Vũ Điệu Quỷ Satan

Lượt đọc: 67 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
II. CHÚNG TA SẼ HỒI SINH

❊ ❊ ❊

Trên đầu họ đồng hồ chỉ mười giờ, nhưng họ còn có thể chờ đợi gì khác: họ biết rõ, bóng đèn neon kêu váng đầu trên trần nhà đầy những vết nứt nhỏ như mạng lưới, tiếng vọng bất chợt của những cú đập cửa được sắp đặt trước, những đôi ủng nặng nề đóng cá sắt hình bán nguyệt dập đến tóe lửa trên nền lát gạch men, tất cả để làm gì, cũng như họ đoán rằng, vì sao ở phía sau các bóng đèn không sáng, và tại sao chỗ nào cũng một thứ sáng lờ mờ khó chịu, và họ gần như đã vui vẻ cúi đầu với sự thỏa mãn đồng lõa và ngưỡng mộ trước hệ thống được sáng tạo kỳ diệu này, nếu như lúc này ngồi ủ rũ trên chiếc ghế băng đã nhẵn bóng bởi hàng trăm, hàng trăm lượt người trước đó không phải là họ, hai người đang miễn cưỡng phải nhìn chằm chằm vào cái tay nắm nhôm của cánh cửa số hai mươi tư để chờ được vào trong (“không quá...”) hai, ba phút, trong thời gian đó phải giải tỏa, phải xóa đi “cái bóng của sự nghi ngờ”. Vì còn có thể nói về điều gì, nếu không phải là một sự hiểu lầm phi lý nào đó bởi một viên chức chắc chắn không thể phủ nhận là có lương tâm nhưng quá mẫn cán?... Những lời nói đan xen chồng chéo lên nhau bắt đầu vòng xoáy vô đích trong mấy phút, rồi chúng hợp thành những câu mong manh và vô dụng một cách đau đớn - như một chiếc cầu xây lắp ẩu vội vàng dưới trọng lượng của ba bước đầu tiên - với một tiếng kêu rắc, với một tiếng nổ nhỏ định mệnh, chúng đổ ụp xuống, để rồi chúng quay tròn hết lượt này đến lượt khác giữa con dấu và lời triệu tập trên tờ giấy được chuyển đến tối hôm trước. Cách hành văn chính xác, chừng mực và không theo lối thông thường (“cái bóng của sự nghi ngờ...”) khiến họ không còn nghi ngờ gì rằng người ta triệu họ lên đây không phải để họ chứng minh sự trong sạch của họ, phủ nhận hay đòi hỏi đều chỉ mất thời gian vô ích, mà để họ có dịp bày tỏ trong khuôn khổ một cuộc trò chuyện không ràng buộc (liên quan đến một vụ đã rơi vào quên lãng) về gốc gác của họ, họ là ai, và có lẽ sẽ có sự chỉnh sửa vài số liệu cá nhân. Trong mấy tháng có vẻ dài vô tận vừa qua, do sự bất đồng quan điểm vớ vẩn không đáng nhắc lại, họ đã bị tách ra khỏi dòng chảy của cuộc sống sôi động, quan điểm trước đây của họ, gần như thiếu nghiêm túc, đã chín muồi thành niềm tin vững chắc, và giờ đây nếu những câu hỏi được đưa ra, và bản chất của chúng có thể tóm gọn trong một chữ “tư tưởng chỉ đạo”, thì họ đã có thể đưa ra câu trả lời đúng mà không phải băn khoăn, khổ sở: nghĩa là họ không bị bất ngờ. Còn về trạng thái tự hành hạ, trạng thái hốt hoảng thường xuyên tái hiện, thì họ có thể coi là “sự cay đắng của quá khứ”, vì “không một ai ra khỏi trại cải tạo lao động mà lành lặn”. Kim chỉ giờ đã gần tới số mười hai khi một người mặc quần áo dạ từ chỗ chiếu nghỉ cầu thang khoan thai bước vào, cặp mắt màu xám đục nhìn vào không trung, rồi nhìn hai con người nom kỳ cục đang ngồi đó, nét mặt trắng bệch như xác chết của anh ta chuyển sang sắc hơi hồng, anh ta dừng lại, hơi nhón chân lên, rồi nhăn mặt quay đi vẻ mệt mỏi, và trước khi đi khuất sau chỗ chiếu nghỉ cầu thang, anh ta nhìn lên một chiếc đồng hồ khác treo dưới tấm biển CẤM HÚT THUỐC!, da lại trở nên trắng bệch. “Hai cái đồng hồ, - người cao hơn trấn an người kia, - chỉ giờ khác nhau, dù cả hai đều chỉ sai. Cái này - hắn giơ ngón tay trỏ nhỏ, dài, đẹp chỉ lên phía trên, - chậm khá nhiều, còn cái ngoài kia không chỉ thời gian, mà đo sự chờ đợi bất lực vĩnh hằng, và chúng ta chẳng liên quan gì tới nó, chỉ như lùm cây với cơn mưa: chúng ta bất lực.” Dù hắn nói nhỏ, nhưng giọng đàn ông trầm, âm vang của hắn lấp đầy không gian của khu hành lang trống trải. Người cùng ngồi với hắn, người mà ngay từ cái nhìn đầu tiên đã có thể nhận thấy “khác rất xa so với” hắn - người đàn ông tỏa ra sự tự tin, cứng rắn và cả quyết -, dán cặp mắt tròn tỏa thứ ánh sáng mờ đục lên mặt người đàn ông từng trải, và cả con người y tràn ngập vẻ ngưỡng mộ. “Cành cây và cơn mưa... y nhâm nhi các từ, như thể nhâm nhi một thứ rượu vang lâu ngày, và đang trầm ngâm để tìm ra niên đại của nó, nhưng rồi y bỏ dở vì mệt mỏi, vì nghĩ việc đó quá sức mình - ông là một nhà thơ, ông bạn ạ, theo tôi!” - y nói thêm, và gật gật đầu thật mạnh, như kẻ hốt hoảng nhận - thấy mình đã vô tình nói ra sự thật. Y rướn lên trên ghế, để đầu y ngang tầm với người ngồi bên, rồi thọc tay vào túi chiếc áo măng-tô quá cỡ, tìm giữa những đinh ốc, kẹo Negro, một bức bưu thiếp chụp cảnh biển, đinh, một chiếc thìa nhỏ, khung kính và thuốc Kalmopyrin, cho đến khi các ngón tay y tìm thấy một mẩu giấy đầy vết mồ hôi. “Nếu chúng ta không sai lầm...” - y cố ngăn từ ngữ buột khỏi miệng, nhưng đã muộn. Trên mặt người cao hơn các vết nhăn hằn sâu thêm, môi hắn mím lại, mi mắt hắn nhíu lại, lúc này hắn cũng không thể kìm nén được cơn giận đột nhiên bùng phát. Mặc dù, cả hai đều biết rằng, họ đã sai lầm, khi vào buổi sáng - để đòi hỏi lời giải thích ngay lập tức - họ đã lao qua cửa căn phòng được đánh dấu, vào tận phòng bên trong; không những không nhận được lời giải thích, mà ông “sếp” bị bất ngờ còn không thèm nói gì với họ, ông ta chỉ nói ra phòng ngoài với đám nhân viên thư ký (rằng: “Hãy xem họ là ai?”), và ngay lập tức họ đã thấy mình ở ngoài cánh cửa. Sao họ lại có thể ngu đến thế? Họ đã sai lầm? Hết sai lầm này đến sai lầm khác, cứ như thể ba ngày nay không đủ để họ giải thoát khỏi sự bất hạnh. Vì kể từ khi họ có thể hít thật sâu không khí trong lành, tự do, và lang thang khắp các con phố bụi bặm, họ đã gần như hồi sinh bởi sắc vàng của thiên nhiên trong những công viên hoang vắng, họ đã khỏe ra bởi ánh mắt vô hồn của những người đàn ông và đàn bà đi ngược chiều, bởi những bộ mặt cúi gằm, bởi những cái liếc mắt chậm chạp của đám trai dậy thì buồn bã đứng bên các bức tường, kể từ đó một sự rủi ro mà cho tới khi đó họ chưa biết đến đã theo đuổi họ như hình với bóng, nó không hình dạng, lúc ập tới từ một đôi mắt chợt lóe sáng, khi phát lộ ra từ một cử chỉ, đáng sợ và không thể gạt bỏ nổi. Và cái hoạt cảnh tối qua trên sân ga vắng vẻ (“Tên tôi hãy đừng là Petrina, nếu không lạnh sống lưng…”) đã là giọt nước cuối cùng, khi - ai mà biết, sao họ lại muốn qua đêm trên một chiếc ghế băng cạnh cửa dẫn ra đường ke - một cậu trai mặt trứng cá, cao lêu đều bước qua cánh cửa quay, bước về phía họ không chần chừ một giây, và nhét vào tay họ tờ giấy triệu tập. “Chuyện này sẽ không bao giờ kết thúc hay sao?” - người cao hơn nói với cậu trai chạy giấy có khuôn mặt ngơ ngác, và lúc này câu nói đó đang vọng lại trong tâm trí người bạn nhỏ thó của hắn, khi ông ta