Chiến Trận

Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG V

❊ ❊ ❊

Ngày thứ hai

“Cái chết ôi thanh bình biết bao! Như Iphigiénie, ta sẽ nuối tiếc ánh sáng ban ngày; chứ không phải là cái được nó chiếu sáng.”

Demi-jour, Jacques CHARDONNE

Sương mù bao phủ cánh đồng. Mặt trời đỏ ối đang từ từ nhô lên phía chân trời tô điểm cánh đồng bằng một màu máu đỏ. Làng Aspern vẫn cháy bừng bừng. Gió mạnh dai dẳng tạo ra những cơn lốc xoáy khói đen đặc quánh, khét lẹt. Một vài người lính đang chồm hỗm ngồi sưởi bên bếp lò trại lính. Đại tá Sainte-Croix lắc vai Masséna đang nằm ngủ ngon lành từ hai giờ nay giữa hai gốc cây cụt. Thống chế đứng lên ném chiếc áo măng tô màu xám xuống đất, miệng ngáp dài vì hãy còn ngái ngủ. Ông vươn tay vươn chân, vừa cúi đầu vừa nhìn người sĩ quan tùy tùng, chàng trai này không cao hơn Hoàng đế, nhưng mảnh khảnh, tóc vàng, mặt nhẵn nhụi như con gái; trông bề ngoài thật khó có thể hình dung được năng lực của anh ta.

– Thưa ngài Công tước, anh ta nói, chúng ta vừa nhận được quân trang và thuốc súng.

– Cho phân phát đi, Sainte-Croix.

– Xong rồi thưa ngài.

– Thế thì chúng ta quay lại chứ?

– Phòng tuyến số bốn và trung đoàn 24 khinh bộ binh đang vượt qua cầu nhỏ và sẽ tiến quân để đuổi kịp chúng ta.

– Trước hết, chúng ta phải đến đó cái đã, cần phải tận dụng sương mù để chiếm lại nhà thờ. Cầu mong Molitor tập hợp được những người còn sống sót trong trung đoàn của ông ấy.

Tiếng trống lệnh tập trung quân, các tiểu đoàn hình thành đội ngũ, ngựa cũng xếp hàng tiến đến, có nhiều con không có kị binh điều khiển. Masséna tóm lấy một con ngựa màu nâu, người kị binh cưỡi nó có lẽ đang hấp hối đâu đó trên cánh đồng, ông nhảy lên mình ngựa mà không cần sự giúp đỡ của một ai, chỉnh lại dây cương, rồi cho ngựa chạy nước kiệu về hướng Aspern. Khắp xung quanh, quân lính đứng cả dậy, run lên vì lạnh, người như tê dại bởi giấc ngủ của họ quá ngắn ngủi và chập chờn, rồi mò mẫm đi về phía những lùm cây để súng. Quá mỏi mệt, họ không gây một tiếng động, không nói một lời nào; trông họ như những cái bóng. Họ theo sau Masséna tiến về phía lối ra một con phố lớn. Tầm nhìn xa chỉ khoảng mười mét. Từ đêm qua, khuôn viên nhà thờ do lữ đoàn của Nam tước Hiller trấn giữ nằm dưới sự chỉ huy của Tướng quân Vacquant đang bị chìm trong sương mù và khói. Chỉ có tiếng chân ngựa, chân người rậm rịch. Masséna rút gươm khỏi vỏ, ông dùng mũi gươm lặng lẽ chỉ hướng thoát hiểm cho những người sống sót thuộc trung đoàn Molitor. Họ tập trung thành hàng, đi dọc theo những ngôi nhà rồi tập trung lại sau những hàng cây và những đống đổ nát xung quanh khu sân chính.

– Anh có nhìn thấy cái mà tôi đã nhận ra không, Sainte-Croix?

– Có, thưa ngài Công tước. Bọn vô lại đã phá sập những dãy tường khu nghĩa trang và tường bao quanh nhà thờ rồi! Chúng ta chỉ có thể tấn công bọn chúng trong tình trạng không có gì che chắn! Anh thấy thế nào?

– Cần phải đợi lực lượng của Legrand và của Carra-Saint-Cyr đến, ít ra chúng ta cũng có được ưu thế về số lượng.

– Nhưng sương mù dày đặc chẳng mấy chốc sẽ tan đi! Ồ không! Màn sương mù đó sẽ bảo vệ chúng ta. Cho nên phải phát lệnh tấn công thôi!

