Tiếng Hát Người Cá

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Từ Vũng đến Vườn Mộc Lan

❊ ❊ ❊

Kamae-cho (nay là huyện Saeki), quê hương của tôi, nằm ở cực nam tỉnh Oita, đảo Cửu Châu, là vùng đất có bờ biển hình răng cưa giáp giới Bungosuido và Thái Bình Dương. Biển đẹp cá ngon, khách câu cá đến từ khắp đảo. Có thể nhiều người biết nơi đây có hồ bơi bằng nước biển khổng lồ thả cá mặt trăng[1]. Bờ biển ngoằn nghèo làm nên nhiều vịnh nhỏ, những nơi biển ăn sâu hình thành những làng đông đúc nhà như con hà bám trên vách đá, gọi là ura – Vũng.

Nói vậy nhưng tôi nghĩ trong tiềm thức người dân không có cái gọi là ura. Thí dụ làng Takenoura Gochi nơi tôi được sinh ra, người dân ở đó gọi là Gochi. Kamae-cho nơi xưa kia có ủy ban hành chính của phố được gọi là Kamae. Còn Nishino-ura nằm ở đông Gochi mà không hiểu sao lại là Tây-noura trong khi người dân gọi là Nishi-ura. Vậy từ ura quả thật có ở đâu đó trên đầu lưỡi người dân. Nhưng làng Hatano-ura mẹ tôi sinh ra thì lại gọi tắt thành Hatanda (có lẽ noura gọi tắt đi thành nda).

Ít nhất đối với tôi khi nhận ra âm cuối tên các làng chính làm nên Kamae-cho – một thị xã hiện không còn sau cuộc sát nhập làng xã phố huyện thời Heisei (Bình Thành), có từ ura là mãi về sau này. Đó là lúc tôi muốn lấy vùng đất nơi mình sinh ra và lớn lên làm mẫu cho cuốn tiểu thuyết sắp viết. Lúc đó không hiểu tại sao tôi lại rất không muốn dùng tên Kamae hoặc Gochi là địa danh có thật, thân quen với tôi ở trong tiểu thuyết.

Nhưng tại sao vậy?

Lý do tôi cảm thấy không muốn dùng địa danh thật là vì hình ảnh gắn liền với tên của vùng đất đó đã nằm trong tim óc của người sở tại hoặc những người biết đến nó dưới một dạng nào đó.

Nhưng nếu nói vậy thì không có vùng đất nào ta không có sở hữu về tinh thần, kể cả những vùng đất tưởng tượng. Ai cũng sở hữu đủ loại vùng đất theo cách của mình. Bạn viết về một vùng đất nào đó, về quan hệ của bạn với vùng đất đó, tôi là người đọc hẳn muốn tôn trọng sự thật của quan hệ này. Dĩ nhiên bạn cũng chỉ có thể viết khi tôn trọng vùng đất đó, quan hệ giữa những người dân với vùng đất đó.

Nhưng muốn tự do hơn, tránh những quan hệ tế nhị trên thì có thể chọn kiểu viết tiểu thuyết. Những chi tiết trong truyện nếu bị soi chiếu với nhân vật, câu chuyện, phong cảnh trong thực tế, nếu có bị chỉ trích về cách mô tả và tính trung thực thì có thể giải thích “đây là tiểu thuyết mà.” Nhưng khi người viết bảo “đây là tiểu thuyết mà” thì tuyệt nhiên đó không phải là trốn tránh hoặc chữa cháy và cũng không nên vậy. Bảo “đây là tiểu thuyết mà” không phải là chối bỏ trách nhiệm vì “cái này không phải là sự thật nên đừng để ý từng chi tiết trong đó mà cáu lên như vậy,” mà ngược lại “đây là sản phẩm tưởng tượng của tôi cho nên tất cả những gì viết trong đó tôi đều chịu trách nhiệm.”