rụt rè nói: “Này ông ơi, họ cố tình làm thế, để...0.” Người kia uể oải cười. “Không phải sợ. Tốt hơn hết ông hãy chỉnh lại cái tai của ông đi, nó lại vểnh lên đấy.” Như kẻ bị bắt quả tang, y ngượng nghịu đưa tay lên vuốt đôi tai cụp bất thường to như cái quạt nan, và cười hở cái miệng chỉ có lợi không răng. “Số phận muốn như vậy.” - Y nói. Người cao kều nhướng mày lên một lúc, rồi quay đầu đi. “Nom ông tởm quá!”, hắn tỏ vẻ ghê tởm, rồi còn quay lại nhìn mấy lần như không tin vào mắt mình. Lão tai cụp lùi ra xa hơn, cái đầu bé tí của y gần lút sau cổ áo măng tô. “Bề ngoài đâu phải là tất cả...” - y lẩm bẩm vẻ tự ái. Đúng lúc đó cửa mở, và một người dáng to bự như đô vật, mũi to bè ầm ầm bước ra, không hề để ý đến hai con người đang lao tới chào anh ta (và lẽ ra có thể thông báo với họ: “Mời các vị vào!”), anh ta thình thịch bước lướt qua họ, và mất hút sau một cánh cửa phía cuối hành lang. Họ bực bội nhìn nhau, rồi họ đứng đó một lúc nữa, hình như đã hết kiên nhẫn và chỉ còn một bước nữa là họ sẽ phạm vào một việc gì đó không thể tha thứ nổi, khi bỗng nhiên cánh cửa lại bật mở, một người béo lùn thò đầu ra: “Các vi chơ gi đo?” - người ấy hỏi giọng lơ lớ. Rồi bằng một tiếng “A-ha” chẳng ăn nhập gì vào tình huống này, ông ta mở rộng cửa cho họ. Trong căn phòng rộng, gợi nhớ tới một nhà kho, có năm, sáu người đàn ông ngồi cạnh những chiếc bàn viết nặng nề đã mòn cũ, phía trên họ là những bóng đèn neon rọi những quầng sáng nhấp nháy, trong các góc xa là bóng tối ngự trị đã bao nhiêu năm, ngay cả các tia sáng lọt qua những khe cửa chớp đóng kín cũng tan biến, như thể chúng bị thứ không khí tù hãm bốc từ phía dưới lên nuốt chửng. Các thư ký im lặng ngồi viết (có vài người đeo vòng băng bảo vệ khuỷu tay, những người khác đeo kính trễ xuống mũi), nhưng vẫn không lúc nào ngớt tiếng thì thầm; lúc thì người này, lúc thì người kia vẫn liếc mắt nhìn họ, vẻ ngấm ngầm và hả hê, như thể rình xem lúc nào thì một cử chỉ lúng túng sẽ tố giác người chủ của nó, lúc nào thì sau áo măng tô sẽ ló ra một chiếc dây đai đeo quần cũ, hay một chiếc tất rách ló ra từ đôi giày. “Cái gì thế này?” - người đàn ông cao hơn tức giận hỏi, rồi kinh ngạc chững lại sau khi là người đầu tiên bước qua bậu cửa chỗ như một buồng nhỏ, vì ở bên trong hắn thấy một người đàn ông mặc sơ mi, đang bò trên sàn nhà ngay trước mặt hắn, tìm một thứ gì đó dưới gầm bàn viết nâu sẫm. Sự tỉnh táo không bỏ rơi hắn; hắn bước lên trước mấy bước, dừng lại, mắt nhìn lên trần nhà, rồi tế nhị làm như không nhìn thấy vị thế bất lợi của người kia. “Thưa ngài! - hắn bắt đầu với giọng mượt mà. - Chúng tôi đã không quên và lúc này cũng không quên nghĩa vụ của mình. Bây giờ chúng tôi có mặt ở đây, và chúng tôi muốn thỏa mãn yêu cầu của ngài, theo đó ngài muốn trao đổi với chúng tôi vài lời, như trong lá thư ngày hôm qua nói rõ. Chúng tôi là các công dân của đất nước này, vì vậy dĩ nhiên là chúng tôi tự nguyện phục vụ đất nước, điều mà - tôi xin mạn phép nhắc ngài - trong mấy năm, đúng là không thường xuyên, nhưng các ngài đã sử dụng. Chắc ngài cũng biết, giữa chừng đã xảy ra một sự ngắt quãng đáng tiếc, và vì vậy chúng tôi đã không phục vụ được các ngài trong một thời gian. Chúng tôi xin đảm bảo, cũng như mọi khi, sau đây chúng tôi cũng né tránh sự cẩu thả và các bản năng thấp hèn. Ngài có thể tin tôi, nếu lúc này tôi nói rằng, trong tương lai chúng tôi cũng sẽ làm ở trình độ cao như chúng tôi vẫn thường làm. Chúng tôi vui mừng được phục vụ ngài.” Người bạn hắn ta gật đầu xúc động, suýt nữa y đã nắm chặt tay hắn. Trong khi đó thủ trưởng đã lồm cồm đứng dậy, bỏ một viên màu trắng từ lòng bàn tay vào miệng, và sau mấy lần khó nhọc đã nuốt khô được nó. Ông ta phủi bụi đầu gối, và ngồi vào chỗ của ông ở sau bàn. Ông đặt hai tay đan tréo nhau lên cặp đựng giấy giả da đã cũ, và nhìn hai con người kỳ lạ, dò hỏi, đang đứng hơi nghiêm nhìn qua đầu ông ta. Miệng ông méo đi vẻ đau đớn, và động tác này tạo ra vẻ cau có, nghiêm nghị trên nét mặt ông ta. Không rời khuỷu tay khỏi mặt bàn, ông ta lắc lắc bao thuốc lấy ra một điếu đút vào miệng và châm lửa. “Anh vừa nói gì thế?” - ông ta hỏi, vẻ mặt ngờ vực và hơi lúng túng, chân ông ta bắt đầu đi một vũ điệu luống cuống dưới gầm bàn. Nhưng câu hỏi chỉ bay vu vơ vô đích trong không khí, hai người kia vẫn đứng đó, im lặng và nghe ngóng. “Anh là thợ đóng giày phải không?” - thủ trưởng lại hỏi, và ông ngồi nhả khói khá lâu, khói dày đặc sà xuống đống tài liệu trước mặt, rồi quẩn quanh ông ta, đến mấy phút mới lại nhìn thấy mặt ông. “Dạ không, thưa ngài.”- lão tai quạt nan lên tiếng vẻ tổn thương sâu sắc. - Chúng tôi nhận được giấy triệu tập đến đây lúc tám giờ.” “A-ha! - ngài thủ trưởng đập bàn vẻ hả hê. - Thế tại sao các anh không có mặt đúng giờ?” Tai quạt nan nhìn lên, vẻ trách móc. “Thưa, ở đây có sự hiểu lầm, nói thế nào nhỉ... Chúng tôi đã đến đúng giờ, ngài không nhớ ư?” “Tôi hiểu.” “Thưa, ngài không hiểu, thưa ngài thủ trưởng! - lão tai cụp ngắt lời, hoạt bát hẳn lên. - Chúng tôi, tôi và anh này đây, có thể làm mọi việc. Thợ mộc, ấp trứng, thiến lợn, chỉ trỏ bất động sản, sửa chữa các vụ hỏng hóc nói chung, coi chợ, buôn bán... Xin đừng lấy tôi làm trò cười! Và cung cấp số liệu nữa, là tôi nói như thế. Chúng tôi làm công cho các ngài, chắc ngài còn nhớ. Vì tình hình là, tôi xin nói...” Thủ trưởng nhẹ ngả người ra sau từ từ nhìn họ, vẻ mặt rạng lên, rồi ông đứng dậy, mở một cánh cửa nhỏ trên bức tường phía sau, và trước khi bước vào, từ bậu cửa ông nói với lại: “Các vị cứ đợi đấy. Nhưng đừng... làm gì... tôi nói thế nào nhỉ...” Mấy phút sau, đứng trước mặt họ là một người đàn ông cao, tóc vàng, mắt xanh, đeo lon đại úy; anh ta ngồi xuống phía sau bàn, thoải mái duỗi chân ra, và mỉm cười hiền lành. “Các vị có mang theo giấy tờ gì không?” - anh ta hỏi, vẻ khích lệ. Lão tai cụp bắt đầu lục lọi những túi to khủng của lão. “Giấy tờ à? Có đấy! - Xin chờ một khắc!” Và lão đặt một tờ giấy viết thư nhàu, nhưng sạch sẽ lên bàn, trước mặt viên đại úy. “Sếp có muốn mượn một cây bút không? - người cao hơn hỏi, và hắn đưa tay lục túi. Nét mặt viên đại úy bỗng tối sầm trong tích tắc, sau đó anh ta tươi tỉnh nhìn họ, dường như anh ta nghĩ lại. “Rất khôi hài!” - anh ta nói vẻ tán thưởng. - Các vị đúng là có óc hài hước!” Lão tai cụp khiêm tốn cúi đầu xuống. “Không có nó thì mọi việc không ổn, thưa sếp, phải công nhận điều đó.” “Nhưng ta hãy chuyển sang công việc, - viên đại úy đổi giọng nghiêm chỉnh. - Tôi muốn biết các vị còn giấy tờ gì khác không?” Lão tai cụp nhanh nhẩu. “Dĩ nhiên là có, thưa sếp, có ngay đây...” Lão lại thò tay vào túi móc ra tờ giấy triệu