phải ra ngoài đó mà.
- Việc thứ hai là tôi không thể vào được căn hộ của mình. - O. Gordievsky phàn nàn...
N. Gribin hiểu ngay sự việc. Tổ KGB đột nhập vào căn hộ của O. Gordievsky có lẽ đã ngớ ngẩn phạm phải sai lầm, nhưng giờ thì không có cách nào để sửa chữa được nữa rồi.
Nhờ một người hàng xóm sống ở tầng trên, cũng là một nhân viên KGB trẻ tuổi, phá khóa, O. Gordievsky mới vào được căn hộ của mình. Kể từ khi hạ cánh xuống sân bay Moscow, hàng loạt hiện tượng ám ảnh tâm trí O. Gordievsky. Việc kiểm tra hộ chiếu lâu một cách bất thường, Igor Titov không ra đón, giọng nói lạnh lẽo của N. Gribin, ổ khóa thứ ba bất ngờ bị khóa...
Nghi ngờ căn hộ bị cài “rệp” nghe lén, O. Gordievsky lập tức kiểm tra thật kĩ càng mọi ngóc ngách nhưng không phát hiện được gì. Nếu có ý định cài rệp, hẳn các điệp viên kĩ thuật của KGB cũng biết rằng bản thân O. Gordievsky cũng là một điệp viên được KGB đào tạo kĩ càng nên không dễ gì có thể qua mặt được với những biện pháp giám sát truyền thống. Cho dù không tìm thấy dấu hiệu bị cài máy nghe lén nhưng tâm trí của O. Gordievsky vẫn lởn vởn câu hỏi: Liệu KGB đã biết những gì và nếu đúng như vậy, ai là người đã tiết lộ bí mật về cuộc sống hai mặt của mình?
Sáng hôm sau, Vladimir Chernov, một điệp viên KGB từng có thời gian làm việc ở trạm KGB tại London và bị phía Anh trục xuất vì tội làm gián điệp, lái xe đến đón O. Gordiesky tới văn phòng.
Nay thì V. Chernov là trợ lí riêng của Viktor Grushko, Tổng cục phó Tổng cục 1 KGB. Trên đường đi, O. Gordievsky dò hỏi:
- Volodya này, có chuyện gì không? Hồi đầu tháng 2, khi tôi đi London, mọi người đã nói về chuyện tôi được bổ nhiệm làm người phụ trách địa bàn ở đó. Nay đã là 21 tháng 5 mà tôi vẫn chưa nghe thấy động tĩnh gì.
- Mọi sự ổn cả. - Volodya nói vẻ chắc chắn. - Chính tôi mang hồ sơ của anh lên Ban thư kí vào hồi cuối tháng 4. Mọi việc vẫn đang trong quá trình xét duyệt.
Đến cơ quan, O. Gordievsky gặp N. Gribin. Trưởng Ban 3 cố tỏ vẻ bình thường, mặc dù không hoàn toàn được như vậy.
- Anh nên chuẩn bị thật kĩ. - N. Gribin nói với O. Gordievsky. - Vì hai sếp lớn triệu hồi anh để thảo luận riêng đấy. Nhưng không sao đâu. Anh cứ trình bày như ý của anh.
+++++
Khi tới gặp Viktor Grushko, Tổng cục phó Tổng cục 1 KGB, O. Gordievsky cảm thấy như gặp một người khác hoàn toàn với người mà mình mới gặp hồi tháng giêng trước đó: Lạnh lẽo, cứng rắn và khô khan. Ngay cả khi có mặt O. Gordievsky tại đấy, ở ngoài hành lang, V. Grushko đã sạc cho I. Titov một trận dữ dội vì tội hôm trước đã không đón O. Gordievsky ở phi trường. Phải chăng việc I. Titov có mặt sẽ khiến cho O. Gordievsky cảm thấy yên tâm hơn, hoặc cũng có thể KGB đã chủ tâm làm như thế để kiểm tra xem O. Gordievsky sẽ đi đâu khi không có ai ra đón.
Đến sáng hôm sau, thêm một hiện tượng nữa khiến cho O. Gordievsky càng cảm thấy bất an. Một gói hàng được gửi tới văn phòng của V. Grushko từ trạm KGB ở London. Gói hàng này được đóng gói hôm thứ sáu tuần trước đó, khi O. Gordievsky vẫn đang ở London. Khi ấy, O. Gordievsky nhớ rõ là gói hàng được gắn xi bảo mật bình thường cho một vật phẩm ngoại giao. Ở Moscow, người giao gói hàng không có kinh nghiệm đã mang đến chỗ O. Gordievsky để kí nhận và O. Gordievsky chuyển nó cho thư kí của V. Grushko, O. Gordievsky nhìn thấy trên gói hàng có thêm dòng chữ: “Chỉ dành riêng cho đồng chí V. Grushko!” Ngay lập tức, bộ não O. Gordievsky lên tiếng báo động. Rất có thể bên trong gói hàng đó đã có thêm các giấy tờ cá nhân, các kẹp hồ sơ mà O. Gordievsky để lại ở London.
Trong suốt một tuần lễ từ khi về Moscow, O. Gordievsky ở tình trạng ngồi chơi xơi nước, không có việc gì làm. Rồi đến thứ hai của tuần kế tiếp, bắt đầu xuất hiện những tín hiệu khủng hoảng.
Rất may cho O. Gordievsky là trước khi rời London, các đặc vụ Anh đã trao cho anh ta những viên thuốc con nhộng có công dụng đặc biệt. Cứ mỗi buổi sáng, trước khi đến cơ quan, O. Gordievsky đều uống một viên thuốc này và chúng giúp cho anh ta không bị suy sụp tinh thần.
O. Gordievsky đang ngồi trong văn phòng của mình thì chuông reo từ máy điện thoại của Ban. Đó là V. Grushko.
- Anh có thể tới chỗ tôi được không? - V. Grushko hỏi.
- Được, tôi tới bây giờ. - O. Gordievsky trả lời. - Có sếp lớn ở đấy không?
- Không.
- Vậy có chuyện gì?
- Ở đây có hai người muốn nói chuyện với anh về sự xâm nhập của các điệp viên cấp cao ở Anh.
Nhưng V. Grushko không hẹn gặp O. Gordievsky ở văn phòng mình mà lại ở một nơi nào đó bên ngoài cơ quan. Đây là điều khá lạ lùng. Nhưng không thể thoái thác, O. Gordievsky để chìa khóa và cặp lại phòng làm việc rồi cùng V. Grushko xuống xe, tới một ngôi nhà cách chỗ làm việc chừng hai cây số.
Trong nhà có hai người phục vụ. Một người đàn ông chừng năm mươi tuổi, trông dáng vẻ trịnh trọng nhưng chắc chắn là người của KGB; người kia là một phụ nữ chừng ba mươi tuổi có khuôn mặt dễ coi.
V. Grushko nói hai người ăn bánh sandwich và uống chút rượu mạnh Armenia, loại rượu mà nghe đồn là loại duy nhất Thủ tướng Anh Winston Churchill thường dùng.
Rồi hai người đàn ông bước vào phòng, chắc chắn là người của KGB, có vẻ như ở bộ phận phản gián. O. Gordievsky chưa từng gặp hai người này lần nào. Một người mặc bộ đồ thẫm màu có vẻ như ngoài năm mươi tuổi; người kia trẻ hơn tầm mười tuổi, mặc đồ sáng màu. Sau này, O. Gordievsky mới biết rằng người đàn ông đứng tuổi là Tướng Gobulev, đã thăng tiến nhanh chóng sau khi tuyển mộ được một điệp viên ở Ai Cập. Gobulev sau đó lên đến cương vị Tổng cục phó Tổng cục K, chuyên điều tra những vấn đề dị thường. Người trẻ hơn là Đại tá Budanov, sau này đứng đầu Ban 5 trong Tổng cục K. Cả hai đều được đào tạo kĩ càng về các kĩ năng thẩm vấn.
V. Grushko không giới thiệu hai người mà chỉ nói:
- Ồ, Oleg, những người này muốn nói chuyện về việc xâm nhập của các điệp viên ở địa bàn Anh. Nhưng hãy ăn trưa trước đã rồi sau đó hẵng làm việc.
V. Grushko đóng vai người chủ nhà tốt bụng:
- Nào, tất cả chúng ta cạn li nào.
Người phục vụ rót rượu cho cả bốn người. Những gì mà O. Gordievsky cố gắng nhớ được là cả bốn người “đánh” hết chai rượu thứ nhất và người phục vụ xuất hiện với chai thứ hai.
O. Gordievsky uống cạn cốc rượu của mình và trong chốc lát, có cảm giác như người bị trôi đi. Không có sự bất thường về mặt thể chất, cũng không mê đi mà đơn giản chỉ là cảm thấy êm đềm biến thành một người hoàn toàn khác.
Việc tiếp theo mà O. Gordievsky nhận biết được là khi tỉnh dậy trên giường trong một căn phòng, trên người chỉ mặc áo lót và quần đùi. Anh ta không thể nhớ được bất cứ chuyện gì kể từ khi uống li rượu mạnh. Đó là buổi sáng ngày hôm sau. Căn phòng và cái giường đều sạch sẽ. O. Gordievsky cảm thấy như đang bị ốm, đầu nhức như búa bổ. O. Gordievsky chậm rãi ngồi dậy, mặc quần áo ngoài rồi tìm người phục vụ hôm trước, yêu cầu cho một li cà phê. “Tất nhiên rồi, tất nhiên rồi”, người đàn ông nói rồi mang ra liên tục mấy li cà phê. Nhưng không ăn thua. O. Gordievsky cảm thấy tuyệt vọng. “Họ đã biết cả rồi. Mình toi đời rồi”, O. Gordievsky nghĩ. Không thể biết được bọn họ đã khám phá ra bằng cách nào, nhưng không mảy may nghi ngờ gì nữa, họ đã biết anh ta là một điệp viên của Anh.
Hai người đàn ông hôm trước lại xuất hiện, vẻ ngập ngừng. Có vẻ như họ vừa không muốn chấm dứt cuộc thẩm vấn đã diễn ra trong lúc O. Gordievsky mê đi, nhưng đồng thời cũng cố gắng làm như đã không diễn ra cuộc thẩm vấn nào cả. Hai người im lặng nhìn O. Gordievsky một lát rồi người trẻ tuổi mở lời trước, nói rằng một trong những ý kiến của O. Gordievsky đã làm anh ta thất vọng.
- Ồ vậy à. - O. Gordievsky nói. - Cái gì vậy?
- Đồng chí đã nói rằng chúng tôi làm sống lại thời kì Đại Thanh Trừng năm 1937.
- Thật vậy à!
- Đúng thế. - Giọng người đàn ông trẻ hơn tỏ vẻ gây hấn. Anh ta nói tiếp, vẫn với giọng ấy: “Hãy nhớ một điều, đồng chí Gordievsky, là những gì đồng chí nói không đúng sự thật và tôi có thể chứng minh được điều đó”.
Sự mơ hồ cùa hoàn cành đang diễn ra khiến cho O. Gordlevsky có chút hi vọng. Có thể tình hình chưa tệ đến mức như O. Gordievsky lo sợ. Nguyên nhân của nỗi lo sợ đó hẳn bởi vì thực chất O. Gordievsky đúng là một điệp viên của Anh. O. Gordievsky tự nhủ hãy cố gắng giữ bình tĩnh và chờ xem điều gì sẽ xảy đến tiếp theo. Tuy nhiên, O. Gordievsky khá bối rối không hiểu điều gì đã xảy ra với mình ngày hôm trước. Anh ta bị ốm hay đột quỵ. Ai đã đưa anh ta lên giường?
- Thêm một điều nữa, đồng chí Gordievsky, - Gobulev nói, - là đồng chí rất ngạo mạn.
- Đồng chí nghĩ vậy à?
- Đúng thế.
- Nếu ý của đồng chí là tôi đã tỏ vẻ xấc xược thì tôi xin lỗi, nhưng đây là lần đầu tiên trong đời có người nói tôi ngạo mạn. - O. Gordievsky nói, rồi hỏi. - Chúng ta chờ đợi cái gì đây?
Một trong hai người đàn ông nói:
- Sẽ có người tới đưa đồng chí về nhà.
Rồi người đàn ông trẻ hơn hỏi:
- Đồng chí có đi lại nhiều ở nước Anh không?
- Không nhiều lắm. - O. Gordievsky trả lời. - Có quá nhiều việc khi làm điệp viên phụ trách địa bàn. Không có nhiều thời gian rảnh để đi. Tôi mới đi có bốn nơi: Blackpool, Brighton, Bournemouth và Harrogate.
- Harrogate? - Người đàn ông vẻ quan tâm. - Nó ở đâu vậy?
- Ở Yorkshire. Đâu đó phía bắc London, gần York. Đấy là một thành phố thanh bình, thích hợp cho những hội nghị chính trị và vì thế người Anh đã xây nhà Quốc hội mới ở đấy.
Sau đó, một người đàn ông trong bộ trang phục sẫm màu xuất hiện, cùng lái xe đưa O. Gordievsky về trước khu nhà có căn hộ rồi thả người điệp viên Anh xuống đó. Một lần nữa, O. Gordlevsky không thể vào nhà vì chùm chìa khóa đã để lại ở cơ quan và phải tiếp tục nhờ những người hàng xóm ở tầng trên mới vào lại được căn hộ của mình.
Ngày hôm sau, O. Gordievsky đến cơ quan và tìm được chùm chìa khóa bỏ lại từ hôm trước. Rồi một lần nữa, chuông điện thoại reo. V. Grushko gọi O. Gordievsky tới phòng làm việc của mình.
Bên chiếc bàn lớn hình chữ T trong căn phòng làm việc đẹp đẽ của V. Grushko đã có ba người ngồi chờ sẵn. Chính giữa là V. Grushko; bên cạnh ông ta là N. Gribin, không nói một lời; bên kia là người đã có mặt trong cuộc thẩm vấn thứ nhất, tướng Gobulev.
V. Grushko bắt đầu:
- Suốt cả tối hôm qua, tôi đã nói chuyện với đồng chí Vladimir Alexandrovich (tức Kryuchkov) về anh. Chúng tôi biết rằng trong nhiều năm qua, anh đã lừa dối chúng tôi. Tuy nhiên, chúng tôi quyết định vẫn để anh lại trong KGB. Dĩ nhiên là công việc của anh ở London sẽ phải chấm dứt. Anh sẽ không quay lại đó nữa. Sau đây ít ngày, gia đình anh cũng quay về đây. Anh sẽ được thuyên chuyển sang bộ phận không tiến hành các chiến dịch mật. Tạm thời trước mắt anh nên có một kì nghỉ rồi chúng tôi sẽ quyết định chuyển anh tới đâu. Trong thời gian đó, anh phải chuyển những tài liệu chống Xô viết lưu trữ tại nhà cho Tổng cục 1. Và hãy nhớ, không được phép điện thoại tới London!
O. Gordievsky cố gắng không thở ra một hơi dài nhẹ nhõm. KGB sẽ không đời nào cho anh ta được ở lại KGB nếu đã biết chắc O. Gordievsky làm việc cho một cơ quan gián điệp nước ngoài. Rất nhiều nhân viên đã bị đuổi khỏi KGB vì những lỗi lầm nhỏ nhặt hơn nhiều: Đánh mất một vài tài liệu không phải mật, biển thủ một khoản tiền nhỏ hay dan díu với đàn bà. Chắc chắn KGB muốn giữ O. Gordievsky lại để tiếp tục kéo dài trò chơi.
O. Gordievsky nói:
- Rõ ràng là đã có sự hiểu lầm nào đó. Anh nói tôi đã lừa dối trong một thời gian dài, Viktor Fyodorovich? Tôi không hiểu anh nói về cái gì! Nhưng nếu đấy là quyết định của anh thì là một sĩ quan, tôi sẽ tuân thủ.
V. Grushko tỏ vẻ nhẹ nhõm, vòng qua bàn bắt tay O. Gordievsky. Rất có thể V. Grushko lo rằng biết đâu đấy, O. Gordievsky sẽ khiếu nại lên Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương về việc đã bị KGB đánh thuốc mê, hoặc sợ rằng O. Gordievsky sẽ gây ra một vụ ầm ĩ ngay trong văn phòng của mình.
Những ngày sau dó, trong khi chuẩn bị cho kì nghỉ, O. Gordievsky bắt đầu dần dần nhớ lại, một cách đứt quãng, những gì đã diễn ra tại cuộc thẩm vấn trong thời gian bị đánh thuốc mê. Rất có thể là những viên thuốc con nhộng đặc biệt mà đặc vụ Anh trao cho để O. Gordievsky uống vào mỗi buổi sáng đã phát huy một phần công dụng, khiến cho bộ não của anh ta không hoàn toàn bị mất đi kí ức và ghi lại được một cách vô thức những gì đã xảy ra.
O. Gordievsky nhớ rằng những người hỏi cung đã chất vấn vì sao anh ta lại cất trữ trong nhà tác phẩm của các nhà văn chống Xô viết như Solzhenitsyn, Orwell, Maximov? O. Gordlevsky nói, là nhân viên của Ban PR trong KGB, anh ta cần phải đọc những cuốn sách đó để biết các phần từ chống Xô viết nói cái gì. Việc đưa ra câu hỏi này cũng khẳng định một điều là KGB đã bí mật khám xét căn hộ của O. Gordievsky nên mới biết anh ta có những tác phẩm bị cấm ở Liên Xô khi ấy. Hoặc câu hỏi làm sao mà O. Gordievsky, một đảng viên cộng sản, lại tỏ vẻ tự hào vì cô con gái Maria biết đọc Kinh Lạy Cha, cho thấy KGB cũng đã bí mật cài “rệp” nghe lén trong căn hộ, bởi chuyện đó anh ta chỉ nói riêng với mẹ và em gái mình khi họ ở trong phòng khách của căn hộ.
Rồi có một lúc, O. Gordievsky nghe thấy một giọng nói từ phía những người thẩm vấn mình: “Hãy nhớ là chúng tôi có những bằng chứng không thể chối cãi về tội lỗi của anh. Chúng tôi biết anh là điệp viên của Anh! Hãy thú tội đi!”
Có một khoảng lặng. O. Gordievsky nhớ rằng khi ấy, Budanov ngồi ở gần mình, còn Gobulev ra ngoài rồi quay lại, nói với giọng dữ tợn: “Hãy thú tội đi! Mới ít phút trước đây, anh đã thú tội rồi, bây giờ chỉ cần nhắc lại thôi. Thú tội một lần nữa đi!”
O. Gordievsky nhớ rằng trong trạng thái nửa thức nửa ngủ, anh ta nói: “Không, tôi không có gì để thú tội cả. Tôi không làm gì sai”. Rồi tất cả lại chìm đi.
Viên sĩ quan KGB cho rằng cuộc thẩm vấn kéo dài trong năm tiếng đồng hồ, từ khoảng 1 giờ rưỡi trưa đến gần 7 giờ tối. Có lẽ những viên thuốc con nhộng mà tình báo Anh cẩn thận cung cấp trước đã giúp anh ta trụ vững mà không bị gục trong khoảng thời gian đó. Chỉ có một câu hỏi mà O. Gordievsky không thể trả lời: KGB đã thật sự phát hiện ra anh ta làm gián điệp cho Anh hay chưa?
Ít ngày sau, Leila, vợ của O. Gordievsky và hai con gái về tới Moscow. Khi được O. Gordievsky thông báo sẽ không thể quay lại Anh được nữa, Leila tỏ vẻ sốc nhưng rồi nhanh chóng lấy lại được bình tĩnh. Trong thời gian O. Gordievsky đi nghỉ, cô sẽ mang hai con về Azerbaijan, nơi bọn trẻ có thể tắm sông trong những ngày hè.
KGB bố trí cho O. Gordievsky đi nghỉ ở Semyonovskoye, một khu nghỉ dưỡng của KGB cách Moscow chừng một trăm cây số về phía nam. Ngày 15-6-1985, O. Gordievsky lên đường.
Trong những ngày ở khu nghỉ dưỡng, O. Gordievsky gặp một vài người quen, cũng là những nhân viên KGB đi nghỉ tại đây. Một câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu O. Gordievsky: Liệu có quá muộn khi khởi động kế hoạch trốn khỏi Liên Xô mà anh ta đã bàn trước với các đặc vụ Anh?
O. Gordievsky tới thư viện khu nghỉ dưỡng và giữa những kệ sách kín đáo, bí mật nghiên cứu trên bản đồ khu vực biên giới giữa Liên Xô với Phần Lan.
Một ngày kia, giữa kì nghỉ, vợ và hai con gái tới chỗ O. Gordievsky. Khi chia tay tiễn ba người quay về Moscow, O. Gordievsky không biết chắc là liệu mình có còn gặp lại vợ và hai con gái nữa hay không. Chính vào lúc đó, O. Gordievsky quyết định phải thực hiện kế hoạch trốn khỏi Liên bang Xô viết. Nếu không, anh ta sẽ chết.
Trước khi đi tới quyết định mang tính sinh tử ấy, O. Gordievsky, điệp viên Xô viết làm việc cho tình báo Anh, đã phải trải qua những chặng đường rất dài.
+++++
Oleg Gordievsky sinh ngày 10-10-1938 tại Moscow, thủ đô Liên bang Xô viết. Khi ấy, thời kì Đại Thanh Trừng ở Liên Xô đã qua giai đoạn dữ dằn nhất. Kí ức đầu tiên của O. Gordievsky là năm lên ba tuổi, khi quân đội Đức Quốc xã tiến công Liên Xô. Những trận oanh tạc của máy bay Đức nhằm vào Moscow đã buộc O. Gordievsky cùng với người anh trai Vasiliy Antonovich Gordlevsky của mình thường xuyên phải chui xuống những đường tàu điện ngầm chằng chịt ở Moscow, khi ấy được sử dụng làm hầm tránh bom. Thang máy không hoạt động và O. Gordievsky cùng với anh trai mình phải đi bộ theo những bậc thang dài như vô tận xuống sâu dưới lòng đất để trú ẩn.
Cha của O. Gordievsky là Anton Lavrentiyevich Gordievsky, một giáo viên, hồi đầu những năm 1930 đã gia nhập OGPU, Tổng cục Chính trị quốc gia, tiền thân của Bộ Dân ủy Nội vụ Liên Xô NKVD, chính là Ủy ban An ninh quốc gia Liên Xô KGB sau này. Gia đình O. Gordlevsky đã sống sót qua thời kì Đại Thanh Trừng của J. Stalin, khi NKVD bắt bớ và xử tử hàng loạt người bị quy cho là “kẻ thù của nhân dân”, trong đó có không ít những thành viên của chính NKVD. Ngay cả khi đã qua thời cao trào vào giữa những năm 1930 thì những vụ bắt bớ và thanh trừng vẫn còn tiếp tục, kể cả sau thời gian chiến tranh. Tuổi thơ của O. Gordievsky trôi qua với ấn tượng không phai mờ về những người hàng xóm đột nhiên biến mất, về người chú phải vào trại lao động cải tạo mười năm không rõ lí do. Cả những sự kiện kịch tính như cái chết của J. Stalin vào tháng 3 năm 1953 rồi sau đó là vụ bắt giữ rồi xử tử Lavrenti Beria, người đứng đầu NKVD trong suốt nhiều năm trời, cũng hằn sâu trong tâm khảm của O. Gordievsky.
Sau khi Đệ nhị thế chiến kết thúc, O. Gordievsky vào học trong trường phổ thông, nơi cậu bé bắt đầu thích thú học tiếng Đức. Tháng 3-1956, O. Gordievsky lần đầu tiên được đọc bài phát biểu không phổ biến rộng rãi chống bệnh sùng bái cá nhân J. Stalin của nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev tại Đại hội lần thứ 20 Đảng Cộng sản Liên Xô. Những điều mà N. Khrushchev lên án J. Stalin trong bài phát biểu, vốn được lưu hành một cách bí mật trên lãnh thổ Liên bang Xô viết, đã tác động sâu sắc đến tâm trí của chàng trai 18 tuổi, cho dù về bản chất, O. Gordievsky vẫn là người ủng hộ các tư tưởng cộng sản.