Một ngàn khinh binh chưa tỉnh ngủ tràn lên tiến về phía nhà thờ lúc này đã được gia cố thành một pháo đài. Trong làn sương dày đặc, những người lính giương lưỡi lê tiến về phía trước, đôi khi họ vấp phải những xác chết từ đêm qua hoặc chuệnh choạng trong những hố đạn pháo. Bọn Áo đã dự đoán trước cuộc tiến quân này, chúng phản công bằng những loạt đạn bắn vung vãi từ mọi phía, thậm chí từ cả tháp chuông nhà thờ đã bị cháy trụi quá nửa. Rồi không biết bao nhiêu người ngã dúi dụi, mũi cắm xuống đất. Đúng lúc đó, giữa những ngôi mộ ở khu nghĩa trang và bức tường con sạt lở, người ta nhận ra một viên sĩ quan ngồi trên lưng ngựa, giương cao lá cờ viền vàng; một toán quân áp đảo đột ngột xuất hiện vây bọc anh ta từ mọi phía, rồi một tiếng thét vang lên, toán lính chạy vượt lên phía trước đám khinh binh vung gươm đâm, chém, xiên. Một trận giáp lá cà kịch liệt bắt đầu, một số binh lính dùng súng như những chiếc búa tạ, một số khác thì dùng như những chiếc lưỡi hái hay ngọn giáo. Họ chém giết nhau trong cơn gào thét điên dại; một số khác thăm dò nhau một giây trước khi nhảy bổ vào nhau; lính bộ binh ngay lập tức như bị đóng đinh xuống đất, lúng ta lúng túng giữa những con đường hẹp, không còn nghe thấy những tiếng thở khò khè. Ai cũng phải cố giết người khác để mình khỏi bị giết. Người ta húc vào nhau, người ta cấu xé nhau bằng móng vuốt, bằng răng, người ta ném cát làm mù mắt nhau; và trong màn sương mù đang vây bọc, khi chiến binh nhận ra sự hiểm nguy thì đã quá muộn rồi.

Masséna nhìn đồng hồ, Sainte-Croix sốt ruột cáu tiết:

- Quân ta đã mất điểm tựa rồi, thưa ngài Công tước!

Masséna chỉ vào một nhóm lính tráng rách tả tơi đang tháo lui, kéo lê hoặc vác những thương binh mình bê bết máu. Sainte-Croix nhấn mạnh:

– Cho phép tôi được giúp họ, thưa ngài Công tước.

– Thưa ngài Công tước, thưa ngài Công tước! Thôi đừng có làm điếc tai ta bằng những từ ngài Công tước của anh nữa đi! Công tước của cái gì, hả? Của một cái làng Ý hay của một biểu tượng hả? (rồi bằng một giọng ranh mãnh:) này chú em Sainte-Croix của ta, chả mấy khi ta gọi chú em bằng cái từ ngài Hầu tước đâu đấy nhá!

Sainte-Croix nắm đốc kiếm chặt đến mức những ngón tay trắng bệnh ra. Sự thực thì bố của anh là Hầu tước và đã từng là Đại sứ ở Constantinople dưới triều Louis XVI, nhưng cho dù cả gia đình đều làm trong ngành ngoại giao, anh vẫn luôn bị cuộc đời binh nghiệp lôi kéo. Từ khi còn rất trẻ, Sainte-Croix đã phục vụ dưới trướng của Talleyrant trước khi đăng lính vào một trong những trung đoàn gồm toàn là những người gốc gác quý tộc hoặc là dân nhập cư do Hoàng đế chọn lựa. Masséna rất quý mến Sainte-Croix nên đã cho anh đi theo.

– Hãy bình tĩnh đi, Sainte-Croix ạ, nếu anh muốn chỉ huy. Anh đã nhìn thấy cả trăm khinh binh trong tình thế tháo lui rồi chứ? Ta cũng vậy.

- Ta có thể ra lệnh cho họ quay lại chiến trường, nếu ngài cho phép tôi!

– Ta cũng có thể làm được như vậy mà Sainte-Croix.

Rồi Masséna giải thích cho viên Đại tá trẻ tuổi rằng vấn đề ở đây là phải làm cho bọn Áo hao binh tổn tướng, mỏi mệt sau một ngày đánh nhau, kìm chân chúng để chờ đợi những trung đoàn trẻ trung và sung sức đến tiếp viện. Sainte-Croix, hai mươi bảy tuổi, rất hăng hái song lại thiếu kinh nghiệm binh nghiệp, nhưng được cái hiểu vấn đề rất nhanh Anh đúng là có tài năng thật sự. Bản anh hùng ca Iliade đã lay động anh từ tuổi ấu thơ. Đã từ lâu Sainte-Croix mong muốn sánh kịp Hector, Priam, Achille, tưởng tượng những cuộc chiến đấu bằng những ngọn lao dưới những chiến lũy màu đất son của thành Troie, khi mà những Thiên thần đã trở thành kẻ đồng lõa của bọn khổng lồ tàn bạo, xa hoa, láu lỉnh, bất chấp bộ giáp trụ nặng nề và bộ xà cạp của họ. Sáng nay, anh tưởng như đã nhìn thấy Achille mặc bộ quần áo da gấu, đội mũ có trang trí những chiếc răng nanh lợn rừng, kẻ bất lương tự phụ này đã được nữ thần Athéna thán phục bằng những lời giả dối. Sainte-Croix nghe rõ tiếng trống giục và ngoái đầu lại. Những tóm lông đỏ lộ ra khỏi đám sương mù. Đó là các tay súng thiện xạ của Carra-Saint-Cyr đang tiến đến.