tập, đặt lên bàn với vẻ mặt đắc thắng. Viên đại úy nhìn tờ giấy, rồi đỏ mặt quát. “Các người không biết đọc hay sao?! Con đĩ mẹ các người! Trong này viết tầng mấy đây?” Cơn thịnh nộ của viên sĩ quan khiến họ bất ngờ đến nỗi cả hai cùng lùi lại một bước. Lão tai cụp gật gật đầu. “Tất nhiên...” - lão lúng túng. Viên sĩ quan nghiêng đầu sang bên. “Anh nói gì?” “Tầng hai, - người kia đáp, và như để giải thích, hắn thêm: - Báo cáo sếp.” “Thế thì sao các người lại ở đây?! Các người đã vào đây bằng cách nào? Các người có biết đây là đâu không?” Cả hai đờ đẫn lắc đầu. “Cục Lưu trữ Ü.K.” - viên sĩ quan ngả người về trước, quát vào mặt họ. Nhưng không có một dấu hiệu gì của sự bất ngờ, người thấp hơn lắc đầu phủ nhận, và chúm miệng lại suy nghĩ, bạn anh ta đứng bên cạnh, hai chân bắt tréo, như đang nhìn một bức tranh phong cảnh trên tường. Viên sĩ quan chống một bên khuỷu tay lên bàn, đặt đầu lên lòng bàn tay và bắt đầu bóp trán. Lưng anh ta thẳng, ngực nở vồng về phía trước, bộ đồng phục sạch tinh, cổ áo sơ mi trắng tinh rất hợp với nước da mịn trắng hồng, một lọn tóc nhỏ gợn sóng cẩu thả rủ xuống con mắt màu xanh nước biển, tạo cho vẻ bề ngoài ngây thơ của anh ta một vẻ đẹp dễ thương không thể cưỡng nổi. “Trước hết, - anh ta nói nghiêm khắc, với giọng phương Nam giàu nhạc tính - các người hãy trình chứng minh thư!” Lão tai cụp rút từ túi sau ra một cuốn sổ bẩn thỉu, cạnh quăn vào trong, và lão đẩy một tập tài liệu to tướng sang bên để vuốt thẳng cuốn sổ trước khi đưa, nhưng viên đại úy nhanh tay giật khỏi tay lão, và lật nhanh qua các trang chứ không xem kĩ. “Tên gì?” - anh ta hỏi người thấp hơn. “Petrina, thưa ông.” “Đó là tên anh?” Tai cụp buồn bã gật đầu. “Tôi muốn nghe tên đầy đủ của anh!” - viên sĩ quan ngả người ra phía trước. “Báo cáo, tên tôi có vậy thôi.” - Petrina đáp với đôi mắt ngây thơ, rồi lão quay sang phía người bạn hỏi nhỏ: “Tớ biết làm gì bây giờ?” Viên đại úy quát: “Anh là ai? Digan à?” “Tôi ấy à? - Petrina hốt hoảng lẩm bẩm. Tôi mà là dân Digan?” “Thế thì đừng đóng kịch nữa! Nói đi!” Tai cụp nhìn sang bạn vẻ cầu cứu, rồi lão nhún vai, ngắc ngứ, như người không hẳn chắc chắn về việc của mình, không chịu trách nhiệm về những điều mình nói: “Sándor, Ferenc, István... a...ư... András.” Viên sĩ quan giở cuốn chứng minh thư, rồi nói vẻ đe dọa: “Trong này ghi là József.” Petrina làm mặt thảm hại như kẻ vừa bị tẩn một vố đau. “Sao lại thế nhỉ, thưa sếp! Hãy cho tôi coi với...” Viên đại úy quát dứt khoát: “Đứng im đấy!” Trên mặt người kia không biểu lộ cả sự hồi hộp lẫn sự quan tâm, và khi viên đại úy hỏi tên, hắn nháy nháy mắt mấy cái, như thể ý nghĩ của hắn còn đang lang thang tận đâu đâu, rồi hắn lịch sự đáp: “Xin lỗi ông, tôi không hiểu.” “Tên anh?” “Irimiás.” - Gã nói, giọng âm vang pha lẫn chút kiêu hãnh. Viên đại úy nhét một điếu thuốc lá vào khóe miệng, chậm rãi châm lửa rồi bỏ que diêm đang cháy vào gạt tàn và dập tắt bằng chiếc hộp. “Vậy hả, hóa ra anh cũng chỉ có một tên?” Irimiás vui vẻ gật đầu. “Đúng vậy, thưa ông, cũng như mọi người.” Viên sĩ quan nhìn thẳng vào mắt hắn, sau đó, khi ông trưởng phòng mở cửa (và hỏi: “Các anh đã xong chưa?”), thì anh ta vẫy họ đi theo. Họ theo sau anh ta mấy bước chân, với sự tống tiễn của những cái nhìn lén của đám thư ký, họ đi qua bên cạnh bàn viết của phòng ngoài, bước ra hành lang và đi lên cầu thang. Ở đây ánh sáng còn ít hơn, ở những chỗ chiếu nghỉ, thiếu chút nữa họ đã ngã giập mặt; bên cạnh họ là các lan can thô bằng sắt, nửa dưới của các tấm chắn được đánh bóng dính các mảnh gỉ cạnh rất sắc; trong khi họ lần từng bước trên chiếc cầu thang ẩm mốc, từ mọi phía bủa vây họ là sự sạch sẽ được gìn giữ, và ngay cả mùi tanh nồng nặc của cá cũng không thể lấn át nổi thứ đó, thứ mùi xộc vào mũi họ ở mọi khúc quanh.

TẦNG TRỆT CAO

TẦNG I.

TẦNG II.

Viên đại úy cao như một kỵ sĩ bước những bước dài phía trước họ, đôi ủng cao bóng lộn gần như gõ nhịp trên nền nhà lát gạch men đã bong tróc đôi chỗ; anh ta không hề liếc nhìn lại phía sau trong một tích tắc, nhưng họ biết: đây là lúc anh ta để ý tới họ từ đầu đến chân, từ đôi giày cao cổ của Petrina tới chiếc cravat đỏ chói của Irimiás, có lẽ từ trí nhớ, có lẽ nhờ tính chất đặc biệt của lớp da mỏng trên cổ anh ta có khả năng cảm nhận những hiểu biết sâu sắc, như một đôi mắt có thể phát hiện được bằng sự trải nghiệm nghèo nàn của nó. “Kiểm tra đối chiếu giấy tờ tùy thân!” - anh ta nói với ông trưởng nhóm có bộ ria đen rậm, dáng to lớn, khi họ bước vào qua cửa căn phòng đầy khói và ngột ngạt cũng số 24, và không hề đi chậm lại, anh ta ra hiệu bằng ngón tay cho những người ngồi trong phòng đang đứng dậy cứ ngồi đó, và trước khi biến mất sau cánh cửa kính ở bên trái, anh ta còn ra lệnh với giọng khô giòn: “Sau đó đưa lên chỗ tôi! Tôi yêu cầu báo chí! Các bản báo cáo! Nối lên phòng 109! Rồi cho tôi một đường dây thành phố!” Ông trưởng nhóm vẫn đứng nghiêm, rồi - khi nghe tiếng cạch của cánh cửa đóng lại - ông ta đưa cánh tay lên lau mồ hôi trán, ngồi xuống chiếc bàn đối diện cửa ra vào và đẩy về phía họ một tờ giấy mẫu. “Các vị điền vào đi, - ông ta nói, vẻ mỏi mệt. - Và mời các vị ngồi! Nhưng trước tiên hãy đọc ‘Những điều cần biết’ ở mặt sau.” Không khí trong phòng ngột ngạt. Trên trần chạy ba dãy đèn neon, sáng lóa, các cửa chớp đều đóng kín. Các nhân viên thư ký đi lại căng thẳng giữa vô số bàn trong phòng, thỉnh thoảng lại đối diện nhau trên các lối đi nhỏ, họ bèn vội vã xô nhau sang bên rồi nở nụ cười xin lỗi, vì thế vị trí của các bàn cũng thay đổi theo từng phút, để lại những vệt in rõ trên sàn nhà. Tuy nhiên, vẫn có những người không rời khỏi chỗ của mình, và dù có thể thấy công việc chất đống trước mắt họ, họ vẫn phải dành phần lớn thời gian để cãi lộn với các đồng nghiệp, vì họ bị những người kia xô đẩy từ phía sau lưng hay bàn của họ bị đẩy cho xê dịch. Một vài người ngồi giạng háng trên những chiếc ghế bọc da giả màu đỏ, một tay cầm ống nghe điện thoại, trên tay kia là tách cà phê bốc hơi. Từ phía sảnh phía trước, từ bức tường này tới bức tường bên kia, các nhân viên đánh máy đã đứng tuổi ngồi thành hàng dài, thẳng tắp đang gõ máy, nom rất dễ thương. Petrina lạnh người chú ý công việc khẩn trương trong phòng, lão thúc khuỷu tay vào sườn Irimiás, nhưng tay kia chỉ gật gật đầu, hắn đang say sưa nghiên cứu “Những điều cần biết”. “Phải chuồn khỏi đây khi còn chưa muộn...” - Petrina nói thầm, nhưng người kia nóng nảy gạt đi. Rồi hắn rời mắt khỏi tờ giấy, nhìn lên và hít hít trong không khí: “Này, ông có cảm thấy mùi gì không?” - hắn chỉ lên phía trên. “Mùi đầm lầy!” - Petrina khẳng định. Ông tổ trưởng nhìn hai người rồi