Tuy nhiên lúc đó tôi đã không nghĩ thế. Lúc đó tôi khá hồn nhiên chỉ nghĩ như nhà văn Faulkner là người sở hữu phố Jefferson hạt Yoknapatawpha, tôi cũng muốn sở hữu một vùng đất hoàn toàn chưa có bàn tay tưởng tượng của ai chạm tới, chỉ có tôi thôi. Và tên của vùng đất đó là ura – Vũng.

❃ ❖ ❊

Ở trên, tôi có nói khi tôi định viết tiểu thuyết tôi mới nhận ra âm cuối tên các làng đều gọi là ura. Lúc đó tôi đang ở Tokyo quằn quại chiến đấu với cái luận văn thạc sĩ. Còn khi tôi viết cuốn tiểu thuyết lấy bối cảnh là ura, tôi đang du học ở Pháp. Tiểu thuyết Mộ dưới nước tôi viết ở Paris, còn Trôi trên Vịnh tôi viết ở Orléans, trong khu vườn có cây mộc lan. Để phát hiện ra chất ura của quê hương mình, tôi cần có khoảng cách với nó.

Hẳn là dĩ nhiên, quá gần đối tượng sẽ không nắm bắt được đối tượng. Trường hợp của tôi còn hơn cả gần quá, có thể nói là tôi quyện chặt với nó. Từ nghĩa địa sau lưng làng, có thể bao quát các dãy nhà và vịnh. Nói là vịnh, nhưng nó không thông ra biển. Những ngọn núi nhập nhằng bởi bờ biển hình dạng răng cưa chắn tầm mắt. Từ nghĩa địa chỉ thấy vịnh như bờ hồ nhỏ. Biển bị khép lại, không có nơi thoát. Khi ở đó tôi muốn thoát ra. Nhưng đồng thời, tuy không phải như anh trai tôi, hầu như không có ngày nào không ra nghĩa địa trông coi hoa cành trưng trước mộ cho khỏi héo, tôi cũng hay ra nghĩa địa. Từ đó tôi ngắm vịnh nhuốm một màu xanh thẳm và phong cảnh xung quanh nó mãi không chán. Nghe tiếng người nằm dưới mộ kêu dừng chân: đẹp thật phải không, thung dung thong dong ngắm cảnh nhé. Dù không phải vậy nhưng không hiểu sao tôi cảm thấy khó rời nơi này. Sự êm đềm của vịnh nằm yên bình giữa các dãy núi cũng lan đến tôi.

Rốt cuộc tôi đi học đại học ở Tokyo, ra khỏi cái làng ven biển này. Nhưng khi muốn viết thì bối cảnh tôi chọn đầu tiên là vùng đất này. Có lẽ bằng việc viết, tôi muốn lấy lại cảm giác kỳ lạ về sự tồn tại của tôi khi ngồi ngắm vịnh và sự gắn bó với vùng đất này.

Khi vào đại học tôi cũng không ngờ có ngày mình sẽ viết tiểu thuyết. Tôi đã muốn trở thành học giả hoặc nhà nghiên cứu. Vì vậy mà tôi học lên cao học. Lúc ấy ở làng tôi hầu như không có ai học lên cao học. Nghe tin về tôi, cụ Shi-chan, một người được cho là hóm hỉnh nhất làng đến nhà tôi ngao ngán nói: “Đại học không đủ sao mà lại đi học thêm nữa zậy. Hay là mày ngu thật hả?”

Ở cao học tôi nghiên cứu về nhà triết học Pháp Michel Foucault được biết đến với những công trình như Lịch sử chứng điên, Từ và Vật[2]. Nhưng nói thật, nghiên cứu về anh cu tội nghiệp này, xin lỗi về cụ – một đại trí thức đại diện thế kỷ 20, hoặc ứng dụng công việc này, kể cả nghiên cứu tiếp đi nữa thì cũng không thấy có triển vọng.

