3
Gián điệp trên cao
“Thật chẳng khác nào cậu bé bị bắt quà tang khi tay đang ở trong lọ kẹo".
Thượng nghị sĩ Richard B. Russell - Chủ tịch Ủy ban quân lực Thượng viện Mỹ
Hôm đó là ngày 1-5-1960, Quốc tế Lao động, một ngày lễ ở Liên bang Xô viết. Như thường lệ, vào ngày lễ trọng như vậy, người ta tổ chức diễu binh trên Quảng trường Đỏ, trước lăng Lenin. Tại đây tụ tập rất đông người, các cựu chiến binh, sinh viên, học sinh, quân nhân... Và cũng như thường lệ, sẽ diễn ra cuộc diễu binh của các lực lượng vũ trang Xô viết với đủ loại vũ khí trang bị hiện đại, trước con mắt săm soi kĩ lưỡng của tùy viên quân sự các nước phương Tây đang có mặt ở Moscow.
Ở khu vực lễ đài trên làng Lenin, phía sau một hàng các cháu thiếu nhi đóng vai trò danh dự có nhà lãnh đạo Xô viết Nikita S. Khrushchev, Bộ trưởng Quốc phòng Rodion Y. Malinovsky, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Kliment Y. Voroshilov, Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Cộng sản Đông Đức Otto Grotewohl cùng một loạt các quan khách khác.
Bình thường, trong những buổi lễ trang trọng thế này, đứng gần Nikita S. Khrushchev thường có Nguyên soái Sergey Biryuzov, Tư lệnh lực lượng Phòng không Xô viết. Nhưng hôm nay, Nguyên soái S. Biryuzov không có mặt trên lễ đài. Ông đang ở tại Sở chỉ huy tác chiến để giám sát một nhiệm vụ trực chiến đặc biệt. Nguyên do của sự vắng mặt này xuất phát từ một cuộc điện thoại của Bộ trưởng Quốc phòng R. Malinovsky tới Nikita S. Khrushchev vào lúc sáng sớm, báo tin về một vụ đột nhập nghiêm trọng không phận Liên bang Xô viết. Tiếp đấy là một cuộc nói chuyện đặc biệt căng thẳng, cũng qua điện thoại, giữa Nikita S. Khrushchev với Nguyên soái S. Biryuzov; nhà lãnh đạo Xô viết đã giận dữ quát tháo ầm ĩ trước khi bỏ máy xuống...
Trong số các nhà ngoại giao nước ngoài có mặt trên Quảng trường Đỏ chứng kiến buổi diễu binh hôm ấy có Llewellyn E. Thompson, Đại sứ Mỹ tại Liên Xô. L. Thompson có quan hệ thân tình với cá nhân nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev, từng đóng góp nhiều vào việc củng cố quan hệ giữa Washington và Moscow. Cũng chính L. Thompson là người giúp sức chuẩn bị cho cuộc họp thượng đỉnh giữa các nhà lãnh đạo bốn cường quốc Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp, theo dự kiến sắp diễn ra tại Pháp vào trung tuần tháng 5-1960, một cuộc họp mà L. Thompson hi vọng sẽ làm giảm tình trạng căng thẳng có thể dẫn tới xung đột hủy diệt thế giới.
Đúng 10 giờ sáng, cuộc diễu binh bắt đầu. Được một lát, từ chỗ ngồi của mình, Đại sứ L. Thompson nhận thấy có sự chuyển động trên khán đài. Một quân nhân mang sắc phục của không quân Liên Xô từ bên rìa khán đài len lỏi qua các quan khách, tiến lại gần N. Khrushchev. Đó là Nguyên soái Konstantin A. Vershinin, Tham mưu trưởng lực lượng Không quân Liên Xô. Nguyên soái K. Vershinin lại gần và ghé vào tai N. Khrushchev, nói thầm điều gì đó. Trong giây lát, Đại sứ L. Thompson nhận thấy khuôn mặt nhà lãnh đạo Xô viết bừng lên một niềm hứng khởi không kiềm chế nổi, trong khi phía trước khán đài, các đơn vị quân đội vẫn tiếp tục diễu qua trong tiếng nhạc hùng tráng. Đại sứ L. Thompson tò mò tự hỏi không hiểu điều gì đã làm cho N. Khrushchev vui mừng đến vậy...
Sau này nhớ lại, Đại sứ L. Thompson tin chắc mình đã chứng kiến giây phút nhà lãnh đạo Xô viết được thông báo rằng chiếc máy bay gián điệp U-2 của Mỹ do phi công Francis Gary Powers điều khiển đã bị bắn hạ trên lãnh thổ Liên Xô, gần khu vực Sverdlovsk.
+++++
Cùng chia sẻ những giá trị về dân chủ với Hoa Kỳ, lại có chung biên giới với Armenia (một nước cộng hòa thành viên trong Liên bang Xô viết) nên Thổ Nhĩ Kỳ đương nhiên nhận được sự bảo trợ của Mỹ thông qua một hiệp ước phòng thủ chung. Kết quả của hiệp ước này là hàng loạt căn cứ quân sự của Mỹ, cái bí mật, cái công khai, được thiết lập trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ.
Một trong số đó là căn cứ không quân Incirlik nằm ở phía đông thành phố cổ Adana, cách trung tâm thành phố khoảng 10 dặm. Ẩn mình dưới bóng dãy núi Taurus phía nam Thổ Nhĩ Kỳ, bên trong căn cứ không quân này là nơi trú đóng một cơ sở tuyệt mật của CIA mang mật danh Đơn vị 10-10.
Đây là đơn vị do thám của tình báo Mỹ với con bài chủ lực: Máy bay gián điệp tầm siêu cao U-2.
Để những chiếc U-2 có thể đỗ trong các nhà chứa ở sân bay này là cả một chặng đường dài với những toan tính chiến lược của cả Liên Xô và Mỹ trong thời kì cuộc Chiến tranh Lạnh đang dần đi tới đỉnh điểm căng thẳng.
Tháng 8-1953, một vụ nổ gây chấn động như trận động đất đã diễn ra tại một địa điểm trên lãnh thổ nước Cộng hòa Kazakhstan, cách bãi thử vũ khí Semipalatinsk của Liên Xô chừng trăm dặm về phía tây. Vụ nổ này báo hiệu Liên Xô đã bước vào một kỉ nguyên mới sau khi thử nghiệm thành công bom nguyên tử bốn năm trước đó: Kỉ nguyên của vũ khí nhiệt hạch, với siêu bom H.
Trước đấy, Mỹ cũng đã tiến hành thành công một vụ nổ tương tự ở vùng quần đảo Bikini, tạo ra một đám mây hình nấm cao tới 25 dặm. Người Mỹ gọi nó là Ivy Mike, trong khi phía Liên Xô gọi quả bom của mình là Sloika - loại bánh kem nhiều lớp, dựa trên ý tưởng ban đầu của viện sĩ Andrei Sakharov khi chế tạo quả bom khinh khí bằng cách xếp nhiều lớp nguyên liệu để tạo ra vụ nổ.
Theo tính toán, sức công phá của Sloika lớn gấp 30 lần quả bom nguyên tử Mỹ đã cho nổ hồi cuối Đệ nhị thế chiến ở Hiroshima làm 140.000 người chết. Một năm sau, Liên Xô tiếp tục cho nổ thử quả bom thứ hai có kết cấu gần giống quả bom H của Mỹ với đương lượng nổ 1,6 megaton, mạnh gấp 100 lần so với quả bom ở Hiroshima. Cuộc chạy đua vũ trang trên bình diện vũ khí hủy diệt lớn bắt đầu được đẩy cao tốc độ.
Không chỉ trên đất liền, cuộc chạy đua vũ trang này lan ra trên các đại dương. Ở phía cực bắc lãnh thổ Liên Xô, ngoài khơi vùng đảo mang tên Đất Mới, Hải quân Xô viết lắp một đầu đạn hạt nhân vào ngư lôi và khai hỏa, nhằm vào một “hạm đội” mục tiêu gồm 30 tàu chiến, trên đó có khoảng 500 con cừu và dê. Các con vật thí nghiệm chết ngay tức khắc, còn những chiếc tàu chiến bị áp lực sóng xung kích cực mạnh của vụ nổ làm cho tan biến, cứ như thể chúng chưa từng tồn tại trên đời.
Tháng 11-1956, nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev chủ trì một buổi tiếp tân ở Moscow chào mừng Thủ tướng Ba Lan thăm Liên Xô. Vài tuần trước đó, N. Khrushchev ra lệnh cho xe tăng Liên Xô tiến vào thủ đô Budapest của Hungary, đập tan cuộc nổi dậy nhằm lật đổ chính quyền cộng sản ở nước này. Sự kiện này làm dấy lên một làn sóng chỉ trích dữ dội của phương Tây nhằm vào Liên Xô. Các nhà ngoại giao phương Tây được mời tới dự buổi tiếp tân tự nhủ không nên tỏ thái độ khiêu khích quá đáng có thể khiến chủ nhà bực tức. Tay cầm một li vodka, N. Khrushchev đứng ở giữa căn phòng, hướng về các vị khách, đề nghị mọi người im lặng rồi bắt đầu bài diễn thuyết ứng khẩu:
“Chúng tôi là những người Bolshevik! Nếu các ông không ưa chúng tôi thì đừng chấp nhận lời mời của chúng tôi và cũng đừng mời chúng tôi tới gặp các ông! Cho dù các ông có thích hay không thì lịch sử cũng thuộc về chúng tôi. Chúng tôi sẽ đào mồ chôn các ông!”
Những lời nói này có lẽ sẽ không gây ấn tượng mạnh đối với các nhà ngoại giao phương Tây nếu như người nói ra không phải là một trong hai người duy nhất trên trái đất lúc ấy có quyền ra lệnh khai hỏa một vụ tấn công bằng vũ khí hạt nhân. Nấm mồ mà nhà lãnh đạo Xô viết ám chỉ tới phải chăng được tạo ra bằng cột nấm của một vụ nổ nhiệt hạch? Phải chăng nhà lãnh đạo Xô viết đang ra lệnh tăng tốc cuộc chạy đua vũ trang trên lĩnh vực vũ khí nhiệt hạch và quyết giành chiến thắng trong cuộc đua chết chóc này?
Chỉ có một cách duy nhất để trả lời những câu hỏi này: Do thám.
Cho đến lúc đó, những bức không ảnh chụp trên lãnh thổ Liên Xô thu thập được từ các khinh khí cầu do thám hầu như có rất ít tác dụng do lẽ chúng chỉ chụp được những vị trí ngẫu nhiên, ở nơi mà làn gió vô tình đưa những chiếc khinh khí cầu tới. Hơn thế nữa, phần lớn các khinh khí cầu này đều bị rơi trên lãnh thổ Liên Xô. Năm 1953, không quân Hoàng gia Anh phái một chiếc máy bay ném bom B-57 đã được xóa hết mọi dấu hiệu trên thân, bay phía trên một địa điểm thử tên lửa mới bị phát hiện của Liên Xô nằm ở gần vùng châu thổ sông Volga. Chiếc máy bay này hạ cánh xuống Iran với một vết đạn sâu hoắm trên thân và chỉ cung cấp được vài tấm ảnh hữu ích.
Kết quả là trong năm 1954, báo cáo dự đoán tình báo quốc gia Mỹ không có bất cứ số liệu nào để đưa ra các con số ước đoán về số lượng cũng như tầm bắn của tên lửa đạn đạo Liên Xô. Cũng không ai trong cộng đồng tình báo Mỹ nghĩ rằng cần phải tăng cường chất lượng của các hoạt động gián điệp để trả lời câu hỏi mà các nhà lãnh đạo chính trị đặt ra. Gợi ý nghiêm túc duy nhất đưa ra khi ấy là phải chế tạo ra một loại máy bay do thám mới.
Ở CIA, nhận định chung đưa ra là: “Chúng ta phải nâng cao trần bay lên”.
Thoạt đầu, nhiệm vụ này được giao cho không quân Mỹ. Họ thiết kế một mẫu máy bay do thám hai động cơ có cấu trúc ọp ẹp, đặt tên là Bell X-16. Chiếc máy bay này không bao giờ bay. Rồi khi ấy, Allen Dulles, giám đốc CIA quyết định đặt niềm tin vào Edwin “Din” Land, một nhà tỉ phú từng đầu tư vào việc chế tạo những chiếc máy ảnh Polaroid chụp ảnh lấy ngay. Allen Dulles thảo luận với Edwin “Din” Land rồi trao cho ông này vị trí đứng đầu bộ phận tối mật nằm trong một ủy ban do Tổng thống D. Eisenhower đích thân kí lệnh thành lập. Nhiệm vụ của ủy ban này là giải quyết một bài toán hóc búa đặt ra cho nước Mỹ: Làm thế nào để tránh một vụ Trân Châu Cảng bằng vũ khí hạt nhân!
Xương sống trong kế hoạch của E. Land là chế tạo một cỗ máy biết bay dựa trên ý tưởng của người bạn mình, Kelly Johnson, khi ấy đang làm công việc thiết kế cho Công ty Lockheed. Đó sẽ là một dạng “tàu lượn” mang động cơ của một chiếc máy bay phản lực! Cỗ máy không tiền khoáng hậu này, hay cũng có thể gọi nó là chiếc máy bay độc nhất vô nhị trên thế giới ở thời điểm đó, theo thiết kế có thể bay ở độ cao 70.000 bộ trên lãnh thổ Liên bang Xô viết, trong điều kiện tối ưu, thời tiết tốt quang mây có khả năng chụp ảnh chi tiết từng phút, trên một hành lang rộng tới 200 dặm, dài 2.500 dặm.
Theo E. Land, chiếc “tàu lượn” đặc biệt này sẽ bay ở độ cao vượt mọi tầm với của hệ thống phòng không Xô viết hiện hành khi đó, do vậy sẽ tránh được khả năng bị ngăn chặn. Theo đánh giá của Mỹ thì cũng không có bất cứ loại máy bay tiêm kích đánh chặn nào mà Liên Xô sở hữu đến thời điểm đó vươn tới trần bay đủ cao để có khả năng gây sát thương cho chiếc máy bay - tàu lượn này.
E. Land khẳng định một cách sai lầm rằng ngay cả trong trường hợp bị phát hiện thì việc chiếc máy bay này không trang bị vũ khí sẽ giảm đến mức tối thiểu sự tức giận của phía Xô viết!
Tuy nhiên, E. Land cũng cảnh báo rằng hệ thống tên lửa đất đối không của phía Xô viết đang ngày càng được cải tiến nhanh chóng và có thể vươn tới những tầm bắn hiệu quả mới. Do vậy, việc duy trì những chuyến bay của thiết bị đặc biệt này trong phạm vi an toàn “sẽ chỉ kéo dài trong một số ít năm”. Bởi vậy, CIA cần thiết lập một lực lượng đặc nhiệm theo sát đề án, trong khi Công ty Lockheed sẽ phải hành động khẩn trương để cho ra đời loại máy bay này.
Các đề xuất của E. Land đưa ra vào ngày 5-11-1954 thì hai ngày sau, một chiếc máy bay ném bom B-29 của Mỹ có trần bay 36.000 bộ được chuyển đổi sang phục vụ hoạt động do thám bị lực lượng phòng không Xô viết bắn rơi trên biển Nhật Bản khi đang bay chụp ảnh một căn cứ quân sự của Liên Xô trên quần đảo Kuril.
Ngày 24-11-1954, tại phòng Bầu Dục trong Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ D. Eisenhower cùng Giám đốc CIA A. Dulles, trợ lí của A. Dulles và viên tướng không quân Nathan Twining, Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, ngồi họp bàn lần cuối để thông qua kế hoạch phát triển loại máy bay do thám U-2.
Đến 4 giờ chiều hôm đó, một cú điện thoại từ Lầu Năm Góc gọi tới chỗ nhà thiết kế Kelly Johnson ở hãng Lockheed; ông ta được toàn quyền thúc đẩy chương trình chế tạo chiếc máy bay do thám độc nhất vô nhị của tình báo Mỹ. Kelly Johnson chỉ được cho phép vẻn vẹn 8 tháng để hoàn thành chương trình này.
+++++
Với thời hạn 8 tháng đặt ra, Kelly Johnson cùng đội ngũ nhân viên của mình làm việc như điên suốt ngày đêm để có thể cho ra đời mẫu đầu tiên của chiếc máy bay đặc biệt, được định danh là U-2. Vốn từng tham gia thiết kế loại máy bay chiến đấu phản lực F-104 Starfighter, Kelly Johnson quyết định chiếc U-2 sẽ có thiết kế làm sao để đôi cánh của nó giống như hai cái gọng cắm vào thân của một máy bay F-104 Starfighter, vốn đã có hình dạng thuôn dài như một quả tên lửa đất đối không của Liên Xô!
Do yêu cầu bắt buộc là chiếc máy bay phải có đủ nhiên liệu để bay đơn độc trên một hành trình dài dằng dặc nhiều ngàn dặm nên hai cánh của chiếc máy bay cũng đồng thời là hai thùng nhiên liệu khổng lồ với mỗi cánh chứa được tới 2.200 lít nhiên liệu. Do hai cánh chứa đầy nhiên liệu như thế nên phi công sẽ phải hết sức thận trọng trong khi điều khiển chiếc máy bay đặc biệt này, không để nó quá nghiêng một bên cánh khi lấy độ cao cũng như trong khi bay, bởi như thế sẽ khiến cho máy bay mất cân bằng nghiêm trọng, có thể dẫn tới thảm họa.
Để đảm bảo chiếc máy bay có thể “lướt” trên không trung với tốc độ cao trong khi lại phải lắp đặt các loại máy ảnh, máy đo cảm biến phức tạp, thiết kế của Kelly Johnson đòi hỏi giảm thiểu tối đa trọng lượng của nó. Do vậy, trừ phiên bản dành cho huấn luyện, máy bay U-2 chỉ có một chỗ ngồi, không có bộ khung chính và thân máy bay được chế tạo bằng nhôm hoặc titan mỏng hơn khoảng hai phần ba so với thân máy bay thông thường.
Do kết cấu kiểu “tàu lượn” đặc biệt nên ngay cả trong trường hợp động cơ của máy bay bị trục trặc, nó vẫn có thể tiếp tục “trượt” trên không trung một quãng đường dài tới 250 dặm, thậm chí với những phi công có kĩ năng điều khiển khéo léo thì quãng đường này có thể còn dài gấp đôi.
Cũng để giảm bớt trọng lượng và lực cản, chiếc U-2 chỉ có hai bộ phận bánh xe trước và sau lắp dọc theo thân máy bay. Do đó, để giữ cân bằng khi đỗ trên đường băng và khi cất cánh, máy bay U-2 được gá thêm hai bánh phụ ở hai bên cánh. Những bánh xe này sẽ tự động rời khỏi cánh khi chiếc U-2 cất cánh. Đến khi hạ cánh, phi công phải điều khiển chiếc máy bay kềnh càng đáp xuống giống như một chiếc xe đạp hai bánh với sự hỗ trợ của nhân viên mặt đất. Cấu trúc này khiến máy bay có độ tròng trành rất lớn và thao tác hạ cánh là một trong những kĩ thuật phức tạp và khó khăn nhất mà một phi công phải thực hiện khi điều khiển chiếc U-2.
Do chiếc U-2 được thiết kể để bay ở độ cao khoảng 70.000 bộ gần với rìa khí quyển nên các nhân viên kĩ thuật phải chế tạo bộ đồ bay đặc biệt cho phi công lái chiếc máy bay này. Thực chất, nó là bộ đồ dành cho phi hành gia vũ trụ, với hệ thống cấp oxy cho phi công nằm bên trong buồng lái nối với bộ đồ bay này. Một giờ đồng hồ trước khi lên máy bay bắt đầu thực hiện phi vụ, phi công đã phải thở 100% oxy để loại bỏ hàm lượng nitơ trong máu, còn trong khi di chuyển ra máy bay, họ sẽ thở bằng một bình cung cấp oxy cầm tay.
Sau 8 tháng miệt mài làm việc, tháng 7-1955, đội ngũ các chuyên gia, kĩ sư của Lockheed dưới quyền chỉ huy của Kelly Johnson đã trình làng chiếc máy bay U-2 đầu tiên cho CIA và giới chức quân sự Mỹ xem xét. Khi ấy, các chuyên gia quân sự Mỹ đặt cho con quái thú không gian này biệt danh Bà Rồng!
Thoạt đầu, khi nhìn thấy hình dạng kì dị của chiếc U-2, không mấy người tin là nó có thể bay lên được, lại còn tới độ cao 70.000 bộ và trên quãng đường dự kiến 2.500 dặm! Được sơn màu trắng - sau này người ta mới sơn màu đen - đôi cánh dài quá khổ cùng với việc khác với các máy bay thông thường có ba bộ bánh đáp, chiếc U-2 chỉ có hai bộ phận bánh trước bánh sau để đứng trên đường băng với sự hỗ trợ của hai bánh phụ chống vào hai cánh, khiến nó trông giống một chiếc tàu lượn đồ chơi do đứa trẻ tinh nghịch tùy hứng vẽ ra.
Nhưng rồi trong sự ngạc nhiên của nhiều người, chiếc U-2 đã bay được. Mặc dù không bao giờ có thể bay vượt quá tốc độ âm thanh như các nhà hoạch định chương trình mong muốn nhưng với độ cao trần bay lên tới 70.000 bộ, có thể đảm bảo rằng chiếc máy bay sẽ không phải hứng chịu rủi ro từ hệ thống phòng không - không quân của Liên Xô do lẽ CIA tin rằng ở thời điểm ấy, Liên Xô không có bất cứ một hệ thống tên lửa hay máy bay đánh chặn, thậm chí cả hệ thống radar nào, có thể vươn tới được tầm cao ấy.
Với việc những chiếc U-2 đầu tiên được chế tạo thành công, từ tháng 8-1955, quá trình đào tạo phi công điều khiển loại máy bay đặc biệt này cũng được gấp rút tiến hành. Do cấu tạo dị dạng của chiếc U-2, việc lái máy bay ở độ cao gần rìa khí quyển, không khí rất loãng, phải thao tác các loại máy móc chụp ảnh phức tạp cộng với việc cất hạ cánh chỉ với hai bánh đáp có sự hỗ trợ từ mặt đất, đòi hỏi phải tuyển lựa những phi công có tố chất rất đặc biệt.
Quá trình thử nghiệm những chiếc U-2 đầu tiên và kết hợp đào tạo phi công diễn ra tại một địa điểm gọi là Hồ Groom, cũng được biết dưới tên gọi là Thị trấn Nước. Hoặc nó còn được biết dưới một mật danh nổi tiếng khác, Vùng 51, cái tên chưa bao giờ được quân đội Mỹ chính thức thừa nhận hoặc sử dụng. Vùng 51 nằm ở phía nam bang Nevada, cách Las Vegas chừng 75 dặm sâu vào bên trong hoang mạc, bao quanh bởi những dãy núi cao sừng sững. Đây là địa điểm do đội ngũ cố vấn của công trình sư Kelly Johnson lựa chọn, thích hợp cho việc giữ bí mật tối đa các chuyến bay thử nghiệm loại máy bay U-2.
Thế nên trong suốt mùa đông năm 1955, đầu năm 1956, rộ lên hàng loạt báo cáo của phi công các máy bay thương mại bay qua khu vực phía nam bang Nevada về việc họ nhận thấy các vật thể chưa từng biết tới bay lơ lửng đâu đó trên đầu họ. Đôi khi, ngay cả người dưới mặt đất cũng nhận thấy những hiện tượng lạ lùng. Toàn thân sơn màu trắng, chiếc U-2 bay ở độ cao mấy chục ngàn bộ phản chiếu ánh nắng mặt trời trông như những vật thể bay khá kì dị. Những phản ánh của phi công thương mại hoặc người dân về việc họ chứng kiến những vật thể bay lạ đó được tập trung về Trung tâm xử lí tin tức tình báo của Mỹ nằm ở căn cứ không quân Wright-Patterson tại bang Ohio và những vật thể đó được xếp vào dạng những vật thể bay không được nhận biết UFO.
Quân đội Mỹ cũng như CIA, dĩ nhiên không lên tiếng cải chính. Cứ để cho bức màn bí mật bao trùm chương trình máy bay do thám trị giá hàng tỉ đô la này càng lâu càng tốt.
Nhưng điều không thể tránh khỏi là chương trình phát triển máy bay do thám siêu đẳng U-2 chỉ giữ được trong vòng bí mật một khi những chiếc U-2 này còn nằm trong xưởng chế tạo máy bay, hoặc trong thời gian thử nghiệm ngắn ngủi, lúc người ta nhầm lẫn chúng với UFO. Còn một khi đã được triển khai trên thực địa, ngay lập tức các cơ quan tình báo nước ngoài đã để mắt đến chúng một cách nghiêm ngặt, với sự cảnh giác cao độ.
Để có thể tiến hành do thám trên vùng trời Liên Xô, những chiếc U-2 không thể xuất phát từ Vùng 51 hay một nơi nào đó trên lãnh thổ Mỹ. Quãng đường là quá xa để cho chiếc U-2 có thể tiến hành những điệp vụ như vậy, cho dù chúng được thiết kế để có thể tiếp nhiên liệu trên không. Thuận lợi hơn cả là những chiếc U-2 phải cất cánh từ lãnh thổ một đồng minh của Mỹ gần với Liên Xô và hạ cánh xuống lãnh thổ một đồng minh khác ở đầu bên kia của đường bay.
Muốn triển khai những chiếc U-2 do thám cùng với phi công ra bên ngoài lãnh thổ Mỹ, một câu chuyện ngụy trang được tạo ra để làm vỏ bọc. Các máy bay và phi công được phiên chế vào một đơn vị có nhiệm vụ thu thập các số liệu thông tin thời tiết ở trên tầng cao để cung cấp cho Ủy ban tư vấn quốc gia về hàng không vũ trụ! Trong một thông cáo báo chí, giới chức Mỹ thông báo rằng “các máy bay thuộc đơn vị dự báo thời tiết của không lực Hoa Kỳ sẽ tiến hành nghiên cứu dòng phản lực, các đám mây đối lưu và hiệu ứng tia vũ trụ phổ quát ở trên độ cao 55.000 bộ”.