* * *

Lejeune có cảm giác khó chịu khi phải lao vào màn sương mù xám xịt. Anh không còn nhận ra con đường mà đêm hôm qua có đến hàng trăm lần anh đã đi lại giữa đảo Lobau và Essling; những hàng cây, những hàng rào cứ đột ngột nhô lên ngay trước mõm ngựa thậm chí mất cả phương hướng, không sao định vị được. Lejeune đi bộ, cứ căn cứ vào tiếng động gần nhất mà bước. Thoáng nghe thấy tiếng sột soạt ở phía bên trái, chắc chắn là từ rìa cánh đồng đang bị dìm trong sương mù, anh vội rút kiếm và đứng yên tại chỗ; một bóng hình mờ mờ ảo ảo đang động đậy ngay trong tầm kiếm của anh; anh gọi bằng tiếng Pháp, tiếng Đức nhưng không có tiếng đáp lại, nghĩ đến một sự bất trắc nguy hiểm nào đó đang chờ đợi, Lejeune lao về phía cái bóng bất định đó phóng kiếm lung tung về mọi hướng. Thì ra đó chỉ là một bụi rậm bị gió lay động. Đứng trong đám lá cây và những cành nhỏ vừa bị chặt đứt, Lejeune cảm thấy yên tâm hơn, và buồn cười cho sự đa nghi của mình. Cuối cùng, anh nhận ra một luồng ánh sáng mờ mờ, quyết định thận trọng đi về phía đó, tay không rời đốc kiếm. Ánh sáng lờ mờ đó biến mất khi anh bước lại gần. Trong làn sương mù bắt đầu tan, anh nhận ra là đã lọt vào giữa một tốp lính thiết kị đang dùng chân dập tắt đám lửa được nhóm lên đêm qua.

– Này, người anh em, Lejeune nói, tôi cần đến Essling, theo lệnh của Hoàng đế! Các anh chỉ giùm tôi con đường ngắn nhất đến đó.

– Anh đã vượt quá xa cánh đồng rồi đó, một Đại úy má đầy râu mọc nham nhở nói. Tôi sẽ cho anh một người dẫn đường. Ngay cả khi bị bịt mắt thì người của tôi cũng vẫn tìm ra đường.

Đại úy Saint-Didier cằn nhằn thắt lại dây lưng. Cách đó trăm mét, trại lính vẫn còn le lói ánh sáng bất chấp quân lệnh.

– Brunel! Fayole! Cậu và cả hai cậu kia nữa! Đến chỗ đám ngoan cố kia bảo chúng dập tắt lửa đi!

– Tôi cùng đi với họ, Lejeune nói.

– Xin ngài cứ tự nhiên, thưa Đại tá. Họ sẽ dẫn đường cho ngài đến Essling… Fayole! Mặc áo giáp vào!

– Không thể bị thương được đâu, thưa Đại úy, thiết kị Brunei nói và nhảy lên mình ngựa.

- Thôi, chuyện tầm phào thế đủ rồi! Saint-Didier càu nhàu, rồi hạ thấp giọng nói với Lejeune: tôi không thể nào giận họ được, sau cái ngày vị tướng chỉ huy của chúng tôi hi sinh, họ trở nên quá xúc động…