Khi đó tôi đọc tiểu thuyết Biên niên ký bảy điều bất hạnh[3] của nhà văn Patrick Chamoiseau. Chamoiseau sinh năm 1953 tại hòn đảo Martinique nằm ở phía Đông vùng biển Caribbe, là một trong những vùng lãnh thổ hải ngoại thuộc Pháp. Nhà văn hiện nay vẫn đang sống ở đảo nhỏ này, và tác phẩm tiêu biểu Texaco năm 1992 của ông nhận giải thưởng Goncourt là giải thưởng văn học nổi tiếng nhất của Pháp.

Trong các tác phẩm lấy bối cảnh đảo Martinique, dù viết với một dạng nào đó đi nữa, ông đều ý thức về lịch sử vùng biển Caribe bị rơi vào chế độ nô lệ và tình trạng buôn bán nô lệ của chủ nghĩa thực dân phương Tây từ sau khi phát hiện tân đại lục. Và chủ đề là hiện tại của sự vong bản của đảo trong quá trình đồng hóa, lệ thuộc về mặt văn hóa với bản quốc chứ không phải chỉ về mặt chính trị kinh tế. Trong tiểu thuyết Biên niên ký bảy điều bất hạnh, ông viết về chợ búa là nơi thể hiện sinh động văn hóa bản địa của đảo Martinique, câu chuyện xoay quanh nhân vật chính – thợ khuân vác cho xe đẩy hàng đánh mất identity[4], qua đó nói lên sự suy thoái của văn hóa bản địa.

Sự đánh mất tính đa dạng của văn hóa là vấn đề phổ biến mà ở Nhật và các vùng văn hóa địa phương khác đang gặp phải. Nhưng lúc đó không phải tôi suy nghĩ nghiêm túc như thế vì đọc tác phẩm của Chamoiseau. Những nhân vật trong truyện như nhân vật chính thợ khuân vác xe đẩy hàng, các bà bán hàng rong, không hiểu sao làm cho tôi liên tưởng với các ông bà cụ hóm hỉnh ở vùng ven biển quê tôi. Với trình độ tiếng Pháp của tôi lúc đó, có thể tôi đọc sai đi, nhưng tôi đã nghĩ vậy. Từ đó tôi muốn đọc thêm về văn học hiện đại của vùng biển Caribbe, lúc nhận ra thì tôi đã đổi đề tài nghiên cứu.

Tôi nghĩ không nên vì gặp tác giả rồi tùy theo ấn tượng lúc đó mà cách đọc khác đi. Thí dụ nếu gặp người này kênh kiệu người kia rỗng tuếch mà mất hứng đọc thì tội nghiệp cho tác phẩm quá. Mang ông nhà văn Proust ra thì có vẻ to chuyện chứ “tôi” về mặt xã hội với “tôi” sáng tạo là hai cái khác nhau. Nói vậy chứ dù gì cách nhìn cách nghĩ của ai cũng bị quy định bởi môi trường sinh ra lớn lên, đó là một sự thật.

Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh là không phải vì thế mà cuộc đời nhà văn, nhân cách nhà văn trực tiếp phản ánh vào tác phẩm. Ở quê tôi mọi người khi bắt đầu câu chuyện thường hỏi về gốc gác, bà con họ hàng, nghề nghiệp như là “đó là người nhà nào, họ hàng với ai, làm gì,” hoặc tệ hơn nữa còn hỏi luôn cả là “thu nhập cao không” vv..., có lẽ vì thế mà tôi quan tâm về con người nhà văn, dấu tích của họ.

Tác phẩm có thể như là con cái, anh chị em của tác giả. Cũng giống như tuy biết rằng con cái của người mình kính trọng không phải chắc chắn được hưởng di truyền cái hay cái giỏi của cha mẹ, nhưng vẫn muốn nghĩ tốt về nó. Rồi ai cũng biết cái khổ cái nghèo không làm cho con người phong phú hơn, nhưng cũng hay gặp trường hợp ngược lại. Hoặc đọc một tác phẩm rơi nước mắt mà sau đó biết trong đời thật ông nhà văn này chẳng ra gì, tuy không thể bắt ông trả lại tiền mua sách và thời giờ đọc sách đi nữa, nhưng cũng cảm thấy mất mát, phải không?