O. Gordievsky tốt nghiệp phổ thông tháng 6-1956 và sau kì nghỉ hè, tháng 9-1956 vào học đại học chỉ ít ngày trước sinh nhật mười tám tuổi. Đó là Học viện Quan hệ quốc tế, tòa nhà nằm gần cầu Krymsky, một trong những cây cầu nổi tiếng bắc qua sông Moscow, gần công viên Gorky. Trong thời kì Đại Thanh Trừng, Học viện bị đóng cửa. Sau chiến tranh, chính quyền Xô viết nhận thấy cần thiết phải có đội ngũ những nhà ngoại giao trẻ tuổi cho xứng đáng với vị thế mới của một siêu cường như Liên Xô nên nó đã được mở cửa trở lại. Cũng vì mục đích chủ yếu là đào tạo cán bộ cho ngành ngoại giao nên Học viện trực thuộc Bộ Ngoại giao Liên Xô nhiều hơn là Bộ Giáo dục. O. Gordievsky học khoa tiếng Đức ở học viện này.
Chỉ ít ngày sau khi vào Học viện Quan hệ quốc tế ở Moscow, O. Gordievsky đã chứng kiến một trong những sự kiện nghiêm trọng nhất trong đời sống quốc tế lúc bấy giờ: Cuộc bạo động ở Hungary diễn ra vào cuối tháng 10-1956 và việc Liên Xô đưa quân vào đàn áp thành công, dập tắt cuộc nổi dậy chỉ sau một thời gian ngắn, vào đầu tháng 11 cùng năm. Lẽ dĩ nhiên là O. Gordievsky cùng các bạn học của mình không thể nào nắm bắt được hết toàn bộ diễn tiến của vụ việc. CIA, do thất bại trong các chiến dịch trước đó ở một số nước XHCN nên tạm thời co lại, ngoài những lời hô hào kích động trên đài phát thanh Radio Liberty, dã không làm bất cứ một việc gì để hỗ trợ trên thực tế những người nổi dậy.
Đến những năm học thứ ba và thứ tư, với trình độ tiếng Đức ngày càng tiến bộ, O. Gordievsky đã có thể đọc những cuốn sách tiếng Đức của những cựu tù binh Đức bị giam giữ trên lãnh thổ Liên Xô từ 1943 đến 1947. Đó cũng là thời kì hiếm hoi mà các sinh viên ở Học viện Quan hệ quốc tế Moscow được phép đọc các tờ báo và tạp chí của Tây Đức. Trước mắt O. Gordievsky bắt đầu mở ra một thế giới khác. Thỉnh thoảng, O. Gordievsky nghe đài VOA của Mỹ và BBC của Anh.
Cuối năm thứ hai đại học, O. Gordievsky được yêu cầu chọn học ngoại ngữ thứ hai và quyết định học tiếng Anh. Khi nhân viên nhà trường đề nghị O. Gordievsky chọn địa bàn để học tiếng Anh, giữa Tiệp Khắc và Thụy Điển, do có nhiều bạn bè người Tiệp Khắc, O. Gordievsky định chọn tới nước láng giềng Đông Âu, nhưng người anh trai Vasiliy lại nghĩ khác. “Đừng có ngớ ngẩn thế”, Vasiliy nói, “nếu cậu chọn Tiệp Khắc thì mãn đời cậu sẽ ngồi ở một cái bàn trong phòng lãnh sự của sứ quán Liên Xô ở Prague và cả thế giới sẽ khép lại trước mắt cậu. Hãy chọn Thụy Điển, nơi cậu có thể đi bất cứ đâu ở châu Âu”.
Những lời nói đó của người anh trai đã thay đổi cuộc đời O. Gordievsky sau này. O. Gordievsky chọn đi học tiếng Anh ở Thụy Điển trong nửa năm, nơi có thể đọc cuốn Gulliver du kí trong nguyên bản, tìm hiểu về địa lí và kinh tế các nước châu Âu. Cũng ở đây, O. Gordievsky đã được “học lại” về lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô. Trước đấy, O. Gordievsky đã từng được đọc bài phát biểu bí mật của N. Khrushchev về các chiến dịch thanh trừng khốc liệt dưới thời J. Stalin, nhưng vẫn hết sức sửng sốt khi đọc các tư liệu về Đại hội lần thứ 17 của Đảng Cộng sản Liên Xô, diễn ra năm 1934. Ở Đại hội này, lần đầu tiên đã diễn ra bầu cử Ban Chấp hành Trung ương. Có những tin đồn cho rằng Sergei Kirov, một trong những nhà cách mạng lão thành, ở Đại hội này đã nhận được số phiếu bầu nhiều hơn J. Stalin. Tháng 12-1934, S. Kirov bị ám sát theo lệnh của J. Stalin và đến cuối năm 1938, có đến 70% đại biểu tham dự Đại hội 17 đã bị giết chết. J. Stalin, không biết chắc ai đã không bầu cho mình, nên chỉ đơn giản là thanh trừng hết hai phần ba số đại biểu từng tham dự đại hội năm 1934!
Trong thời gian học ở Học viện Quan hệ quốc tế Moscow, O. Gordievsky nhận thấy luôn có hai đại diện của KGB ở trong trường. Họ có một văn phòng nhỏ ở tầng một của tòa nhà Học viện trong khi các sinh viên ở tầng trên. Hai người này thường lặng lẽ ra vào văn phòng của họ một cách kín đáo, tránh mọi con mắt nhòm ngó từ bên ngoài. Trong một thời gian dài, O. Gordievsky không biết họ thực chất làm gì trong Học viện, nhưng rồi dần dần nhận ra rằng họ đang tìm kiếm những người có khả năng tiềm tàng để tuyển mộ vào làm việc cho KGB. Có vẻ như người nhân viên đại diện cho KGB để mắt đến O. Gordievsky.
Khi nhận biết được điều này, O. Gordievsky cảm thấy lưỡng lự. Anh ta thích cái ý tưởng một ngày nào đó làm việc cho KGB vì điều đó sẽ tiếp bước công việc của người cha, nhưng điều quan trọng hơn là nó mở ra cơ hội để sống và làm việc ở nước ngoài, giấc mơ của tất cả sinh viên đang học tại Học viện. Vào thời kì đó, những công dân Liên Xô bình thường không thể ra nước ngoài nếu không được cấp phép đặc biệt. Mọi hồ sơ xin đi nước ngoài đều phải gửi cho Ban Cán bộ ngoài nước thuộc Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản xem xét giải quyết. Con đường xuất ngoại một cách nhanh chóng và dễ dàng nhất là làm việc cho những tổ chức có nhân viên hoạt động ở nước ngoài như Bộ Ngoại giao, các hãng thông tấn như TASS, APN.
Hoặc KGB hay GRU.
Tuy nhiên, để trở thành nhân viên của GRU, cơ quan tình báo quân đội có chức năng tương tự như KGB, thì bắt buộc phải là người của các lực lượng vũ trang.
Hơn thế nữa, hoạt động trong một cơ quan đặc biệt như KGB có sức hấp dẫn ghê gớm: Được trang trí bởi sự bí mật, được cung cấp những thiết bị chuyên biệt để hoạt động gián điệp, các biện pháp dị thường cũng như các hiểu biết chuyên sâu cần thiết. Tiền lương trong KGB cũng cao hơn hầu hết các cơ quan khác. Những yếu tố như kỉ luật đặc biệt nghiêm khắc, quyền tự do cá nhân bị hạn chế tối đa hoặc một khi đã làm việc cho KGB thì hầu như không bao giờ có thể chuyển sang làm việc ở các cơ quan khác không mấy khi được các học viên để ý đến. Sức hấp dẫn quá lớn của triển vọng trở thành một nhân viên KGB khiến họ dễ dàng bỏ qua các yếu tố bị coi là gò bó ấy.
So với các sinh viên khác trong học viện thì O. Gordievsky có một ưu thế hơn hẳn: Ông anh trai Vasiliy. Khi ấy, Vasiliy đang được KGB đào tạo thành một điệp viên hoạt động trong môi trường bất hợp pháp, có nghĩa là không được bảo đảm an toàn bởi các quy tắc ngoại giao. Qua Vasiliy, O. Gordievsky biết được những chiến dịch gián điệp bất hợp pháp diễn ra như thế nào: Làm thế nào để tạo danh tính người nước ngoài cho điệp viên và cử tới đất nước mà anh ta có nhiệm vụ hoạt động, sinh sống như một công dân nước sở tại. Tiếng Đức của O. Gordievsky khá tốt và anh chàng sinh viên của Học viện Quan hệ quốc tế thích thú với ý tưởng được sống ở một quốc gia phương Tây nào đó.
O. Gordievsky nhờ anh trai mình giới thiệu với Petr Grigoriyevich, khi ấy là đại diện tại Học viện Quan hệ quốc tế của Tổng cục S, chuyên về các hoạt động bất hợp pháp của KGB. Một ngày đầu năm 1961, O. Gordlevsky được mời tới văn phòng của Petr Grigoriyevich để nói chuyện. Khi được hỏi liệu có quan tâm tới chuyện làm việc cho Tổng cục S hay không, O. Gordlevsky trả lời: “Có”.
O. Gordievsky được mời tham dự buổi phỏng vấn ở một căn phòng tại tòa nhà gần Tổng hành dinh của KGB trên Quảng trường Dzerzhinsky. Tại đó, một người phụ nữ trạc 50 tuổi, bằng thứ tiếng Đức tuyệt hảo, hỏi han O. Gordievsky đủ thứ, từ chuyện học tiếng Đức ở học viện cho đến các dự kiến cho tương lai. Người phụ nữ tỏ ra khá ấn tượng với trình độ tiếng Đức của O. Gordievsky và đưa ra nhận xét rất tốt về anh ta. Kể từ sau buổi phỏng vấn đó, O. Gordievsky trở thành ứng cử viên cho một chân làm việc ở Tổng cục S và không một đơn vị nào khác của KGB được phép tiếp cận với anh ta nữa.
Giữa năm học thứ năm và thứ sáu ở học viện, cùng với một nhóm bạn sinh viên đồng học, O. Gordicvsky trải qua kì thực tập sáu tháng ở Đông Berlin, Cộng hòa dân chủ Đức, bắt đầu từ tháng 8-1961. Tối 11-8-1961, cả nhóm tới Berlin. Ngày hôm sau, những tin đồn lan truyền khắp thành phố về một sự kiện nghiêm trọng nào đó sắp xảy ra. Vladimir Lomyeko, người học trước O. Gordicvsky mấy khóa trong học viện, khi ấy là trợ lí của Trường ban Khối Đông Âu - bộ phận trong Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô chịu trách nhiệm điều phối phong trào cộng sản ở các nước Đông Âu, cho nhóm sinh viên biết trong vài tuần lễ trước đó, hàng ngàn người Đông Đức lũ lượt chạy sang Tây Berlin. “Cả nước Cộng hòa dân chủ Đức đang xách những chiếc va li”, V. Lomyeko thông báo cho nhóm sinh viên.
Đêm hôm ấy, 12-8, tất cả việc đi lại giữa Đông Berlin và Tây Berlin bị đình chỉ. Sáng 13-8, khi tỉnh dậy và đi ra phố, O. Gordievsky chứng kiến binh lính có mặt ở khắp nơi. Dọc theo tuyến giữa khu vực do Liên Xô kiểm soát với khu vực của phương Tây, những hàng rào dây thép gai được dựng lên. Hình dạng sơ khai của Bức tường Berlin đã hình thành, Berlin bị chia làm đôi.
Việc tận mắt chứng kiến sự hình thành Bức tường Berlin đã tác động mạnh đến O. Gordievsky. Lần đầu tiên, anh ta cảm nhận rõ những người dân Đông Đức bình thường bị thù ghét đến thế nào khi họ tìm cách rời bỏ thiên đường chủ nghĩa xã hội để tìm đến phương Tây. Cũng lần đầu tiên, anh ta chứng kiến các hoạt động ngăn chặn của Liên Xô ở một quốc gia Đông Âu.
Ngày 20 tháng giêng năm 1962, O. Gordlevsky quay về Moscow và bắt tay vào làm luận văn tốt nghiệp về mối quan hệ giữa nhà thờ với chính quyền ở Cộng hòa dân chủ Đức. Tháng 6-1962, O. Gordievsky vượt qua kì thi tốt nghiệp với điểm số khá tốt. Rồi đến một cuộc phỏng vấn khác với người của KGB. O. Gordievsky được thông báo rằng các nhân viên mới được tuyển mộ sẽ trở thành người của KGB kể từ ngày 1-8-1962. Mức học bổng 450 rúp mỗi tháng dành cho sinh viên sẽ được nâng lên thành mức lương 1.500 rúp, sự tăng trưởng đáng kể đối với một chàng thanh niên như O. Gordievsky.
Vậy là từ mùa thu năm 1962, O. Gordievsky chính thức được KGB tuyển mộ. Cùng với nhiều nhân viên mới khác, O. Gordievsky phải trải qua khóa huấn luyện kéo dài nhiều tháng trời trong trường huấn luyện của KGB mang mật danh Trường 101 đặt trong một khu rừng, cách Moscow khoảng 50 cây số về phía bắc. Trong thời gian này, O. Gordievsky gia nhập Đảng Cộng sản Liên Xô, học các nghiệp vụ về tình báo, giám sát, phản gián.
Đến mùa hè năm 1963, O. Gordievsky tốt nghiệp khóa đào tạo trên cương vị sĩ quan chiến dịch, chính thức trở thành điệp viên KGB.
+++++
Mặc dù được đào tạo như một điệp viên hoạt động trong môi trường bất hợp pháp nhưng khi bắt đầu làm việc ở Tổng hành dinh KGB từ ngày 20-8-1963, O. Gordievsky lại được điều về Ban 2 thuộc Tổng cục S, là đơn vị chuyên về các chiến dịch đặc biệt. Mỗi ban trong KGB có chức năng riêng của nó: Ban 2 chuyên làm giấy tờ giả dành cho các điệp viên bất hợp pháp; Ban 3 đào tạo để tung các điệp viên này ra nước ngoài trong khi Ban 5 tiến hành các nghiệp vụ bảo vệ an ninh, tạo vỏ bọc mới cho những điệp viên đã bị lộ. Có một ban siêu mật là Ban 13, được thành lập trong thời kì Đệ nhị thế chiến, chuyên thực hiện các nhiệm vụ phá hoại phía sau phòng tuyến quân địch và vẫn tồn tại đến thời kì O. Gordievsky vào làm việc ở KGB. Khi Chiến tranh Lạnh đến hồi cao trào, ban này mở rộng phạm vi hoạt động, tuyển mộ các nhân viên làm nhiệm vụ phá hoại trên lãnh thổ các quốc gia thù địch với Liên bang Xô viết. Chính ban này cũng tìm kiếm và đào tạo các sát thủ để thực thi các vụ ám sát ở nước ngoài cho KGB.
Công việc của Ban 2 nơi O. Gordievsky làm việc là làm giấy tờ giả, dựa trên mẫu do một xưởng đặc biệt của KGB nằm ở đâu đó tại ngoại ô Moscow chế tạo đặc biệt cho mục đích này. O. Gordievsky làm ở bộ phận liên quan đến địa bàn Đức, và vốn tiếng Đức lưu loát giúp ích anh ta rất nhiều trong công việc. Cho dù dòng người di cư chủ yếu chảy từ Đông Đức sang Tây Đức nhưng vẫn có một phần nhỏ những người quay về, bởi không thích nghi được với cuộc sống ở bên kia Bức Màn sắt, hoặc do các mối dây liên hệ với gia đình, cần phải xác định rõ nhân thân những người này cũng như tìm kiếm các đặc điểm phù hợp để làm giấy tờ giả cung cấp cho các điệp viên.
Có lần, O. Gordievsky đã tận mắt được xem một cuốn hộ chiếu Mỹ do KGB làm giả một cách hoàn hảo đến mức ngay cả các nhân viên dày dạn kinh nghiệm nhất của Sở Di trú và nhập cư Hoa Kỳ cũng không thể nào nhận ra được.
Phụ trách Ban 2 là Pavel Gromushkin, người từng chịu trách nhiệm làm các giấy tờ giả cho hai điệp viên trong Bộ Ngũ Cambridge là G. Burgess và D. Maclean khi hai người này bị lộ và phải trốn khỏi nước Anh nhiều năm trước. Pavel cũng là người đã chuẩn bị giấy tờ cho các điệp viên Helen và Peter Kroger, những người tham gia vụ đánh cắp bí mật nguyên tử của Hoa Kỳ và sau đấy bị nhà cầm quyền Mỹ truy lùng ráo riết. Cả Konon Molody, người dùng tên giả Gordon Lonsdale hoạt động bí mật tại nước Anh và bị bắt giữ, sau bốn năm trong nhà tù Anh được trao đổi gián điệp và quay trở về Moscow, cũng cần các giấy tờ giả của Ban 2 để tiếp tục hoạt động. Có lần O. Gordievsky mua hai vé đi xem biểu diễn nghệ thuật ở nhà hát Romen cho Molody; mấy hôm sau gặp lại, Molody hết sức giận dữ bởi những diễn viên biểu diễn trong chương trình toàn là người Do Thái!
O. Gordievsky cũng nhiều lần trò chuyện với Rudolf Abel - Đại tá Abel - điệp viên KGB hoạt động tại Mỹ, bị bắt giữ và kết án ba mươi năm tù, nhưng sau đó được trao đổi với phi công Gary Powers lái máy bay gián điệp U-2, vào tháng 2-1962. Khi quay về Moscow, Đại tá Abel được phiên chế về Ban 5. Không ít người trong Tổng cục S vẫn nghi ngờ Abel là điệp viên của Mỹ được tung ngược trở lại Liên Xô. Cả Abel và Molody, sau khi được trao đổi và quay về, đều tham gia giảng bài và tư vấn cho những điệp viên bất hợp pháp sắp được tung sang phía bên kia Bức Màn sắt. Với các điệp viên trẻ tuổi của KGB, đặc biệt là ở các địa phương, việc được trực tiếp tiếp xúc với những huyền thoại KGB như Abel và Molody rõ ràng là niềm vinh dự đặc biệt.
Năm 1963, khi mới hai mươi bốn tuổi, O. Gordievsky lấy vợ, Yelena Akopian, một cô gái có nửa dòng máu Armenia trong người. Mẹ của Yelena là người Nga, bố là Sergei Akopian, phi công người Armenia đã tử nạn trong một vụ tai nạn xảy ra hồi tháng 6-1941.
Đến cuối năm 1965, O. Gordievsky bất ngờ được giao nhiệm vụ sang hoạt động ở địa bàn Đan Mạch. Đầu năm 1966, O. Gordievsky cùng vợ tới Copenhagen.
+++++
Tới Copenhagen, “choáng ngợp” là cảm giác đầu tiên của O. Gordievsky. Sau những năm tháng sống trong xã hội Xô viết khắc khổ, O. Gordievsky thấy sững sờ trước vẻ đẹp của các tòa nhà, những con phố sạch sẽ tinh tươm và những cửa hàng, cửa hiệu đầy ắp hàng hóa. Tất cả giống như trong một giấc mơ tráng lệ bỗng chốc hiện ra ngay trước mắt, có thể cầm nắm, sờ mó được.
Dù đã được chuẩn bị từ trước nhưng O. Gordievsky vẫn ngạc nhiên trước quy mô cũng như số lượng các điệp viên Xô viết trong sứ quán Liên Xô ở Copenhagen. Cả sứ quán có 20 nhân viên dân sự và 4 nhân viên quân sự. Trong số 20 nhân viên dân sự chỉ có 6 người thực sự là thuộc Bộ Ngoại giao. Số 14 người còn lại không phải nhân viên ngoại giao thì có khoảng 9 đến 10 người là nhân viên KGB, còn lại là của GRU. Tỉ lệ này cũng tương tự ở khắp các sứ quán Liên Xô tại phương Tây thời kì đó.
Vỏ bọc của O. Gordievsky tại Đan Mạch là nhân viên bộ phận lãnh sự tại Đại sứ quán Liên Xô ở Copenhagen. Với cương vị này, O. Gordievsky làm công việc của một thư kí, giải quyết các thủ tục liên quan đến việc cấp thị thực, di chúc, thừa kế, đôi khi chuyển tiền cho một người họ hàng nào đó ở Liên Xô.
Thực chất, nhiệm vụ của O. Gordievsky là thu thập thông tin, tìm hiểu hệ thống cấp giấy thông hành của các nước ở bán đảo Scandinavia nói chung và Đan Mạch nói riêng để báo về Trung tâm Moscow, từ đó KGB có thể tiến hành làm các giấy thông hành giả, cung cấp danh tính mới cho những điệp viên được tung sang hoạt động ở phương Tây.
Một nhiệm vụ khác là đón tiếp những “người vận chuyển” của KGB từ Moscow tới hoặc quay về Moscow. Những “người vận chuyển” này, phần lớn là các cựu vận động viên từ câu lạc bộ Dynamo của ngành nội vụ Liên Xô, thường mang theo những va li đặc biệt, bên trong có hộp kim loại đựng các cuộn phim. Nếu gặp sự cố bất ngờ xảy ra, “người vận chuyển” chỉ cần ấn một cái nút để axit trào ra tiêu hủy các cuộn phim chỉ trong vòng vài giây. O. Gordievsky phải hộ tống “người vận chuyển” trên quãng đường từ ga xe lửa hoặc sân bay về tới sứ quán và ngược lại.
O. Gordievsky cũng có nhiệm vụ đẩy nhanh quy trình giúp các điệp viên bất hợp pháp trên đường quay về Liên Xô buộc phải ghé qua Đan Mạch. Phương pháp phổ biến là cho các điệp viên này, được trang bị giấy tờ của thủy thủ đoàn, lên những chiếc tàu thủy chở khách của Liên Xô chạy tuyến từ cảng Le Havre ở Pháp đi Leningrad.
Trưởng trạm KGB ở Copenhagen là Leonid Zaitsev, người mà O. Gordievsky đã từng có lần gặp mặt khi còn theo khóa đào tạo của KGB ở Trường 101. Ngoài các công việc thông thường, L. Zaitsev còn giao cho O. Gordievsky nhiệm vụ tuyển mộ các công dân Đan Mạch làm điệp viên cho Liên Xô. Trong suốt cả nhiệm kì đầu tiên bốn năm ở Đan Mạch, O. Gordievsky chỉ thành công duy nhất có một lần, tuyển mộ được một cặp vợ chồng giáo viên đồng ý làm giao liên, chuyển thư mật cho các điệp viên KGB hoạt động bất hợp pháp.
Sống ở Copenhagen, cách biệt với các đồng nghiệp Xô viết trong cơ quan an ninh, O. Gordievsky bắt đầu có những chuyển biến mạnh hơn trong tư tưởng. Mặc dù chưa hoàn toàn chối bỏ hệ thống của những người cộng sản nhưng O. Gordievsky bắt đầu chỉ trích công khai.
Ngay trong năm 1966, một sự kiện diễn ra khiến O. Gordievsky thêm thất vọng khi hai nhà văn Andrei Sinyavsky và Yuli Daniel bị đem ra xét xử.
Rồi đến mùa xuân và mùa hè năm 1968. Từ đầu năm, những người cộng sản Tiệp Khắc, đứng đầu là Alexander Dubček, tiến hành công cuộc tự do hóa chính trị.
Nó ảnh hưởng quyết định đến tư tưởng của điệp viên KGB ở Copenhagen ngay khi các xe tăng của Liên Xô đang tiến vào Prague. O. Gordievsky đã gọi điện cho cô vợ Yelena qua đường dây điện thoại của sứ quán mà anh ta biết chắc là đã bị an ninh Đan Mạch đặt máy nghe trộm. Qua điện thoại, O. Gordievsky hét lên: “Anh không biết phải làm gì nữa!”
Đấy là những tín hiệu đầu tiên, có tính toán của O. Gordievsky gửi tới các cơ quan đặc vụ phương Tây. O. Gordievsky biết chắc rằng chúng sẽ được ghi nhận và hiểu rõ ý nghĩa: “Tôi căm ghét sự việc đã xảy ra. Tôi không thể chịu đựng nổi. Tôi cảm thấy bị tổn thương. Tôi phản kháng. Xin làm ơn phân biệt tôi với các đồng nghiệp khác”.
Trong thâm tâm, O. Gordievsky đã quyết tâm chống lại hệ thống của những người cộng sản. Người điệp viên KGB tự nhủ: “Mình sẽ không bao giờ ủng hộ một bộ máy như vậy nữa. Mình sẽ làm tất cả để chống lại nó”.
Tháng giêng năm 1970, hết nhiệm kì công tác ở Copenhagen, cùng với cô vợ Yelena, O. Gordlevsky quay lại Moscow.