+++++
Những chiếc U-2 đầu tiên ở nước ngoài được Mỹ triển khai tại Anh vào năm 1956, bên trong căn cứ của Không quân Hoàng gia Anh mang tên Lakenheath ở Suffolk. Ẩn mình phía sau những hàng rào bao bọc căn cứ nhưng những chiếc máy bay do thám lạ lẫm trang bị ống kính máy ảnh tối tân vẫn ngay lập tức thu hút sự chú ý của dư luận Anh. Ngày 1-6-1956. tờ tạp chí Flight ra hằng tuần của Cơ quan Hàng không vũ trụ Anh, đăng tải thông tin rằng một “vật thể bí ẩn” đã xuất hiện ở căn cứ không quân Lakenheath tại Suffolk.
Một thời gian sau, trên tờ Daily Express ở London xuất hiện bài báo mô tả “những chiếc U-2 của hãng Lockheed có thể bay ở tầm cao 65.000 bộ, vượt ra mọi khả năng đánh chặn của phía Xô viết, chụp ảnh những vùng lãnh thổ rộng lớn ở bên kia Bức Màn sắt, với một cuộc cách mạng về chụp không ảnh”.
Đến khi phi đội U-2 đầu tiên của Mỹ tới Tây Đức, các điệp viên KGB ngay lập tức hướng sự chú ý vào nó. Còn khi các máy bay U-2 được triển khai ở Thổ Nhĩ Kỳ thì các trạm nghe lén cùng hệ thống radar của phía Xô viết bố trí ở vùng Caucasus bắt đầu bám sát theo từng đường bay mỗi khi chúng hướng về phía biên giới Liên Xô.
Để giữ bí mật cho các phi vụ do thám của máy bay U-2, CIA đề nghị sử dụng Ủy ban cố vấn quốc gia về vũ trụ NACA làm bình phong cho các chiến dịch này và được giám đốc NACA khi ấy là Dryden đồng ý ngay. NACA được quyền tiếp cận dữ liệu do máy bay U-2 thu thập, nhưng toàn quyền điều phối các chiến dịch nằm trong tay CIA.
Ngày 30-4-1956, NACA phát đi thông cáo báo chí, nêu rõ: “Hôm qua, một máy bay mang động cơ phản lực đã bay ở độ cao gần rìa khí quyển, cao hơn các chuyến bay thông thường, trừ một số máy bay quân sự. Đây là một kiểu máy bay mới do hãng Lockheed phát triển mang tên U-2, có khả năng thu thập các dữ liệu cần thiết về thời tiết nhằm phục vụ kinh tế và thám hiểm không gian. Chương trình này sẽ không thể thực hiện nếu không có sự đóng góp hiệu quả của các nhà khoa học Mỹ cũng như sự hỗ trợ về cơ sở vật chất và kĩ thuật của Cơ quan Nghiên cứu thời tiết không quân Mỹ. Các cơ sở vật chất của không quân Mỹ sẽ tiếp tục được sử dụng trong chương trình nhằm tiến hành các nghiên cứu cần thiết ở nhiều khu vực khác trên thế giới. Chuyến bay đầu tiên, xuất phát từ Thị trấn Nước, bang Nevada, đã thu thập các số liệu ở vùng núi Rocky...”.
Phi vụ xâm nhập không phận Liên Xô đầu tiên của máy bay U-2 diễn ra vào ngày 4-7-1956, đúng một năm sau khi những chiếc máy bay này bắt đầu được thử nghiệm. Vào nửa đêm 3-7-1956, lệnh tiến hành phi vụ do Richard Bissell, một quan chức CIA cao cấp, chuyển từ Washington tới căn cứ không quân Wiesbaden ở Tây Đức, nơi chiếc máy bay xuất phát. R. Bissell là người được Giám đốc CIA Allen Dulles giao nhiệm vụ chỉ huy các phi vụ do thám trên không kể từ khi Tổng thống D. Eisenhower chấp thuận chương trình phát triển máy bay U-2 hồi năm 1954.
Người thực hiện chuyến bay U-2 đầu tiên trên lãnh thổ Liên Xô này là phi công Harvey Stockman, trên danh nghĩa là người của Phi đội thám sát thời tiết trực thuộc NACA. Khoảng 4 giờ sáng ngày 4-7-1956, H. Stockman điều khiển chiếc U-2 cất cánh từ Wiesbaden hướng về phía tây bắc, qua thành phố Poznan của Ba Lan rồi vào không phận Liên Xô từ Minsk trước khi ngoặt trái bay về phía Leningrad. Trên máy bay lắp loại máy ảnh Hycon B siêu hiện đại ở thời điểm ấy, với các cuộn phim siêu mỏng Mylar có độ dài đến 2.000 mét. Chiếc máy ảnh này chụp lại ba căn cứ máy bay ném bom tầm xa của lực lượng Không quân chiến lược Liên Xô nằm trên đường bay gần thành phố Leningrad, sau đó quay sang một cơ sở đóng tàu của hải quân ven biển Baltic đang được cải tạo, mở rộng để đóng các tàu ngầm hạt nhân. Trong khi H. Stockman đang trên đường quay về thì ở Moscow, đại sứ Mỹ tại Liên Xô mời nhà lãnh đạo N. Khrushchev tới nhà riêng dự bữa tiệc thịt nướng nhân ngày Quốc khánh Mỹ. Nhà lãnh đạo Xô viết chỉ được thông báo về vụ xâm nhập sau khi bữa tiệc đã kết thúc.
Giám đốc CIA Allen Dulles không biết rằng H. Stockman đã lái máy bay qua vùng trời Leningrad. Khi được R. Bissell báo cáo lại vào sáng 5-7, Allen Dulles nói: “Chuyến bay đầu tiên bao giờ cũng an toàn nhất”.
Năm ngày sau, 9-7-1956, CIA thực hiện chuyến bay do thám thứ hai bằng máy bay U-2 do phi công Marty Knutson điều khiển. Anh ta bay theo lộ trình dọc bờ biển Baltic rồi ngang qua phía trên một căn cứ không quân của phía Xô viết ở phía đông nam thành phố Leningrad. M. Knutson xác định rằng đó là căn cứ mang tên Engels, một sự xác nhận khiến các quan chức tình báo Mỹ bối rối bởi vì họ cho rằng có một căn cứ khác của Liên Xô cũng mang tên Engels nhưng nằm ở phía nam thành phố Saratov bên sông Volga.
Điều khiến các quan chức CIA đặc biệt quan tâm là trong chuyến bay do thám này, chiếc U-2 của M. Knutson đã chụp ảnh được loại máy bay ném bom chiến lược tầm xa của Liên Xô có thể mang bom nguyên tử mà phương Tây gọi là Bear. Đây chính là loại ném bom khổng lồ Tu-95 có tới 4 động cơ cánh quạt cỡ lớn có thể mang đầu đạn hạt nhân nặng 24 tấn. Với khả năng bay tới 5.000 dặm, tức hơn 8.500 km, về lí thuyết, nó có thể bay đủ xa để mang loại vũ khí hủy diệt này vào trung tâm nước Mỹ! Trong cuộc duyệt binh ngày 1-5-1955 trên Quảng trường Đỏ, các phóng viên và tùy viên quân sự phương Tây đã có dịp chứng kiến hàng chục chiếc máy bay loại này lượn vài vòng trên bầu trời Moscow. Kể từ đó, nó trở thành mục tiêu tìm hiểu hàng đầu của các cơ quan đặc biệt Mỹ. Việc chiếc U-2 của M. Knutson chụp ảnh được loại máy bay này ngay tại căn cứ nằm sâu trong nội địa Liên Xô là một thành tựu phi thường của tình báo do thám trên không Hoa Kỳ.
Những bức ảnh do M. Knutson chụp được rửa, phóng to và mang tới chỗ Tổng thống D. Eisenhower tại Nhà Trắng. Trong phòng Bầu Dục, hệt như hai chú bé say mê một món đồ chơi lạ mắt, tổng thống Mỹ cùng Giám đốc CIA Allen Dulles ngắm nghía kĩ càng những bức ảnh đen trắng khổ to do chiếc U-2 chụp được. Đối với Tổng thống D. Eisenhower, đây là bằng chứng hiển nhiên cho thấy kẻ thù của ông ta, nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev, đã có trong tay những món “đồ chơi” chết người đe dọa nước Mỹ.
Những tấm ảnh cũng cho thấy mặc dù hệ thống radar Xô viết liên tục bám theo chiếc U-2 nhưng các máy bay tiêm kích ở năm căn cứ quan trọng bậc nhất Liên Xô vẫn nằm ngay ngắn theo hàng lối chỉnh tề như bình thường, không có dấu hiệu nào cho thấy chúng chuẩn bị xuất kích để chặn chiếc U-2. Trong khi ấy, các máy bay ném bom cường kích trên sân đỗ không tản ra theo như nguyên tắc thông thường để đảm bảo an toàn, còn hệ thống súng phòng không cũng không chĩa lên trời mà vẫn ở tư thế quay nòng nằm ngang.
Một quan chức CIA, Herb Miller, khi xem những bức ảnh này đã đánh giá một cách sảng khoái rằng: “Giờ đây chúng ta không còn phải ‘ước tính’, ‘dự báo’ hay ‘đoán định’ nữa. Chúng ta có thể đi sâu để biết cặn kẽ toàn phần về đời sống của người Xô viết, hệ thống quân sự của họ, các nông trại của họ, hệ thống tưới tiêu của họ, các nhà máy của họ, hệ thống cung cấp năng lượng cho các nhà máy của họ, các khu nhà cho công nhân vận hành các nhà máy của họ, cách họ giải trí, hệ thống đường sắt cùng vô số hàng hóa vận chuyển trên đó”.
Những bức ảnh này giá trị hàng tỉ đô la! Quốc hội Mỹ đã yêu cầu chi ngân sách ít nhất 4 tỉ USD để hiện đại hóa hệ thống không quân của Hoa Kỳ nhằm chống lại mối đe dọa chết người từ phía kẻ thù; sau khi xem những bức ảnh do máy bay U-2 chụp được, Tổng thống D. Eisenhower ấn tượng đến nỗi chỉ giảm đi dưới một tỉ đô la khi chấp thuận ngân sách này!
Nhưng chuyến bay của M. Knutson cũng khiến cho chương trình phát triển máy bay U-2 không thể còn nằm trong vòng bí mật được nữa. Một ngày sau chuyến bay, 10-7-1956, thông qua Đại sứ Liên Xô ở Washington, phía Xô viết chính thức gửi lời phản đối tới Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Đây là thông điệp phản đối đầu tiên của Liên Xô liên quan đến vấn đề này, nhưng là về chuyến bay do thám ngày Quốc khánh Mỹ của H. Stockman diễn ra 6 ngày trước đó. Lộ trình do phía Xô viết đưa ra, tuy không chính xác hoàn toàn đến từng chi tiết, nhưng về cơ bản khớp với đường bay mà H. Stockman đã thực hiện, kể từ khi bay vào không phận Đông Đức vào lúc 8 giờ 18 phút sáng 4-7, sau đó lần lượt qua Grodno, Minsk, Vilnius, Kaunas và Kaliningrad.
Qua những tín hiệu do các máy móc lắp bên trong chiếc U-2 thu nhận được, CIA biết là chiếc máy bay của H. Stockman tuy không bị bắn hạ nhưng nó đã bị radar Xô viết “khóa” làm mục tiêu trên suốt hành trình bay. Các chuyến bay của U-2 sau đó cũng thế.
Các máy bay tiêm kích của phía Xô viết cũng đã hết sức nỗ lực nhằm đánh chặn kẻ xâm nhập ngược ngạo nhưng không thể vươn tới được tầm cao đủ để phóng tên lửa vào chiếc U-2. Trong chuyến bay ngày 9-7-1956, khi di chuyển về phía Leningrad, M. Knutson nhận thấy có tới mười lăm máy bay tiêm kích MiG Xô viết hướng về phía anh ta, nhưng tất cả đều phải bỏ cuộc khi lên tới độ cao có không khí quá loãng khiến các phi công Xô viết không sao chịu nổi.
Tuy không bị hệ thống phòng không không quân của Liên Xô làm khó dễ trong thời gian đầu nhưng quá trình thử nghiệm cũng như vận hành máy bay U-2 cả ở Mỹ cũng như nước ngoài đã gặp phải không ít những tổn thất.
Ngày 16-2-1956, một chiếc U-2 gặp nạn ở bang Arizona khi buồng lái bất ngờ bốc cháy. Phi công Robert J. Everett, làm việc cho hãng Lockheed nhưng dưới vỏ bọc là cho NACA với số hiệu 357, nhảy dù ra an toàn từ độ cao 30.000 bộ.
Ngày 17-9-1956, một máy bay U-2 đâm xuống đất gần thành phố Kaiserslautern, Tây Đức, khiến phi công Howard Carey, cũng làm việc cho Lockheed, thiệt mạng.
Ngày 4-4-1957, một phi công khác của Lockheed là Robert L. Sieker, đã chết trong một vụ đâm máy bay U-2 ở tây bắc bang Nevada.
Ngày 10-7-1958, Bộ chỉ huy Không quân chiến lược Mỹ buộc phải tạm thời ngừng chương trình máy bay U-2 trong một thời gian ngắn để điều tra về hai vụ tai nạn máy bay U-2 diễn ra trong vòng 24 giờ đồng hồ. Trong thời gian 2 năm 1957 và 1958, đã có ít nhất 5 phi công Mỹ thiệt mạng trong các vụ tai nạn máy bay U-2.
Trong khi ấy, các nhà hoạch định chính sách Mỹ cũng có các quan điểm khác nhau về chương trình tốn kém nhiều rủi ro này. Ngày 19-7-1956, Tổng thống D. Eisenhower triệu Allen Dulles tới phòng làm việc, nhắc nhở Giám đốc CIA rằng phải đảm bảo chương trình máy bay U-2 không thể bị thất bại, hay nói cách khác là không được phép để bất cứ một chiếc U-2 nào rơi trên lãnh thổ Liên Xô. D. Eisenhower muốn mình được lịch sử ghi nhận là một người kiến tạo hơn là phá hủy hòa bình. Tổng thống Mỹ biết chắc chắn người Xô viết đang hết sức giận dữ. Đặt mình vào vị trí của người Xô viết, D. Eisenhower thừa nhận rằng giả dụ như có một cường quốc nào đó cho máy bay do thám bay trên không phận nước Mỹ thì đó chẳng khác nào một hành động tuyên chiến.
+++++
Các chuyến bay do thám trên lãnh thổ Liên Xô bằng máy bay U-2 do CIA chỉ đạo tiếp tục diễn ra sau đó trong sự phản đối liên tục của phía Xô viết. Nhưng nhà lãnh đạo N. Khrushchev biết rằng những lời phản đối chỉ thể hiện sự vô vọng nếu không sớm tìm ra cách để vít những chiếc U-2 bay ở độ cao không tưởng xuống mặt đất.
Hai năm sau khi U-2 thực hiện những chuyến bay đầu tiên, đột nhiên Tổng thống D. Eisenhower không còn cảm thấy mặn mà với chương trình do thám bằng máy bay U-2 nữa. D. Eisenhower lệnh cho Allen Dulles rằng kể từ lúc đó, đích thân tổng thống sẽ phê duyệt từng chuyến bay do thám của U-2. Điều đó có nghĩa là sẽ không có một lệnh phê duyệt cả gói cho các chuyến bay do thám nữa.
Ngày 4-10-1957, Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên Sputnik vào quỹ đạo Trái Đất, một thành tựu chinh phục không gian khiến các khoa học gia Mỹ choáng váng. CIA, các tướng lĩnh, các nhà hoạch định chính sách Mỹ còn lo lắng hơn gấp bội bởi họ hiểu rằng một cuộc đua trong không gian đã bắt đầu và nước Mỹ đã bị tụt lại đằng sau trong cuộc đua này. Cần phải nhanh chóng đáp trả. Bởi thế Mỹ đẩy tiến độ phóng vệ tinh của mình nhanh hơn so với dự tính trước đó.
Hơn hai tháng sau, ngày 6-12-1957, Mỹ quyết định dùng tên lửa đẩy Vanguard đưa vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Mỹ Explore vào quỹ đạo. Buổi phóng diễn ra tại bãi phóng cùa Mỹ ở mũi Canaveral và được truyền hình trực tiếp. Được lệnh phóng, tên lửa Vanguard đã phát nổ ngay sau khi rời bệ phóng trước sự sững sờ của hàng trăm phóng viên Mỹ và quốc tế có mặt tại chỗ cùng khán giả xem truyền hình trên khắp nước Mỹ.
Khi Liên Xô phóng thành công vệ tinh Sputnik vào quỹ đạo, R. Bissell, người phụ trách do thám bằng máy bay U-2 của CIA, đề xuất với Tổng thống Mỹ D. Eisenhower cho phép nối lại các chuyến bay U-2 trên bầu trời Liên Xô. Tổng thống Mỹ không đồng ý. Đến tháng 1-1958, cả Bộ trưởng Ngoại giao John Foster Dulles lẫn Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, Tướng Nathan Twining lại một lần nữa đưa ra đề nghị tương tự, câu trả lời của tổng thống Mỹ vẫn là “không”. D. Eisenhower không muốn tiếp tục các hoạt động do thám vi phạm không phận Liên Xô thêm nữa bởi hiểu rõ những hậu quả nghiêm trọng thế nào nếu một chiếc U-2 bị rơi trên lãnh thổ Liên Xô. Thử thách sự kiên nhẫn của người Xô viết là điều không khôn ngoan chút nào. Nếu cuộc xâm nhập chớp nhoáng của máy bay U-2 vào không phận Liên Xô dẫn tới một cuộc xung đột giữa hai bên thì đó sẽ là chiến tranh hạt nhân, trong khi ưu tiên của D. Eisenhower là muốn lịch sử ghi nhận mình như vị tổng thống của hòa bình hạt nhân!
Trong suốt cả hai năm 1958 và 1959, chỉ có vỏn vẹn ba chuyến bay do thám của U-2 trên lãnh thổ Liên Xô. Một trong số đó là do phi công Mỹ lái bay qua khu vực miền trung Liên Xô, còn hai chuyến bay kia thì một do phi công Anh lái, một là chuyến bay chụp ảnh vùng Viễn Đông của Liên Xô, xuất phát và hạ cánh đều ở Nhật Bản.
R. Bissell, khi ấy đã là Phó Giám đốc CIA, chịu trách nhiệm chỉ huy các chuyến bay do thám U-2, nhìn thấy sự phá sản của chương trình gần như là điều không tránh khỏi. Việc các phi công lái U-2 được đào tạo qua quá trình nghiêm ngặt không được bay trong một thời gian dài đã để lại những hậu quả xấu về mặt tâm lí. Nhiều người trong số phi công đã kết hôn và việc phải xa gia đình đằng đẵng trong nhiều tháng trời khiến cho họ cảm thấy nặng nề. Đó đều là những phi công dân sự kí hợp đồng làm việc cho CIA nên họ hoàn toàn có thể chấm dứt hợp đồng mà không phải chịu trách nhiệm như các phi công quân sự.
Muốn cứu vãn chương trình thì cần phải nối lại các chuyến bay do thám trên lãnh thổ Liên Xô càng sớm càng tốt. R. Bisell bèn năn nỉ với Chánh văn phòng Nhà Trắng, Chuẩn tướng Andrew J. Goodpaster, một trong những trợ lí thân cận nhất của D. Eisenhower, tìm cách thuyết phục tổng thống cho phép nối lại các chuyến bay do thám.
Để đạt mục tiêu này, CIA trình bày với Tổng thống D. Eisenhower một quy trình mà CIA cho rằng rất thông minh để giảm thiểu tối đa khả năng người Xô viết có thể bắn hạ các máy bay U-2 bay trên lãnh thổ của họ. CLA đặt tên cho quy trình này là Xâm nhập chớp nhoáng.
CIA nhận định rằng để giảm tối đa những rủi ro đối với các chuyến bay U-2 thì toàn bộ một phi vụ phải diễn ra trong thời gian cực ngắn, với số lượng người tham gia chiến dịch được thu gọn xuống ở mức tối thiểu. CIA biết chắc rằng những căn cứ xuất phát của máy bay U-2 đều nằm trong tầm quan sát của các cơ quan điệp báo Xô viết. Do đó, điểm mấu chốt của Xâm nhập chớp nhoáng là chỉ dành cho Liên Xô khoảng thời gian ít nhất để có thể thực hiện các hoạt động đánh chặn U-2.
Trong số các quốc gia đồng minh của Mỹ ở gần với biên giới Liên Xô khi ấy, chỉ có duy nhất Pakistan là không cảm thấy khó chịu với các chuyến bay của U-2 xuất phát từ lãnh thổ của họ đi do thám Liên Xô. Do vậy, những chiếc U-2 xuất phát từ Peshawar ở phía bắc Pakistan là một vị trí lí tưởng.
Theo quy trình Xâm nhập chớp nhoáng, một chiếc máy bay vận tải C-130 hiệu Hercules ít gây chú ý xuất phát từ căn cứ gần thành phố cổ Adana ở Thổ Nhĩ Kỳ bay tới Peshawar. Trên chiếc C-130 này sẽ mang theo hầu như toàn bộ ê kíp phục vụ chiến dịch, gồm các bình oxy cho phi công, nhiên liệu cho chiếc U-2, các chuyên gia chăm sóc bảo dưỡng chiếc máy bay do thám và cả bộ đồ phi công vũ trụ dành cho phi công của chiếc U-2. Trong số hành khách của chiếc C-130 này có luôn cả phi công chính sẽ thực hiện phi vụ.
Sau khi chiếc C-130 thứ nhất xuất phát một ngày, một chiếc C-130 thứ hai cũng sẽ bay tới thành phố Zahedan của Iran. Khi ấy, chính quyền của nhà vua Shah đang trị vì tại Iran, đảm bảo để nước này vẫn là một đồng minh của phương Tây và không gây trở ngại gì cho những chuyến bay như vậy. Trên chiếc C-130 thứ hai này mang theo thêm nhiên liệu dự trữ và viên phi công phụ của chiếc U-2 để có thể thay thế cho phi công chính trong trường hợp trục trặc xảy ra.
Trong khi đó chiếc máy bay U-2 tham gia phi vụ sẽ được một phi công khác lái tới Peshawar vào lúc chiều muộn, khi màn đêm đã buông xuống và hầu hết các nhân viên làm việc trong căn cứ đã về nhà. Sau khi hạ cánh, chiếc U-2 sẽ được đưa vào nhà chứa máy bay đóng kín và được tiếp nhiên liệu. Đến tảng sáng, trước khi các nhân viên làm việc trở lại căn cứ thì chiếc U-2 này với phi công chính đã xuất phát bắt đầu phi vụ do thám. Toàn bộ quá trình chuẩn bị trước khi thực hiện phi vụ sẽ chỉ diễn ra chớp nhoáng trong có một đêm.
Như vậy là chỉ có một số ít người có thể quan sát thấy những chiếc C-130 hạ cánh xuống Pakistan hay Iran, nhưng hầu như không mấy ai có thể nhìn thấy chiếc U-2. Các cơ quan điệp báo Liên Xô sẽ không có cơ sở nào để cho rằng một phi vụ do thám liên quan đến máy bay U-2 đang được triển khai. Họ sẽ trở tay không kịp, không có đủ thời gian để đưa ra bất kì một phản ứng phòng vệ nào.
Để hỗ trợ cho chiến dịch, các trạm nghe lén của Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ NSA bố trí ở khu vực miền bắc Iran sẽ căng ra nghe ngóng các động thái của lực lượng phòng không Xô viết. Nếu phát hiện có bất cứ một tín hiệu bất thường nào, các trạm nghe lén điện tử này sẽ lập tức báo cho CIA để điều chỉnh quy trình thực hiện chiến dịch.
CIA còn có một “vũ khí” lợi hại khác để thuyết phục tổng thống cho lệnh tiếp tục thực hiện các phi vụ U-2 là học thuyết âm mưu về “sự chênh lệch” lực lượng tên lửa giữa Liên Xô và Mỹ. Nhiều nhân vật tai to mặt lớn ở Mỹ cho là lực lượng tên lửa chiến lược của Liên Xô vượt xa so với Mỹ và đó là một nguy cơ hiển hiện đối với Hoa Kỳ.
Một trong số đó là Stuart Symington, người từ năm 1951 đến 1960 là Phó Chủ tịch hãng sản xuất vũ khí Convair. S. Symington có tham vọng trở thành thượng nghị sĩ Mỹ và “sự vượt trội về tên lửa” của Liên Xô so với Mỹ là con bài chính để ông ta thực hiện mục tiêu này. S. Symington nói với bất cứ ai chịu nghe ông ta là dựa trên những nguồn tin tình báo của không quân Mỹ, ước chừng tới năm 1962, số lượng tên lửa đạn đạo liên lục địa ICBM của Liên Xô có thể vào khoảng 3.000 quả, thực tế có khi còn lên tới 4.000 quả!
Tuyên bố này của S. Symington được hỗ trợ bởi... N. Khrushchev! Tháng 11-1959, trong một cuộc nói chuyện với các nhà báo ở Moscow, nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev thông báo rằng Liên Xô đã đạt tới trình độ công nghệ cao siêu đủ để sản xuất các tên lửa đạn đạo ICBM giống như sản xuất xúc xích trên dây chuyền! Cụ thể hơn là chỉ một nhà máy sản xuất vũ khí của Liên Xô có thể xuất xưởng 250 tên lửa đạn đạo trong một năm, tất cả đều được gắn đầu đạn hạt nhân!