Tôi nghĩ dù có thể thất vọng đi nữa (nhưng trước đó khả năng nhà văn kia thất vọng vì cái thằng đến nghe chuyện mình ngu thế chắc cao hơn nhiều), nhân lúc tác giả còn sống tôi vẫn muốn gặp. Niềm vui của người nghiên cứu văn học đương đại là có thể gặp nhà văn hỏi chuyện.

Và như vậy tôi đã đi đến đảo Martinique để gặp Patrick Chamoiseau và như tôi sẽ nói sau tôi cũng đã đến thăm nhà văn Marie NDiaye mà tôi ngưỡng mộ và chồng bà là nhà văn Jean-Yves Cendrey.

Khi du học ở Pháp tôi hay đến dự các buổi đọc thơ do các hiệu sách tổ chức. Tuy thời giờ ít ỏi nhưng tôi đã có nhiều dịp trao đổi với các nhà văn. Lần nào cũng đều khó quên.

Nhưng cuộc gặp gỡ có ý nghĩa quyết định đối với tôi là vào khoảng một năm sau khi tôi đến Pháp.

❃ ❖ ❊

Từ mùa thu năm 1997, tôi đã có khoảng 8 năm theo học tại khoa Văn trường đại học Paris VIII nằm ở Saint-Denis, ngoại ô bắc Paris. Khoảng gần 5 năm trước khi về Nhật, tôi sống ở thành phố Orléans, cách Paris về phía nam khoảng 1 tiếng đồng hồ đi tàu điện.

Vì sao tôi học đại học ở Paris mà lại sống ở Orléans?

Đó là chuyện khoảng một năm sau khi tôi đến Pháp. Hội thảo về “Tác phẩm văn học” do đại học Paris VIII, đại học Tokyo và đại học Genève đồng tổ chức. Là du học sinh, nhiệm vụ của tôi lúc đó là cầm micro đưa cho khán giả trong hội trường. Có một vị giáo sư hầu như sau khi nghe bài tham luận nào cũng hỏi diễn giả, giọng nói và cử chỉ làm cho tôi ấn tượng về sự nghiêm túc của ông.

Việc chăm chú nghe tất cả các bài tham luận, tìm câu hỏi cho nó là một điều khó như thế nào chắc bạn cũng dễ tưởng tượng. Những hội thảo kiểu này buồn thay thường xảy ra những chuyện như là người hỏi không phải hỏi mà là nói, tức là bắt người trong hội trường nghe mình ban phát tư tưởng không biết đến bao giờ cạn, thật làm phiền mọi người. Vị giáo sư nhỏ nhắn gầy gò này khác hẳn. Ông đặt câu hỏi liên quan đến bài tham luận một cách cẩn thận. Thêm nữa là sao mà tên các nhà văn, tên các tác phẩm lại lần lượt nêu lên được nhiều như thế (dĩ nhiên không chỉ văn học Pháp). Câu hỏi không những nghiêm túc về thái độ mà còn chính xác về nội dung nên giáo sư không giơ tay mà các giáo sư đồng nghiệp khác liên tục ra dấu cho tôi mang micro đến chỗ ông. Vì vậy mà tôi như con chim mẹ bận rộn bay đi bay về mang mồi cho chim con đang đợi, tôi cũng bao lượt mang đi mang lại micro cho giáo sư.

Hội thảo kết thúc, ở buổi tiệc đứng, vị giáo sư vừa mỉm cười vừa đến gần tôi nói:

“Em cầm micro suốt mà sao không phát biểu câu nào vậy?”

“Tại vì em ngu ạ.”

Nghe thế giáo sư có vẻ rất vui, cười nói:

“Thế thì giống nhau nhỉ. Thật ra tôi cũng vậy.”

