Chiến Trận

Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG VI

❊ ❊ ❊

Đêm thứ hai

Một đêm không trăng. Những đám cháy cuối cùng trên bờ trái đang hắt lên không trung một thứ ánh sáng màu đỏ nhợt nhạt làm cho không gian biến ảo. Gió thổi mạnh, những cây du lá xào xạc, các bụi cây bị xô dạt nghiêng ngả, mây đen mang đầy nước ùn ùn kéo đến. Trên bờ sông Lobau ngập cát, giữa những khóm sậy ngã rạp, Hoàng đế đang thả bộ cùng với Masséna. Thống chế dựng cao chiếc cổ áo măng tô màu xám, hai tay đút vào túi quần; mái tóc ngắn bay phơ phất như những túm lông nơi thái dương, nhìn nghiêng, ông giống như một con chim kền kền. Bất chấp những tiếng sóng vỗ ì oạp xô bờ, hai người đàn ông vẫn nhận ra tiếng ồn ào đinh tai điếc óc trên cánh đồng vọng lại, tiếng cọt kẹt của bánh xe, tiếng gọi, tiếng thình thịch của đế giày, tiếng vó ngựa gõ nhịp trên ván chiếc cầu nhỏ sát ngay bên cạnh. Napoléon nói giọng lạnh băng:

– Mọi người nói dối ta.

– Đừng đóng kịch với tôi, chỉ có hai chúng ta thôi mà.

Họ xưng hô thân mật với nhau như thời tham gia cuộc viễn chinh ở Ý.

– Không một ai dám nói toàn bộ sự thật với ta, Hoàng đế bực mình.

– Không đúng! Masséna trả lời. Chỉ có dăm ba người là có thể nói thẳng nói thật với Ngài. Còn Ngài có nghe chúng tôi hay không, đó lại là chuyện khác!

- Một vài người. Augereau, ông…

– Công tước Montebello[1].

– Jean, tất nhiên rồi. Ta không bao giờ có thể làm cho anh ta khiếp sợ cả. Một buổi tối, trước khi ta biết chuyện gì xảy ra, anh ta đã đẩy người lính gác sang bên, lao vào trại của ta, kéo ta ra khỏi giường, thét vào tai ta: “Cậu cóc cần đến tớ nữa phải không?”. Anh ta còn tranh luận cả những mệnh lệnh của ta.

– Thôi đừng nói chuyện chưa đâu vào đâu, anh ấy không chết, chưa chết đâu, rồi Ngài sẽ phải chôn anh ta.

– Nhưng anh ấy yếu lắm rồi, Larrey đã thừa nhận với tôi như vậy.

– Chỉ bị cắt một cái chân thôi mà, không thể chết được. Tôi còn mất đứt một con mắt vì Ngài kia mà, thế mà nó có làm cho tôi giảm sức chút nào không?

Hoàng đế vờ như không nghe thấy sự ám chỉ cuộc đi săn mà Ngài đã làm mù mắt Masséna nhưng lại đổ lỗi cho sự vụng về của Berthier. Một thoáng mơ màng, rồi Ngài nói, giọng cục cằn:

– Tôi tin rằng toàn thể quân sĩ đã biết sự bất hạnh của Lannes trước cả tôi.

– Quân sĩ đánh giá rất cao về Lannes và lo ngại cho tính mạng của ông ấy.

– Những người của ông ư? Bọn chúng mất tinh thần khi nghe tin đó sao?

– Mất tinh thần ư, không đâu, nhưng xúc động thì có. Họ là những người lính thật dũng cảm.

- Ôi, giá mà Lannes đáng thương của chúng ta lúc này được chăm sóc ở Vienne trong điều kiện thật tốt nhỉ!

– Lấy xuồng đưa Lannes qua sông.

– Ông không nằm mơ đấy chứ? Gió, nước lớn, cái xuồng sẽ bị lắc lư như một chiếc túi và Lannes sẽ không chịu nổi đâu.

Hoàng đế cầm roi ngựa quất mạnh vào đám sậy vẻ suy nghĩ. Một hai phút trôi qua như vậy, rồi bằng một giọng quyết đoán, Ngài nói:

– André, tôi cần sự sáng suốt của ông.

– Ngài muốn biết tôi sẽ làm gì nếu ở vào vị trí của Ngài phải không?

– Berthier khuyên rằng chúng ta nên lùi về phòng thủ bên bờ phải.

– Ngu xuẩn!

– Bộ tham mưu nghĩ rằng cần phải rút lui về tận hậu phương nơi thành Vienne.

– Bộ tham mưu không cần phải suy nghĩ, nhất là không được suy nghĩ lệch lạc. Rồi cái gì nữa? Trong khi chúng ta ở đây, hãy rút về Saint-Cloud! Nếu chúng ta buông hòn đảo này, chúng ta sẽ dâng chiến thắng cho nước Áo, nhưng mà chúng ta đã mất hòn đảo đâu.

– Chúng ta cũng không chiến thắng.

– Chúng ta đã tránh khỏi một sự thất bại khủng khiếp đó thôi!

– Định mệnh cứ theo đuổi tôi mãi, cả Masséna nữa.

– Quận công Chales cũng không thành công, chúng ta kìm chân lão ta ngoài xa, binh lính của lão ta đã mệt nhoài, gần như không còn nhu yếu phẩm… 

– Tôi biết, Napoléon nói, mắt nhìn xuống dòng sông. Chính dòng sông Danube hung dữ này đã chiến thắng ta.

– Thất bại! Đừng nghĩ thô thiển như vậy! Quân Ý sắp đến hỗ trợ cho chúng ta. Tuần qua, Hoàng tử Eugène đã chiếm được Trieste, ông ta sắp hành quân đến Vienne với chín sư đoàn, năm chục ngàn người! Lefebvre đã vào Innsbruck ngày 19, ngay sau khi thanh toán xong bọn phản nghịch Tyrol, ông ta mang đến cho chúng ta hai mươi lăm ngàn người Bavière…

– Vậy cần phải giữ chặt hòn đảo này lại à?

– Đêm nay, chúng ta có dư thời gian để đưa lực lượng chúng ta về đây.

– Ông có dám đảm bảo cuộc rút lui này không rối loạn không?

– Có chứ.

– Thế thì hay quá! Ông hãy quay về sở chỉ huy của ông đi.

Sự im lặng đánh thức Fayolle dậy. Anh ta mở mắt để nhận rõ rằng trận chiến đã kết thúc trong đêm tối. Fayolle ngả mình nằm dài trên mặt đất, người tê dại, không ngồi dậy được và không làm sao nâng nổi tấm áo giáp lên. Thậm chí nếu đứng lên được thì bóng đêm đã bao trùm mênh mông, anh cũng không thể nhìn thấy hàng ngàn xác chết nằm ngổn ngang trên cánh đồng chẳng bao lâu sẽ bị thối rữa ra và sẽ bị những đàn quạ bu đến thi nhau rỉa rói. Anh lấy tay sờ lên mặt, thử gập một cẳng chân, rồi lại thử gập chân kia; anh không bị sao cả, hình như mọi thứ đều nguyên vẹn. Một làn gió mát lạnh đè cong đám lúa mì đang đứng thẳng, mùi thuốc súng, mùi phân ngựa, mùi máu nồng nặc tốc lên trong không khí. Đột nhiên, Fayolle nghe thấy một tiếng gặm nhấm; một con gì đó muốn cắn vào đế giày đã nứt toác của anh. Anh lắc chân, sinh vật gặm nhấm lông rậm rì đang mụốn tấn công vào cái đế giày bỏ chạy, anh không biết nó là con gì; Fayolle là người Paris nên chỉ biết có mỗi chuột cống mà thôi. Anh hít thở, tận dụng cái khoảnh khắc tĩnh lặng kì lạ và hiếm hoi này để nghỉ ngơi cho đã. Fayolle luôn chỉ có một mình. Là phu khuân vác, người mót rác, thầy bói bài trên cầu Pont Neuf, ba mươi lăm tuổi, anh đã từng trải nhiều, nhưng mà khốn khổ. Cuộc Cách mạng cũng không làm cho cuộc sống của anh đơn giản hơn. Bản thân anh cũng không biết lợi dụng thời kì Đốc chính[2] rất tạo điều kiện cho đám cờ gian bạc lận. Vào thời kì đó, tiếp sau thời kì Khủng bố[3] Fayolle đến tạm trú một thời gian tại ngõ Perron để tiêu thụ của gian, xà phòng, đường, ống nước, bút chì Anh quốc. Anh ta lợi dụng công việc đó để la cà tới Palais-Royal. Gái làm tiền ở đây có đến hàng trăm, họ chèo kéo khách làng chơi công khai và tụ tập dưới những vòm cây xanh, trong những ngôi nhà gỗ nằm dọc theo những hàng cây. Tầng trên một nhà hàng, trần nhà được mở ra, các thiên thần trần như nhộng từ trên giáng thế xuống một cái xe mạ vàng; trong một căn phòng khác, gái điếm mát xa cho khách hàng trong những chiếc thùng rượu vang to tướng. Tất cả những chuyện đó là người ta kể cho Fayolle nghe chứ bộ dạng mũ lông cáo đội đầu, mặt buồn ỉu xìu như anh ta thì chả ma nào mở cửa cho mà vào. Cho nên, Fayolle đành bằng lòng với việc ngắm nhìn những bức ảnh khiêu dâm, hoặc là đứng từ xa ngắm những ả vũ nữ hất tung tấm váy. Một số cô, để làm động lòng khách, dẫn đám trẻ con thuê được đi chơi, một số khác thì vẫy gọi khách trên quán cà phê “Những Người Mù”, họ dùng những chiếc mũ đen thêu chỉ vàng, chân xỏ trong những đôi giầy mềm bằng sa tanh. Họ là những cô gái tuyệt vời nhưng không cho ai chịu tiền bao giờ; tên gọi của họ như trong những bài thơ, Betzi, cô gái lai da đen, Sophie mĩ miều, hoặc Lolotte quàng khăn, Sophie búp bê, Nữ hoàng Thổ Nhĩ Kỳ. Chochon des Allures là chủ một cơ sở giải trí. La Vénus là một nữ anh hùng, bởi vì cô ta đang phản kháng lại món tiền ứng trước của Bá tước Artois…