Fayolle cài khuy áo giáp còn Lejeune thì nhìn anh chàng đã từng bị anh chửi rủa thậm tệ, thậm chí còn nện cho một trận khi hắn ta xông vào cướp bóc ngôi nhà màu hồng của Anna. Còn Fayolle thì không nhận ra Lejeune, anh ta cúi xuống như một cái máy, nhặt khẩu súng rồi nhảy lên yên ngựa. Sáu kị binh đi về phía mấy chiếc lều đang có ánh lửa. Khi gần tới nơi, và khi những bóng người hiện ra rõ hơn, họ nhận ra những bộ quân phục màu nâu của lực lượng Landwehr. Một nhóm đang ăn chung súp đậu trong một cái chảo, một số khác đang lau súng bằng những nhùi lá cây. Tốp lính Áo bất ngờ nhận ra là đang bị kị binh Pháp bao vây, bởi họ chủ quan cậy số quân đông hơn. Cả tốp đứng phắt dậy, giơ hai tay không có vũ khí lên trời. Trước khi Lejeune kịp ra lệnh, thì Fayolle đã thúc ngựa nhảy bổ vào giữa tốp lính Áo. Cầm chắc khẩu súng trong tay, Fayolle nã phát đầu tiên vào người lính thứ nhất, rồi bằng lưỡi gươm, miệng gầm thét điên dại, anh ta phạt đứt lìa hai cánh tay người thứ hai đang giơ lên.

– Bảo cái thằng điên đó dừng tay lại! Lejeune ra lệnh.

– Anh ấy muốn báo thù cho Tướng Espagne của chúng ta đó mà, Brunel nói, miệng cười khoái trá.

Lejeune thúc ngựa chặn Fayolle lại khi anh ta đang chuẩn bị xiên tiếp người lính Áo đang co rúm trên mặt đất, anh nắm chặt cổ tay Fayolle vặn trái. Hai người trong tình thế đối mặt nhau, cả hai cùng thở hổn hển, rồi cuối cùng Fayolle nói trong hơi thở.

– Đây không phải ở trên sàn khiêu vũ, ông Đại tá ạ! Bình tĩnh lại đi, nếu không, tôi sẽ giết anh!

Tay trái cầm súng, Lejeune chĩa thẳng vào cổ họng người lính thiết kị.

– Ông lại muốn đập gãy răng tôi một lần nữa đấy à?

- Tôi đang muốn như vậy đây.

- Không sao đâu, hãy tận dụng cấp hàm của ông đi!

- Ngu xuẩn!

- Chỉ là sớm hay muộn thôi, thế nào tôi cũng mặc.

- Ngu xuẩn!

Fayolle giật cương kéo ngựa nhảy qua một bên. Trong lúc hai người đang cãi nhau, tốp kị binh đã gom số tù binh không vũ khí lại. Tuy nhiên, có ba tù binh đã may mắn chạy thoát về phía đập nước, số còn lại thì ngoan ngoãn chịu làm tù binh vì như thế thì không còn phải đi đánh nhau nữa.

– Làm gì với lũ chim này đây thưa Đại tá? Brunel hỏi và xuống ngựa đi đến nếm món đậu còn trong chảo.

– Đưa họ về Bộ tham mưu.

– Thế còn Ngài, chúng tôi không phải dẫn Ngài đến làng Essling nữa hay sao?

– Tôi không cần đến cả một toán quân, tôi chỉ cần anh kia kìa, anh ta thông thạo đường sá ở đây nên đi với tôi.

Lejeune chỉ tay về phía Fayolle lúc này đang cong mình trên cổ ngựa cố lấy lại hơi.

Giao đám tù binh cho tốp lính thiết kị, Lejeune theo sau Fayolle dẫn ngựa về phía màn sương mù mênh mông phía dưới chân một ngọn đồi, họ gặp những tiểu đoàn lính ném lựu trong trạng thái sung sức, số quân này thuộc lực lượng Cận vệ, vũ khí có dây đeo, đi ghệt trắng trên chóp mũ shako có gắn cái lông dài hai màu trắng đỏ, rồi một trung đoàn quân Đức đang lặng lẽ tiến về phía cánh đồng. Họ nghe rõ tiếng roi của những người đánh xe kéo pháo của lực lượng pháo binh, nhận ra bộ áo vét màu xanh sáng của họ, họ còn nhìn thấy những cầu vai bằng len đỏ của lực lượng pháo binh đang kéo theo vài chục khẩu pháo. Cuối cùng, họ cùng song hành với các đơn vị bộ binh, đội ngũ chỉnh tề, hàng dài không dứt do Tharreau và Claparède chỉ huy. Fayolle dừng lại nhường đường cho kị binh truy kích đang hợp quân với lực lượng kị binh của Bessières. Sương mù đã loãng dần, có thể phân biệt được những ngôi nhà đầu tiên bị thiêu cháy của làng Essling.

– Tôi không dẫn ngài đi xa hơn nữa đâu thưa ngài sĩ quan, Fayolle nói mắt không nhìn Lejeune.

- Cảm ơn. Tối nay, chúng ta sẽ chào mừng chiến thắng, tôi cam đoan với anh là như vậy.

- Ôi, đối với tôi thì cái đó chả có ý nghĩa gì cả, tôi đang sống trong một cái chuồng súc vật.

– Thôi nào !

