Chiến Trận

Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG II

❊ ❊ ❊

Người lính mơ cái gì

Thời tiết rất tuyệt, những cây keo tỏa hương thơm ngát. Thứ Bảy, trước ngày lễ Pentecôte, anh lính Paradis đang nằm xả hơi trên bờ đảo Lobau. Anh ta cởi bỏ áo khoác khinh kị binh, đặt bên cạnh mình chiếc mũ shako có những chiếc lông vàng, xanh, chiếc ba lô, tất cả trang bị của một người lính bó chặt ở trong đó; chiếc áo capote cuộn tròn dùng làm gối. Đó là một anh chàng lực điền cao lớn, tóc hung, bàn tay to bè có lẽ cầm cày tốt hơn là cầm vũ khí. Anh cũng có một khẩu súng nhưng chưa bao giờ dùng vào việc giết người mà chủ yếu chỉ là để đuổi những con gấu đến phá phách mà thôi. Anh chỉ nghĩ đến việc đào tẩu khỏi quân ngũ trước khi vụ mùa tới để trở về quê hương nơi anh nghĩ là mình có ích hơn, nhưng làm sao có thể khi mà chiến tranh đang tràn lan khắp nơi? Một tháng nữa là phải cắt lúa mạch rồi, sau đó là vụ lúa mì tháng Tám; bố anh không thể làm lụng được một mình còn người anh cả thì đã ra trận và không bao giờ trở về nữa. Anh vừa chậm rãi nhai một cành cây nhỏ giữa hai hàm răng vừa nghĩ rằng thậm chí mình chả còn thời gian để dùng những đồng florin vừa kiếm được tối hôm trước ở thành Vienne, khi giữ hộ hai con ngựa cho Edmond de Périgord. Đột nhiên, những con chim rừng bặt tiếng. Paradis chống khuỷu tay ngẩng đầu lên trên đám cỏ: binh đoàn số 4 của Masséna đang vượt sông Danube trên chiếc cầu lớn mà công binh vừa hoàn thành trưa nay. Tiếng động của hàng ngàn bước chân gõ nhịp đều đặn trên ván cầu vang lên. Nhờ những cây sào và bơi chèo, đứng chênh vênh trên những con thuyền nhẹ được cột chặt vào các trụ để không bị cuốn vào họng tâm xoáy nước, lính công binh cố tìm cách đổi hướng những cây gỗ lớn do nước lũ cuốn trôi về, không để chúng chặt đứt dây chão buộc cầu. Dòng Danube trở nên hung dữ. Hôm kia, trong đêm tối mịt mù, binh đoàn của khinh kị binh Paradis xuống những chiếc thuyền lán và bè mảng vượt sông trong tiếng sóng gầm gào hung dữ. Những người lính đã bất ngờ tiếp cận hòn đảo và đã dọn sạch hàng trăm tên lính Áo đang canh giữ ở đây. Chỉ có một cuộc chạm súng ngắn, những nhát lưỡi lê chọc vào những lùm cây, một số tù binh bị bắt trong đêm tối và không ít những kẻ lẩn trốn…

Paradis khéo léo đặt mấy cái bẫy và làm một chiếc ná cao su. Trên đảo Lobau, nguyên có một khu bảo tồn cấm săn bắn, cho nên, có thể bẫy được những con thú nhỏ. Sáng nay, anh ta đã tóm được một con chim mà anh không biết nó là chim gì, có thể đó là chim vàng anh mà anh đã từng nhìn thấy đậu trên cành liễu. Con chim đang được nướng chín trên đầu mũi lê. Paradis đứng lên lật con chim trên ngọn lửa đang nhóm bằng củi khô. Phía bên kia hòn đảo, Paradis cũng đã thấy những con cá chó và đám cá gardon[1] trong nhánh sông nhỏ cạn nước của dòng sông Danube; anh đã hứa với một người đồng ngũ của mình, dù học vấn cao, nhưng chẳng biết gì về thiên nhiên là sẽ dạy anh ta câu cá. Paradis nhún vai bởi vì biết rằng tương lai, thậm chí là tương lai gần, không còn thuộc về anh nữa. Nhưng giọng nói của thượng sĩ Roussilon cắt ngang cái suy nghĩ khốn khổ của anh:

- Ê! La Flemme! Nhờ anh giúp cho một tay!

Lúc này, trên chiếc cầu lớn, những chiếc xe đang chở những ụ nổi, thuyền bè để dựng chiếc cầu thứ hai nối Lobau với bờ trái, rộng khoảng năm chục mét trên dòng nước chảy xiết. Nhờ những bộ quân phục lấp lánh dưới ánh mặt trời, từ xa, Paradis đã nhận ra Thống chế Lannes và Masséna đang tiến lên phía đầu đoàn quân, vây xung quanh họ là những sĩ quan tùy tùng đội mũ gài lông.

- Động đậy tay chân thôi! Thượng sĩ Roussilon hét to, vẻ mãn nguyện với tấm huân chương Bắc đẩu bội tinh đang cài trên ngực mà thỉnh thoảng anh lại đưa tay lên vuốt ve.

Paradis nâng con chim cắm trên đầu mũi lê, một phía đã được nướng chín, bị lửa táp vào tay, anh dập tắt bếp lửa đang bắt đầu bốc khói, rồi nhặt nhạnh mớ đồ đạc lủng củng đi theo Roussilon lúc này đã tập hợp xong ba mươi lính khinh binh bên bìa một cánh rừng cành lá xum xuê rậm rạp. Những người lính hoặc mặc áo sơ mi dài tay hoặc phơi ngực trần, tất cả bọn họ đều mang rìu tiều phu. Công việc của họ là chặt cây để bắc cây cầu nhỏ, bởi vì, giá đỡ, xà gồ, gỗ phiến lát sàn cầu chưa đủ.

- Nào đi thôi các chàng trai! Thượng sĩ Roussilon la hét lính tráng. Hai giờ nữa mọi việc phải hoàn tất đấy!

Những người lính nhổ nước bọt vào lòng bàn tay và bắt đầu bổ những nhát rìu vào gốc những cây du; vỏ cây rơi xuống lả tả, những mảnh dăm gỗ tung lên.

- Nghiêm! Roussilon đứng cứng ngắc như một cây cọc tiêu hô to.

- Nghỉ! Trong đám cỏ cao rậm rạp lút đầu người, hai sĩ quan đang tiến lại cùng cất tiếng.

Đại tá Lejeune có sĩ quan tùy tùng Sainte-Croix tháp tùng, theo dõi sát sao công việc từ nhiều ngày nay. Anh hỏi thượng sĩ:

– Họ là người của Molitor đấy à?

– Đúng vậy, thưa Đại tá!

– Làm gì mà rìu búa lắm thế?

– Họ chặt gỗ bắc chiếc cầu thứ hai, thưa Đại tá, phải tiết kiệm thời gian, gấp quá rồi.

– Nhưng, việc ấy là của công binh chứ.

– Họ đã mệt lử rồi, tôi nghe nói vậy.

– Ta cóc biết! Họ sẽ nghỉ sau. Ta muốn số quân này phải cắm chốt ở bờ bên trái để lập một đầu cầu ở đó. Lệnh của Thống chế Masséna đấy!

– Các anh nghe cả rồi chứ, một lũ lười biếng? Cầm lấy vũ khí đi! 

Paradis thở dốc, đặt chiếc rìu xuống. Anh đã hạ xong ngon lành một cây gỗ và rất hài lòng với công việc đó, nhưng mặc kệ. Đời lính là thế thôi: đặt súng xuống, rồi lại cầm súng lên; cài chặt thắt lưng và đi, đi nữa; ngủ hai giờ bất cứ ở đâu; mai phục, chờ đợi, chân bước đi như một con rối không suy nghĩ; không được phép sai lầm; không có chuyện đau chân, thở dốc; không được lựa chọn món ăn nào ngoài món đậu tầm xào mỡ ghê tởm được đầu bếp chia cho hai người trong cùng một cái cà mên. Paradis kiểm tra túi đạn của mình thấy mọi thứ đã đầy đủ, ba mươi lăm vỏ đạn, mấy viên đá lửa. Anh mang ghệt vào chân, đến nhặt khẩu súng trên giá, đến xếp hàng phía sau những đồng đội của mình rồi hành quân đến khu rừng bị chặt, đối diện với bờ sông Danube.

- Ôi trời ơi! Sainte-Croix nói với Lejeune. Nước dâng cao và chảy xiết quá…

– Đúng vậy, điều này làm tôi lo quá.

– Thôi, đừng để mất thời gian nữa. Tôi phải đưa thuyền đón lực lượng từ bờ bên kia về đây. Anh đã xác định được vị trí thuận lợi để bắc cầu rồi chứ?

– Nếu nó bắt đầu ở chỗ kia, anh thấy không, thì những khóm cây có thể ngụy trang được chiếc cầu khỏi sự tò mò của đám gián điệp Áo có thể đang rình rập đâu đó.

Đột nhiên, Lejeune lắng nghe trong đám khinh binh có ai đó đang nói những điều mà anh quan tâm. Thì ra Paradis đang giải thích cho người bạn bên cạnh biết rằng mười mét về phía trước có thượng nguồn, có một bến phà. Lejeune gọi người lính lại hỏi:

– Cậu vừa nói cái gì vậy?

– Trước đây, ở chỗ kia có một bến phà, thưa ngài sĩ quan, chỗ ngang với khóm lau sậy kia ạ.

– Làm sao cậu lại biết chuyện đó?

– Dễ thôi ạ, thưa ngài sĩ quan. Ngài hãy nhìn kia, phía bên sườn dốc đó, có thể nhìn thấy dấu vết những con đường đất dẫn xuống phía sông.

– Ta chả nhìn thấy gì cả.

– Tôi cũng vậy, Sainte-Croix nói, mặc dù đã dùng ống nhòm quan sát.

– Có đấy, người lính nhấn mạnh. Đám cỏ cũ nằm rạp xuống và rõ ràng là thấp hơn so với những chỗ khác vì lâu nay nó đã bị giẫm lên, nên mọc rất kém. Đã từng có những con đường đi qua chỗ đó, tôi cam đoan với Ngài như vậy.

– Anh lính rất hữu dụng đấy! 

– Ôi không, thưa chỉ huy, tôi chỉ là một nông dân thôi.

– Này, Sainte-Croix, Lejeune gọi và quay lưng về phía viên sĩ quan tùy tùng của Masséna. Thôi anh đi với lính khinh binh, nhưng tôi giữ lại cậu này (anh chỉ vào Paradis). Anh ta có con mắt quan sát tuyệt vời, tôi tin là sẽ sử dụng tốt đôi mắt ấy cho công tác trinh sát của tôi.

– Đồng ý. Tôi chỉ cần hai trăm người để bắc cầu thôi.

Paradis hiểu mang máng điều gì đang đến với mình.

– Tên cậu là gì? Lejeune hỏi.

– Khinh binh Paradis, thưa ngài sĩ quan, thuộc Sư đoàn 3 của Tướng Molitor!

– Chắc cậu cũng có tên chứ?[2]

– Dạ, Vincent ạ.

– Này, theo sát tôi nhá, Vincent Paradis.

Lejeune và người lính mới đi dần về phía giữa đảo, trong khi đó Sainte-Croix ra lệnh cho mọi người tập trung dỡ hết thuyền bè xuống khỏi xe. Lính bản xứ lội trong nước ngập đến tận háng, cố níu giữ những con thuyền giữa dòng nước để cho toán lính xuống thuyền mà không bị ướt vũ khí và thuốc súng.

* * *

Cách đó một trăm mét, giữa bãi đất trống được lính gác canh giữ nghiêm ngặt, một số binh lính đang dựng một chiếc lều lớn, một văn phòng nghiêm chỉnh bằng vải cho Bộ tham mưu, tại đó, Berthier sẽ nhận mệnh lệnh của Hoàng đế và truyền đạt những mệnh lệnh đó đến từng sĩ quan. Đồ đạc bày trí trong trại còn đang nằm cả ngoài bãi cỏ, nhưng Berthier không chờ cho tới khi mọi thứ được sắp đặt đâu vào đó mới nghiên cứu tổ chức các cuộc hành quân. Ông ngồi trên một chiếc ghế bành ở bên ngoài, cách đó mấy bước, sĩ quan tùy tùng đang trải bản đồ ngay trên mặt đất lấy mấy hòn đá dằn vào các góc không để gió thổi lật tấm bản đồ. Phía trước Berthier, đám tù binh Áo bị bắt từ hôm trước được dẫn đến để chuẩn bị thẩm vấn.