Fayolle cứ ngỡ là bộ quân phục màu xanh có ống tay áo màu đỏ của lực lượng thiết kị sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho anh chàng tiếp cận các bà, hoặc ít ra cũng bảo vệ được cho những trò gian lận của anh ta, nhưng mà không phải vậy: Fayolle không được cái gì cả ngoại trừ nhờ vào sức mạnh hoặc nhờ vào chiến tranh. Anh ta lại nghĩ tới một nữ tu xinh đẹp bị cưỡng hiếp trong cuộc cướp phá ở Burgo, rồi cái con hổ cái ở Castille đã cào cấu cho anh ta xây xát hết mặt mày và Fayolle đành phải nhượng cô ta cho một tay lính cầm giáo người Ba Lan tàn bạo. Đặc biệt là anh ta thường xuyên nghĩ về cô gái nông dân ở Essling, về đôi mắt đầy sự ám ảnh nhìn anh ta chằm chặp. Fayolle rùng mình. Không biết do lạnh hay vì sợ hãi? Gió trở nên lạnh lẽo. Fayolle cố nhổm lên nhặt chiếc áo măng tô màu nâu, chống khuỷu tay xoay nghiêng người lại, anh ta nghe rõ tiếng bánh xe lăn nghiến ken két.

Khép mắt lại, Fayolle cố phân biệt mọi vật trong đêm tối. Đằng xa, về phía Bisamberg, và cả phía sông Danube, những khu trại phát ra ánh lửa cho phép anh ước lượng được khoảng cách giữa các trại lính. Ai đang đi đến vậy? Bọn Áo chăng? Người Pháp chăng? Họ đang làm gì ở đó? Họ dùng xe bò để làm gì? Những bóng người đang tiến lại gần, Fayolle nghe thấy tiếng cọt kẹt của bánh xe mỗi lúc một rõ hơn, tiếng ken két của bánh xe hòa quyện với những tiếng nói thì thào và âm thanh va chạm của kim loại không làm cho Fayolle liên tưởng tới vấn đề gì cả .

Trong sự hoài nghi đó, anh ta lại nằm xuống, giả vờ bất động. Chiếc xe bò cứ tiến lên. Lúc này nó chỉ cách Fayolle có vài mét. Mắt mở he hé, Fayolle nhìn thấy những cái bóng cúi xuống, tay cầm đèn. Trong thứ ánh sáng yếu ớt, anh ta nhận ra một chiếc mũ lính pháo thủ Áo với cành lá cắm phía trên như một túm lông. Anh nín thở giả vờ chết. Tiếng chân giẫm lên đám lúa mì, dừng lại ngang tầm với Fayolle. Một bàn tay cởi nút tấm giáp sắt che ngực cửa anh. Anh cảm thấy một luồng hơi thở táp vào mặt.

– Đến đây, bội thu rồi, ở đây này…

Khi nghe rõ những từ phát âm bằng tiếng Pháp, Fayolle nắm chặt lấy cổ tay của kẻ ăn cắp, hắn la lên:

– Ối giời ôi! Xác chết sống lại! Cứu tôi với!

– Đừng có hét lên như thế, một đồng đội của hắn nói.

Fayolle chống hai tay ngồi dậy. Hai tay cứu thương mặt trợn tròn:

– Mày chưa chết à? Louis béo hỏi.

– Hình như anh ta cũng không bị thương gì nặng lắm thì phải. Paradis đầu đội mũ lính Áo nói thêm.

– Chúng mày làm cái quái gì vậy? Fayolle thét toáng lên, giọng dữ tợn.

– Bình tĩnh nào, anh bạn!

– Đấy, anh thấy đấy, Paradis giải thích, chúng tôi đang nhặt những tấm áo giáp, đây là quân lệnh. Không được để cái gì lại phía sau cả.

– Trừ những người chết chứ gì, Fayolle khinh bỉ nói.

– À, chuyện này thì chúng tôi không nhận được một mệnh lệnh nào cụ thể cả, hơn nữa, lại có quá nhiều xác chết.

Cuối cùng, Fayolle đứng lên, cởi bỏ chiếc áo giáp rồi vứt toẹt lên xe.

– Cậu có thể giữ lại, Louis béo nói, cậu đang sống mà.

Người lính thiết kị thu mình trong chiếc áo măng tô Tây Ban Nha. Đôi mắt của anh đã quen với bóng đêm. Anh nhìn rõ hàng chục ngọn đèn đang lục tìm giữa cánh đồng. Paradis, Louis béo và rất nhiều lính cứu thương khác đang dùng gậy dò xét trên mặt đất; ngay khi chiếc gậy chạm phải một tấm giáp kim loại, là họ cúi xuống ngay, tháo ra rồi ném và trong xe.

– Này, anh chàng này ít ra cũng là một sĩ quan…

Paradis vừa nói dứt lời thì Fayolle ào đến ngay.

– Anh quen anh ta à? Paradis hỏi, tay hạ thấp ngọn đèn ngay sát khuôn mặt người đang nằm dưói đất.

– Đây là Đại úy Saint-Didier.

– Chắc ông ấy chưa nhiều tuổi lắm…

– Cởi áo giáp của anh ấy ra và im mồm đi!

– Vâng, tôi sẽ không nói gì nữa.

Khi Paradis tháo xong mảnh giáp, Fayolle giằng lấy chiếc đèn rồi cúi xuống viên Đại úy. Đại úy bị một viên đạn xuyên qua cổ, anh có vẻ như đang ngủ, mắt mở trừng trừng. Bàn tay phải vẫn còn giữ chặt khẩu súng ngắn đã nạp đạn mà anh chưa có thời giờ sử dụng. Fayolle gỡ những ngón tay lạnh cóng của anh ra rồi lấy khẩu súng cài vào thắt lưng mình.

* * *

Ở vạt rừng thưa trên đảo, Thống chế Lannes đang nằm trên hàng chục chiếc áo măng tô của lực lượng kị binh. Đại úy Marbot không rời ông một giây. Anh chăm sóc ông như một vú nuôi, trù liệu trước những yêu cầu của ông, an ủi ông bằng sự hiện diện của mình. Lannes mấp máy môi, bực mình, nói lảm nhảm, ông nghĩ là đang còn ở trên chiến trường, đang ban bố những mệnh lệch rời rạc:

– Marbot…

– Dạ, thưa Công tước?

– Marbot, nếu lực lượng kị binh của Rosenberg chiếm được Essling từ phía sau tức là phía rừng thì Boudet sẽ dở lắm đấy.

– Công tước đừng lo gì cả.

- Ồ, có chứ! Điều Pouzet đến khu nhà kho đi, à mà không, không phải Pouzet, anh ta bị thương rồi, mà là Saint-Hilaire. Thằng Davout ngu muội kia đã dùng thuyền chở quân nhu đến cho chúng ta chưa? Chưa à? Thế hắn còn chần chờ gì nữa?

– Xin ngài nghỉ đi, thưa ngài Công tước.

– Chưa phải lúc!