vẫy họ lại gần, và thì thầm: “Ở đây mọi thứ đều thối rữa... Trong ba tuần vừa rồi người ta đã quét vôi hai lần các bức tường.” Trong đôi mắt sâu, mí mắt chảy xệ phát ra thứ ánh sáng hèn hạ, cổ áo sơ mi cứng đè lên lớp mỡ cằm. “Tôi có thể nói cho các vị biết điều này chứ?” - ông ta hỏi với nụ cười đầy ẩn ý. Ông ta ghé sát mặt họ, có thể cảm thấy hơi thở ông ta có mùi hôi. Ông ta bắt đầu cười không ra tiếng, kéo dài, như người không thể đừng được. Rồi nhấn mạnh từng từ, giống như người nhẹ nhàng đặt xuống bên cạnh họ mấy trái bom, rồi để “họ muốn làm gì thì làm”, ông ta bảo: “Rồi các vị sẽ vãi ra quần.” Ông ta làm mặt ra bộ hả hê, và cứ như tự nhắc lại, ông ta gõ ba lần lên bàn. Irimiás mỉm cười đón nhận thông báo với vẻ bất cần, và hắn lại cúi xuống tờ giấy. Petrina thì sửng sốt nhìn ông trưởng nhóm, người vừa bất chợt cắn môi, nhìn hai người họ từ đầu tới chân với vẻ khinh ghét, rồi ông ngả người ra sau, lạnh lùng và thất vọng, và thứ âm thanh đậm đặc, bùng nhùng mà từ đó ông ta vừa ló đầu ra một phút, lại hút ông ta trở lại, nuốt chửng như một cái cổ họng địa ngục. Khi ông ta dẫn họ vào phòng viên đại úy với hai tờ giấy đã điền đầy đủ, không còn thấy dấu hiệu nào của sự mỏi mệt, của sự cạn kiệt sức lực trước đó đã chế ngự ông ta, bước đi rắn rỏi, động tác nhanh nhẹn, tiếng nói dứt khoát của con nhà binh. Căn phòng được bài trí với tiện nghi khiêm tốn: bên phía trái của chiếc bàn vẻ quý phái cổ xưa là một cây ficus khổng lồ màu xanh thẫm, trong góc gần cửa ra vào là một đi văng bọc da với hai ghế da và một bàn hút thuốc “dáng vẻ hiện đại”. Che cửa sổ là tấm rèm nhung nặng, màu xanh tươi, trên nền sàn lát ván là một tấm thảm đỏ trải từ cửa tới sát bàn. Từ trên trần (có thể cảm thấy chứ không nhìn thấy...) rơi xuống một lớp bụi mịn, luôn chậm rãi và kiêu sa quanh năm tháng. “Mời ngồi! - viên sĩ quan chỉ vào ba chiếc ghế gỗ đặt sát nhau ở góc bên kia. - Tôi muốn chúng ta hiểu nhau.” - Anh ta ngả người vào thành ghế cao, tựa lưng vào phần gỗ màu trắng ngà, ánh mắt tập trung vào một điểm mờ trên trần nhà, và như thể anh ta không có mặt ở đây, trong căn phòng bức bối, trong không khí ngột ngạt này, chỉ có giọng nói của anh ta, cái giọng ngân như hát, bay về phía họ trong làn khói đang tan lơ lửng. - Các người nhận được giấy triệu tập vì đã trốn việc, đe dọa an ninh chung. Chắc các người cũng thấy tôi không viết ngày tháng nào. Vì ba tháng không có hiệu lực cho trường hợp của các người. Nhưng tôi sẵn sàng quên tất cả chuyện này. Chỉ phụ thuộc vào các người. Tôi hy vọng, chúng ta hiểu nhau.” - Trong những lời nói của viên sĩ quan thời gian như hiện lên hình hài, như thứ rêu ẩm ướt trên các hiện vật hàng trăm năm. - “Tôi đề nghị chúng ta gạt bỏ quá khứ. Với giả thiết, các người chấp nhận đề nghị của tôi về tương lai.” - Petrina hắng giọng, Irimiás nghiêng sang một bên, cố giải thoát chiếc áo khoác bị ông bạn ngồi lên. - “Các người không có lựa chọn khác. Nếu các người nói: Không, thì tôi sẽ cho các người, với tội danh tái phạm, rũ tù.” “Thực chất vấn đề là gì?” - Irimiás hỏi, vẻ không hiểu. Nhưng viên sĩ quan làm như không nghe thấy, anh ta tiếp tục. “Các người đã có ba ngày. Các người không nghĩ đến chuyện lao động. Tôi biết về tất cả mọi bước đi của các người. Tôi cho ba ngày, để các người thấy, ở đây có thể đánh mất những gì. Tôi không hứa hẹn nhiều, nhưng các người sẽ nhận được điều tôi hứa.” Irimiás phì qua kẽ răng, tức giận, nhưng rồi hắn nghĩ lại. Petrina lúc này hoảng sợ thực sự. “Trong chuyện này tôi chẳng hiểu đầu cua tại nheo gì cả, nếu có thể nói như vậy...” Viên đại úy bỏ ngoài tai lời y, anh ta nói như đọc bản án. “Các người hãy nhớ, vì tôi không nhắc lại thêm lần nữa, rằng sự lang thang, vật vờ, kích động đã chấm hết. Các người sẽ làm việc cho tôi. Hiểu chưa?” Lão tai cụp nhìn Irimiás: “Ông hiểu chứ?” “Không, - người kia lầm bầm, - tôi hoàn toàn không hiểu.” Viên đại úy chán ngán rời ánh mắt khỏi trần nhà, đưa mắt nhìn hai người. “Im đi!” - anh ta nói, giọng ngân nga như cũ. Petrina đan hai tay vào nhau đặt trên ngực, chính xác hơn là y nằm, tựa gáy vào thành ghế mắt nhấp nháy, chiếc áo khoác động nặng nề của y xòa ra xung quanh như một cánh hoa. Irimiás ngồi thẳng lưng, đầu óc hắn nghĩ rất lung, chiếc giày mũi nhọn, màu vàng tươi sáng chói lên. “Chúng tôi có các quyền của mình.” - hắn nói, mũi hơi nhăn lại. Viên đại úy giận dữ nhả khói, nét mặt anh ta - đúng là chỉ trong tích tắc - hiện rõ vẻ mỏi mệt. “Quyền hả! - anh ta quát - các người nói về quyền? Loại như các người, luật pháp chỉ để các người lợi dụng! Chỉ để các người có thứ để che đậy, nếu có chuyện dữ ập xuống đầu các người. Nhưng chuyện đó đã kết thúc... Chúng ta không tranh cãi, đây không phải là casino, rõ chưa? Tôi khuyên các người hãy quên ngay: từ nay các người sẽ sống theo pháp luật một cách nghiêm ngặt.” Irimiás xoa xoa đầu gối bằng lòng bàn tay ướt mồ hôi. “Luật pháp nào?” Viên đại úy nghiêm mặt. “Luật pháp của kẻ mạnh hơn, - anh ta nói, mặt tái dại, các ngón tay trắng nhợt đặt trên thành ghế. - Của đất nước. Của nhân dân. Điều đó có ý nghĩa gì không đối với các người?” Petrina đứng lên nói. (“Vậy bây giờ anh gọi chúng tôi là ông hay là thằng đây? Đối với tôi, tốt hơn là tôi...”), nhưng Irimiás kéo y xuống, và nói: “Thưa ngài đại úy, ngài cũng biết rõ như chúng tôi, đó là thứ luật pháp gì. Chính vì vậy mà chúng ta có mặt ở đây, cùng nhau. Bất kể ngài nghĩ về chúng tôi thế nào, chúng tôi là những công dân tôn trọng pháp luật. Chúng tôi biết trách nhiệm là gì. Xin nhắc để ngài nhớ lại, đã rất nhiều dịp chúng tôi chứng tỏ điều đó. Chúng tôi đứng về phía pháp luật. Cả ngài nữa. Vậy thì đe dọa nhau để làm gì, ngài hãy nói đi...” Viên sĩ quan cười vẻ giễu cợt, với đôi mắt to, chân thành, anh ta nhìn vào khuôn mặt không thể hiểu nổi của Irimiás, và dù lời nói của anh ta bỗng nhiên trở nên ấm áp, dưới đáy con ngươi của anh ta vẫn lóe lên sự tức giận được che đậy. “Tôi biết tất cả về các người... nhưng được rồi... - và anh ta thở dài, - tôi công nhận, dù vậy tôi cũng không trở nên khôn ngoan hơn.” “Ông bạn tôi nói đúng! - Petrina hích vào sườn bạn, rồi ngoan ngoãn nhìn viên sĩ quan, viên sĩ quan nhăn mặt, từ từ nhìn Petrina một cách đe dọa. - Vì ngài biết đấy, tôi đã không thể nào chịu nổi sự căng thẳng! Đơn giản là tôi không chịu nổi! - y cướp lời viên sĩ quan, và y thấy ngay điều đó sẽ có kết cục xấu. - Đấy, nói chuyện với nhau thế này chẳng dễ chịu hơn, so với...” “Câm mồm đi!” - viên đại úy quát lên, và đứng phắt dậy khỏi bàn. “Các người tưởng thế nào? Các người là cái thá gì, đồ rác rưởi?! Các người dám giỡn với ta à? - Và anh ta đùng đùng ngồi