Lejeune trực tiếp dịch nội dung cuộc thẩm vấn, nên Paradis bị bỏ rơi một mình, lọt thỏm giữa đám sĩ quan, anh ta lúng túng không biết nên cư xử như thế nào, hai tay xoắn xoắn vào nhau, vụng về, lóng ngóng, mặt đỏ vì xúc động. Vincent cảm giác mình trở thành người quan trọng. Lính gác đã ngăn Vincent lại ngoài cửa nhưng được Lejeune thông báo:

– Cậu này là người của tôi, lính trinh sát.

– Nhưng, tại sao anh ta không mặc sắc phục của binh chủng đó, thưa Đại tá.

– Rồi sẽ có.

Sắc phục lính trinh sát thì giống cái gì nhỉ? Vincent Paradis lẩm bẩm.

Râu mọc rậm rì hai bên má vì đã ba ngày nay không cạo, bẩn thỉu và rách rưới trong bộ quân phục màu sáng, mười sáu lính Áo không rõ cấp bậc đứng giữa bãi đất trống, lóng ngóng vụng về nép sát vào nhau như một đàn vịt. Họ ngạc nhiên không hiểu vì sao mình vẫn còn được sống. Họ ngoan ngoãn trả lời những câu hỏi của Lejeune. Lejeune có vẻ hài lòng vì đã khai thác có hiệu quả đám tù binh này. Những thông tin sốt dẻo này sẽ giúp cho Berthier lựa chọn phương án tác chiến:

– Bọn chúng thuộc binh đoàn số Sáu của Nam tước Hiller.

– Còn có những tiền đồn nào khác không? Vị Tham mưu trưởng hỏi.

– Chúng nói chúng không biết gì cả, vì phần lớn lực lượng đồn trú phía trên kia thuộc Bisamberg.

– Cái đó chúng ta đã biết rồi. Chúng có bao nhiêu người?

– Chúng nói ít nhất hai trăm ngàn.

– Chúng phóng đại lên đấy. Chỉ một nửa số đó thôi.

– Chúng nói lực lượng pháo binh có khoảng năm trăm khẩu pháo.

– Cứ cho là chúng có ba trăm khẩu đi.

– Thú vị hơn, chúng khẳng định quân đội của Quận công Charles mới đây được tăng cường thêm những đơn vị đến từ Bohême và hai trung đoàn Hussard[3] người Hungari.

– Làm sao chúng biết?

– Bọn Hungari này đã mở rộng tuyến trinh sát của họ tới tận sông Danube. Tù binh đã nhận ra quân phục của đám lính trinh sát, thậm chí còn nói chuyện với chúng.

– Tốt, Berthier nói. Hãy đưa chúng về Vienne, cho chúng phục vụ trong các bệnh viện của chúng ta.

Một lúc sau, ngay trước khi Lejeune lo tìm một bộ đồng phục lính trinh sát cho Vincent Paradis thì có người đến báo cho anh biết cây cầu nhỏ đã được bắc xong. Lính kị binh của Lasalle và lính thiết kị của Espagne lập tức phải vượt cầu chiếm lĩnh ngay những khu làng bên tả ngạn, tiếp đó là số quân còn lại của sư đoàn Molitor. Lejeune truyền đạt ngay những mệnh lệnh này tới các đơn vị.

Lúc này, Lejeune đứng trấn ngay giữa lối đi xuống cây cầu được xây dựng vội vàng, đang bị những đợt sóng trào xô lắc chao đảo. Số ván cầu đã được tăng gấp đôi, và phần lớn những ụ nổi làm giá đỡ đã được nối với bờ bằng những sợi dây chão cỡ lớn, nhưng nước sông vẫn tiếp tục dâng cao. Biết bao tai biến bất chợt có thể ập đến làm rối lòng Lejeune; nhưng bất chấp tất cả, cây cầu vẫn có vẻ trụ lại được. Binh lính của Lasalle lần lượt hành quân phía sau vị tướng có bộ râu rậm rì, lúc nào cũng ngậm chiếc tẩu thuốc luôn cháy đỏ. Cuối cùng, họ đã sang tới bờ bên kia, ngựa trèo lên sườn dốc rồi mất hút giữa những lùm cây rậm rạp. Còn kia là Espagne, cao lớn, mặt vuông, da tái, hai má đầy những chòm râu đen chen lấn đang nhìn binh lính cùng chiến mã nhảy tâng tâng trên chiếc cầu bị sóng xô chao đảo. Sự lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt ông. Nhưng rồi cuối cùng đoàn quân đã vượt qua an toàn. Một lính kị binh nhìn Lejeune chằm chặp. Gã cao lớn, chiếc mũ sắt có túm lông ngất ngưởng, áo măng tô màu nâu đó chính là Fayolle mà tối hôm trước, Lejeune đã đập vào mặt hắn khi hắn xông vào nhà Anna Krauss cướp của. Hai ánh mắt giao nhau và ngay lập tức cùng nhận ra nhau. Fayolle chắc là hài lòng với cái nhíu mày khinh khỉnh. Nhưng vì đến lượt mình phải vượt cầu nên Fayolle giục ngựa vượt qua cầu rồi mất hút giữa hàng quân bị những lùm cây rậm rạp của bờ bên kia che khuất. Sau đó, theo kế hoạch đã được Hoàng đế dự tính, Berthier cho phép sư đoàn Molitor với quân số đầy đủ nhất, trừ Paradis - người lấy làm hài lòng về điều đó đang đứng nhìn đồng đội cũ của mình chuyền tay nhau từng bộ phận của khẩu pháo vượt cầu. Chàng khinh binh này như dính vào đuôi áo của Lejeune, do chưa thấy được phân công việc gì cụ thể và nghĩ rằng đã bị lãng quên, nên đánh liều hỏi:

– Tôi làm gì đây, thưa Đại tá ?

– Cậu ấy à? Lejeune nói, nhưng bị cắt ngang, không còn thời gian nói tiếp nữa: tiếng súng đã nổ ầm ầm bên tả ngạn.

* * *

“Thế là cuộc chiến bắt đầu rồi…” Trên mình ngựa, thiết kị Fayolle nói, tay vỗ nhẹ vào cổ ngựa. Không, không phải vậy. Đó là bọn kị binh đánh thuê của đối phương bị binh lính của chúng ta mai phục bên bìa rừng bắn tỉa buộc phải thúc ngựa chạy trốn vào những cánh đồng xanh ngắt. Tướng Espagne cử Fayolle cùng hai đồng đội quan sát tình hình. Họ dùng ống nhòm theo dõi cuộc tháo chạy: Dân làng đang di tản khỏi Aspern và Essling, xe cộ của họ chất đầy đồ đạc, gia súc, trẻ nhỏ. Nhưng có thể vẫn còn những tay súng du kích bám trụ lại quấy rối thậm chí bất ngờ đánh úp. Fayolle cùng hai đồng đội thận trọng tiến lên từng bước một. Họ lẩn vào sau những khóm cây, những vũng nước, những cây to bảo vệ che chở, rất hiếm khi bị lộ diện. Đầu tiên, họ tiếp cận được làng Aspern nằm sát mép sông; hai dãy phố rộng chạy song song dẫn đến một quảng trường nhỏ trước một tháp chuông vuông vắn nhà thờ. Họ nghi ngại nhất là những con phố nhỏ chạy ngang, những chỗ ngoặt sau những ngôi nhà thấp đang xây giống hệt nhau, có sân ở phía trước và phía sau là một khu vườn có những hàng rào cây xanh khép chặt. Một bức tường bao quanh khu nhà thờ, nơi có thể trốn được đám lính bắn tỉa nhưng không tránh được những họng pháo; một ngôi nhà hình khối xây đặc, tiếp giáp với một nghĩa địa, với một khu vườn có dãy tường đất bao kín xung quanh có lẽ là nhà cha xứ. Họ ghi lại từng chi tiết đó. Một vài con chim hiếm hoi bay vụt lên ngay sát bên cạnh những con ngựa của họ. Ngoài ra, chẳng có một tiếng động nào khác dù là nhỏ nhất. Mấy người lính kị binh vừa vòng lại một lát vừa quan sát những ô cửa sổ, rồi họ gặp một toán lính đi tuần của Lasselle. Sau khi giao lại việc thanh sát khu làng cho những người lính này, Fayolle và hai đồng đội đi về hướng tháp chuông nhà thờ cạnh làng Essling, ở phía đông, cách đó chừng 1500 mét. Để đến được đó, họ phải vượt qua giữa cánh đồng trống trơn, phải tránh được những ổ lầy thụt.

Fayolle là người đầu tiên vào được làng Essling hoang tàn đổ nát.

Ngôi làng này cũng giống khu làng trước đó, nhưng nhỏ hơn một chút, chỉ có một con phố chính, nhà cửa ít chen chúc hơn nhưng hoàn toàn giống nhau. Họ để mắt khắp mọi nơi, phát hiện những dấu hiệu không bình thường dù là nhỏ nhất. Nhưng tuyệt nhiên, chẳng có gì đáng phải lo ngại cả, thế nhưng ngôi làng ma quái này vẫn có cái gì đó bất ổn. Fayolle cố tưởng tượng ra quang cảnh sinh hoạt của khu làng này như vốn có của nó trước đây, dân làng vui đùa dưới những gốc sồi bên lối đi và trong những khu vườn, khom lưng trên những luống rau của họ. Trong làng chắc là phải có chợ, chuồng ngựa và kho lương thực dự trữ. À, Fayolle nghĩ, hay thử đi thăm mấy cái kho lương thực xem sao? Có thể họ chưa kịp mang đi. Đột nhiên, một tia nắng phản chiếu rọi thẳng vào chiếc mũ và mắt anh. Fayolle ngẩng đầu nhìn về phía tầng hai ngôi nhà màu trắng. Hình như tia nắng phản chiếu từ một ô vuông cửa sổ nào đó hay có kẻ nào đang nấp đâu đó đẩy cánh cửa sổ tạo ra tia nắng phản quang này? Nhưng không thấy động tĩnh gì cả. Fayolle giao ngựa cho người lính đi bên cạnh rồi cùng với người lính khác tìm cách mở cánh cửa gỗ. Cánh cửa khóa chặt. Payolie lấy chân đạp một cú rất mạnh vào ổ khóa nhưng vô ích, cánh cửa vẫn không lay chuyển, cuối cùng, Fayolle phải quay ra lấy khẩu súng ngắn để trong bao súng phá tung cái ổ khóa thô thiển.

– Chẳng có gì phải thận trọng cả, Pacotte, người kị binh đi cùng nói.

– Nếu có người, thì họ đã nhìn thấy chúng ta rồi. Còn mèo hay chim cú thì kệ nó!

- Ừ, rồi chúng ta sẽ làm món civet[4].

Họ đi vào nhà, vẫn trong tư thế phòng thủ, súng lăm lăm trong tay, tay kia là thanh kiếm. Fayolle mở toang cánh cửa để nhìn cho rõ. Căn phòng chỉ có ít đồ đạc, một cái bàn nặng trịch, hai cái đệm rơm, một cái thùng gỗ mở toang rỗng không, trong lò sưởi, tro tàn lạnh giá. Một chiếc cầu thang dốc đứng dẫn lên tầng trên.

– Lên chứ? Fayolle hỏi kị binh Pacotte.

– Nếu cậu thích.

– Cậu có nghe gì không?

– Không.

FayolIe đứng im. Anh đã nghe thấy một tiếng kẹt cửa hay ván sàn gì đó.

– Gió đấy thôi, Pacotte nói thì thào. Tớ nghĩ chẳng có ai lại dở hơi ở lại trong cái bẫy chuột này.