Lannes siết chặt tay người sĩ quan tùy tùng của mình:

– Marbot, ngựa của ta đâu?

– Nó bị mất một chân rồi, viên Đại úy nói dối. Người ta đang chăm sóc cho nó.

Mỗi một câu hỏi sốt sắng đều được Marbot đáp lại bằng những lời quá nhũn nhặn và cuối cùng đã làm cho Thống chế nổi cáu:

- Tại sao anh trả lời ta như một đứa trẻ lên ba vậy? Ta bị thương, ta biết điều đó, nhưng đây có phải là lần đầu tiên đâu! Ta đã từng chết ở Saint-Jean-d’Acre, anh còn nhớ không? Một viên đạn trúng vào gáy không là cái gì cả! Còn ở Governolo, Aboukir, Pultusk nữa… Ở Arcole ta cũng bị ba phát đạn. Ta đã sống sót mà.

– Ngài là bất tử, thưa ngài Công tước.

– Đúng như điều anh nói…

Lannes lắc đầu từ bên nọ sang bên kia, liếm đôi môi khô nẻ.

– Cho ta cái gì để uống, Marbot, ta khát quá, sau đó, ra lệnh lực lượng tinh nhuệ của chúng ta tấn công vào bọn Leichtenstein, hoặc là chúng chết, hoặc là ta. Anh hiểu chiến cuộc này chứ? Oudinot sẽ đến hỗ trợ chúng ta… Nhưng vì mặt trời xám xịt, anh bạn ạ, và mây đen bao trùm nên tầm nhìn của chúng ta chỉ trong khoảng mười mét…

Mấy người lính mang bình nước lấy từ sông Danube đến; không còn nước sạch dự trữ trong xi-téc của căng tin nữa. Lannes uống một ngụm nhưng vội khạc ra:

– Không phải nước, đất đấy chứ! Chúng ta bây giờ như lính hải quân, Marbot, chúng ta bị bao vây bởi một thứ nước không uống được…

– Tôi sẽ lọc cho Ngài một ít nước sạch, thưa ngài Công tước.

Thống chế đã để người hầu ở lại trên đảo để trông tư trang của Thống chế. Marbot đến mượn anh ta một chiếc áo sơ mi mỏng. Đại úy làm thành một cái túi giống như túi da có dây buộc, rồi đi ra phía bờ sông vục chiếc túi xuống mặt nước ngầu bùn, sau đó, anh buộc chiếc túi lên một cành cây thấp, phía dưới để cái bi đông, anh lấy được một thứ nước lọc trong suốt và rất mát, Thống chế uống một cách thoải mái.

– Cảm ơn, Lannes nói, cảm ơn Đại úy. Không biết thế quái nào mà anh lại chỉ mới có là Đại úy nhỉ! Ta sẽ lo liệu việc này ngay sau ngày thắng lợi. Ta làm được gì nếu không có anh nhỉ? Không có anh, không có Pouzet, ta đã chết rồi, chứ không à? Anh có nhớ lần gặp đầu tiên của chúng ta không?

– Có, thưa ngài Công tước, đó là hôm trước ngày chiến thắng ở Priedland, tôi vừa mới cưới vợ.

– Anh đã từng bị thương ở Eylau…

– Vào cánh tay, đúng như vậy, trúng một mũi lê. Còn mũ của tôi thì bị một viên đạn xuyên thủng.

– Anh phục vụ cho Augereau, rồi ông ta đã gửi gắm anh cho ta, một lần nữa, vào năm ngoái…

– Tôi đã gặp ngài ở Bayonne.

– Chúng ta đã đi Tây Ban Nha chỉ huy lực lượng quân đội Ebre. Anh am hiểu vùng đất này, còn ta thì không… Burgo, Madrid, Tudela…

– Chúng ta đã quét sạch quân thù ngay trong trận chạm trán đầu tiên.

– Đúng thế… Đúng là trong cuộc chạm trán đầu tiên… một đất nước tồi tệ phải không! Ta suýt nữa thì mất anh ở đó, Marbot nhỉ.

– Tôi cũng nhớ cả, thưa ngài Công tước. Một viên đạn đã sượt qua tim tôi rồi tạm trú bên mạng sườn, một viên đạn dẹt như một đồng xu, có khía như một bánh xe đồng hồ, có chạm một chữ thập như một cái bánh thánh.

– Khi đó đã có Albuquerque trong số các sĩ quan tùy tùng của ta rồi nhỉ? Cuối cùng, chúng ta cũng đã đưa cậu ấy từ Tây Ban Nha về, ta tin… Cậu ấy ở đâu nhỉ? Tại sao cậu ta không ở bên cạnh anh nhỉ?

– Cậu ấy ở cách đây không xa đâu, thưa ngài Công tước.

Nhưng Albuquerque hiện đang ở rất xa, Marbot biết rất rõ. Lúc tối, anh ấy đã bị một viên đạn bắn vỡ thận, chết ngay tức thì. Lannes nói bằng một giọng thật khó nhận ra được:

– Bảo Albuquerque báo cho Bessières biết. Yêu cầu ông ấy điều lực lượng thiết kị đến, họ cần phải giải thoát cho chúng ta khỏi cái gọng kìm này bằng mọi giá!

– Vâng, sẽ cho thông báo ngay ạ.

Đôi môi Lannes lại tiếp tục mấp máy nhưng không thể nghe được một lời nào nữa, rồi mi mắt ông lại khép lại và đầu gục xuống chiếc áo măng tô dùng làm gối kê. Marbot hoảng hốt la:

– Thôi rồi, Thống chế chết rồi?

– Không, không phải, thưa Đại úy. Ông ấy ngủ đấy mà. Người phụ mổ do Larrey ủy nhiệm ở lại bên cạnh Thống chế trấn an Marbot.

* * *

Cách đó không xa, xung quanh khu vực lán trại Hoàng đế, Lejeune đang tiên lượng những mối hiểm họa mới của đêm nay. Anh sợ hai điều: một là, nước sông Danube dâng cao làm ngập đảo, và hai là, quân Áo bất thình lình oanh kích từ phía bờ bên kia Aspern. Anh tâm sự với Périgord, một người hay hoài nghi:

– Tôi đã nghiên cứu vỏ cây liễu và cây thích, Edmond ạ, và tôi đảm bảo với anh rằng tôi đã phát hiện những dấu hiệu của một trận lũ lớn sắp xảy ra.

– Anh là một thợ làm vườn cừ khôi đấy, phải không anh bạn thân mến?

– Tôi nói nghiêm chỉnh đó! Toàn bộ các hòn đảo có thể bị ngập.

– Trừ đảo Cité ở Paris.

– Thôi đi anh đừng có đùa dai như thế! Tôi mong rằng anh có lí, nhưng tôi thấy chúng ta có thể sẽ gặp trở ngại lớn đấy.

– Để thương binh của chúng ta bị chết đuối tất cả hay sao?

– Một cuộc rút lui tai hại. Chúng ta sẽ kẹt lại ở đấy cả. Mặt khác, nếu Quận công Charles…

– Pháo của quân Áo không gây ấn tượng lắm đâu, Louis-François ạ. Anh bị mù à? Và cả bị điếc nữa? Nếu Quận công muốn, hắn đã có thể ném chúng ta xuống sông Danube, nhưng hắn đã ngưng trận đánh cùng lúc với chúng ta.

– Nếu ở vào vị trí hắn, Hoàng đế chắc đã chẳng chần chừ đâu.

– Nhưng mà rõ ràng là Ngài đang chần chừ.

Berthier cũng suy nghĩ như Lejeune. Để đảm bảo cho cuộc rút lui thành công, ông đã cấm nổi lửa trên đảo và cho đốt lửa trong một số trại nằm rải rác trên cánh đồng giữa các khu làng nhằm đánh lừa đối phương, làm cho chúng tưởng rằng quân đội đang cắm chốt tại đó. Hoàng đế đã chuẩn y phương cách này. Do vậy, giờ đây Lejeune và Périgord mới cùng nhau dạo bước giữa đêm tối mênh mông, hai bàn tay đưa ra phía trước đề phòng đụng phải thân cây. Đột nhiên, Lejeune đụng phải một khuôn mặt mềm mềm phía đầu các ngón tay đang chìa ra, một người đàn ông nói bằng giọng Ý đặc sệt:

- Sờ cằm ta như thế được chưa hả?

– Xin Bệ hạ thứ lỗi..

– Coglióne![4] Được, ta tha lỗi, nhưng phải đưa chúng ta ra phía bờ sông!

Gió thổi rung lá cây, những cây du và cây liễu đu đưa. Người ta nghe thấy những tiếng thở dài và những tiếng thở khò khè của hàng chục ngàn thương binh nằm la liệt trên sườn dốc hoặc giữa bãi cỏ. Lejeune và Périgord đi vượt lên phía trước Hoàng đế, Berthier và các sĩ quan dưới trướng của ông.