– Khi nhìn thấy khu làng này bị tàn phá, thiêu trụi hoàn toàn, tôi lại có cảm giác rất kỳ cục

– Thế cậu sợ à?

– Tôi có một nỗi sợ hãi không bình thường, thưa chỉ huy. Đó không hẳn là sợ hãi, mà là cái gì đó không sao cắt nghĩa được. Như là sự xấu xa hèn hạ.

– Trước đây anh làm gì?

– Không làm gì cả hay đúng ra là không có gì đặc biệt cả, một kẻ làm những thứ vặt vãnh mà phải dùng đến răng nanh hoặc lưỡi kiếm thi công việc đó luôn là một thứ bẩn thỉu, chi đáng vài xu. Kìa, kìa, Thống chế Lannes đang rời làng Essling kìa…

Nói rồi, Fayolle quay trở lại. Thống chế Lannes đang phi ngựa cùng với Claparède, Saint-Hilaire, Tharreau và Curial.

Xỏ chân vào đôi ủng đầy bụi bặm, Hoàng đế đứng khoanh tay phía trước những ngôi nhà mái ngói nơi đặt bản doanh của Bộ tham mưu. Ngài mỉm cười nhìn màn sương đang tan dần. Hình như Ngài linh cảm là có thể khống chế được tình hình, bởi vì thời tiết xấu này là kẻ đồng minh tin cậy của Ngài. Trước đây, Ngài đã biết lợi dụng mùa đông, những con sông, dãy núi, thung lũng để nhanh chóng tấn công đập tan ngay lập tức lực lượng cửa kẻ thù. Hôm nay, cả vùng nông thôn đang bốc khói mịt mù này cũng là một điều kiện rất thuận lợi, quân đội của Ngài có thể đột ngột xuất hiện thành một khối ngay trước mũi quân Áo đang dàn trận trên sườn dốc chia cắt khu làng. Lejeune đã mang được mệnh lệnh của Hoàng đế tới Thống chế Lannes và những đơn vị bộ binh đang được bố trí theo hình vuông trên sườn mái dốc. Ánh sắt sáng loáng của những thanh kiếm và lưỡi lê giương cao, ánh vàng lấp lánh trên quần áo các tướng lĩnh, hình ảnh rực rỡ của những chú đại bàng in trên các lá cờ, tất cả rực sáng dưới ánh nắng mặt trời vừa ló dạng. Những tiếng trống nổi lên, rồi những tiếng trống đáp lại kéo dài lan tỏa từ trung đoàn này sang trung đoàn khác, tiếng trống hòa trộn vào nhau, đôi khi làm lạc điệu của nhau, tiếng trống rền vang như những tiếng sấm ngân dài bất tận và có nhip. Các đại đội kị binh tiến theo đội hình phòng tuyến thứ hai, dàn hàng phía dưới thung lũng là lính kị binh cầm giáo quân phục xanh của Ba Lan, khinh kị binh, lính cận vệ của Saxe và của Naples, lính truy kích của Westphalie[1]. Trong cảnh bày binh bố trận ấy, Napoléon nghĩ không còn đội quân Bade, Gascogne, Ý, Đức, Lorraine nữa mà chỉ còn một lực lượng duy nhất được thống nhất mệnh lệnh đang chuẩn bị giáng một đòn quyết định làm thất bại lực lượng đang suy yếu của Quận công Charles.

Lúc nãy, lực lượng thiết kị đi tuần tra đã dẫn giải về một số tù binh thuộc lực lượng Landwehr, trên mũ của chúng phủ đầy lá cây trông thật buồn cười; Hoàng đế đã thẩm vấn số tù binh đó, và Tướng Rapp, người gốc vùng Alsace nói được tiếng Đức làm phiên dịch. Bọn chúng đã khai rõ tên các đơn vị, cũng như mô tả sự mệt mỏi kiệt lực, tinh thần rệu rã của binh lính Áo. Thống chế Lannes lập tức tung ra hai mươi ngàn lính bộ binh vào giữa lực lương của Hohenzollern và lực lượng kị binh dự bị của Liechtenstein. Liechtenstein là Hoàng tử Áo, đã từng làm Đại sứ ở Paris và trong thời gian đó hình như được Hoàng đế rất ưu ái. Berthier cung cấp những tin tức mới nhất mà ông vừa được báo cáo. Quân Pháp cuối cùng đã giành lại được nhà thờ Aspern và Masséna đang củng cố vị trí. Khi đến đảo Lobau, Périgord khẳng định rằng ba mươi ngàn quân của Davout lúc này đang trên đường hành quân về phía Eberdort tập trung tại phía bờ bên kia sông Danube, một giờ nữa sẽ vượt cầu lớn. Tình hình có vẻ như phù hợp với kế hoạch tấn công được dự kiến trong đêm nay. Sáu nghìn kị binh của Bessières sẽ tràn vào đột phá cửa khẩu do lực lượng của Lannes mở ra nhằm bao vây quân thù từ phía sau, trong khi đó, Masséna, Boudet và Davout sẽ cùng lúc rời khỏi các khu làng tấn công vào các cánh quân của đối phương. Trước mười hai giờ, theo tính toán của Hoàng đế, họ sẽ giành thắng lợi 