– Có thể là chuột bọ gì cũng nên, đúng thế, Fayolle nói. Chúng ta sẽ xác minh…

Fayolle đặt chân lên bậc thang đầu tiên, lưỡng lự giây lát, tai căng ra nghe ngóng. Pacotte đẩy Fayolle lên trước rồi cả hai cùng leo lên. Phía tầng trên, căn phòng tối om, họ chỉ phân biệt được hình dạng lờ mờ chập chờn của chiếc giường. Fayolle mò mẫm dọc theo bức tường cho tới lúc ngón tay chạm vào cánh cửa sổ, và chỉ một cú huých tay, anh ta bẻ gãy cửa sổ, mở toang những lá trập, tay vẫn không rời thanh kiếm. Anh quay lại. Pacotte mới leo lên đến bậc cầu thang cuối cùng. Mỗi người đứng ở một vị trí. Pacotte mở tiếp một cánh cửa hẹp còn Fayolle cúi xuống luồn vào phòng bên, một bóng người nhảy bổ vào Fayolle. Fayolle né mình, tiếng rít của lưỡi dao xiết vào lá chắn che ngực bằng sắt sau khi làm rách toạc chiếc áo măng tô màu nâu; Fayolle vung tay hất kẻ tấn công ngã lăn lông lốc đập vào bức tường; trong cảnh tranh tối tranh sáng, anh xỉa một nhát gươm rất mạnh vào đúng phần bụng trên của đối thủ; Fayolle chưa nhìn rõ kẻ tấn công mình thì đã cảm thấy máu nóng phọt vào bàn tay đang giữ chặt thanh kiếm cắm ngập vào thân mình kẻ thù đang oằn lên trong cơn giãy chết. Anh rút phắt lưỡi kiếm, kẻ tấn công gục ngã dưới mặt đất. Thiết kị Pacotte lao ra mở tung cửa sổ để nhìn rõ xem cái gì đã xảy ra: một người đàn ông cao lớn, đầu hói, một người lính già đang trong cơn hấp hối, thở khò khè trên mặt đất, máu từ mồm vọt ra như suối, đôi mắt trắng dã giống như những quả trứng luộc chín bóc vỏ.

– Đôi giày của hắn cũng không đến nỗi tồi đấy chứ, Fayolle?

– Chiếc áo vét của hắn cũng vậy, hơi ngắn một chút, nhưng con lợn này làm bẩn mất rồi!

– Còn tao, tao thích cái cặp dây đeo quần, nó bằng nhung rất mềm mại, thấy không…

Cả hai ngồi chồm hỗm lột sạch những thứ vừa nói, rồi đột nhiên, cùng giật nảy lên. Phía sau lưng họ hình như có tiếng nấc nghẹn ngào. Họ nhìn thấy một cô gái nông thôn mặc váy ngắn có nhiều nếp xếp, nép mình phía sau thanh đứng của chiếc giường. Cô gái hai tay che miệng, đôi mắt đen láy mở to. Lính thiết kị Pacotte nhắm bắn cô gái, nhưng Fayolle ngăn lại:

– Dừng lại đi, đồ ngu! Không cần thiết phải giết nó, đúng hơn là không phải ngay lập tức.

Fayolle tiến lại gần. Mũi kiếm vẫn đang rỏ từng giọt máu. Cô gái người Áo co rúm vì sợ hãi. Fayolle gí mũi kiếm vào dưới cằm cô gái ra lệnh đứng lên. Nhưng cô gái vẫn run bắn lên, không nhúc nhích.

– Nó chỉ hiểu thổ ngữ thôi, Fayolle ạ. Phải giúp nó thôi.

Pacotte nắm tay cô gái nâng dậy cho tựa vào bức tường, hai chân cô gái run lẩy bẩy. Hai tên lính đứng nhìn. Pacotte huýt gió tỏ ý mãn nguyện vì cô ta béo núc ních, hợp với sở thích của hắn. Fayolle quay mũi kiếm đẫm máu lau vào cái coóc-xê của cô gái, rồi bằng một đường kiếm ngọt xớt, hắn làm đứt tung mấy cái khuy bạc, rồi xé toạc luôn chiếc áo sơ mi đăng ten cộc tay, sau đó, rất nhanh, hắn giật phắt luôn chiếc mũ dạ. Mái tóc cô gái chảy xuống bờ vai, mái tóc lấp lánh những ánh phản chiếu nhiều màu sắc như tấm lụa Ấn Độ, trơn láng, lóng lánh.

– Dẫn ả về cho các sĩ quan chăng?

– Mày điên à?

– Có thể vẫn còn những thằng vai u thịt bắp xấu xa khác đang lăm lăm dao thái thịt theo dõi chúng ta đâu đó nữa cũng nên.

– Được, rồi sẽ xem xét, Fayolle vừa nói vừa xé toạc chiếc váy và phần còn lại của chiếc áo cô gái đang mặc. Mày đã biết mùi gái Áo bao giờ chưa hả Pacotte?

– Chưa. Chỉ có gái Đức thôi.

– Hử, chỉ với gái Đức thôi à, thế mà mày lại còn nói là chưa à.

– Ờ nhỉ, mày có lí.

– Nhưng mà gái Áo thì chưa mà?

– Với vẻ mặt này, con bé sẽ không ưng chúng ta đâu…

– Mày tin thế à? (nói với cô gái) Mày không thấy chúng tao đẹp trai à?

– Bọn tao làm cho mày sợ à?

– Này, Fayolle nói và cười khùng khục, nếu tao ở vào vị trí cô ta bây giờ thì cái mõm của mày đã làm tao phát khiếp lên rồi đấy! 

Bên ngoài có tiếng gọi, Fayolle tiến lại phía cửa sổ:

– Đừng rống lên như thế! Có du kích đấy…

Fayolle nói nửa chừng. Dưới sân, không chỉ có một mình người lính thiết kị. Tiếng khua lách cách của vũ khí, bụi cuốn mịt mù, tiếng rậm rịch của những đôi ủng nện trên mặt đường, trung đoàn kị binh vây hãm Essling vừa tới và Tướng Espagne bằng xương bằng thịt đang đứng ở dưới sân ngôi nhà:

– Các cậu kiểm tra kỹ rồi chứ? Ông hỏi.

– Vâng, thưa ngài, Fayolle đáp. Có một lão béo đã muốn mổ thịt tươi tôi đấy ạ.

Lính thiết kị Pacotte kéo xác người nông dân về phía cửa sổ, đặt xác chết lên bậc cửa rồi hất xuống đất. Cái xác rơi bịch xuống như một gói hàng mềm oặt làm cho con ngựa của Espagne nhảy chồm sang một bên.

– Còn gì khác nữa không?

– Chúng tôi chỉ bị thằng cha đó quấy rầy thôi, thưa Tướng quân…

Thế rồi, Fayolle nói với người đồng đội của hắn giữa hai kẽ răng:

– Này, mày không bị ngu đấy chứ hả? Sao mày không lấy đôi ủng của hắn, nó có vẻ rộng một chút nhưng còn tốt hơn chán vạn lần đôi giày vải đế cói của tao…

– Này, mấy cha trên kia! Tướng quân Espagne hét gọi một lần nữa. Xuống đi! Phải kiểm tra bằng hết những căn nhà gỗ tồi tàn kia, dọn sạch khu làng đi!

– Xin tuân lệnh, thưa Tướng quân!

– Thế còn con bé? Pacotte hỏi Fayolle.

– Cứ ủ ấm ở đây. 

Trước khi đuổi theo nhập vào đạo quân, Fayolle và Pacotte đã xé cái váy xanh của cô gái thành từng dải, lột dây đăng ten từ chiếc áo trói chặt cô gái nhà quê lại; sau đó, chúng nhét chiếc mũ vải vào mồm cô, lấy dây đeo quần bằng nhung tước được của xác chết cột vòng sau gáy. Chúng vứt cô gái lên tấm đệm sợi lanh. Trước khi chuồn đi, Fayolle còn hôn vào trán cô gái:

– Ngoan nhé, mèo cưng của anh, đừng lo lắng gì cả. Em đẹp như nàng Gironde, chúng ta không thể quên em được đâu. Này! Chiến lợi phẩm của chúng ta, con bé có cái trán nóng bỏng…

– Chắc nó bị sốt đấy.

Chúng đuổi theo đoàn quân, cười hềnh hệch.

* * *

Vincent Paradis khều mấy khúc củi cháy đen:

– Chỉ cần thổi ở phía dưới một lúc là lửa lại bén trở lại ngay thôi, thưa Đại tá.

– Bọn chúng phát hiện ra chúng ta, chúng đã chuồn xa rồi…

– Tôi không tin. Chúng ta chỉ có hai người. Còn bọn chúng nhiều hơn rất nhiều…

– Ngài cứ nhìn bãi cỏ bị ngựa xéo kia thì rõ.

Cùng với người lính trinh sát mới, Lejeune đã mở rộng phạm vi trinh sát sang tận phía bên kia ngôi làng, anh nghi có thám báo đang rình rập trong những khóm cây rậm rạp.

– Có thể đó là bọn kị binh đánh thuê lúc nãy thôi, chúng đã chuồn đi rồi, Lejeune nói.

– Hoặc là một bọn khác, chúng chưa đi xa được đâu. Chỗ này rất thuận tiện để chúng ta ẩn nấp, theo ngả này.

Lá cây lay động báo hiệu có chuyện chẳng lành, Lejeune lập tức nắm lấy khẩu súng ngắn.

– Chẳng có gì đâu, thưa Đại tá, Paradis nói. Chỉ là một con thú đang trèo lên cây sồi kia thôi. Nó còn kinh hãi hơn cả chúng ta.

– Cậu sợ à?

– Chưa.

– Nhưng mà nhìn cậu, tôi thấy cậu không mấy dễ chịu.

– Tôi không thích làm hư hỏng mùa màng khi cứ phi ngựa bừa trên những cánh đồng…

Lejeune đã mượn một con ngựa của lính pháo binh cho người lính mặc sắc phục khinh binh mà mình bảo hộ. Anh nhìn Paradis rồi nói:

– Ngày mai, người ta sẽ tàn sát lẫn nhau trên cánh đồng xanh mướt này. Sẽ có rất nhiều màu đỏ, và màu đỏ ấy không phải là hoa. Khi chiến tranh kết thúc…

– Sẽ có một cuộc chiến tranh khác thưa Đại tá. Với Hoàng đế, chiến tranh sẽ không bao giờ chấm dứt.

– Cậu có lí.

Họ quay ngựa trở về Essling, không vội vã nhưng vẫn thận trọng dò xét mọi vị trí. Lejeune hình như có ý đi chậm lại. Cầm cuốn sổ ký họa, anh vẽ một bức tranh phong cảnh êm đềm, không có bóng người. Trong làng, quân lính vẫn tiếp tục kéo vào đông nghịt. Trên quảng trường phía trước nhà thờ, Lejeune nhận ra Sainte-Croix và đám sĩ quan của Masséna. Thống chế chắc là đang ở đâu đó không xa. Thực ra là ông đang kiểm tra kho lương thực công cộng. Nằm ngay đầu một con đường trồng rất nhiều cây sồi, kho dự trữ cao ba tầng bằng gạch và đá phiến, nối liền với một trang trại rộng lớn bởi một khu vườn có tường bao quanh; kho dự trữ có nhiều cửa sổ trên mái, đầu hồi nhà có trổ những cửa sổ tròn và đặt mắt cáo sắt, tại đó lính bắn tỉa có thể phục kích.

– Ta đã đếm bốn mươi tám cửa sổ tất cả, Masséna nói với Lejeune. Tường dày hơn một mét, các cánh cửa và cửa chóp đều được lồng tôn đúp rất chắc chắn. Nhân đà này chúng ta rút về cố thủ tại đây. Này, Lejeune, ta đã ra lệnh tạm ngưng các biện pháp phòng thủ. Anh hãy báo cáo những mệnh lệnh sửa đổi này về Bộ tham mưu…

Masséna nhét mảnh giấy viết vội vào tay Đại tá, Lejeune nhìn lướt qua: ngôi nhà dài ba mươi sáu mét, rộng mười mét, tầng trệt có nhiều cửa sổ cách mặt đất chừng một mét sáu lăm…

– Ngài ở lại Essling à, thưa Công tước?

– Ta chưa quyết định cái gì cả, Masséna nói, nhưng phía bờ bên này thì có thể. Các anh mở rộng phạm vi trinh sát đến tận đâu rồi?

– Tới chỗ nhiều cây sồi của khu rừng đằng kia rồi ạ.