– Thuyền bè đã sẵn sàng, thưa Bệ hạ, Berthier nói, tay tì vào vai Caulaincourt còn Caulaincourt thì bước lên phía trước dùng mũi giày thăm dò đường đi.

- Tốt rồi!

– Tôi trực tiếp chọn mười bốn người chèo thuyền, hai người lái, và một số người bơi lội giỏi…

– Những người bơi lội ư? Chứ không phải thợ săn à?

– Nếu chẳng may thuyền bị lật thưa Bệ hạ…

– Không lật được đâu!

– Vâng, nó không bị lật, chắc thế, nhưng cần phải đề phòng trước mọi tình huống kể cả tình huống xấu nhất.

– Ta cực ghét tình huống tồi tệ nhất đó, Berthier, đồ con lừa!

– Vâng, thưa Bệ hạ.

Mọi người bám nhau, Napoléon và đoàn tùy tùng của ngài men theo bờ sông xuống con thuyền đợi sẵn nơi bờ sông lộng gió, nhưng không một ai bị vấp ngã. Hoàng đế lấy đồng hồ ra xem. Ngài vặn chuông:

– Mười một giờ…

Thật khó khăn lắm mói nhận thấy được dòng sông dưới ánh trăng hạ huyền mới nhú, nhưng tiếng sóng vỗ ì oạp của dòng sông làm cho cuộc đối thoại gặp khó khăn; những đợt sóng vỡ ra khi dồn vào bờ đảo tung lên những đám bụi nước; nước chảy xiết, gió thổi ù ù.

- Berthier! Hoàng đế hét lên, hãy chép mệnh lệnh rút quân!

- Lejeune! Berthier thét lớn.

Périgord cuối cùng cũng châm được ngọn đuốc nhờ che vào phía sau khóm lau sậy. Dưới ánh sáng màu vàng và run rẩy của ngọn đuốc, Lejeune đặt chiếc túi đeo xuống như một chiếc bàn viết nhỏ kê trên hai đầu gối, rồi bày giấy, mực do người thư kí cùng đi trong đoàn trao cho. Lejeune vừa chép vừa đoán, bởi lẽ, tiếng sóng vỗ và gió thổi mạnh làm cho anh không nghe rõ giọng nói của Hoàng đế. Ngài ra lệnh Masséna và Bessières cùng với quân sĩ của mình nửa đêm nay phải rút lui toàn bộ về đảo Lobau; một khi toàn bộ quân đội đã lui về được điểm nương náu này, thì nhất thiết phải phá cây cầu nhỏ, thu gom tất cả các ụ nổi, giá đỡ bỏ lên xe đưa về sửa chữa cây cầu lớn.

Chép xong những mệnh lệnh của Hoàng đế, Lejeune liền trao cho Berthier kí vào phía dưới, rồi anh nhón một nhúm cát rắc lên trên bản viết để thấm mực. Cuối cùng, Napoléon bước xuống mép sông di đến chỗ chiếc thuyền lớn có những tay chèo lực lưỡng đang kiềm giữ, họ giúp Bệ hạ bước lên thuyền. Périgord giữ ngọn đuốc cho một người chèo thuyền. Berthier, Lejeune và những người ở lại nhìn Hoàng đế rời xa hòn đảo. Họ nhìn gương mặt vô cảm của Napoléon, chiếc áo redingote lất phất bay trong gió; mới được vài sải tay, một cơn gió lốc bỗng ào đến thổi ngọn đuốc tắt phụt, Hoàng đế biến mất hoàn toàn giữa bóng đêm dày đặc, cứ như thể dòng sông đã nuốt chửng Ngài cùng con thuyền.

* * *

Lejeune chuẩn bị mang mệnh lệnh rút lui của Hoàng đế giao cho Masséna, nhưng không có ngựa. Con ngựa của anh đã bị gãy chân, còn sĩ quan cần vụ của anh thì bị kẹt lại phía bờ phải khi từ Vienne trở về, anh định giao cho người hầu của Périgord, nhưng anh chàng này lại không có một chút khái niệm nào về công việc giao liên. Thời gian quá gấp rút. Viên Đại tá trông thấy một lính công binh đang dắt con ngựa chiến lợi phẩm thu được từ một tên lính kị binh Hungari:

– Ta cần con vật này.

– Nó không phải của tôi mà là của ngài trung úy.

– Đưa cho ta mượn.

– Tôi không biết ngài trung úy có đồng ý hay không…

– Anh ta ở đâu?

– Trên cây cầu lớn đang được sửa chữa.

– Không còn thời gian nữa! Vả lại đây là một con ngựa đánh cắp.

- Ấy, không phải! Đây là chiến lợi phẩm.

– Tôi sẽ trả lại cho anh trong vòng một tiếng đồng hồ nữa.

– Tôi không chịu trách nhiệm…

– Nếu tôi không mang ngựa trả lại, thì tôi sẽ trả tiền cho anh.

– Ai làm chứng cho tôi đây?

Bực mình vì tay công binh u mê. Lejeune gí vào mũi hắn lá thư do Tham mưu trưởng kí, gửi Masséna. Tay công binh giật mình sững sờ buông vội dây cương. Lejeune lập tức nắm lấy rồi nhảy lên bộ yên viền vàng nhồi bông trước khi hắn có thời gian thay đổi ý kiến, rồi anh cứ áng chừng hướng đi phi ngược chiều đoàn thương binh đang dồn về đảo. Lejeune càng tiến gần lại chiếc cầu nhỏ thì đường đi càng trở nên chật như nêm cối, nhưng anh cứ tiếp tục giục ngựa tiến thẳng vào đám đông, không do dự hất ngã cả đám tính bộ binh đầu quấn băng trắng xóa, nhũng thương binh cụt tay, cụt chân, những phế binh giơ cao nắm đấm đe dọa hoặc đập vào ủng Lejeune. Đám người hỗn độn thật bi đát dồn đống trên chiếc cầu nhỏ. Những kẻ chạy trốn tạo thành đám đông chật ních đang di chuyển chậm chạp tại đây.

– Dẹp ra! Dẹp ra! Đại tá gào lên.

Cả rừng người vây lấy anh, đẩy anh lui trở lại, anh cứ dấn lên, đẩy ngã đám thương binh què cụt bằng cổ ngựa, thậm chí vung cả roi ngựa lên đe dọa nhưng không đánh một ai cả. Đám người giương những cặp mắt hận thù, hăm dọa nhưng trống rỗng.

– Mệnh lệnh của Hoàng đế đây!

– Mệnh lệnh của Hoàng đế, một trung sĩ trong kị binh nghiến răng ken két nhắc lại, anh ta dứ dứ cái mỏm tay cụt bên trái còn cuốn băng lên cao.

Lejeune vượt qua được quãng đường dài đầy hiểm nguy, sang đến bờ trái, anh lao ngay xuống cánh đồng vượt qua những con dốc. Anh chạy từ đám lửa này sang đám lửa khác, hướng về Aspern nơi Masséna đang cắm trại, nhưng làm sao biết được ông ta đang ở trại nào? Đây là những khối xám xịt của những ngôi nhà đầu tiên, kia là một con phố nhỏ, nhưng ngựa không thể nào đi đến đó được bởi lẽ những bức tường đổ đã cản cả lối đi; anh cứ nhằm con phố thứ hai đi đến chỗ quảng trường nhà thờ, nhận ra một người tính gác đang ngậm tẩu hút thuốc, anh đi thẳng lại hỏi thăm. Nghe tiếng chân Lejeune đi đến, không chờ nghe anh hỏi, người lính đã cất tiếng trước:

– Werda?

Thì ra đó là một thằng tính Áo, nó hỏi: “Ai đấy?” Lẽ ra phải chuồn cho nhanh, lẩn vào trong bóng đêm để khỏi bị ăn đạn, thì Lejeune lại có kiểu phản ứng đặc biệt, anh trả lời luôn bằng tiếng Đức rằng mình là sĩ quan của Bộ tham mưu:

– Stabsoffizier!