xuống. - Lại còn đứng cùng một phía!...” Nhưng Petrina đã đứng dậy, tay bắt đầu khua loạn xạ, cố cứu vãn tình thế. “Không, làm gì có chuyện đó, tôi thề có Chúa, báo cáo ngài, chúng tôi, tôi biết nói thế nào nhỉ, không, ngay cả nghĩ như thế chúng tôi cũng không dám!...” Viên đại úy không nói một lời, châm một điếu thuốc khác và nhìn vào hư không. Petrina bối rối đứng đó, ra hiệu cho Irimiás vẻ cầu cứu. “Tôi chán ngấy các người rồi - viên sĩ quan nói, giọng vang vang - tôi chán ngấy cái cặp Petrina- Irimiás này rồi. Đủ loại người kiểu này, rồi người ta lại quy trách nhiệm là tại tôi, con đĩ mẹ các người!” Irimiás nhanh nhẹn chen vào. “Ngài đại úy! Ngài biết chúng tôi mà. Sao mọi việc không thể như cũ? Ngài hãy hỏi... (... “Szabo...” - Petrina nhắc giúp) thượng sĩ Szabo mà xem. Không khi nào có vấn đề gì.” “Szabo được cho nghỉ hưu rồi, tôi đã tiếp nhận cả tổ đó.” - viên đại úy ngao ngán đáp. Petrina chạy lại gần và nắm tay anh ta. “Thế mà chúng ta cứ ngồi đây như bầy cừu thế này?!... Xin chúc mừng, thưa sếp, nói thế nào nhỉ, xin chúc mừng ngài với lòng kính trọng sâu sắc nhất!” Viên đại úy khó chịu đẩy tay Petrina ra. “Anh về chỗ đi. Làm trò gì thế? - Anh ta chán nản lắc đầu, rồi sau đó, hình như bởi thấy hai người kia sợ, anh ta một lần nữa chuyển sang giọng ấm áp hơn - Nào, các vị chú ý đây. Tôi muốn chúng ta hiểu nhau. Các vị hãy nhớ rằng, ở đây đang có hòa bình. Mọi người đều mãn nguyện. Và sự việc cần phải như thế. Nhưng nếu các vị đọc báo, thì các vị biết rằng, ngoài kia tình hình đang khủng hoảng. Và chúng ta không cho phép sự khủng hoảng này lan tràn đến đây và phá hoại những thành quả của chúng ta! Đó là một trách nhiệm lớn, các vị có hiểu không: một trách nhiệm lớn lao. Chúng tôi không thể cho phép sự xa xỉ, là để những hạng người như các vị tự do lang thang hết nơi này đến nơi khác. Hơn nữa, các vị là những nhân tố có thể sử dụng được trong những cố gắng chung! Trong con người các vị, tôi biết, có ý tưởng. Các vị đừng tưởng tôi không biết rõ điều này! Tôi không bới móc quá khứ của các vị, các vị đã nhận được điều mà các vị đáng nhận. Nhưng các vị hãy thích ứng với tình hình mới! Rõ chưa?!” Irimiás lắc đầu. “Không đâu, thưa ngài đại úy! Không thể cưỡng bức chúng tôi. Nhưng nếu nói đến trách nhiệm, chúng tôi sẽ làm những gì khả năng chúng tôi có thể...” Viên đại úy bật dậy, trợn mắt, môi anh ta bắt đầu run run. “Không thể cưỡng bức chúng tôi là thế nào hả?! Chúng mày là cái thá gì mà dám cãi lại tao?! Mẹ kiếp, đồ chó má! Bọn lang thang bẩn thỉu! Sáng ngày kia, tám giờ, hãy đến trình diện tao! Cút đi! Biến đi cho khuất mắt!” - anh ta rùng mình, quay lưng lại với hai người đang đi ra. Irimiás cúi gằm mặt đi về phía cửa, và trước khi đóng cánh cửa lại phía sau mình, để đi theo Petrina đã lẩn ra khỏi phòng như một con thằn lằn, hắn còn ngoái nhìn lại căn phòng một lần nữa. Viên đại úy nắn bóp hai bên thái dương, nom mặt anh ta như bọc một lớp thép: lạnh lẽo, vô cảm, xám xịt, một thứ quyền lực bí ẩn hiện hình trên lớp da nuốt mất ánh sáng: sự hủy hoại trỗi dậy, từ những hang hốc trong xương tủy, nó trỗi dậy và lập tức lấp đầy mọi chỗ trong cơ thể, giống như cho tới lúc đó chỉ có máu đã làm được vậy, để rồi nó lan tới tận những lớp ngoài cùng của da và gửi đi thông điệp của sức mạnh bất khả chiến thắng của nó; chỉ loáng cái sự hồng hào tươi tắn của làn da anh ta biến mất, các cơ căng lên, một lần nữa phản chiếu chứ không hấp thu ánh sáng lấp lánh ánh bạc, và thế vào chỗ cái mũi với nét cong tinh tế, xương gò má hơi nhô lên, cả những nếp nhăn mảnh như sợi tóc là cái mũi mới, xương má mới, những nếp nhăn mới xóa đi khỏi nét mặt anh ta mọi hồi ức, quá khứ, để giữ lại một đường nét duy nhất mà nhiều năm sau này sâu ba thước đất có thể tiếp nhận. Irimiás kéo cửa lại phía sau mình, đi cắt ngang qua căn phòng đông người để theo kịp Petrina khi đó đã ra tới hành lang mà không hề quay nhìn lại phía sau xem bạn mình có theo sau hay không, vì y nghĩ nếu làm như vậy có thể sẽ bị người ta gọi quay lại. Ánh sáng lọc qua những đám mây ken dày, thành phố thở qua một tấm voan mây, gió quét dữ dằn trên những con phố, những vỉa hè, những mái nhà trần trụi ướt lướt thướt trong làn mưa như trút nước. Những bà cụ già ngồi sau các ô cửa sổ, nhìn màn trời u ám qua những tấm rèm ren mỏng, xót xa thấy bên ngoài, trên vẻ mặt của những người đứng tránh mưa dưới mái hiên phản chiếu tội lỗi và nỗi buồn giống hệt như những thứ mà trong nhà, bên những chiếc lò sưởi ấm áp, những khay bánh nướng nóng hổi cũng không còn bao giờ có thể xua đuổi đi được nữa. Irimiás lồng lộn đi trong thành phố, Petrina hậm hực đuổi theo hắn trên đôi chân nhỏ bé, thỉnh thoảng y tụt lại sau, có khi đứng lại một phút để thở, gió thổi tung tà áo khoác của y ra sau. “Bây giờ đi đâu?” Y ngán ngẩm hỏi. Nhưng Irimiás không nghe tiếng, hắn cứ đi tiếp, miệng lẩm bẩm vẻ đe dọa. “Rồi nó sẽ phải trả giá vì chuyện này... Rồi thế nào nó cũng phải trả giá, thằng khốn...” Petrina bước nhanh hơn. “Chúng mình hãy bỏ lại tất cả những thứ khốn nạn này!” y đề nghị, nhưng bạn y bỏ ngoài tai. Petrina dằn giọng. “Ta hãy tới nhanh vùng Duna Thượng, ở đó có thể bắt đầu một điều gì đó.” Nhưng Irimiás không thấy, cũng không nghe gì hết. “Tôi sẽ vặn cổ nó...” - hắn nói với bạn, và ra hiệu gã sẽ làm như thế nào. Nhưng Petrina cũng không chịu. “Ở vùng đó có thể làm bao nhiêu việc... Chẳng hạn, ta có thể đánh cá... hoặc, cậu hãy nghe đây: có một kẻ sẵn tiền, biếng nhác, muốn xây dựng một cái gì đó...” Họ dừng trước cửa một quán rượu, Petrina cho tay vào túi, đếm số tiền họ có, rồi mở cánh cửa kính bước vào. Bên trong chỉ vạ vật mấy người, trong lòng bà quét dọn buồng vệ sinh chiếc đài nhỏ đang phát chương trình “Tiếng chuông buổi trưa”; những chiếc bàn còn ướt vết nước của giẻ lau dính dớp, bốn năm người đàn ông nét mặt đăm chiêu ngồi cách xa nhau vẻ ngán ngẩm, đang chờ cô hầu bàn, chăm chăm nhìn vào cốc hay đang viết thư, cẩn trọng nhâm nhi ly cà phê, rượu hay rượu vang trước mặt. Mùi hôi hám lưu cữu lâu ngày lẫn trong khói thuốc bay lượn lờ, những hơi thở chua chua bay lên sát trần nhà loang bẩn, cạnh cửa ra vào; một con chó lông xù ướt rượt đứng run lẩy bẩy sau chiếc lò sưởi đốt dầu hỏng, sợ sệt ngóng ra phía ngoài. “Động chân động tay đi chứ, giống lười nhác các người!” - một bà quét dọn, với chiếc giẻ lau nhà quấn trên đầu chiếc chổi bàn chải đi lại bên cạnh các bàn the thé hét lên. Sau quầy, cô bán rượu tóc đỏ, mặt non choẹt, tựa lưng vào giá chất đầy các thứ bánh ngọt đã hỏng và mấy chai sâm banh đắt tiền, đang sơn móng tay. Một cô phục vụ vóc người to lớn đứng tựa quầy từ phía ngoài, một tay