– Tình hình thế nào? Công cốc à?

– Có phát hiện được những dấu vết, nhưng không nhìn thấy một kẻ tình nghi nào cả.

– Thế à, Lasalle cũng nói như vậy. Espagne cũng nói thế. Lính thiết kị của ông ta chỉ giết được mỗi một thằng ác tâm. Vậy, cái thằng ngoan cố ấy vẫn còn ở lại đó làm gì? Ta linh cảm là bọn Áo vẫn có mặt khắp quanh đây, mũi ta thính lắm đấy nhé!

Masséna đi lại gần Lejeune nói thì thầm vào tai:

– Có tin tức gì cho ta không?

– Tin gì thưa ngài Công tước?

– Cái thằng ngốc nghếch này! Tất nhiên là tin về hàng triệu đồng của bọn Gênes chứ còn gì nữa!

– Daru khẳng định không hề có việc đó!

– Daru! Tất nhiên! Cái thằng dối trá ấy, hắn nhặt nhạnh tất cả những cái gì lấp lánh! Hắn như một con quạ! Không cần phải hỏi thằng Daru nữa! Thôi đi nghỉ đi!

Masséna đi vào kho, miệng càu nhàu.

* * *

Trong sân chính của lâu đài Schönbrunn, đứng trên một trục xe, Daru mở đại một chiếc túi xếp trên chiếc xe đầu tiên của đoàn xe, rồi ông ta kêu lên như một người điên:

– Toàn là đại mạch à?

– Không còn yến mạch nữa, thưa ngài Bá tước, một phụ tá của Daru nói giọng hơi khó chịu.

– Lại đại mạch! Thật không thể chấp nhận được! Ngựa cần yến mạch ăn chứ!

– Vụ thu hoạch không khả quan lắm, nên chỉ có đại mạch thôi…

– Beyle đâu rồi? Hắn làm ăn kiểu gì thế này, mẹ kiếp!

– Tôi thay ông ta, thưa ngài Bá tước.

– Thằng cha lười biếng ấy đâu rồi?

– Chắc đang trên giường, thưa ngài Bá tước.

– Cùng với ai, hả?

– Ông ta vẫn bị sốt, thưa Bá tước, đây này, tôi có tờ giấy xác nhận ông ấy bị sốt, xin gửi ngài coi đây…

Daru giật lấy mảnh giấy, đọc lướt nội dung tờ giấy cho phép Henri nghỉ ký tên Carino, một bác sĩ người Đức và được một bác sĩ phụ trách nhân sự của đội Cận vệ ký xác nhận. Do không có cớ gì để cáu nữa, Daru chỉ thiếu nước như bị ngạt thở, ông ta bốc một nắm hạt mạch ném vào mặt viên trợ lí:

– Này, thế ngựa chúng ta cứ phải chén đại mạch suốt à! Biến đi!

Nói rồi, Daru ra hiệu cho đoàn xe tiến về phía đảo Lobau. 

Henri lại nhức đầu khủng khiếp, phải dùng cà độc dược để điều trị. Nhưng thực ra, anh bị bệnh giang mai, bởi vì không còn từ nào khác để chỉ cái căn bệnh đỏng đảnh, mệt mỏi, nhưng không mấy nguy hiểm này, giữa những thằng con trai thì còn có thể cười cợt với căn bệnh đó được, nhưng nó ngăn cản quan hệ với phụ nữ. Anh cũng quen dần với sự thiệt thòi này. Tuy nhiên, căn bệnh không ngăn cản Henri tham gia những cuộc chiến đấu, lúc này, anh không nằm lì trên giường, bất chấp mỏi mệt và mồ hôi túa ra nhớp nháp khó chịu: anh đứng đợi ở cuối đường Prater, trong một cái lều đổ nát xiêu vẹo dành cho người đi săn, cách những ngôi nhà xây kiểu cách cổ quái bắt chước lối kiến trúc gothique không xa. Cách đây chừng vài tháng, ở Paris, anh say đắm một diễn viên dễ dãi, tên là Valentina, thường gọi đơn giản là Louise. Cũng như nhiều đồng nghiệp của mình, cô theo quân đội đến Vienne. Lần này, Henri hẹn cô đến đây để cắt đứt quan hệ. Vì bây giờ, lúc nào Henri cũng chỉ mơ về Anna Krauss. Những trận sốt kéo dài càng dẫn mối tình mới nảy nở này đến giai đoạn bùng cháy. Làm sao tránh mặt được Valentina? Cô nàng đã trở thành một vật cản thực sự. Henri muốn có tự do tuyệt đối. Làm sao để Valentina nhận biết được sự đoạn tuyệt này? Bằng sự phũ phàng ư? Henri không biết phải làm như thế nào. Bằng sự chán nản giả dối ư? Hay lạnh lùng? Henri mỉm cười một mình. Anh đã từng ghen khủng khiếp vì Valentina! Đã từng suýt nữa thì đấu kiếm với kẻ tình địch, một tay Đại úy bướng bỉnh thuộc lực lượng pháo kỵ binh: đó cũng là căn nguyên của căn bệnh đau đầu mà nhờ nó, mấy lần Henri được cứu thoát khỏi thương vong hoặc sự lố bịch. Valentina đến muộn. Cô ấy quên cuộc hẹn chăng? Anh đã gặp cô ở Paris mùa đông vừa qua tại nhà hát kịch Faydeau; Valentina hát bài Quán Bagnières, một vở ca kịch opéra mới mẻ và khiêm tốn của các soạn giả Jalabert và Catel:

Tay cầm chiếc mũ con con

mặc váy lụa kếp màu hoa dền dền

chiếc khăn san, giày hoa tuyệt mĩ 

thật tuyệt vời, trang phục của tôi…

Valentina đi xe ngựa đến, ăn vận như trong bài hát, có nghĩa là phù phiếm, nhưng váy lụa kếp nếp lại có hình hoa tú cầu, chân đi giày sa tanh, áo thêu diêm dúa, hai chiếc lông dài cắm trên chiếc mũ nhung màu đen. Bộ tóc nâu uốn thành lọn rủ xuống thái dương. Phấn trang điểm xanh lét theo mốt thời thượng lúc đó, người tròn lẳn, mũi nhọn, cặp mông núng nẩy theo từng bước đi, miệng cười nói vô tình khoe những chiếc răng mà cô biết chắc là nó rất đẹp.

– Amore mio[5]! Cô ta nói tiếng Ý ngữ điệu pha tạp kiểu thị dân.

– Valentina…

– Xong rồi anh ạ! Nhà hát kịch Carinthie sắp mở cửa lại rồi và nhà hát ở Vienne cũng vậy!

– Valentina…

– Em sắp đến biểu diễn ở đó đấy, Henri ạ! Ước mơ của em đấy! Ngay trên sân khấu thủ đô kịch nghệ này! Anh có hiểu không, chú dê đực của em?

Ừ đúng thế thật, chú dê đực hiểu được chứ, nhưng không làm sao nói được một câu đúng nghĩa và hoàn toàn không đủ dũng khí để dập tắt niềm hứng khởi của cô diễn viên xinh đẹp.

– Có bốn hàng ghế trên lô! Rồi những bối cảnh thay đổi trước mắt! Trên sân khấu, sẽ có cảnh núi lửa Vésuve phun trào!

– Một vở opéra về thành phố Pompei à?

– Không phải vậy, mà là vở về Dom Juan kia.

– Của Mozart à?

– Của Molière chứ!

– Nhưng, Valentina, trước hết em là một ca sĩ.

– Thì vở đó hát từ đầu đến cuối mà.

– Vở Dom Juan ư? Của Molière ư?

– Đúng thế, ngốc quá thôi!

Henri nhăn nhó. Anh không cảm thấy mình quá ngu đần, căm ghét tất cả những lời ám chỉ nhằm hạ uy tín anh. Henri cố tình tránh né, cho rằng sự trốn chạy đôi khi là giải pháp khôn khéo nhất, đặc biệt là trong tình yêu. Hai hàm răng đánh vào nhau lập cập, Henri rét run lên dù lúc này đang là tháng Năm dịu mát, nhưng cơn sốt chợt đến đó lại có lợi cho anh. Henri lấy khăn mùi soa lau trán, cảm thấy thật khó chịu và mệt mỏi:

– Valentina, anh ốm mất rồi.

– Em sẽ chăm sóc cho anh!

– Thôi, khỏi phiền đến em, em cần phải có nhiều thời gian để học lời thoại các vở kịch của Molière.

– Chúng ta sẽ tự xoay xở được mà. Này, anh sẽ giúp em thể hiện những đoạn đó nhé!

– Thôi, anh không muốn em lôi kéo anh như một viên bi.

– Không sao cả, chú dê đực của em ơi, em đủ can đảm để làm cùng một lúc nhiều việc, cả sự nghiệp và anh, ý em muốn nói: anh và sự nghiệp của em!

– Anh tin là em làm được mà Valentina…

– Anh đồng ý chứ?

– Ồ không.

– Thế anh phải rời Vienne à?

– Có thể! Vậy thì em sẽ theo anh!

– Thôi, hãy biết điều một tí đi…

Mình thật là ngốc nghếch, Henri nghĩ về dự định nói ra những từ ấy, sao lại để cho những lí lẽ của Valentina lôi kéo? Anh lúng túng vì càng tỏ ra thương hại thì Valentina càng quan tâm và càng yêu anh say đắm. Mọi quả chuông của tất cả các nhà thờ bắt đầu gióng lên.

– Năm giờ rồi kia à! Valentina nói.

– Sáu giờ rồi, Henri nói dối, anh đếm đúng sáu tiếng mà.

– Ôi, thế thì em đến trễ mất rồi, thật tệ hại.

– Nào, đi thử áo váy nhanh lên, học lại lời vai diễn của em đi.

– Em lấy xe ngựa đưa anh đi nhé.

– Anh đưa em đi.

Henri thả cô diễn viên ngay phía trước cửa nhà hát nơi cô sắp sửa biểu diễn. Trước khi từ biệt, nàng đã ôm hôn anh như một người điên; Henri khép mắt đáp lại nụ hôn trong sự mơ màng tới một đôi môi khác mà anh yêu quá nhiều và quá xa xôi. Valentina chạy về phía lối vào nhà hát, khi đến dưới hàng cột mặt tiền nhà hát, cô nàng quay lại đưa bàn tay đeo găng vẫy chào. Henri thở phào. Ta thật là hèn hạ! Anh nghĩ, rồi trao cho người đánh xe địa chỉ ngôi nhà màu hồng trong khu Jordangasse nơi anh đã trú từ ba đêm nay. Anh quên hết chiến tranh, bệnh tình, bè bạn, chỉ còn nghĩ đến cô nàng Krauss, một cô gái có mọi phẩm chất hoàn hảo. Henri tưởng tượng ra cô gái trong từng khoảnh khắc. Anh đã đánh giá rất cao Cimarosa, xếp ông ở thứ hạng cao hơn tất cả các nhạc sĩ, tuần trước, anh đã ngân nga những khúc nhạc của Mozart: buổi tối, Anna và mấy người em gái, với đàn violon đã chơi những khúc nhạc đó cho riêng anh trong căn phòng khách rộng lớn trống trải của họ.

Trên đảo Lobau chỉ có một ngôi nhà bằng đá, trước đây là điểm hẹn của các hoàng tử Habsbourg đến tránh những cơn giông bất chợt. Ông Constant xếp mấy khúc củi vào lò sưởi tầng trên. Những kẻ hầu hạ đang lau chùi, quét tước, xếp đặt những đồ đạc được một chiếc xe ngựa chở đến từ lâu đài bên làng Ebersdort, nơi đêm hôm trước Hoàng đế đã ngủ lại. Đầu bếp bày xoong chảo và bát đĩa, bắt buộc theo kiểu vùng Parme, mà Hoàng đế sẽ sử dụng khi dùng món mì ống Ngài thích, cùng với rượu vang Chambertin. Hai tên đầy tớ khênh chiếc giường sắt lên. Các thị thần trông nom và thúc giục công việc chuẩn bị:

– Nhanh lên!

– Bát đĩa này! Chân nến này!

– Thảm đặt ở đây, phía trên cầu thang ấy!

– Xin lỗi, thưa ngài Thống chế, chỗ này dành riêng cho Hoàng đế đấy ạ!