+++++
Quay trở lại làm việc tại Tổng cục S KGB ở Moscow, O. Gordievsky đề xuất xin theo học khóa tiếng Anh ở trường Cao đẳng Dzerzhinsky, nhưng Trưởng ban 2 Pavel Gromushkin, nói: “Cậu học tiếng Anh làm quái gì? Cậu sẽ không bao giờ hoạt động ở Anh! Quên chuyện đó đi!”
Trưởng ban 2 có lí do để nói thế. Cơ quan đặc vụ Argentina vừa mới bắt giữ một cặp đôi điệp viên KGB hoạt động bất hợp pháp là nhà Martinov, những người mà hoàn toàn ngẫu nhiên, đã được O. Gordievsky thu xếp lên một chiếc tàu thủy của Liên Xô ở Copenhagen. Sau khi thẩm vấn hai người này, đặc vụ Argentina đã chuyển giao họ cho Washington để phía Mỹ khai thác thêm. Pavel Gromushkin có cơ sở để tin rằng tại Mỹ, hai người này đã cung cấp cho các đặc vụ Hoa Kỳ những chi tiết về một người đàn ông mang hộ chiếu ngoại giao ở sứ quán Liên Xô tại Copenhagen đã giúp đỡ họ lên tàu như thế nào. Trong những chi tiết đó thế nào cũng có mô tả kĩ càng về nhân dạng của O. Gordievsky và tất cả các cơ quan đặc vụ phương Tây hẳn đã biết rằng ngài O. Gordlevsky, bí danh Gomov, là một sĩ quan tình báo của KGB.
Bởi thế nên Pavel Gromushkin quyết định sẽ phái O. Gordievsky tới những quốc gia mà các cơ quan mật vụ phương Tây không vươn tới được. Một trong số đó là Ma Rốc. Thế nên O. Gordievsky phải theo học tiếng Pháp trong hai năm tiếp theo.
Trong năm 1971 đã xảy ra một vụ “động đất” ở KGB khi điệp viên Oleg Lyalin tại trạm KGB London bất ngờ đào thoát sang phương Tây. Ngay cả trước khi Oleg Lyalin đào thoát, Cục An ninh MI5 của Anh đã phần nào xác định được các điệp viên KGB trong số nhân viên ngoại giao tại sứ quán Liên Xô ở London. Tuy nhiên, nhờ sự giúp sức của Oleg Lyalin, MI5 mới khẳng định chắc chắn được “ai là ai” trong số các nhân viên ngoại giao này. Việc các điệp viên Liên Xô mang vỏ bọc ngoại giao để hoạt động tình báo không phải là điều bí mật gì, nhưng cái làm cho giới tình báo phương Tây bị sốc chính là quy mô của nó. MI5 xác định được tổng cộng có tới 120 điệp viên KGB và GRU làm việc ở sứ quán tại London và chỉ trong một lần duy nhất, nhà cầm quyền Anh trục xuất tới 105 điệp viên của Liên Xô.
Sự việc này làm rúng động Ban Anh - Scandinavia trong Tổng cục 1 của KGB, từ mùa thu năm 1971 nằm dưới quyền của Dmitri Yakushkin. Tiếp sau vụ trục xuất kỉ lục của người Anh, chính quyền Đan Mạch cũng trục xuất ba điệp viên Liên Xô hoạt động dưới vỏ bọc ngoại giao ở Copenhagen. Rõ ràng nhu cầu bổ sung các điệp viên mới để thế chỗ cho những người vừa bị bắt buộc rời đi là rất cấp thiết. Tiếng Đức của O. Gordievsky cực tốt, tiếng Đan Mạch đủ để dùng trong công việc, lại từng có một nhiệm kì hoạt động ở trạm KGB Copenhagen nên hiển nhiên O. Gordievsky là người thích hợp cho một vị trí công tác ở thủ đô của Đan Mạch.
Nhưng khi ấy nảy sinh một khó khăn. O. Gordievsky là người của Tổng cục S, trong khi các điệp viên hoạt động trong lĩnh vực tình báo chính trị ở sứ quán sẽ thuộc biên chế của Tổng cục 1 KGB. Tướng Lazarev, người đứng đầu Tổng cục S nhất quyết không “nhả” O. Gordievsky cho Tổng cục 1 sử dụng.
Đến tháng 5-1972 thì một bi kịch trong gia đình O. Gordievsky đã bất ngờ giúp xoay chuyển tình hình. Người anh trai Vasiliy, cũng là một điệp viên trong biên chế của Tổng cục S bất ngờ chết vì bệnh ở tuổi ba mươi chín. Sau đám tang anh trai, O. Gordievsky tới gặp Tướng Lazarev xin rời khỏi Tổng cục S với lí do không chịu đựng nổi gánh nặng tâm lí vì người anh trai đã chết khi làm việc tại đây. Tướng Lazarev buộc phải đồng ý.
Ngày 11-10-1972, O. Gordievsky cùng vợ Yelena, khi ấy cũng đã làm việc cho KGB với tư cách nhân viên dịch các tài liệu nghe lén, tới Copenhagen, bắt đầu nhiệm kì hai ở đây.
Trở lại Đan Mạch lần thứ hai, O. Gordievsky giữ cương vị Bí thư thứ hai, sau đó nâng lên vị trí Bí thư thứ nhất đảm nhiệm công tác tùy viên báo chí tại sứ quán Liên Xô. Cương vị này khiến O. Gordievsky thường xuyên có các mối quan hệ, tiếp xúc với giới truyền thông báo chí, các chính trị gia và công chức Đan Mạch.
Còn ở trạm KGB tại Đan Mạch, O. Gordlevsky là sĩ quan tình báo chính trị, quan hệ với Bộ Ngoại giao và các cơ quan chính phủ Đan Mạch. Thông qua các mối quan hệ này, nhiệm vụ của O. Gordievsky được KGB giao cho là gây ảnh hưởng đến dư luận công chúng Đan Mạch. Chẳng hạn O. Gordlevsky phải duy trì tiếp xúc thường xuyên với người đứng đầu của một tổ chức chống đối lại chính sách thiết lập Thị trường chung châu Âu, vì theo họ một Tây Âu chia rẽ tốt hơn nhiều so với một Tây Âu thống nhất.
Ngay khi trở lại Đan Mạch, O. Gordievsky đã xác định phải tìm kiếm các cơ hội để bắt tay với phương Tây. Sự chuyển biến tư tưởng sau sự kiện Mùa xuân Prague năm 1968 cùng với những hình ảnh ảm đạm trong xã hội Xô viết mà O. Gordlevsky cảm nhận được trong thời gian hai năm quay lại Liên Xô, những hàng người xếp hàng dài dằng dặc, những quầy hàng trống rỗng, hệ thống tuyên truyền giáo điều, bộ máy quan liêu, tham nhũng... đã khiến viên sĩ quan KGB càng quyết tâm hơn trong việc đổi phe.
Tuy nhiên, O. Gordievsky không biết bằng cách nào để tiếp xúc với các cơ quan đặc vụ phương Tây. Khả năng nói tiếng Anh không được trôi chảy cũng là một rào cản khiến cho O. Gordievsky cảm thấy bị ức chế, không thoải mái khi nghĩ đến việc tiếp xúc với một người phương Tây.
Cơ hội đầu tiên đến với O. Gordievsky vào ngày 2-11-1973. Vào khoảng 8 giờ tối hôm đó, có tiếng gõ cửa căn hộ của vợ chồng O. Gordievsky ở Copenhagen. Khi mở cửa ra, O. Gordievsky thấy đứng trước mặt mình là Laszlo Barany, một người Hungary mà viên sĩ quan KGB đã quen biết khi cùng sinh hoạt trong câu lạc bộ điền kinh thời còn học ở Học viện Quan hệ quốc tế. Ngay khi hai người bắt tay nhau, giác quan thầm kín đã mách bảo O. Gordievsky rằng người bạn cũ không phải tự mình tìm đến thăm sau nhiều năm trời xa cách và không có liên lạc gì. Chắc chắn Laszlo là do một cơ quan đặc vụ phương Tây nào đó phái đến. Nhưng là của Anh hay Mỹ?
Sau vài câu chuyện xã giao, Laszlo Barany cho biết anh ta đã đào thoát khỏi Hungary từ năm 1970. Ngay lập tức, câu chuyện trở nên gượng gạo. Laszlo nói thêm vài câu rồi hẹn với O. Gordievsky ăn trưa vào hôm sau ở một hiệu ăn. O. Gordievsky nhận lời.
Ngày hôm sau, ở hiệu ăn, Laszlo Barany có vẻ thoải mái hơn. Nhưng O. Gordievsky vẫn hết sức thận trọng. Khi câu chuyện đề cập đến vụ Liên Xô tiến vào Tiệp Khắc năm 1968, O. Gordievsky kể rằng ở sứ quán đã chia ra làm hai phe để cá cược nhau xem điều gì sẽ xảy ra đối với đất nước Tiệp Khắc. Nhưng O. Gordievsky thận trọng dừng lại ở đó. Vẫn chưa biết Laszlo Barany đại diện cho ai và có những quyền hạn gì.
Gần ba tuần lễ sau thì sự việc trở nên rõ ràng. O. Gordievsky rất mê chơi cầu lông và thường thuê sân để chơi khoảng một tiếng đồng hồ từ lúc 7 giờ sáng. Hôm ấy, O. Gordievsky đang đánh cầu lông với một cô sinh viên thì một người Anh xuất hiện bên ngoài sân. Có lẽ hệ thống giám sát của các cơ quan an ninh Đan Mạch đã báo cho người Anh biết về thời gian biểu chơi cầu lông của viên sĩ quan KGB. O. Gordievsky biết rất rõ người Anh này bởi ông ta khá nổi tiếng trong giới ngoại giao ở Copenhagen. Đó là Dick, một người đàn ông ngoài bốn mươi tuổi, có phong cách rất lịch thiệp, dễ cuốn hút người nói chuyện với mình.
Khi một người không mặc bộ đồ thể thao mà lại mang một bộ trang phục công chức với áo choàng ngoài lịch sự xuất hiện bên cạnh đường biên của sân cầu lông thì hẳn nhiên là ông ta muốn tiếp xúc. O. Gordievsky ra khỏi sân và hỏi xem người Anh muốn gì. Ông ta trả lời đơn giản rằng muốn nói chuyện ở một nơi nào đó mà không bị gây phiền phức bởi những người xung quanh; O. Gordievsky đồng ý. Hai người hẹn gặp nhau ăn trưa sau ba ngày nữa.
Quay về sứ quán, O. Gordievsky quyết định chơi con bài công khai với KGB. O. Gordievsky nói với Trưởng trạm KGB Copenhagen, Anatoli Danilov về lời mời ăn trưa của một đồng nghiệp từ sứ quán Anh. “Liệu tôi có nên chấp nhận lời mời không?”, O. Gordievsky hỏi.
A. Danilov điện về Tổng hành dinh KGB xin ý kiến. Tổng cục trưởng Tổng cục Một D. Yakushkin trả lời: “Đồng ý. Cậu ta nên tỏ vẻ cứng rắn, không nên e dè trước những lời mời như vậy. Sao lại không gặp chứ? Hãy chiếm vị thế chủ động. Nước Anh là mối quan tâm hàng đầu của chúng ta”.
Vậy là O. Gordievsky được “cấp phép” gặp gỡ đối phương. Cuộc gặp diễn ra ở một tiệm ăn, với những lời trao đổi khá thận trọng, O. Gordievsky rất ngạc nhiên khi Dick bắt đầu nói về số lượng điệp viên KGB làm việc dưới vỏ bọc ngoại giao ở sứ quán Liên Xô, tỏ vẻ băn khoăn không hiểu vì sao phía Xô viết lại cử nhiều điệp viên tới Đan Mạch như vậy. Khi O. Gordievsky trả lời với vẻ miễn cưỡng, Dick lập tức chuyển chủ đề, hỏi về những điều mà viên sĩ quan KGB quan tâm như tôn giáo, triết học, âm nhạc. Đến cuối bữa ăn, Dick hỏi: “Anh sẽ viết báo cáo về cuộc gặp hôm nay chứ?” O. Gordievsky trả lời: “Có thể. Nhưng tôi sẽ viết sao cho trung tính nhất trong khả năng có thể”. Tuy không nói ra nhưng O. Gordievsky muốn cho Dick biết rằng mình muốn có một cuộc gặp lại. Cả hai đều thận trọng không đề cập đến bất cứ điều gì về tương lai và chia tay mà không một lời hẹn liệu sẽ có cuộc gặp khác hay không.
Tiếp đó là một khoảng lặng kéo dài. Trong suốt gần một năm trời sau đấy, không có bất cứ tiếp xúc nào nữa. Rồi đến ngày 1-10-1974, vẫn Dick lại xuất hiện bên ngoài sân chơi cầu lông và mời O. Gordievsky đến ăn tối tại nhà của ông ta. O. Gordievsky nói thích gặp ở một nơi công cộng hơn và hai người đồng ý gặp nhau tại khách sạn Skovshoved, khu ngoại ô phía bắc của Copenhagen. Sau bữa ăn tối với những câu trao đổi vô thưởng vô phạt, O. Gordievsky quyết định tiến thêm một bước, gợi ý nên gặp lại ở một tiệm rượu trên tầng thượng của khách sạn SAS, trên đường từ trung tâm thành phố ra sân bay.
Trong cuộc gặp đó, đến nửa chừng câu chuyện, Dick nói:
- Đây không phải là một nơi thích hợp để gặp nhau.
- Sao vậy? - O. Gordievsky hỏi.
- Bởi vì chúng ta có thể tình cờ bị bắt gặp.
- Ai tình cờ bắt gặp?
- Bất kì ai trong số các đồng nghiệp của anh. - Dick trả lời.
- Ồ không. - O. Gordievsky trấn an. - Khách sạn này quá sang trọng nên tôi không nghĩ là có ai đó trong số người của chúng tôi tới đây đâu.
Nhưng Dick vẫn tỏ vẻ không thoải mái. Hai người thỏa thuận cuộc gặp sau sẽ diễn ra trong một tiệm ăn nhỏ ít ai để ý nằm ở phía tây bắc Copenhagen, gần trung tâm thành phố, nơi mà các nhân viên Xô viết hầu như chắc chắn sẽ không lai vãng tới.
Ba tuần lễ sau, khi tới tiệm ăn như đã hẹn, có vẻ như cả hai người, Dick và O. Gordievsky, đều hành xử đúng với cương vị của hai sĩ quan tình báo đang tham gia vào một điệp vụ chung. “Anh là KGB phải không?” không rào đón vòng vo, Dick hỏi thẳng.
- Dĩ nhiên rồi. - O. Gordievsky trả lời.
- Vậy anh nói cho tôi biết ai là người phó phụ trách tình báo chính trị ở trạm của các anh?
Không giấu nổi ngạc nhiên, O. Gordievsky nhìn Dick một thoáng rồi mỉm cười:
- Chính là tôi đây. Anh tỏ vẻ như biết hết về chúng tôi, nhưng lại không biết tôi làm gì.
- Thật vậy à? - Dick tỏ vẻ rất ấn tượng. - Tốt thôi. Tôi muốn anh gặp một người đặc biệt, rất quan trọng, đến từ London.
Dick giải thích rằng thời hạn công tác của ông ta ở Copenhagen sắp kết thúc. Vì vậy, ông ta muốn giới thiệu O. Gordievsky với một đồng nghiệp của mình. O. Gordievsky tỏ vẻ rất tiếc khi biết Dick sắp phải chuyển đi, nhưng trong thâm tâm, biết chắc đó là điều khó tránh khỏi. Lí do bởi vì giữa hai người rất khó giao tiếp với nhau do khả năng tiếng Anh không tốt của O. Gordievsky. Sẽ thật kì lạ nếu như O. Gordievsky muốn làm việc, giúp đỡ các cơ quan đặc vụ phương Tây trong khi không thể giao tiếp, truyền đạt được một cách rõ ràng bằng tiếng Anh. Dick nói cuộc gặp tiếp theo diễn ra tại một ngôi nhà an toàn và ông ta sẽ giới thiệu đồng nghiệp của mình, người có thể giao tiếp với O. Gordievsky một cách thoải mái bằng thứ ngôn ngữ cả hai cùng hiểu rõ. Chỉ có như vậy, hai bên mới có thể bắt đầu xác lập mối quan hệ hợp tác một cách nghiêm túc.
+++++
Không phải người Anh ngay lập tức tin O. Gordievsky có ý định thực sự cộng tác giúp tình báo Anh chống lại KGB. Rất có thể đây là một hành động khiêu khích có chủ ý được sắp xếp kĩ lưỡng để làm mất mặt tình báo Anh. Làm sao một trạm phó KGB lại có thể cộng tác với kẻ thù? Người Mỹ gọi những vụ như thế là “mồi nhử”, và ở thời điểm đó, họ vừa vướng phải vụ y hệt với một người đàn ông tự xưng là nhân viên KGB tên là Galitzine, đào thoát từ Phần Lan. Với một sĩ quan cấp bậc như O. Gordievsky, việc tiếp xúc với các đặc vụ nước ngoài là việc vô cùng hi hữu. Ngay cả khi đã hẹn gặp ở nhà an toàn, người Anh vẫn không biết chắc là liệu O. Gordievsky có nằm dưới sự kiểm soát của KGB hay không. Rất có khả năng là O. Gordievsky sẽ dẫn theo một đội sát thủ của KGB ập vào trong nhà an toàn, tấn công tất cả những ai có mặt tại đó rồi tuyên bố đấy là hành động trừng trị những kẻ khiêu khích chống Xô viết.
Đúng giờ hẹn, O. Gordievsky tới trước cửa một tiệm ăn để Dick đưa đi theo lộ trình ngoắt ngoéo tới chỗ nhà an toàn. O. Gordievsky biết chắc chắn rằng đâu đó sẽ có các điệp viên Anh ngồi trong xe ô tô, theo dõi sát từng bước đi của hai người để biết là liệu có ai của KGB bám theo không và sẵn sàng báo động cho những người trong nhà an toàn. Đây cũng là lần đầu tiên O. Gordievsky thật sự bước chân lên lãnh địa của đối phương.
Tại ngôi nhà an toàn, Dick giới thiệu với O. Gordievsky một người đàn ông cao to tên là Michael, nói tiếng Đức. Ngay lập tức, O. Gordievsky cảm thấy không thoải mái với người này. Anh ta có một thái độ khá gây hấn, thậm chí có những lúc như dọa dẫm. Anh ta mở đầu bằng những câu tra hỏi: “Ai là điệp viên phụ trách địa bàn của các anh? Có bao nhiêu nhân viên ở trạm KGB Copenhagen?” Tất cả giống như một buổi thẩm vấn tù nhân.
Sau này, O. Gordievsky mới biết rằng Michael đã quen với lối tiếp cận trước người lạ như vậy bởi vì anh ta đã từng thẩm vấn tù binh Đức trong thời gian sau Đệ nhị thế chiến. Cũng có thể thái độ gây hấn đó là cách để Michael vượt qua tâm lí căng thẳng khi tiếp xúc trực tiếp với một điệp viên của đối phương.
O. Gordievsky cố gắng giữ tự chủ, nhủ thầm là cơ quan đặc vụ phương Tây, chứ không phải cá nhân Michael, mới là đối tượng chính mà mình muốn hợp tác. Sau một lúc, khi không khí có vẻ đã dịu lại, O. Gordievsky tuyên bố mình thành thực muốn làm việc cho nước Anh, nhưng với ba điều kiện.
“Thứ nhất, tôi không muốn làm hại bất cứ một đồng nghiệp nào của tôi ở trạm KGB Copenhagen, bởi vì trong số họ có những người tử tế. Thứ hai, tôi không muốn bị chụp ảnh hay ghi âm một cách bí mật. Thứ ba, tôi không nhận tiền. Tôi muốn làm việc cho phương Tây vì lí tưởng, chứ không phải để kiếm lợi”, O. Gordievsky nói.
Dick và Michael nhìn nhau một thoáng, rồi Michael nói: “Điều kiện thứ hai và thứ ba của anh rất ổn, không có vấn đề gì. Nhưng với điều kiện thứ nhất, làm sao anh lại nghĩ chúng tôi sẽ làm tổn thương các đồng nghiệp của anh? Chúng tôi không hề muốn thế và cũng không có bất cứ chiến dịch nào để làm tổn thương họ. Hơn nữa, trong trường hợp anh cộng tác, chúng tôi còn phải tìm mọi cách để bảo vệ họ. Nay chúng tôi đã biết rõ về vị trí công tác của anh ở trạm KGB và chúng tôi sẽ phải cân nhắc không chỉ gấp đôi mà gấp ba gấp bốn mỗi khi các đồng nghiệp của chúng tôi muốn trục xuất một ai đó”.
Rồi Michael nói tiếp:
- Này, chúng ta có lẽ không thể cứ gặp nhau ở các tiệm ăn được. Ai đó có thể bắt gặp và thế là mọi sự hỏng bét. Chúng tôi sẽ thuê một căn nhà an toàn, nơi chúng ta có thể gặp gỡ trong điều kiện được bảo vệ chắc chắn.
- Ồ, tiền thuê nhà sẽ rất đắt. - O. Gordievsky nói.
- Không sao.
- Nhưng mỗi tháng chúng ta chỉ gặp nhau có một lần...
- Đừng lo, đáng để làm vậy mà.
Rồi trong sự thất vọng của O. Gordlevsky, Michael thông báo rằng kể từ đó, anh ta sẽ là người điều khiển O. Gordievsky. Cuộc gặp chấm dứt ở đó.
Từ mùa xuân năm 1975 cho đến tháng 7-1978, O. Gordievsky đều đặn thực hiện các cuộc gặp gỡ với tình báo Anh ở ngôi nhà an toàn, được người Anh thuê tại một khu ngoại ô yên tĩnh ở Copenhagen. An ninh Đan Mạch không tổ chức giám sát chặt sự di chuyển của O. Gordievsky như ở nhiệm kì thứ nhất, có lẽ cũng bởi đã có những áp lực ở cấp cao hơn hướng họ ưu tiên các mục tiêu khác. O. Gordievsky nhận thấy chưa bao giờ mình bị bám theo khi rời khỏi nhà an toàn.
Chỉ có một khả năng duy nhất gây nghi ngờ là biển số ngoại giao của chiếc xe mà O. Gordievsky sử dụng khi tới chỗ nhà an toàn. O. Gordievsky loại bỏ nguy cơ này bằng cách gửi xe ở một bãi đỗ xe gần đó rồi đi bộ qua chặng đường còn lại. Trong suốt ba năm rưỡi, chỉ có một lần đã xảy ra trục trặc, khi O. Gordievsky tới chỗ hẹn vào một buổi tối mùa đông. Tuyết rơi dày đặc và trong điều kiện thời tiết cực xấu như vậy, khi màn đêm đã buông xuống, chuyện một người nước ngoài lái xe tới gửi ở bãi đỗ quả là đáng ngờ. Tình cờ là có một nhân viên an ninh Đan Mạch sống ở gần đó đã để ý tới biển số ngoại giao chiếc xe của O. Gordievsky. Anh ta thậm chí còn cẩn thận bám theo khi O. Gordievsky đi bộ tới tòa nhà, nơi viên sĩ quan KGB đi vào. Sáng hôm sau, người nhân viên an ninh này làm một báo cáo gửi lên cấp trên và bộ phận của anh ta bắt tay vào điều tra. Sau vài cuộc điện thoại được thực hiện ở các nhân viên an ninh cấp cao, quá trình điều tra này chấm dứt.
+++++
Trong một năm rưỡi đầu tiên cộng tác với tình báo Anh, O. Gordlevsky chủ yếu tập trung cung cấp những thông tin cơ bản về vô vàn chiến dịch cực kì tinh vi của KGB nhằm tạo ra những danh tính giả cho các điệp viên hoạt động bất hợp pháp ở nước ngoài. Đây là những thông tin cực kì quan trọng và quý giá đối với tình báo Anh bởi chúng giúp họ có được những hiểu biết cơ bản về cái cách mà bộ máy đồ sộ và phức tạp của KGB vận hành. Khi cung cấp những thông tin này cho người Anh, O. Gordievsky đã gây tổn thương một cách trầm trọng cho các chiến dịch tung gián điệp sang phương Tây của KGB, bởi dựa trên những hiểu biết cơ bản này, các cơ quan đặc vụ phương Tây có thể phát hiện ra những điệp viên bất hợp pháp hoạt động trên lãnh thổ của mình, dựa trên những chỉ dấu căn bản mà O. Gordlevsky cung cấp.