Napoléon biết rất rõ ảnh hưởng của mình đối với binh lính và Ngài biết tận dụng thế mạnh đó. Bởi thế, Ngài quyết định kéo dài đội hình hành quân để phô trương sức mạnh. Ánh mắt của Ngài khích lệ và làm tăng thêm bội phần lòng quả cảm của họ. Napoléon tự dắt con ngựa màu xám hiền lành của mình bước lên chiếc thang nhỏ mà người ta vừa mở ra rồi lên ngựa.

– Thưa ngài, Berthier nói, lực lượng của chúng ta đang hành quân, xin Ngài nên ở lại đây, từ chỗ này, chứng ta sẽ theo dõi toàn bộ mặt trận…

– Nghề của ta, ấy chính là phải làm cho những người lính kính nể, làm họ say mê! Tả cần phải có mặt khắp nơi. Tất cả những điều đó ta luôn tâm niệm trong tim mình.

– Thưa Ngài, nhưng xin Ngài giữ khoảng cách ngoài tầm đạn pháo ạ!

– Anh nghe thấy tiếng pháo nổ đấy à? Còn ta thì không. Chúng đã gầm lên đánh thức chúng ta từ sáng sớm tinh mơ nhưng cũng từ khi đó chúng câm lặng rồi. Anh có nhìn thấy ngôi sao kia không?

– Không, thưa Ngài, tôi không nhìn thấy một ngôi sao nào cả.

– Trên cao xanh kia kìa, không xa chòm sao Đại hùng tinh bao nhiêu đâu.

– Không, tôi cam đoan với Ngài…

– Này, Berthier, khi nào chỉ có ta là người duy nhất trông thấy ngôi sao kia, thì ta tiếp tục thực hiện ý tưởng của ta và ta sẽ không nhượng bộ. Đi thôi! Ngôi sao của ta, ta đã nhìn thấy nó khi hành quân đến Ý với các anh. Ta đã nhìn thấy ngôi sao ấy ở Ai Cập, ở Marengo, ở Austerlitz, ở Friedland!

– Thưa Ngài…

– Anh làm ta khó chịu rồi đấy, Berthier ạ, anh thận trọng như một bà già! Nếu ta phải chết ngày hôm nay, thì ta phải biết chứ!

Napoléon bước đi, các sĩ quan theo sau, cách một quãng ngắn, Từ ngày ở Ai Cập, Hoàng đế luôn nắm chặt trong bàn tay một thứ trang sức bằng đá khắc hình bọ hung, một tấm bùa may mắn lấy từ trong hầm mộ của một Pharaon. Ngài cảm thấy được sự may mắn chở che từ báu vật này. Ngài biết rằng một trận đánh, cũng giống như một buổi hành lễ, cần có một nghi lễ, và mọi tiếng hoan hô của đội quân ra đi chấp nhận cái chết thay thế cho những bài thánh ca và thuốc súng thay cho hương khói. Ngài làm dấu thập ngoặc một cách vội vàng, theo cách của người dân đảo Corses mỗi khi chuẩn bị đưa ra một quyết định tối quan trọng, nặng nề. Một tiếng hô như điện giật vang lên, lực lượng tinh nhuệ thuộc binh đoàn Vệ binh Đế chế bố trí phía sau và bên trái lò gạch đứng nghiêm nghênh đón Ngài. Vừa nhìn thấy Napoléon, Tướng Dorsenne đã nâng cao chiếc mũ và hô to: “Bồng súng, chào!” nhưng những người tính Vệ binh đã treo mũ lông gấu hoặc mũ shako của họ lên lưỡi lê, miệng hô vang tục danh của Hoàng đế.

* * *

Đứng giữa đoàn quân được bố trí bên rìa cánh đồng, Thống chế Lannes đang chỉ đạo các tướng lĩnh:

– Trời đang rạng dần, thưa các Ngài, hãy gấp rút triển khai mệnh lệnh chỉ huy. Oudinot và lính ném lựu của ông bố trí bên trái mặt trận, Claparède, Tharreau ở trung quân, còn anh, Saint-Hilaire, phía bên phải chính diện Essling.