Một bóng người khác từ trong con phố nhỏ đi ra, đó là một sĩ quan quân y thuộc trung đoàn Hiller, y hỏi mấy giờ rồi cũng bằng tiếng Đức. Khỏi mất thời gian với việc lấy đồng hồ ra xem, Lejeune khẳng định luôn là mười hai giờ đêm:

– Mitternacht…

Tên lính gác đặt súng tựa vào bức tường nhỏ, tay sĩ quan quân y đi đến, Lejeune vội giật cương ngựa vọt qua một bụi cây chạy trốn. Anh nghe tiếng đạn rít bên tai. Anh cứ thúc ngựa lang thang trên con đường trũng, tai dỏng lên, gặp một số lều trại có ánh lửa nhưng vắng tanh, anh lao về phía một cánh rừng tới chỗ nhánh cạn của sông Danube. Khi đi vào giữa hai cái cây, anh gặp một người đàn ông, người này nắm lấy hàm thiếc ngựa của anh rồi một người khác nắm tay anh kéo anh tuột khỏi lưng ngựa. Họ không đội mũ shako nhưng nhìn vào quân phục và dây đeo gươm của họ, Lejeune nhận ra họ là lính khinh binh Pháp, anh vội kêu lên:

– Đại tá Lejeune đây! Tôi đang thi hành nhiệm vụ của Hoàng đế giao!

Hai khinh binh xin lỗi:

– Chúng tôi không thể đoán ra được…

– Vì ngài cưỡi ngựa Hungari, chúng tôi cứ tưởng lần này vớ được quả may.

– Thống chế Masséna ở đâu?

– Chúng tôi cũng không biết rõ lắm.

– Thế nghĩa là thế nào?

– Cách đây khoảng một giờ, chứng tôi nhìn thấy Thống chế cùng với Tướng quân của chúng tôi.

– Ai vậy?

– Molitor.

– Các anh nhìn thấy họ ở đâu?

– Đằng kia kìa, chỗ bìa rừng lúc nãy đó.

– Các anh đang đi tuần nữa à?

– Đúng thế.

– Đừng vào quá gần làng, bọn Áo chốt đầy ở đó đấy.

– Chúng tôi biết rồi.

- Cảm ơn.

Lejeune đi sâu vào chỗ rừng cây lúp xúp, suýt lại bị mấy tổ đi tuần bắt chỉ vì con ngựa Hungari đang cưỡi. Cuối cùng, một hạ sĩ quan dẫn anh tới chỗ trại dã chiến của Masséna được dựng bên một bãi sậy bao quanh đầm lầy, không một tên địch nào có thể bén mảng đến đó được. Có nhiều lửa, đuốc báo hiệu khu trại quan trọng, dưới thứ ánh sáng lờ mờ chập chờn, Lejeune nhận ra cái bóng mảnh khảnh của Sainte-Croix, vây quanh là nhiều sĩ quan co ro trong áo măng tô. Anh đi bộ đến chỗ Thống chế, chân đụng phải một ai đó đang nằm dài dưới đất, người này rống lên:

– Ê! Thằng nào giẫm lên chân tao thế?

– Thống chế ở chỗ nào?

Trong lúc chờ lệnh lui quân, Masséna tranh thủ ngủ gà ngủ gật được một hoặc hai tiếng đồng hồ. Ông đứng lên, thở phì phì, càu nhàu vì thời tiết ẩm ướt và lạnh buốt. Dưới ngọn đèn do một người lính trinh sát lạnh cóng đứng soi, Thống chế đọc tờ lệnh của Hoàng đế; rồi Ngài gập tờ giấy, nhét vào trong túi áo măng tô, chỉnh lại chiếc mũ trên đầu, cảm ơn Leịeune rồi thong thả đi về phía nhóm sĩ quan đang nói chuyện phiếm bên bếp lửa.

* * *

Fayolle đi theo chiếc xe cứu thương chở đầy áo giáp đến tận làng Essling. Lính bộ binh thuộc lực lượng Tân cận vệ đang châm lửa đốt nhũng tấm ván và cành cây cứ như thể họ quyết định lập trại ở đây, nhưng súng ống vẫn cột ở dây đeo, ba lô vẫn khoác sau lưng. Xác chết nằm trong mọi xó xỉnh, ngổn ngang, lẫn lộn, nào là kị binh đánh thuê, khinh binh, nào là quân Áo, Pháp, Hung, Bavière, người thì bị tháo hết ủng, kẻ thì bị lột quần áo, trần truồng, thân thể bị xé nát đến khủng khiếp. Một số thi thể bị cháy quá nửa.

Fayolle ngồi trên một chiếc ghế trong khu vườn bị cày xới lung tung của một ngôi nhà thấp, bên cạnh một khinh binh đang nằm khép mắt, nhưng không nghe tiếng ngáy. Giấy xé ra từ vỏ đạn bay vương vãi khắp mọi nơi trên bãi cỏ.

– Cậu có biết chỗ nào có thuốc súng không?

Không thấy người khinh binh trả lời, Fayolle nắm vai anh ta lắc lắc nhưng anh bỗng giật nảy mình ngồi thụp xuống; người tính đó đã chết; vì anh ta còn mặc quân phục nên Fayolle lầm tưởng là anh ta đang ngủ. Fayolle lục lọi, lấy hết thuốc súng và đạn để trong chiếc túi đeo chéo qua vai, nhìn đôi ủng thật lịch sự và mềm mại của anh ta. Trận đánh đã kết thúc, nhưng Fayolle mỉm cười nghĩ rằng cuối cùng thì anh cũng tìm cho mình một đôi ủng rất vừa chân. Anh ta tháo lấy đôi ủng, lột bỏ đôi giày đế cói đan đang mang ra rồi đi ủng vào. Xong đâu đấy, Fayolle đến ngồi chồm hỗm bên bếp lửa gần nhất, ghế và cành cây đang bị đốt cháy nghi ngút. Anh áp hai bàn tay sát gần ngọn lửa, hơi nóng làm cho anh dễ chịu. Bỗng phía sau có ai đó cất tiếng gọi:

- Này, tên kia!

Fayolle quay lại và chạm ngay phải ánh mắt nghi ngờ của một chiến binh thuộc đội Cận vệ, tay chống nạnh, oai vệ trong đôi ghệt trắng toát.

– Mày là người Pháp à? Chui ở đâu ra vậy? Trung đoàn nào? Sao lại đi ủng của lực lượng khinh binh?

– Mày không câm cái mồm được à, đồ lắm lời!

– Đào ngũ à?

– Đồ mất dạy! Nếu đào ngũ thì giờ này tao đã tếch xa rồi.

– Có lý. Thế mày là?

– Thiết kị Fayolle, đại đội của tao đã bị đạn pháo tàn sát hết rồi. Tao bị ngã ngựa, bị ngất đi, lúc tao tỉnh dậy thì phát hiện ra đám cứu thương vô lại đang lột mọi thứ trên người của tao.

– Đừng quẩn quanh ở khu vực này nữa. Chuẩn bị nhổ trại rồi.

– Đừng gí mũi vào chuyện của tao, được chứ?

Kị binh xếp hàng bốn đi qua đống lửa; phía sau họ, nhiều tiểu đoàn trong đội hình lộn xộn cũng đang diễu hành rồi mất hút trong con phố chính. Quân đội rời khỏi Essling. Người lính pháo thủ nhún vai bỏ đi, anh ta khạc nhổ xuống đất, nói thêm với Fayolle là việc rút quân đã bắt đầu, Fayolle lại đến ngồi bên bếp lửa. Anh rút khẩu súng của Saint-Didier dắt bên thắt lưng ra lau kĩ, thuốc trong súng đã bị ướt nên anh lấy thuốc súng của người khinh binh nạp lại, rồi nhét đầu đạn vào. cầm khẩu súng trên tay, anh đứng lên, vẻ hài lòng với đôi ủng mới, rồi đi xuống con phố lớn, bước đi dưới tán lá du. Đa phần nhà cửa đã bị phá hủy hoặc sắp sụp xuống, mái nhà bị đạn pháo phá nát, một số còn âm ỉ bốc khói. Ngôi nhà của cô gái nông dân mà anh ta đã vào đó hôm trước cùng với Pacotte bất hạnh vẫn đứng vững. Một mảng tường phía vườn đã bị sụt xuống. Fayolle muốn đi vào trong, nhưng có lẽ vì cần một bó đuốc, nên anh ta phải quay lại, nhặt một chiếc gậy cuốn nhùi rơm, châm vào đống lửa trong một trại lính giả. Ngọn đuốc không sáng lắm, nhưng thôi mặc kệ, cầm chiếc nhùi rơm, Fayolle đi vào nhà qua một chỗ mở hẹp của bức tường. Cầu thang còn nguyên vẹn. Fayolle mạo hiểm leo lên cầu thang rồi mạnh bạo bước lên tầng trên trong cảnh tranh tối tranh sáng như thể anh ta đã từng sống trong ngôi nhà này từ lâu. Anh đẩy mạnh cánh cửa căn phòng cuối cùng. Trên tấm đệm, anh nhìn thấy hình thù một thân người. Tim Fayolle đập loạn như tiếng trống trận. Anh cầm ngọn đuốc cúi xuống nhìn cái thi thể, không còn nghi ngờ gì nữa, đó là xác của một lính biệt kích đã bị lột hết áo quần, chỉ nhận ra được qua bộ râu. Vậy là cô gái quê đêm hôm trước không còn ở đây nữa sao? Fayolle đặt bó đuốc xuống giường, chiếc giường bén lửa, Fayolle áp khẩu súng ngắn của Saint-Didier vào thái dương mình bóp cò, hộp sọ vỡ tan.