O. Gordievsky cung cấp thông tin mật trong những lần gặp Michael ở nhà an toàn chủ yếu bằng tiếng Đức. Rồi một hôm, Michael mang đến một báo cáo mà anh ta soạn dựa trên những thông tin do O. Gordievsky cung cấp. Đọc xong, O. Gordievsky nói: “Tuyệt. Hẳn là anh có những chuyên gia phân tích rất giỏi ở cơ quan”.
“Chuyên gia nào? Làm gì có. Tất cả là tự tôi soạn đấy chứ”, Michael nói vẻ mãn nguyện vì O. Gordievsky đã đánh giá đúng công sức mà anh ta đã bỏ ra. Nghe vậy, O. Gordlevsky tin chắc là phải có ai đó đã ghi chép lại một cách đầy đủ những câu đối thoại rời rạc trong những lần gặp gỡ giữa hai người thì mới có thể viết được một báo cáo hoàn hảo như vậy. Rồi O. Gordlevsky chợt nhận ra: Tình báo Anh đã bí mật ghi âm lại toàn bộ những cuộc nói chuyện đó, không bỏ sót một câu nào. Như vậy là người Anh đã vi phạm thỏa thuận với O. Gordievsky, rằng không được bí mật ghi âm hay chụp ảnh những cuộc tiếp xúc của họ. Nghi ngờ này thời gian sau đó được khẳng định khi ở một nước khác, O. Gordievsky gặp một chuyên gia công nghệ của tình báo Anh, người thổ lộ rằng chính anh ta đã lắp đặt những “con rệp” nghe trộm trong căn hộ ở Copenhagen, nơi diễn ra các cuộc gặp mặt của O. Gordievsky với Michael.
O. Gordievsky còn phát hiện ra người Anh thỉnh thoảng nói dối, chẳng hạn họ tuyên bố là làm việc với viên sĩ quan KGB mà không hề có sự thừa nhận hay giúp đỡ của tình báo Đan Mạch. Cũng có thể người Anh lo xa, đề phòng khả năng nếu O. Gordievsky bị KGB phát hiện đã phản bội và bắt giữ thì O. Gordievsky sẽ khai rằng người Đan Mạch không liên quan đến chiến dịch này.
Michael làm điệp viên điều khiển O. Gordievsky trong hai năm rồi sau đó chuyển giao công việc này cho Andrew, một điệp viên Anh khác hơn O. Gordievsky ba tuổi, biết thành thạo năm ngoại ngữ, trong đó có cả tiếng Nga và tiếng Đức.
Một vấn đề đặt ra là làm thế nào để O. Gordievsky có thể chuyển tối đa các tài liệu mật ở sứ quán Liên Xô cho tình báo Anh? Sau một thời gian, người Anh gợi ý là họ sẽ cấp một chiếc máy ảnh để O. Gordievsky có thể chụp các tài liệu mật rồi chuyển cho Andrew. Đề nghị này khiến O. Gordievsky hoảng hốt. Cứ nghĩ đến cái viễn cảnh một ai đó nhìn qua cánh cửa khép hờ và phát hiện thấy anh ta đang lúi húi chụp lén các tài liệu mật là đủ khiến O. Gordievsky toát mồ hôi. Khi ấy thì mọi sự sẽ chấm dứt trong địa ngục. O. Gordievsky cương quyết từ chối.
Cuối cùng thì chỉ còn cách là O. Gordievsky sẽ chép lại những tài liệu mật mà anh ta tiếp cận được rồi mang ra khỏi sứ quán. Do các biện pháp bảo mật chặt chẽ, O. Gordievsky không thể mang những bức điện mật gửi từ Moscow ra khỏi sứ quán được, nhưng ít nhất vẫn có thể chép lại từng phần của chúng. Rồi khi biết là những bức điện mật của KGB được các giao thông viên gửi tới sứ quán Liên Xô dưới dạng phim, Andrew đề nghị một phương pháp hiệu quả hơn: O. Gordievsky sẽ mang đoạn phim liên quan đến Trạm KGB Copenhagen ra khỏi sứ quán cho Andrew để anh ta chụp lại. Mỗi một đoạn phim như thế chứa hàng chục, thậm chí nhiều hơn, các trang tài liệu mật.
Thường thì O. Gordievsky mang những đoạn phim tới chỗ hẹn với Andrew trong giờ ăn trưa rồi nhận lại trong khoảng một giờ sau đó. Việc mang những đoạn phim này ra khỏi văn phòng của trạm KGB không hề dễ dàng. Cùng với văn phòng GRU, văn phòng trạm KGB nằm ở tầng trên cùng của tòa nhà sứ quán. Theo quy định, vào giờ ăn trưa, nhân viên mật mã của sứ quán sẽ thu lại tất cả những tài liệu mật mang tính nhạy cảm rồi đem cất vào trong tủ bảo mật và khóa lại. Nhưng trên thực tế, không mấy ai thực hiện quy trình nhiêu khê này. Thường thì trong thời gian ăn trưa, các cuộn phim cũng như tài liệu mật vẫn còn nằm lại trong cặp của nhân viên KGB đặt tại bàn làm việc hoặc trong tủ sắt có khóa ở phòng trong khi chủ nhân của chúng đi ra ngoài, về lí thuyết mà nói, trong khi O. Gordievsky ra ngoài vào giờ ăn trưa, vẫn có thể xảy ra khả năng các nhân viên mật mã của sứ quán sẽ kiểm tra những cặp đựng tài liệu và không thấy chúng đâu.
Ngoài ra, cũng còn một rủi ro khác là O. Gordlevsky có thể bị bắt gặp ra khỏi hoặc đi vào sứ quán với những tài liệu mật nằm trong túi!
Thường thì O. Gordievsky hẹn gặp Andrew ở một địa điểm cách không xa sứ quán, trên Quảng trường St. Annae gần Cung điện Hoàng gia và bến cảng ở trung tâm thành phố. O. Gordievsky vào trạm điện thoại công cộng, gọi một cuộc gọi đi đâu đó, trong khi Andrew đi ngang qua và giả vờ dừng lại hỏi đường. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, O. Gordievsky chuyển cho Andrew những đoạn phim. Chừng hơn nửa tiếng sau, hai người gặp lại ở một địa điểm khác đã thỏa thuận trước ở gần đó và O. Gordlevsky nhận lại phim.
Bằng phương pháp này, trong suốt thời gian nhiệm kì công tác lần thứ hai ở Copenhagen, O. Gordievsky đã có thể chuyển cho tình báo Anh hàng trăm tài liệu mật, trong đó có một số thuộc diện cực nhạy cảm, được xếp vào hàng tối mật, không chỉ có giá trị cao đối với tình báo Anh mà còn cả với phía Đan Mạch.
Năm 1977, O. Gordievsky gặp Leila Aliyeva, làm nhân viên đánh máy cho văn phòng của Tổ chức Y tế thế giới ở Copenhagen. Leila có mẹ người Nga, cha người Azerbaijan, mới 28 tuổi, trẻ hơn O. Gordievsky tới 11 tuổi. Hai người nhanh chóng yêu nhau và muốn có một đám cưới ngay sau khi O. Gordievsky giải quyết dứt điểm tình trạng hôn nhân của mình.
Thoạt đầu, cô vợ Yelena không nhận ra. Nhưng rồi dần dần, với bản năng của một người vợ, Yelena biết là chồng mình đang có quan hệ với một phụ nữ khác. Đã xảy ra vài cuộc cãi vã dữ dội trong căn hộ của họ. Điều phiền phức nằm ở chỗ tình báo Đan Mạch đã lắp đặt “rệp” nghe lén trong căn hộ của O. Gordievsky và khi nghe được những cuộc cãi vã này, lập tức báo lại cho các đồng nghiệp Anh. Không nắm được nguyên nhân thực sự của những cuộc cãi vã, trong một lần gặp, Andrew rụt rè hỏi phải chăng chuyện bí mật cộng tác với tình báo Anh đã làm O. Gordlevsky căng thẳng, từ đó dẫn tới cãi vã trong gia đình? “Không, chắc là do khủng hoảng tuổi tác ấy mà. Anh không làm được gì để thay đổi đâu”, O. Gordievsky trả lời.
+++++
Thật ra, việc O. Gordievsky đánh cắp tài liệu mật của Liên Xô và chuyển cho phía Anh chỉ là một phần trong những kì vọng lớn lao mà tình báo Anh đặt vào mối quan hệ cộng tác từ trên trời rơi xuống này. Như bất cứ một cơ quan bí mật nào khác, tình báo Anh trông chờ vào việc phát hiện ra các điệp viên nằm vùng của Liên Xô trên lãnh thổ Anh, hay ít nhất cũng là ở các quốc gia đồng minh trong cuộc chiến bí mật chống những người cộng sản.
Mong chờ này đã được O. Gordievsky đáp ứng.
Khoảng năm 1976, Trung tâm Moscow gửi tới Trạm KGB Copenhagen một điệp viên mới có tên là Vadim Cherny, người có khuynh hướng uống rượu vô độ. O. Gordievsky nhanh chóng làm thân với Vadim Cherny. Qua V. Cherny, O. Gordlevsky dần dần biết được những thông tin về một điệp viên đã nhiều năm làm việc cho KGB ở địa bàn Na Uy có biệt danh là Greta.
Greta, tên thật Gunvor Galtung Haavik, là một nữ thư kí đứng tuổi làm việc tại Bộ Ngoại giao Na Uy. Hơn ba mươi năm trước đấy, Haavik đã nảy sinh tình yêu với một tù binh chiến tranh người Nga tên là Vladimir Kozlov, người cô chăm sóc khi là y tá trong một bệnh viện thời kì Na Uy bị phát xít Đức chiếm đóng. Sau chiến tranh, năm 1947, Haavik được cử tới làm việc ở Đại sứ quán Na Uy tại Moscow, nơi cô gặp lại Kozlov, khi ấy đã lập gia đình. Mối quan hệ này bị cơ quan an ninh Liên Xô thời kì đó là MGB, Bộ An ninh Quốc gia, hậu duệ của NKVD và tiền thân của KGB, chú ý. Đến năm 1950 thì Haavik chính thức được tuyển mộ làm một điệp viên của Liên Xô mang bí danh Vika. Khi trở về Na Uy vào năm 1956, Haavik được mang bí danh mới là Greta.
Trong suốt hai mươi bảy năm hoạt động cho tình báo Liên Xô, Haavik đã thực hiện hơn 250 cuộc gặp với lần lượt tám sĩ quan KGB điều khiển mình, trao cho tình báo Liên Xô hàng ngàn tài liệu mật và tuyệt mật. Từ năm 1975, phản gián Na Uy bắt đầu để ý và theo dõi Haavik, nhưng không thể nào tìm kiếm được bằng chứng xác thực để khẳng định nghi ngờ của mình.
Thông tin do O. Gordievsky chuyển cho tình báo Anh thông qua Andrew đã có ý nghĩa quyết định trong việc kết thúc quá trình theo dõi Haavik. Buổi tối ngày 27-1-1977, trong khi gặp sĩ quan điều khiển Alekxandr Kirilovich Printsipalov trên một con phố ở ngoại ô thủ đô Oslo của Na Uy, Haavik bị bắt giữ cùng với A. Printsipalov. Trong túi của A. Printsipalov có một phong bì đựng 2.000 krone, loại đồng 100 krone tiền Na Uy.
Trong những giờ đầu tiên sau khi bị bắt, Haavik chỉ thừa nhận mình yêu Kozlov và gặp nhà ngoại giao Liên Xô nhờ chuyển một bức thư cho người yêu.
Nhưng sau đó, Haavik tuyên bố: “Tôi là điệp viên của Liên Xô trong gần ba mươi năm”.
Sáu tháng sau, Haavik chết trong nhà tù Na Uy do một cơn đau tim khi chưa kịp ra tòa. Sau vụ này, phía Na Uy trục xuất sáu nhà ngoại giao Liên Xô, trong đó có A. Printsipalov. Đáp lại, phía Liên Xô trục xuất ba nhà ngoại giao Na Uy.
Haavik không phải là điệp viên duy nhất của KGB hoạt động ở Na Uy mà O. Gordievsky đã báo cho phía Anh để người Anh giúp phản gián Na Uy xử lí. Còn một “con cá to” khác cũng bị Na Uy phát hiện nhờ những thông tin mật do O. Gordievsky cung cấp.
Khi làm việc ở Trạm Copenhagen, cũng thông qua điệp viên KGB Vadim Cherny, O. Gordievsky biết rằng còn có một điệp viên khác của KGB quan trọng hơn cả Haavik, cũng làm việc trong Bộ Ngoại giao Na Uy. O. Gordievsky không biết rõ tên tuổi cũng như các chi tiết về điệp viên này, chỉ biết rằng anh ta từng làm việc trong lĩnh vực báo chí. Chỉ như thế là đủ. Khi được người Anh chuyển lại những thông tin do O. Gordievsky cung cấp, phản gián Na Uy nhanh chóng thu hẹp phạm vi các đối tượng và cuối cùng, khoanh vùng lại ở một người, Ame Treholt, một trong những điệp viên quan trọng bậc nhất của KGB ở địa bàn Bắc Âu.
Vào thời điểm Haavik bị bắt giữ, A. Treholt mới ba mươi lăm tuổi, là một trong những nhà chính trị trẻ tuổi đang lên của Công Đảng Na Uy. Bố của A. Treholt là Bộ trưởng Nông nghiệp trong chính phủ Công Đảng. Ngay từ khi còn là sinh viên nghiên cứu khoa chính trị học, A. Treholt đã gia nhập Công Đảng. A. Treholt có quan điểm nghiêng về cánh tả từ khi còn rất trẻ, thái độ bài Mỹ rõ rệt, phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Vào cuối thập niên 60, A. Treholt đã tham gia tổ chức chiến dịch chống lại cuộc đảo chính quân sự đẫm máu do Mỹ ủng hộ, lập nên chính quyền độc tài quân sự ở Hy Lạp dưới tên gọi “chính quyền của các đại tá”.
Cũng vào thời gian cuối những năm 60, A. Treholt làm phóng viên cho tờ báo của Công Đảng Na Uy, có nhiều bài tố cáo các hoạt động của CIA.
Lọt vào tầm ngắm của KGB, A. Treholt bắt đầu có các cuộc tiếp xúc thông thường với nhân viên sứ quán Liên Xô. Nhiều người trong số này là điệp viên của KGB. Yevgeni Belyayev, sĩ quan KGB có tới mười lăm cuộc gặp với A. Treholt trong ba năm, từ 1968 đến 1971, đã thành công trong việc thuyết phục Trehold nhận những món tiền thù lao cho những thông tin không mấy quan trọng. Năm 1971, trước khi khi rời Oslo, trong bữa tiệc chia tay ở quán ăn Coq d’Or, Y. Belyayev giới thiệu A. Treholt với một người bạn của mình là Gennadi Fyodorovich Titov. Mang mật danh The Crocodile - Cá sấu - G. Titov là điệp viên KGB phụ trách hoạt động trên địa bàn Na Uy từ 1972 đến 1977.
Năm 1973, A. Treholt trở thành trợ lí riêng cho Bộ trưởng Thương mại Na Uy, sau đó trở thành Thứ trưởng Bộ Pháp luật và biển, tham gia đàm phán với Liên Xô về Hiệp ước phân chia thềm lục địa khu vực biển Barents. Ở cương vị này, A. Treholt có khả năng tiếp cận được với các tài liệu mật của nội các Na Uy.
Do công việc, A. Treholt đã có hai lần đi thăm Liên Xô. Ở Moscow, KGB chính thức tiếp cận và tuyển mộ thành công A. Treholt bắt đầu làm việc cho Liên Xô từ năm 1975. Sĩ quan KGB G. Titov đang hoạt động ở Na Uy tiếp tục là người điều khiển A. Treholt.
Khi xảy ra vụ bắt giữ nữ điệp viên Haavik vào năm 1977, G. Titov nằm trong số những người bị chính quyền Na Uy trục xuất. Quay về Moscow, trong hai năm sau đó, G. Titov giữ cương vị trợ lí đặc biệt cho Tổng cục trưởng Tổng cục Một Kryuchkov. Nhận thức rõ giá trị của tài sản quý giá mà mình để lại ở Oslo, G. Titov đề xuất tiếp tục tham gia điều khiển A. Treholt và được Kryuchkov đồng ý. Các cuộc tiếp xúc được tổ chức ở Vienna, thủ đô Áo và Helsinki, thủ đô Phần Lan. Đây là hai thành phố luôn được các sĩ quan KGB ưa thích tổ chức các cuộc gặp với điệp viên của mình, bởi Áo là quốc gia trung lập, trong khi Phần Lan không bắt buộc các quan chức Xô viết phải có thị thực mới được nhập cảnh. Đi cùng G. Titov trong các cuộc gặp với A. Treholt này thường có hai sĩ quan KGB khác là Vladimir Zhizhin và Alexander Lopatin.
Nhưng kể từ năm 1977, khi O. Gordievsky báo cho phía Anh những thông tin sơ bộ về A. Treholt thì người này đã bị cơ quan phản gián Na Uy đặt trong tầm giám sát một cách chặt chẽ. Năm 1978, A. Treholt được bổ nhiệm làm thành viên của phái đoàn Na Uy tại Liên hợp quốc, trong thời gian Na Uy là thành viên của Hội đồng Bảo an. Người điều khiển A. Treholt ở New York là điệp viên KGB V. Zhizhin, hoạt động dưới vỏ bọc là nhân viên phái đoàn thường trực của Liên Xô tại Liên Hợp quốc.
Phản gián Na Uy đã thông báo cho phía Mỹ biết về A. Treholt và trong suốt bốn năm, từ 1978 đến 1982, nhà ngoại giao Na Uy làm việc cho KGB bị FBI theo dõi chặt chẽ.
Trở về từ New York, trong hai năm 1982 và 1983, A. Treholt theo học một khóa tại Học viện cao cấp của Bộ Quốc phòng Na Uy, nơi có thể tiếp cận được với những tài liệu tối mật của NATO.
Đầu năm 1984, A. Treholt được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Báo chí và thông tin của Bộ Ngoại giao Na Uy, là người phát ngôn chính thức của chính phủ trong chuyến thăm Na Uy của Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ khi ấy là George Shultz.
Buổi sáng thứ sáu, ngày 20-1-1984, sau khi Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ G. Shultz đã rời đi, A. Treholt tới phi trường Fomebu ở thủ đô Oslo để bắt chuyến bay 12 giờ 45 phút trưa đi Vienna. Một cuộc gặp với G. Titov đã được ấn định ở đó. Nhưng trước khi lên máy bay, A. Treholt bị Ørnulf Tofte, Phó Giám đốc Cơ quan phản gián Na Uy bắt giữ. Trong cặp của A. Treholt khi ấy có 66 tài liệu mật của Bộ Ngoại giao Na Uy.
Trong phiên tòa xử kín diễn ra sau đấy một năm, các công tố viên Na Uy kết tội A. Treholt đã nhận hơn một triệu krone từ KGB để bán các bí mật cho Liên Xô. Người đứng đầu các lực lượng vũ trang Na Uy cho rằng những tổn thất mà A. Treholt gây ra cho Na Uy lớn gấp năm lần ngân sách quốc phòng! A. Treholt cũng bị cáo buộc nhận 500.000 krone để bán bí mật cho cơ quan tình báo Iraq.
A. Treholt bị kết án hai mươi năm tù giam.
Những thông tin mật mà O. Gordievsky trao cho phía Anh đã gây tổn thất to lớn cho KGB như thế.
Nhưng đó là chuyện về sau này. Còn ở thời điểm cuối những năm 70, O. Gordievsky tiếp tục giúp các cơ quan đặc vụ Bắc Âu phanh phui các điệp viên KGB hoạt động tại địa bàn này. Năm 1978, do tình cờ, O. Gordievsky biết được rằng hoặc KGB, hoặc GRU, hoặc cả hai cơ quan này phối hợp với nhau để điều khiển một điệp viên hoạt động tại Thụy Điển. Người này là thành viên của một tổ chức tình báo Thụy Điển, có thể là dân sự hoặc quân sự. O. Gordievsky báo cho phía Anh rằng cộng đồng tình báo Thụy Điển đã bị xâm nhập và người Anh báo lại cho Thụy Điển. Kết quả là phản gián Thụy Điền lần ra Stig Bergling, người từng làm việc trong một cơ quan an ninh dân sự rồi sau đó chuyển sang cơ quan quân sự. Vào thời điểm phía Anh nhận được thông tin của O. Gordievsky, Stig Bergling đang là thành viên lực lượng Gìn giữ hòa bình Liên Hợp quốc ở Israel. Với sự cộng tác của an ninh Israel, phản gián Thụy Điển bắt được Stig Bergling và mang về Stockholm. Đúng như O. Gordievsky dự đoán, Stig Bergling là “con lai” của cả KGB và GRU: Điệp viên này do KGB tuyển mộ nhưng sau đó chuyển lại cho GRU điều khiển hoạt động trên địa bàn Trung Đông.
Tại địa bàn Đan Mạch, nơi O. Gordievsky chính thức hoạt động, KGB không có được một điệp viên nào tầm cỡ như Haavik hay Treholt. Chỉ duy nhất có một viên cảnh sát béo bệu làm việc tại Cục Nhập cư Đan Mạch do Tuyến KR điều khiển, hoạt động như một điệp viên cho KGB. Với thông tin do O. Gordievsky cung cấp, an ninh Đan Mạch dễ dàng vô hiệu hóa viên cảnh sát này.
Sau dịp lễ Phục sinh năm 1978 là đến thời hạn kết thúc nhiệm kì hoạt động của O. Gordievsky ở Đan Mạch. Viên sĩ quan KGB, lúc này đã là một điệp viên hoạt động lâu năm cho tình báo Anh, phải quay về Liên Xô. Cả O. Gordievsky và cô vợ Yelena đều muốn khi về tới Moscow, cả hai nhanh chóng kết thúc cuộc hôn nhân không mấy dễ chịu của họ. Tuy nhiên, đều là những nhân viên hoạt động cho KGB, việc li dị không phải là chuyện dễ dàng. KGB không đánh giá cao các nhân viên trong bộ máy của mình có một đời sống gia đình trục trặc để đến nỗi phải ra tòa li hôn. Việc li hôn này sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến con đường sự nghiệp của cả hai.
Nhưng O. Gordievsky có một điều an ủi nho nhỏ. Mikhail Lubimov, người đứng đầu trạm KGB Copenhagen, rất có thiện cảm với anh ta. Trong những báo cáo gửi về trung tâm, M. Lubimov đều dành những nhận xét rất tốt đẹp về hoạt động của O. Gordievsky ở Copenhagen. Với những lời nhận xét tốt đẹp ấy, vị trí công tác mới của O. Gordievsky có thể sẽ là Phó ban 3 thuộc Tổng cục Một KGB, phụ trách địa bàn Scandinavia và Phần Lan, cũng có thể sẽ là người đứng đầu trạm KGB ở Stockholm hoặc Oslo, hay biết đâu đấy, lại phụ trách chính trạm Copenhagen cũng chưa biết chừng.
+++++


Trở lại Moscow vào dịp sau lễ Phục sinh 1978, O. Gordievsky một lần nữa rơi vào cảnh ăn không ngồi rồi, không được phân công công việc một cách rõ rệt. Trong thời gian đầu, một sự kiện không mấy dễ chịu xảy ra khiến O. Gordievsky một phen hoảng hốt. Một buổi sáng, Trưởng ban 3 Viktor Fyodorovich Grushko bất ngờ triệu tập các sĩ quan chỉ huy trong Ban, gồm bảy người, bao gồm cả ông ta. Tại cuộc gặp, bằng một giọng nói nhấn mạnh hết cỡ sự nghiêm trọng của tình hình, V. Grushko thông báo rằng sau vụ bắt giữ điệp viên KGB Haavik ở Na Uy, Ban 3 đã chuyển những hồ sơ liên quan đến vụ bắt giữ này cho điệp viên huyền thoại Harold Kim Philby, khi ấy đang ngồi nhàn ở Tổng hành dinh KGB, nghiên cứu. Trên những hồ sơ này, tên tuổi cũng như quốc tịch của Haavik bị xóa đi để Kim Philby không biết đó là ai. Dựa trên chính kinh nghiệm của mình, sau khi xem xét kĩ càng, Kim Philby đi tới kết luận rằng vụ bắt giữ chỉ có thể xảy ra nhờ một nguồn tin nằm ở đâu đó trong nội bộ KGB. Người đứng đầu Ban 3 nói với các nhân viên của mình trong cuộc gặp: “Có những dấu hiệu cho thấy KGB bị rò rỉ tin tức và kẻ thù đã nắm được thông tin của chúng ta”. Rồi V. Grushko nói thêm: “Nếu Philby nói đúng thì kẻ phản bội nằm ngay trong Ban của chúng ta, thậm chí đang ngồi trong căn phòng này!”