Báo cáo dự đoán tình báo quốc gia Hoa Kỳ 1958 ước tính rằng vào năm 1960, Liên Xô sẽ có khoảng 100 tên lửa đạn đạo và con số này sẽ tăng lên 500 vào năm 1962. Tháng 11-1960, Giám đốc CIA Allen Dulles, người có lẽ biết rõ tình hình thực tế về lực lượng tên lửa của Liên Xô hơn ai hết, nói với Tổng thống D. Eisenhower rằng ngay cả trong trường hợp các máy bay U-2 không thu thập được bất cứ bằng chứng vào về việc Liên Xô sản xuất tên lửa đạn đạo với số lượng lớn thì phía Xô viết, bằng một cách nào đó, vẫn có khả năng nâng số tên lửa đạn đạo trong kho lên 200 quả trong vòng 18 tháng.
Trên địa hạt truyền thông, một cựu quan chức Quốc hội Mỹ tên là Frank Gibney viết một bài báo dài 5.000 từ đăng trên tạp chí Harper, quy kết rằng chính quyền đã để cho phía Xô viết vượt trội hoàn toàn về tên lửa đạn đạo liên lục địa với tỉ lệ 6 chọi 1! Phó Tổng thống Mỹ R. Nixon thì lẳng lặng thể hiện với những người bạn cũng như các chuyên gia thân cận rằng ông ta nghĩ tổng thống không nhận thức rõ hiểm họa tên lửa của phía Xô viết. Một nhà báo rất nổi danh, Joe Alsop, viết một loạt bài bình luận được đăng tải rộng rãi trên báo chí Mỹ, tính toán rằng Liên Xô có chừng 150 tên lửa đạn đạo liên lục địa có gắn đầu đạn hạt nhân. Theo Joe Alsop thì nếu như D. Eisenhower không đáp trả bằng việc sở hữu số đầu đạn tương ứng thì chẳng khác nào Tổng thống đánh cược tương lai nước Mỹ trên bàn roulette Nga!
Loạt bài của Joe Alsop đăng trên báo chí Mỹ kéo dài cho tới tuần cuối của tháng 11-1960. N. Khrushchev đọc những bài báo này qua bản dịch sang tiếng Nga và quyết định đã đến lúc phải chấm dứt cái trò lừa gạt người Mỹ về tiềm lực tên lửa đạn đạo hùng hậu của Liên Xô. Trung tuần tháng 9 năm trước đó, N. Khrushchev đã có chuyến thăm Mỹ kéo dài hai tuần lễ. Trong chuyến thăm này, cả Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Tổng thống Hoa Kỳ đều bày tỏ mong muốn giải trừ quân bị, chấm dứt cuộc chạy dua vũ trang, một cuộc chạy đua mà N. Khrushchev tin rằng nếu kéo dài thì đó sẽ là sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản. N. Khrushchev tin rằng D. Eisenhower thực tâm muốn chấm dứt Chiến tranh Lạnh. Tháng 1-1960, N. Khrushchev quyết định cắt giảm quân số các lực lượng vũ trang Xô viết xuống còn 1,2 triệu người. Cuộc họp thượng đỉnh giữa các nhà lãnh đạo bốn cường quốc Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp cũng đã được ấn định diễn ra ở Paris vào trung tuần tháng 5-1960. Nay thì những bài báo như của Joe Alsop có thể thổi phồng quá đáng về thực lực tên lửa chiến lược Liên Xô và khiến người Mỹ hiểu nhầm, lao vào một cuộc chạy đua vũ trang cực kì tốn kém. Trong một phiên họp bí mật của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô diễn ra ở Kremlin vào ngày 1-2- 1960, N. Khrushchev đề đạt ý định về việc công khai kho vũ khí tên lửa chiến lược Liên Xô để cho thấy nhà lãnh đạo Xô viết cũng thực tâm muốn giải trừ quân bị.
Tổng thống D. Eisenhower cũng đọc loạt bài của Joe Alsop và chỉ trích thậm tệ, gọi những người theo thuyết “chênh lệch lực lượng tên lửa” giữa Mỹ với Liên Xô là “bọn đạo đức giả chó chết”. Nhưng D. Eisenhower liên tục phải chịu sức ép từ phía các trợ lí, các quan chức cấp cao của mình, thúc giục phải thu thập bằng chứng về việc “chênh lệch lực lượng tên lửa” giữa hai bên là không có thật.
Bởi thế nên D. Eisenhower đã đi tới một quyết định sai lầm và thảm họa là cho phép thực hiện thêm hai vụ do thám bằng máy bay U-2 nữa trước khi diễn ra Hội nghị thượng đỉnh tứ cường nhóm họp ở Paris vào trung tuần tháng 5-1960.
Rạng sáng ngày 1-5-1960, một mệnh lệnh trực tiếp từ Nhà Trắng cho phép tiến hành chuyến bay do thám bằng máy bay U-2 được gửi tới Tổng hành dinh CIA. Hôm ấy, người chỉ huy chương trình U-2 của CIA là R. Bissell đi nghỉ cuối tuần; người thay thế là phó của ông ta, Bill Burke. Nhận được sự chuẩn y của đích thân Tổng thống D. Eisenhower, B. Burke tham khảo ý kiến Allen Dulles và được Giám đốc CIA tán thành cho tiến hành phi vụ. B. Burke mã hóa lệnh cho phép thực hiện chiến dịch rồi gửi qua Tây Đức, nơi nó được tiếp tục chuyển qua Thổ Nhĩ Kỳ. Từ đây, nó lại một lần nữa được chuyển tới sân bay ở Peshawar, Pakistan, nơi xuất phát của chiếc U-2.
Người thực hiện chuyến bay định mệnh này là phi công Francis Gary Powers.
+++++
Francis G. Powers sinh ngày 17-8-1929 tại một khu nhà dành cho những người thợ mỏ ở Camden, trên biên giới tiểu bang Kentucky. Là con thứ hai nhưng anh ta là con trai duy nhất trong gia đình ông bà Oliver và Ida Ford F. Powers, còn lại là năm chị em gái. Bố của F. Powers, ông Oliver vốn là một thợ mỏ, từng tham gia quân đội rồi lại về làm thợ trước khi một tai nạn trong mỏ xảy ra khiến ông suýt nữa thì mất mạng. Rời bỏ công việc thợ mỏ nặng nhọc, ông Oliver chuyên tâm vào công việc đóng giày, vốn chưa học qua hết lớp 5 phổ thông, ông Oliver trông chờ vào đứa con trai duy nhất trong gia đình sẽ học cao, thực hiện những hoài bão của ông.
Tuy nhiên, gia đình ông Oliver thường xuyên phải di chuyển. Trước khi bước sang tuổi 15, F. Powers đã cùng với gia đình sống qua sáu ngôi nhà ở bốn tiểu bang của nước Mỹ!
F. Powers là một cậu bé trầm tĩnh, ngoan đạo, không hút thuốc, uống rượu, đều đặn đến nhà thờ vào các ngày chủ nhật cuối tuần. Học lực ở bậc phổ thông của cậu chỉ vào hạng trung bình. Trong lớp cậu không quá thân với một ai và có xu hướng thu mình lại, thích đi săn hay bắt cá và nếu rảnh rỗi thì đọc sách, nghe những tác phẩm âm nhạc cổ điển của Strauss...
Cho tới trước khi theo học các ngành hóa và sinh vật tại trường Cao đẳng Milligan ở bang Tennessee, gần thành phố Johnson, F. Powers vẫn chưa hẹn hò với bất kì một cô gái nào. Tất cả chỉ giới hạn ở những buổi đi chơi dã ngoại theo nhóm với các cô gái địa phương. Tuy nhiên, khi đã trưởng thành, F. Powers có ít nhất hai lần đã suýt lập gia đình trước khi gặp Barbara, người vợ sau này.
Giấc mơ được bay đến với F. Powers năm cậu 14 tuổi, trong một chuyến đi của gia đình ngang thành phố Princeton ở bang Tây Virginia. Cậu xin ông bố Oliver cho bay thử trên một chiếc máy bay mô hình hai chỗ ngồi, cùng với một nữ phi công, người rất mến cậu bé con và đã giảm bớt khoản tiền vé giá 5 đô la xuống còn một nửa cho cậu. F. Powers rất ấn tượng với trải nghiệm đầu tiên trên máy bay đó.
Ông Oliver là người ngoan đạo, muốn cậu con trai mình có học vấn và trở thành một bác sĩ. Kinh nghiệm một thời gian ngắn phục vụ trong quân đội cho ông biết rằng người có học vấn cao có khả năng trở thành sĩ quan! Bởi thế nên F. Powers gần như bị bắt ép phải vào học tại trường Cao đẳng Milligan, với khoản tiền học phí hầu hết do gia đình chi trả. F. Powers chỉ có thể đi rửa bát đĩa thuê hay bất cứ công việc gì trong thời gian nghỉ hè để kiếm thêm tiền giúp làm giảm bớt gánh nặng chi phí cho gia đình.
Thành tựu học tập của F. Powers ở trường cao đẳng cũng không có gì nổi trội, ngoài việc giành được những kết quả khá tốt trong các môn thể thao rèn thể lực, giúp cho anh chàng sinh viên có được một thể hình khá chuẩn.
Sau khi tốt nghiệp cao đẳng, trái với nguyện vọng của ông bố muốn cậu con trai học thêm để trở thành bác sĩ - do đó sẽ tốn kém thêm khá nhiều tiền của - F. Powers đứng trước một lựa chọn khó khăn bởi đã sắp đến thời gian phải đi quân dịch. Để tìm được một việc làm khi chưa trải qua thời gian phục vụ trong quân ngũ là điều hết sức khó khăn bởi không một công ty nào muốn tuyển người chưa trải qua quân ngũ; nếu tuyển rồi mà anh ta lại bất thần bị gọi đi lính thì mọi công việc sẽ dang dở hết cả.
Trong mùa hè sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng, F. Powers kiếm được việc tạm thời, làm nhân viên cứu hộ mặt nước tại câu lạc bộ Kiwanis ở Jenkins. Rồi tháng 10-1950, F. Powers quyết định đăng kí gia nhập không quân, công việc mà anh chàng vẫn mơ ước từ thuở niên thiếu.
Thoạt đầu, F. Powers được đào tạo thành nhân viên chụp ảnh cho không quân, phục vụ một thời gian ngắn ở căn cứ Westover, bang Massachusetts, rồi sau đó được cử đi đào tạo phi công tại căn cứ không quân Greenville, bang Mississippi.
Tháng 12-1952, F. Powers tốt nghiệp khóa đào tạo phi công cơ bản và được cử đi học các lớp đào tạo nâng cao cho phi công tiêm kích, lần lượt ở các căn cứ không quân Williams bang Arizona và Luke tại Phoenix. Rồi sau khi thực hiện một vài phi vụ không chiến trong Chiến tranh Triều Tiên, cuối năm 1953, F. Powers được điều về căn cứ không quân Tume tại Albany, bang Georgia.
Tại đó, F. Powers bay chủ yếu trên loại máy bay khu trục F-84 thuộc Phi đội máy bay chiến đấu chiến lược số 468, Phi đoàn ném bom 508 của không quân Mỹ.
F. Powers phục vụ tại đây trong gần ba năm cho đến khi hết thời hạn phục vụ trong quân đội. CIA, có lẽ ấn tượng với thành tích bay cũng như khả năng được đào tạo như một nhân viên chụp không ảnh của F. Powers, đã tiếp xúc với viên phi công.
Một đề nghị được đưa ra: F. Powers, thay vì khoản tiền lương phi công quân sự 700 USD một tháng, sẽ kí hợp đồng bay cho hãng Lockheed, khi ấy là bình phong cho CIA, với khoản tiền lương 2.500 USD một tháng. F. Powers lĩnh ngay 1.500 USD hằng tháng; số tiền 1.000 USD còn lại sẽ được giữ lại để trả cho F. Powers sau khi kết thúc hợp đồng.
Đấy là khoản tiền ngang với tiền lương của một phi công hạng nhất lái máy bay dân dụng. Một đề nghị quá hấp dẫn, không thể chối từ!
Vậy là tháng 4-1956, F. Powers kí hợp đồng hai năm một với CIA và đến tháng 5-1958, tiếp tục một hợp đồng hai năm nữa. Vào tháng 1-1960, bốn tháng trước khi bay vào lãnh thổ Liên Xô, với một sự do dự rõ rệt do cảm nhận thấy những mối nguy hiểm của nhiệm vụ, F. Powers gia hạn thêm hợp đồng một lần nữa.
F. Powers gặp người vợ Barbara của mình trong thời gian phục vụ tại căn cứ không quân Turne ở bang Georgia, nhờ bà mẹ của Barbara giới thiệu khi bà làm ca đêm tại một quán cà phê ở trong căn cứ không quân Tume. Mùa xuân năm 1955, hai người làm lễ thành hôn và có một kì trăng mật ngọt ngào ở quần đảo Bahama. Thời kì đầu, cuộc sống hôn nhân của họ thật dễ chịu. Nhưng 9 tháng sau đó, F. Powers về nhà và thông báo anh ta sẽ rời không quân và phải đi xa trong một thời gian dài. Anh ta không nói đi đâu và làm gì, chỉ thông báo vắn tắt rằng vẫn sẽ làm công việc của một phi công.
Chỉ vài ngày sau khi F. Powers kí hợp đồng làm việc cho CIA vào tháng 4-1956, anh ta được đưa đi tham dự lớp huấn luyện đặc biệt lái máy bay U-2 trong biên chế Phi đội quan sát khí tượng thứ nhất, mật danh đơn vị do thám của CIA tại bang Nevada. Trong thời gian này, anh ta được giữ lại nguyên họ Francis Gary, nhưng lấy tên giả là Palmer.
Đến ngày 17-8-1956, đúng vào sinh nhật thứ 27, F. Powers được điều đến 10-10, một đơn vị tuyệt mật của CIA tại Adana, nằm ở cực nam Thổ Nhĩ Kỳ. Trong hai năm đầu, Barbara không đi theo chồng nhưng tới năm 1958, Barbara được phép tới sống cùng với F. Powers ở nơi trú đóng của đơn vị 10-10 trong căn cứ không quân Incirlik, cách Adana khoảng 10 dặm.
Tại đó, gia đình F. Powers sống cùng với gia đình của sáu phi công lái máy bay U-2 khác. Chỉ mỗi gia đình F. Powers là chưa có con và với khoản tiền lương rủng rỉnh F. Powers kiếm được, vào những dịp hiếm hoi mà F. Powers nghỉ phép, cặp vợ chồng trẻ lại có dịp trải qua những kì nghỉ đắt giá tại châu Âu.
Thứ tư, ngày 27-4-1960, vào khoảng 6 giờ chiều, Barbara tạm biệt chồng mình. Từ căn cứ Adana trên đất Thổ Nhĩ Kỳ, F. Powers cùng với khoảng 20 nhân viên hỗ trợ khác, trong đó có Đại tá William Shelton, chỉ huy đơn vị 10-10, được một chiếc máy bay vận tải C-130 vượt qua chặng đường 2.100 dặm đưa tới Peshawar ở Pakistan. Đó là một phần trong quy trình Xâm nhập chớp nhoáng cả gói mà CIA đã soạn thảo nhằm giữ bí mật tuyệt đối cho chiến dịch.
Ở đó, vào đêm hôm trước, cũng theo đúng quy trình Xâm nhập chớp nhoáng, đã có một chiếc U-2 do phi công Bob Ericson lái từ Thổ Nhĩ Kỳ tới, sẵn sàng chờ F. Powers thực hiện nhiệm vụ mật.
+++++
Ba mươi tuổi, người cao ráo, F. Powers đã có hơn 500 giờ bay trong 4 năm trước đó với 27 phi vụ trên máy bay U-2, chủ yếu là ở khu vực Trung Đông. Trên độ cao gần với rìa của bầu khí quyển, đấy là những chuyến bay dài đằng đẵng, nhọc nhằn và đơn độc. Thế nhưng với tất cả các phi công lái loại máy bay U-2 này, đó vẫn chưa phải là những phi vụ tệ hại nhất. Với họ, nguy hiểm hơn cả chính là những chuyến bay trong im lặng trên bầu trời Liên bang Xô viết.
Chuyến bay hôm nay, ngày 1-5-1960, của F. Powers, là để phục vụ Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ CIA.
Mấy hôm trước, từ đêm thứ năm, 28-4 đến đêm thứ bảy, 30-4, CIA đã mấy lần định tiến hành phi vụ nhưng đều phải hoãn lại do tình hình thời tiết xấu, nhiều mây mù trên vùng lãnh thổ Liên Xô. Trong điều kiện như vậy, những máy ảnh tối tân lắp trên chiếc U-2 hầu như không phát huy được tác dụng. Mỗi khi phi vụ phải hoãn lại do nguyên nhân thời tiết, chiếc U-2 không được phép náu mình trong nhà chứa máy bay đóng kín ở Peshawar mà phải bay về căn cứ không quân Adana ở Thổ Nhĩ Kỳ để rồi tối hôm sau quay lại Peshawar, sẵn sàng cho phi vụ mới.
Ở Washington, R. Bissell, chỉ huy các chiến dịch do thám bằng máy bay U-2 của CIA vô cùng sốt ruột. Tổng thống đã cho phép thực hiện chiến dịch nhưng lại ra lệnh rằng sẽ không được tiến hành bất cứ phi vụ nào sau ngày 1-5-1960, bởi thời gian họp Hội nghị thượng đỉnh tứ cường ở Paris đã tới rất gần rồi. Tổng thống Hoa Kỳ không muốn mạo hiểm uy tín của mình. D. Eisenhower rất trông chờ vào Hội nghị thượng đỉnh tứ cường Paris, nơi các nhà lãnh đạo Liên Xô và Mỹ có thể bàn thảo để chấm dứt cuộc khủng hoảng Berlin lần thứ hai. Nếu chẳng may một chiếc U-2 bị bắn rơi trên lãnh thổ Liên Xô thì chẳng khác nào đưa ra phán quyết phá vỡ Hội nghị thượng đỉnh tứ cường Paris ngay cả từ trước khi nó nhóm họp.
Khi nhận được sự cho phép của tổng thống, R. Bissell đứng trước hai lựa chọn về tuyến bay mà chiếc U-2 sẽ phải mạo hiểm vượt qua trên không phận Liên bang Xô viết. Nếu bay theo tuyến thứ nhất, mang mật danh Bước Thời Gian, chiếc U-2 xuất phát từ phía tây Greenland, trải qua nửa quãng đường theo Vòng Địa Cực trước khi lẻn vào bay chừng 3 giờ đồng hồ trên khu vực miền Bắc Liên Xô rồi sau đó hạ cánh ở Na Uy. Tuyến thứ hai, gọi là Grand Siam, chiếc U-2 xuất phát từ Peshawar, bay xuyên qua gần như toàn bộ lãnh thổ Liên Xô từ nam lên bắc và cũng hạ cánh ở Na Uy.
Cả hai tuyến bay đều nhằm tới một mục tiêu chính: Căn cứ tên lửa của Liên Xô ở Plesetsk, nằm ở vùng Arkhangelsk, cách Moscow khoảng 800 cây số về phía bắc. Đây là căn cứ quân sự tối mật mà phía Mỹ nghi là Liên Xô sử dụng để lắp đặt các bệ phóng tên lửa đạn đạo nhằm vào nước Mỹ. Chỉ có điều là các máy bay do thám của Mỹ chưa bao giờ chụp được ảnh căn cứ này, vì vậy, khiến cho trí tưởng tượng của nhiều người Mỹ về một nơi cất giấu tên lửa đạn đạo khổng lồ của Liên Xô tiếp tục được thỏa sức bay bổng.
Cả hai tuyến bay đều chứa đựng những rủi ro nhất định. Sau khi cân nhắc, R. Bissell quyết định chọn tuyến Grand Slam.
F. Powers được đánh thức vào lúc 3 giờ sáng. Vệ sinh xong, F. Powers ăn bữa sáng, có trứng, thịt lợn muối xông khói với bánh mì nướng. Không có bít tết nhưng như thế cũng đã là quá tốt trong điều kiện ở Peshawar. Sau đó F. Powers bắt đầu khởi động hệ thống dưỡng khí để thở nhằm loại bỏ nitơ trong máu và nhận kế hoạch bay. Đó là lúc 4 rưỡi sáng và lần đầu tiên F. Powers biết rằng mình sẽ phải bay xuyên qua lãnh thổ Liên bang Xô viết từ cực nam lên phía bắc, hạ cánh xuống một sân bay ở Na Uy. F. Powers lấy làm mừng là mình đã ăn sáng bởi khi nhìn bản đồ bay, anh ta cảm thấy khá căng thẳng và nghĩ khó có thể nuốt được gì trong trạng thái tâm lí như vậy.
F. Powers đeo bên hông một khẩu súng ngắn hãm thanh nòng 22 li bán tự động. Nhưng đó không phải là trang bị đặc biệt duy nhất mà anh ta mang theo. Ngay trước khi anh ta đội chiếc mũ phi công vào đầu và cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài, Đại tá William Shelton, chỉ huy 10-10, đến chỗ F. Powers và hỏi liệu anh ta có muốn mang theo “kim” không?
Đấy là chiếc kim rỗng, bên trong chứa một cái kim khác tẩm thuốc độc, là kết quả của chương trình bí mật trị giá 3 triệu USD do CIA nghiên cứu chế tạo, chiết xuất chất kịch độc từ một loại cây trong những cánh rừng già Nam Mỹ mà người da đỏ vẫn sử dụng để bôi vào đầu các mũi tên của họ. Chiếc kim được khéo léo giấu trong một đồng tiền xu 1 đô la, trang trí như một món đồ lưu niệm vô hại gắn vào dây đeo chìa khóa. Chỉ cần vặn nhẹ một cái là có thể dễ dàng để lộ đầu kim ra và nếu chích vào bất cứ nơi nào trên cơ thể sẽ khiến chủ nhân tử vong gần như ngay lập tức. Nếu bị chích bởi chiếc kim này, một con chuột sẽ chết chỉ sau 20 giây.
F. Powers nói: “Ok”, nhận đồng xu rồi để nó vào túi ngoài trên bộ đồ bay của mình.
Viên phi công nhận được lệnh dự tính cất cánh vào lúc 6 giờ sáng theo giờ địa phương nhưng tới lúc đó, lệnh mã hóa cho phép thực hiện phi vụ từ Washington vẫn chưa tới được Peshawar. Nó đang phải đi vòng vèo qua Tây Đức, Thổ Nhĩ Kỳ rồi tới 6 giờ 20 phút sáng mới đến được Peshawar.
Trong cuốn nhật kí bay, F. Powers ghi rõ: Ngày 1-5-1960. Phi vụ số 4154. Cất cánh lúc 1 giờ 26 phút giờ GMT (6 giờ 26 phút theo giờ địa phương), trễ khoảng gần nửa tiếng đồng hồ.
Trên hai tấm bàn đồ bay đều bằng vải của F. Powers có một đường màu xanh có những chấm đỏ chỉ rõ đường bay dài 3.788 dặm từ Peshawar, Pakistan, tới Bodø, Na Uy của chiếc U-2. Trên suốt đường bay này, F. Powers sẽ có 2.919 dặm bay trên không phận Liên bang Xô viết, ngang qua Stalinabad, Saransk, Chelyabinsk, Sverdlovsk, Kirov, Arkhangelsk và Murmansk. F. Powers được chỉ thị phải bay ở độ cao 70 ngàn bộ, tương đương 23 cây số, gần với rìa khí quyển, nơi ban ngày trông giống như ban đêm và nhiệt độ tụt xuống hàng trăm độ dưới 0 độ C.
Xung quanh và bên dưới ghế ngồi của F. Powers lắp đầy các thiết bị máy móc do thám hiện đại, máy ảnh, ghi âm, điện đài, radar. Phía trước mặt F. Powers có một nút bấm với hàng chữ: “Kích nổ”. Nút bấm này nối với một bộ phận đặc biệt được lắp đặt bên rìa buồng lái, một khối chất nổ hiệu 175-10A. Đấy là loại chất nổ cyclonyt cực mạnh; chỉ cần khoảng một cân rưỡi loại chất nổ này cũng đủ thổi bay 4 chiếc xe tải. Nếu được kích nổ, nó sẽ phá hủy hoàn toàn chiếc máy bay U-2 cùng với toàn bộ những gì có bên trong nó.
Khi đã ngồi vào trong buồng lái, vật cuối cùng mà F. Powers nhận được từ Đại tá William Shelton, chỉ huy của mình, trước khi cho máy bay cất cánh là một miếng vải hình vuông, màu đen. Anh ta sẽ phải trao nó - như mật hiệu nhận biết - cho những người ra đón khi hạ cánh xuống sân bay ở điểm cuối của hành trình.
F. Powers điều khiển chiếc U-2 từ từ lăn ra đường băng. Với sải cánh mỗi bên dài 80 bộ, trông chiếc U-2 khá kì dị do tổng chiều dài hai cánh gần gấp đôi chiều dài thân của nó. Các nhân viên CIA thường gọi đùa con quái vật trên không trung này là Thiên Sứ. Qua hệ thống vô tuyến điện, F. Powers giới thiệu mật danh của mình, Puppy 68, rồi thông báo cho đài chỉ huy biết anh ta sẽ cất cánh, hướng tới mục tiêu. Trong vòng 8 tiếng đồng hồ sau đó, anh ta sẽ không được liên lạc qua radio để tránh khả năng bị người Xô viết dò sóng phát hiện. Chiếc U-2 lướt qua con sông Kabul, đèo Khyber, ngang qua biên giới Afghanistan rồi hướng về phía lãnh thổ Liên bang Xô viết ở cách hàng trăm dặm phía trước mặt.
Khi vượt qua biên giới tiến vào không phận Liên bang Xô viết, chiếc U-2 do F. Powers điều khiển sẽ phải đạt tới độ cao trên 60 ngàn bộ, tương đương khoảng gần 20 cây số. Chiếc U-2 được trang bị một hệ thống nhiễu đánh lừa radar đối phương và khi bay qua không phận Afghanistan, cách thủ đô Kabul khoảng 190 dặm về phía bắc, F. Powers bắt đầu bật hệ thống nhiễu lên.