Thống chế Lannes không được nền nếp lắm, ông cao lớn hơn và khỏe mạnh hơn rất nhiều so với viên thị thần đang cản đường ông; Lannes nắm lấy vạt áo lấp lánh ánh bạc của viên thị thần và đẩy mạnh ông ta lên phía trước. Constant đi đến và nghe thấy tiếng gã gia nhân kêu the thé và tiếng la mắng oang oang quen thuộc của Thống chế. Ta phải nhượng bộ gã cà chớn này thôi, nghĩ rồi Lannes đành chiếm tầng trệt tá túc trong một căn phòng thấp phủ đầy rơm rạ. Ông nhận một chân nến, một chiếc ghế, rồi đặt thanh gươm, chiếc mũ hai sừng có những chiếc lông lên bàn làm việc vừa mới nhận. Lannes là người nổi tiếng bởi sự nóng nảy nhưng biết kiềm chế, cho nên những lúc như vậy, khuôn mặt ông đỏ bừng; bình thường khuôn mặt ông thật dễ chịu, những đường nét vuông vức, tóc sáng rủ những mớ ngắn và lượn sóng. Ở tuổi bốn mươi, nhưng ông chưa bị phát phì, người cứ thẳng đừ do cổ bị cứng từ một vết thương trong trận Saint-Jean d’Acre… Lannes thường nhớ tới nó mỗi khi cơn đau cũ bùng phát trở lại buộc ông phải đưa tay sờ nắn vào gáy… Đó là lần tấn công thứ mười hai nhằm mục tiêu chiếm lĩnh bằng được thành trì; ông đã leo được lên trên các vòng thành, từng bước nặng nề cùng với những người lính ném lựu của mình. Bạn ông, Tướng Rambaud vừa mới đến cung điện Djezzar-Pacha nhưng ông không nhận được sự ứng cứu cần thiết; ông bố trí quân phòng thủ tại một tu viện. Lannes nhìn hào rãnh ngổn ngang xác lính Thổ. Tướng Rambaud đã bị giết vì một viên đạn găm vào đầu. Ai cũng nghĩ là Lannes đã chết. Nhưng, ngày hôm sau, lại thấy ông nhảy lên ngựa và chỉ huy binh lính tiến đến dãy đồi Galilée…

Thống chế đã mỏi mệt sau mười lăm năm trận mạc đầy những hiểm nguy. Ông vừa chỉ huy cuộc rút lui khủng khiếp ở Saragosse. Giàu có, cưới được cô vợ xinh nhất, kín đáo nhất trong số các nữ Công tước của triều đình, con gái của một nghị sĩ, ông những muốn lui về sống cùng gia đình ở vùng Gascogne, chăm sóc hai đứa con trai cho chúng lớn khôn. Lannes tỏ ra mỏi mệt mỗi khi ra đi mà không biết là liệu mình có thể trở về một cách khác chứ không phải ở trong một cái hòm hay không. Tại sao Hoàng đế lại chối từ sự yên lành của ông? Cũng như ông, phần lớn các Thống chế chỉ khát khao sự yên bình nơi chiến trường. Những người ưa phiêu lưu, cùng với thời gian, đã trở thành những nhà tư sản. Tại Savigny, Davout làm những chiếc tổ bằng cành liễu cho lũ gà gô bốn móng và cho chúng ăn bánh mì; Ney và Marmont say mê việc làm vườn; MacDonald, Oudinu cảm thấy dễ chịu khi sống bên cạnh những người láng giềng; Bessières đi săn ngay tại vùng đất của mình ở Grignon nếu như ông không đi chơi với con cái. Còn Masséna, với khu trang trại của mình ở Rueil, ông nhìn khu Malmaison bên cạnh, nơi Hoàng đế lui về tá túc ở đó, nói: “Từ đây, tôi có thể đái tới nơi ở đó của Bệ hạ!” Theo lệnh, họ đến Áo chỉ huy những đội quân tạp nham và trẻ tuổi. Đế chế suy tàn rồi, dù mới chỉ tồn tại được năm năm. Họ cảm nhận được điều đó. Nhưng họ vẫn phải tiếp tục theo đuổi.

Lannes chuyển thái độ rất nhanh từ nóng giận sang trìu mến. Một hôm, ông đã viết cho vợ rằng Hoàng đế là kẻ thù tệ hại nhất của ông: “Ngài chỉ thích những lời nói hóm hỉnh thôi mỗi khi Ngài cần đến các người”; nhưng rồi, Napoléon ban cho ông nhiều đặc ân và họ lại cộng tác với nhau, số phận đã liên kết họ lại. Trên những bờ dốc dựng đứng của một dãy núi ở Tây Ban Nha, không mấy khi Hoàng đế phải bám vào tay Lannes. Họ đi bộ, chân xỏ vào những đôi ủng cao cổ bằng da, tuyết quất từng trận, họ trượt ngã oành oạch. Hai người cùng nhau nhồi đạn vào khẩu pháo, rồi mấy tinh binh kéo họ như trên một chiếc xe trượt tuyết lên đỉnh đèo Guadarrama. Những kỷ niệm xúc động đan xen lẫn lộn với những cơn ác mộng. Đôi khi, Lannes tiếc nuối tại sao không làm nghề thợ nhuộm. Ông đã bị động viên vào lính quá sớm. Ông đã được mọi người chú ý vì tính táo bạo liều lĩnh trong đội quân vùng Alpes, tuân lệnh của Tướng Augereau, ngay từ đầu cuộc phiêu lưu… Buông mình trên lớp đệm rơm, Lannes mơ màng nghĩ về hàng trăm giai đoạn mâu thuẫn trong cuộc đời từng trải của mình, Berthier đi vào phòng:

– Cứ khi nào có chuyện huyên náo đâu đó, thì đích thị là ông.

– Đúng thế, Alexandre, xin hãy tống cho tôi hình phạt không được ra khỏi nhà để tôi có được một khoảnh khắc ngủ yên! 

– Bệ hạ giao phó cho ông đám kị binh đấy.

– Thế Bessières đâu?

– Ông ấy trở thành thuộc hạ của ông.

Lannes ghét Bessières cũng giống như Berthier ghét Davout. Thống chế cười và mặt bớt khó chịu:

– Mong cho hắn tấn công đi, lão Quận công kia! Chúng ta sẽ đón lão trên đầu mũi kiếm!

Đúng lúc đó, Périgord và Lejeune hộc tốc chạy vào thông báo cho Tham mưu trưởng:

– Chiếc cầu nhỏ vừa bị đứt rồi!

– Thế là chúng ta không thể liên lạc với bên bờ trái được nữa rồi, ba phần tư lực lượng bị kẹt lại trên đảo.

* * *

Ánh trăng hạ huyền chiếu những làn ánh sáng yếu ớt trên đường phố dài Essling, nhưng dưới rặng cây của con đường dẫn đến kho dự trữ, trên quảng trường hay nơi bìa ruộng, Hoàng đế đã cho phép các trại lính được nổi lửa; cần phải cho bọn địch biết là toàn bộ đội quân vĩ đại đã vượt sông Danube, như thế nó sẽ kích thích kẻ địch tấn công theo kế hoạch đã định của Hoàng đế, dù rằng Quận công Charles có nổi tiếng vì tính rụt rè đi chăng nữa thì cũng sẽ bị mắc mưu. Cũng theo kế hoạch đó, lửa được đốt sáng khắp mọi nơi. Cô đầu bếp rót rượu tràn cốc và vui vẻ đón nhận những cái vỗ mông của những người lính, những bài hát rất phổ biến thời đó vang lên, những cái thìa xóc đầy thức ăn cho vội vào miệng, lính tráng nuốt vội suất ăn, đùa cợt thoải mái vì biết chắc rằng trận đánh sẽ xảy ra vào ngày hôm sau. Họ cởi bỏ áo giáp, đặt những chiếc mũ có chỏm lông dọc các bếp lửa, ánh sáng rọi vào lấp lánh. Họ sẵn sàng ngủ ngay giữa trời, như những con ngựa của họ, những người lính gác bảo vệ họ chăm chú quan sát cánh đồng, nhưng không phát hiện ra cái gì khả nghi cả, họ cũng đang ở trong tâm trạng chuếnh choáng hơi men. Một số người tìm được chút bột mì, một chai rượu, một con vịt, nhưng rất ít vì dân làng gần như đã mang đi hết gà vịt, thùng chậu, ngũ cốc. Lính thiết kị độc chiếm khu làng. Masséna đã quay lại Aspern trước khi trời tối, gần cây cầu nhỏ bị sóng đánh gãy, dưới ánh đuốc chiếu sáng, lính công binh sửa chữa cầu đang ngâm mình trong dòng nước lạnh giá cuộn chảy hung dữ, văng bùn tung tóe vào họ, tay chân họ tê cóng buốt giá.

Vây quanh Tướng Espagne là các sĩ quan lánh nạn đêm qua trong nhà thờ Essling; chiếc lan can bằng gỗ sơn ngăn gian giữa bị làm mồi cho những lò than, ánh lửa vạch ra trên tường những cái bóng dài lê thê. Trong chiếc áo măng tô, Espagne đứng lùi lại phía sau, tì tay trên bàn thờ, những hình bóng run rẩy trên tường đá nhảy nhót theo ngọn lửa không làm cho ông yên tâm. Ông có những linh cảm bất ổn từ nhiều tuần nay. Ông không thích vùng nông thôn này. Ông không lo lắng, nhưng thường hay giật mình. Ông im lặng nghĩ về cái chết. Những người lính thiết kị của ông biết rõ nỗi ám ảnh đang làm cho vị chỉ huy của họ hốt hoảng, ngay cả khi nét mặt ông không để lộ chút nào. Mọi người tôn trọng sự im lặng của ông. Họ kể cho nhau nghe những câu chuyện li kỳ về ông…

Fayolle và Pacotte cùng ăn chung món súp đặc trong một chiếc cà mên. Cả hai không biết là món súp gì, nhưng được cái ấm bụng. Họ nói với nhau về vị chỉ huy của mình. Pacotte không biết gì về vị tướng chỉ huy vì là lính mới tò te trong trung đoàn; còn Fayolle thì biết khá rõ: 

– Hồi ở lâu đài Bayreuth. Chúng tớ đến muộn, Tướng Espagne mệt mỏi, đã đi ngủ. Tớ ở cách đó không xa, trong khu cầu thang chính, cùng với một số người khác, thế rồi nửa đêm, chúng tớ nghe một tiếng thét rất to.

– Có ai đó định giết Tướng quân à?

– Khoan đã! Tiếng thét đó phát ra từ phòng Tướng quân, các sĩ quan tùy tùng chạy đến, tớ cũng chạy theo đám lính Cận vệ. Cửa khóa bên trong. Họ phải dùng một cái tràng kỷ nặng đẩy tung cánh cửa chạy vào…

– Thế rồi sao nữa?

– Đợi đã! Rồi mọi người nhìn thấy gì nào?

– Thấy cái gì hả?

– Chiếc giường đặt giữa phòng, bị lật ngược đè lên người Tướng quân.

– Các cậu vào thấy Tướng quân đang la hét à?

– Không, ông ấy ngất xỉu. Các bác sĩ nhanh chóng chích máu, mọi người chăm chú nhìn. Ông mở mắt hãi hùng rồi nhìn chúng tớ. Mặt ông tái xám, bác sĩ phải cho uống thuốc an thần. Sau đó ông ta nói, này, cậu phải bình tĩnh đấy nhé, Pacotte, ông ta nói: “Ta nhìn thấy một bóng ma cố tình nhảy vào muốn cắt cổ ta.”

– Thế à!

– Đừng có cười, cái thằng láo toét. Chiếc giường bị đổ là do đánh nhau với bóng ma đó.

– Cậu có tin không?

– Mọi người đề nghị Tướng quân mô tả lại con ma đó và ông đã vẽ một cách chính xác, và cậu có biết đó là cái gì không hả? Không, cậu không thể biết được đâu. Tớ sẽ nói cho cậu biết ngay bây giờ đây. Đó là bóng ma Bạch phu nhân của triều đại Habsbourg!

- Ai vậy?