cầm điếu thuốc lá đang nhả khói, tay kia cầm một cuốn sách loại rẻ tiền, mỗi lần lật sang trang mới cô ta lại hấp tấp liếm ngón tay. Trên các bức tường xung quanh, những ngọn đèn bụi bậm chiếu sáng lờ mờ. “Cho một đề-xi[1] blended[2]” - Petrina nói và ra hiệu, rồi y cũng chống khuỷu tay xuống mặt quầy ngồi cùng với bạn. Cô hầu bàn không rời mắt khỏi cuốn sách. “Một bao Kossuth bạc nữa!” Irimiás nói thêm. Cô bán rượu uể oải đẩy mình rời khỏi giá rượu, cẩn thận đặt lọ sơn móng tay xuống, rồi với ánh mắt lờ đờ, mệt mỏi, cô ta rót rượu ra ly và đẩy tới trước mặt Irimiás. “Bảy đồng bảy,” - cô ta nói vẻ thờ ơ. Nhưng cả hai người không nhúc nhích. Irimiás nhìn thẳng mặt cô gái, ánh mắt họ đụng nhau. “Tôi gọi một đề-xi.” - hắn nói giọng đe dọa. Cô bán rượu lúng túng quay đi, và vội vàng rót đầy hai cốc khác. “Xin lỗi các ông!” - cô ta đẩy cốc về phía họ vẻ e ngại. “Hình như chúng tôi đã kêu một bao thuốc nữa!” - Irimiás khẽ nói. “Mười một đồng chín,” - cô gái lắp bắp, và cô ta nhìn người bạn liên tục bấm bụng nén cười, ra hiệu thôi đi. Nhưng đã muộn: “Tôi có thể biết điều gì làm cô khoái chí thế?” Mọi ánh mắt đổ dồn về phía họ. Cô hầu bàn im bặt, lúng túng sửa lại quai đeo nịt ngực dưới áo choàng, rồi cô nhún vai. Tất cả bỗng nhiên im lặng. Một người to béo, da bóng nhẫy ngồi cạnh ô cửa sổ nhìn ra đường, đầu đội mũ lưỡi trai; ông ta kinh ngạc nhìn Irimiás, rồi dốc cạn ly rượu nửa đề-xi, vụng về đặt chiếc ly xuống mặt bàn. “Xin lỗi các vị...” - ông ta lập bập, khi thấy mọi người đều nhìn mình. Và lúc đó, không biết từ hướng nào, có tiếng vo vo hay rầm rì rất nhỏ. Ai cũng nín thở nhìn xung quanh, vì trong khoảnh khắc ban đầu, dường như có ai đó huýt sáo. Mọi người len lén nhìn nhau, tiếng vo ve to dần. Irimiás nâng cốc rượu lên, rồi từ từ đặt xuống. “Ở đây có ai đó huýt sáo? - hắn cáu cẳn. - Ai dám xằng bậy thế?!... Trò quái quỷ gì thế? Máy móc gì à...? Hay là các bóng đèn?... Không phải, vẫn có ai đó rì rầm... Có lẽ lão già ngồi trước WC?... Hay thằng cha đi giày thể thao? Cái gì thế này? Làm loạn à?!” Rồi bỗng nhiên im bặt. Chỉ còn lại sự tĩnh lặng, những ánh mắt nghi ngại.... Chiếc cốc trên tay Irimiás run run, Petrina căng thẳng gõ gõ trên mặt bàn. Mọi người ngồi cúi đầu, nhìn xuống, không ai dám động đậy. Bà già coi WC hốt hoảng kéo cô hầu bàn sang bên. “Có cần gọi cảnh sát không?” Cô bán hàng căng thẳng đến mức không nén cười được, rồi như để đánh trống lảng, cô vội vàng mở vòi nước bồn rửa và hấp tấp rửa các cốc bia. “Chúng ta sẽ cho nổ tung tất cả, - Irimiás kìm giọng nói, rồi gã nhắc lại, hàng ria mép rung rung. - Chúng ta sẽ cho nổ tung lên hết! Nổ tung từng đứa một, - gã quay sang Petrina, - bọn sâu bọ hèn nhát. Cho vào áo khoác mỗi đứa một cái! Gã kia, - lão chỉ sang bên, - cho vào túi. Còn thằng kia, - lão nháy mắt về phía lò sưởi - đặt vào dưới gối. Đặt dưới các ống khói. Dưới các tấm thảm chùi chân. Trên đỉnh các đèn chùm. Đặt vào lỗ đít chúng nó!” Cô gái đong rượu và cô hầu bàn lùi lại, đứng sát vào nhau phía cuối quầy. Các vị khách sợ hãi lấm lét nhìn nhau. Petrina hằm hằm nhìn họ với ánh mắt sát nhân. “Cầu cống! Nhà cửa! Cả cái thành phố này! Các công viên! Các buổi sáng của chúng! Bưu điện! Lần lượt tất tật...” Irimiás tròn miệng nhả khói thuốc, tay đẩy chiếc cốc đi lại trên vũng bia. “Bởi vì cần phải kết thúc, điều đã xảy ra.” “Đúng thế, sự phập phù này phỏng có nghĩa gì?! - Petrina nhanh nhảu gật gật đầu. - Chúng ta sẽ cho nổ tung lần lượt!” “Các thành phố. Lần lượt! - Irimiás hăng hái tiếp. - Làng mạc! Cả các túp lều heo hút nhất!” “Bùm! Bùm! Bùm! - Petrina gào lên, tay khua khua. - Các người có nghe thấy không?! Rồi: Oàng! Và kết thúc, thưa các ngài!” Y lôi ra một tờ hai chục, ném lên mặt quầy, giữa vũng bia; tờ bạc từ từ ngấm nước. Irimiás cũng rời khỏi quầy, hắn mở cửa, rồi quay người lại. “Các người còn vài ngày nữa! Irimiás sẽ xé các người ra từng mảnh!” - hắn phun ra câu kết, khinh bỉ bĩu môi, và như để tạm biệt, hắn lướt nhìn khắp lượt những gương mặt kinh hoàng, nhợt nhạt trong quán. Mùi nước cống trộn lẫn mùi bùn bắn lên từ các vũng nước, gió giật dây điện, ngói trên các nóc nhà, những tổ chim bỏ không; qua khe hở của các cửa sổ thấp đóng không kín lọt ra không gian lờ mờ hơi nóng ngột ngạt, lời thầm thì nôn nóng của những người ôm nhau... tiếng trẻ sơ sinh đòi sữa; các con phố lòng vòng, các công viên sũng nước nằm ngoan ngoãn trong mưa; những cây sồi trơ trụi, những khóm hoa khô, ủ rũ, những mảng cỏ cháy dở nem nép trong gió bão như nạn nhân thủ phục dưới chân đao phủ. Petrina cười cợt lảo đảo theo sau. “Ta đến chỗ Steigerwald chứ?” Nhưng bạn y không nghe thấy, hắn đã kéo cao cổ áo khoác kẻ ca rô, tay đút túi, đầu nghiêng nghiêng, đi bừa từ phố này sang phố khác, không chậm lại, không ngoái về phía sau, điếu thuốc lá ướt nhểu xuống trên môi, hắn cũng chẳng để ý; Petrina không ngớt nguyền rủa thế giới, đôi chân vòng kiềng thỉnh thoảng lại vấp, và đến khi y đã tụt lại sau Irimiás chừng hai chục bước, có gọi hắn cũng chẳng ăn thua (“Này, hãy đợi tôi với! Đừng vội vàng thế. Ông nghĩ tôi là gì hả, thằng cuồng đi à?”), người đi trước không để ý, tệ hơn nữa y còn bước vào một vũng bùn ngập đến mắt cá, y thở dốc, bất lực tựa lưng vào một vệ tường, lẩm bẩm: “Tôi không thể theo nổi tốc độ này...” Nhưng mấy phút sau y lại thấy Irimiás xuất hiện, tóc hắn ướt lướt thướt rủ xuống mắt, đôi giày mõm nhọn màu vàng tươi dính đầy bùn đất. Nước chảy ròng trên người Petrina. “Ông nhìn này! - và y chỉ vào tai. - Sởn da gà hết cả rồi...” Irimiás miễn cưỡng gật đầu, rồi hắn hắng giọng nói: “Chúng ta ra khu trại.” Petrina trợn mắt nhìn gã. “Cái gì?! Bây giờ?! Hai chúng ta?! Ra khu trại?!” Irimiás rút thuốc lá, châm lửa hút, và nhả một hơi khói. “Đúng! Ngay bây giờ.” Petrina tựa lưng vào tường. “Nghe đây, ông bạn, sư phụ, ân nhân, kẻ đẩy tôi xuống mồ, kẻ giết tôi! Tôi lạnh sắp chết rồi đây, tôi đói, tôi muốn đến nơi ấm áp, muốn hong khô, muốn ăn và không muốn, có trời biết, đi đâu nữa trong cái thời tiết khốn nạn này, tôi cũng không muốn bám đít ông như một kẻ rồ dại, quỷ tha ma bắt linh hồn ông đi! Nào!” Irimiás phủi tay, nói bâng quơ: “Ông muốn đi đâu thì đi, can dự gì đến tôi.” - và hắn bỏ đi. “Ông đi đâu? Bây giờ ông đi đâu? - Petrina tức giận hét lên và chạy theo gã. - Ông đi đâu mà không có tôi... Dừng lại đã!” Trời bắt đầu ngớt mưa, khi họ ra khỏi thành phố. Đêm buông xuống. Không có trăng, cũng chẳng có sao. Ở chỗ lối rẽ đi Elek, cách họ chừng trăm mét về phía trước khật khưỡng một cái bóng; sau mới rõ ra đó là một người mặc áo mưa; cái bóng rẽ vào đường đất, và bị bóng tối nuốt chửng. Hai bên quốc lộ, tới hết