Chiếc U-2 hướng thẳng về phía Tyuratam, địa điểm phóng các tàu vũ trụ của Liên Xô, cách biển Aral khoảng 80 dặm về phía đông. Tyuratam và Kapustin Yar, một địa điểm thử nghiệm khác nằm ở phía nam Stalingrad, là hai căn cứ tên lửa liên lục địa duy nhất mà đến lúc ấy CIA có thể định vị được trên lãnh thổ Liên Xô.
Trước đó ba tuần lễ, vào ngày 9-4-1960, một chiếc U-2 khác do Bob Ericson, một phi công cũng làm việc cho CIA, đã thực hiện một chuyến bay do thám gây náo loạn lực lượng phòng không và không quân của Liên Xô. Đây chính là chuyến bay do thám U-2 thứ nhất trong hai phi vụ mà đích thân Tổng thống D. Eisenhower phê chuẩn cho CIA thực hiện với điều kiện bắt buộc phải diễn ra trước ngày 1-5-1960.
Khi xâm nhập sâu vào không phận Liên Xô được khoảng 150 dặm thì chiếc U-2 của Bob Ericson bị radar của phía Xô viết phát hiện. Trong vòng 9 tiếng đồng hồ, Bob Ericson đã bay dích dắc phía trên những vị trí tuyệt mật ở lãnh thổ Kazakhstan, lướt qua các địa điểm nhạy cảm, các vị trí thử vũ khí hạt nhân của Liên Xô như Sary-Shagan, Semipalatinsk, quay lại Sary-Shagan, Tyuratam hai lần.
Các radar phòng không của Liên Xô đã theo sát chiếc U-2 của Bob Ericson 8 tiếng rưỡi trong tổng cộng 9 tiếng đồng hồ nó bay trên lãnh thổ Liên bang Xô viết. Nhiều máy bay chiến đấu của Liên Xô đã cất cánh khẩn cấp nhằm chặn chiếc U-2 của Bob Ericson nhưng đều không thành, lí do bởi vì không có tính năng vượt trội để có thể bám theo được chiếc U-2.
Sở dĩ Bob Ericson có thể nhởn nhơ trong một thời gian dài trên vị trí các bãi thử hạt nhân của Liên Xô như vậy bởi chỉ có loại máy bay Sukhoi, hiệu Su-9 mới nhất của Liên Xô, với những tính năng bay vượt trội hơn nhiều so với máy bay tiêm kích MiG-19 thường dùng, mới có thể tiếp cận với chiếc U-2. Thế nhưng những chiếc Sukhoi ở gần nhất cũng chỉ được triển khai tại thành phố Perm cách đó hàng ngàn dặm và vẫn phải tiếp một lần nhiên liệu mới có thể hướng tới tầng bình lưu để đe dọa được chiếc U-2. Bãi thử hạt nhân Semipalatinsk cũng có sân bay riêng của nó để cho những chiếc Su-9 có thể tiếp nhiên liệu, nhưng vấn đề nằm ở chỗ không phải bất cứ máy bay chiến đấu nào cũng được phép xuống đó. Chỉ những máy bay có mã đặc biệt liên quan đến vũ khí nguyên tử mới được phép hạ cánh.
Thế là trong khi các cuộc trao đi đổi lại bằng điện thoại giữa giới chức quân sự cao cấp của Liên Xô diễn ra rối như canh hẹ trong đêm để tìm lệnh cấp phép cho những chiếc Su-9 hạ cánh xuống sân bay Semipalatinsk tiếp nhiên liệu thì chiếc U-2 của Bob Ericson đã có đủ thời gian chụp ảnh các địa điểm mà nó bay qua rồi hướng về phía biên giới. Tất cả những gì mà phía Liên Xô có thể làm là Tư lệnh lực lượng phòng không Xô viết, Nguyên soái Sergey Biryuzov, lệnh cho 2 chiếc MiG-17 đuổi theo chiếc U-2 của Bob Ericson đến biên giới rồi phải quay về vì cũng sắp hết nhiên liệu.
Trái với phản ứng thông thường như mọi khi, lần này Liên Xô không hề có bất cứ một công hàm phản đối nào đối với chuyến bay do thám trên chiếc U-2 của Bob Ericson. Đang trong kì nghỉ ở Crimea, nhận được báo cáo về chuyến bay ngày 9-4, N. Khrushchev không ra lệnh thực hiện các hành động phản đối ngoại giao thường lệ. Nhà lãnh đạo Xô viết không muốn kẻ thù khoái chí trước sự bất lực của hệ thống phòng không Xô viết. Ông găm sự giận dữ trong lòng để nuôi dưỡng mối thù phải trả.
Hôm ấy, N. Khrushchev nhấc điện thoại gọi cho Nguyên soái S. Biryuzov, Tư lệnh lực lượng phòng không Xô viết. Qua ống nghe điện thoại, nhà lãnh đạo Xô viết gầm lên: “Làm sao các anh nói về hệ thống phòng thủ chống lại một cuộc ném bom hạt nhân nếu như đến ngay một chiếc máy bay do thám không trang bị vũ khí, các anh cũng không bắn hạ được? Hàng tỉ rúp tiêu vào hệ thống tên lửa phòng không đất đối không đã chạy đi đâu? Có phải một nửa lực lượng vũ trang Xô viết đã ngủ gật phải không?”
Đến lượt mình, Nguyên soái S. Biryuzov lại sạc cho cấp dưới, Tướng Yuri Votintsev, Chỉ huy lực lượng radar Liên Xô. Tướng Yuri Votintsev cũng bị Bộ trưởng Quốc phòng Rodion Y. Malinovsky cảnh cáo vì hệ thống radar đã không phối hợp kịp thời để theo dõi đầy đủ chuyến bay của chiếc U-2 ngày 9-4.
N. Khrushchev ra lệnh, bằng mọi giá không được để những chiếc U-2 chạy thoát nếu như một chuyến bay tương tự diễn ra trong tương lai.
Chuyến bay ngày 9-4-1960 của Bob Ericson đã bay trên một lộ trình gần tương tự với hành trình của chiếc U-2 do F. Powers lái và đã đánh dấu một số vị trí khả nghi. Các điệp viên mặt đất cũng như hệ thống dò tìm điện tử của Mỹ thu thập được một vài thông tin, nghi ngờ người Xô viết đang xây dựng một căn cứ tên lửa đạn đạo. Mục tiêu ưu tiên trong chuyến bay của F. Powers là phải chụp ảnh được các cấu trúc đáng ngờ đó trước khi phía Xô viết kịp ngụy trang che giấu dưới các đám mây dày trong những tháng mùa hè ở phía bắc lãnh thổ Liên Xô.
F. Powers kiểm tra lại các thiết bị điện tử trên chiếc U-2. Nó được trang bị một số lượng lớn các máy chụp ảnh cực hiện đại Hycon B ống kính 944,7 mm, chĩa ra ngoài qua bảy cái lỗ ở dưới bụng máy bay. Chúng có khả năng chụp hơn 8.000 bức ảnh trên một hành lang rộng 125 dặm, dài 2.174 dặm trên lãnh thổ Liên bang Xô viết.
Chiếc máy bay cũng được lắp đặt ba máy ghi âm cực nhạy với những cần ăng ten thò ra phía dưới bụng máy bay. Các máy ghi âm này sẽ ghi lại tất cả mọi tín hiệu âm thanh phát ra từ các trạm vô tuyến hay radar trên đường bay của chiếc U-2, tổng hợp lại thành một biểu đồ âm thanh và gửi về Bộ chỉ huy Không quân chiến lược Hoa Kỳ.
Vào lúc 7 giờ 36 phút sáng 1-5, chiếc U-2 với F. Powers cầm lái vượt qua biên giới tiến vào lãnh thổ Liên Xô. Anh ta không hề biết rằng mình sắp trở thành một trong những điệp viên trên không nổi tiếng nhất trong cuộc chiến điệp báo dai dẳng giữa Mỹ với Liên Xô suốt thời kì Chiến tranh Lạnh.
+++++
Một trong những người biết sớm nhất về phi vụ của F. Powers là Đại tá Stan Beerli, người được bổ nhiệm về Đơn vị do thám 10-10 ở căn cứ Adana, Thổ Nhĩ Kỳ, vào cuối năm 1958. Có cha mẹ là người Thụy Sĩ, S. Beerli lớn lên ở thành phố Oregon, dưới chân ngọn núi Hood phủ tuyết. Khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, S. Beerli gia nhập không quân Mỹ, được đào tạo thành chuyên gia dẫn đường và thả bom trên các máy bay cường kích. Trong suốt thời kì Đệ nhị thế chiến, S. Beerli đã thực hiện tổng cộng 38 phi vụ trên máy bay B-17 ở Ý. Sau chiến tranh, S. Beerli đã chứng kiến vụ thử bom khinh khí ở quần đảo Bikini, cũng từ một chiếc B-17. S. Beerli được đào tạo lại thành một phi công tiêm kích và năm 1956 gia nhập CIA.
Đầu mùa hè năm 1959, S. Beerli cùng với người phụ tá của mình, John Perengosky, đã bay tới Tehran, thủ đô Iran rồi sau đó đi sâu về vùng đông nam của nước Cộng hòa Hồi giáo, gần sát biên giới với Afghanistan. Hai điệp viên CIA tới gần thành phố Zahedan của Iran và nhận thấy đây là địa điểm hoang vu, khá thích hợp cho việc xây dựng một cơ sở xuất phát các máy bay U-2 tiến hành những phi vụ do thám trên lãnh thổ Liên Xô. Một căn cứ như thế đã nhanh chóng được xây dựng ở đây để tiếp đón những chiếc máy bay U-2. Trong chiến dịch do F. Powers thực hiện, theo đúng quy trình Xâm nhập chớp nhoáng, một chiếc U-2 khác cũng đã bay tới Zahedan để dự bị cho F. Powers.
Khi bắt đầu diễn ra chiến dịch của F. Powers thì S. Beerli đã được điều chuyển về Washington. Ngày 26-4-1960, S. Beerli được lệnh bay đi Oslo. Hôm sau, S. Beerli bay bằng máy bay thương mại qua ngả Copenhagen tới thủ đô Na Uy vào ngày 28-4-1960.
Tới Oslo, S. Beerli liên lạc với Trưởng trạm CIA ở đây để bố trí một chuyến đi tới căn cứ Bodø nằm ở Vòng Địa Cực. Ở Bodø, S. Beerli gia nhập một nhóm chuyên viên trong quy trình Xâm nhập chớp nhoáng được đưa tới đây hôm 27-4 từ Tây Đức. Tất cả chờ chiếc máy bay của F. Powers hạ cánh xuống Bodø rồi một người trong số này sẽ lái nó đưa về căn cứ Adana ở Thổ Nhĩ Kỳ.
Sáng 1-5-1960, S. Beerli nhận được tín hiệu thông báo chiến dịch đã bắt đầu. Vậy là cùng với cả đội CIA của mình, S. Beerli ngồi bên trong nhà chứa máy bay ở căn cứ tại Bodø, tránh tất cả mọi con mắt tò mò. Họ không phải làm việc gì cả ngoài việc chờ đợi chiếc máy bay U-2 đáp xuống sau một hành trình dài đầy hiểm nguy.
+++++
Một mình đơn độc bay trên không phận nước Cộng hòa Tajikistan, F. Powers cảm thấy khá căng thẳng giữa các nút bấm với bảng điện từ trong buồng lái chiếc U-2. Trong vòng hơn tám tiếng đồng hồ, anh ta phải mặc bộ đồ bay siết chặt vào cơ thể, rất bất tiện khi cử động. Khi mặc bộ đồ này, F. Powers không thể tự ngồi vào buồng lái chiếc U-2 mà các nhân viên phụ trợ gần như phải bế anh ta đặt vào đó. Anh ta cũng phải thở dưỡng khí một cách khó khăn thông qua cái mặt nạ siết chặt vào cổ.
Nhưng tất cả những sự bất tiện đó không thấm vào đâu so với nỗi nguy hiểm mà F. Powers cảm nhận có thể tới từ phía mặt đất. Anh ta biết rất rõ rằng chiếc máy bay của mình đang nằm trong sự chăm chú quan sát của hệ thống radar Xô viết. F. Powers cũng biết việc Mỹ cho máy bay do thám xâm nhập không phận Liên Xô đã bắt đầu ngay sau khi Đệ nhị thế chiến kết thúc, được thực hiện trên những chiếc máy bay ném bom B-36. Tiếp theo đó, trong những năm 50, RB-47, một phiên bản cải tiến của máy bay ném bom đảm nhiệm công việc này. Ngoài ra, công việc do thám trên không còn được thực hiện bằng các khinh khí cầu thả từ những căn cứ quân sự của Mỹ trên lãnh thổ Tây Đức.
Mãi đến tháng 8 năm 1955, khi chiếc U-2 của hãng Lockheed ra đời, chương trình do thám Liên Xô mới được thực hiện một cách bài bản và mang lại hiệu quả đáng kể.
Người Xô viết đã nhiều lần chính thức phản đối các chuyến bay xâm nhập do thám không phận của họ nhưng tất cả chỉ dừng lại ở đó. Máy bay U-2 bay ở độ cao đến mức không chỉ tên lửa mà ngay cả các máy bay tiêm kích hiện đại của Liên Xô cũng không thể với tới được, do đó họ chỉ biết bực bội trút sự tức giận vào những công hàm ngoại giao phản đối. Các chỉ huy của F. Powers nói với anh ta rằng nếu duy trì trần bay trên dưới 68.000 bộ thì sẽ tuyệt đối an toàn bởi không một hệ thống phòng không nào của người Xô viết có thể gây nguy hiểm ở độ cao đó được.
Nhưng F. Powers tin là người Xô viết chắc chắn đang ráo riết cải tiến hệ thống phòng không của họ để có thể trừng trị “sự xấc láo của bọn Mỹ”, như cái cách mà nhà lãnh đạo N. Khrushchev chỉ thị cho lực lượng phòng không Xô viết.
Khi bay tới gần vùng biển Aral, F. Powers điều chỉnh cho chiếc U-2 lệch thêm vài độ hướng về phía bắc, bay dọc theo dãy Ural trên vùng bình nguyên rộng lớn Siberia. Thời tiết khá đẹp, quang mây. Có một đường vẽ màu xanh trên bản đồ bay của F. Powers chỉ dẫn anh ta phải bay đúng theo lộ trình đó để không bỏ sót các mục tiêu quan trọng, được đánh dấu bằng những điểm màu đỏ trên bản đồ. Có một điểm màu đỏ như thế ở gần thành phố Sverdlovsk.
Đấy là thành phố lâu đời do Pie Đại đế sáng lập ra năm 1722 mang tên Yekaterinburg, được những người Bolshevik đổi tên thành Sverdlovsk từ năm 1924. Trong thời kì Đệ nhị thế chiến, thành phố này là một trung tâm công nghiệp cung ứng các nguồn lực cho quân đội Xô viết ngoài mặt trận. Sau chiến tranh, nó tiếp tục là trung tâm sản xuất đồng, hóa chất, đồ điện tử, chất dẻo và cao su cho nền kinh tế Xô viết, một đầu mối quan trọng của hệ thống đường sắt và đường hàng không bên dãy Ural.
Nhưng xung quanh thành phố này cũng vừa được triển khai hệ thống tên lửa đất đối không đời mới nhất của Liên bang Xô viết.
Vào lúc 8 giờ 30 phút sáng 1-5 theo giờ Moscow, máy bay của F. Powers đã bay tới gần Chelyabinsk, cách Sverdlovck khoảng 125 dặm về phía nam. Anh ta cần phải bay theo đúng chỉ dẫn, ngang qua địa điểm màu đỏ trên bản đồ, phía trên vùng trời thành phố Sverdlovsk.
+++++
Thiếu tá Mikhail Voronov là một cựu binh thời Đệ nhị thế chiến. Sinh năm 1918 tại một làng nhỏ hẻo lánh miền Tây nước Nga, khi những chiếc xe tăng của quân Đức Quốc xã bắt đầu tiến vào thành phố Minsk thì M. Voronov đang là thượng sĩ tại trường Cao đẳng Quân sự ở Caucasus. Sau hai tháng đào tạo nâng cao cấp tốc để trở thành một sĩ quan, ông được điều ra mặt trận, bị thương gãy một chân ở Tula. Vừa lành vết thương, ông quay lại mặt trận, học cách bắn vào những chiếc máy bay ném bom phát xít ở Stalingrad. Trong chiến dịch Vòng cung Kursk, M. Voronov chỉ huy khẩu đội pháo phòng không của mình đánh bật những chiếc máy bay ném bom của Đức Quốc xã nhằm vào lực lượng tiến công của Hồng quân Liên Xô. Cũng tại Kursk, ông đã gặp người vợ của mình, Valentina. Cả hai cùng nhau đi hết cuộc chiến tranh và nhiều năm sau đó, M. Voronov vẫn tại ngũ, là một sĩ quan chỉ huy tên lửa trong lực lượng phòng không Xô viết.
Nhưng khi dẫn khẩu đội tên lửa của mình tới triển khai tại vị trí bên ngoài thị trấn Kosulino ở gần thành phố Sverdlovsk, Thiếu tá M. Voronov biết rằng kinh nghiệm bắn máy bay Quốc xã từ thời chiến tranh sẽ không giúp ích gì cho ông trong nhiệm vụ mới lần này. Đó sẽ là một trải nghiệm hoàn toàn khác.
Hai năm trước đó, Tướng Yuri Votintsev là một trong số những chỉ huy đơn vị tên lửa S-75 Dvina diễu binh trên Quảng trường Đỏ ở Moscow nhân ngày Quốc tế Lao động. Được triển khai từ năm 1957, S-75 Dvina, mà phương Tây quen gọi dưới tên SAM-2, là loại tên lửa phòng không điều khiển bằng hệ thống radar 3 tác dụng. Các nhà hoạch định chính sách do thám bằng máy bay U-2 ở Washington cho rằng một khi các máy bay này lọt vào không phận Liên bang Xô viết mà không bị radar phát hiện trong thời gian đầu thì sẽ giảm thiểu một cách đáng kể nguy cơ bị bắn hạ. Tướng Y. Votintsev cùng các chỉ huy quân sự cao cấp của mình ở Moscow cũng biết rõ điều này.
Thế nên Tướng Y. Votintsev đã cho tiến hành lắp đặt các trạm radar dọc biên giới phía nam của Liên Xô, gần khu vực biên giới với Afghanistan. Các kĩ thuật viên, trắc thủ radar giỏi nhất được lựa chọn vào biên chế cho các trạm radar này. Các trạm radar đặt dọc tuyến đường từ Osk đi Khorog được đặc biệt chú ý bởi đây là tuyến mà nhiều lần các máy bay của Mỹ đã bay qua trên đường đột nhập không phận Liên Xô. Tháng 3-1960, máy bay do thám của Mỹ bay dọc theo đường biên giới Liên Xô đã phát hiện ra các trạm radar này và báo cáo lên Hội đồng đánh giá tình báo quốc gia Hoa Kỳ.
Ngoài ra, tình báo Mỹ xác định người Xô viết đã tiến rất gần tới việc giải quyết được vấn đề dẫn đường cho tên lửa đất đối không, qua đó nâng tầm bắn của tên lửa S-75 Dvina lên độ cao mới. Các bệ phóng tên lửa này cũng mới được triển khai ở xung quanh thành phố Sverdlovsk.
Ở gần thị trấn Kosulino, Thiếu tá M. Voronov được lệnh cùng các chiến sĩ trong phân đội tên lửa S-75 Dvina ráo riết tập luyện thực hành trong điều kiện thực tế. Toàn bộ hệ thống phòng không Xô viết được lệnh chuyển sang tình trạng thường xuyên trực chiến.
Việc CIA chọn ngày chủ nhật, 1-5, để thực hiện phi vụ do thám của F. Powers, ngoài lí do điều kiện thời tiết thuận lợi, còn có một tính toán khác. Đây là ngày lễ lớn ở Liên bang Xô viết nên hầu hết các nhân viên quân sự cũng như dân sự được nghỉ để tham gia lễ hội. Điều này cũng đúng khi ở Kosulino, Thiếu tá M. Voronov cho phép ba sĩ quan dưới quyền về nhà nghỉ lễ. Nhưng khẩu đội tên lửa của ông vẫn sẵn sàng. Người trực hôm ấy là Trung úy Nikolai Batukhtin, tốt nghiệp Học viện Kĩ thuật vô tuyến Gorkovsky ở Samara, là sĩ quan chịu trách nhiệm điều khiển đường bay của tên lửa một khi chúng được phóng lên.
Trên chiếc Thiên Sứ U-2, F. Powers cảm thấy mọi việc diễn ra một cách hoàn hảo. Các máy móc xung quanh anh ta đều vận hành trơn tru. Có vẻ như người Xô viết đã không phát hiện ra anh ta. Bay ở độ cao khoảng gần 70.000 bộ, chiếc U-2 trông có vẻ giống như một vật thể bay không được xác định UFO hơn là một chiếc máy bay do thám.
F. Powers không biết rằng chỉ sau khoảng 10 phút xâm nhập vào không phận Liên Xô, chiếc U-2 đã bị trạm radar trên cao nguyên Pamir của Liên Xô phát hiện và theo sát. Cuộc gọi thông báo đầu tiên từ trạm radar này về Tashkent, thủ đô nước Cộng hòa Uzbekistan diễn ra vào lúc 5 giờ 36 phút sáng theo giờ Moscow. Từ Tashkent, thông báo được chuyển về Sở chỉ huy Phòng không Xô viết tại đường Frunze ở Moscow, nhanh chóng tới chỗ Nguyên soái S. Biryuzov và ông này báo lại cho Bộ trưởng Quốc phòng Rodion Y. Malinovsky.
Theo đường dây được bảo mật trong điện Kremlin, Bộ trưởng Quốc phòng Rodion Y. Malinovsky đánh thức nhà lãnh đạo N. Khrushchev ở nhà riêng trên đồi Lenin vào lúc 6 giờ sáng. Lại một chuyến xâm nhập của máy bay U-2 sắp sửa diễn ra. Nhà lãnh đạo Xô viết nhận được tin báo, lầm lì ngồi ăn sáng, không nói một câu. Sáng hôm ấy, ông phải dự buổi lễ trên Quảng trường Đỏ nhưng mọi động thái của vụ xâm nhập sẽ phải được báo cáo trực tiếp cho ông, ngay lập tức.
Khi F. Powers lái chiếc U-2 bay về hướng bắc phía trên các sa mạc Karakum và Kyzylkum, hệ thống radar phòng không Xô viết vẫn theo sát và định vị nó một cách chính xác.
Lúc chiếc U-2 bay qua khu vực bãi phóng tên lửa vũ trụ Baikonur, các đám mây mỏng hơn và F. Powers bật những chiếc máy ảnh lên. Mọi việc vẫn bình thường. Anh ta sẽ phải hướng máy bay về phía thành phố Sverdlovsk.
Việc F. Powers nhận chỉ thị vẫn tiếp tục bay qua vùng trời Sverdlovsk ngay cả khi tình báo Mỹ đã có thông tin về việc các bệ phóng tên lửa S-75 Dvina mới được lắp đặt ở khu vực này mãi là một bí ẩn không có lời đáp về cung cách hoạt động và ra quyết định của CIA.
+++++
Boris Ayvazyan, phi công lái máy bay thuộc Phi đội tiêm kích số 45 sống cách thị trấn Kosulino hàng trăm dặm nhưng chỉ cách căn cứ của mình ở gần Sverdlovsk chừng 32 phút đi xe. Boris biết rõ điều đó vì ngày nào cũng đi từ nhà tới căn cứ bằng chiếc mô tô của mình. Anh cũng không có cả một chiếc điện thoại trong nhà. Lệnh cất cánh khẩn cấp vào sáng hôm 1-5 tới chỗ Boris thông qua một người lính gõ cửa nhà viên phi công vào sáng sớm.
Khi Boris Ayvazyan tới chỗ chiếc MiG-19 của mình ở căn cứ thì người bay cùng, Sergei Safronov đã sẵn sàng ở đó trong bộ đồ bay. Hai người cất cánh với mệnh lệnh bay tới Sverdlovsk và tiếp thêm nhiên liệu ở đấy. Cả hai hạ cánh ở phi trường Sverdlovsk theo đúng kế hoạch và trong khi chờ đợi xem điều gì xảy ra, họ ăn sáng.
Nguyên soái Yevgeni Savitsky, Chỉ huy lực lượng Không quân Liên Xô, người chịu trách nhiệm về mọi phi đội trên toàn lãnh thổ Liên bang Xô viết, biết rõ hơn ai hết là trừ phi chiếc máy bay xâm nhập bị hỏng hóc nào đó nên bắt buộc phải hạ độ cao, còn nếu không thì cả Boris Ayvazyan lẫn Sergei Safronov chẳng có cơ hội nào để tiếp cận với nó. Không một chiếc máy bay MiG-19 nào có thể bay vượt quá độ cao 17 cây số rưỡi, ngay cả trong trường hợp sử dụng kĩ thuật bay vọt lên trong một thời gian cực ngắn. Hi vọng duy nhất của Nguyên soái Yevgeni Savitsky đặt vào loại máy bay Su-9, nhưng phải là loại cải tiến Su-9s, có thể đạt được trần bay cao hơn. Trong tay Nguyên soái Y. Savitsky có hai chiếc máy bay loại đó, do hai phi công Igor Mentyukov và Baranovichi điều khiển. Chỉ có điều là chúng chưa được lắp vũ khí tấn công!