* * *

Sau khi được chất thêm những cành liễu, chiếc xe chở áo giáp dừng lại giữa đồng cỏ cao lút đầu người. Paradis và các đồng nghiệp của anh bất ngờ phát hiện toàn bộ cảnh rút quân. Phía dưới, trên cánh đồng cỏ trải dài về phía chiếc cầu nhỏ, và trong một khu rừng rậm rạp che giấu những xóm làng và cánh đồng rộng mênh mông, có hàng trăm ngọn đuốc tỏa sáng. Trên một gò đất, đứng trước đội ngũ sĩ quan của mình, Masséna, tay cầm roi ngựa, đang điều khiển cuộc lui quân, như trong một buổi dàn cảnh tại một nhà hát Opéra. Đi trước đội hình hàng ngũ chỉnh tề của các trung đoàn lính là cảnh lộn xộn của các thương binh. Những con người bị xé nát, hôi hám, bẩn thỉu, đói khát, râu ria rậm rì nhưng có vẻ hài lòng được sống với những cánh tay, cẳng chân, đôi mắt của họ để nhớ lại những chuyện gì đã xảy ra và còn cái miệng để mà kể chuyện. Những người này cảm thấy may mắn, người ta có thể nhìn thấy một số sĩ quan quấn những chuỗi hạt quanh cổ tay. Họ mỉm cười mệt mỏi; thế là kết thúc. Tiếng vó ngựa của đoàn kị binh do Oudinot chỉ huy khua vang trên ván sàn cầu mới được sửa lại, tiếp theo là tàn quân của sư đoàn Saint-Hilaire, những khinh binh của Molitor với túm lông màu xanh có chỏm màu vàng, một trung sĩ đi đầu buộc lá cờ hiệu trên đầu nòng súng rồi giương cao lên như một ngọn cờ, nhóm người phân biệt được lờ mờ những màu sắc của các lực lượng, tất nhiên, nhưng Vincent Paradis lại thề rằng anh ta nhìn thấy họ rất rõ. Tướng Molitor đến chào Masséna, Masséna bỏ mũ có chỏm lông ra rồi đi sau hai nghìn binh tính còn sót lại của mình, tiếp tục hành quân. Phía sau là lực lượng khinh binh, biệt kích do Carra-Saint-Cyr và Legrand chỉ huy; Legrand, một người rất cao to, đội một cái mũ hai sừng rộng vành bị đạn pháo xén mất cả hai phía theo hành bán nguyệt. Không một tiếng thì thầm, chỉ có những tiếng lách cách; tiếng gót giày nện xuống mặt đất, rồi nện trên ván sàn cầu, các tiểu đoàn lần lượt biến mất dưới bóng cây tối đen của hòn đảo Lobau.

– Nhanh lên nào, đồ vô lại!

– Mày là thằng vô lại thì có!

Một hàng pháo xuất hiện phía sau toán tính cứu thương. Lũ ngựa sùi bọt mép vì phải kéo những cỗ pháo quá nặng lăn bánh lắc lư trên con đường gập ghềnh. Một pháo binh ngồi trên cao, đầu đội mũ shako có chỏm lông dài ngoẵng, đỏ rực, râu dựng lên như một cây thông nòng súng, đang gào đến rát cả họng chỉ huy đoàn xe pháo tiến lên. Những người điều khiển mặc áo vét màu xanh da trời loang lổ những vết thuốc pháo, quất vào mông những con vật đang sợ hãi.

– Khẩn trương lên!

– Đang khẩn trương đây, Louis béo hét lên, rồi anh ta nện thẳng cánh cả bàn tay vào mũi con ngựa làm nó lồng lên; người pháo thủ suýt ngã ngựa, may mà kịp lấy lại được thăng bằng, anh ta cáu điên lên. Các pháo thủ chạy đến vây quanh Louis béo; anh chàng rút phắt con dao cài bên dây lưng, người pháo thủ thì tì khẩu súng carbine vào vai nhằm vào má Louis.

– Thôi được rồi, Louis béo nói rồi cho dao vào vỏ bao.

Những người lính cứu thương đẩy chiếc xe vào trong những bụi cây ngấy, nhìn những khẩu pháo và xe chở đạn trống rỗng chạy qua. Cả đoàn xe pháo trượt xuống triền dốc. Một bánh xe văng ra trên đống sỏi, một chiếc xe chở đạn lật nhào. Những người điều khiển phải ghé vai vào nâng chiếc xe lên.

– Chạy nhanh cho lắm vào, Louis béo lầm bầm.

Chiếc xe tải cứu thương đi xuống dốc nhưng tách ra xa những trung đoàn đang đổ dồn về phía những đồng cỏ; Louis béo kéo chiếc xe đi sau chiếc xe cứu thương cũ kĩ của bác sĩ Percy, những chiếc xe đang được chuyển đến đảo. Từ xe có thùng cho đến những chiếc dùng để chở cỏ khô, và vô số những chiếc xe bị trưng dụng để chở các đồ linh tinh như áo giáp, súng ống đang chờ đến lượt vượt qua chiếc cầu nhỏ. Vỉncent Paradis kiên nhẫn ngồi tựa lưng vào một ụ đất quan sát các lực lượng rút lui. Đột nhiên, nhận ra mình đang tựa lưng vào đống tay, chân thương binh bị bác sĩ Percy và các trợ lí của ông ta cắt bỏ, Paradis bàng hoàng bật dậy, lảo đảo chạy ra quỳ xuống bên bờ sông nôn thốc nôn tháo, rồi vặt mấy lá cây chùi đôi môi nhợt nhạt. Cảm thấy lợm giọng, Vincent bèn bứt mấy ngọn cỏ cho vào mồm nhai. Anh trở lại tiếp tục theo dõi hàng quân khi một đơn vị kị binh xuất hiện phía trên một ngọn đồi. Đó là mấy đại đội mới được lập lại đang hành quân đến. Bessières tách ra khỏi hàng quân, thúc ngựa vượt lên rồi dừng lại trước Masséna, vẫn ngồi chắc chắn trên yên ngựa, ông ném xuống bãi cỏ hai lá cờ của quân Áo. Trong thời gian đó, đoàn kị binh hành quân giữa những hàng đuốc soi rọi ánh vũ khí sáng chói và ống tay áo đỏ của những bộ quân phục. Trước hết là sư đoàn trọng kị do Bá tước Nansouty dẫn đầu, với những chiếc gù mũ bằng đồng nhô lên giữa túm lông đen của những chiếc mũ, tiếp đến là màu sáng lóa của những chiếc quần cụt trắng của lực lượng long kị binh, những tia phản chiếu chói mắt từ những khẩu súng carbine…

- Thôi chết, trời mưa rồi! Paradis nói.

Những giọt nước lớn rơi xuống va vào các tấm áo chắn ngực bằng sắt để trên xe vỡ tung ra.