– Mỗi khi bà ta xuất hiện trong các cung điện thành Vienne thì một hoàng tử trong hoàng gia Áo phải chết. Ba năm trước đây, bà ta đã đến cung Beyreuth. Hoàng tử Louis de Prusse đã đánh nhau với bà ta như Tướng quân của chúng ta hôm ấy.

– Thế ông ta có chết không?

– Sao lại không! Ông ta chết gần Saalfeld, cổ họng bị một tay khinh kị binh xuyên thủng. Còn vị Tướng của ta, mặt tái xanh, nhợt nhạt, ông nói thì thầm: “Sự xuất hiện của bà ta là điềm gở báo trước cái chết của ta”. Và thế là ông bỏ đi ngủ nơi khác.

– Thế cậu có tin vào những lời tầm phào đó không?

– Ngày mai, chuyện đó sẽ được kiểm nghiệm.

– Vậy thì cậu, Fayolle ạ, cậu đã tin rồi đó!

– Được! Tớ nói cậu chờ là để cho chắc chắn thôi.

– Thế nếu Tướng quân bị giết thì sao?

– Thế còn chúng ta thì sao?

– Chúng ta ư, có lẽ cũng không may mắn lắm đâu…

Điều không may mắn này làm cho Pacotte hết sức nghi ngờ. Ở thị trấn Ménilmontant, quê hương của anh, mọi người không tin lắm về những trò nhảm nhí này. Pacotte đang học nghề thợ mộc thì bị tuyển mộ vào lính. Anh có thói quen làm những việc cụ thể, như tiện một cái chân bàn, đóng đinh ván sàn, ném tiền vào quán rượu. Pacotte đập vào lưng Fayolle:

– Thôi, nói sang chuyện khác đi, anh bạn ạ. Chúng ta đến chỗ con bé Áo xem sao đi. Cô bé đang đợi chúng ta đó. Mới bị trói từ khi đó, tớ nghĩ là cô bé chưa biến thành ma được đâu!

– Cậu còn nhớ địa điểm không?

– Sẽ tìm thấy thôi. Làng đó chỉ có một phố thôi mà.

Họ tháo chiếc đèn treo trên đầu một chiếc xe ngựa rồi đi về phía làng Essling, nơi có những ngôi nhà giống nhau như cùng một khuôn đúc. Hai lần họ vào nhầm nhà. “Mẹ kiếp!” - Fayolle càu nhàu. - “Không tìm được ngôi nhà đó đâu!”. Đằng kia, dưới ánh đèn, Pacotte nhận ra xác của kẻ tấn công họ ban chiều chưa được ai chôn cất. Cả hai mỉm cười cùng đẩy cửa đi vào. Pacotte bước hụt bậc thang, ngọn đèn trên tay phụt tắt.

– Quái quỷ thật! Fayolle nói, tay lồng vào vạt áo nhấc cái chụp đèn nóng rẫy ra còn Pacotte thì đánh bật lửa quèn quẹt. Cuối cùng, bọn họ cũng leo được lên tầng trên, mò đến căn phòng nơi cô bé đang bị cầm giữ.

– Này, chào người đẹp, tiếng Đức nói thế nào hả mày? - Pacotte hỏi.

– Tớ chả biết, Fayolle nói.

– Con bé ngủ say quá nhỉ…

Đặt đèn xuống một cái ghế ba chân, cả hai cầm kiếm lăm lăm trong tay, Fayolle cắt đứt các dây trói cô gái. Thiết kị Pacotte tháo dải đăng ten ra, cho vào túi cái dây đeo quần bằng nhung đã dùng cột cổ cô gái, hắn cúi xuống hôn ngay vào giữa miệng cô gái tù nhân của chúng. Nhưng hắn nhảy vội về phía sau.

- Mẹ kiếp!

– Mày không biết đánh thức nó dậy à? Fayolle hỏi, cười hềnh hệch.

– Nó chết mẹ mất rồi!

Pacotte khạc nhổ xuống nền nhà rồi lấy ống áo lau miệng.

– Nhưng chân nó có lạnh đâu, con búp bê của chúng ta đây mà, Fayolle nói, tiếp tục sờ soạng cô gái.

– Đừng đụng đến nó, xui đấy!

Cậu không tin vào chuyện những con ma của tớ kia mà, nhưng mà này, sao răng cậu đánh vào nhau dữ thế? Nào tránh ra, đồ yếu bóng vía.

– Tớ không ở lại đây đâu.

– Thế thì biến đi! Để đèn lại đó cho tớ.

– Tớ không ở lại đây đâu, Fayolle, không nên thế, điều đó…

– Với tư cách một quân nhân đấy nhé! Fayolle nhạo báng, tay cởi dây lưng.

Pacotte mò mẫm bước xuống cầu thang. Ra đến bên ngoài, anh ta tựa lưng vào bờ tường ngôi nhà đang thở dốc, cảm thấy hối hận. Đôi chân như có kim châm. Pacotte không dám nghĩ đến kẻ tòng phạm của hắn đã làm gì cô gái nông dân đáng thương, bị chết ngạt vì mảnh vải bịt miệng mà hắn đã thắt quá chặt. Hắn có vẻ huênh hoang, nhưng rõ ràng là hắn không bao giờ muốn giết cô gái đó. Trong chiến tranh, chết chóc là điều không thể tránh được, nhưng trường hợp này thì thế nào nhỉ?

Nhiều phút trôi qua.

Đằng kia, gần nhà thờ, những người lính đang hát.

Rồi cuối cùng. Fayolle cũng đi ra. Cả hai không nói với nhau một lời nào về cô gái người Áo đó. Đột nhiên, Pacotte đề nghị:

– Đưa cho tớ cây đèn, tớ buồn nôn quá.

– Cậu thì cần gì phải nhìn, còn tớ thì có đấy.

– Nhìn cái gì?

– Đôi giày mới của tớ.

Hắn chỉ vào cái xác chết đang nằm phơi trên sân nhỏ:

– Đã đến lúc phải an ủi gã đàn ông đi đôi ghệt kia. Tớ cần đôi ghệt đó hơn lão ta chứ, phải không?

Fayolle ngồi chồm hỗm, đặt ngọn đèn xuống đất. Hắn tháo mấy cái đinh thúc ngựa ra để thử đôi giày của xác chết, hắn càu nhàu: Không vừa! Hắn thất vọng đứng lên, gọi: 

- Pacotte! 

Ngọn đèn cầm trên tay, hắn đi ra ngoài phố, mồm vẫn cằn nhằn:

– Mày không trả lời được à, đồ con lợn?

Phát hiện một hình người nằm cạnh gốc cây, Fayolle tiến lại:

– Mày phải ôm thân cây mới nôn mửa được sao?

Hắn đạp bừa lên đám cỏ và cây tầm ma, vấp chân vào một vật cản, có lẽ là một thân cây bị đốn hạ. Hắn khẽ hất chân một lần nữa, nhưng quái lạ, không phải gỗ mà là cái gì đó mềm như một cái xác. Hắn cúi xuống soi đèn và nhìn thấy rõ ràng bộ quần áo lính. Người lính nằm úp mặt xuống đất, không rõ là ai nên hắn phải lật lại: một đống nôn mửa bầy nhầy và cả máu nữa. Trời ơi, anh bạn Pacotte của hắn đã bị đâm một nhát dao vào cổ họng.

– Trời ơi, có người bị giết, báo động!

Cách đó mấy bước chân, trong chỗ tối, bóng những người du kích Áo thuộc lực lượng Landwehr trong trang phục màu lông chuột, mũ đen có ngụy trang cành cây chạy lom khom, rồi biến mất vào cánh đồng lúa mạch.

* * *

Masséna cho nhóm lửa cháy rừng rực và cột chặt những ngọn đèn vào đầu các cây cột chống. Ông trao bộ quần áo thêu sợi vàng và chiếc mũ hai sừng cho viên sĩ quan tùy tùng. Ông tăng thêm quân để đẩy nhanh việc gia cố cây cầu nhỏ. Đôi ủng ngập trong bùn, Masséna túm chặt cổ áo một người lính đang đóng chân cầu bị một xoáy nước rất mạnh nhấn chìm. Masséna khỏe như trâu. Ông trèo lên những cột dầm, vác ván, nêu gương cho mọi người. Một mình ông có thể đảm đương công việc của cả một chục người. Ông không bao giờ bị ốm. À có, chỉ một lần duy nhất ở Ý: việc buôn bán giấy phép nhập khẩu đã mang lại cho ông ba triệu quan, một món lợi kếch xù. Nhưng rồi, Hoàng đế biết được, đã yêu cầu ông phải nộp một phần ba vào ngân khố nhà nước; Thống chế đã khóc mà rằng sau đống của cải của mình, gia đình cũng quý giá đối với ông, rằng bản thân ông cũng nghèo túng, nợ nần chồng chất. Rốt cuộc, Hoàng đế đã ra lệnh tịch thu toàn bộ số của cải ông gửi ở ngân hàng Livourne. Thế là Masséna đổ bệnh.

Trong chiến đấu cũng như lúc chỉ huy, Thống chế quên hết những phi vụ cướp bóc của mình, quên thói hà tiện và vàng của người thành Giênes mà theo ông nó đã ngủ vùi trong két sắt thành Vienne; nhưng về sau, ông có vẻ bồn chồn lo lắng về chúng. Chẳng phải gắng sức gì mấy, ông nhấc bổng một cây xà gồ to tướng để lính công binh dùng dây chão neo chặt vào một trong những chiếc thuyền chở những hòn đá tảng nhằm giảm bớt sự xô lắc của những cơn sóng dữ. Một vài mảnh ván bung ra khỏi mặt sàn đang làm dở rơi xuống dòng sông rồi bị nước cuốn đi. Masséna gào thét như một con quỷ. Trước mặt, trên đảo, một tốp lính bắc cầu khác đang cố sức giữ chặt mối liên kết; hai kíp công binh phải hợp nhau ở khoảng giữa nhánh sông hung dữ của sông Danube. Họ đã gần đạt được mục đích và lúc này, đang ném những sợi dây chão dùng để buộc những hòn đá cho nhau, những người đứng phía trước cố chộp lấy sợi cáp đang bay tới để căng ra làm thành một cái lan lan chưa ra hình thù gì. Phía dưới, những con sóng vẫn dềnh lên chảy xiết, những người lính cứ tiến lên, người nọ nối tiếp người kia, xà nối xà, ván nối ván, họ kéo, buộc, đóng đinh cố định các mảnh ván dưới ánh sáng lấp loáng đỏ nhạt của những đống lửa lớn. Những người lính mệt nhoài lạnh cóng vì bị những ngọn sóng xô đẩy, tung bọt trắng xóa khi va đập vào cây cầu, một hàng cọc người đứng làm tiêu binh mắc dây vào nhau. Masséna động viên và cả chửi rủa họ như một kẻ chuyên đi thuần hóa súc vật. Trên cổ ông, đỏm dáng một chiếc cà vạt, lúc này đã bị xoắn quăn, hai ống tay áo sơ mi bằng lụa xắn lên tận khuỷu. Ông đứng sát mép ngoài cây cầu mới được gia cố lại, tay trái nâng một mớ dây xích, ném cho một hạ sĩ đang neo người trên trụ cầu: “Quấn chặt vào cái cột đó!”. Hai bàn tay người hạ sĩ buốt giá, loay hoay mãi không sao quấn được sợi xích vào cây cột đã định, sóng đánh mạnh, chiếc thuyền tròng trành, nghiêng ngả, mấy lần anh ta mất thăng bằng suýt ngã nhào xuống dòng sông, những giọt nước lạnh giá liên tục táp vào giữa mặt. Masséna lần theo sợi dây đến chỗ người lính, đẩy anh chàng vô tích sự ra rồi buộc sợi xích vào. Một ngọn gió thổi mạnh cuốn theo đám khói đặc quánh làm lính tráng ho sặc sụa, nhưng công việc vẫn tiếp tục trong bóng tối. “Sang phải, sang phải chút nữa!” Masséna chỉ có một mắt, thế mà còn nhìn rõ trong đêm tối hơn cả đám lính cầu đã qua huấn luyện, ông hét to, chỉ huy họ căn chỉnh vị trí. Từ phía bên kia, trên đảo Lobau, bộ phận còn lại của đơn vị, túi đã đeo sẵn sàng trên lưng, súng sẵn sàng dưới chân đang chờ lệnh để vượt cầu. Những người đứng hàng đầu đã nhìn thấy Thống chế của họ. Nếu như trước đây, họ không yêu mến ông thì đêm nay họ cũng phải thán phục trước sự khéo léo, dạn dày kinh nghiệm trận mạc của ông. Một số binh lính khác cầu khẩn cho cái cầu bẩn thỉu đó đừng bao giờ đứng vững được trên sông, mong cho dòng sông Danube sẽ huỷ hoại mọi cố gắng để họ được trở về nhà.