Khi những tin tức đầu tiên về chiếc U-2 xâm nhập tới chỗ Nguyên soái Y. Savitsky, cả hai phi công lái Su-9s được triệu tập khẩn cấp. Nhưng thoạt đầu người ta không tìm thấy I. Mentyukov đâu. Bởi thế nên chỉ có Baranovichi cất cánh một mình, nhằm hướng nam, về phía thành phố Chelyabinsk. Baranovichi được lệnh bỏ thùng dầu phụ để tăng thêm độ cao cho chiếc Su-9s. Chẳng mấy chốc, chưa phát hiện thấy mục tiêu đâu mà nhiên liệu của chiếc máy bay đã gần cạn, thế là Baranovichi buộc phải quay về phi trường ở Sverdlovsk.
Trong khi đó thì cuộc tìm kiếm I. Mentyukov vẫn tiếp tục. Cuối cùng người ta tìm thấy viên phi công đang đứng ở một bến xe buýt, chờ đi vào trong thành phố để tham dự các hoạt động vui chơi trong ngày lễ 1-5. Thế là thay vì chở các cư dân đang háo hức tham dự lễ hội, chiếc xe buýt chỉ chở một hành khách duy nhất là I. Mentyukov khẩn trương quay về sân bay.
Đến lúc ấy thì Nguyên soái Y. Savitsky, người mang mật danh trong đàm thoại giữa các phi công là Rồng, đã hết kiên nhẫn. Chiếc U-2 đang đến gần vùng nhạy cảm, nơi có các căn cứ quân sự tuyệt mật của Liên Xô. I. Mentyukov được lệnh cất cánh ngay lập tức, không chậm trễ một giây. Viên phi công nhảy vào buồng lái, không có cả bộ đồ bay lẫn mũ phi công, đưa chiếc Su-9s ra đường băng, ngang qua chỗ Boris Ayvazyan và Sergei Safronov đang ngồi ăn sáng. I. Mentyukov cho máy bay cất cánh trong khi vẫn chưa biết mình thực sự phải làm gì.
Chỉ huy lực lượng không quân vùng Sverdlovsk, tướng Yuri Vovk, cầm ống nghe điện đàm với buồng lái chiếc máy bay của I. Mentyukov.
Vovk: Đồng chí có nghe thấy tôi nói không?
Mentyukov: Rất rõ.
Vovk: Khu vực của đồng chí là Chelyabinsk. Có một mục tiêu bay rất cao ở khu vực đó. Nhiệm vụ của đồng chí là tiêu diệt mục tiêu.
Mentyukov: Tôi sẵn sàng. Hoàn toàn sẵn sàng.
Chỉ có một vấn đề: Máy bay của Mentyukov không được lắp vũ khí tấn công. Cả Mentyukov lẫn Tướng Vovk đều hiểu rằng như vậy chỉ có một cách duy nhất...
Vovk: Nhiệm vụ của đồng chí là chặn và lao thẳng vào mục tiêu. Đây là lệnh từ Rồng.
I. Mentyukov tăng tốc máy bay hướng về phía mục tiêu. Trên các màn hình radar khi ấy chứng kiến I. Mentyukov, 27 tuổi, không mặc bộ đồ phi công lẫn mũ bay, vẫn điều khiển được chiếc máy bay vượt lên tới độ cao 65.000 bộ, theo sau chiếc U-2 từ phía sau với tốc độ nhanh gấp hai lần âm thanh.
Đài chỉ huy mặt đất thông báo: Mục tiêu ở phía trước, 20 km.
Ở độ cao hơn 20 km một chút, với tốc độ 2.185 km/giờ, chiếc Su-9s của I. Mentyukov nhanh hơn chiếc U-2 nhiều và sẽ bắt kịp mục tiêu trong chốc lát.
- Mục tiêu ở phía trước, 15 km..., 10 km... Nhìn xem. Anh nhìn thấy mục tiêu chưa? - Đài mặt đất rối rít hỏi.
I. Mentyukov nhìn ra phía trước. Không thấy gì. Rồi viên phi công nhận được lệnh, lần này cũng trực tiếp từ Rồng, phải quay về sân bay.
Khi I. Mentyukov hạ cánh chiếc Su-9s, hai phi công Boris Ayvazyan và Sergei Safronov, lúc ấy đã ăn sáng xong, được lệnh cùng những chiếc MiG-19 của họ vừa mới được nạp lại nhiên liệu, cất cánh một lần nữa. Hai người bay lòng vòng trên bầu trời Sverdlovsk, đợi lệnh từ mặt đất.
+++++
Đến 7 giờ sáng theo giờ Moscow, khẩu đội tên lửa của Thiếu tá M. Voronov nhận được lệnh báo động. Thay vì cho các thành viên trong khẩu đội ngủ nướng và tham gia các hoạt động trong ngày lễ, Thiếu tá M. Voronov ra lệnh tất cả vào vị trí. Nhiều người trong khẩu đội tiếc nuối giấc ngủ dở dang, nhất là khi đây rất có thể lại là một cuộc diễn tập nữa.
Nhưng mệnh lệnh được truyền tới: Đây không phải là một cuộc diễn tập. Một kẻ xâm nhập đang ở độ cao 66.000 bộ trên biển Aral và hướng về phía họ. Tất cả phải trong tư thế sẵn sàng ấn nút phóng tên lửa.
Trong xe chỉ huy tên lửa lúc ấy, ngoài Thiếu tá M. Voronov, Trung úy Batukhtin, còn có 5 trắc thủ điều khiển tên lửa, mỗi người điều khiển một bệ phóng. Khi tất cả đã sẵn sàng trong xe chỉ huy, Thiếu tá M. Voronov lên sóng vô tuyến, hỏi Đại tá Gaiderov, chỉ huy của mình đang ở cách đó hai ngôi làng, rằng liệu khẩu đội có được phép ăn sáng không? Đại tá Gaiderov trả lời, cho phép tất cả ăn sáng chỉ trong 10 phút.
Ăn sáng xong, tất cả xe chỉ huy lại chìm trong im lặng khi màn hình trạm radar tầm trung tiếp tục bám theo đường đi của chiếc U-2, lúc này bắt đầu hướng về phía bắc. Khi F. Powers bay trên vùng trời Chelyabinsk, cách thành phố Sverdlovsk khoảng một trăm dặm về phía nam, Thiếu tá M. Voronov bật bộ phận định vị lên và lần đầu tiên nhìn thấy chiếc máy bay U-2 như một chấm xanh trên màn hình radar.
Trong vài phút, chấm xanh di chuyển theo hướng bắc rồi bất chợt ngoặt sang phải. Đấy là lộ trình mà F. Powers được chỉ thị phải bay theo. Hai năm trước đó, hệ thống làm mát của lò chất thải hạt nhân ở gần Kyshtym, phía bắc Chelyabinsk, đã phát nổ, giải phóng ra một lượng bụi phóng xạ lớn mà CIA có thể đo được từ Alaska. Nay CIA muốn có thêm hình ảnh về khu vực này.
Việc ngoặt sang phải khiến cho chiếc U-2 dần vượt ra khỏi tầm bắn khẩu đội tên lửa của M. Voronov. Nhìn vào màn hình radar, Thiếu tá M. Voronov lắc đầu nghĩ thầm: “Nó lại thoát rồi!”.
+++++
F. Powers không biết gì về thảm họa phóng xạ ở Kyshtym. Anh ta chỉ đơn giản thao tác để máy ảnh chụp những bức ảnh cần thiết rồi nhìn vào bản đồ bay, chỉnh lại đường bay khoảng 90 độ, lệch về phía trái, hướng về phía thành phố Sverdlovsk. Xa hơn nữa là bán đảo Scandinavia, nơi anh ta sẽ hạ cánh an toàn.
Chính việc chỉnh lại đường bay của F. Powers đã khiến cho chiếc máy bay của anh ta lại rơi vào tầm ngắm của khẩu đội tên lửa do Thiếu tá M. Voronov chỉ huy. Các trắc thủ nhanh chóng nhận thấy đốm xanh trên màn hình quay trở lại tầm phóng hiệu quả. Khẩu đội tên lửa Kosulino ở vào vị trí tốt nhất có thể tiêu diệt mục tiêu.
Khi hệ thống theo dõi mục tiêu của radar đã “khóa” được chiếc U-2, Thiếu tá M. Voronov ra lệnh: “Phóng!”.
Không có gì xảy ra. Không rõ vì lí do gì, trắc thủ Eduard Feldblum phụ trách phóng tên lửa tỏ vẻ lưỡng lự.
“Bắn!” M. Voronov thét. Eduard Feldblum ấn tay vào nút phóng.
+++++
Lúc đó là 8 giờ 52 phút sáng 1-5 theo giờ Moscow, gần 1 giờ đêm theo giờ Washington. Nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev vẫn đang đứng trên Lăng Lenin ở Quảng trường Đỏ, đưa tay vẫy chào những đội quân đang diễu qua phía trước lễ đài. Hai phi công Boris Ayvazyan và Sergei Safronov vẫn cùng những chiếc MiG-19 thực hiện các đường bay xoắn ốc trên bầu trời thành phố Sverdlovsk, trong khi đồng đội của họ, phi công I. Mentyukov và chỉ huy Yuri Vovk đang ở dưới mặt đất. Các Nguyên soái S. Bhyuzov và Y. Savitsky đều đang ngồi ở Trung tâm chỉ huy. Tại Bodø, Nauy, Đại tá S. Beerli cùng với đội CIA trong quy trình Xâm nhập chớp nhoáng, kiên nhẫn chờ đợi.
Tên lửa S-75 Dvina hay còn gọi là SAM-2, có hai tầng đẩy. Khi bay được chừng hơn 12 dặm, tầng thứ nhất tự động rời ra, để tầng thứ hai thực hiện nốt đường bay còn lại tới mục tiêu, tùy thuộc vào quỹ đạo cũng như sự may mắn! Về nguyên tắc, khi cách mục tiêu chừng 200 bộ, tức là khoảng hơn 65 mét, đầu đạn tên lửa sẽ tự động phát nổ. Tuy nhiên, trải qua một đường bay dài tới 20 km, lại trong điều kiện không khí rất loãng ở độ cao gần rìa khí quyền, mọi sự đều có thể xảy ra. Hoặc là chẳng có gì xảy ra!
Không đúng như trong báo cáo sau này gửi lên cấp trên của Thiếu tá M. Voronov, nói rằng “một quả tên lửa đã bắn lên và mục tiêu bị tiêu diệt”, có tới ba trong số sáu quả tên lửa của khẩu đội Thiếu tá M. Voronov ở Kosulino đã được đồng thời bắn lên vào lúc đó. Cả ba quả vẽ thành những vệt ngoằn ngoèo trên nền trời, nhanh chóng vượt qua tốc độ âm thanh lao về hướng chiếc U-2. Nếu như cả ba quả tên lửa đó chụm nổ thì rất có thể là các cố vấn cho Tổng thống Mỹ D. Eisenhower đã đúng khi nói rằng nếu bị bắn trúng ở trần bay của chiếc U-2 thì khó có phi công nào có thể sống sót.
Nhưng may cho F. Powers là chỉ có một quả tên lửa bay tới gần chiếc máy bay và phát nổ. Trên màn hình trong xe chỉ huy ở Kosulino, Thiếu tá M. Voronov quan sát thấy hai chấm sáng tiến lại gần nhau rồi chập làm một. Tên lửa đã bắn trúng mục tiêu! Lúc đó là 8 giờ 53 phút sáng 1-5-1960 theo giờ Moscow.
Ở độ cao khoảng 68.000 bộ, F. Powers nghe thấy một tiếng nổ khan. Không hẳn là một tiếng nổ bình thường như anh ta vẫn hình dung mà chỉ là một tiếng “vum”, tiếp đó là một quầng sáng màu da cam lóe ra. Chiếc U-2 được F. Powers gài theo chế độ bay tự động đang ở độ cao khoảng 68.000 bộ và tất cả máy móc lắp đặt đều trong trạng thái hoạt động bình thường.
Bên trong buồng lái, F. Powers bị chấn động mạnh bởi vụ nổ. “Chúa ôi, vậy là nó xảy ra rồi!”. Anh ta chỉ kịp nghĩ như thế khi bị dội ngược vào ghế lái. Cánh bên phải của chiếc U-2 sa xuống. Rất có thể máy bay sẽ bị xé ra làm đôi nhưng trong mấy giây, nó vẫn duy trì được trạng thái cân bằng. Bất chợt, F. Powers thấy mình bị chúi xuống và trong giây lát, chiếc máy bay chậm rãi vẽ một hình vòng cung, đang từ trạng thái di chuyển theo chiều ngang chuyển sang chiều thẳng đứng. Toàn bộ hệ thống lái và điều khiển tốc độ bị tê liệt, vẫn được chiếc đai an toàn buộc chặt vào ghế ngồi, F. Powers bỗng thấy mình có thể nhìn thẳng xuống mặt đất ở phía dưới. Anh ta biết như vậy có thể là đuôi chiếc U-2 đã hư hại nặng.
Mà không chỉ có phần đuôi bị cắt rời khỏi thân chiếc máy bay. Cả hai cánh của nó đã bị xé nát khiến cho chiếc U-2 bắt đầu lao xuống mặt đất theo một đường gấp khúc kì dị, khi thì chúc xuống, khi thì ngóc đầu lên như trong một trò chơi bập bênh chết chóc. Bên trong cái buồng lái chật hẹp có bề ngang chỉ chưa đến một mét rưỡi với đầy các máy móc và bảng điện xung quanh, F. Powers rất khó xoay xở. Cơ thể của anh ta vẫn bị ép chặt vào ghế nhờ đai an toàn, trong khi mũ bay đập mạnh vào nóc buồng lái. Ý nghĩ đầu tiên của F. Powers là bấm nút nhảy dù để thoát ra, nhưng thiết kế buồng lái máy bay kiểu cân bằng các lực tác động lên phi công khiến cho anh ta rất khó với tay tới được nút bấm trong tình trạng đang chúi đầu cắm xuống, ép cả người vào bảng điện. Bộ quần áo bay được thiết kế đặc biệt của F. Powers bắt đầu căng phồng lên do áp lực cũng khiến cho anh ta cử động càng khó khăn.
Phía trước mặt F. Powers là công tắc có chữ “Kích nổ”, nối với thiết bị nổ kiểu 175-10A gắn bên rìa buồng lái. Nếu bấm công tắc này, khoảng 8 cân thuốc nổ sẽ đủ sức phá tung cả chiếc máy bay và tất cả các thiết bị lắp đặt bên trong nó.
Trước chuyến bay, F. Powers đã được chỉ dẫn rất kĩ rằng nếu bị bắn rơi, bằng mọi giá phải phá hủy không để máy bay rơi vào tay những người Xô viết. Anh ta có hai lựa chọn: Hoặc kích nổ khối thuốc nổ rồi sau đó bật công tắc nhảy dù; các chuyên viên CIA đã hứa chắc với F. Powers rằng nếu thao tác một cách chính xác, hoàn toàn có đủ thời gian để phi công thoát ra khỏi buồng lái an toàn. Lựa chọn thứ hai là nếu như cảm thấy các bằng chứng trên máy bay có thể rơi vào tay kẻ thù và tình thế cần phải hành động, F. Powers có thể kích nổ khối thuốc nổ để phá hủy cả máy bay lẫn bản thân anh ta.
Không có ai nói với F. Powers rằng anh ta buộc phải tự sát, thế nhưng người ta đã hết sức nhấn mạnh về tầm quan trọng phải phá hủy các bằng chứng trong tình huống khẩn cấp.
Cố gắng đứng lên trên hai chân đang bị bẻ quặt lại phía đằng sau trong một tư thế có thể nói là rất kì quặc khi vẫn còn bị buộc chặt vào ghế, F. Powers biết rằng nếu lúc ấy, anh ta có thể bấm nút nhảy dù thì khối thuốc nổ dưới ghế có thể nổ để hất anh ta ra ngoài buồng lái. Nhưng bất chợt, một ý nghĩ vụt đến trong trí óc khi nhớ đến lời của một ai đó mà anh ta không thể xác định được, có lần đã nói về những trục trặc có thể xảy đến với bộ phận nhảy dù. Trong khi ấy, chiếc U-2 đã rơi từ độ cao 68.000 bộ xuống tới độ cao 34.000 bộ. Vẫn còn cao gấp rưỡi đỉnh Everest. Thiên Sứ bị chặt gãy đôi cánh đang lao xuống địa ngục với tốc độ nhanh chóng.
Đến lúc ấy, F. Powers quyết định không sử dụng đến nút bấm nhảy dù. Anh ta vẫn còn nhớ những chỉ dẫn về việc bấm nút “Kích nổ” để hủy máy bay, nhưng khi ấy, đã quá muộn để có thể chạm tới được cái nút bấm chết chóc ấy. Kết cấu buồng lái cùng với lực ép từ nhiều hướng khiến F. Powers không thể cử động được theo ý muốn. Ý nghĩ duy nhất trong đầu F. Powers khi ấy là phải tự cứu mình trước đã. Anh ta kéo mở nắp buồng lái, tháo tất cả đai đang buộc anh ta vào ghế lái rồi leo lên, nhảy ra bên ngoài. Gần như ngay lập tức, F. Powers rơi vào trạng thái rơi tự do, thẳng hướng xuống khu vực ngoại vi thành phố Sverdlovsk. F. Powers thấy mặt đất vùn vụt lao về phía anh ta với tốc độ nhanh kinh hoàng. Công dân Mỹ F. Powers đang nhập cảnh Liên bang Xô viết theo chiều thẳng đứng mà không có thị thực nhập cảnh.
Thoạt đầu, chiếc máy bay tả tơi rơi song song cùng với F. Powers, nhưng rồi xuống tới độ cao 15.000 bộ, dù của F. Powers tự động bung ra, kéo ngược anh ta lên trong một cú giật mạnh rồi mới từ từ làm giảm tốc độ rơi của viên phi công gián điệp.
Trong thời gian rơi bằng dù ấy, F. Powers đã thoáng nghĩ tới việc sử dụng cây kim thuốc độc có trong túi. Nhưng rồi anh ta gạt ý nghĩ đó sang một bên. Năm F. Powers 18 tuổi, ông bố Oliver có lần đã nói với anh ta: “Nếu tự sát có nghĩa là con đã giết một con người. Tự sát sẽ là một hành động tội lỗi”. Vả lại, biết đâu có lúc anh ta sẽ phải dùng đến cái kim đó như một thứ vũ khí!
+++++
Nhưng nhiệm vụ sáng chủ nhật 1-5 của những khẩu đội tên lửa dưới quyền Thiếu tá M. Voronov chỉ huy chưa kết thúc vào lúc hai cái chấm sáng trên màn hình radar chập lại làm một. Sau khi khai hỏa, Trung úy Batukhtin cùng với ba trắc thủ khác nhảy ra khỏi xe điều khiển để quan sát bằng mắt thường vụ nổ xảy ra ở hướng đông, trên bầu trời xanh trong, để lại những mảnh vụn rơi lả tả của chiếc máy bay vừa bị bắn trúng. Trong khi ấy, Thiếu tá M. Voronov vẫn ngồi trong xe điều khiển cùng các trắc thủ còn lại. Thiếu tá M. Voronov báo cáo với Đại tá Gaiderov, chỉ huy lực lượng phòng không vùng Sverdlovsk, rằng ông không thể đảm bảo hoàn toàn chắc chắn là mục tiêu đã bị hạ.
Vậy nên mệnh lệnh được truyền xuống rất rõ ràng: Bắn hạ bất cứ một mục tiêu nào xuất hiện trong tầm bắn hiệu quả của tên lửa.
Vào lúc ấy, hai phi công B. Ayvazyan và S. Safronov trên những chiếc MiG-19 của mình vẫn tiếp tục bay lòng vòng trên bầu trời Sverdlovsk, đợi lệnh. Tín hiệu của hai chiếc máy bay này đều lọt vào radar quan sát và lập tức, ba quả tên lửa được phóng lên nhằm vào họ.
Đến lúc ấy, đài chỉ huy mới nhận ra rằng đó là máy bay của mình chứ không phải kẻ thù. Mệnh lệnh khẩn cấp được truyền cho hai phi công: Hạ độ cao ngay lập tức. Đại úy B. Ayvazyan hiểu ra ngay tình thế và cho chiếc MiG-19 bổ nhào xuống theo chiếu thẳng đứng, chỉ trong một thời gian rất ngắn đã đưa chiếc MiG-19 từ độ cao 34.000 bộ xuống còn dưới 1.000 bộ, sau đó hạ cánh an toàn.
Trung úy S. Safronov thì không gặp may như thế. Chiếc MiG-19 của S. Safronov không kịp cơ động nhanh, bị trúng tên lửa và viên phi công kịp thời bật công tắc nhảy dù. Tuy nhiên, khi người ta tìm thấy S. Safronov thì viên trung úy đã chết.
Đến lúc ấy, trên màn hình radar của Thiếu tá M. Voronov không còn một chấm sáng mục tiêu nào nữa. Thiếu tá M. Voronov nhận ra rằng một mục tiêu đã trúng một quả tên lửa từ khẩu đội mình. Gần 9 giờ sáng theo giờ Moscow, viên thiếu tá lên sóng và báo cáo lại tình hình. Báo cáo này được truyền từ Sverdlovsk về Moscow rồi sau đó nhanh chóng lan truyền khắp Liên bang Xô viết.
F. Powers đã không gặp may hôm ấy: Khẩu đội tên lửa của Thiếu tá M. Voronov là đơn vị phòng không duy nhất của Liên Xô nằm trên suốt tuyến Grand Slam của chiếc U-2 từ phía nam lên phía bắc Liên Xô. Nếu như thoát khỏi tầm bắn của khẩu đội này thì rất có thể F. Powers đã hạ cánh an toàn xuống bán đảo Scandinavia.
+++++
Buổi sáng hôm ấy, lái xe Leonid Chugiakin đang lái chiếc Moskovich gần thị trấn Kosulino thì nghe thấy một tiếng động lớn, giống như tiếng máy bay phản lực tăng tốc nhưng to hơn nhiều. Bước ra khỏi xe, anh ta thấy một cột bụi ở xa xa, dường như có vật thể gì vừa đâm xuống đất. Trên trời, có đám khói vẫn lơ lửng và một chấm trắng đang từ từ rơi xuống. Thấy V. Surin, cũng là một lái xe quen biết đứng gần đó quan sát, L. Chugiakin liền bảo V. Surin ngồi vào xe rồi cả hai phóng đến chỗ chấm trắng đang từ từ hạ xuống.
Đến gần hơn thì hai người thấy đó là một chiếc dù to hai màu da cam và trắng với người phi công bên dưới đang từ từ bay qua đường dây điện cao thế rồi hạ xuống cánh đồng. Cả hai để xe cách chừng 50 thước rồi chạy vội tới nơi. Ở đó đã có hai người khác là A. Cheremisin, công nhân và P. Asabin, một thương binh. Khi tiếp đất, chiếc dù kéo lê người phi công trên mặt đất. P. Asabin, vốn trước đó có thời gian làm trong ngành hàng không, liền giúp người phi công hãm chiếc dù lại để anh ta khỏi bị kéo đi, rồi tháo chiếc dù ra khỏi người anh ta. Người phi công mặc bộ đồ bay màu xám thép, đội mũ phi công màu trắng mang số 29 và có mặt nạ bảo vệ.
Khi giúp tháo găng tay, mũ và mặt nạ, một người trong nhóm hỏi bằng tiếng Nga: “Anh ổn chứ?”. Viên phi công không trả lời, có lẽ vẫn còn bị sốc sau cú tiếp đất. Một người khác hỏi tiếp: “Anh là người Bulgari à?”. Viên phi công trả lời bằng một thứ tiếng gì đó mà cả bốn người đều không hiểu. Lúc này, những công dân Xô viết đã xác định chắc chắn viên phi công đứng trước họ là một người nước ngoài và trở nên cảnh giác hơn. Thấy F. Powers đeo khẩu súng hãm thanh trong cái bao da màu vàng ở thắt lưng, A. Cheremisin bèn tước lấy.
L. Chugiakin chạy lại ô tô nổ máy chuẩn bị còn A. Cheremisin và P. Asabin kẹp hai tay F. Powers dẫn lại phía ô tô trong khi V. Surin thu dọn những đồ đạc của F. Powers. Đến nơi, thấy F. Powers có một con dao găm, P. Asabin cũng tịch thu luôn rồi lần lượt giơ một và hai ngón tay, ra hiệu hỏi F. Powers có một hay hai người? F. Powers giơ một ngón tay. Vậy là chỉ có một người. Tất cả vào trong ô tô, F. Powers ngồi ở ghế sau, những đồ bay, vật dụng của anh ta để trong khoang hàng. Trong số đó có một tấm vải, trên có một thông điệp ghi bằng 14 thứ tiếng. Bức thông điệp viết: “Tôi là người Mỹ, không nói được tiếng nước bạn. Tôi cần thức ăn, chỗ trú ẩn và giúp đỡ. Tôi sẽ không làm hại bạn. Tôi không có ý định độc ác đối với nhân dân nước bạn. Nếu giúp đỡ tôi, bạn sẽ được thưởng”.
Ô tô chuyển bánh, hướng về phía thị trấn Kosulino, nơi hai nhân viên thuộc Ủy ban An ninh Quốc gia Liên Xô KGB đang chờ. Trên đường đi, F. Powers ra hiệu xin uống nước. Nhiều tiếng đồng hồ đã trôi qua kể từ khi rời khỏi sân bay ở Peshawar, anh ta chưa hề ăn uống gì. Ô tô dừng lại để những người áp tải lấy nước cho F. Powers uống. Họ còn đưa cả thuốc lá của mình cho anh ta hút.
Khi ô tô chuyển bánh, A. Cheremisin chăm chú xem xét kĩ khẩu súng hãm thanh mới tịch thu của F. Powers rồi dùng ngón tay vạch lên chỗ phủ bụi ở thành xe một chữ “USA”, ra ý hỏi.