* * *

Ba giờ sáng, một trận gió đột ngột nổi lên đẩy tung cửa sổ, Henri vùng ngay dậy. Răng va vào nhau lập cập vì lạnh, anh kéo sụp chiếc mũ ngủ xuống tận tai, khoác thêm chiếc áo mãng tô ra ngoài áo sơ mi. Trời mưa rất nặng hạt. Đang định khép cửa sổ lại thì bỗng Henri nghe thấy một tiếng động nặng nề; anh ghé đầu ra ngoài quan sát đường phố. Một chiếc xe ngựa cảnh sát đứng ở phía đối điện ngôi nhà, rồi một chiếc khác do mấy con ngựa ướt lướt thướt kéo đến gần chỗ đó, cửa xe vẫn đóng kín. Ai bắn vậy? Có đúng là tiếng súng không? Henri không còn cảm thấy lạnh nữa, sự tò mò đã xâm chiếm lấy anh. Một đám người đi đứng lộn xộn trong cầu thang, những tiếng kẹt cửa, những tiếng nói rì rầm: Henri rất muốn biết âm mưu gì đang được chuẩn bị ở đây, anh vội vã mặc áo quần trong bóng tối. Henri lại ngoái cổ ra ngoài phố một lần nữa, anh thấy những bóng người đang chui vào chiếc xe thứ hai; anh tin là đã nhìn thấy cả bóng Anna trong áo khoác có mũ trùm, còn những cái bóng mảnh mai hơn là mấy người em của Anna và người quản gia. Có nhiều người đàn ông đội mũ vành, đang giúp mấy người trèo lên xe, rồi một người trong số họ trèo lên vị trí người xà ích; vung roi quất vun vút. Chiếc xe xuất phát dưới trời mưa như trút. Henri rời phòng chạy ra, lao xuống cầu thang chính rồi xuống tầng trệt. Anh sợ hãi khi phát hiện ra một bóng người đang theo dõi anh trong bóng tối, nhưng không phải, mà là bóng của anh phản chiếu vào gương; áo quần ăn mặc vội vàng, anh cầm thấy mình thật thô thiển trong chiếc redingote, áo măng tô khoác ngoài, chiếc quần cụt bó trong ủng, và đặc biệt là chiếc mũ có dải tua rủ xuống, anh đành phải kéo tuột mũ xuống rồi nhét vào túi. Anh mở rộng hai cánh cửa lớn nhưng không dám đương đầu với trận hồng thủy. Các máng nước xối ào ào trên nền đá lát, nước mưa tuôn xối xả xuống mái nhà. Henri nghĩ đến những người lính đang ở giữa cánh đồng giờ đây đang bị nước mưa biến thành vũng bùn, rồi cái cảnh anh vừa bất ngờ chứng kiến, Henri hắt hơi. Anh quay vào trong bếp, xem mấy giờ rồi. Anh gọi, leo lên tầng trên, rồi đẩy mạnh các cửa; nhưng những chiếc giường không một vết trũng, Anna đã trốn cùng vớỉ gia đình một cách có suy tính trước, nhưng mà cô ta đi với ai và đi đâu cơ chứ?

Phía dưới trong phòng khách lớn, có tiếng chân người bước. Những tiếng nói, tiếng chân người bước trên cầu thang. Henri chưa kịp nép mình vào căn phòng khách đầu tiên, thì một đám hiến binh đã bao vây lấy anh. 

- Anh là ai? Một hạ sĩ áo quần ướt sũng hỏi.

– Tôi cũng đang muốn hỏi anh câu hỏi đó đấy.

– Ô, anh là một gã tinh ranh đấy!

– Hãy để cho ngài cẩm Beyle được yên, ông ta không liên quan gì cả đâu.

Schulmeister leo lên cầu thang và đám hiến binh của ông ta đẩy nhau nhường đường cho ông ta. Schulmeister phấn chấn hẳn lên, trao chiếc áo choàng cho một tên cảnh sát đi theo. Thì ra đó là một trong số những kẻ mà anh đã nhìn thấy ở phía trước chỗ xe ngựa trong ngôi nhà ở Jordangasse. Anh cũng nhận ra người thứ hai, cái gã đang giữ một miếng gạc trên cánh tay; một viên đạn bắn qua cửa sổ chiếc xe làm rách toạc chiếc áo redingote và mảng da của anh ta.

– Thưa Ngài Schulmeister, ngài có thể giải thích cho tôi?

– Không còn ai trong ngôi nhà này sao?

– Một hoang mạc thì đúng hơn.

Cảnh sát trưởng đuổi đám hiến binh ra ngoài rồi hắn ta dẫn Henri vào trong phòng. Một trong những tay tâm phúc của hắn châm một ngọn nến, còn tên kia, thằng cha bị thương thì đến khép cửa sổ bằng cánh tay lành lặn còn lại.

– Cô Krauss đã đi gặp người yêu của cô ấy rồi, thưa Ngài Bẹyle.

– Lejeune ư?

– Một Đại tá khác.

– Périgord ư? Tôi không tin!

– Tôi cũng thế.

– Nói cho tôi biết xem tay đó là ai, mẹ kiếp!

– Một sĩ quan Áo, ngài Beyle ạ, một Nguyên soái của Hoàng tử Holhenzollem.

Henri ngã ngồi xuống ghế, anh ta lại hắt hơi, vẻ mặt kinh ngạc, mắt chan chứa lệ vì tức giận.

– Thế anh không nhìn thấy cái gì cả sao?

– Tôi chả nhìn thấy cái gì cả, thưa ngài Schulmeister.

– Anh thì chẳng bao giờ nhìn thấy cái gì cả, tôi biết mà…

– Ai đã đưa cô Anna đỉ?

– Những người du kích, mấy người cùng nói, những kẻ quấy rối như ông Staps đã làm cho chúng ta rất vất vả! Cái gì thế?

– Đó là tiếng chuông nhà thờ Saint-Etienne, Henri nói, mũi khịt khịt.

– Hình như nhà thờ kéo chuông báo động… Ông cho phép chứ? Schulmeister đưa tay chỉ cửa sổ.

– Ờ, đằng nào thì tôi cũng bị ốm rồi, Henri trả lời. Mở ra đi, mở đi…

Và rồi anh lại hắt hơi làm rung cả cửa kính. Những tiếng chuông nhà thờ thành Vienne vang lên từng hồi, những tiếng chuông được các nhà thờ khác đáp lại, từ phía bên kia chiến lũy đến các nhà thờ ở các thị trấn, có thể đến các nhà thờ tận các làng trong bán kính mười dặm. Bất chấp trời mưa, có nhiều người xuống đường và hô to.

– Những người dân thành Vienne nói gì vậy, thưa ngài Shulmeister?

– Họ nói rằng “chúng ta đã chiến thắng”, thưa ngài Beyle.

– Chúng ta là ai?

– Chúng ta cùng đến đó hỏi xem.

Họ đội mũ, khoác áo choàng và măng tô rồi ra đi như những kẻ ăn trộm trên đường phố. Những nhóm nhỏ dân thành phố tập trung, chuyện trò náo nhiệt. Schulmeister đề nghị Henri cởi phù hiệu trên chiếc mũ chỏm cao ra, họ luồn lách vào đám thị dân đang náo động truyền dí khắp mọi nơi những tin tức chói tai:

– Bọn Pháp bị nhốt hết trên đảo Lobau rồi!

– Quận công Charles đang dìm chúng dưới làn đạn!

– Hoàng đế Pháp bị bắt làm tù binh rồi!

– Không, không, lão ta bị giết rồi!

– Bonaparte đã chết rồi!

Schubneister cầm lấy tờ giấy đang được chuyền tay nhau, đưa lên đọc dưới ánh sáng một ngọn đèn tại một vòm cổng.

– Mẩu giấy ghi gì thế?

– Danh sách năm chục ngàn quân Pháp bị chết, thưa Ngài Beyle. Tên tuổi của họ được ghi rõ trong đó, rồi một vài…

Tiếng chuông nhà thờ cứ vang mãi đỉnh tai điếc óc

* * *

Tiếng đồn cứ loang mãi ra trong thành Vienne mà không có cơ sở thực tế nào. Thực ra thì lúc này, Hoàng đế đang trò chuyện với Davout ở lâu đài Schönbrunn. Ngài đã gặp quân đoàn sông Rhin trước khi trời mưa, trong tiếng hò reo, hoan hô vang dậy, rồi Thống chế và một đại đội kị binh tinh nhuệ theo sát xe hộ tống ngài. Trong suốt chặng đường về lâu đài, Ngài cắn răng im lặng, nhưng khi vào đến lâu đài, tại phòng khách Laques sang trọng, Ngài lại cao giọng tìm cách phân tích tình hình:

– Đêm nay, ta không thích các dòng sông một chút nào!

Napoléon cầm lưng chiếc ghế mạ vàng nện mạnh vào một cái xích đông làm chiếc ghế vỡ trang rồi la hét om sòm:

– Davout, ta căm ghét dòng sông Danube như những người lính của anh căm ghét anh vậy!

– Còn tôi lúc này, thưa Bệ hạ, tôi lại xót thương cho dòng sông Danube.

Đầu hói bóng, nhưng chòm râu má lại mọc rậm rì, đôi mắt kính tròn xoe đầu chóp mũi vì mắt bị cận nặng, Thống chế Davout, Công tước xứ Auerstaedt, biết rằng mọi người không thích ông vì ông cực kỳ nghiêm khắc và lại hay nói tục. Sĩ quan dưới quyền ông bị đối xử như những người hầu. Ông không những chưa một lần nếm mùi chiến bại mà còn điều hành việc quân rất chính xác, chặt chẽ. Là một kẻ tôn thờ chính thể quý tộc xứ Bourgogne, một người ủng hệ nền Cộng hòa nhiệt thành từ hồi đầu Cách mạng, ông luôn trung thành tuyệt đối vớii Đế chế. Ông lúc nào cũng giữ được bình tĩnh và chính sự bình tĩnh này đã làm tăng sự tức giận của Napoléon:

- Không thiếu một cái gì cả! Anh cho quân tiến về phía bên phải Lannes, chúng ta sẽ cầm chắc thắng lợi trong tay!