Đó là giáo sư Claude Mouchard ở khoa Văn trường đại học Paris VIII lúc ấy.

❃ ❖ ❊

Claude sống cùng với vợ là Hélène ở Orléans. Hai năm sau hội thảo thì tôi và vợ chuyển đến căn hộ ở phía góc ngôi nhà của ông ở Orléans. Nhà có vườn to, giữa vườn có một cây mộc lan mùa xuân nở hoa rất đẹp, mùa hè thành cây to bóng mát. Đó cũng là tựa đề của tập tản văn này – Vườn Mộc Lan.

Trong thời gian tôi học ở Paris VIII, không hiểu sao tôi lại không học lớp của Claude. Tức là hoàn toàn không có một lần nào là quan hệ thầy trò cả. Gặp Claude ở hội thảo quốc tế, ông dồn hết mọi chú ý vào sự có mặt của đối tượng làm tôi có ấn tượng ông là một giáo sư thành thật và khoan dung. Nhưng lý do trực tiếp tôi đến sống ở nhà giáo sư và trở nên thân thiết là dịch thuật.

Claude mang nhiều khuôn mặt. Nhà thơ, nhà nghiên cứu về Flaubert, nhà phê bình và dịch giả. Lúc tôi gặp ông, ông đã dịch thơ hiện đại của Hàn Quốc và Nhật Bản.

Nhưng thật ngạc nhiên là ông không biết tiếng nào của hai ngôn ngữ này cả. Tiếng Nhật duy nhất ông biết chỉ là từ “ngu!” khi ông kêu lên về ông.

Vậy sao ông lại dịch được?

Đại học Paris VIII nằm ở Saint-Denis ngoại ô Paris là vùng có nhiều di dân sinh sống và cũng có thể vì phong cách trường cách tân nên có rất nhiều du học sinh nước ngoài theo học. Claude rất mong muốn du học sinh nói về tác phẩm văn học của nước mình. Bản thân ông cũng muốn đọc các tác phẩm ấy nên khuyến khích họ dịch qua tiếng Pháp. Dĩ nhiên tiếng Pháp của du học sinh thì chập choạng, cho nên ông hỏi chi tiết về thứ tự và sắc thái của ngôn ngữ tác phẩm, trao đổi với sinh viên nhiều lần, dịch nhiều tác phẩm ra tiếng Pháp. Cứ như vậy dù không biết tiếng Hàn Quốc, tiếng Nhật, “hai ông” đã dịch tác phẩm thơ.

Một hôm tôi nhận mail của Claude, rủ đến Orléans nghe buổi đọc thơ của nhà thơ hiện đại Nhật Bản. Đó là nhà thơ Yoshimasu Gozo. Sau buổi đọc thơ tuyệt vời, khi trở về Paris, có chuyện là tôi và Claude sẽ cùng nhau dịch tập thơ xuất sắc Cổ đại thiên văn đài của nhà thơ này.

Trong quá trình dịch tôi đã thường xuyên đến nhà Claude và Hélène ở Orléans. Tôi khám phá thêm một khuôn mặt nữa của ông ngoài thơ, phê bình và dịch.

Đó là làm bánh ngọt. Ở ngay giữa bếp có một cái bàn to lát đá ca rô màu xanh và trắng, hễ nhìn thấy rồi thì không thể nào quên. Mặc tạp dề, trên cái bàn đó Claude nhào bột bánh tart, nướng lên với táo vừa hái ngoài vườn hoặc bánh gateau kem chocolate đãi khách.

Tôi quyết định làm phiền, đến sống ở căn nhà có vườn to này. Ở cái bàn dưới bóng cây mộc lan vừa dịch vừa nói chuyện văn chương với Claude từ sáng đến tối là niềm vui lớn nhất với tôi. Tôi nghĩ thế, nhưng là kẻ phàm ăn, có thể chẳng qua tôi đã không cưỡng lại được sức hấp dẫn làm cho lưỡi tôi thích thú, một niềm vui không kém văn chương, đó là món bánh tart tuyệt vời của Claude.