F. Powers gật đầu.
+++++
Ở sân bay Bodø của Na Uy, S. Beerli cùng các nhân viên CIA chờ F. Powers cho đến quá trưa. Họ mở máy vô tuyến liên lạc, vô vọng chờ đợi một tín hiệu từ chiếc máy bay U-2. Thời gian cứ chậm chạp trôi đi mà không thấy bất cứ một dấu hiệu nào. Đến chiều 1-5, khi chiếc U-2 vẫn bặt vô âm tín, cả nhóm mới thu dọn đồ nghề, lên chiếc C-130 quay về Oslo. Ở đó, S. Beerli gọi tới một số máy ở Đại sứ quán Mỹ và chỉ nói vỏn vẹn mấy chữ: “Bữa tiệc đã tàn”. Rồi S. Beerli thu xếp bay về Washington.
Trong khi đó, F. Powers được đưa về trụ sở chính quyền khu vực. Tại đó, một nhân viên an ninh bắt đầu hỏi F. Powers bằng tiếng Đức nhưng viên phi công lắc đầu, ra ý không hiểu gì. Các nhân viên khác bắt đầu cẩn thận lục soát những đồ vật của F. Powers, kiểm tra kĩ túi áo, quần lót nhưng không phát hiện ra chiếc kim tẩm độc giấu trong đồng xu. Một nữ y tá đến kiểm tra bắp chân phải của viên phi công bị trầy xước trong khi nhảy dù, bôi thuốc và băng bó lại. Những người có mặt gắng nói chuyện với F. Powers vài lần bằng tiếng Nga nhưng đều không có kết quả bởi viên phi công không hiểu một chút gì.
Sau chừng hai giờ đồng hồ, F. Powers được cho lên một chiếc xe quân sự và đưa về thành phố gần nhất là Sverdlovsk.
Ngay buổi chiều 1-5, một chiếc máy bay Tupolev đã hạ cánh xuống Sverdlovsk, chở theo một nhóm quan chức không quân Liên Xô cùng các nhân viên KGB. Một số ở lại để xem xét những mảnh vỡ của chiếc U-2 bị bắn rơi, thu thập các bằng chứng phục vụ cho cuộc điều tra. Một số khác ngay lập tức dẫn giải F. Powers quay về Moscow. Chuyến bay kéo dài ba tiếng đồng hồ. Những người dẫn giải F. Powers ăn uống, trò chuyện, chơi cờ, thỉnh thoảng mời người khách lạ trên máy bay ăn một chút gì đó nhưng viên phi công lắc đầu. Mệt mỏi sau những gì vừa diễn ra, anh ta còn phải lo sắp xếp trong đầu câu chuyện đã được chuẩn bị sẵn sao cho khớp với những chi tiết của vụ đột nhập ở độ cao 68.000 bộ. Có một điều khiến F. Powers vô cùng lo lắng là phía Xô viết đã thu được hầu hết những giấy tờ cùng hiện vật mà anh ta mang theo. Điều đó dẫn tới khả năng là câu chuyện bình phong mà CIA đã chuẩn bị sẵn cho anh ta không thể đứng vững được.
Về tới Moscow, F. Powers được đưa thẳng về nhà tù Lubyanka, nơi anh ta sẽ ở trong hơn 4 tháng, cho tới ngày 9-9-1960. Sáng sớm hôm ấy, viên phi công còn ở Peshawar trên đất Pakistan, vậy mà buổi tối, anh ta đã yên ổn trong một xà lim dưới tầng hầm nhà tù Lubyanka của KGB ở Moscow.
Ở Lubyanka, một nhân viên KGB lục soát kĩ càng, tìm thấy chiếc kim tẩm độc giấu trong đồng xu 1 USD của F. Powers và cẩn thận mang đi. Sau này, KGB tuyên bố là họ đã thử nghiệm chiếc kim này trên một con chó và nó đã chết chỉ sau 90 giây.
+++++


Ở Washington, vào lúc 11 giờ 15 phút trưa 1-5 theo giờ Washington, chuông điện thoại trong một căn nhà sang trọng ở khu quý tộc Georgetown vang lên. Đó là nhà của Hugh S. Cumming Jr., sếp Phân ban Nghiên cứu và tình báo của Bộ Ngoại giao Mỹ. Hôm đó là ngày chủ nhật nên H. Cumming không ở nhà mà tới nhà thờ St. Paul’s Episcopal, cách đó mấy khối nhà. Chỉ có người giúp việc nghe máy và ghi lại tên người muốn khẩn cấp gặp ông chủ.
Khi về đến nhà sau buổi trưa, H. Cumming thấy tên người điện thoại đến và ngay lập tức nhận ra đấy là đầu mối trong CIA có liên quan đến chương trình máy bay do thám U-2.
H. Cumming nhấc máy gọi lại. Từ đầu dây bên kia, thông tin được truyền tới: Chiếc U-2 đã không hạ cánh xuống Bodø. Có thể nó đã rơi đâu đó trên lãnh thổ Liên bang Xô viết, vẫn chưa rõ về tình trạng của chiếc máy bay cũng như phi công.
H. Cumming là quan chức đầu tiên trong Bộ Ngoại giao Mỹ được CIA thông báo về vụ chiếc U-2 của F. Powers mất tích.
Cho đến lúc đó thì ngay cả Giám đốc CIA Allen Dulles cũng chưa biết về vụ việc. Sáng hôm ấy, chủ nhật, Allen Dulles đang ngồi trong phòng họp lớn ở khách sạn Waldorf-Astoria tại New York để nhận giải thưởng Luật Vàng “vì những công lao trong các hoạt động phụng sự chính quyền cũng như cống hiến cho các lí tưởng Thiên Chúa giáo” do Hiệp hội Thánh George của Sở Cảnh sát New York trao tặng.
Đã từng có hai năm làm việc ở Moscow, từ tháng 10-1957, H. Cumming được bổ nhiệm làm Trưởng Phân ban tình báo Bộ Ngoại giao Mỹ, thực chất là một phòng trong CIA. Ở cương vị này, khi Allen Dulles vắng mặt, H. Cumming tạm coi như thay quyền để xử lí công việc. Mặc dù ít khi lộ diện ra trước công chúng, H. Cumming nằm trong số rất ít người của Bộ Ngoại giao biết rõ về chương trình do thám bằng máy bay U-2.
Khi được báo tin về vụ mất tích chiếc máy bay U-2 của F. Powers, việc đầu tiên H. Cumming nghĩ đến là nhấc điện thoại báo tin cho Loy Henderson, quyền Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ ở thời điểm đó vì Bộ trưởng Ngoại giao Christian A. Herter đang ở Istanbul để tham dự cuộc họp với Bộ trưởng Ngoại giao các nước thành viên NATO. Nhưng H. Cumming lưỡng lự. Người đứng đầu Phân ban Tình báo Bộ Ngoại giao Mỹ biết rằng mặc dù có chức vụ rất cao trong Bộ Ngoại giao nhưng Loy Henderson lại không hề biết về chương trình máy bay U-2, vốn được giữ trong vòng bí mật tuyệt đối.
Vậy thì phải thông báo về thảm họa này cho ai?
Các phi vụ do thám bằng máy bay U-2 trên lãnh thổ nước ngoài được xếp vào diện “đen”, có nghĩa là chỉ có một số rất ít người biết về sự tồn tại của chúng. Ở Bộ Ngoại giao Mỹ, trong số này có Bộ trưởng C. Herter và Thứ trưởng Douglas Dillon, người được bổ nhiệm một năm trước đấy sau cái chết của Bộ trưởng Ngoại giao John Foster Dulles.
Hôm ấy, Bộ trưởng C. Herter đang đi công cán ở Thổ Nhĩ Kỳ, bởi vậy người mà H. Cumming nghĩ hợp lí nhất để thông báo về vụ việc là Thứ trưởng Ngoại giao D. Dillon, lúc đó đang ở nhà riêng tại đường Belmont. Khi hai người liên lạc với nhau trên điện thoại, cả H. Cumming lẫn D. Dillon đều ý thức được rằng họ đang nói về một trong những bí mật lớn nhất của nước Mỹ trên đường điện thoại thông thường, không bảo đảm an ninh. Cả hai nhanh chóng đi tới một quyết định quan trọng sẽ ảnh hưởng lâu dài đến những diễn tiến của vụ việc sau đó.
Ngay vào khoảng thời gian giữa năm 1956, khi tiến hành những phi vụ U-2 đầu tiên trên bầu trời Liên Xô, CIA đã phòng hờ, chuẩn bị sẵn một câu chuyện làm vỏ bọc cho các chiến dịch bí mật này một khi nó gặp trục trặc. Câu chuyện bình phong này phải khớp với những điều kiện về hoàn cảnh cũng như vị trí địa lí mà phi vụ diễn ra. Bộ phận truyền thông của Không quân Mỹ sẽ phải ra một thông báo ngắn gọn về bối cảnh của chuyến bay nếu như chiếc U-2 tham gia sứ mạng bí mật không quay về như dự định.
Cả H. Cumming và D. Dillon đều biết câu chuyện vỏ bọc sử dụng cho phi vụ ngày 1-5 của F. Powers là “một máy bay nghiên cứu thời tiết cất cánh ở Thổ Nhĩ Kỳ đã - không được sự cho phép nào hết - bay lạc sang Pakistan”. Nhưng vì những lí do ngoại giao mà cả hai quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ đều đi tới thống nhất là nếu chỉ cần nhắc đến tên “Pakistan” trong câu chuyện thì một khi nó được công bố với giới truyền thông, ngay lập tức, câu chuyện vỏ bọc sẽ đổ bể không thể cứu vãn được.
Sau khi đọc bài phát biểu nhận giải thưởng ở Sở Cảnh sát New York, Giám đốc CIA Allen Dulles chỉ biết về vụ chiếc U-2 mất tích khi về tới nhà riêng ở số 2723 phố Q, khu Georgetown vào quãng sau 2 giờ chiều.
Cùng lúc đó, CIA cũng thông báo cho Lầu Năm Góc về vụ việc vừa xảy ra.
Hôm ấy, Tổng thống Mỹ D. Eisenhower đang đi nghỉ cuối tuần ở Trại David. Cả ngày hôm trước, thứ bảy, tổng thống đã chơi golf với con trai, Thiếu tá John D. Eisenhower, cậu cháu trai 12 tuổi David và một người bạn lâu năm là George Allen. Sáng chủ nhật trời mưa nhưng thời tiết u ám cũng không làm vơi đi tâm trạng sảng khoái của tổng thống. Tháng 9 năm trước, cũng tại Trại David này, Tổng thống D. Eisenhower đã có cuộc gặp với nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev; cả hai dường như đều nhìn thấy một thời kì trăng mật bắt đầu ló rạng trong quan hệ Xô - Mỹ, mở ra một kỉ nguyên hòa bình, thoát khỏi những ám ảnh đen tối của Chiến tranh Lạnh. Tổng thống D. Eisenhower dự tính mang cái tinh thần lạc quan ấy đến Hội nghị thượng đỉnh tứ cường, sẽ khai mạc ở Paris sau hai tuần lễ nữa. Rồi sau đó sẽ là chuyến thăm hữu nghị Liên bang Xô viết theo lời mời của Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô N. Khrushchev.
Do trời mưa nên tổng thống dự định sẽ cắt ngắn thời gian nghỉ cuối tuần, quay về Nhà Trắng vào buổi chiều bằng trực thăng. Phu nhân Tổng thống cùng với vợ của người bạn thân George Allen sẽ quay về Washington bằng ô tô. Đệ nhất Phu nhân nước Mỹ không thích đi máy bay.
Nhưng trước khi rời Trại David, Tổng thống D. Eisenhower được Chánh văn phòng Nhà Trắng, Chuẩn tướng Andrew J. Goodpaster, đích thân thông báo tin sét đánh: Đã có chuyện chẳng lành xảy ra với chiếc máy bay U-2 cất cánh vào đêm hôm trước theo giờ Washington. Tổng thống Hoa Kỳ đã giữ im lặng trên suốt đường về Nhà Trắng.
+++++
Đầu giờ chiều ngày 1-5-1960 theo giờ Washington, một cuộc họp khẩn trương được tổ chức tại tòa nhà nằm trong khu trung tâm nhộn nhịp ở thủ đô Washington. Đây là địa điểm bí mật nằm cách không xa Nhà Trắng, được ngụy trang như một công sở. Đối với những chủ cửa hàng và cư dân ở quanh tòa nhà này, các điệp viên CIA ra vào tòa nhà này không khác gì so với những thương gia hoặc thư kí của các cơ quan chính phủ.
Cuộc họp diễn ra trong căn phòng được bài trí giống như Phòng tình hình trong trường hợp nổ ra chiến tranh, với một tấm bản đồ lớn choán kín cả bức tường.
H. Cumming là người duy nhất của Bộ Ngoại giao Mỹ có mặt tại cuộc họp bí mật này, còn lại tất cả đều là các quan chức CIA và chuyên gia kĩ thuật. Trước đấy, qua mạng thông tin nội bộ được bảo mật gắt gao, CIA đã tập hợp tin tức từ các điệp viên địa bàn ở Bodø, Incirlik và Peshawar báo về, cho thấy không có tia hi vọng nào là cuối cùng thì F. Powers cũng sẽ xuất hiện với chiếc máy bay trứ danh của anh ta và hạ cánh xuống sân bay nằm gần một làng chài ven biển Na Uy.
Những người có mặt tại cuộc họp có vẻ lo lắng nhưng không đến nỗi hoảng loạn. Tất cả các chỉ dấu đều cho thấy chiếc U-2 đã rơi trên lãnh thổ Liên bang Xô viết, nhưng có vẻ như cơ hội để người Xô viết có được những bằng chứng vật chất về chuyến bay do thám vi phạm không phận của họ là rất nhỏ. Trải qua 4 năm triển khai chương trình bí mật, CIA đã huấn luyện kĩ càng các phi công lái máy bay U-2 phương cách để tiêu hủy các bằng chứng. Rất có thể là F. Powers đã tuân theo những chỉ dẫn khắt khe này và thành công trong việc phá hủy chiếc U-2. Dù anh ta có còn sống nhưng với một phi công mà không có máy bay thì phía Mỹ vẫn có thể dễ dàng chối bỏ trách nhiệm đứng sau phi vụ này.
Cuộc họp bí mật này, vì thế tập trung vào việc xây dựng câu chuyện bình phong sao cho nó đáng tin đối với cộng đồng quốc tế. Như trong thông cáo báo chí đã được đưa ra từ nhiều năm trước thì các cơ quan nghiên cứu khoa học của Mỹ đang tiến hành thu thập những dữ liệu “thời tiết” ở độ cao gần với rìa khí quyển. Vì vậy, câu chuyện sẽ dựa trên kịch bản là một chiếc máy bay nghiên cứu “thời tiết” đã không quay trở về căn cứ sau khi tham gia vào chuyến bay thường lệ. Một cuộc “tìm kiếm” chiếc máy bay bị mất tích cũng đang được triển khai.
CIA đã chuẩn bị kĩ càng những kịch bản trong trường hợp khẩn cấp và vụ việc chiếc U-2 mất tích chính là một trường hợp như vậy. Đó là những kịch bản hoàn toàn không đúng sự thật hoặc chỉ chứa đựng một phần sự thật. Một câu chuyện như thế được dựng lên nhằm mục đích bảo vệ các điệp vụ, các điệp viên hoặc quốc gia đã cử điệp viên đi thực hiện sứ mệnh cũng như giữ bí mật cơ cấu hoạt động của bộ máy tình báo.
Trong cuộc gặp bí mật này, câu chuyện bình phong về chiếc máy bay U-2 mất tích ngày 1-5 do CIA chuẩn bị là chiếc máy bay xuất phát từ Thổ Nhĩ Kỳ trong một sứ mệnh đo đạc thời tiết đã không may bay lạc sang Pakistan mà không được phép sau khi phi công báo về là có trục trặc động cơ máy bay.
Như đã thống nhất với Thứ trưởng Ngoại giao D. Dillon từ trước, H. Cumming cực lực phản đối, yêu cầu phải loại bỏ yếu tố “Pakistan” trong câu chuyện bình phong về chiếc U-2 bị mất tích. Theo H. Cumming, vấn đề chính nằm ở vị trí địa lí của Pakistan. Nước này nằm ngay trên hành lang giữa Liên Xô với nước Trung Hoa cộng sản và việc đưa quốc gia này vào câu chuyện vỏ bọc sẽ gây ra những rắc rối lớn cả về chính trị lẫn ngoại giao.
Trước đó, trong cuộc nói chuyện trên điện thoại, H. Cumming và Thứ trưởng Ngoại giao D. Dillon đều nhất trí cho rằng nếu như có một quốc gia nào phải giơ đầu chịu báng một khi vụ việc bị thổi bùng lên thành cuộc khủng hoảng ngoại giao tầm cỡ quốc tế thì đó chỉ có thể là Thổ Nhĩ Kỳ. Người Thổ vốn có tinh thần độc lập, có thể chịu sức ép quốc tế tốt hơn người Pakistan.
Những người có mặt trong căn phòng buộc phải đồng ý với quan điểm của Bộ Ngoại giao. Nhưng một khi đã loại bỏ yếu tố “Pakistan” ra khỏi câu chuyện thì lại phải xây dựng một “kế hoạch bay” hoàn toàn mới cho chiếc U-2. Tất cả đều hiểu rõ là các thông số về trần bay, tầm xa cũng như khả năng mang nhiên liệu của chiếc U-2 là những số liệu tuyệt mật, không được phép để lộ ra. Vì vậy, cần phải xây dựng câu chuyện sao cho khớp với các số liệu đã được công bố rộng rãi trước đó.
Về mặt này thì họ có những “trợ thủ” đắc lực. Năm 1959, tạp chí quốc phòng nổi tiếng Jane’s, trong ấn bản All the World’s Aircraft, đã cho rằng chiếc máy bay U-2 nghiên cứu thời tiết không thể bay ở độ cao quá 55.000 bộ. Một số liệu công khai khác cho thấy chiếc U-2 chỉ có thể duy trì được thời gian bay tối đa trong 4 giờ đồng hồ. Toàn bộ câu chuyện bình phong được xây dựng dựa trên những dữ liệu công khai này.
Vậy là với các số liệu kĩ thuật đó cùng với tấm bản đồ, các chuyên gia kĩ thuật có mặt trong căn phòng bắt đầu xây dựng đường bay của chiếc U-2, không qua Pakistan, mà dọc theo biên giới Liên Xô nhưng hoàn toàn nằm trong không phận Thổ Nhĩ Kỳ.
Các nhân vật có mặt trong cuộc gặp thông qua lần cuối câu chuyện vỏ bọc cũng như sơ đồ đường bay giả của chiếc U-2. Thông qua hệ thống truyền tin bảo mật nội bộ, CIA gửi những dữ liệu của câu chuyện bình phong cho các trạm CIA liên quan, kể cả ở Adana, Thổ Nhĩ Kỳ. Đây sẽ là nơi phát đi thông cáo báo chí về vụ việc.
Câu chuyện này cũng được gửi cho Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ C. Herter, khi ấy vẫn còn đang ở Istanbul trong cuộc gặp với các Bộ trưởng NATO, để sẵn sàng trả lời giới truyền thông một khi các câu hỏi được đặt ra.
Toàn bộ hệ thống tình báo và ngoại giao Hoa Kỳ vận hành hết tốc lực để chuẩn bị đối phó với tình huống khủng hoảng vừa mới xảy ra.
+++++
Trong những giờ đầu tiên, CIA hoàn toàn không biết gì về số phận chiếc U-2 cũng như của phi công F. Powers. Các trạm nghe lén của Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ NSA ghi nhận khoảng sau 1 giờ sáng hôm 1-5-1960 theo giờ Washington, hệ thống truyền tin quân sự của các lực lượng vũ trang Xô viết đột nhiên im lặng một cách bất thường. Rồi sau đấy là bức điện của S. Beerli gửi về qua trạm CIA ở Oslo, báo tin chiếc máy bay đã không hạ cánh.
Rất có thể nó rơi ở đâu đấy và phi công đã chết. Như vậy cần phải tiến hành các bước tiếp theo. Tổng thống D. Eisenhower được thông báo chi tiết về câu chuyện bình phong do CIA chuẩn bị trong cuộc họp khẩn chiều 1-5 và thông qua vào sáng hôm sau, 2-5-1960.
Từ Adana, một thông cáo báo chí được phát ra: “Một chiếc máy bay U-2 nghiên cứu thời tiết xuất phát từ Adana, Thổ Nhĩ Kỳ, đã thực hiện sứ mệnh nghiên cứu về nhiễu động không khí. Trong khi đang bay ở miền nam Thổ Nhĩ Kỳ, phi công báo cáo có trục trặc về hệ thống cung cấp oxy. Những lời cuối cùng của phi công được ghi nhận trên tần số khẩn cấp 0700Z. Chiếc U-2 đã không hạ cánh ở Adana theo như kế hoạch và có thể đã rơi. Các nỗ lực tìm kiếm đang được tiến hành ở vùng hồ Van”.
Vùng hồ Van cách Sverdlovsk chừng 1.500 dặm là nơi mà CIA cho rằng chiếc U-2 đã bị rơi. Thuật ngữ “trục trặc về hệ thống cung cấp oxy” được đưa ra trong thông cáo báo chí nhằm biện hộ cho việc máy bay có thể “lạc” xa khỏi “đường bay” do phi công không tỉnh táo, bị mất quyền điều khiển máy bay! Nếu như người Xô viết tuyên bố rằng chiếc U-2 bị rơi không phải trên khu vực biên giới mà sâu trong nội địa thì CIA có sẵn phương án “kết tội” phía Liên Xô đã “dịch chuyển” chiếc máy bay bị rơi đến địa điểm chọn sẵn để phục vụ các mục đích tuyên truyền!
Nhưng tất cả những sự chuẩn bị đó chỉ có tác dụng trong trường hợp F. Powers không còn sống sót!
Trong những ngày đầu tiên sau 1-5-1960, trên các phương tiện truyền thông cũng như báo chí thế giới, tin tức về chiếc U-2 mất tích hoàn toàn mù mờ, không có gì đáng chú ý.
Người đầu tiên đưa tin về vụ chiếc máy bay U-2 mất tích là một anh chàng phóng viên ở Adana không biết tiếng Anh, chỉ có thể nói được tiếng Thổ Nhĩ Kỳ và tiếng Ả Rập, tên là Yusuf Ayhan. Anh chàng này thường lấy thông tin qua bộ phận truyền thông của căn cứ không quân Incirlik. Y. Ayhan nhận được thông tin về chiếc máy bay mất tích dựa trên câu chuyện bình phong do CIA thống nhất trong cuộc họp mật hôm 1-5 và nghĩ rằng mình có đủ dữ liệu để viết một bài báo hay. Y. Ayhan làm việc bán thời gian cho tờ Yeni Istanbul nên viết một bài đăng trên tờ báo này. “Một chiếc máy bay U-2 đo đạc thời tiết của Mỹ, khá nổi tiếng do kết cấu đặc biệt của nó, xuất phát từ căn cứ Incirlik gần Adana, được biết đã mất tích hôm chủ nhật”, Y. Ayhan viết. “Chiếc U-2 bay ở độ cao 68.000 bộ gần với rìa khí quyển để tìm nguyên nhân đằng sau những thay đổi về điều kiện khí hậu, đã gửi bức điện cuối cùng về hôm chủ nhật, khi phi công thông báo hệ thống cung cấp oxy bị hư hại. Hiện chưa có thêm thông tin gì về chiếc máy bay này”.
Tuy nhiên, Y. Ayhan không chỉ dựa hoàn toàn vào những thông tin trong câu chuyện bình phong do CIA cung cấp. Cũng như nhiều phóng viên khác, anh ta có các nguồn tin riêng của mình. Bởi vậy nên anh chàng viết thêm vào bài báo rằng “rất có thể chiếc máy bay đã bị chiến đấu cơ của Liên Xô bắn rơi”.
Bài báo của Y. Ayhan rơi tõm vào trong dòng thác những thông tin đầy rẫy trên các mặt báo ở Istanbul khi ấy.
Trong lúc đó, ngày 3-5, Zeyyat Goren, phụ trách địa bàn Thổ Nhĩ Kỳ của hãng tin UPI, nhận được một cú điện thoại của Adan Tahir, một cộng tác viên đang làm việc cho tờ Hurriyet ở Istanbul. A. Tahir báo cho Z. Goren tin một chiếc máy bay nghiên cứu thời tiết xuất phát từ căn cứ Incirlik đã mất tích. Z. Goren liền gọi điện thoại đến bộ phận truyền thông của căn cứ không quân Incirlik và được nối máy với một viên thượng sĩ ở bộ phận này. Viên thượng sĩ không quân khẳng định với Z. Goren câu chuyện là có thật. Vâng, một chiếc máy bay “nghiên cứu thời tiết” đã bị mất tích “đâu đó gần biên giới vịnh Persich”, có thể nó đã gặp trục trặc gì đó về vấn đề dưỡng khí; một đội gồm ba chiếc máy bay C-54 xuất phát từ căn cứ không quân Wheelus ở Libya đang trong quá trình tìm kiếm.
Khi nghe thấy thông tin về chiếc máy bay bị mất tích “gần biên giới vịnh Persich”, Z. Goren lập tức nhớ đến vụ rơi một chiếc máy bay C-130 cũng ở ngay chỗ đó, mà khu vực này nằm ngay trên biên giới với nước Cộng hòa Xô viết Armenia thuộc Liên Xô. Z. Goren gửi tin về trụ sở hãng UPI ở New York và tin này được phát đi khắp khu vực Bắc Mỹ, nhưng cũng không gây được sự chú ý nào đáng kể trên các trang báo lớn ở Mỹ.