– Thế chúng ta không đợi lực lượng Sông Rhin đến à?

– Đội quân đó đã có mặt ở đây. Davout sẽ đến đây trong giây lát và sẽ hỗ trợ cho các anh.

Bá tước Saint-Hilaire mái tóc ngắn rủ xuống trán, cổ rụt lại trong chiếc cổ áo dựng cao có thêu kim tuyến. Ngồi thẳng trên lưng con ngựa hay trái tính trái nết mà ông luôn phải nắm chặt dây cương, ông đi đến chỗ lính truy kích, một lực lượng mặc sắc phục phóng túng, chỉ phân biệt được họ nhờ vào phù hiệu bằng len màu xanh trên vai. Ông dừng lại phía trước hàng quân mang trống lệnh, chăm chú nhìn một cậu lính giống như một đứa trẻ con, ông hỏi người chỉ huy đơn vị, một người khổng lồ, chiều cao được tăng thêm nhờ chiếc mũ có gắn chòm lông, mặc trang phục lộng lẫy, đeo đầy những chuỗi hạt và đồ thêu diêm dúa tới tận đôi ủng:

– Thằng nhóc này bao nhiêu tuổi?

– Mười hai tuổi, thưa Tướng quân.

– Thì sao ạ? Thằng bé hỏi.

– Sao à? Ta nghĩ cậu chưa đủ tuổi để đi giết người. Cậu bị ép buộc à?

– Tôi đã từng tham gia quân đội ở Eylau, tôi cũng đã từng ở Rastibonne, và không thứ gì có thể làm trầy da xước thịt tôi.

– Ta cũng vậy, Saint-Hilaire cười nói, nhưng thực ra ông đã nói dối, giấu nhẹm đi việc ông đã từng bị thương trên cao nguyên Pratzen, trong trận Austerlitz.

Từ trên yên ngựa, ông nhìn người lính bé con mang chiếc trống lớn gần bằng người.

– Tên họ cậu là gì?

– Louison.

– Không phải chỉ tên riêng, họ tên đầy đủ của cậu là gì?

– Mọi người vẫn gọi tôi là Louison, thưa Tướng quân.

– Tốt, lấy dùi trống ra, Louison. Hãy gõ thật mạnh như hồi ở Rastibonne ấy!

Đứa bé vâng lời. Người chỉ huy đội trống lệnh nâng cao chiếc gậy song đầu bịt bạc và những người khác bắt đầu gõ theo nhip của cậu bé.

– Tiến lên! Saint-Hilaire ra lệnh.

– Tiến lên! Tướng Tharraeau phía xa cũng ra lệnh cho binh sĩ của ông.

– Tiến lên! Claparède thét lớn.

Toàn quân tràn lên xông thẳng vào những ruộng lúa mì xanh mướt. Sương mù tan ra từng mảng. Quân Áo phát hiện ra lực lượng bộ binh của Lannes khi họ tiến về phía chúng. Thống chế phi ngựa tiến đến, bên cạnh ông là Tướng Saint-Hilaire; ông giương cao thanh kiếm và cả sư đoàn tiến lên, đi trước là Louison, tay cầm dùi nện liên hồi lên mặt trống như một gã điên, ngỡ như mình cũng có một chút quyền hành Thống chế trong tay.

Kinh ngạc bởi cuộc tấn công mạnh mẽ và bất ngờ của quân Pháp, lực lượng của Hohenzollern định kháng cự, nhưng lính truy kích đạp lên xác đồng đội, giương lưỡi lê xông lên. Dưới sức mạnh như vũ bão của cuộc tổng công kích, tiền quân Áo phải thoái lui, thoái lui mãi: phía sau lực lượng bộ binh Pháp, chúng nhận ra những họng pháo đang nhằm vào chúng.

Giữa thời khắc tàn bạo của cuộc chiến, sự hoài nghi trong Lannes không còn nữa. Ông chỉ còn là một chiến binh. Ông gào thét khản cả giọng, đứt cả hơi, khoa chân múa tay giữa các chiến binh dũng cảm của ông, thúc giục họ tiến lên phía trước; ông nêu gương sáng bằng cách dẫn đường cho họ, tay bắn, tay vung kiếm cản những đường gươm, trên ngực ông còn đeo cả một tấm huân chương. Hãy nhìn ông đang hối thúc con ngựa lúc này đang hăng tiết, xông thẳng vào lực lượng pháo binh Áo, hất đổ cả những khẩu pháo, làm cho chúng kinh sợ, ông giận dữ phóng gươm vào giữa tốp pháo thủ. Hãy nhìn ông lăn xả vào thế trận hình vuông của đối phương, tiếng đạn rít bên tai không làm cho ông lo sợ, ông giật tung một lá cờ có vẽ những hình thù kỳ dị, dùng mũi nhọn của nó xiên vào thân hình một tay trung úy. Saint-Hilaire đến tiếp ứng, phóng mũi kiếm vào sau lưng một tay pháo thủ da trắng. Rồi cả hai cùng nhau xung trận, động viên binh sĩ, quân thù từ chỗ rút lui rất có bài bản đã bắt đầu khiếp sợ; chúng tháo chạy tán loạn, đội hình bị xé nhỏ ra, tan tóc trên những cánh đồng lúa mì bị xéo nát