* * *

Cách đó hơn hai trăm mét, giữa một khoảng rừng trống nằm ở trung tâm đảo, sĩ quan thuộc Bộ tham mưu và các nhân viên đang thư giãn trên bãi cỏ. Trong những chiếc hộp nhỏ gia công rất tinh xảo, rất nhiều người trong bọn họ mang ra nào nhẫn, nào chân dung thu nhỏ, một lọn tóc của người yêu, những thứ mà họ coi là quý giá nhất ra nhìn ngắm để quên đi cái hiện tại khốc liệt. Một vài người hát đi hát lại cái điệp khúc thương nhớ quê hương:

Anh xa em đi vào cõi vinh quang

Trái tim em dịu êm sẽ theo anh khắp mọi nẻo đường…

* * *

Lejeune ngồi dưới gốc cây du im lặng. Trong khi đó, người sĩ quan tuỳ tùng của anh đang chống cả bốn tay chân lom khom thổi lửa, còn Paradis thì đang lột da hai con thỏ vừa tóm được nhờ cái ná cao su tự tạo. Đêm tối đồng quê, sự yên tĩnh, màu xanh mướt mát tạo nguồn cảm hứng cho Périgord, anh đọc một đoạn văn của Jean-Jacques Rousseau:

– Ngủ trên thảm cỏ, dưới bầu trời đầy sao lấp lánh, mùa hè, không phải lúc nào cũng có được thời tiết như thế. Những con kiến bò miên man. Rồi những con chim đánh thức chúng ta lúc hừng đông bằng những tiếng kêu ồn ã. Nhưng có lẽ tốt hơn hết vẫn là nên ở lại với những tấm đệm êm ấm, cửa sổ đóng kín, cùng với người đàn bà hấp dẫn, nói thật ra, tôi hơi kém chịu rét.

Rồi Périgord nói với Paradis:

– Giữ cho ta tấm da nhé, chàng trai. Thứ đó đóng giày thì tuyệt đó… Những con thỏ! Mỗi khi ta nhìn thấy con vật này, ta lại cứ liên tưởng tới cuộc đi săn nhỡ nhàng ở Grosbois! Tham mưu trưởng của chúng ta, ông ấy thật là đại ngu!

– Vụng về thì có, chứ không phải là ngu, Lejeune chữa lại. Đừng có phóng đại lên thế Edmond. Rồi có khi chúng ta cũng chẳng còn có lấy một cuộc đi săn hụt như thế nữa đâu.

– Các anh nói chuyện gì vậy? Một Đại tá chỉ huy khinh kị binh đi ngang qua khoái trá nghe được câu chuyện ngồi lê mách lẻo này hỏi.

– Từ ngày hôm nay, để nịnh Hoàng đế…

– Để làm vừa lòng Ngài. Lejeune chỉnh lại.

– Cũng thế cả thôi, Louis-François ạ!

– Không.

– Để nịnh nọt Hoàng đế, Thống chế nhà ta… người lính khinh kị binh nhắc lại cổ vũ tay Périgord hay nói xấu.

– Thống chế Berthier, tay Đại tá khinh kị binh nói tiếp, đã tổ chức cho Hoàng đế một cuộc săn thỏ ở Grosbois. Nhưng vùng đất này lại không có thỏ. Cho nên, Thống chế phải làm như thế nào có biết không? Ông cho đặt hàng khoảng một nghìn con thỏ. Đúng ngày hẹn, người ta mang thỏ đến thả ra, nhưng đáng lẽ thỏ phải tẩu nhanh để tránh những họng súng, thì chúng lại chạy về phía những người thợ săn - khách mời của Thống chế, quẩn cả vào giữa những đôi ủng của họ, chẳng giống thỏ hoang một chút nào. Và nguy hiểm là thiếu chút nữa thì làm Hoàng đế sảy chân. Thì ra lúc đặt hàng, Thống chế đã quên không nói rõ là ông cần những con thỏ hoang, thế nên người ta mới cung cấp cho ông những con thỏ ăn củ cải; trông thấy người, lũ thỏ tưởng là người mang thức ăn lại cho chúng!

Périgord cười chảy nước mắt và viên sĩ quan khinh binh cũng ôm bụng cười ngặt nghẽo. Lejeune đứng lên trước khi câu chuyện kết thúc vì đã nghe câu chuyện đó quá nhiều lần rồi nên không còn cười được nữa. Dưới con mắt mọi người, Berthier đôi khi bị coi là một kẻ đần độn và thái độ đó làm cho Lejeune hơi bực mình; anh mang ơn ông trong việc được thăng quan tiến chức và vị trí công tác. Tại Hà Lan, Lejeune mới là một hạ sĩ quan bộ binh trẻ, sau đó nhờ vào tài năng, anh trở thành sĩ quan công binh. Berthier đã chú ý đến Lejeune và mang anh theo như một sĩ quan tùy tùng. Nhiệm vụ đầu tiên của anh, Lejeune nhớ lại, là hộ tống những túi vàng cho các cha xứ vùng Valais, vì họ góp sức vào việc huấn luyện pháo binh phía bên kia dãy Alpes… Tiếp đó, Lejeune đã theo Thống chế đi khắp mọi nơi; anh biết rõ giá trị của ông và quá khứ của ông, những trận đánh nổi tiếng của ông bên cạnh những người Mỹ khởi nghĩa, ở New York, ở Yorktown, cuộc hội kiến của ông với Frédéric Đệ nhị tại Potsdam, sự gắn bó chặt chẽ của ông, ngay khi cuộc chiến tranh với Ý xảy ra, với viên Tướng trẻ Bonaparte mà ông đã đoán được số mệnh, rồi với Napoléon mà ông đã lần lượt phục vụ với các tư cách một người tin cẩn, một kẻ tâm tình, một vú nuôi và là một người luôn bị bắt nạt. Từ nhiều tuần nay, Davout và Masséna đã phao những tin tức không đúng về ông. Khởi đầu cuộc chiến với Áo, Berthier đã triển khai chiến dịch đơn thương độc mã, tuyệt đối tin tưởng và chấp hành các mệnh lệnh của Hoàng đế, nhưng những mệnh lệnh của Napoléon từ Paris gởi cho ông thường xuyên đến muộn, và tình hình trên chiến trường thì thay đổi nhanh chóng, đó chính là nguyên nhân của những cuộc tập trận nguy hiểm có nguy cơ đưa quân đội đến chỗ thảm họa. Hoàng đế cứ để mặc cho Berthier bị kết tội, còn Berthier thì không bao giờ tìm cách thanh minh, như cái buổi đi săn tại Rueil, Hoàng đế giương súng bắn bừa vào đám gà gô đang bay, kết quả là làm Masséna chột mắt. Ấy thế mà Hoàng đế lại quay sang Berthier trung thành:

– Anh làm Masséna bị thương rồi đấy!

– Đâu có, thưa Bệ hạ, chính Ngài thì có.

– Ta ư? Mọi người đều trông thấy rõ ràng là anh bắn ngang mà lại!

– Nhưng thưa Ngài…

– Thôi, đừng cãi nữa!

Hoàng đế luôn là người có lí, nhất là khi Ngài nói dối; không có chuyện cãi lại. Sự thù hận của Masséna đối với Berthier trở nên dai dẳng. Mối thù hận đó bắt đầu từ thời Masséna chỉ huy quân đội Rome cướp bóc Quirinal, Vatican, các tu viện, cung điện cho chính cái túi tham của ông ta. Không được trả lương, quân đội nổi loạn chống lại kẻ trục lợi. Bị hạn chế phân phối bánh mì đen, bị đối xử tồi tệ, những người La Mã của Trastevere lợi dụng lúc hỗn độn đã nổi loạn. Trước đền Panthéon d’Agrippa, sĩ quan thuộc đám quân nổi loạn đã trao quyền chỉ huy cho Berthier, ông đành phải chấp nhận lời đề nghị để dẹp yên những tư tưởng nổi loạn và đề nghị Ban đốc chính triệu hồi Masséna về nước, Masséna đã phải trốn tránh sự tức giận của chính những người lính của mình, nhưng không bao giờ bỏ qua chuyện đó.

Lejeune nhún vai. Sự đua tranh này đối với anh hình như có vẻ khốn nạn. Thực tình anh muốn ở lại Vienne, cởi bỏ bộ quân phục lòe loẹt, ra đi với tập giấy và chiếc bút chì trên tay, rong chơi trên những ngọn đồi, đem theo Anna, đi du ngoạn, sống cùng với cô ấy, được chiêm ngưỡng cô ấy mãi mãi. Trung thực với chính mình, tuy nhiên, Đại tá Lejeune biết rằng cái thiện có thể sinh ra từ cái ác, rằng nếu không có cuộc chiến tranh này thì anh không bao giờ gặp được Anna. Tiếng la ó lôi anh ra khỏi cơn mộng mị. Trên chiếc cầu phao lớn, Hoàng đế đang trên đường đến hòn đảo đầy lính đồn trú, đi trước là quan giám mã Caulaincourt đang giữ dây cương ngựa.

Trên tầng hai ngôi nhà sơn màu hồng trong thành Vienne, bên ngọn nến, Henri Beyle đang ngắm nhìn các bức chân dung của Anna Krauss do Lejeune phác họa. Nàng ngồi trong một tư thế rất thoải mái và không một chút rụt rè. Henri chiêm ngưỡng sự giống nhau giữa các bức họa. Anh nhìn chằm chặp vào những tờ giấy cho tới khi chúng biến thành một khuôn mẫu bằng xương bằng thịt, có sức sống và cử động. Anna trong bộ váy dài đang vén những lọn tóc đen nhánh; Anna đang ưu tư nhìn nghiêng, dõi theo cái gì đó ở ngoài cửa sổ; Anna đang thiu thiu ngủ trong đống chăn gối; Anna đang đứng và thoát y vũ như một thiên thần được Phidias tạo dáng, nó siêu thực bởi sự hoàn thiện tuyệt mỹ và nó khiêu khích bởi kiểu dáng, tư thế buông thả, hoang dã. Lại nữa, nàng trong một bức ảnh khác, nhìn từ phía sau; nàng cúi mình trên thành ghế sofa, cằm đặt trên đầu gối, ánh mắt thẳng thắn như xoáy vào người nghệ sĩ đang vẽ nàng. Henri choáng váng và khó ở, vì có cảm giác như đột nhiên bắt gặp cô gái trong bồn tắm, nhưng không làm cách nào tách cô gái ra khỏi trang giấy. Ăn cắp một bức họa có sao không nhỉ? Louis-François liệu có biết không? Nhiều tranh phác họa quá. Liệu Lejeune có hoàn thiện những mẫu phác thảo này thành các bức tranh không? Rồi Henri khuấy động lại những ý nghĩ khủng khiếp đã từng bị vứt bỏ bởi chính lập luận của mình. (Nhưng liệu lập luận ấy đã đầy đủ và hợp lí chưa?) Tóm lại, anh hi vọng một cách mong manh, rối rắm rằng Louis-François sẽ chết ở ngoài chiến địa, để an ủi Anna Krauss, Henri phải thay thế Lejeune ở lại bên cạnh cô ấy. Nhưng xem ra không thể được, bởi cô gái chỉ yêu người họa sĩ.

Cửa sổ khép hờ, đêm yên bình. Henri nghe rõ từng nốt dương cầm điêu luyện, cao quý, anh đi ra cúi xuống xác định xem tiếng nhạc phát ra từ hướng nào.

– Ông có thích bản nhạc đó không, thưa ông?

Henri quay lại, cảm thấy mình quá sơ hở. Một người đàn ông xa lạ, cầm ngọn nến trên tay đã vào trong phòng. Henri không nhìn rõ ông ta là ai bèn cất tiếng hỏi:

– Anh vào đây bằng cách nào?