– Chắc chắn rồi.

– Như ở Austerlitz ấy!

– Tất cả đã sẵn sàng,

– Nếu như con lừa Bertrand có thể khôi phục được cây cầu lớn trong đêm nay, thì sáng sớm mai, chúng ta sẽ tấn công vào đạo quân đần độn của Charles!

– Không có vấn đề gì cả, thưa Bệ hạ, bọn Áo không chịu đựng được bao lâu nữa đâu. Tôi sẽ vượt sông Danube cùng vớí các sư đoàn quân hùng mạnh của tôi và chúng tôi sẽ nghiền nát chúng như nghiền nát lũ rệp.

– Những con rệp! Đúng thế! Những con rệp!

Hoàng đế cầm một nhúm thuốc lá nhét vào tẩu.

– Anh có đề nghị gì không, Davout?

– Lạy Đấng Sáng tạo! Chúng ta có thể dùng bữa tối, thưa Bệ hạ, tôi đói quá rồi, bãi pháo của bọn gà Áo không làm tôi khiếp sợ đâu!

Đảo Lobau mỗi lúc một đông người thêm. Hàng ngàn binh tính lướt qua như những chiếc bóng đến trú dưới tán các cây to; những kẻ may mắn nhất thì được tựa vào một thân cây, hoặc ngả lưng trên bãi rêu thiu thiu ngủ, chân thò cả xuống vũng nước, việc dồn quân này làm cho lực lượng hậu cần kinh hoàng, không thể nào đáp ứng được các suất ăn cho một lực lượng tập trung quá lớn như vậy; thực phẩm do Davout gửi tới thì nhỏ giọt, nên vừa cập bờ đã ngay lập tức bị ngốn hết sạch. Thương binh giờ đây đang rên rỉ dưới những tấm bạt lớn hoặc ngồi tựa lưng vào thành xe kéo. Lính cứu thương bố trí những chiếc thùng lớn để hứng nước mưa, họ có sáng kiến lấy những ống sậy để dẫn nước từ những chỗ trũng trên tấm vải bạt được căng ra giữa các cành cây. Họ cố gắng hâm nóng lại nồi cháo thịt ngựa đã bốc mùi, và để vào các chậu tất cả đầu và ruột ngựa dành cho các tù binh bị dồn nhốt vào bãi cát tận cùng của đảo Lobau để cho họ tự xoay xở, ăn tươi nuốt sống những thứ đó. Thỉnh thoảng, một y tá đi một vòng quanh những thân hình nằm dài trên mặt đất, nhặt ra những xác người đã chết, rồi thờ ơ lôi nó về phía bờ sông, đẩy xuống nước.

Phía đối diện, trên cánh đồng cỏ, những ngọn đuốc lớn đã bị dập tắt từ lâu dưới trận mưa rào, nhưng Masséna vẫn đứng nguyên đó. Cứng đơ như một bức tượng sống cắm trong bùn, để mặc nước mưa chảy toàn qua mặt, ông chăm chú chi huy cuộc rút lui theo mệnh lệnh của Hoàng đế, đưa toàn bộ quân đội rút về tạm lánh vào trong những cánh rừng trên đảo.

- Chỉ còn lực lượng Cựu cận vệ, thưa ngài Công tước, Sainte-Croix nói, chỏm lông trên chiếc mũ hai sừng phất phơ một cách thảm hại.

– Rạng đông, cuộc lui quân sẽ kết thúc.

- Đây là những đơn vị cuối cùng…

Tướng Dorsenne đi đầu một tiểu đoàn, binh lính như những bóng ma xám xịt, cuộn mình trong những bộ áo măng tô nặng trịch nước mưa. Họ lội bì bõm, trượt ngã trong lúc leo lên một ngọn đồi. Họ gắng sức bấm chân mà bước, mỗi lần nâng chân lên là một lần vất vả vì đất bám chắc vào đế giày. Những ngọn cờ sũng nước xoắn cả lại phía đầu cán. Những chiếc kèn thổi inh tai bản hành khúc của Đế chế; trống không phải thúc nữa nên binh lính dùng vải che lại không để nước mưa làm hỏng mặt da. Dorsene dừng lại bên cạnh Masséna, Sainte-Croix đến giúp ông xuống ngựa vì ông bị thương vào đầu và có vẻ như đang trong tình trạng rất yếu; đôi găng của ông được dùng làm dải băng buộc vòng quanh trán.

– Chỉ là một mảnh đạn găm vào thôi mà, ông nói.

– Ông phải khẩn trương cho kiểm tra lại vết thương đi! Masséna gầm lên. Lannes, Espagne, Saint-Hilaire, thế đủ rồi!

– Tôi sẽ đi kiểm tra vết thương một khi toàn bộ lực lượng của tôi đi qua cầu.

– Đồ con lừa!

– Thưa ngài Thống chế, tôi không có quyền biến mất trước hồi cuối cùng này. Điều đó sẽ nêu một tấm gương rất tồi.

Masséna cầm cánh tay Dorsene chỉ cho xem toàn bộ binh lính của ông ta đă bắt đầu xuống chiếc cầu nhỏ bập bềnh trước những làn sóng dữ dội của sông Danube.

– Tôi sẽ đợi cho tới khi họ xuống cầu được một nửa. Dorsenne nói lại.

– Sainte-Croix, Masséna nói, đích thân anh dẫn Tướng quân đến chỗ bác sĩ Yvan nhé.

– Hoặc Larrey, Dorsenne nói, mặt tái xanh trông đến phát sợ.

– A đừng, ông bạn khốn khổ ơi! Larrey có thể cắt mất đầu anh đấy! Như bác sĩ Guillotin, ông ta cắt tất cả những cái gì quá khổ, anh biết đấy

Họ rời nhau sau câu chuyện tếu. Sau đó Masséna ra lệnh cho các sĩ quan của mình:

– Nào bây giờ đến lượt các ngài. Tôi đi sau cùng.

Khi các sĩ quan đã ở cả trên đảo thì một loạt súng bên bìa làng Aspern vang lên. Masséna mỉm cười:

– Lũ bợm thức dậy đó!

Không. Đó chỉ là một sự cố không gây hậu quả gì. Lính Áo đã trút đạn vào một cái lều hoang. Quận công Charles không biết sự thật về những thiệt hại đã gây ra cho những cây cầu lớn; ông ta sợ rằng tính công binh sẽ nhanh chóng sửa chữa và quân tiếp viện Pháp sẽ qua được bờ phải như hôm qua vậy. Lo lắng và không có gì chắc chắn, ông ta đưa phần lớn lực lượng của mình về vị trí cũ. Thậm chí ông ta không còn nghĩ đến chuyện tấn công nữa. Lực lượng của ông ta đã đổ máu quá nhiều.

Một mình, đi bộ chậm rãi và không ngoảnh đầu lại, Thống chế Masséna là người cuối cùng vượt chiếc cầu nhỏ. Lính công binh và thủy quân trong tư thế sẵn sàng tháo dỡ cầu. Những chiếc xe kéo không có thành, hẹp và dài đang chờ những ụ nổi để chuyển về phía bên kia đảo để khôi phục lại cây cầu phao lớn: chỉ còn thiếu có mười lăm cái thuyền nữa thôi. Sáu giờ sáng, trận Essling vừa kết thúc. Hơn bốn chục ngàn người chết thảm trên cánh đồng. 

❀ ❀ ❀

[1] Tức thống chế Lannes.

[2] Thời kỳ Đốc chính: Chính quyền đảng Thermidore sau khi lật đổ chính quyền Jacobins đã lập ra hiến pháp mới vào tháng 8/1795, thành lập Quốc hội hai viện. Sau ba tháng bầu ra Ủy ban Đốc chính gồm 5 người do Paul Barras đứng đầu. Các quan chức Đốc chính gồm 5 người thay nhau giữ chức Chủ tịch.

[3] Thời kì Khủng bố: Thời kì Khủng bố (27/6/1793-27/7/1794), là một thời kỳ bạo lực xảy ra trong một năm và một tháng sau khi sự khởi đầu của cuộc Cách mạng Pháp, kích động bởi cuộc xung đột giữa đối thủ chính trị phe phái, những người Girondins và Jacobins, và đánh dấu bằng hành quyết hàng loạt các “kẻ thù của cách mạng.”

[4] Câu văng tục tiếng Italia, có nghĩa tương tự “đồ thối tha”.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.