O. Gordievsky cảm thấy bủn rủn chân tay và phải lấy hết sức bình sinh để không lộ ra những dấu hiệu lo sợ bất thường. May cho O. Gordievsky là V. Grushko đã không thúc đẩy một cuộc tìm kiếm sâu hơn kẻ phản bội nằm trong Ban 3.
Chừng vài tháng sau đó, đến lượt Anatoli Semyonov, một chuyên gia về các vấn đề liên quan đến Bắc Cực, bóng gió với O. Gordievsky về khả năng rò rĩ tin tức trong nội bộ KGB. “Cậu biết không”, A. Semyonov nói, “từ năm 1973, chúng ta đã đặc biệt quan tâm đến các vấn đề liên quan đến Bắc Cực và KGB là lực lượng chủ yếu trong việc duy trì khu vực Bắc Băng Dương cũng như các vùng lãnh thổ xung quanh như là vùng lãnh thổ chiến lược của Liên bang Xô viết. Mọi kế hoạch liên quan đến vấn đề này đều thuộc dạng tuyệt mật, nhưng trong những năm gần đây, chúng ta có cảm giác như phương Tây biết quá nhiều về các chiến dịch của chúng ta. Đó chẳng phải là điều lạ lùng sao?”
Rất có thể A. Semyonov nói chuyện đó với O. Gordievsky chỉ vì anh ta coi O. Gordievsky là một chuyên gia về Đan Mạch, nhưng riêng điều đó cũng đã khiến ruột của viên sĩ quan KGB phản bội quặn lên vì lo lắng. Na Uy đóng một vai trò cực kì quan trọng đối với khu vực Bắc Cực và O. Gordievsky biết rằng chính điệp viên A. Treholt hoạt động ở Na Uy đã cung cấp nhiều thông tin vô cùng hữu ích cho tình báo Xô viết. Trong thời kì ở Đan Mạch, bản thân O. Gordievsky cũng đã cung cấp cho người Anh vô số tài liệu mật, một số ở dạng khẩu ngữ, một số dưới dạng văn bản, về chính sách của KGB đối với Bắc Cực. Điều này khiến O. Gordievsky vô cùng lo lắng.
Trong thời gian quay về Moscow lần này, O. Gordievsky tuyệt đối không liên lạc với người Anh. O. Gordievsky biết rằng các địa điểm liên lạc vẫn thường xuyên được tình báo Anh giám sát, nhưng O. Gordievsky quyết định là phải đợi đến khi có những thông tin rõ ràng về việc KGB kết luận chuyện có bị xâm nhập hay không thì mới có thể tiến hành kết nối với người Anh. O. Gordievsky biết rằng chỉ riêng Tổng cục Bảy KGB chịu trách nhiệm giám sát ở Moscow đã có tới khoảng 1.000 nhân viên, chưa kể khoảng 500 nhân viên ở bộ phận vùng Moscow, liên tục thực hiện giám sát ngày đêm các biểu hiện đáng ngờ. Liên lạc với tình báo Anh ở Moscow, vì thế, sẽ vô cùng mạo hiểm.
Thêm nữa, O. Gordievsky bắt đầu tìm kiếm những cơ hội để lại ra nước ngoài công tác, có thể là địa bàn Anh quốc. Muốn vậy thì trước hết phải được luân chuyển sang bộ phận Anh quốc trong Ban 3. Đây là một công việc không dễ dàng gì vì các nhân viên ở bộ phận này đều luôn giữ khoảng cách với những người còn lại trong Ban.
Rất may là O. Gordievsky có quan hệ khá thân tình với Phó ban 3 Dmitri Svetanko. Nhưng riêng với người phụ trách địa bàn Anh, Igor Titov, mới ba mươi lăm tuổi, tính nết luôn quạu quọ, thì O. Gordievsky phải tìm mọi cách để tiếp cận, thoạt đầu là qua những bữa ăn trưa ở căng tin cơ quan.
O. Gordievsky đăng kí theo học khóa đào tạo tiếng Anh do Tổng cục Một tổ chức, đồng thời trau dồi vốn liếng tiếng Anh bằng cách dịch những báo cáo của điệp viên Kim Philby từ tiếng Anh sang tiếng Nga. Trong những báo cáo này, Kim Philby sử dụng một thứ tiếng Anh cầu kì, với kết cấu ngữ pháp khá rắc rối, phức tạp. Việc dịch những báo cáo này giúp cho O. Gordievsky khả năng thấu hiểu những nét tinh tế trong việc sử dụng ngôn ngữ của giới thượng lưu nước Anh. Mặc dù chưa một lần gặp Kim Philby nhưng O. Gordievsky cảm thấy người điệp viên đào thoát từ nước Anh hết sức hữu ích trong việc giúp mình đến gần hơn với nước Anh!
Đến mùa hè năm 1981, O. Gordievsky tốt nghiệp khóa đào tạo tiếng Anh của KGB với kết quả không đến nỗi nào.
Cũng trong thời gian này, vụ li dị giữa O. Gordievsky với người vợ Yelena được giải quyết dứt khoát. Tháng giêng năm 1979, O. Gordievsky và Leila làm một lễ cưới giản dị. Tháng 4-1980, cô con gái đầu Maria ra đời và đến tháng 9-1981, hai người có với nhau cô con gái thứ hai, Anna.
Trong thời gian chờ đợi cơ hội và cũng không có nhiều việc để làm, O. Gordievsky đăng kí vào học viện tình báo mang tên Giám đốc KGB Andropov và tốt nghiệp sau khóa học kéo dài bảy tháng.
Đến mùa thu năm 1981, Đại sứ quán Liên Xô ở London có chỗ trống, một chân tổng lãnh sự. Đảm đương vị trí này phải là người có kinh nghiệm, đồng thời lại phải làm việc dưới vỏ bọc một nhân viên của Bộ Ngoại giao. Mặc dù là một vị trí đáng thèm muốn nhưng vì nhiều lí do, có rất ít nhân viên KGB thích hợp với vị trí này. Một trong những người đó là Viktor Kubeykin, đã từng hoạt động ở địa bàn Anh trong những năm 70, có nhiều mối quan hệ với các thành viên Công Đảng Anh cũng như Hiệp hội Thương mại của xứ sương mù. Nhưng khi Bộ Ngoại giao Liên Xô xin cấp thị thực cho V. Kubeykin thì Văn phòng đối ngoại của Anh ở London, rõ ràng muốn tạo thuận lợi cho điệp viên của mình ở Moscow, đã từ chối cấp thị thực nhập cảnh cho V. Kubeykin.
Chỉ còn mỗi O. Gordievsky là phương án khả dĩ nhất cho vị trí còn trống ở sứ quán Liên Xô tại London.
Quá trình làm giấy tờ đi London của O. Gordievsky kéo dài trong suốt gần một năm trời. Mãi đến ngày 28-6-1982, O. Gordievsky mới đặt được vé máy bay cùng vợ và hai con đi London.
Phía trước là nước Anh, với chiến dịch tuyệt mật RYaN đang đợi.
+++++
Trước đấy, vào tháng 5-1981, một cuộc họp bí mật đã diễn ra giữa Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev và các nhà lãnh đạo chủ chốt của KGB, đứng đầu là Giám đốc KGB Yuri Andropov. Trong bối cảnh cuộc Chiến tranh Lạnh đang căng thẳng, Giám đốc KGB Yuri Andropov đã thông báo với nhà lãnh đạo Xô viết rằng rất có khả năng Mỹ đang bí mật chuẩn bị cho một đòn tiến công hạt nhân nhằm vào Liên Xô.
Một báo cáo của KGB trong năm 1981 cho thấy KGB đã tiến hành những biện pháp tăng cường các hoạt động tình báo nhằm tránh khả năng Liên Xô bị sụp đổ trước một đòn tiến công hạt nhân bất ngờ của kẻ thù.
Để tránh nguy cơ này, KGB cần thu thập mọi thông tin về chiến lược, các hoạt động quân sự của kẻ thù cũng như các kế hoạch chính trị của “bè lũ đế quốc và các đồng minh của chúng”.
Một trong những nỗ lực đó hiển hiện dưới một chiến dịch mật phối hợp giữa KGB và GRU mang mật danh RYaN, là tên viết tắt theo tiếng Nga của “đòn tiến công (bằng) tên lửa hạt nhân”. Có thể nói, RYaN là một trong những chiến dịch tình báo lớn nhất, phức tạp nhất trong lịch sử mà phía Liên Xô triển khai trong thời bình.
Tất cả các điệp viên hoạt động hải ngoại của Liên Xô được huy động cho chiến dịch RYaN với nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu: Tìm kiếm, phát hiện và xác minh những dấu hiệu của một đòn tiến công hạt nhân từ Mỹ và phương Tây nhằm vào Liên Xô.
Thật ra, KGB lo ngại không phải là không có lí do.
Từ giữa tháng 2-1981, phía Mỹ đã tiến hành hàng loạt chiến dịch bí mật nhằm “thử nghiệm” khả năng xâm nhập sâu vào cả vùng biển và vùng trời Liên Xô. Hải quân Mỹ sử dụng tàu ngầm có khả năng “tàng hình” vượt qua các vùng nước nằm giữa Anh với đảo Greenland và Iceland để tiến sâu vào vùng biển Barents, biển Na Uy, kể cả xâm nhập vào Biển Đen và biển Baltic giáp giới Liên Xô. Mục tiêu của những chiến dịch này nhằm xác định xem liệu các tàu chiến của NATO có thể tiếp cận sát đến mức nào các căn cứ quân sự của Liên Xô.
Trong khi đó, không quân Mỹ sử dụng chiến thuật gây đau tim là hằng tuần cử các phi đội máy bay ném bom bay thẳng về hướng không phận Liên Xô; chỉ đến phút cuối cùng, trước khi máy bay vào vùng trời Liên Xô và các hệ thống radar của phía Xô viết đã phát tín hiệu báo động, các máy bay này mới quay ngoắt lại để trở về căn cứ. Mục đích của chiến thuật này cũng không gì khác là nhằm kiểm tra hệ thống radar của phía Liên Xô và chuẩn bị cho khả năng tiến hành một cuộc chiến tranh hạt nhân.
Ngay từ khi vào Nhà Trắng từ đầu năm 1981, Tổng thống Ronald Reagan đã không giấu giếm lập trường khá hiếu chiến nhằm vào Liên Xô, mà ông ta cho là đối thủ nguy hiểm nhất trong Chiến tranh Lạnh. Người ta đã chứng kiến xu hướng xây dựng một lực lượng quân sự lớn nhất thời bình trong lịch sử nước Mỹ dưới thời chính quyền của Tổng thống R. Reagan.
Ngày 8-3-1983, Tổng thống Mỹ R. Reagan gọi Liên bang Xô viết là “đế chế tội lỗi”. Đến ngày 23-3-1983, Tổng thống R. Reagan chính thức công bố một chiến lược mới đầy tham vọng mang tên Sáng kiến phòng thủ chiến lược, được giới truyền thông đặt cho mĩ danh là Chiến tranh giữa các vì sao. Trong khi Tổng thống R. Reagan mô tả chiến lược này như một hệ thống phòng thủ nhằm đảm bảo cho nước Mỹ có thể an toàn sau một cuộc chiến tranh hạt nhân thì các nhà lãnh đạo Liên Xô coi sáng kiến này là sự khởi đầu cho cuộc chạy đua vũ trang vào không gian vũ trụ. Nhà lãnh đạo Xô viết Yuri Andropov, cựu Giám đốc KGB, khi ấy đã trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô sau cái chết của Leonid Brezhnev vào tháng 11-1982, chỉ trích Tổng thống R. Reagan về việc mà ông gọi là “khởi động kế hoạch mới với hi vọng sẽ chiến thắng trong một cuộc chiến tranh hạt nhân”.
Đến tháng 4-1983, phía Mỹ tiến hành cuộc tập trận mang mật danh FleetEx 83 ở vùng biển Bắc Thái Bình Dương. Đây là cuộc tập trận hải quân lớn nhất cho đến thời điểm đó với việc Mỹ huy động 23.000 binh lính, 300 máy bay cùng 40 tàu chiến các loại, một cuộc tập trung lực lượng hải quân lớn chưa từng thấy. Mục tiêu của cuộc tập trận là kích động những phản ứng của phía Liên Xô, qua đó các cơ quan tình báo Mỹ có thể thăm dò khả năng hoạt động của máy bay, hệ thống radar và cả chiến thuật của phía Liên Xô trong tình huống khủng hoảng. Vào ngày 4-4-1983, ít nhất sáu máy bay của hải quân Mỹ xuất phát từ các hàng không mẫu hạm USS Midway và USS Enterprise đã bay qua vùng đảo Kuril và Zeleny do phía Liên Xô kiểm soát. Phía Liên Xô lập tức đáp trả bằng việc cho máy bay thực hiện chuyến bay qua vùng quần đảo Aleutian do Mỹ kiểm soát, đồng thời trao công hàm ngoại giao chính thức phản đối việc Mỹ thường xuyên thực hiện các chuyến bay xâm nhập vào không phận Liên bang Xô viết.
Ngày 1-9-1983, không khí của cuộc chiến cân não giữa Mỹ và Liên Xô lên đến căng thẳng đỉnh điểm với việc chiếc máy bay dân dụng Boeing 737 mang số hiệu 007 của hãng hàng không Korean Air (KAL007) bị một máy bay tiêm kích Su-15 của phía Xô viết dùng hai tên lửa không đối không K-8 (NATO gọi là AA-3 “Anab”) bắn hạ trên vùng biển Nhật Bản, gần đảo Moneron, phía tây đảo Sakhalin, do xâm phạm vùng không phận cấm bay của Liên Xô. Toàn bộ 269 hành khách cùng nhân viên phi hành đoàn đều thiệt mạng. Phía Liên Xô cáo buộc chiếc máy bay này “được sử dụng với mục đích gián điệp, xâm nhập trái phép sâu hàng trăm cây số vào vùng lãnh thổ Xô viết và phớt lờ mọi tín hiệu cảnh báo của các máy bay quân sự được cử lên ngăn chặn nhằm thử nghiệm hệ thống phòng không trên bán đảo Kamchatka và đảo Sakhalin, thậm chí được dùng như một cái cớ để kích động gây ra chiến tranh”.
Vụ bắn hạ chiếc máy bay dân dụng của Hàn Quốc làm dấy lên tâm lí chống Liên Xô mạnh mẽ ở Mỹ, đặc biệt là trong số các chính khách diều hâu. Các chiến dịch tuyên truyền chống Liên Xô được tăng cường và Tổng thống R. Reagan là người mạnh miệng nhất. Trong một tuyên bố đưa ra năm ngày sau khi xảy ra vụ việc, Tổng thống R. Reagan đã gọi đây là một vụ “thảm sát”, “một tội ác chống nhân loại không thể bị quên lãng”.
Trong bối cảnh ấy thì NATO lại tiến hành cuộc tập trận mang mật danh Able Archer 83.
+++++
Cuộc tập trận Able Archer 83 theo kế hoạch của NATO diễn ra trong bốn ngày, từ ngày 8 đến ngày 11-11-1983. Cuộc tập trận dựa trên tình huống giả định rằng các lực lượng Xanh (của NATO) sẽ chiến đấu bảo vệ đồng minh trước một cuộc tấn công của lực lượng Da Cam (là lực lượng của các nước thuộc Hiệp ước Warsaw). Đây là cuộc diễn tập chỉ huy, kiểm soát và thông tin, nhằm diễn tập chiến thuật điều động binh sĩ và khí tài quân sự trong tình huống bị tấn công.
Theo kịch bản của cuộc diễn tập, do không ngăn chặn được đà tiến quân của lực lượng Da Cam, ngày 8-11, lực lượng Xanh phải triển khai các tên lửa hạt nhân hạn chế để tấn công vào các mục tiêu của Da Cam đã được lựa chọn trước đó. Khi lực lượng tên lửa hạt nhân hạn chế vẫn không ngăn chặn được lực lượng Da Cam, ngày 9-11-1983, Bộ Chỉ huy tối cao quân Đồng minh ở châu Âu (SACEUR) yêu cầu triển khai tên lửa hạt nhân. Đến chiều 10-11, yêu cầu này được chấp thuận và tên lửa hạt nhân sẽ được triển khai vào sáng 11-11, cũng đồng thời là lúc kết thúc tập trận.
Able Archer 83 diễn ra trong lúc bầu không khí Chiến tranh Lạnh tột độ căng thẳng với những vụ việc xảy ra trước đó. Các nhà lãnh đạo Xô viết cho rằng vị tổng thống hiếu chiến Hoa Kỳ, Ronald Reagan, có thể sẽ bấm nút hạt nhân để thực hiện mục tiêu biến Liên Xô trở thành “đống tro tàn của lịch sử”, theo như lời tuyên bố của ông ta trong bài phát biểu trước Hạ viện Anh ngày 8-6-1982.
Thêm vào đó, tình báo Liên Xô lại chặn bắt được các tín hiệu vô tuyến giữa Mỹ và Anh, cho thấy lực lượng NATO sẽ tiến hành điều động các tên lửa hạt nhân trong quá trình diễn ra cuộc tập trận. Mặt khác, cuộc tập trận Able Archer 83 sẽ trải qua cả năm cấp độ báo động từ 5 đến 1, mà theo đánh giá của tình báo Liên Xô thì cấp độ báo động 1 cao nhất chỉ có thể xảy ra trong trường hợp quân đội Mỹ cho rằng một cuộc chiến tranh là không thể tránh khỏi. Ngay cả trong thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba cực kì căng thẳng vào tháng 10-1962, Bộ Chỉ huy Không quân chiến lược Mỹ cũng mới chỉ ban hành cấp độ báo động da cam là mức 2.
Thế nên khi NATO tiến hành cuộc tập trận Able Archer 83, toàn bộ điệp viên Liên Xô hoạt động trên các địa bàn hải ngoại tham gia chiến dịch RYaN được lệnh khẩn cấp thu thập mọi thông tin tình báo liên quan đến cuộc tập trận. Các nhà lãnh đạo Xô viết khi ấy hoàn toàn tin rằng cuộc tập trận thật ra chỉ là bình phong để NATO chuẩn bị giáng đòn tiến công hạt nhân thật sự nhằm vào Liên Xô cùng các đồng minh của mình.
Dựa trên ý tưởng đó nên các máy bay của Liên Xô ở Cộng hòa dân chủ Đức và Ba Lan được lệnh lắp các vũ khí hạt nhân và đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Ở Ba Lan, Tập đoàn quân số 4 được lệnh tăng tốc độ lắp ráp các vũ khí hạt nhân lên máy bay với thời gian tối đa 25 phút cho một đơn vị vũ khí và 40 phút cho hai đơn vị vũ khí. Các đơn vị quân đội Liên Xô ở quân khu Baltic và đóng quân trên đất Tiệp Khắc được lệnh báo động. Khoảng 70 tên lửa tầm trung SS-20 mang đầu đạn hạt nhân sẵn sàng rời bệ phóng. Các tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân của Liên Xô cũng được lệnh lặn sâu bên dưới các lớp băng dày của Bắc Cực để tránh sự phát hiện của đối phương, sẵn sàng cho đòn giáng trả.
Theo đánh giá của phía Liên Xô, những tên lửa hạt nhân Pershing II của Mỹ được triển khai từ năm 1979 sát với đường biên của khối Warsaw chỉ cần sáu phút là đã có thể đánh trúng các mục tiêu quan trọng trên lãnh thổ Liên Xô nên cách tốt nhất để có thể sống sót sau một cuộc chiến tranh hạt nhân là phải tấn công trước.
Là người hoạt động ở địa bàn Anh trên hướng London, dĩ nhiên, O. Gordievsky được huy động tham gia vào chiến dịch RYaN. Trong suốt cả năm 1983, trạm KGB ở London bị Trung tâm Moscow “giội bom” với những đòi hỏi liên tục phải có thông tin để phục vụ cho chiến dịch RYaN. Nhiều khi, các điệp viên KGB nhận được những thông tin cho thấy không phải phương Tây có ý định tấn công phủ đầu Liên bang Xô viết, thế nhưng không ai dám mạo hiểm hi sinh sự nghiệp của mình để thông báo về Trung tâm những tin tức trái ngược với chiều hướng của chiến dịch RYaN.
O. Gordievsky xác định rằng các đồng nghiệp của mình trong KGB lo lắng bởi sự tương đồng trong năm 1983 với những gì đã xảy ra trong năm 1941, khi phát xít Đức bất thần tấn công khiến Liên Xô thiệt hại nặng nề trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh. Bởi thế nên các báo cáo của họ cũng đều nghiêng về hướng NATO đang chuẩn bị giáng đòn tiến công hạt nhân với vỏ bọc là cuộc tập trận Able Archer 83.
Do hiểu rõ bản chất của cuộc tập trận nên O. Gordievsky nhận biết tình hình đang cực kì nguy hiểm do sự đánh giá sai của các nhà lãnh đạo Xô viết, đồng thời phía NATO lại không có bất cứ động thái nào nhằm làm cho phía Liên Xô hiểu rằng thật ra đây chỉ là một cuộc tập trận bình thường. Các nhà hoạch định kế hoạch tập trận của NATO cho rằng phía Liên Xô, nếu để đáp trả cuộc tập trận Able Archer 83, cùng lắm cũng chỉ bằng một cuộc tập trận khác mà thôi, chứ không hề nghĩ rằng sự việc nghiêm trọng hơn nhiều.
Tuy nhiên, sự điều động các lực lượng hạt nhân của phía Liên Xô cho thấy họ cân nhắc nghiêm túc khả năng phát động trước một cuộc tiến công hạt nhân nhằm vào NATO trong thời gian diễn ra cuộc tập trận Able Archer 83. Cũng trong thời gian diễn ra cuộc tập trận, toàn bộ các điệp viên Liên Xô ở hải ngoại được lệnh thu thập mọi biểu hiện, dù là nhỏ nhất, của một đòn tiến công hạt nhân mà NATO sắp tiến hành để Liên Xô sẽ sớm ra quyết định trả đũa hay tấn công trước. Hai bên đang đi đến bờ vực của một cuộc chiến tranh hạt nhân, có thể là cuộc chiến tranh cuối cùng trên Trái Đất, mà không hề hay biết là do những đánh giá sai lầm của công tác tình báo và các nhà lãnh đạo chính trị cấp cao.
Tất cả những thông tin này được O. Gordievsky báo về MI6 và khi nó được chuyển tới Chánh văn phòng nội các Anh, Sir Robert Armstrong, rồi ông này báo cáo trực tiếp lên Thủ tướng Anh Margaret Thatcher thì nó đã khiến “Bà Đầm Thép” hoảng hốt. Khả năng Liên Xô mở đòn tiến công hạt nhân trước do hiểu sai bản chất của cuộc tập trận Able Archer 83 đã hiện hữu. Chỉ cần một tính toán sai của máy móc, một phản ứng bất cẩn của chỉ huy đơn vị tham gia tập trận cũng có thể đẩy hai bên vào cuộc chiến tranh hạt nhân mà sau nó thế giới sẽ chỉ còn là đống tro tàn.
Thủ tướng Anh lập tức thông báo cho phía Mỹ, đề nghị NATO nên thông báo cho Liên Xô biết rằng cuộc tập trận Able Archer 83 chỉ là cuộc tập trận thường lệ của NATO có sử dụng vũ khí hạt nhân mà thôi, chứ không phải là hành động chiến tranh thật sự.
Khi thông tin này tới chỗ R. Reagan, tổng thống Mỹ đã quyết định rút các vũ khí hạt nhân khỏi cuộc tập trận Able Archer 83, kể cả các tên lửa Pershing II mang đầu đạn hạt nhân trước đấy đã được bố trí sát đường biên các nước thuộc khối Hiệp ước Warsaw. “Làm sao mà họ (chỉ Liên Xô) lại có thể tin rằng cuộc tập trận là hành động chuẩn bị tiến công hạt nhân của chúng tôi được nhỉ!”, tổng thống Mỹ phàn nàn.
Thông tin tình báo của điệp viên nhị trùng O. Gordievsky đã giúp tháo ngòi nổ của một cuộc chiến có thể hủy diệt thế giới!