+++++
Ở xà lim ngầm trong lòng nhà tù Lubyanka tại Moscow, suốt một tuần lễ kể từ khi bị bắt giữ, F. Powers hầu như không ăn gì. Anh ta rơi vào tình trạng mỏi mệt triền miên, khát nước, đau đầu, tim đập nhanh. Ba bác sĩ mặc áo blouse trắng tới khám đều kết luận rằng thể trạng F. Powers không có vấn đề gì lớn, nhưng anh ta vẫn không thể nào bắt mình ăn được, dù chỉ là chút ít. Một trong số các bác sĩ đưa cho F. Powers hai viên thuốc giảm đau chống nhức đầu aspirin kèm theo một cái nhìn thông cảm. Một bác sĩ khác tiêm cho F. Powers một mũi tiêm mà thoạt đầu anh ta ngờ rằng rất có thể nó là thuốc “chống nói dối” hay “tẩy não”; CIA luôn tin rằng KGB sử dụng những loại thuốc này trên cơ thể các điệp viên rơi vào tay họ. Nhưng hóa ra không phải. F. Powers kết luận đó có thể chỉ là một mũi tiêm chủng định kì hoặc để giúp anh ta ngủ được.
Tình trạng mệt mỏi khiến F. Powers rất khó ngủ. Cái giường sắt trong xà lim khá hẹp, lại khá cứng do các lò xo bị thay bằng những thanh thép. F. Powers được phát hai cái chăn quân đội vừa để gối, vừa để đắp vào ban đêm. Một cái bóng đèn gắn phía trên cánh cửa xà lim không bao giờ tắt cả ban ngày lẫn ban đêm và F. Powers có cảm giác một cặp mắt luôn theo dõi nhất cử nhất động của anh ta qua một lỗ nhỏ nằm ở phía dưới cái bóng đèn ấy.
Hằng ngày, F. Powers được dẫn tới phòng hỏi cung khá rộng trên mặt đất, có ánh sáng tự nhiên. Trong phòng có chiếc bàn dài với khoảng một tá người ngồi vây quanh. Trong số này có Alexander Shelepin, Giám đốc KGB và Roman Rudenko, người luôn hút một loại thuốc lá của phương Tây, từng là Tổng chưởng lí Xô viết trong phiên tòa xét xử tội phạm chiến tranh Nuremberg. Các câu hỏi liên tiếp được đưa ra, thỉnh thoảng lại có những khoảng ngừng ngắn để những người hỏi cung trao đổi với nhau. F. Powers có cảm tưởng những người này đang bối rối không biết phải làm gì với anh ta, nhưng một ý nghĩ u ám cứ len lỏi trong đầu là sớm hay muộn rồi họ cũng tìm ra cách xử lí tốt nhất: Lôi anh ta ra bắn.
Trước đấy, F. Powers đã có lí do để hi vọng dù rất mong manh. Được đưa từ Sverdlovsk về Moscow hôm chủ nhật thì ngày hôm sau, F. Powers có một chuyến du ngoạn vòng quanh Moscow trên một chiếc xe sang hiệu Zil. Ngồi ở khoang sau của chiếc xe, F. Powers có thể trông thấy Quảng trường Đỏ, nhà thờ Thánh Basil, những cầu trượt tuyết nằm ở bờ tây sông Moscow... Đây quả thật là một chuyến du lịch không đặt trước đầy bất ngờ với F. Powers. Hai mươi tư giờ trước, anh ta còn đang ở Peshawar, vậy mà nay thì được đưa đi quanh thủ đô của đế chế Đỏ! Có thể người ta sẽ không đưa anh ta ra bắn. Hoặc cũng có thể người Xô viết muốn gây ấn tượng với anh ta, cho anh ta xem thành phố của họ và chứng tỏ rằng trái với tuyên truyền của chính phủ Mỹ, họ rất nhân đạo. Biết đâu đấy, họ sẽ sớm phóng thích anh ta thì sao!
Đó không phải là một giả thiết ngớ ngẩn. Những câu hỏi cứ trở đi trở lại trong đầu F. Powers: Vì sao anh ta lại được cử đi làm nhiệm vụ vào đúng thời điểm nhạy cảm, khi mà Hội nghị thượng đỉnh tứ cường ở Paris đã tới rất gần? Phải chăng là để nhằm phá hoại hội nghị này?
Trước đấy, F. Powers rất ít quan tâm đến cái hội nghị ấy. Nhưng nay thì nó cứ luẩn quẩn trong tâm trí anh ta như một tia hi vọng còn sót lại sau cơn ác mộng xảy ra ở độ cao 68.000 bộ. Ngồi trên chiếc xe Zil quay trở lại nhà tù Lubyanka, trong tâm trí F. Powers cứ thấp thoáng cái viễn cảnh nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev sẽ mang anh ta tới Paris và trao cho Tổng thống D. Eisenhower như một món quà thiện chí; hay thậm chí chỉ để chứng tỏ cho tổng thống Mỹ thấy uy lực đáng kinh ngạc của loại tên lửa Xô viết S-75 Dvina như thế nào!
F. Powers hiểu rằng trừ phi bị xử bắn hoặc bị nhét vào một xó xỉnh nào đó trong những trại cải tạo ở Liên bang Xô viết thì giá trị lớn nhất của anh ta đối với người Xô viết là để nhằm mục đích tuyên truyền. Nhưng để tăng tối đa giá trị này lên thì phía Xô viết cần phải nhanh chóng nắm được là liệu người Mỹ có biết viên phi công gián điệp của họ còn sống hay không. Chính bởi vậy nên cả Giám đốc KGB A. Shelepin lẫn Tổng chưởng lí R. Rudenko đều hỏi đi hỏi lại là trước khi nhảy ra khỏi buồng lái chiếc U-2 đang rơi, F. Powers có kịp thông báo bằng vô tuyến cho căn cứ biết hay không. F. Powers từ chối không trả lời câu hỏi này bởi nếu nói là đã liên lạc, người Xô viết sẽ biết ngay anh ta nói dối bằng cách kiểm tra máy vô tuyến điện trên chiếc U-2, vốn có tầm liên lạc chỉ vào khoảng 300 dặm. Còn nếu trả lời là chưa phát tín hiệu cấp cứu khi bung ra khỏi buồng lái thì rất có thể phía Xô viết chỉ cần lẳng lặng mang anh ta ra bắn mà chẳng sợ gây nên một vụ bê bối quốc tế nào.
Đến ngày thứ ba sau khi bị bắn rơi thì F. Powers cảm thấy chẳng còn chút hi vọng nào nữa. Anh ta bắt đầu quan tâm đến bữa ăn trong tù của mình. Người phiên dịch hỏi F. Powers xem có muốn ăn bất cứ thứ gì hay không. Thay vì đưa ra thực đơn món ăn, F. Powers yêu cầu được cấp một vài cuốn sách để đọc, trong đó có Kinh thánh và một bản của cuốn tiểu thuyết Cuốn theo chiều gió.
+++++
Các quan chức tình báo Mỹ hoàn toàn mù tịt, không hiểu điều gì đã thực sự xảy ra với chiếc U-2. Những việc họ làm chỉ là thông báo cho hai cô chị của F. Powers, khi ấy đã lấy chồng và sống ở gần Washington, rồi sau đó là ông Oliver Powers, rằng người thân của họ bị mất tích trong một chuyến bay nghiên cứu thời tiết. Ở Adana, đại tá Shelton nói với Barbara, vợ của F. Powers, rằng cô phải quay về Washington ngay lập tức. Chồng của cô đã mất tích và một khi tìm được anh ta, hai người sẽ gặp nhau sớm thôi.
Trong vòng ba ngày sau khi chiếc U-2 bị mất tích, Tổng thống D. Eisenhower tưởng như mình đã có thể quên đi câu chuyện u ám liên quan đến chiếc máy bay do thám. Không hề có một động thái phản đối ngoại giao từ phía Bộ Ngoại giao Liên Xô, không có “TASS được quyền tuyên bố” và hầu như cũng chẳng có tờ báo Mỹ nào quan tâm đến bản thông cáo báo chí ngắn gọn được phát đi từ Adana, Thổ Nhĩ Kỳ về chiếc máy bay nghiên cứu thời tiết mất tích. Tờ Bưu điện Washington chỉ đưa nó vào mục tin vắn nhỏ xíu.
Tổng thống D. Eisenhower không hề mảy may tin rằng viên phi công lái chiếc máy bay còn sống. Ngay từ năm 1956, Giám đốc CIA Allen Dulles đã không ngừng nhắc đi nhắc lại, bảo đảm với tổng thống rằng một khi chiếc U-2 bị bắn rơi ở độ cao không tưởng của nó thì phi công cầm chắc sẽ chết. Có lẽ quả phụ của viên phi công giờ đang khóc than ở đâu đó rồi. Đó quả thực là một câu chuyện buồn, rất buồn, nhưng nó ắt phải diễn ra như thế. Chết một mình, đơn độc trên bầu trời Liên Xô, quả không dễ chịu gì. Cũng khó có thể hình dung ra làm cách nào để mang được thi hài viên phi công về làm lễ tang chôn cất một cách trọng thể nơi quê nhà. Nhưng Tổng thống D. Eisenhower tin rằng đó là một sự hi sinh cao quý, đúng đắn, vì lợi ích của nước Mỹ.
Tổng thống D. Eisenhower suy tính rằng nếu nhà lãnh đạo N. Khrushchev chỉ thị cho toàn bộ hệ thống chính trị Xô viết tiếp tục nhẫn nhịn trước hành động mang tính gây hấn này thì đó là quyết định hết sức ấn tượng. Những công việc chuẩn bị cho Hội nghị thượng đỉnh tứ cường ở Paris tiếp tục được xúc tiến như không hề có chuyện gì xảy ra. Một hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân đang dần thành hiện thực và đấy sẽ là vòng nguyệt quế chính trị cho nhiệm kì của Tổng thống. D. Eisenhower dự tính là nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ như thế thì ông đánh giá rất cao vai trò của Khrushchev và khi đi thăm Liên Xô, sẽ tặng nhà lãnh đạo Xô viết món quà là một chiếc thủy phi cơ chạy bằng động cơ phản lực.
Ngày 5-5-1960, tức là 5 ngày sau khi chiếc U-2 bị bắn rơi, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Xô Llewellyn Thompson, được mời tới nghe bài phát biểu của nhà lãnh đạo N. Khrushchev tại phiên họp toàn thể Xô viết tối cao Liên Xô, diễn ra ở Phòng họp lớn trong điện Kremlin. Khoảng 1.500 đại biểu, đại diện cho các vùng, các khu vực trên toàn Liên bang tề tựu về đây để thông qua các sắc luật hay chính sách, vạch ra phương hướng phát triển cho đất nước. Đại sứ L. Thompson và Bí thư thứ nhất N. Khrushchev không lạ gì nhau. Vị đại sứ Hoa Kỳ đã từng trải qua những kì nghỉ cuối tuần tại nhà nghỉ ngoại ô của nhà lãnh đạo Liên Xô. Một số ủy viên Bộ Chính trị thậm chí còn thì thầm với nhau rằng kể từ khi đi thăm Mỹ trở về hồi tháng 9 năm trước, N. Khrushchev có vẻ còn tin tưởng vị đại sứ Mỹ hơn cả những bộ trưởng trong chính quyền của mình!
Bài phát biểu của N. Khrushchev hôm ấy kéo dài tới gần 4 tiếng đồng hồ, bao trùm nhiều vấn đề, từ nghệ thuật dân gian của người Uzbek cho tới tái cấu trúc nền kinh tế Liên Xô theo hướng dân sự hóa cũng như về ngân sách dành cho các lực lượng vũ trang. Trong hai tiếng rưỡi đồng hồ đầu tiên, Đại sứ L. Thompson cố gắng nghe với vẻ lịch sự. Ông ta chỉ băn khoăn không hiểu vì sao hôm nay lại được xếp ngồi ở vị trí nằm ngay phía trước bục phát biểu, nơi tất cả đều có thể nhìn vào.
Nhưng đến gần cuối giờ thứ ba của bài phát biểu, khi đề cập tới Hội nghị thượng đỉnh giữa lãnh đạo bốn cường quốc sắp diễn ra tại Paris, nhà lãnh đạo Xô viết bất thần tung ra “quả bom”: “Sáng sớm ngày 1-5”, ông tuyên bố, “vào lúc 5 giờ 36 phút theo giờ Moscow, một máy bay Mỹ đã vượt qua biên giới chúng ta và bay sâu vào lãnh thổ Liên Xô. Bộ Quốc phòng đã ngay lập tức thông báo cho chính phủ về hành động xâm lược này. Chính phủ đã chỉ thị cho Bộ Quốc phòng: Kẻ xâm lược biết những gì sẽ chờ đợi hắn khi xâm phạm lãnh thổ một nước khác; nếu không bị trừng phạt, hắn sẽ tiếp tục có những hành vi gây hấn mới. Do đó, mệnh lệnh đưa ra là phải bắn rơi chiếc máy bay. Mệnh lệnh này đã được thực hiện một cách đầy đủ: chiếc máy bay đã bị bắn hạ. Qua xem xét, có thể thấy chiếc máy bay này thuộc về nước Mỹ, mặc dù bên ngoài máy bay không hề có dấu hiệu gì!”.
“Đây là một hành động gây hấn nhằm mục đích phá hoại Hội nghị thượng đỉnh”, nhà lãnh đạo Xô viết tuyên bố. Tuy nhiên, như để tránh khả năng có thể gây nên những hệ lụy trầm trọng khó có thể cứu vãn trong tương lai đối với quan hệ giữa hai nước, trong tuyên bố của mình, N. Khrushchev cẩn thận kết tội “giới quân sự Mỹ” chứ không phải trực tiếp cá nhân Tổng thống D. Eisenhower. Cũng thận trọng không kém, N. Khrushchev không hề đề cập đến một chi tiết tối quan trọng khác, là viên phi công vẫn còn sống.
Cả khán phòng lớn trong điện Kremlin bất chợt bùng nổ. Các đại biểu hướng về chỗ ngồi của viên đại sứ đại diện cho chủ nghĩa đế quốc, tung ra những lời giận dữ: “Nhục nhã!” Đại sứ L. Thompson cố gắng giữ vẻ mặt lạnh lùng nhưng trong thâm tâm, ông kinh ngạc trước cái cách mà nhà lãnh đạo Xô viết đã sử dụng để chuyển thông tin trực tiếp cho các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ.
Các bản tin về bài phát biểu của N. Khrushchev được dịch và nhanh chóng chuyển tới cuộc họp của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ, tổ chức trong hầm ngầm nằm ở bên ngoài Washington. Tất cả thành viên Hội đồng đều nhất trí rằng cần phải bổ sung thêm những chi tiết mới cho câu chuyện bình phong, nhưng vẫn dựa trên một giả thiết căn bản là viên phi công đã chết.
Ngay trong buổi tối hôm ấy, Đại sứ L. Thompson dự một buổi tiếp tân của các nhà ngoại giao Ethiopia. Trong buổi tiếp tân này, vị đại sứ nghe lỏm được cuộc trò chuyện giữa một thứ trưởng Bộ Ngoại giao Liên Xô với đại sứ Thụy Điển, trong đó vị cán bộ ngoại giao Xô viết nói rằng viên phi công vẫn còn sống và đang bị thẩm vấn.
Đại sứ L. Thompson lao vội về sứ quán và thảo một bức điện khẩn báo cáo về những gì mình vừa nghe thấy, gửi về Washington. Nhưng 4 phút trước khi bức điện mật này về tới Bộ Ngoại giao Mỹ, Cơ quan hàng không vũ trụ NASA của Mỹ đã phát đi một thông cáo báo chí ngắn gọn chỉ chừng 500 từ. Trong thông cáo báo chí này, NASA nói về “một chiếc máy bay nghiên cứu thời tiết ‘bay trong 4 tiếng đồng hồ ở độ cao 55.000 bộ’ để thu thập dữ liệu về những đám mây, hướng gió và dòng không khí trong những cơn bão” đã bị mất tích. Khi đọc thông cáo báo chí này, mặt người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ trở nên xám như tro. Bất cứ một phóng viên nào đọc bản thông cáo báo chí này rồi so sánh nó với những gì mà N. Khrushchev đã phát biểu đều có thể nhận thấy những chi tiết dối trá của bản thông cáo báo chí. Trò chơi với câu chuyện bình phong dường như đã kết thúc.
Nhưng phía Mỹ vẫn bối rối không biết nên tiếp tục đưa ra những phản ứng như thế nào bởi vẫn chưa chắc chắn về số phận của viên phi công. Buổi chiều hôm sau, một văn bản từ sứ quán Mỹ được gửi tới Bộ Ngoại giao Liên Xô, trong đó vẫn nói về chiếc máy bay “nghiên cứu thời tiết” nhưng không phủ nhận tuyên bố của nhà lãnh đạo Xô viết. “Chính phủ Mỹ đề nghị chính phủ Liên Xô cung cấp đầy đủ những chi tiết cuộc điều tra của phía Liên Xô về tai nạn này cũng như cung cấp thông tin về số phận của phi công lái chiếc máy bay”, văn bản của sứ quán Mỹ viết.
Hôm sau, vẫn trong phiên họp tiếp theo của Xô viết tối cao Liên Xô ngày 7-5, nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev “trả lời” văn bản này. Ông nói với các đại biểu ngồi kín hội trường phía dưới: “Các đồng chí thân mến! Tôi phải nói với các đồng chí một bí mật mà hai ngày trước đây chưa đề cập đến trong bài phát biểu của tôi. Đó là chúng ta đã có được những mảnh vỡ của chiếc máy bay và bắt giữ được viên phi công, vẫn còn sống!”.
Hội trường bùng lên những tràng pháo tay phấn khích trước tuyên bố của người đứng đầu Đảng Cộng sản Liên Xô.
N. Khrushchev không dừng lại ở đó. Ông lần lượt trưng ra những chứng cứ cũng như thông tin thu được trong các cuộc thẩm vấn F. Powers: Những bức không ảnh mà chiếc U-2 chụp trên lãnh thổ Liên Xô, khối thuốc nổ dự định để phá hủy chiếc máy bay, cái kim tẩm độc, khẩu súng ngắn hãm thanh, tên của viên phi công là Powers, chỉ huy của Powers là Đại tá Shelton, căn cứ xuất phát là từ Peshawar của Pakistan, cảnh cáo cả Pakistan và Na Uy là họ “đang đùa với lửa” khi dung túng cho các hoạt động xâm nhập không phận Liên Xô... N. Khrushchev cũng đưa thông tin về 7.500 đồng tiền rúp của Nga cùng một số lượng lớn tiền khác của Pháp, Ý, Tây Đức... mà F. Powers mang theo. “Làm sao có thể tiêu những loại tiền đó trên thượng tầng khí quyển được?” Nhà lãnh đạo Xô viết châm biếm.
N. Khrushchev nhắc lại lời kết tội là A. Dulles và “giới quân sự Mỹ” phải chịu trách nhiệm về hành động này, tránh nhắc đến tên D. Eisenhower. Nước Mỹ đã gây hấn và sẽ phải trả giá, nhà lãnh đạo Xô viết kết luận.
Đây là một thắng lợi lớn về mặt hình ảnh của N. Khrushchev khi bài phát biểu của ông được truyền hình trực tiếp trong sự chăm chú theo dõi cao độ của đông đảo người dân Xô viết cũng như giới truyền thông quốc tế.
+++++
Trước những chứng cứ khá rõ ràng do phía Xô viết đưa ra, các nhà hoạch định chính sách Mỹ biết rằng kịch bản vỏ bọc che đậy cho chuyến bay của F. Powers hầu như đã đổ bể. Tổng thống D. Eisenhower phải đứng trước ba lựa chọn: Tiếp tục phủ nhận câu chuyện về chiếc máy bay do người Xô viết đưa ra; chấp nhận câu chuyện đó cùng những lời kết tội rồi đổ trách nhiệm cho các nhân viên dưới quyền; chấp nhận câu chuyện, giải thích và hi vọng thế giới sẽ hiểu và thông cảm cho nước Mỹ.
Cả ba lựa chọn đều không dễ chịu gì.
Tổng thống Mỹ D. Eisenhower muốn chính thức tuyên bố chịu trách nhiệm cá nhân về vụ do thám, nhưng Ngoại trưởng Mỹ C. Herter thuyết phục Tổng thống rằng không nhất thiết phải thế. Tổng thống đâu có biết tỉ mỉ về chương trình do thám của máy bay U-2.
Vậy là ngày 9-5, Bộ Ngoại giao Mỹ ra một thông cáo, tuyên bố rằng chiếc máy bay bị bắn rơi trên lãnh thổ Liên Xô ngày 1-5 đúng là chiếc máy bay U-2 đã được thông báo bị mất tích trước đó. “Đã không có bất cứ sự cho phép nào của Washington cho một chuyến bay như vậy”, thông cáo viết.
Thông cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ khẳng định rằng: “Tuy nhiên, để thu thập thông tin bên kia Bức Màn sắt, có thể cho phép một chiếc U-2 dân sự không trang bị vũ khí thực hiện một chuyến bay trên lãnh thổ Xô viết”.
Thông cáo cũng cho rằng các hoạt động thu thập thông tin tình báo được tất cả các quốc gia thực hiện và Liên Xô cũng chẳng hề tụt hậu trong lĩnh vực này. Để giảm bớt căng thẳng, từ năm 1955, phía Mỹ đã đưa ra đề xuất về “Bầu trời Mở” nhưng phía Liên Xô đã từ chối. Bởi vậy: “Liên quan đến việc thu thập thông tin nhằm tránh những đòn tiến công bất ngờ, trong vòng 4 năm qua, những chuyến bay của máy bay U-2 không trang bị vũ khí được tiến hành dọc trên đường biên của Thế giới Tự do”.
Lần đầu tiên trong lịch sử 184 năm của mình, nước Mỹ thừa nhận trước công luận việc đã chủ tâm nói dối, tiến hành hoạt động gián điệp và vi phạm lãnh thổ của nước khác.
+++++
Khi chuẩn y cho CIA tiếp tục thực hiện phi vụ do thám Liên Xô bằng máy bay U-2 một lần nữa, có lẽ Tổng thống Mỹ D. Eisenhower cũng không ngờ đến những hậu quả trầm trọng mà nó có thể gây ra đối với nền chính trị thế giới.
Hệ lụy đầu tiên là nó đã gây ra một cuộc khủng hoảng hỗn độn thực sự về ngoại giao cho hàng loạt nước có liên quan, khi những bằng chứng về chuyến bay lần lượt được đưa ra. Liên Xô cảnh cáo những nước đã giúp đỡ cho việc thực hiện các chuyến bay do thám, lên tiếng phản đối Na Uy, Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ, những nước cung cấp sân bay cho chuyến bay của F. Powers. Đến lượt mình, Na Uy, Pakistan và Afghanistan phản đối Mỹ vì đã xâm phạm lãnh thổ và không phận vì mục đích do thám.
Lẽ dĩ nhiên, những lời cáo buộc gay gắt nhất được trao qua đổi lại giữa Moscow và Washington.
Không phải ngẫu nhiên mà ngay trong bài phát biểu trước kì họp Xô viết tối cao hôm 5-5-1960, Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô N. Khrushchev, sau khi thông báo về việc bắn hạ chiếc U-2, đã tuyên bố rằng trong khi ông đang chuẩn bị đi Paris để gặp Tổng thống Mỹ D. Eisenhower thì lực lượng không quân Mỹ đã tiến hành một hành vi mang tính xâm lược. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã “phá hủy” Hội nghị thượng đỉnh, nhà lãnh đạo Xô viết kết tội.
“Hội nghị thượng đỉnh” mà N. Khrushchev đề cập đến chính là một trong những ước mơ của Tổng thống Mỹ D. Eisenhower. Là một viên tướng chỉ huy tài năng trong thời kì Đệ nhị thế chiến, D. Eisenhower vẫn cho rằng một quân nhân thì nên đứng ngoài chính trị. Tuy nhiên, khi được bạn bè khuyến khích vào cuộc chạy đua tới chức tổng thống Hoa Kỳ, D. Eisenhower đã làm theo và khi vào ngồi trong Nhà Trắng, muốn chứng minh với thế giới rằng bất chấp việc danh tiếng được xây dựng nhờ chiến tranh, ông vẫn có khả năng làm việc để kiến tạo hòa bình.
Mục tiêu của D. Eisenhower: Đạt được một thỏa thuận nào đó với người Xô viết để giảm căng thẳng trong đời sống quốc tế, ngăn ngừa chạy đua vũ trang và làm giảm bớt những rủi ro về việc hai bên có thể tiêu diệt lẫn nhau.
Để đạt mục tiêu này thì một cuộc họp thượng đỉnh 4 bên giữa các nhà lãnh đạo của 4 cường quốc là Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô cần phải được triệu tập. Tuy nhiên, hi vọng đó đã bị giáng một đòn nặng khi cuộc khủng hoảng Berlin lần thứ hai lên đến đỉnh điểm vào tháng 11-1958. Cuộc khủng hoảng đầu tiên là cuộc phong tỏa Berlin của Liên Xô từ tháng 6-1948 đến tháng 5-1949. Chính trong cuộc khủng hoảng lần thứ hai này, lần đầu tiên N. Khrushchev đã đe dọa sẽ quét sạch các lực lượng phương Tây ra khỏi Berlin.
Tháng 1-1959, Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô Anastas I. Mikoyan thăm Mỹ trong hai tuần lễ. Trong chuyến thăm này, ông I. Mikoyan đã thúc giục việc nhóm họp thượng đỉnh.
Ngày 21-2-1959, Thủ tướng Anh Harold Macmillan thăm Liên Xô, hội kiến với N. Khrushchev. Một cách từ từ, nguyên thủ của cả 4 cường quốc đều mong muốn thúc đẩy quá trình tiến tới Hội nghị thượng đỉnh. Quá trình này có một bước tiến vượt bậc khi giữa tháng 9-1959, thể theo lời mời của Tổng thống Mỹ D. Eisenhower, Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô N. Khrushchev thăm chính thức Hoa Kỳ. Nhà lãnh đạo Xô viết đã tới Washington, New York, Los Angeles, tận mắt chứng kiến cuộc sống ở Mỹ. Ông đã hội kiến với tổng thống Mỹ ở Trại David; hai người đi dưới tán những cây sồi, bàn về việc giải giáp vũ trang và giảm tình trạng căng thẳng cho cuộc khủng hoảng Berlin. N. Khrushchev đồng ý từ bỏ hạn chót cho việc các lực lượng phương Tây phải rời khỏi Berlin, trong khi D. Eisenhower nhất trí với đề nghị của N. Khrushchev rằng sẽ dời chuyến thăm Liên Xô sang mùa xuân năm sau, khi thời tiết ở Moscow tốt hơn.