Nhà của Claude và Hélène từ phố cổ Orléans qua sông Loire nằm ngay trên đường Tudelle. Con đường hơi buồn tẻ này ở phía mặt tường có tấm đá ghi rằng tại đây ngày xưa là nhà ông bà của danh họa Paul Gauguin và ngày nhỏ danh họa thường đến chơi đây.

Nhà của Claude với Hélène có hai phần. Một là tòa nhà ba lầu có nhiều căn phòng cho mướn giáp đường Tudelle. Nhà này xây gần 300 năm trước, tôi và vợ tôi được cho mướn căn phòng to ở lầu hai với giá đại hạ. Còn lại là căn nhà mà Claude và Hélène sinh hoạt. Căn nhà này hồi xưa vốn là nhà máy sơn vuông góc với tòa nhà đường Tudelle, hướng thẳng vào vườn trong đẹp rộng rãi. Từ đường Tudelle vào cửa hơi tối như ga ra, đi thẳng theo hành lang lắp kính luồn qua hai cánh cửa là đến phòng khách rộng rãi. Đi ngang qua chiếc đồng hồ quả lắc treo tường phía tay phải, sẽ vào nhà bếp nơi có cái bàn to. Mở cửa bếp nằm ở cuối nhà thì bên kia vườn cây mộc lan đang đợi đó...

❃ ❖ ❊

Ở lầu ba tòa nhà giáp đường Tudelle, ông cụ bố của Claude hơn 90 tuổi sống một mình. Căn hộ ông cụ có ba phòng trống. Thấy tôi mãi viết không xong luận án tiến sĩ nên vợ tôi đợi không nổi về Nhật trước, tôi một mình ở lại được cho mượn một căn phòng trong căn hộ này khoảng 3 năm. Nói vậy chứ sinh hoạt của ông cụ và tôi hoàn toàn tách biệt, có phòng tắm riêng, và tôi thì ăn cơm ở tầng dưới nhà Claude nên thỉnh thoảng buổi tối mới gặp ông cụ khi xem tivi chung .

Lúc đó chỗ ông cụ có bà giúp việc độ năm mươi mấy tuổi, thường đến một tuần năm lần vào buổi sáng. Nhưng mà hơi quái lạ.

Là vì trong nhà không sạch hơn. Nhà có máy rửa chén mà bát đĩa chất nguyên ở bồn, quần áo thì không những không ủi mà cũng không gấp nữa. Sàn nhà thì dơ, có vẻ không được đánh bằng sáp.

Tôi mỗi sáng đọc sách trong phòng, không biết từ lúc nào để ý đến tiếng động ở phòng kế bên. Thì sao, dù có nghe tiếng nói đinh tai như xé giấy hoặc như là tỏ thái độ phải phục dịch lão già này mất công quá, hoặc là không thèm trả lời, hoặc là tiếng rin rít như giấy cuộn bị xé ném đi, nhưng tuyệt nhiên không nghe tiếng bát đĩa lạch cạch hay là âm thanh của giẻ lau chùi gì cả. Rồi người giúp việc đến chưa đầy một tiếng đã về ngay.

Đây không phải là phim “Người giúp việc thấy” mà là “Người giúp việc bị thấy.”

“Hiểu sao đi nữa thì cũng thấy bà ấy làm việc cho qua thôi.” Một hôm tôi nói sự thật quan sát được với Claude – con trai ông cụ với cảm giác miễn cưỡng như là chỉ điểm đi mách lẻo.

Lúc đó may cho ông cụ là có người quen cũ của ông đến thăm. Đó là bà Inês người di dân Bồ Đào Nha. Hồi xưa bà làm giúp việc chăm sóc hết mình cho cụ bà mẹ Claude bệnh nặng sau đó đã mất, rất được Claude tin cậy. Có người chỉ nhìn là cảm thấy tin tưởng được, và ấn tượng này tuyệt nhiên không lừa dối sau đó. Inês là người như vậy.