tầm nhìn, bùn lầy bao phủ mọi thứ, lác đác những khoảng rừng ảm đạm, và vì đêm tối đang buông xuống làm mềm các đường nét cứng, làm mờ đi màu sắc, khiến những thứ bất động trở nên bay lơ lửng, những gì chuyển động trở nên tê liệt, con đường nom giống như một con tàu lắc lư bí ẩn giữa một biển bùn vô tận. Không một cánh chim xuyên lên bầu trời, lúc đó đã trở thành một khối đậm đặc, không một con thú chạy sột soạt phá vỡ sự yên tĩnh, giống như sương mù sớm mai bao trùm lên mặt đất, chỉ một con hoẵng - như thể lớp bùn đang thở, - nổi lên và chìm nghỉm, sẵn sàng bỏ chạy, ở khoảng xa xa. “Lạy Chúa! - Petrina ngao ngán. - Cứ nghĩ đến sáng là chúng ta tới đó, là chân tôi đã co cứng lại rồi! Sao chúng ta không mượn Steigerwald chiếc xe tải? Lại thêm cái áo khoác này nữa! Tôi là cái gì cơ chứ, vận động viên cử tạ à?” Irimiás dừng lại, đặt chân lên một cột cây số bằng đá, hắn lấy bao thuốc lá; cả hai mỗi người rút một điếu, bụm tay châm thuốc hút. “Tôi có thể hỏi một việc chứ, đồ sát nhân?” “Hỏi đi.” “Chúng ta về khu trại để làm gì?” “Làm gì à? Ông có chỗ nào để ngủ chưa? Có thứ gì đút miệng chưa? Có tiền không? Đừng có ca cẩm mãi thế, vì tôi sẽ vặn cổ ông đấy.” “Được, tôi hiểu. Đến đây thì tôi hiểu. Nhưng ngày mai chúng ta phải quay lại, đúng không?” Irimiás nghiến răng trèo trẹo, nhưng không đáp. Petrina thở dài. “Ông bạn, với trí khôn của ông, lẽ ra ông có thể nghĩ ra một điều gì đó. Tôi không muốn làm cho chúng nó như vậy. Tôi không thể ở yên một chỗ. Petrina đã sinh ra, đã sống trên đời và sẽ chết dưới bầu trời tự do.” Irimiás cay đắng phủi tay. “Tình hình thật cứt đái, ông bạn ạ. Chúng ta không thể thoát khỏi bọn này trong một thời gian đâu.” Petrina đưa hai tay khóa vào nhau. “Xin sếp, đừng có nói với tôi những điều như thế! Trái tim tôi đã vón lại thành một cục lớn!” “Nào, dẫu thế nào cũng không cần bĩnh ra quần đâu. Tôi sẽ lấy tiền của chúng nó, rồi chúng ta chuồn, rồi đâu sẽ có đó...” Họ đi tiếp. “Ông nghĩ là chúng nó có tiền à?” Petrina lo lắng hỏi. “Bọn nhà quê bao giờ cũng có thứ gì đó.” Họ lầm lũi đi mấy cây số trong im lặng, đã đến khoảng giữa chỗ đường rẽ tới cái quán rượu trong khu trại; thỉnh thoảng trên đầu họ nhấp nháy một ánh sao, rồi trời lại đen đặc; thỉnh thoảng trăng ló ra qua màn mây mờ, và cũng như hai kẻ mệt mỏi lê lết trên con đường đá, trăng cũng đi trốn trên trận địa trời, lướt qua mọi trở ngại tiến về phía trước, tới đích: tới tận lúc bình minh. “Tôi tò mò muốn biết, bọn ngốc ấy sẽ nói gì khi nhìn thấy chúng ta...” - Irimiás nói với lại sau. - “Sẽ có bất ngờ.” Petrina rảo bước nhanh hơn. “Vì sao mà ông nghĩ chúng nó còn ở đó? - y hồi hộp hỏi. - Theo tôi, chúng đã biến từ lâu rồi. Chúng nó cũng khôn chán.” “Khôn à? Irimiás cười mỉm. - Bọn đó mà có trí khôn à? Chúng từng là những đứa làm thuê, và sẽ làm thuê đến hết đời. Chúng ngồi trong bếp, ỉa xó nhà và thỉnh thoảng nhìn ra cửa sổ xem đứa khác làm gì. Tôi biết chúng nó như lòng bàn tay.” “Tôi không hiểu sao cậu có vẻ chắc chắn như vậy, ông bạn? - Petrina nói. - Tôi có cảm giác ở đó chẳng còn đứa nào hết. Những ngôi nhà trống, ngói bị ăn trộm hết, bất quá còn mấy con chuột cống bẩn thỉu trong nhà xay...” “Khô-ông…. - Irimiás đáp chắc chắn. - Bọn nó vẫn ngồi nguyên đó, đúng trên cái ghế đẩu do dớp đó, tối tối chúng nó nốc món khoai tây nấu ớt, và chúng không hiểu điều gì xảy ra. Chúng ngờ vực quan sát lẫn nhau, chúng nấc lớn trong yên lặng, và chúng chờ đợi. Chúng chờ đợi nhẫn nại và dai dẳng, và chúng tin rằng, đơn giản là chúng đã bị lừa. Chúng rạp mình chờ đợi như mèo chờ mỡ ở chỗ mổ lợn, biết đâu chẳng được ném miếng mồi. Bọn chúng giống như người ăn kẻ ở trong các lâu đài thời trước, chờ đến lúc thế nào ông chủ chẳng tự bắn vào đầu, đến lúc đó cả lũ chúng mới bâu xâu quanh thi hài ông chủ…” “Thôi, ông đừng huyên thuyên nữa, tôi sắp phát điên lên đây...” Petrina tìm cách trấn an bạn, và y đặt bàn tay lên chỗ dạ dày đang réo. Nhưng Irimiás không để ý đến y, hắn đang hăng. “Chúng là lũ nô lệ mất chủ, nhưng chúng không thể sống thiếu sự kiêu hãnh, lòng tự trọng và can đảm. Những thứ đó khiến chúng trụ được, ngay cả khi sâu trong đầu óc u tối chúng vẫn cảm thấy những thứ đó không xuất phát từ chúng, mà chúng chỉ thích sống dựa vào cái bóng của những thứ đó thôi.” “Đủ rồi... - Petrina rên rỉ, và y dụi mắt, vì nước từ cái trán phẳng lì của y liên tục chảy xuống. - Nói thật ông đừng giận, nhưng lúc này tôi không muốn nghe những điều đó! Rồi ngày mai ông hãy nói, bây giờ tốt hơn cả là chúng ta hãy nói về một... một bát xúp đậu nóng hổi chẳng hạn!” Nhưng cả ý kiến này Irimiás cũng vẫn bỏ ngoài tai, và hắn tiếp tục nói. “Và rồi cái bóng đó đi đến đâu, thì chúng cũng kéo nhau theo đến đó, như một bầy đàn, vì thiếu cái bóng thì không ổn, cũng như chúng không thể thiếu sự lộng lẫy và ảo ảnh... (Thôi, ông thôi đi có được không... - Petrina đau khổ), chỉ có điều người ta đừng để chúng một mình với sự lộng lẫy và ảo ảnh, vì chúng sẽ nổi giận như những con chó, và chúng phá phách hết tất thảy. Chúng chỉ cần một căn phòng được sưởi ấm, món ớt nấu tối tối bốc hơi trên bàn, mẹ kiếp, thế là chúng hạnh phúc, nếu đêm đêm dưới chăn ấm chúng hổn hển nhét được cái của nợ ấy vào vợ thằng hàng xóm... Ông có nghe tôi nói không đấy Petrina?!” “Hầy, hầy, - người kia thở dài, và nói thêm vẻ hy vọng: - Sao? Kết rồi à?” Đã nhìn thấy hàng rào đổ nghiêng của nhà người nạo đường, cái nhà để dụng cụ đổ nát, thùng đựng nước hạn gỉ, khi ngay bên cạnh họ, từ sau một đống cỏ chất cao, vang lên một giọng rè khàn: “Hãy đợi đấy! Cháu đây mà!” Một đứa con trai khoảng mười ba, ướt lướt thướt, rét run lao về phía họ, quần xắn tới gối, với đôi mắt sáng cười cười. Petrina nhận ra cậu bé trước. “Thằng kia...? Mày làm gì ở đây thế, đồ vô dụng!?” “Cháu đã náu ở đây từ lâu, trời mưa quá...” - nó nói vẻ tự hào, rồi vội cụp mắt xuống. Mái tóc dài rủ từng lọn xuống gương mặt đầy mụn nhọt của nó, giữa những ngón tay còng queo của nó sáng lên mẩu thuốc lá. “Mày muốn gì thế, cứ nói đi...” Petrina lắc lắc đầu vặn hỏi thằng bé. “Bác đã hứa... - thằng bé ngập ngừng - là... là nếu...” “Nào, nói toạc ra đi!” - Irimiás giục. “Rằng nếu như cháu nói ra... - thằng bé nói, và nó lấy chân day day trên nền đất - là các bác đã chết, thì bác sẽ tác thành cháu với bà vợ ông Schmidt...” Petrina tóm lấy tai thằng bé, quát lên giận dữ: “Cái gì hả? Mồm còn chưa sạch hơi sữa mà đã muốn tụt quần lót đàn bà hả, thằng khốn! Lại còn thế nữa!” Thằng bé thoát khỏi tay Petrina, mắt tóe lửa hét lên. “Ông đi mà kéo dái ông ấy, thằng già lừa đảo!” Nếu Irimiás không can, thì hai người đã lăn xả vào nhau. “Thôi đi! - hắn quát. - Làm