Khi quay về, N. Khrushchev nói với những người thân cận rằng D. Eisenhower “thật sự muốn xóa bỏ Chiến tranh Lạnh và thúc đẩy quan hệ hai nước”, về phần mình, Tổng thống D. Eisenhower nói rằng N. Khrushchev đã xóa bỏ nhiều rào cản để có thể tiến tới một cuộc họp thượng đỉnh.
Ngày 3-12-1959, Tổng thống D. Eisenhower bắt đầu thực hiện chuyến công du 20.000 dặm qua 9 quốc gia, từ châu Á tới Cận Đông, rồi châu Phi, kết thúc ở Paris, thủ đô nước Pháp. Tại đây, trong cuộc gặp các nhà lãnh đạo phương Tây vào giữa tháng 12-1959, một quyết định đã được đưa ra, mang lại hi vọng hòa bình cho thế giới: Kì họp thượng đỉnh giữa những người đứng đầu 4 cường quốc Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô sẽ diễn ra tại Paris vào ngày 16-5-1960.
Hơn hai tuần trước thời điểm đó, ngày 1-5-1960, F. Powers thực hiện chuyến bay định mệnh trên chiếc U-2 và bị bắn rơi ở vùng trời thành phố Sverdlovsk.
Khi biết tin về vụ chiếc máy bay U-2 bị bắn rơi, từ Atlanta, Thượng nghị sĩ Richard B. Russell, chủ tịch Ủy ban Quân lực thượng viện Mỹ giận dữ tuyên bố Mỹ đã có một hành động “ngu xuẩn đến khó tin” khi tiến hành chuyến bay do thám ngay trước khi diễn ra Hội nghị thượng đỉnh.
Mặc dù vậy, niềm hi vọng về một Hội nghị thượng đỉnh nguyên thủ của bốn cường quốc nhóm họp thành công ở Paris sẽ giảm bớt cuộc chạy đua vũ trang và các vụ thử vũ khí hạt nhân, xoa dịu căng thẳng Đông - Tây, vẫn được nhen nhóm trở lại sau tuyên bố của nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev ngày 11-5-1960 ở Moscow. Khi tới xem cuộc triển lãm diễn ra tại cung cờ vua ở công viên văn hóa và giải trí Gorki ở Moscow, trưng bày phần còn lại của chiếc máy bay U-2 bị bắn rơi cũng như các vật dụng của F. Powers bị tịch thu sau khi nhảy dù, N. Khrushchev tuyên bố ông sẽ tới Paris vào thứ bảy, ngày 14-5-1960, sớm hai ngày trước khi Hội nghị thượng đỉnh bắt đầu, “để làm quen với khí hậu một chút”. “Tôi thích Paris, đấy là một thành phố đẹp”, N. Khrushchev nói thêm.
Đúng như tuyên bố của mình, N. Khrushchev tới phi trường Orly ở Paris vào trưa ngày 14-5-1960, sớm nhất trong số các nguyên thủ cường quốc bên ngoài nước Pháp tới dự cuộc họp thượng đỉnh. Sáng hôm sau, 15-5, Tổng thống Mỹ D. Eisenhower tới Paris. Đến chiều thì Thủ tướng Anh Macmillan đến nơi. Cùng với Tổng thống Pháp De Gaulle, các nhân vật chính của vở kịch đã có mặt trên sân khấu.
Sáng 16-5-1960, Thủ tướng Anh Macmillan tới sứ quán Mỹ tại Paris dùng bữa sáng cùng với Tổng thống D. Eisenhower. Cả hai được thông báo rằng nhà lãnh đạo Xô viết đề nghị khai mạc Hội nghị thượng đỉnh lùi lại một tiếng đồng hồ so với dự tính trước đó là 10 giờ sáng. Họ cũng biết rằng N. Khrushchev muốn Bộ trưởng Quốc phòng Malinovsky và Bộ trưởng Ngoại giao Gromyko sẽ cùng tham dự hội nghị, cho dù trước đấy đã có thỏa thuận rằng ở Hội nghị thượng đỉnh sẽ chỉ có 4 nhà lãnh đạo cùng với các phiên dịch của mình. Tổng thống D. Eisenhower bèn nói với Bộ trưởng Quốc phòng Gates và Ngoại trưởng Herter cùng tham dự hội nghị với mình.
Trước 11 giờ trưa, tại lối vào của điện Élysée, Tổng thống Pháp De Gaulle lần lượt đón các nhà lãnh đạo ba cường quốc, cách 3 phút một người. Đầu tiên là nhà lãnh đạo Liên Xô, tiếp đến thủ tướng Anh và cuối cùng là tổng thống Mỹ.
11 giờ 1 phút, nguyên thủ nước chủ nhà, Tổng thống Pháp De Gaulle, khai mạc cuộc họp thượng đỉnh bằng việc hỏi liệu ai có bài phát biểu nào không? “Có”, N. Khrushchev trả lời ngay bằng tiếng Nga và người phiên dịch Vickto Sukhodrev nhanh chóng dịch sang tiếng Anh. De Gaulle quay sang hỏi D. Eisenhower và tổng thống Mỹ trả lời ông cũng có bài phát biểu. Thủ tướng Anh Macmillan nói ông sẽ phát biểu sau cùng.
Tổng thống Pháp De Gaulle nói: “Bây giờ chúng ta sẽ nghe bài phát biểu của tổng thống Hoa Kỳ”.
“Gượm đã”, N. Khrushchev cắt ngang. “Tôi đã yêu cầu đầu tiên và có đôi điều muốn nói”.
Rồi không cần sự cho phép, nhà lãnh đạo Xô viết đeo kính lên và bắt đầu dọc bài phát biểu đã được chuẩn bị sẵn.
Trong bài phát biểu của mình, ngay câu mở đầu, bằng giọng điệu cực kì cứng rắn, N. Khrushchev cực lực lên án hành vi gây hấn, sử dụng máy bay do thám lãnh thổ Liên Xô của không quân Mỹ, vi phạm những chuẩn mực của quan hệ quốc tế, không phù hợp đối với bầu không khí chuẩn bị cho Hội nghị thượng đỉnh. Tiếp đó, nhà lãnh đạo Xô viết gay gắt phản đối những tuyên bố tiếp theo đó của chính phủ Mỹ liên quan đến vụ việc, cho rằng những tuyên bố đó chỉ có thể được sử dụng khi một nước này có chiến tranh với một nước khác và điều đó đã khiến cho Hội nghị thượng đỉnh giữa lãnh đạo các cường quốc thất bại từ trước khi nó bắt đầu.
Nhà lãnh đạo Xô viết yêu cầu chính phủ Mỹ phải trừng phạt những hành vi gây hấn của không quân Mỹ, chấm dứt các hành động thù địch như vậy trong tương lai. “Trừ phi Chính phủ Hoa Kỳ thực hiện những hành động như vậy, nếu không thì chính phủ Liên Xô không thấy có khả năng đàm phán tại Hội nghị thượng đỉnh. Chúng tôi không thể tham dự hội nghị mà một trong số những vị tham gia lại lấy sự phản bội làm nền tảng cho chính sách đối với Liên bang Xô viết”.
Chính phủ Hoa Kỳ phải từ bỏ chính sách tiến hành các chuyến bay do thám Liên Xô và “thừa nhận thấy hối lỗi vì chính sách đó”. Còn trong trường hợp phía Mỹ không chấp nhận các yêu cầu này, theo nhà lãnh đạo Xô viết, “cách tốt nhất là dời Hội nghị thượng đỉnh giữa lãnh đạo các cường quốc lại từ 6 đến 8 tháng”.
Về chuyến thăm dự định của D. Eisenhower tới Liên Xô, “rất lấy làm tiếc” là nhân dân Xô viết sẽ không thể tiếp đón tổng thống Mỹ “với một thái độ thân thiện phù hợp”; chuyến thăm “sẽ bị hoãn lại”.
Căn phòng ở điện Élysée đông cứng lại trong sự căng thẳng nặng nề. Bất chấp những sự phản bác sau đó của Tổng thống D. Eisenhower, sự can thiệp của Tổng thống nước chủ nhà De Gaulle, ý kiến mang tính dàn hòa của Thủ tướng Anh Macmillan, tranh cãi gay gắt bằng ba thứ tiếng Pháp, Anh, Nga đã nổ ra trong phòng họp, chủ yếu xoay quanh những lời buộc tội của phía Xô viết rằng việc tiến hành các chuyến bay do thám Liên Xô có phải là chính sách của nước Mỹ hay không. N. Khrushchev tuyên bố ông sẽ cho công khai bài phát biểu lên án Mỹ tại Hội nghị thượng đỉnh, trong khi cả Tổng thống Pháp De Gaulle lẫn Thủ tướng Anh Macmillan đều ra sức can ngăn, cho rằng chỉ nên hành động sau khi đã cân nhắc kĩ mọi hậu quả của nó. Nhà lãnh đạo Liên Xô không đổi ý.
Sau 3 tiếng 5 phút, Hội nghị thượng đỉnh Paris chấm dứt trong đổ vỡ.
Cả bốn người đàn ông trong căn phòng điện Élysée hôm ấy đều không nhắc đến tên một người đàn ông thứ năm, Francis F. Powers, nhưng đều hiểu rất rõ rằng chính người đó mới là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thất bại của Hội nghị thượng đỉnh Paris.
Nếu không có chuyến bay do thám của F. Powers trên chiếc U-2 bị bắn hạ, rất có thể Hội nghị thượng đỉnh Paris 1960 đã đạt được những tiến bộ to lớn về quá trình giải trừ quân bị, giảm chạy đua vũ trang, tăng cường hòa dịu Đông - Tây và như vậy, Chiến tranh Lạnh đã không tiếp diễn như nó đã diễn ra trong suốt ba thập kỉ sau đó.
Xét trên khía cạnh đó, chuyến bay của F. Powers, theo cái cách của nó. đã làm xoay chuyển tiến trình lịch sử thế giới.
+++++
Ngay khi vụ việc vừa xảy ra và phiên tòa xử F. Powers ở Moscow còn chưa diễn ra, CIA đã ráo riết tìm cách để xem điều gì đã xảy ra với chiếc máy bay U-2 hôm 1-5-1960. Cách tốt nhất là phải tiếp xúc được với F. Powers ở trong nhà tù của KGB tại Moscow và không có kênh nào tốt hơn là thu xếp để những người thân của F. Powers tới Moscow tham dự phiên tòa.
Trong số những người thân của F. Powers thì ông bố Oliver hành động nhanh chóng hơn cả. Ngay khi nghe tin nhà lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev tuyên bố chiếc máy bay bị bắn rơi, con trai vẫn còn sống và đang ở trong nhà tù Liên Xô, ông Oliver đã lập tức gửi một bức điện tín tới Nhà Trắng. Bằng những chữ cái in hoa, bức điện viết: “TÔI MUỐN BIẾT MỌI SỰ LIÊN QUAN ĐẾN CON TRAI TỘI FRANCIS G. POWERS VÀ TÔI MUỐN BIẾT NGAY LẬP TỨC. ĐỀ NGHỊ TRẢ LỜI”.
Ông Oliver Powers cũng viết một bức thư cá nhân gửi cho nhà lãnh đạo Liên Xô N. Khrushchev, đề nghị phóng thích con trai mình, đồng thời bày tỏ mong muốn có mặt trong phiên tòa xử F. Powers. Phản hồi từ phía Xô viết khá thuận lợi. Ngày 13-6-1960, ông Oliver nhận được thị thực nhập cảnh Liên Xô.
Trong khi đó thì chặng đường của vợ viên phi công, Barbara, người không có quan hệ thân thiết với bố chồng, lại khó khăn hơn nhiều.
Các điệp viên CIA đã tiếp xúc với Barbara và đề xuất rằng CIA sẽ chịu toàn bộ chi phí của chuyến sang Liên Xô dự phiên tòa xử F. Powers. CIA thực hiện việc tài trợ này thông qua một tổ chức vỏ bọc là Hiệp hội các nhà hàng giải khát Virginia. Nhưng đi cùng với Barbara sang Liên Xô sẽ là hai luật sư ở Virginia, Alexander Parker và Frank Rogers, dưới danh nghĩa là “cố vấn riêng” của Barbara.
Nhiệm vụ của A. Parker và F. Rogers được CIA chỉ đạo rất rõ ràng: Bằng mọi cách có thể để phỏng vấn được F. Powers trong nhà tù của KGB. Những câu hỏi mà CIA quan tâm nhất cần F. Powers trả lời là có đúng chiếc U-2 đã bị hạ bởi tên lửa ở độ cao 68.000 bộ như phía Xô viết thông báo hay không? Liệu chiếc U-2 đã bị bắn, hư hỏng nặng hay bị buộc phải hạ cánh? Và câu hỏi rất quan trọng là vì sao F. Powers lại không phá hủy chiếc máy bay theo như chỉ dẫn?
Các chuyên viên phân tích tình báo của Mỹ nhận định rằng chiếc máy bay rất có thể đã bị rơi vào tình trạng “bốc cháy”, một hiện tượng xảy ra khi bình đựng nhiên liệu ở hai cánh của chiếc U-2, được thiết kế theo kiểu rất đặc biệt, phải chịu một lực tác động rất mạnh khiến nó bị cong đi. Khi ấy, máy bay sẽ buộc phải hạ thấp độ cao xuống dưới 40.000 bộ để động cơ có thể tái khởi động. Ở độ cao ấy, tên lửa hay chiến đấu cơ Xô viết hoàn toàn có thể tiếp cận để bắn hạ chiếc U-2.
Sở dĩ các chuyên viên Mỹ cảm thấy nghi ngờ về nguyên nhân chiếc máy bay U-2 rơi bởi theo số liệu tình báo của họ, hệ thống radar Xô viết không hiệu dụng ở độ cao trên 60.000 bộ. Nói cách khác, từ độ cao đó trở lên, các tên lửa Xô viết sẽ phải bắn mò chứ không có sự hướng dẫn của hệ thống radar. Phải chăng người Xô viết đã có được những bước cải tiến công nghệ đáng kể mà phía Mỹ chưa nắm bắt được?
Trong khi đó thì báo chí Liên Xô cũng như thế giới mỗi nơi đưa một kiểu khiến thông tin rối mù cả lên. Ngày 10-5, tờ Sao đỏ của quân đội Xô viết đăng bài nói là phỏng vấn F. Powers, theo đó viên phi công Mỹ tin rằng đã có một vụ nổ trong động cơ máy bay khiến anh ta phải bắt buộc nhảy dù. Hai ngày sau, vẫn tờ báo này đăng một bài khác, nói rằng chiếc U-2 đã bị bắn hạ trực tiếp bởi một quả tên lửa. Đài Moscow nói chiếc máy bay trúng phải mảnh tên lửa, còn tờ London Daily Worker của Anh đưa tin từ Moscow, nói rằng phát tên lửa đã không bắn trúng mà nổ ở phía dưới đuôi của chiếc máy bay.
Còn về chuyện F. Powers không cho nổ máy bay như chỉ dẫn thì vẫn tờ Sao dỏ của quân đội Xô viết nói rằng F. Powers sợ rằng nếu kích nổ thì bản thân anh ta không kịp thoát ra và sẽ chết chùm cùng với chiếc máy bay.
Ngày 2-8, sứ quán Liên Xô tại Mỹ cấp thị thực nhập cảnh Liên Xô cho Barbara.
Ngày 13-8, những người nhà F. Powers cùng tới Moscow trên những chuyến bay khác nhau. Ông Oliver và bà vợ Ida F. Powers tới phi trường Sheremetyevo vào buổi sáng trên chuyến bay của hàng không Anh, Comet. Sau đó, Barbara cùng với mẹ mình và các luật sư tới trên một chuyến bay của hãng hàng không Liên Xô Aeroflot.
Những nỗ lực của CIA nhằm để hai luật sư Mỹ A. Parker và E Rogers bào chữa cho F. Powers ở phiên tòa đều vô hiệu. Tòa đã chỉ định luật sư Mikhail I. Griniev, 55 tuổi, ủy viên hội đồng luật sư thành phố Moscow, bào chữa cho F. Powers. Luật sư Mikhail I. Griniev từng tham gia bào chữa ở tòa án quốc tế Nuremberg sau Đệ nhị thế chiến và cả ở phiên tòa xử Lavrenti P. Beria, đứng đầu lực lượng cảnh sát mật của Stalin. Người ta lưu ý đến một chi tiết là tất cả những bị cáo người Đức mà luật sư M. Griniev làm đại diện ở phiên tòa xét xử tội phạm chiến tranh Nuremberg đều nhận án tử hình!
Chưởng lí chịu trách nhiệm buộc tội F. Powers là Roman A. Rudenko, còn chánh án - Chủ tịch Hội đồng thượng thẩm quân sự của Tòa án tối cao Liên Xô, là Trung tướng Viktor V. Borisoglebsky.
Trước và trong cả phiên tòa, những người trong gia đình F. Powers không có cách nào để gặp được viên phi công gián điệp. Họ chỉ có thể nhìn thấy người thân của mình từ xa, trên chỗ ngồi của bị cáo.
Phiên tòa xử án F. Powers bắt đầu từ ngày 17-8-1960 tại Phòng lớn trong tòa nhà Liên hiệp thương mại với khoảng 2.000 khách mời trong và ngoài nước.
Trong suốt phiên tòa, F. Powers trải qua tổng cộng gần 7 giờ đồng hồ đứng trên bục bị cáo để khai nhận. Viên phi công Mỹ tỏ vẻ hoàn toàn thành thật, khai nhận rõ ràng và xin lỗi về những việc mình đã làm. Chỉ khi bị hỏi về khẩu súng hãm thanh mang theo bên mình, F. Powers khăng khăng rằng người ta đưa cho anh ta với mục đích là để “đi săn” và chánh án Viktor V. Borisoglebsky nhắc nhở rằng đi săn ở độ cao 68.000 bộ là một việc rất khó!
Chưởng lí Roman A. Rudenko xác định F. Powers là “tội phạm nguy hiểm”, đề nghị kết án F. Powers 15 năm tù giam. Từ chỗ ngồi của mình trong phòng xử án, ông Oliver Powers gào lên: “Hãy kết tội tôi 15 năm tù đây này. Thà chết còn hơn!”.
Ông Oliver Powers không biết rằng ở nơi ngồi của bị cáo, F. Powers thở ra nhẹ nhõm. Đến lúc ấy, anh ta mới chắc chắn rằng mình sẽ không bị bắn.
Trong suốt thời gian đứng khai trước tòa, F. Powers nhận thấy các nhà ngoại giao Mỹ có mặt trong phòng xử án giữ những bộ mặt nghiêm nghị, lạnh lùng. Viên phi công có cảm giác dường như các nhà ngoại giao này muốn nói với những người xét xử rằng tốt nhất hãy mang anh ta ra bắn và thế là kết thúc câu chuyện rắc rối này.
Trái với dự đoán của nhiều người, luật sư được tòa chỉ định M. Griniev đã làm công việc của mình khá tốt. Chiến thuật của vị luật sư này khá đơn giản. Không tranh cãi trước những lời buộc tội cũng như các bằng chứng - vốn quá hiển nhiên - do bên nguyên đưa ra, M. Griniev chỉ kêu gọi sự cảm thông đối với thân chủ của mình, nhấn mạnh đến nguồn gốc xuất thân từ tầng lớp dân lao động của F. Powers, đề cập đến bóng ma thất nghiệp trên diện rộng ở phương Tây, sự hám tiền cũng như quá trình hợp tác đầy đủ và thái độ ăn năn hối lỗi của viên phỉ công gián điệp khi ở trong tù. M. Griniev lưu ý rằng viên phi công chỉ là “công cụ”, còn thủ phạm thực sự là chính quyền Mỹ. Trong lời bào chữa của mình, vị luật sư do tòa chỉ định nêu lên một chi tiết chứng minh F. Powers không hề quan tâm đến chính trị, rằng qua các lời khai của F. Powers cho thấy viên phi công chưa từng tham gia một cuộc bỏ phiếu nào ở Mỹ! Chiến thuật này đã tỏ ra khá hiệu quả.
Sau 3 ngày xét xử, lúc 5 rưỡi chiều ngày 19-8-1960, Chủ tịch Hội đồng thượng thẩm quân sự của Tòa án tối cao Liên Xô, Trung tướng Viktor V. Borisoglebsky đọc lời tuyên án. Bản án nêu rõ: “Căn cứ theo điều 2 của Đạo luật Liên Xô ‘về những tội hình chống lại nhà nước’, kết án Francis G. Powers, 10 năm mất tự do, trong đó 3 năm đầu bị phạt tù, thời gian còn lại trong trại cải tạo lao động. Thời gian chịu án, kể cả thời kì tạm giam, tính từ ngày 1-5-1960. Các tang vật sẽ được giữ lại ở tòa án. Tiền và các đồ quý thu được của F. Powers sẽ chuyển thành tài sản của nhà nước. Chiểu theo điều 44 thủ tục tố tụng hình sự của Liên Xô và các nước Cộng hòa liên bang, bản án đã y, bị cáo không có quyền khiếu nại và kháng án”.
Đùa bỡn với những hàm răng sắc nhọn của con sư tử - hệ thống phòng không được cải tiến của Liên Xô - phi công gián điệp Francis G. Powers phải trả giá, rất may là không phải bằng tính mạng của mình mà chỉ bằng những năm tháng mất tự do trong nhà tù Xô viết.
+++++


Ngay sau khi bản án đã được tuyên, những người trong gia đình F. Powers mới lần đầu được gặp viên phi công ở một căn phòng nằm ngay trong khu vực tòa án. Sau thời gian dài bị cách li khỏi thế giới bên ngoài, viên phi công mới lần đầu tiên nằm trong vòng tay ôm của cha mẹ và cô vợ Barbara. Các luật sư Mỹ đều bị ngăn lại ở bên ngoài.
Bốn ngày sau, thứ ba, 23-8-1960, gia đình F. Powers được gặp lại viên phi công lần thứ hai trong một giờ đồng hồ, tại một căn phòng nằm trong tòa nhà của Tòa án tối cao. Ngày hôm sau, bố mẹ của F. Powers rời Liên Xô. Barbara và hai viên luật sư Mỹ ở lại chờ đợi câu trả lời đơn xin phóng thích cho F. Powers, được gửi tới văn phòng của Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô Leonid Brezhnev. Trong thời gian chờ đợi, Barbara đi mua sắm ở trung tâm mua bán GUM nổi tiếng tại trung tâm Moscow, đối diện với lăng Lenin trên Quảng trường Đỏ.
Đến thứ năm, 25-8, họ được thông báo rằng đơn đã bị bác. Cả nhóm chuẩn bị hành lí để rời Moscow vào ngày hôm sau, thứ sáu, 26-8. Nhưng những người Xô viết đã dành cho Barbara và cả nhóm luật sư Mỹ một sự bất ngờ. Lúc 2 giờ chiều ngày 25-8, luật sư A. Parker được biết hai người lính đã tới đưa Barbara đi đâu không rõ.
Vợ của F. Powers được đưa tới nhà tù Lubyanka của KGB và được phép ở với chồng 3 tiếng đồng hồ, không có lính gác xung quanh. Tại đó, Barbara kín đáo trao cho chồng một chiếc ghim giấu trong lòng bàn tay, trong có chứa những câu hỏi của CIA. Rồi không chắc là liệu có những cặp mắt bên ngoài đang quan sát hay không, hai người làm tình dữ dội, không phải một mà tới ba lần, y như một cặp vợ chồng mới cưới, trong buồng giam ở nhà tù Lubyanka của KGB!
+++++
Sau lần gặp cuối cùng với vợ trong nhà tù của KGB ở Moscow, F. Powers được chuyển tới một nhà tù khác ở ngoại vi thành phố Vladimir, cách Moscow khoảng 150 dặm về phía đông. Tại đó, F. Powers đã trải qua hai mùa đông giá lạnh, không hi vọng rằng sẽ được sớm ra khỏi nhà tù. Chính phủ Mỹ có lẽ đã quên anh ta rồi.
Vài tuần sau Giáng sinh năm 1961, F. Powers rơi vào tình trạng khủng hoảng tâm lí do không nhận được thư của cô vợ Barbara. Đến cuối tháng 1-1962, anh ta đã nghĩ đến tình huống xấu nhất là cuộc hôn nhân của họ có thể tan vỡ.
F. Powers không bao giờ có thể tưởng tượng được rằng số phận đã quyết định anh ta phải đi theo một con đường kì dị trong cuộc đời để quay về nơi xuất phát. Một buổi sáng tháng 2-1962, F. Powers được đưa tới một cây cầu trên đất Đức, có tên là Glienicke. Sau khi nhận được sự cho phép từ những người áp giải, viên phi công gián điệp thong thả đi bộ về phía giữa cầu. Từ phía bên kia đầu cầu, tiến lại gần anh ta là một người đàn ông gầy, đội một chiếc mũ phớt khá kì dị. Đó là Đại tá Abel, một trong những điệp viên nổi tiếng nhất thời kì Chiến tranh Lạnh. Hai người tiến lại gần nhau ở giữa cầu. Họ không hề quen biết nhau.
Để cho hai người lạ như họ gặp nhau ở đây, trên cây cầu nối giữa hai thế giới Đông - Tây, các quan chức của cả hai phía, các điệp viên CIA và KGB đã phải đi qua những quãng đường dài, rất dài...