– Cửa phòng mở, tôi thấy có ánh đèn trong phòng ông.

Henri bước lại gần, quan sát kẻ không mời mà đến. Hắn có khuôn mặt con gái, đôi mắt sáng. Hắn nói tiếng Pháp bằng thứ giọng chối tai.

– Anh là ai?

– Tôi cũng là một người thuê phòng ở đây thôi, nhưng, tôi ở trên căn phòng áp mái.

– Thế anh đi ngang qua đây à?

– Tôi ghé qua đây.

– Anh từ đâu đến đây?

– Từ Erfurt. Tôi làm việc cho một công ty thương mại.

– Vậy, Henri nói, anh là người Đức à. Tôi phụ trách việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho quân đội ở đây.

– Tôi chả có gì để bán cả, người thanh niên trả lời. Tôi không làm việc ở Vienne.

– Thế thì chắc hẳn anh là một người bạn của gia đình Krauss?

– Nếu ông muốn như vậy.

Vừa hỏi, Henri vừa lật úp những bức họa của Lejeune, không muốn để cho người lạ trông thấy, nhưng người thanh niên Đức không để ý đến các bức tranh, mà cứ nhìn Henri chằm chặp:

Tôi tên là Priedrich Staps. Cha tôi là mục sư đạo Luthér[6]. Tôi đến Vienne để gặp Hoàng đế của các ông, liệu có được không?

– Nếu Hoàng đế quay lại lâu đài Schönbrunn, thì anh hãy xin yết kiến. Anh muốn trình bày với Ngài điều gì vậy?

– Gặp ông ta thôi.

– Chỉ để chiêm ngưỡng Bệ hạ thôi sao?

– Không hẳn như ông nghĩ đâu.

Cuộc nói chuyện đến hồi khó chịu; Henri đề nghị:

– Thôi thế này anh Staps ạ, chúng ta sẽ gặp nhau vào ngày mai. Hôm nay, tôi mệt quá, tôi không thể ra khỏi nhà được.

– Người đang chơi đàn piano ở căn nhà phía đối diện kia, ông ta cũng đang ốm đấy.

– Thế anh cũng quen ông ta à?

– Đó là ngài Haydn.

– Haydn à! Henri nói rồi bước lại bên cửa sổ để nghe cho rõ bản nhạc của người nhạc công lừng danh ấy.

– Ông ta nằm liệt giường từ khi nhìn thấy quân đội Pháp diễu trên đường phố, Friedrich Staps tiếp tục nói. Ông chỉ ngồi dậy để dạo bài quốc ca Áo do chính ông sáng tác mà thôi.

Nói đến đó, chàng trai ngừng lời đưa hai ngón tay bóp tắt ngọn nến. Henri đứng trong bóng tối. Anh nghe tiếng khép cửa, cất tiếng chửi thề:

– Mẹ kiếp! Thằng Đức này điên thật rồi. Không biết bật lửa nhét vào đâu mất rồi?

* * *

Khoảng ba giờ sáng, những đơn vị cuối cùng đã vượt qua chiếc cầu nhỏ được gia cố sang lập trại trên bờ trái sông Danube nằm giữa hai khu làng Aspern và Essling. Tinh thần cảnh giác được phát động. Lính tráng và các sĩ quan không ngủ hoặc chỉ ngủ chập chờn. Thống chế Lannes không rời mắt khỏi bộ đồng phục lộng lẫy đặt trên chiếc ghế, ánh sáng của ngọn nến làm cho những sợi vàng thêm lóng lánh. Mờ sáng hôm sau, ông mặc bộ quần áo đó, dẫn đầu đoàn kị binh, nếu không phải để lao vào một cuộc tàn sát mới, thì ít nhất, cũng lao vào một cái mõm vô hình. Ông dẫn đầu đoàn quân, huân chương lấp lánh trên ngực, cả sợi dây gù của Thánh André mà Nga hoàng đã ban tặng cho ông. Bộ quần áo đó như chỉ điểm cho kẻ thù vị trí của ông. Ông biết rõ sự nguy hiểm, nhưng ông muốn như vậy để có dịp thể hiện những đường kiếm điệu nghệ và đó chính là nghề nghiệp của ông. Tất nhiên, ông chán chiến tranh lắm rồi. Những điều chứng kiến ở Tây Ban Nha vẫn còn làm cho ông chán ngấy; ông không bao giờ tìm lại được giấc ngủ yên bình. Ở Tây Ban Nha, chiến trận không thường xuyên xảy ra, quân ngũ không tề chỉnh, nhưng một cuộc chiến tranh vô danh đã bùng nổ vào cùng ngày ở Oviedo và Valence, không khẩu hiệu, và bỗng nhiên, trước mặt ông xuất hiện một đạo quân gồm hai mươi dân cày do quan án của họ chỉ huy làm cuộc nổi dậy. Rồi chả mấy chốc, quân số của họ đã tăng lên hàng triệu. Những người chăn bò vùng Andalousie cùng với những ngọn lao đánh dấu bò tót đã giành thắng lợi ở Baylen, sau đó, chiến tranh du kích dai dẳng trên các vùng rừng núi; thù hận khắp mọi nơi. Tại Saragosse, những đứa trẻ láu cá luồn dưới bụng ngựa của các kị binh cầm giáo người Ba Lan để mổ bụng họ, các tu sĩ sản xuất đạn ngay tại các tu viện, họ đào đất khai thác kali nitrat[7] ngay giữa đường phố. Binh lính của Lannes bị những mảnh vỏ chai vỡ, những viên gạch lát đường nện vào đầu, vào người, và tồi tệ hơn nếu họ bị bắt, thì sẽ bị xẻo mũi, chôn sống ngập đến tận cổ để làm trò chơi cho quân du kích. Trên tàu giam tù Cadix, bao nhiêu người đã bị chấy rận ăn thịt? Bao nhiêu người bị cắt cổ hoặc bị quân du kích kẹp giữa hai tấm ván cưa ngang người? Bao nhiêu người bị ném vào lửa, bị chặt chân, cắt lưỡi, móc mắt, mất mũi, mất tai?

– Ngài nghĩ gì thế, thưa Công tước?

Lannes, Công tước xứ Montebello, từ chối không chịu thổ lộ tâm tình với Rosalie, một cô gái thích phiêu lưu mạo hiểm như bao nhiêu phụ nữ khác đi với hậu quân kiếm tìm hạnh phúc, vài ba đồng xu, những món trang sức hàng mã, lượm lặt những câu chuyện để mua vui. Lannes không phải là loại người không chung thủy, ông rất yêu thương vợ, nhưng lúc này nàng lại đang ở quá xa và ông cảm thấy quá cô độc. Ông vừa phải nhượng bộ cô gái cao lớn, tóc vàng buông lả lướt, trút bỏ áo quần xuống đệm rơm. Ông lặng im vì đang có những mối ám ảnh bận tâm khác. Ông nhớ lại những đứa trẻ bị găm trên đầu mũi lê trong khi đang ngủ trong nôi. Tên lính chiến hung bạo nói với ông: “Ban đầu thật không dễ gì, thưa ngài Thống chế, nhưng mà rồi cũng quen đi”. Nhưng Lannes không thể nào quen được.

– Em không phải là bồ của anh đâu nhé, đúng không nào? Mà là cái ông trên kia kìa…

* * *

Rosalie không nhầm. Hoàng đế đang rảo bước ở tầng trên, bước chân như gõ vào dây thần kinh Lannes. Nếu ngày mai, ông nghĩ, một viên đạn cắt mình ra làm đôi, thì ít ra đêm nay ông đã có thể ngủ ngon mà không mộng mị gì!

– Lại đây với em đi, ông ấy đi rồi, Rosalie nói.

Hoàng đế đã xuống cầu thang với đám lính Cận vệ bao quanh như một lũ chó dogue[8]. Lannes nghe tiếng bồng súng chào của đám lính gác. Ông đứng lên nhìn chiếc đồng hồ bằng vàng chạm trổ. Ba giờ rưỡi rồi. Mấy giờ thì mặt trời mọc và rồi thì trò hề gì nữa sẽ xảy ra?

Rosalie nhấn mạnh:

– Lại đây đi anh!

Cuối cùng, Lannes nhượng bộ.

* * *

Napoléon đến chỗ Masséna lúc này đang ở trên tháp chuông Aspern.

– Bọn chúng sẵn sàng rồi đó thưa Bệ hạ, Masséna nói.

Hoàng đế không nói gì cả, Ngài giật lấy ống nhòm từ trên tay Masséna rồi tì vào vai một lính long kị quan sát: trại lính nhuộm đường chân trời bằng những điểm đỏ, chập chờn. Ngài tưởng tượng cuộc chiến xảy ra vào vụ gặt, Ngài nghe thấy tiếng pháo nổ, những tiếng kêu thét, những tiếng gãy vụn, đổ sụp, vỡ ra làm cả châu Âu khiếp sợ. “Một tiếng vang vĩ đại, Ngài suy nghĩ, đó chính là một tiếng nổ lớn. Tiếng nổ càng lớn thì tiếng vang càng xa. Hiến pháp, Pháp luật, những tượng đài, các dân tộc, những con người, tất cả biến mất nhưng tiếng nổ thì tiếp tục vang vọng tới hàng thế kỷ sau”. Trên cánh đồng Marchfeld trải dài trước mặt, Napoléon biết rằng Marc Aurèle đã từng đè bẹp các thần dân xứ Marcomans của vua Vadomar cũng như Ngài sắp nghiền nát đạo quân Áo của Quận công Charles. Hình ảnh đó tạo cho Napoléon một niềm hứng khởi khôn tả. Vào thời La Mã, nơi đây chưa có những cánh đồng lúa mạch, chỉ có đầm lầy, lau sậy, cỏ và những đám cây thạch thảo. Lính lê dương làm một con đường qua rừng Bohême, họ đã tàn sát nhiều gấu và bò rừng. Những đạo quân gốc gác nông dân nổi tiếng của Latium, vụng về nhưng rất tuân thủ mệnh lệnh không còn nữa, mà thay vào đó là hàng trăm binh lính hỗn tạp, nào kị binh Ma Rốc, lính bắn cung nỏ người Gaulois, người Breton, người Ibère, người Asturie, người Hi Lạp, người Ả Rập, lũ người Syrie xấu như những con linh cẩu, những người Gète đầu tóc bù xù màu rơm rạ, đầy chấy rận, những người Thrace mặc váy sợi đay, họ tiến theo sau những người thổi tù và quấn da thú nửa ngực. Họ bắt phu trong số tù binh đưa đi khai thác các mỏ bạc. Giữa đạo quân tạp nham đó, từ xa, người ta có thể nhận ra Marc Aurèle không mang vũ khí, không đeo khiên giáp nhờ chiếc áo choàng đỏ rực của ông ta…

❀ ❀ ❀

[1] Gardon: một loài cá, họ hàng với cá chép.

[2] Paradis là họ nên Lejeune mới hỏi tên lần nữa.

[3] Hussard: tên một binh chủng thuộc khinh kị binh.

[4] Civet (phiên âm: xi-vê): món ăn nấu bằng thịt hoặc rau thái nhỏ với nước xốt kèm gia vị.

[5] Tình yêu của em!

[6] Cộng đồng các Giáo hội Luther hình thành từ phong trào cải cách bên trong Cơ Đốc giáo, khởi nguồn từ những quan điểm thần học của Martin Luther được thể hiện qua các tác phẩm của ông. Những tác phẩm này là công cụ hữu hiệu giúp khởi phát cuộc Cải cách Kháng nghị. Những nỗ lực với mục tiêu cải cách nền thần học và nguyên tắc sống đạo lại dẫn đến một sự chia cắt sâu sắc khi một số lượng lớn các tín hữu Cơ Đốc rời bỏ truyền thống Công giáo Roma. Hiện có gần 70 triệu thành viên thuộc các giáo hội Luther trên khắp thế giới, trong số khoảng 590 triệu tín hữu Kháng Cách mà đức tin của họ chịu ảnh hưởng từ tư tưởng cải cách của Luther.

[7] Kali Nitrat (KNO3): Hợp chất hóa học, nguyên liệu chính để chế tạo thuốc nổ đen.

[8] Dogue: một giống chó tai to, mõm bẹt.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.