+++++
Trong năm 1984, với cương vị Tổng lãnh sự ở Đại sứ quán Liên Xô, công việc của O. Gordievsky ở trạm KGB London diễn ra khá bận rộn với cả hai vai điệp viên nhị trùng và nhà ngoại giao. Làm việc tại Trạm London giúp cho O. Gordievsky dễ dàng nối lại các mối liên hệ với tình báo Anh và đều đặn cung cấp cho người Anh những thông tin mật của sứ quán cũng như KGB.
Tháng 8-1984, trong thời gian về nghỉ phép ở Moscow, O. Gordievsky được triệu đến Tổng hành dinh KGB. Ở đây, O. Gordievsky gặp lại N. Gribin, người đã từng có thời gian làm việc ở Trạm KGB Copenhagen cùng với O. Gordievsky. Nay thì N. Gribin đã được bổ nhiệm làm Trưởng bộ phận Anh - Scandinavia trong KGB. N. Gribin cho O. Gordievsky biết ứng cử viên tiềm tàng cho vị trí phụ trách Trạm KGB London là Vitaly Yurchenko, người từng hoạt động ở Mỹ thời gian từ 1975 đến 1980 với cương vị sĩ quan an ninh tại sứ quán Liên Xô và chưa hề tham gia một chiến dịch tình báo nào ở nước ngoài.
N. Gribin cũng cho O. Gordievsky biết rằng ở thời điểm ấy, hầu như tất cả mọi thành viên ở Trung tâm KGB Moscow đều quan tâm đến một nhà chính trị tương đối trẻ tuổi nếu so với những tiêu chuẩn ở Liên Xô, ngôi sao đang lên có tên là Mikhail Gorbachev. Theo N. Gribin, KGB đã đi tới kết luận rằng M. Gorbachev là nhân vật đáng đánh cược để nắm vận mệnh quốc gia trong tương lai. Theo dự kiến, M. Gorbachev có kế hoạch thăm nước Anh vào dịp cuối năm. “Đó là lí do khi M. Gorbachev tới London, chúng tôi sẽ yêu cầu anh gửi cho chúng tôi những đánh giá tình hình tốt nhất để thông báo cho ông ấy”, N. Gribin nói với O. Gordievsky.
Trở lại London sau kì nghỉ, một sự việc bất ngờ xảy ra khiến cho O. Gordievsky có cơ hội nâng cao được uy tín trong con mắt của lãnh đạo KGB ở Trung tâm mà lại không làm tổn hại đến lợi ích phương Tây. Một ngày mùa thu năm 1984, một người phụ nữ đeo kính râm bước vào sứ quán Liên Xô ở London. Đấy là Svetlana Alliluyeva, hay còn gọi là bà Peters, con gái của Stalin, người hai mươi năm trước đã đào thoát sang phương Tây từ Ấn Độ. Sau hai mươi năm sống ở phương Tây, có vẻ như Svetlana đã chán ngán các giá trị của cuộc sống ở đây, với nạn tham nhũng, sự suy đồi và thói ngạo mạn vô liêm sỉ tràn lan. Svetlana đề nghị được cùng với cô con gái Olga quay về Liên Xô. Có lẽ Svetlana không muốn cô con gái của mình tiêm nhiễm lối sống phương Tây, vượt qua sự kiểm soát của mẹ, ngủ với bạn trai và làm quen với ma túy.
Xa Liên Xô khá lâu nên dần dần, Svetlana đã lí tưởng hóa đời sống ở quê hương mà không biết rằng trên thực tế, nó còn tệ hơn thời điểm mà cô ta đào thoát. Vào thập niên 60, nạn khan hiếm lương thực thực phẩm ở Liên Xô không trầm trọng bằng thời kì những năm 80. Vào thập niên 60 ấy, tham nhũng cũng ít hơn, hối lộ không nhiều bằng và những giá trị căn bản của danh dự vẫn được tôn trọng. Cho đến những năm 80 thì khoảng cách tụt hậu công nghệ giữa Liên Xô với phương Tây ngày càng rộng ra, trong khi những số liệu về tăng trưởng kinh tế đơn thuần chỉ là kết quả của những trò phù phép về con số thống kê.
Nhiệm vụ của sứ quán Liên Xô là làm cách nào để đưa Svetlana quay lại Liên Xô một cách an toàn. Việc trở lại của con gái Stalin sẽ chứng tỏ cho thế giới thấy là các giá trị sống ở Liên Xô đã chiến thắng các giá trị của phương Tây.
Trong những tuần lễ sau đó, Svetlana tới sứ quán Liên Xô tổng cộng bốn lần. Các nhân viên sứ quán hướng dẫn để Svetlana bán đi ngôi nhà mình đang ở và cách gửi tiền để khi về nước, có thể rút tiền từ ngân hàng tại Moscow.
O. Gordievsky báo cho các đặc vụ Anh biết về ý định của con gái Stalin, nhưng có vẻ như người Anh không hề có ý định giữ Svetlana ở lại; trái lại, họ thấy thoải mái để cô con gái của nhà cựu lãnh đạo Xô viết rời đi.
Việc Svetlana rời khỏi Anh không gặp phải bất cứ trở ngại nào. Là công dân Mỹ và danh chính ngôn thuận là bà Peters, nhân viên sứ quán chỉ việc mua vé máy bay cho Svetlana và con gái đi Sofia, Bulgaria, rồi từ đó quay về Moscow.
Ba năm sau, có lẽ hối hận về quyết định của mình, Svetlana viết một bức thư riêng thống thiết gửi cho nhà lãnh đạo Liên Xô khi ấy là M. Gorbachev, đề nghị cho phép mình được quay lại phương Tây.
Chuyến thăm nước Anh của M. Gorbachev, một trong những thành viên quan trọng nhất Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô vào thời điểm đó, bắt đầu từ ngày 15-12-1984. Vào các buổi tối, O. Gordievsky cùng đồng nghiệp KGB của mình phải chịu áp lực cực lớn là phán đoán về những nội dung mà phía Anh có thể sẽ đưa ra trong các cuộc gặp gỡ, hội đàm với M. Gorbachev vào sáng hôm sau. Dĩ nhiên không thể nào nắm được những thông tin đó qua các kênh thông thường được. Thế là O. Gordievsky liên lạc với các nhân viên tình báo Anh mà mình đang làm việc, đề nghị: “Này, liệu các ông có thể cho tôi biết những ý chính mà bà Thủ tướng Thatcher sẽ nói trong ngày hôm sau khi gặp lãnh đạo của chúng tôi không?”.
Phía Anh nhanh chóng cung cấp cho O. Gordievsky những thông tin cần thiết, trong đó có cả những ý chính mà Bộ trưởng Ngoại giao Anh sẽ trao đổi với “Bà Đầm Thép” trước khi có cuộc gặp và hội đàm với M. Gorbachev ngày hôm sau. O. Gordievsky cố gắng ghi nhớ càng nhiều càng tốt, sau đó quay về sứ quán, ngồi đánh máy lại, kết hợp với những thông tin trên báo chí Anh, sau đó chuyển cho người đứng đầu Trạm KGB là Nikitenko và đến lượt mình, người này sẽ thông báo ngắn gọn lại nội dung cho M. Gorbachev.
Chuyến thăm Anh của M. Gorbachev lẽ ra kéo dài năm ngày, nhưng sau phải rút ngắn xuống còn bốn ngày vì M. Gorbachev quyết định quay về sớm do cái chết bất ngờ của Nguyên soái Ustinov, một thành viên quan trọng khác trong Bộ Chính trị. Vài tuần sau, người đứng đầu Trạm KGB London là Nikitenko được Trung tâm Moscow thưởng huân chương vì đã tổ chức thành công chuyến thăm của lãnh đạo Liên Xô.
Không mấy ai biết là thành công của chuyến thăm chủ yếu là do O. Gordievsky cùng các nhân viên Cục Tình báo mật MI6 đã thực hiện việc cung cấp những thông tin thiết yếu cho nhà lãnh đạo tương lai của Liên Xô. Có lẽ cũng là lần đầu tiên trong lịch sử, tình báo Anh đã cung cấp thông tin trực tiếp cho người mà một thời gian ngắn sau đó sẽ là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô.
Chỉ vài tuần sau chuyến thăm Anh của M. Gorbachev, tháng 1-1985, O. Gordievsky được triệu hồi về Moscow để bàn với các lãnh đạo cấp cao trong KGB về khả năng sẽ được bổ nhiệm vào vị trí người đứng đầu Trạm KGB ở London. Đến cuối tháng 4-1985, người Anh quyết định trục xuất 5 nhân viên làm việc cho Tổng cục Tình báo quân đội Liên Xô GRU, trong đó có hai người trong quân đội và ba người khoác vỏ bọc dân sự. Cả đại sứ Liên Xô lẫn người đứng đầu tạm quyền Trạm KGB Nikitenko đều báo về Trung tâm Moscow rằng người Anh đã chọn thời điểm trục xuất các nhân viên tình báo Liên Xô để nhằm phá hoại ngày lễ mừng chiến thắng chủ nghĩa phát xít của nhân dân Liên Xô, 9-5.
Rồi đến cái buổi chiều thứ năm, ngày 16-5-1985, khi O. Gordievsky đang ngồi tại bàn làm việc trong văn phòng trạm KGB London, nhân viên mật mã mang đến cho anh ta bức điện triệu hồi về Moscow.
Những gì diễn ra sau đó ở Moscow đã thúc đẩy O. Gordievsky đi tới một quyết định mang tính sinh tử: Hoặc tìm cách thoát khỏi tử địa Moscow, hoặc chết.
+++++
O. Gordievsky biết chắc chắn KGB đã cài “rệp” nghe lén trong căn hộ của mình ở Moscow. Có thể có cả máy quay bí mật nữa. Để thực hiện kế hoạch trốn chạy thì việc trước tiên là phải báo cho người Anh biết tình trạng nguy hiểm mà O. Gordievsky đang gặp phải.
O. Gordievsky cực kì thận trọng, tránh mọi khả năng các máy quay bí mật có thể ghi lại hình ảnh khi tìm cách đọc bản hướng dẫn của tình báo Anh về các bước cần phải tiến hành khi trốn chạy. Có hai bản hướng dẫn khác nhau, được khéo léo mã hóa vào bìa cứng của hai cuốn tiểu thuyết tiếng Anh nom bề ngoài hoàn toàn vô hại. O. Gordievsky mang một trong những cuốn sách đó vào trong bếp, nhúng bìa vào loại hóa chất đặc biệt. Sau một lát, O. Gordievsky đã có thể khéo léo tách ra từ mặt trong để trắng của bìa cuốn sách bản hướng dẫn chi tiết kế hoạch trốn chạy. Sự đơn giản của kế hoạch khiến cho O. Gordievsky vững tâm được phần nào.
Để phát tín hiệu cảnh báo cho người Anh biết mình đang lâm vào tình trạng nguy hiểm, O. Gordievsky phải có mặt tại một góc phố nhất định lúc 7 giờ tối vào các ngày thứ ba, dưới một cột đèn trên vỉa hè, tay cầm chiếc túi nilon dùng để đựng hàng đi chợ hiệu Safeway. Tiếp đó, vào lúc 11 giờ trưa chủ nhật thứ ba kể từ đó, O. Gordievsky sẽ phải chuyển thông điệp viết tay qua một cuộc gặp chớp nhoáng với người Anh tại nhà thờ Thánh Basil trên Quảng trường Đỏ ở Moscow.
Không thể sử dụng những biện pháp liên lạc thông thường trong trường hợp này. Điện thoại sứ quán cũng như tại nơi ở của các nhà ngoại giao Anh chắc chắn bị cài “rệp” nghe lén. Tới thẳng sứ quán cũng không ổn bởi cảnh sát canh gác bên ngoài thực chất đều là nhân viên KGB. Tại khu Ngoại giao đoàn cũng tương tự.
Để tránh rủi ro, O. Gordievsky chép lại bản hướng dẫn chạy trốn bằng những kí tự mã hóa chỉ có mình anh ta hiểu lên một mẩu giấy rồi đốt bản hướng dẫn nguyên bản đi, sau đấy cho mẩu giấy vào trong một viên bi rỗng và giấu nó ở gara nơi anh ta gửi xe, cách nhà vài cây số. Ngay cả trong trường hợp căn hộ bị lục soát và cuốn tiểu thuyết có chứa bản hướng dẫn thứ hai bị phát hiện, O. Gordievsky vẫn còn trong tay bản hướng dẫn thứ nhất để tiến hành kế hoạch chạy trốn.
Vào ngày thứ ba, từ 4 giờ chiều, O. Gordievsky đã chuẩn bị để xuất hiện ở điểm hẹn. Thời tiết xấu, O. Gordievsky mặc áo choàng xám, đi giày ống màu đen, đội một chiếc mũ lưỡi trai bằng da đã mua trong thời gian công tác ở Đan Mạch. Đấy cũng là một dấu hiệu giúp người Anh dễ nhận biết ở điểm hẹn. Làm ra vẻ như đi mua hàng, O. Gordievsky mang theo hai cái túi nilon đựng hàng, bên trong có một tờ báo nhàu nát.
Chỉ cao có 1 mét 58, trông O. Gordievsky không hề nổi bật trong đám đông. Mới 47 tuổi nhưng đầu đã hói, O. Gordievsky sử dụng cái mũ da để che bớt đặc điểm dễ nhận biết này.
Khi ra khỏi tòa nhà nơi có căn hộ của mình, O. Gordievsky quyết định sử dụng các biện pháp nghiệp vụ đã được KGB đào tạo kĩ lưỡng để xác định xem có cái đuôi nào bám theo không, O. Gordievsky định sử dụng phương tiện giao thông công cộng nên đi bộ một đoạn chừng 500 - 600 mét tới một cửa hàng gần đó. Trên suốt đường đi, O. Gordievsky không một lần ngoái lại. Nguyên tắc cơ bản được KGB huấn luyện là phải tỏ vẻ hoàn toàn thư thái, không quan tâm xem có ai ở đằng sau hay không.
Vào một hiệu thuốc, tới quầy tiết kiệm, giả vờ quay về nhà, đi vào các khu chung cư rồi kiên nhẫn chờ trên các cầu thang xem có ai bám theo không, O. Gordievsky lặp đi lặp lại quy trình đó liên tục. Tiếp đó, O. Gordievsky lên một chiếc xe buýt, đi vài chặng, xuống xe, bắt một chiếc taxi chạy tới đồn cảnh sát giao thông như định hỏi thăm về chiếc xe của mình đang trong thời kì kiểm tra kĩ thuật, rồi lại tới khu nhà của cô chị gái Marina, làm ra vẻ như đến thăm chị nhưng không lên nhà mà chỉ đứng bên trong tòa nhà để quan sát qua cửa sổ xem có dấu hiệu nào bị bám theo hay không. Tiếp đó, O. Gordievsky lên tàu điện ngầm, đổi tuyến một lần, rồi sau ba tiếng đồng hồ sử dụng kĩ thuật phản theo dõi, O. Gordievsky xác định được chắc chắn mình không bị bám theo.
Cuối cùng O. Gordievsky cũng tới được nhà ga xe điện ngầm Kiyevskaya, rồi đi bộ tới điểm hẹn. Khi đứng dưới cột đèn trên vỉa hè vào lúc 7 giờ tối một chút, O. Gordievsky cực kì căng thẳng. Làm ra vẻ đang tìm một người bạn, O. Gordievsky đứng sát mép vỉa hè chỉ chừng ba, bốn phút, sau đó nhanh chóng rời đi. O. Gordievsky không thể biết chắc là liệu tình báo Anh có nhận biết được sự xuất hiện, cũng có nghĩa là tín hiệu cho thấy mình đang ở trong tình trạng nguy hiểm hay không, nhưng ít nhất là bước đầu tiên của kế hoạch chạy trốn đã được hoàn thành.
Vào ngày chủ nhật thứ ba sau đó, lại tiếp tục một quy trình phản theo dõi kéo dài ba tiếng đồng hồ trước khi O. Gordlevsky tới được Quảng trường Đỏ, nơi sẽ diễn ra cuộc tiếp xúc trực tiếp với nhân viên tình báo Anh. O. Gordievsky đi xuống một nhà vệ sinh ngầm dưới đất, sạch sẽ và rộng rãi. Vào trong một khoang vệ sinh, đóng cửa lại, ngồi trên bồn cầu, O. Gordievsky viết bằng những chữ cái in hoa trên một mẩu phong bì: “TÔI ĐANG BỊ NGHI NGỜ VÀ TRONG TÌNH TRẠNG CỰC KÌ TỒI TỆ. CẦN TRỐN CHẠY NGAY LẬP TỨC. CHÚ Ý ĐẾN BỤI PHÓNG XẠ VÀ TAI NẠN XE HƠI”.
Hai câu cuối, O. Gordievsky muốn cảnh báo cho người Anh biết hai biện pháp mà KGB thường hay sử dụng. Đó là rắc bụi phóng xạ vào giày của nghi can, cho phép KGB có thể dễ dàng lần theo dấu vết dù cho nghi can có đi bất cứ đâu; và dàn dựng các vụ đâm xe để can thiệp vào bất cứ một tiến trình nào.
Vo tròn mẩu giấy lại và ra khỏi nhà vệ sinh, để thêm một lần nữa chắc chắn là không bị bám theo, O. Gordievsky vào khu bách hóa tổng hợp GUM, một tổ hợp các tòa nhà lớn, nằm gần suốt chiều dài Quảng trường Đỏ, đối diện với Điện Kremlin. Sau khi đi loanh quanh hồi lâu, biết chắc đã an toàn, O. Gordievsky ra khỏi GUM và đi vào nhà thờ Thánh Basil.
Như chỉ dẫn, O. Gordievsky sẽ vào bên trong nhà thờ, theo cầu thang xoắn để đi lên tầng trên. Đối tượng mà O. Gordievsky tiếp xúc là một phụ nữ mặc đồ màu xám, cầm một vật gì đó cũng màu xám bằng cả hai tay. Trong hướng dẫn nói rằng khi đi lướt qua nhau trên cầu thang hẹp, O. Gordievsky sẽ phải chuyển rất nhanh mẩu giấy cho người phụ nữ đó.
Đến khi vào bên trong nhà thờ, O. Gordievsky mới nhận thấy cái mũ da mình đang đội trên đầu không hề phù hợp chút nào với khung cảnh ở đó. Không ai lại đội mũ khi ở bên trong một nhà thờ chính thống Cơ Đốc giáo Nga. Hơn nữa, thời tiết khi ấy rất nóng và mồ hôi túa ra đầy mặt O. Gordievsky. Nhưng do trong bản hướng dẫn đã quy định dấu hiệu nhận biết là chiếc mũ da nên O. Gordievsky vẫn cứ phải đội.
Rắc rối không dừng lại ở đó. Khi tới chân cầu thang xoắn để lên tầng trên, O. Gordievsky thấy tấm biển ghi dòng chữ: “TẦNG TRÊN ĐÓNG CỬA ĐỂ TRANG TRÍ LẠI”.
O. Gordievsky cảm thấy cực kì bối rối, không biết phải làm gì. Anh ta loanh quanh ở đó một lúc với hi vọng người mình tiếp xúc có mặt trong đám đông và sẽ nhanh chóng chuyển mẩu giấy cho cô ta.
Nhưng quanh đó không hề có một người phụ nữ nào mặc đồ xám. Sau chừng gần nửa tiếng loanh quanh, O. Gordievsky rời đi. Trên đường về nhà bằng tàu điện ngầm, O. Gordievsky xé mẩu giấy ra thành từng mảnh nhỏ rồi lần lượt ném chúng đi ở những chỗ khác nhau.
+++++
Trở về nhà, O. Gordievsky cảm thấy cô đơn hơn lúc nào hết giữa Moscow. Trước đấy, Leila cùng hai cô con gái Maria và Anna đã đi nghỉ hè ở nhà của cha mình trên bờ biển Caspian. Biết Leila là một cô gái sinh ra và lớn lên trong xã hội Xô viết, chắc chắn chịu ảnh hưởng của hệ thống giáo dục Xô viết, O. Gordievsky không dám mạo hiểm nói với vợ về việc mình đã cộng tác với người Anh do lo ngại Leila có thể tiết lộ thân phận thật của anh ta với nhà chức trách. Ở thời điểm chia tay vợ và hai con đi nghỉ hè, O. Gordievsky không biết chắc rằng mình có còn gặp lại họ nữa hay không.
O. Gordievsky ngồi điểm lại quá trình hoạt động như một điệp viên nhị trùng, gắng tìm ra đâu là kẽ hở khiến mình bị lộ. Kể từ năm 1974, trong suốt mười một năm, anh ta đã làm việc cho Cục Tình báo mật MI6, thời gian đầu ở Đan Mạch, sau đấy là ở Anh. Năm 1982, anh ta được bổ nhiệm chân Tổng lãnh sự tại sứ quán Liên Xô ở London, vỏ bọc là nhà ngoại giao nhưng bên trong là một điệp viên KGB. Trong hơn hai năm sống ở London, O. Gordievsky thường xuyên duy trì các mối tiếp xúc với tình báo Anh và cung cấp những thông tin mật cho MI6. KGB có vẻ đánh giá khá tốt công việc của O. Gordievsky, và mùa xuân 1985, anh ta hoạt động như quyền Chỉ huy Trạm KGB ở London, dự tính sẽ trở thành người đứng đầu chính thức trạm này vào mùa hè.
Nhưng rồi anh ta bất thần được triệu hồi về Moscow ngày 19-5-1985 với danh nghĩa để thảo luận việc bổ nhiệm làm người đứng đầu Trạm KGB London, O. Gordievsky xác định được căn hộ của mình đã bị KGB lục soát và anh ta bị nghi ngờ là kẻ phản bội. Một tuần sau đó, tại một nhà an toàn của KGB, anh ta bị đánh thuốc mê rồi chịu thẩm vấn. O. Gordievsky không biết chắc mình đã nói những gì trong cuộc thẩm vấn đó nhưng vẫn được phép tiếp tục làm việc trong KGB. Chỉ có điều là nhiệm kì công tác tại Anh của O. Gordievsky đã kết thúc và anh ta sẽ không được phép đi đâu cho tới đầu tháng 8-1985.
Việc KGB cho phép O. Gordievsky vẫn tiếp tục làm việc, trước đó còn đi nghỉ tại một khu an dưỡng của KGB, nói lên một điều rằng có thể họ vẫn chưa chắc chắn về sự phản bội của anh ta. Có thể nguồn tin tiết lộ về thân phận thật của O. Gordievsky chỉ có thể cung cấp những thông tin chung chung, chưa cụ thể về sự phản bội của viên sĩ quan KGB. Các đồng nghiệp trong KGB đang tiếp tục tìm kiếm những chứng cứ chắc chắn hơn để có thể kết tội O. Gordievsky. Cách duy nhất O. Gordievsky có thể đối mặt với nguy hiểm là gắng hết sức tỏ ra bình thường trong khi tìm cách thoát thân. Thời gian của anh ta không còn nhiều nữa.
O. Gordievsky ngồi ngẫm nghĩ và nhận ra rằng nguyên nhân của việc kết nối không thành công với người Anh là do sai lầm của chính mình. Anh ta đã rời khỏi điểm hẹn ở chân cột đèn quá sớm, không đủ để cho người Anh có thể nhận thấy thông điệp là O. Gordievsky đang gặp nguy hiểm. Bởi vậy, anh ta sẽ phải thực hiện lại quy trình xuất hiện ở chân cột đèn vào 7 giờ tối thứ ba, ngày 16-7-1985. Nếu như tín hiệu báo động đó được người Anh tiếp nhận thì quy trình giải cứu sẽ được kích hoạt vào ngày thứ bảy trong tuần lễ đó.
Đêm chủ nhật 14-7, O. Gordievsky lấy cuốn tiểu thuyết thứ hai và lại nhúng nó vào hóa chất đặc biệt để tìm bản kế hoạch dự phòng cho việc trốn khỏi Liên Xô. Nếu người ngoài nhìn vào thì nó cũng có vẻ vô hại bởi chỉ đề cập tới một số địa danh trên đất Pháp. Nhưng trên thực tế, nó là bản hướng dẫn chi tiết về kế hoạch đào thoát khỏi Liên bang Xô viết với điểm hẹn là một khu rừng ở gần Vyborg, trên biên giới giữa Liên Xô với Phần Lan. Những khoảng cách trong bản sơ đồ là chính xác như trên thực tế, nhưng để đánh lạc hướng nếu có con mắt tò mò nhìn vào, những địa danh của Nga đã được mã hóa bằng tên các địa danh ở Pháp, Paris thay cho Moscow, Marseille thay cho Leningrad...