sao mày biết chúng tao về đây?” Cậu trai đứng cách Petrina một khoảng an toàn, cáu tiết xoa tai. “Đó là bí mật của cháu. Đằng nào cũng thế.... Mọi người đã biết cả rồi. Từ lão soát vé.” Irimiás ngăn Petrina mắt long sòng sọc đang thề sẽ trả thù (“Cậu mất trí à? Hãy để nó yên!”), và quay về phía thằng bé. “Lão soát vé nào thế?” “Lão Kelemen, ở gần lối rẽ đi Elek ấy, lão đã nhìn thấy các bác.” “Kelemen à? Lão đã trở thành người soát vé hả?” “Đúng, từ mùa xuân lão soát vé trên xe chạy đường dài. Chỉ có điều là hiện nay xe khách không chạy, nên lão có thời gian chạy lung tung theo gái...” “Được rồi.” - Irimiás nói rồi quay đi. Thằng bé nhảy đến bên hắn. “Cháu đã làm việc mà các bác yêu cầu... và cháu hy vọng bác sẽ giữ...” “Tao bao giờ cũng giữ lời hứa.” - Irimiás nói lạnh lùng. Thằng bé lẽo đẽo đi theo hắn như một cái bóng; nếu có lúc bắt kịp hắn nó lại vụng trộm liếc nhìn lên, rồi lại tụt lại sau. Petrina tụt lại sau hai người khá xa, và dù không hiểu y nói gì, họ đều biết y nguyền rủa trời mưa mãi không muốn dứt, nguyền rủa bùn lầy, thằng bé và cả thế giới. “Ở chỗ cháu vẫn còn tấm ảnh!” - thằng bé nói sau đó chừng hai trăm bước chân. Nhưng Irimiás không nghe tiếng, hay giả bộ như không nghe tiếng, hắn ngẩng cao đầu, bước đi những bước dài giữa đường, với chiếc mũi khoằm và chiếc cằm nhọn xuyên vào màn đêm. “Bác có muốn xem tấm ảnh đó không?” - thằng bé lại thử vận may lần nữa. Irimiás từ từ nhìn thằng bé: “Tấm ảnh nào?” Trong khi Petrina đã đuổi kịp hai người. “Bác có muốn xem không?” Irimiás gật đầu. “Thôi, đừng dấp dứ mãi thế, đồ quỷ con!” - Petrina cũng giục. “Vậy bác đừng giận cháu nữa nhé!” “Được, tao bỏ qua.” “Và chỉ cháu được cầm thôi.” - thằng bé ra điều kiện, rồi nó thò tay vào áo sơ mi. Trong ảnh, họ đứng trước một bô-đê thành phố, bên phải là Irimiás đầu chải mượt, rẽ ngôi sang hai bên, áo vest đờ mi kẻ sọc, cravat đỏ, nếp là quần gãy chỗ gối; bên cạnh là Petrina mặc quần vải, áo ba lỗ rộng, nắng xuyên qua đôi tai cụp. Irimiás nheo nheo mắt giễu cợt, Petrina vẻ mặt buồn trang trọng, mắt nhắm, miệng hơi mở. Phía bên trái một bàn tay thò vào bức ảnh, giữa các ngón tay là một đồng năm mươi forint. Phía sau họ một chiếc đu quay, nhìn như đang đổ nghiêng. “Nào, các người hãy nhìn xem! - Petrina phấn khởi nói. - Đây đúng là chúng ta, ông bạn! Nếu không phải tôi đi đầu xuống đất. Đưa đây, để tao nhìn kĩ cái bộ mặt già của tao!” Nhưng cậu bé gạt tay y ra. “Nào ông muốn gì? Trò xiếc miễn phí thế là đủ rồi đấy! Bỏ bàn tay bẩn thỉu của ông ra!” Và cậu trượt tấm ảnh vào túi nylon, đút vào ngực. “Nào! Nhóc! - Petrina khẩn khoản bằng giọng thân mật. - Đưa xem nào, tạo hầu như đã nhìn thấy gì đâu.” “Nếu bác muốn xem nữa... thì... - thằng bé ngập ngừng - thì bác hãy giới thiệu cho cháu bà vợ ông chủ quán rượu vào mùa xuân, mẹ ấy cũng có bộ vú to!” Petrina bực mình tiến lên trước (“Còn thế nữa! Thằng quỷ con!”), thằng bé vỗ mạnh vào lưng y một cái, rồi nó chạy theo Irimiás. Petrina loay hoay một lát, sau đó y nhớ tới bức ảnh, y cười mỉm, lầm bầm, và bước nhanh chân. Họ đến chỗ ngã tư, từ đây còn non nửa giờ đường nữa. Cậu trai theo dõi Irimiás với vẻ hâm mộ, lúc nó nhảy sang bên này, lúc nó nhảy sang bên kia hắn. “Ả Mari cặp bồ với ông chủ quán rượu, - cậu to tiếng kể và thỉnh thoảng lại rít cái đầu mẩu thuốc đã cháy cụt lủn, ai mà biết cậu đã châm lại mấy lần - ... vợ ông Schmidt thì từ lâu đã ngủ với lão thọt, ông đốc học thì ở nhà một mình... Một con vật bẩn thỉu... bác cũng không thể tưởng tượng nổi đâu! Con em cháu, nó hoàn toàn ngẩn ngơ, nó cứ im lặng, cứ im lặng và rình mò, nó thường xuyên rình rập tất cả mọi người, mẹ cháu đánh cũng chẳng ăn thua, nó cứ trơ lì ra, người ta bảo nó sẽ đần độn suốt cả đời... ông bác sĩ thì suốt ngày chỉ ngồi, dù bác có tin hay không, lão chẳng làm gì hết, đúng là không làm gì! Lão chỉ ngồi suốt ngày, suốt đêm, đến ngủ cũng ngủ ngay trên ghế, và ở chỗ lão hội thối như trong một cái ổ chuột, đèn sáng suốt đêm ngày lão cũng mặc, lão hút toàn thuốc ngon, uống rượu tì tì, nếu không tin bác cứ hỏi bà vợ ông Kráner, rồi bà ấy sẽ nói, rằng đúng như thế. À, đúng hôm nay Schmidt và Kráner đem tiền mua bò về, đúng, từ tháng Hai tới giờ ai cũng làm chuyện đó, trừ mẹ cháu, vì lũ khốn không cho bà can dự vào. Cái cối xay ư? Bây giờ thì chỉ có lũ quạ đến chỗ cối xay, và các chị cháu, vì bọn đi hành nghề ở đó, mà chúng nó mới ngốc chứ, bác thử tưởng tượng xem, mẹ cháu thu hết tiền của chúng nó, chúng nó chỉ khóc! Cháu thì sẽ không chịu để thế, chắc chắn! Trong quán rượu ấy à? Ở đó thì không thể! Vợ ông chủ quán mồm to như đít bò cái, nhưng may là bây giờ bà ta chuyển vào ở nhà trong thị trấn, và sẽ ở đó tới mùa xuân, vì bà ta bảo bà không thể để bùn đất dính bê bết lên người, và buồn cười, ông chủ quán mỗi tháng phải về nhà một lần, rồi khi quay lại nom ông ta rũ ra như tàu lá, ở nhà bà vợ đã hành ông ta ra nỗi ấy... Ông ta đã bán cái xe Panonia rất tốt rồi, và mua một chiếc xe rách, lần nào cũng phải đẩy, mỗi lần ông ấy đi là cả trại có mặt ở đấy, khi đi bao giờ ông ấy cũng mang về cho tất cả mọi người một thứ gì đó, và ai cũng phải đẩy, để cho cái động cơ khởi động được... Và ông ta còn nói với cái xe rách này người ta đã đoạt chức vô địch tỉnh, ha ha, tức cười thật. Bây giờ ông ta ở với bà chị trẻ hơn của cháu, vì năm ngoái nhà cháu nợ tiền hạt giống của ông ta...” Đã thấy cái cửa sổ sáng đèn của quán rượu... nhưng không nghe một tiếng nói, một âm thanh vọng ra... yên tĩnh, như thể bên trong không có một mống người... nhưng không phải thế, họ nghe thấy ai đó kéo đàn Accordion... Irimiás giũ bùn khỏi ủng nặng như chì... gã hắng giọng... Gã thận trọng đẩy cửa... và trời lại bắt đầu mưa, phía đông trời rạng nhanh với tốc độ của một hồi ức, ánh bình minh xanh nhợt, đỏ thẫm lan tỏa trên đồng bãi dập dờn như sóng, và với nỗi nhọc nhằn tắc nghẹn nơi cổ họng, như cái cách mỗi buổi sáng gã ăn mày leo lên chỗ bậc thang khuất của nhà thờ, mặt trời cũng nhô lên theo, sẵn sàng để thiết lập thế giới của những cái bóng, để tách cây cối, mặt đất, bầu trời, muông thú, con người khỏi cái thể thống nhất hỗn loạn, kinh hãi mà chúng đã sa vào tới mức không thể tháo gỡ nổi, như lũ ruồi sa lưới, và gã còn nhìn thấy bóng đêm trốn chạy khỏi đường chân trời, ở phía bên kia, trên đường chân trời phía tây, nơi các thành tố khủng khiếp của nó lần lượt biến mất, như một đội quân bại trận, thất vọng và hoảng loạn.

❀ ❀ ❀

[1] Một đề-xi (deci): 100 ml.

[2] Loại rượu pha trộn nhiều thứ rượu, vị ngọt.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Krasznahorkai Laszlo

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.