Lúc đó Inês khoảng bằng tuổi Claude, quá 60 một chút, to con mập mạp đúng như kiểu bà mẹ đảm đang tháo vát. Đôi mắt như lúc nào cũng cười, trông to hơn với mắt kính lão. Tiếng Pháp lai tiếng Bồ Đào Nha nghe dễ chịu như hát. Và cái tay – tay to của người hùng hục lao động, hồi trẻ từng làm lái xe chạy đường dài một mình nuôi 6 đứa con. Mỗi lần nhớ đến cảm giác chào ôm bà, à, bị bà ôm chặt, cảm thấy sự bao bọc an lành tràn ngập, tôi vui mãi.

Nghe tên chỉ điểm Á châu (là tôi) báo cáo, Claude lập tức bàn với Inês, nhờ Inês một tuần một lần đến chỗ ông cụ. Inês cũng nghi nghi sao có người giúp việc mà nhà dơ như thế này. Trực giác nhạy cảm, Inés bảo đi tra số tiền còn lại trong ngân hàng của ông cụ thì...

Thấy không, số tiền còn lại hụt hẳn xuống. Ông cụ hầu như không ra đường mà tiền trả bằng chi phiếu lại nhiều một cách không tự nhiên. Xem chỗ ghi nội dung của chi phiếu thì thấy số tiền lớn trả nhiều lần cho một người!

Ngạc nhiên hơn nữa khi phát hiện thêm nữa là người giúp việc này có chị em sinh đôi, không biết chị hay em thỉnh thoảng thay nhau đến (do đó lao động chỉ phân nửa thôi) đòi tiền bằng chi phiếu. Như thế này, tôi đã chứng kiến tận mắt vụ án “Lừa gạt chuyển khoản tiền” kiểu Pháp.

Sau vụ chi phiếu, mỗi thứ Bảy Inês đến chăm lo ông cụ.

Buổi sáng khoảng 10 giờ nghe tiếng chuông phía đường Tudelle. Inês sống ở Sully-sur-Loire là nơi nổi tiếng về các lâu đài cổ, từ Orléans đi xe khoảng nửa tiếng. Nghe tiếng xe rè rè nặng như sắp đứt thở, nhìn ra ngoài cửa sổ thì thấy chiếc xe Mercedes to đỏ đậu trên đường. Bà chạy chiếc xe cũ mèm này hơn 20 năm, bảo là đỏ nhưng chẳng phải là màu đỏ làm tỉnh mắt mà là màu đỏ sạm làm buồn ngủ.

“Xe ngựa của tôi đó,” Inês cười.

Trên chiếc xe ngựa đó bà chất đống đồ ăn, đồ sinh hoạt vừa đi mua về bưng lên cho ông cụ ở tầng ba, và tôi giúp bà. Tôi nói chuyện với bà trong khi tay bà xoành xoạch chuẩn bị nấu bữa ăn trưa. Rồi tôi được mời ăn cùng luôn. Sau bữa ăn vui vẻ, bà dựng bàn ủi lên bảo: “Massa, mang quần áo ra đây.”

Cũng chẳng có quần áo gì đáng ủi cả, nhưng có gì tóm đó cả áo thun quần jean. Lại đứng nói chuyện với Inês đang tay không ngừng xoành xoạch ủi.

Pháp là nước có nhiều di dân. Sau Đệ nhị thế chiến kinh tế phát triển mạnh, đây là thời kỳ được gọi là “30 năm vinh quang”, lúc này những nước gần đó như Bắc Phi, đặc biệt dân lao động từ Algeria đến rất nhiều. Sau thập niên 1960 thì di dân đến từ bán đảo Iberia gia tăng, cho đến đầu thập niên 1980 thì người Bồ Đào Nha cùng với người Tây Ban Nha là số người ngoại quốc đông nhất ở Pháp.