Sáng thứ ba, may mắn đến với O. Gordievsky khi ông Ali Aliyevich, bố vợ của anh ta gọi điện thoại mời con rể tới nhà để ăn súp gà nấu với tỏi vào lúc 7 giờ tối. Đấy đúng là thời điểm mà O. Gordievsky sẽ phải có mặt ở chân cột đèn! Biết chắc là KGB đã cài máy nghe trộm vào đường dây điện thoại nên không muốn gây nghi ngờ, O. Gordievsky nhận lời. Nhà của bố vợ cùng hướng đi tới chỗ hẹn nên O. Gordievsky dự tính sẽ tới điểm hẹn trước rồi tới nhà bố vợ sau, muộn một lúc và hứng chịu cơn cáu kinh của ông nhạc cũng không sao.
Đến trưa chủ nhật, O. Gordievsky đi rút tiền ở quỹ tiết kiệm. Khoản tiền lớn nhất O. Gordievsky có thể rút khỏi quỹ tiết kiệm mà không gây nên sự chú ý là 300 rúp, cũng tương đương với khoảng 300 bảng Anh. O. Gordievsky dự định để lại phần lớn số tiền, 220 rúp, cho cô vợ Leila, còn mình chỉ mang theo chừng 80 rúp, đủ để mua vé tàu hỏa, đi xe taxi và ăn uống trong suốt hành trình. Với O. Gordievsky thì những đồng rúp đó là vô giá trị khi anh ta ở nước ngoài hoặc tệ hơn, ở trong tù.
Đến 4 giờ chiều thứ ba, O. Gordievsky lại rời nhà và trải qua quy trình gần ba tiếng đồng hồ thực hiện các kĩ thuật chống theo dõi. Khi biết chắc chắn không có một “cái đuôi” nào của KGB bám theo, O. Gordievsky tới chỗ hẹn, khá sớm, vào khoảng 6 giờ 45 phút tối.
Đúng 6 giờ 59 phút, O. Gordievsky đã đứng dưới cột đèn ở trên mép vỉa hè, nơi điểm hẹn. Những dòng người hối hả trôi qua bên cạnh, trong khi O. Gordievsky căng thẳng chờ đợi. Bản hướng dẫn nói rất rõ là O. Gordievsky phải đứng đó đủ lâu để nhân viên của tình báo Anh có thể nhận biết, sau đó đi tới một góc phố và đứng bên ngoài cửa sổ của một tiệm bánh. Sau bảy phút, O. Gordievsky phải quay lại đứng ở chỗ cũ.
Thời gian cứ nặng nề trôi, mười rồi mười lăm phút qua đi mà O. Gordievsky vẫn không nhận thấy một gương mặt nào có vẻ là của một người Anh xuất hiện trong đám đông hối hả trên đường phố. Rồi cuối cùng, sau hai mươi bốn phút, người đó xuất hiện. Không nghi ngờ gì nữa, đó là người đàn ông mang đầy đủ những đặc điểm của một người Anh, tay xách một cái túi màu xanh thẫm hiệu Harrods. Trong bản hướng dẫn có nói rõ người đó phải ăn một thanh sô cô la nhãn hiệu Mars và đúng là người đàn ông đó đang ăn thanh sô cô la đó thật! Khi người đàn ông đó tới chỗ cách O. Gordievsky chừng vài thước, anh ta nhìn thẳng vào người điệp viên. O. Gordievsky cũng nhìn anh ta với ánh mắt toát lên tiếng kêu cứu câm lặng: “Tôi đây! Tôi cần sự giúp đỡ khẩn cấp!”. Người đàn ông vẫn bước đi, không hề tỏ ra có dấu hiệu đặc biệt gì chứng tỏ anh ta đã nhận ra thông điệp, nhưng O. Gordievsky biết chắc là cuối cùng, cuộc tiếp xúc không lời đã hoàn thành.
Giai đoạn đầu tiên của kế hoạch chạy trốn vậy là đã được kích hoạt.
+++++
Việc khẩn cấp mà O. Gordievsky cần phải làm sau khi đã báo động cho người Anh, là mua vé xe lửa đi Leningrad mà không để cho KGB phát hiện được. Muốn thế thì phải loại bỏ hết mọi “cái đuôi” của KGB khi tới nhà ga xe lửa ở khu vực Quảng trường Komsomolskaya.
Thứ tư, ngày 17-7-1985, O. Gordievsky ra khỏi nhà như thường lệ, đi bộ tới một trung tâm mua bán gần nhà, ghé qua vài gian hàng rồi đi ra. O. Gordievsky cố tình đi chậm rãi hướng về phía một khu chung cư nhỏ. Khi vòng qua một chỗ ngoặt, khuất khỏi mọi tầm nhìn, O. Gordievsky bất thần chạy thật nhanh, lao vào trong khung cửa gần nhất rồi theo lên cầu thang lên phía trên.
Qua cửa sổ từ trên cao, O. Gordievsky quan sát thấy một người đàn ông khá béo vội vã gần như chạy vòng qua chỗ ngoặt, đứng lại nhìn xung quanh, rõ ràng để tìm xem O. Gordievsky đang ở đâu. Trời khá nóng nhưng người đàn ông béo vẫn mặc áo khoác và đeo cà vạt. Rõ ràng anh ta đã cảm thấy có sự bất thường trong hành động của O. Gordievsky. Người đàn ông bắt đầu cẩn thận quan sát những khung cửa sổ ở trên cao. Tổng cộng có tới mười hai cái và O. Gordievsky nấp trong bóng tối, phía bên trong một cửa sổ. Sau một hồi quan sát không phát hiện thấy gì, người đàn ông bắt đầu nói vào cái micro gắn ở ve áo. Vài giây sau, một chiếc xe hiệu Lada màu nâu xuất hiện, chạy chậm rãi trên lối đi dành cho người đi bộ. Trên ghế phía trước có một người đàn ông và một phụ nữ, cả hai đều đang nói vào micro, có lẽ để báo cáo về sự biến mất đột ngột của O. Gordievsky.
Khi chiếc xe biến mất sau khối nhà, O. Gordievsky chờ một lát, đi xuống cầu thang rồi ra đường chính, lên một chiếc xe buýt, qua vài bến rồi xuống. Lại bắt đầu một quy trình chống theo dõi tỉ mỉ, rắc rối, cuối cùng O. Gordievsky cũng tới được ga xe lửa. Ở đó, O. Gordievsky mua một vé hạng tư đi Leningrad. Chuyến tàu sẽ rời khỏi Moscow vào lúc 5 giờ 30 phút chiều thứ sáu, ngày 19-7-1985.
Sang ngày thứ năm, O. Gordievsky tới thăm nhà cô chị gái Marina. Như một phần trong kế hoạch đánh lừa KGB, O. Gordievsky nói với chị gái rằng sẽ quay lại thăm chị vào đầu tuần sau đó. Tiếp đó, để cho các chuyên viên nghe lén điện thoại của KGB tin hơn vào giả thiết rằng O. Gordievsky sẽ chỉ loanh quanh đâu đó ở Moscow trong suốt cả tuần lễ, anh ta gọi điện cho một người bạn từng cùng làm việc ở KGB là Mikhail Lubimov. Trước đấy, M. Lubimov bị KGB sa thải do vụ lùm xùm ngủ với vợ một nhân viên dưới quyền anh ta. Qua điện thoại, O. Gordievsky hẹn sẽ tới khu nhà nằm ở vùng ngoại ô Zvenigorod của Moscow, nơi M. Lubimov đang ở cùng với cô bạn gái Tanya, O. Gordievsky cho M. Lubimov biết thời gian tàu sẽ đến ga vào lúc 11 giờ rưỡi trưa và hẹn M. Lubimov ra ga đón mình.
O. Gordievsky tin chắc nội dung cuộc nói chuyện sẽ được các chuyên viên nghe lén của KGB ghi lại cẩn thận.
Ngày thứ sáu, từ sáng sớm, O. Gordievsky dọn dẹp căn hộ của mình một cách cẩn thận, để lại 220 rúp cho Leila thành một tệp ở chỗ dễ thấy nhất. Tuy nhiên, khi chuẩn bị rời đi, O. Gordievsky đã quên mang theo cái lọ đựng một loại bột hóa chất đặc biệt, được dùng để đánh lừa chó nghiệp vụ của cảnh sát, không cho chúng đánh hơi theo dấu nếu bị săn đuổi ở vùng biên giới.
4 giờ chiều là giờ phải ra khỏi nhà. O. Gordievsky mặc bộ đồ bình thường, áo len mỏng màu xanh, quần nhung kẻ sọc, giày nâu mòn đế. O. Gordievsky cuộn chiếc áo khoác mỏng, xếp nó vào trong một cái túi đi đường cùng với mũ lưỡi trai mua hồi ở Đan Mạch, bộ đồ vệ sinh cá nhân cùng với cuốn bản đồ có vẽ đường đi khu vực biên giới giữa Liên Xô với Phần Lan. O. Gordievsky biết rằng tất cả những bản đồ đó đều bị làm sai lệch một cách có chủ ý nhằm làm cho những kẻ có ý định vượt biên bối rối, nhưng không có lựa chọn nào khác.
O. Gordievsky sử dụng thang máy đi từ tầng tám xuống dưới nhà. Người điệp viên nhị trùng biết rằng có một người phụ nữ trung niên làm thường trực luôn ngồi ở chỗ lối ra của tòa nhà, hi vọng rằng bà ta sẽ nhầm bộ đồ màu xanh mình mặc với bộ đồ thể thao và nghĩ rằng O. Gordievsky chuẩn bị cho một cuộc chạy bộ thông thường.
Viên sĩ quan KGB biết rằng bên ngoài tòa nhà có một chiếc xe giám sát đỗ ở phía khối nhà nhỏ hơn và có thể có thêm hai chiếc khác quanh quẩn đâu đấy sẵn sàng hỗ trợ. Thay vì đi về phía chiếc xe đang đỗ, O. Gordievsky đi theo hướng ngược lại và ngay khi vừa khuất sau những thân cây, anh ta bắt đầu chạy hết tốc lực về hướng một cửa hàng ở gần đó. Chỉ sau vài phút, anh ta đã tới được chỗ cửa hàng. Đang là giờ đông khách và O. Gordievsky dễ dàng lẩn vào trong đám đông. Chỉ cần một phút, O. Gordievsky đã mua xong một chiếc túi giả da do Liên Xô sản xuất và nhét tất cả chỗ hành lí ít ỏi của mình vào đó. Rồi anh ta tiếp tục di chuyển, sử dụng các biện pháp chống theo dõi khi tới ga tàu đi Leningrad ở Quảng trường Komsomolskaya.
Trên quảng trường đầy cảnh sát và những người lính mặc quân phục thuộc lực lượng chống bạo động. O. Gordievsky hơi hoảng, trong thoáng chốc nghĩ có lẽ KGB đã kịp thời huy động lực lượng để truy tìm mình. Nhưng rồi O. Gordievsky chợt nhận ra là hôm ấy, người từ khắp nơi đổ về Moscow để chuẩn bị tham dự Liên hoan Thanh niên quốc tế, sẽ diễn ra vào hôm chủ nhật. Cảnh sát phải tăng cường lực lượng để đảm bảo an ninh cho liên hoan...
Cái vé tàu hỏa hạng tư cho O. Gordievsky một chỗ nằm trên cùng trong toa giường ngủ. Đúng 5 giờ rưỡi chiều, chuyến tàu khởi hành. Trong vài giờ đồng hồ đầu tiên, những người khách ở giường dưới ngồi tán chuyện hoặc chơi trò giải đoán ô chữ. Ở những nơi công cộng nhiều người qua lại, việc tham gia giải đoán ô chữ là một trò chơi vô hại.
Khoảng 9 giờ tối, O. Gordievsky thiếp đi sau khi đã uống hai viên thuốc ngủ khá mạnh.
Việc đầu tiên mà O. Gordievsky nhận biết được khi tỉnh dậy là mình không còn nằm ở giường tầng trên cùng nữa mà ở tầng dưới! Khi ấy vào khoảng 4 giờ sáng hôm sau và trời đã hửng. Trong vài giây đồng hồ, người điệp viên không biết chuyện gì đã xảy ra. Nhìn lên, O. Gordievsky thấy một thanh niên đang nằm trên giường tầng của mình. Khi O. Gordievsky hỏi, người thanh niên trả lời: “Anh không nhớ gì sao? Anh đã ngã lộn từ trên giường tầng xuống!”.
O. Gordievsky kiểm tra lại thấy những vết sây sát ở thái dương, vai, máu dây ra cả áo len. Bị ngã từ độ cao chừng thước rưỡi xuống sàn tàu cứng, không có gì lạ khi O. Gordlevsky thấy đầu và cổ đau nhức như bị búa tạ đánh.
Tàu đến nơi, O. Gordievsky ra khỏi ga trong bầu không khí nhẹ nhõm của buổi sáng. Bên ngoài sân ga vắng vẻ, chỉ có những hàng xe taxi chờ khách và một vài chiếc xe tư cho thuê. O. Gordievsky tới gần một chiếc và hỏi người lái xe: “Từ đây tới ga tàu đi Phần Lan hết bao nhiêu?”
“Mười rúp”, người lái xe trả lời. Đó là một khoản tiền lớn hơn cả tiền vé tàu hỏa mà O. Gordievsky mua để đi quãng đường 800 cây số từ Moscow tới Leningrad, nhưng không mặc cả một câu, anh ta đồng ý ngay.
Lúc 5 giờ 45 phút sáng, O. Gordievsky đến ga và sau đó hai mươi phút lên chuyến tàu hỏa đi tới Zelenogorsk ở vùng biên giới, cách Leningrad chừng 90 cây số về phía tây bắc. Lúc đó là 8 giờ rưỡi sáng và trong tình trạng căng thẳng sợ hãi, O. Gordievsky phạm phải sai lầm đầu tiên.
Điểm hẹn của O. Gordievsky với người Anh nằm gần đường cái dẫn tới biên giới, cách khoảng vài cây số sâu trong nội địa Liên Xô. Lẽ ra O. Gordievsky phải bắt chuyến tàu hỏa đi tới Vyborg là thị trấn ở vùng biên giới, sau đó dùng xe buýt hoặc đi bộ ngược lại chỗ điểm hẹn. Làm như thế thì ngay cả có bị phát hiện đang trên đường thì khi ấy O. Gordievsky cũng đang đi ngược vào trong nội địa chứ không phải hướng tới biên giới. Nhưng không biết ma xui quỷ khiến thế nào mà O. Gordievsky lại đi xe buýt tới Terioki, nằm ở giữa quãng đường tới Vyborg. Tất cả những gì O. Gordievsky biết về Terioki chỉ là nơi chính quyền công nông Phần Lan đã được thành lập vào năm 1939, trong giai đoạn đầu tiên của cuộc chiến tranh Liên Xô - Phần Lan.
O. Gordievsky vào cửa hàng ăn ở Terioki, gọi một miếng đùi gà nướng và cốc cà phê cho bữa sáng. Trong khi ăn, O. Gordievsky chỉ còn biết thầm cầu nguyện là tình báo Anh sẽ thực hiện hành trình của họ một cách trót lọt.
Theo kế hoạch thì điểm hẹn của O. Gordievsky với người Anh là ở tảng đá to trong một khu rừng. Khi gặp nhau, người Anh sẽ giấu O. Gordievsky trong ngăn để hành lí của ô tô và đưa anh ta qua biên giới sang đất Phần Lan. Một kế hoạch khá đơn giản, nhưng để thực hiện được thì không hề đơn giản chút nào. Tất cả phụ thuộc vào việc liệu người Anh có thoát khỏi được sự giám sát ngặt nghèo của KGB và tới nơi đúng hẹn hay không.
+++++
O. Gordievsky không hề biết rằng trong thời gian đó, kế hoạch giải cứu anh ta đã được các quan chức cấp cao nhất của Bộ Ngoại giao và Cục Tình báo Anh đệ trình lên Bộ trưởng Ngoại giao Geoffrey Howe. Việc đưa một điệp viên thoát ra khỏi Moscow trong bối cảnh mạng lưới của KGB đang siết chặt quanh đối tượng hoàn toàn không phải là chuyện dễ dàng. Nó cũng diễn ra vào thời điểm hết sức nhạy cảm, khi Thủ tướng Margaret Thatcher vừa mới có cuộc tiếp xúc với nhà lãnh đạo tương lai của Liên Xô Mikhail Gorbachev một thời gian ngắn trước đó và hi vọng sẽ duy trì được mối quan hệ lâu dài. Một kế hoạch như vậy phải nhận được sự phê chuẩn của đích thân thủ tướng Anh.
Khó khăn nằm ở chỗ khi ấy M. Thatcher không có mặt tại London mà lại đang ở Scotland, tới lâu đài Balmoral để viếng thăm Nữ hoàng Anh như thường lệ. Cũng không thể trao đổi qua điện thoại một kế hoạch tuyệt mật như vậy. Thế là viên cố vấn phụ trách các vấn đề đối ngoại của thủ tướng Anh, Charles Powell, phải ra phi trường Heathrow ở London bắt chuyến bay đi Aberdeen, rồi từ đó đi xe tới lâu đài Balmoral để gặp thủ tướng xin chuẩn y cho kế hoạch giải cứu điệp viên O. Gordievsky. Những người hầu cận của Nữ hoàng Anh vô cùng ngạc nhiên khi thấy cố vấn đối ngoại của thủ tướng xuất hiện ở lâu đài và xin gặp thủ tướng với lí do “có công việc tối khẩn”.
Không hề lưỡng lự, Thủ tướng Anh M. Thatcher chuẩn y kế hoạch giải cứu điệp viên Anh khỏi Moscow. “Chúng ta có bổn phận phải giúp đỡ, không để anh ta bị bắt”, bà thủ tướng nói.
Mặc dù vậy, người Anh biết rằng đây là một kế hoạch vô cùng mạo hiểm. Sự giám sát của KGB ở thủ đô Liên Xô là cực kì nghiêm ngặt. Rất có thể đó là cái bẫy do KGB giăng ra, hoặc một trò khiêu khích. Có thể xảy ra một vụ ầm ĩ tương tự như vụ KGB gài bẫy bắt giữ một người Mỹ tại hộp thư chết liên quan đến điệp viên O. Penkovsky hơn một phần tư thế kỉ trước ở Moscow.
O. Gordievsky cũng không biết rằng vào thứ năm, ngày 18-7-1985, tân Đại sứ của Anh tại Liên Xô, Sir Bryan Cartledge, bay tới Moscow để bắt đầu một nhiệm kì mới. Vừa tới nơi, vị tân đại sứ được các nhân viên tình báo ở sứ quán thông báo về kế hoạch giải thoát cho điệp viên ở Moscow. Sir Bryan Cartledge ngần ngừ. Trót lọt thì không sao nhưng nếu bị phát hiện thì chắc chắn đó sẽ là một vụ scandal ngoại giao lớn, khi hai nhân viên dưới quyền của ông bị bắt quả tang đang đưa một điệp viên vượt biên trái phép. Khi ấy, rất có thể sự nghiệp của ông nhanh chóng chấm dứt và đó sẽ là nhiệm kì công tác ngắn ngủi nhất của một đại sứ trong lịch sử Bộ Ngoại giao Anh.
Nhưng Sir Bryan Cartledge không có lựa chọn nào khác. Kế hoạch giải cứu đã được phê chuẩn ở cấp cao nhất của chính phủ Anh.
Theo kế hoạch ban đầu, sẽ có hai xe ô tô xuất phát từ Moscow vào sáng thứ sáu đi Leningrad, ngủ đêm ở đó rồi chiều thứ bảy tới chỗ hẹn với O. Gordievsky và đưa anh ta vượt biên. Mỗi xe do một điệp viên MI6 cầm lái. Câu chuyện bình phong được dựng lên là người vợ một nhân viên ngoại giao cần phải điều trị căn bệnh không nặng lắm ở Helsinki, Phần Lan; vì thế, gia đình của hai nhân viên quyết định có một chuyến đi dã ngoại cuối tuần cùng nhau. Cả hai điệp viên MI6 đều biết rằng cho dù kế hoạch thành công hay thất bại thì sự nghiệp của họ ở Liên Xô cũng sẽ kết thúc. Sở dĩ phải đi hai xe bởi các nhân viên tình báo Anh dự tính rằng rất có thể O. Gordievsky sẽ đi cùng với gia đình và như vậy phải hai xe mới đủ.
Nhưng một bất ngờ nhỏ xảy ra khi tối thứ sáu, tân Đại sứ Anh mở tiệc chiêu đãi trọng thể tại khu nhà của sứ quán Anh. Tất cả các khách mời đều là mục tiêu theo dõi của KGB và toàn bộ khu vực khuôn viên sứ quán dày đặc các đặc vụ mặc thường phục. Sẽ ra sao nếu các nhân viên KGB theo dõi thấy hai nhân viên ngoại giao Anh vắng mặt trong buổi tiếp tân? Những nghi ngờ sẽ nảy sinh ngay lập tức cùng với sự biến mất của O. Gordievsky vào chiều hôm đó. Bởi thế nên kế hoạch phải thay đổi; hai xe sẽ xuất phát muộn sau khi tiệc tiếp tân đã kết thúc và chạy suốt đêm tới Leningrad.
Sáng hôm sau, thứ bảy 19-7, hai chiếc xe chở hai gia đình hai điệp viên Anh dưới vỏ bọc nhân viên sứ quán Anh tới Leningrad. Trên suốt dọc đường đi, các xe giám sát của KGB bám sát họ không rời. Với mục đích căn giờ chính xác tại điểm hẹn, hai gia đình ghé vào thăm một tu viện để giết thời gian, vẫn dưới sự giám sát của các nhân viên KGB. Khi hai xe chạy ra khỏi khu vực Leningrad hướng về phía biên giới, KGB thành phố Leningrad chuyển giao cho KGB ở địa phương tiếp tục công việc giám sát hai xe ngoại giao của Anh.
Rất may cho người Anh là một sự cố trên đường đã giúp cho kế hoạch trở nên thuận lợi không ngờ. Trong khi hai điệp viên MI6 đang vắt óc nghĩ kế để tìm cách cắt những “cái đuôi” KGB nhằng nhẵng bám phía sau khi gần tới điểm hẹn thì bất ngờ họ bắt gặp một đoàn xe tăng di chuyển trên đường. Tất cả những xe đang lưu thông buộc phải dừng lại trong khoảng 10 phút để đoàn xe quân sự đi qua. Đến lúc đường thông, hai xe của hai gia đình MI6 bất ngờ tăng tốc vượt lên, trong khi các xe giám sát của KGB phía sau bị mắc kẹt trong dòng xe cộ hỗn độn do bị tắc đường. Trong chốc lát, hai xe do các điệp viên MI6 lái đã thoát khỏi tầm mắt quan sát của các điệp viên KGB phía sau...
+++++
Sau bữa ăn sáng trong quán ăn ở Terioki, O. Gordievsky ra bến xe buýt và mua vé đến bến xa nhất. Ngồi trên xe, kiểm tra lại qua cuốn bản đồ mang theo, O. Gordievsky biết rằng việc đi xe buýt sẽ rút ngắn đáng kể quãng thời gian để anh ta có thể tới điểm hẹn với người Anh.
Trên đường đi, các hành khách trên xe buýt lần lượt xuống hết, cuối cùng trên xe chỉ còn lại một mình O. Gordievsky. Rồi bỗng nhiên, khi đi qua một khúc đường vắng, O. Gordievsky nhận thấy quang cảnh bên đường giống hệt như trong hướng dẫn. Tại đó có một đoạn đường vòng giống như trong chữ D hoa. O. Gordievsky lên đầu xe, nói với người lái xe buýt: “Xin lỗi, tôi bị chóng mặt, cho tôi xuống ở đây”.
Người lái xe buýt nhìn O. Gordievsky vẻ dò xét nhưng rồi cũng mở cửa để anh ta xuống. Sau khi chờ đợi một lát, anh ta lái xe đi, để lại O. Gordievsky trơ trọi một mình trên đường.
Một bầu không khí tĩnh lặng bao trùm cả khu vực. Dọc theo vệ đường, cỏ mọc dày, cao tới hai thước. Độ ẩm cao, hàng đàn muỗi bay vo ve trong không khí.
Sau khi đợi một lát, O. Gordievsky đi theo con đường vòng sâu vào trong rừng và gần như ngay lập tức, nhận ra tảng đá to nơi được quy định là điểm hẹn trong hướng dẫn. Lúc đó mới 11 giờ trưa, trong khi theo hướng dẫn, người Anh sẽ chỉ tới nơi vào quãng 2 giờ rưỡi chiều. Làm gì cho hết ba tiếng rưỡi đồng hồ trong cái nóng ban trưa và hàng đàn muỗi bay vo ve như thế này?
O. Gordievsky quyết định đi tới thị trấn Vyborg, nơi có thể ăn trưa ở đó. Đây có thể là thêm một quyết định sai lầm nữa của O. Gordievsky.
Vẫy được một chiếc xe Lada để đi nhờ, O. Gordievsky tới khu ngoại vi phía nam của thị trấn Vyborg, vào một quán ăn và lại gọi món gà cho bữa ăn trưa. Anh ta gọi thêm hai chai bia, một cho bữa ăn, một để dành mang theo khi quay lại điểm hẹn.
Khi sắp ăn xong thì có ba thanh niên bước vào quán. Nhìn ba người, O. Gordievsky cảm thấy lành lạnh nơi sống lưng. Có thể đó là một đội giám sát của KGB đang tìm kiếm những người có ý định đào thoát ở vùng biên giới. Lấy hết sức giữ bình tĩnh, O. Gordievsky ra khỏi quán ăn, đi bộ về phía nam, hướng Leningrad. Phải qua gần nửa cây số, O. Gordievsky mới dám nhìn lại phía sau xem có ai bám theo hay không. Trên đường vẫn vắng ngắt. Đang là trưa nắng, có lẽ tất cả mọi người đều chui vào trong nhà tránh nóng hoặc ăn trưa. Lúc ấy đã hơn 1 giờ chiều. Thay vì tìm cách giết thời gian, O. Gordievsky bắt đầu lo không biết mình quay lại điểm hẹn có đúng giờ hay không.
Khi O. Gordievsky bắt đầu cảm thấy tuyệt vọng thì có tiếng xe chạy phía đằng sau. Đấy là một chiếc xe tải với người lái xe có gương mặt thân thiện, dễ mến. “Anh muốn đi đâu?”, người lái xe tải hỏi.
O. Gordievsky nói tên bến xe buýt gần nơi có điểm hẹn.
Người lái xe nói:
- Nhưng quanh đây hàng cây số chẳng có cái gì cả.
- À, anh không biết đấy thôi. Có mấy cái nhà nghỉ ở sâu trong rừng đấy. Tại đó có một cô bạn gái đang chờ tôi. - O. Gordievsky giải thích.
- Nếu thế thì khác rồi. - Người lái xe tải nói vẻ thông cảm. - Lên xe đi.
Anh ta thả O. Gordievsky xuống bến xe buýt. O. Gordievsky đưa 4 rúp, nhưng người lái xe nói: “Nhiều quá, chỉ 3 rúp thôi”, rồi lái xe đi.
Trở lại chỗ tảng đá, O. Gordievsky cảm thấy căng thẳng. Có lẽ anh ta đã mang theo quá nhiều đồ không cần thiết. Cuốn bản đồ chẳng hạn. Giờ đây, khi đã ở đúng điểm hẹn, anh ta không cần đến nó nữa. Nghĩ thế nên O. Gordievsky lấy ra và ném nó đi. Nhưng chỉ vài giây sau, O. Gordievsky nhận ra đó có thể sẽ là một sai lầm ngớ ngẩn không thể cứu vãn. Nếu KGB tìm thấy cuốn bản đồ, họ sẽ dễ dàng đoán ra mọi sự và khi ấy thì kế hoạch vượt biên đi tong.
O. Gordievsky đành cặm cụi đi tìm cuốn bản đồ đã ném đi và nhét nó vào lại trong túi hành lí.
Từng phút nhích đi chậm chạp trong khi hàng đàn muỗi bắt đầu tấn công O. Gordievsky. Khoảng trước 2 giờ chiều một chút, anh ta nghe thấy tiếng động cơ xe hơi chạy trên đường. Hi vọng đó là xe của người Anh, O. Gordievsky vạch cỏ nhìn ra và nhận thấy đó là xe buýt chở vợ con của những quân nhân chắc đóng quân tại một căn cứ ở gần đó.
O. Gordievsky uống hết chai bia mang theo, quẳng nó đi rồi chỉ ít phút sau lại nhận ra đó tiếp tục là một sai lầm nữa. Trên vỏ chai có dấu vân tay của anh ta và đó sẽ là bằng chứng nếu KGB tìm thấy. Vậy là một lần nữa, O. Gordievsky hì hục tìm lại cái vỏ chai, dùng bùn xóa hết mọi dấu vết rồi mới ném đi.
Thời gian tiếp tục trôi. 2 giờ 30, 2 giờ 35, 2 giờ 40 rồi 2 giờ 45 phút chiều. Đã quá thời gian hẹn như trong hướng dẫn. O. Gordievsky cảm thấy căng thẳng tột độ. Anh ta quyết định phải gặp những người cứu mình sớm hơn bằng cách ra đường và đi ngược lại hướng Leningrad. Như vậy, nếu xe của tình báo Anh tới điểm hẹn sẽ gặp được O. Gordievsky ngay trên đường.
Nhưng đi được một quãng thì O. Gordievsky nhận thấy hành động của mình có thể sẽ là sai lầm lớn nhất, không thể cứu vãn. Bởi nếu như người Anh đi xe tới chỗ hẹn thì chắc chắn có xe của KGB bám theo. Nếu KGB nhận ra O. Gordievsky đang chờ ở trên đường thì chẳng khó khăn gì cũng hình dung ra được hậu quả sẽ ra sao.
Thế là O. Gordievsky nhanh chóng quay lại, vạch cỏ đi về chỗ tảng đá, tiếp tục nấp sau những đám cỏ cao ngang đầu người và chờ đợi. Anh ta tự nhủ: “Bình tĩnh nào, bình tĩnh nào!”. Ngoài việc tiếp tục kiên nhẫn chờ đợi, O. Gordievsky cũng không có lựa chọn nào khác.
Cuối cùng thì viên gián điệp Anh cũng nghe thấy tiếng động cơ ô tô, rồi hai chiếc xe rẽ từ ngoài đường cái vào, xuất hiện ở gần tảng đá, đối diện ngay chỗ O. Gordievsky đang nấp. Hai người đàn ông ra khỏi xe và trước sự ngạc nhiên của O. Gordievsky, còn có hai phụ nữ cũng ra khỏi xe. Một trong hai người đàn ông chính là người mà O. Gordievsky đã nhìn thấy khi đứng ở chân cột đèn tại Moscow. O. Gordievsky không biết rằng người thứ hai là Raymond Lord Asquith, cháu của thủ tướng Anh huyền thoại thời Đệ nhất thế chiến, cũng là một chuyên viên tình báo phân tích về Liên Xô đầy hứa hẹn của MI6.
Người đàn ông mà O. Gordievsky đã thấy ở Moscow cũng phải khó khăn lắm mới nhận ra được O. Gordievsky trong bộ dạng nhem nhuốc, râu cằm không cạo, quần áo bẩn thỉu.
O. Gordievsky tụt đôi giày mình đang đi và đưa cho người đàn ông: “Anh hãy để nó ở chỗ nào đấy. Trong đó có thể có bụi phóng xạ đấy”.
Người đàn ông cho đôi giày vào một cái túi nhựa mang theo rồi mở khoang hành lí của chiếc xe thứ hai, nhỏ hơn, một chiếc hiệu Ford Cortina, bảo O. Gordievsky chui vào. Trong lúc vội vã, người điệp viên MI6 cũng quên luôn việc khóa lại cái ngăn hành lí có O. Gordievsky ở trong đó.
Rồi hai chiếc xe nhanh chóng quay ra đường cái, tiếp tục hành trình.
O. Gordievsky không bao giờ có thể nghĩ rằng người Anh lại sử dụng đúng phương thức mà điệp viên KGB George Blake đã dùng nhiều năm trước để ra khỏi nước Anh sau khi trốn thoát khỏi nhà tù Wormwood Scrubs.
Trong khi đó thì những chiếc xe của KGB bám theo, sau khi mất dấu hai chiếc xe của hai nhà ngoại giao Anh bởi đoàn xe tăng, đã vượt lên và tới trạm kiểm soát giao thông gần nhất. Khi được hỏi có thấy hai chiếc xe của ngoại giao Anh đi qua hay không, những nhân viên ở trạm này trả lời là không thấy! Các điệp viên KGB hết sức bối rối, không hiểu điều gì đã xảy ra. Đúng lúc họ bắt đầu quy trình tìm hiểu thì nhìn thấy hai chiếc xe ngoại giao Anh lại xuất hiện. Các điệp viên KGB kết luận rằng có thể hai gia đình nhân viên sứ quán đã rẽ vào đâu đó để mở một bữa tiệc nhỏ trong rừng, trước khi tiếp tục cuộc hành trình.
Vì thế, xe của KGB tiếp tục bám theo mà không biết rằng lúc này, trong khoang hành lí của một trong hai chiếc xe đã có thêm một “kiện hàng” mới là O. Gordievsky.
Xoay xở một mình trong bóng tối chật hẹp của khoang hành lí, O. Gordievsky bắt đầu quờ quạng tìm được những vật dụng mà bản hướng dẫn chi tiết báo trước là các nhân viên tình báo Anh đã chuẩn bị sẵn cho anh ta. Có một cái chai để anh ta đi tiểu khi cần thiết, mấy viên thuốc an thần, một bình nước lạnh... Đặc biệt, có một tấm phủ tráng nhôm để O. Gordievsky chui vào trong, tránh nguy cơ các nhân viên kiểm tra tại biên giới sử dụng máy dò tia hồng ngoại để phát hiện xem có sinh vật sống ở trong khoang hay không, O. Gordievsky uống một viên thuốc an thần và cảm thấy thư giãn hơn trong bầu không khí ngày càng ngột ngạt, nóng nực của khoang hành lí.
Người lái xe của MI6 bật nhạc qua hệ thống loa âm thanh nổi trên xe. Bình thường, O. Gordievsky rất ghét nghe loại nhạc ầm ĩ này, nhưng anh ta biết rằng nghiên cứu của các chuyên gia tình báo đã rút ra kết luận là những âm thanh đó sẽ có lợi cho những người đang trong trạng thái tâm lí căng thẳng.
Xe chạy qua thị trấn Vyborg rồi tiến tới gần khu vực kiểm soát biên giới. Phải trải qua năm trạm gác tất cả. O. Gordievsky trùm tấm phủ chống tia hồng ngoại lên người, nằm bất động như một xác chết. Anh ta có thể nghe thấy tiếng của một người phụ nữ nói tiếng Nga bên ngoài. Rồi xe qua trạm kiểm soát của KGB, tới trạm kiểm tra hải quan. Người lái xe tán gẫu bằng tiếng Nga với nhân viên hải quan về Liên hoan thanh niên thế giới sắp diễn ra ở Moscow, trong khi người nữ nhân viên hải quan than phiền về những vị khách người Phần Lan say rượu.
Cuối cùng thì đến trạm kiểm soát biên phòng, O. Gordievsky có thể nghe thấy tiếng chó sủa ngay sát bên ngoài. Anh ta không biết rằng vợ của người nhân viên MI6 đã cẩn thận để một gói khoai tây rán thơm lừng ở ngay đó để đánh lạc hướng những con chó tinh khôn.
Thời gian chậm rãi trôi đi, chỉ năm, sáu phút đồng hồ mà kéo dài như cả tiếng. Nằm trong khoang, O. Gordievsky cảm thấy mồ hôi túa ra đầy người. Điều gì xảy ra nếu như nhân viên biên phòng bất ngờ mở khoang hành lí ra kiểm tra và thấy anh ta nằm ở đó? Những người Anh sẽ tròn mắt kêu lên là họ không biết anh ta là ai, rằng đây là một hành động khiêu khích của người Nga; có lẽ người lạ này đã bí mật chui vào xe trong khi họ ăn sáng ở Leningrad... Còn về phần O. Gordievsky, anh ta biết nếu điều đó xảy ra, chờ đón mình sẽ là địa ngục!
O. Gordievsky nghe thấy người lái leo lên xe, nổ máy, tiếng nhạc lại nổi lên. Rồi bất chợt, anh ta thấy tiếng nhạc im bặt một tiếng nói cất lên: Tiếng Phần Lan! Anh ta đã vượt qua biên giới và đang trên lãnh thổ Phần Lan!
Vào quãng thời gian đó, ở London, trong Văn phòng Bộ Ngoại giao, các quan chức ngoại giao và tình báo hàng đầu của nước Anh tập trung trong bầu không khí vô cùng căng thẳng. Đến giữa trưa theo giờ London, Thứ trưởng Ngoại giao Anh David Goodall xem đồng hồ rồi trịnh trọng nói: “Thưa các bạn, vào giờ này, họ đang vượt qua biên giới. Hãy im lặng và cầu nguyện cho chiến dịch kết thúc thắng lợi”.
O. Gordievsky cảm thấy chiếc xe chạy chậm dần rồi... quay đầu! Dường như nó định quay trở lại khu vực biên giới! Nhưng trên thực tế, người lái xe đang lái xe vào trong rừng, lựa vị trí để đỗ chiếc xe nằm ngoài tầm nhìn của những người đi bên ngoài đường cái. Rồi khi chiếc xe dừng hẳn, O. Gordievsky nghe thấy một người nói tiếng Anh.
Khi nắp khoang hành lí mở ra, O. Gordievsky nhìn thấy bầu trời xanh, mây trắng và gương mặt của Joan, nữ nhân viên tình báo Anh đã xếp đặt toàn bộ kế hoạch chạy trốn khỏi Liên Xô của O. Gordievsky.
Câu đầu tiên mà O. Gordievsky nói với Joan là: “Tôi đã bị phản bội!”.
+++++
Vụ đào thoát của điệp viên MI6 O. Gordievsky là một sự sĩ nhục lớn đối với KGB. Trong suốt chiều dài lịch sử KGB cũng như toàn bộ thời kì Chiến tranh Lạnh, không có bất cứ điệp viên phương Tây nào đào thoát thành công từ Liên bang Xô viết. O. Gordievsky là người duy nhất. Trong nhiều trường hợp, kết cục của người điệp viên là đứng trước một đội hành hình của KGB.
Với O. Gordievsky, điều này lại càng khó tin hơn khi anh ta đã bị nghi ngờ, và lưới thép của KGB, trên thực tế đã siết lại xung quanh người điệp viên. Hiếm có người nào đã nằm trong hàm răng của con sư tử mà lại có thể thoát hiểm ngoạn mục như O. Gordievsky. Lâu lắm rồi, sau rất nhiều lần phải nhận quả đắng, bị KGB chơi trèo, MI6 mới lại có một cú qua mặt KGB ngoạn mục đến thế. Chiến dịch giải cứu điệp viên do MI6 tiến hành một cách hoàn hảo đã lấy lại rất nhiều uy tín cho cơ quan tình báo Anh.
KGB còn đau hơn bởi không chỉ sổng mất con mồi đã gần như nằm gọn trong lưới, cơ quan an ninh tiếng tăm này còn để cho một điệp viên nhị trùng hoạt động cho đối phương ngay trước mũi các nhân viên phản gián của mình trong một thời gian dài đến khó tin: Mười một năm trời. Trong suốt thời gian đó, O. Gordievsky đã trao cho MI6 và các cơ quan tình báo phương Tây những tài liệu tối mật, giúp cho phản gián Anh và các nước đồng minh bóc gỡ, bắt giữ nhiều điệp viên sừng sỏ của Liên Xô, đặc biệt là trên địa bàn Bắc Âu.
Một hậu quả nặng nề khác đến với KGB ngay sau khi người điệp viên Anh đào thoát vào ngày 20-7-1985. Hơn hai tháng sau, tháng 10-1985, 31 điệp viên Liên Xô do O. Gordievsky nhận diện bị phía Anh trục xuất khỏi London. Sau vụ trục xuất kỉ lục 105 nhân viên tình báo Liên Xô khỏi London năm 1971 do sự phản bội của điệp viên Oleg Lyalin, đây là một đòn nặng nề giáng vào các hoạt động của KGB ở địa bàn Anh. Do bị trục xuất quá nhiều, bộ máy KGB hoạt động ở London thời điểm ấy hoàn toàn thiếu vắng các điệp viên, đến nỗi Trung tâm Moscow buộc phải bổ nhiệm Aleksandr Smagin, vốn là cựu sĩ quan an ninh ở sứ quán Liên Xô, một người không có kinh nghiệm hoạt động mật, làm điệp viên KGB phụ trách địa bàn! Từ đó trở đi, London trở thành địa bàn mà KGB thu thập tin tức tình báo khó khăn vào loại bậc nhất trong số thủ đô các nước phương Tây.
Thêm nữa, với kiến thức vô song trong thời gian làm việc tại Tổng hành dinh KGB ở Moscow cùng kinh nghiệm hoạt động thực tiễn tại các địa bàn nước ngoài, O. Gordievsky đã cung cấp một lượng tài liệu khổng lồ cho các cơ quan đặc vụ phương Tây về các biện pháp nghiệp vụ chuyên biệt, cơ cấu, hình thức, nhiệm vụ của các bộ phận trong KGB, đặc điểm tính cách cá nhân của hầu hết các nhà lãnh đạo chủ chốt trong bộ máy KGB.
Tất cả tạo nên một bức tranh tổng thể, gây ấn tượng đặc biệt tiêu cực về hình ảnh của cơ quan an ninh Xô viết trước thế giới. O. Gordievsky đã cộng tác cùng với nhà sử học tại Đại học Cambridge là giáo sư Christopher Andrew, để viết cuốn sách KGB: Câu chuyện nội bộ về những chiến dịch tình báo đối ngoại từ Lenin đến Gorbachev. Ảnh hưởng tiêu cực của cuốn sách này lớn đến nỗi giám đốc KGB khi ấy là Kryuchkov đã ra lệnh cho KGB phải có những biện pháp đặc biệt chống lại cả cuốn sách lẫn tác giả cuốn sách. Trong một chỉ thị tuyệt mật được ban hành tháng 9 năm 1990, Vladimir Kryuchkov chỉ thị KGB phải sử dụng các chiến dịch gây ảnh hưởng cũng như các biện pháp đặc biệt để “tạo nên một hình ảnh tích cực cũng như khuếch trương các chiến dịch thành công của KGB”.
Chính chủ trương này đã dẫn tới những hậu quả tai hại về sau, khi KGB có khuynh hướng hấp tấp công bố những chiến tích của mình cũng như vội vã bắt nóng các điệp viên nằm vùng của đối phương mà không để ý đến sự an nguy của nguồn tin, khiến không ít điệp viên quý giá của Liên Xô ở phương Tây gặp nguy.
Sau này, trong một cuộc trả lời phỏng vấn, khi được hỏi điệp viên nào của phương Tây đã gây tổn thất nặng nề nhất cho KGB, Trung tướng KGB Pavel Sudoplatov đã không ngần ngại trả lời: O. Gordievsky.
+++++


Nhưng đấy là chuyện sau này, còn ngay khi O. Gordievsky biến mất, KGB không biết chắc điều gì đã xảy ra. Đã xuất hiện vô số những tin đồn đoán về số phận của người lẽ ra đã được lựa chọn làm Trưởng trạm KGB ở London. Đã không có bất cứ một thông báo nào được chính thức đưa ra.
KGB để rò rỉ một cách có chủ ý những tin tức rằng vào buổi tối hôm đại sứ Anh mở tiệc chiêu đãi nhận nhiệm vụ, lợi dụng khách khứa ra vào đông đúc, một số điệp viên Anh đã bí mật đưa O. Gordievsky chạy vào trong sứ quán Anh rồi sau đó bằng một cách nào đó đưa người điệp viên ra khỏi lãnh thổ Liên Xô.
Chỉ ít ngày sau khi O. Gordievsky trốn thoát, Đại sứ Anh tại Liên Xô, Sir Bryan Cartledge được triệu đến Bộ Ngoại giao Liên Xô. Tại đấy, một quan chức Liên Xô đưa ra một tấm ảnh chụp vài ngày trước, trong đó vị tân đại sứ đứng trong buổi tiệc mừng, xung quanh là các nhân viên ngoại giao. Vị quan chức Liên Xô chỉ vào hai người, chính là hai điệp viên MI6 đã thoát sang Phần Lan cùng với O. Gordievsky, kết tội rằng họ đã giúp người điệp viên nhị trùng KGB đào thoát. Vị đại sứ Anh trình diễn một vẻ mặt ngây thơ vô tội, còn vị quan chức Liên Xô khẳng định rằng hai người nọ, cùng với một số nhân viên sứ quán khác nữa, phải rời khỏi Liên Xô trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ.
Phía Liên Xô hoàn toàn không có manh mối nào về việc O. Gordievsky đã đi đâu sau ngày 20-7-1985. Vài tuần lễ sau, MI6 mới quyết định rò rỉ tin tức cho đối thủ biết. Nhưng London không phải là nơi thích hợp để tiết lộ một tin tức như vậy. Bởi thế, điệp viên MI6 Gerry Warner, một người trong nhóm các điệp viên MI6 chịu trách nhiệm điều khiển O. Gordievsky, quyết định đi Paris. Ở đó, G. Warner đề nghị Trưởng trạm MI6 tại Pháp bố trí cuộc gặp với một nhân viên sứ quán Liên Xô mà anh ta biết chắc không phải là người của KGB. Cuộc gặp diễn ra tại một câu lạc bộ sang trọng ở thủ đô Paris. Người đại diện cho phía Liên Xô tới cuộc gặp là lãnh sự phụ trách mảng khoa học công nghệ của Đại sứ quán. Sau màn giới thiệu, G. Warner đi thẳng vào câu chuyện: “Chúng tôi có một thông điệp muốn gửi cho người đứng đầu trạm KGB của các ông. Chúng tôi biết các ông đang tìm kiếm O. Gordievsky. Chúng tôi đã có anh ta. Chúng tôi muốn gia đình anh ta được đoàn tụ”.
Thông điệp được chuyển về Moscow. Câu trả lời là “không”. Tòa án Liên Xô đã quyết định kết án tử hình vắng mặt O. Gordievsky! Thế nên sẽ không có chuyện vợ con O. Gordievsky được ra nước ngoài để đoàn tụ với kẻ phản bội.
Ngay cả khi người Anh đang hoan hỉ với thắng lợi của chiến dịch giải cứu thành công O. Gordievsky thì vẫn còn đó một vấn đề đau đầu chưa được giải quyết. Đó chính là điều mà O. Gordievsky nói ngay khi vừa gặp mặt các nhân viên tình báo Anh ở biên giới Phần Lan, rằng mình đã bị phản bội.
Câu hỏi đặt ra là: “Ai?”.
Câu trả lời chỉ đến sau nhiều năm. Còn khi ấy, trong những ngày tháng 7 năm 1985 nhiều biến động, đã có một sự kiện khác xảy ra. Đúng bốn ngày sau khi O. Gordievsky vượt qua biên giới sang Phần Lan, một người đàn ông đứng trước quầy làm thủ tục xuất cảnh ở phi trường Sheremetyevo ngoại ô Moscow lúc 10 giờ sáng ngày 24-7-1985. Người lính biên phòng trẻ tuổi quan sát chủ nhân đang trình hộ chiếu, một người đàn ông cao lớn, có thể hình khỏe mạnh, tóc hoe vàng, mắt xám và một hàng ria cong vểnh bên trên cái cằm rắn chắc. Sau khi xem xét kĩ lưỡng cuốn hộ chiếu, nhấc điện thoại nói vài câu gì đó, người lính biên phòng khoát tay để người đàn ông đi qua.
Đấy chính là người mà hồi tháng 8-1984, khi quay về Moscow nghỉ phép, O. Gordievsky đã nghe người đồng nghiệp của mình ở KGB là Nikolai Gribin nhắc đến tên với vẻ phàn nàn, rằng ông ta đang là ứng cử viên đầy hứa hẹn cho chức vụ người đứng đầu Trạm KGB tại London.
Người đàn ông đó là điệp viên KGB cao cấp Vitaly Sergeyevich Yurchenko, mang quân hàm đại tá nhưng sắp lên hàm tướng trong Ban 1 thuộc Tổng cục Một KGB.
Hôm 24-7-1985 ấy, V. Yurchenko bắt chuyến bay đi Rome, thủ đô nước Ý.