Inês sinh ra ở vùng quê Bồ Đào Nha, lấy chồng lúc mười mấy tuổi trong lúc gia đình phản đối kịch liệt. Chồng theo làn sóng đi lao động ở Pháp, để vợ có bầu ở lại, mãi một hôm mới nhận liên lạc, Inês vui mừng bồng con nhỏ lên tàu hỏa đi Pháp... Đến nơi gia đình được đoàn tụ, ai ngờ cuộc sống đầy vất vả lại đợi ở đó... Đó là điều bà mẹ trẻ bồng con nhỏ trong lòng đầy hy vọng dù tưởng tượng cũng không nghĩ ra.

❃ ❖ ❊

Mỗi tuần tôi đều trông đợi Inês. Một cho ông cụ sống một mình, một cho bản thân tôi, vì mỗi lần chạm đến sự sống của bà tôi cảm thấy như được chia sức mạnh. Phải chi đừng một lần mỗi tuần mà bà đến được nhiều hơn thế.

Nhưng lúc đó Inês còn có việc chăm lo cho một cụ bà cao tuổi khác nữa. Ngày thường ăn ở chỗ bà cụ ấy nên một tuần chỉ đến đường Tudelle, Orléans một lần.

Inês xưa kia lái xe tải và xe buýt cho nhà trường này nọ, từ một dạo nào đó lấy chứng chỉ người giúp việc không những làm việc nhà mà còn chăm sóc người già, người bệnh thân thể bất toại. Nhờ thế Inês gặp mẹ Claude. Trước khi mất bà cụ hầu như cự tuyệt tất cả y tá và người giúp việc khác, chỉ yên tâm để cho Inês chăm sóc thôi, Claude kể vậy. “Tôi cũng rất quý bà cụ,” Ines nheo mắt lại nói một cách xa xăm.

Bà cụ mà mấy năm nay Inês chăm sóc, lấy chồng là con một gia đình bán sỉ rượu vang đỏ từ đầu thế kỷ 20 gây dựng nên của cải kếch xù. Chồng mất đã lâu, không có con, một mình sống ở căn nhà trong khu đất rộng lớn.

Bà cụ cô độc hơn 90 tuổi này không thể tự mình rời giường được nữa, suốt mấy tháng mỗi ngày chỉ húp vài bát súp Inês nấu.

“Tội nghiệp ghê, vậy mà chưa đi được đó. Người cũng bé tí xíu như thế này.”

Nói thế Inês đặt bàn ủi xuống, làm bộ đo cỡ người của cụ bà bằng hai tay. Theo đó thì bà cụ nhỏ quá, nhỏ hơn một em bé luôn.

“Tối bà thức giấc, kêu ma-măng ma-măng, như con gái nhỏ tìm hơi mẹ.”

Cái giọng mỏng run ở đáy lòng vào buổi tối tĩnh mịch làm Inês thức giấc. Inês dậy từ cái giường gấp giản đơn kế bên giường bà cụ ôm em bé chín mươi tuổi vào lòng, thì thầm vào tai cụ: “Ma-măng đây, ma-măng đây.”

Con mắt ướt sáng trong bóng tối yên tâm nhắm lại, rồi nghe lại tiếng hơi thở đều đều. Có vẻ khó nhọc, nhưng ở đấy không chỉ là cái khó nhọc không thôi...(HẾT)

❀ ❀ ❀

[1] Cá mặt trăng có danh pháp khoa học là Mola mola, là loài cá biển cỡ lớn có màu sắc sặc sỡ và thân ngắn sống ngoài đại dương, thường lặn xuống dưới vùng nước sâu, nơi nhiệt độ rất thấp

[2] Tên tác phẩm tiếng Pháp: Histoire de la folie à l’âge classique và Les mots et les choses.

[3] Chronique des sept misères (1986).

[4] Tiếng Anh trong nguyên bản: nhân dạng, căn cước.

Dịch giả: Lâm Thương
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Masatsugu Ono

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.