– Saint-Hilaire, chúng ta đã chiến thắng, Lannes nói trong cơn thở dốc, tay chỉ vào cảnh tượng đang diễn ra phía quân Áo đang tháo chạy; cách đó khoảng một trăm mét, mấy sĩ quan Áo đang dùng gậy gộc đánh những kẻ trốn chạy, buộc họ quay trở lại hàng ngũ.

– Hoàng đế hoàn toàn có lí, thưa ngài, Saint-Hilaire trả lời.

– Đúng, Hoàng đế hoàn toàn có lí, Lannes nhắc lại, mắt nhìn ra xung quanh.

Trong cơn cuồng sát, họ lao vào những cuộc phiêu lưu lớn, họ lại xông vào cuộc chém giết chết chóc và lại trở về bình yên vô sự, hình như không gì có thể làm tổn thương họ. Đột nhiên, kị binh của Liechtenstein xuất hiện phía bên phải, gươm giáo sáng lòa cản đường đồng đội của chúng đang tháo chạy toán loạn, nhưng lính truy kích Pháp đã vào cuộc, tiếp chúng bằng những loạt đạn phũ phàng, rồi lực lượng thiết kị của Bessières chạm trán với chúng, đẩy lùi chúng về phía sau; người ta nghe thấy những tiếng loảng xoảng của những nhát gươm chém lên áo giáp. “Không khác gì trận Eckmühl! Lannes nghĩ. Kị binh của chúng chỉ làm mỗi nhiệm vụ che chở cho bộ binh tháo chạy. Anh bạn Pouzet, người anh, người thầy của ta nói rằng kẻ địch hoặc là rất nhút nhát hoặc là thiếu tự tin! Tối nay chúng ta sẽ ăn mừng chiến thắng tại Thành Vienne!” Ông mơ màng nghĩ tới người đẹp Rosalie, tới những tấm ga trải giường êm ái, đến bữa tối thịnh soạn, tới giấc ngủ không mộng mị. Ông cũng mơ về nữ Công tước Montebello đang ở Pháp, ông tưởng tượng ra gương mặt nàng, nụ cười của nàng và thầm thì: “Ôi Louise-Antoinnette. Rồi ông lại giương cao mũi kiếm tiếp tục dấn thân vào cuộc tàn sát.

* * *

Tham mưu trưởng Berthier đã phái Lejeune tới chỗ đạo quân Davout thúc giục ông ta cấp tốc hành quân đến mặt trận. Đại tá Lejeune đem theo người sĩ quan tùy tùng:

– Hãy theo tôi sang bờ phải, rồi cậu phi ngay đến Vienne chuyển cho cô Anna Krauss lá thư này.

- Sẵn sàng, thưa Đại tá, viên sĩ quan tùy tùng trả lời, vẻ mặt rạng rỡ vì nhiệm vụ này tạo điều kiện cho cậu rời xa mặt trận.

Người sĩ quan nhét lá thư vào phía trong tấm áo nẹp rồi vượt lên phía trước vị chỉ huy của mình, tiến về phía cây cầu phao lớn.

– Đừng đi nhanh như vậy, thận trọng đấy!

Tiếng sóng vỗ của dòng sông át cả tiếng nói của Lejeune. Người sĩ quan tùy tùng đã đi đến giữa cầu, không còn nghe thấy gì cả. Anh chàng cho ngựa chạy nước kiệu và viên Đại tá mấy lần tưởng rằng kẻ bướng bỉnh đó sẽ bổ nhào xuống dòng nước hung dữ cùng với con ngựa và lá thư, dòng sông Danube đang giận dữ quất ào ạt vào cây cầu làm cho nó chao đảo, nhưng không, tay sĩ quan tùy tùng đã sang được tới bờ bên kia. Từ trên yên ngựa, anh ta ngoảnh lại, giơ cao bàn tay đeo găng vẫy chào viên Đại tá của mình, Lejeune cũng giơ tay đáp lại, thế rồi anh ta thúc ngựa phi nhanh về hướng thành Vienne, ngược chiều với đoàn quân sông Rhin đang tiến về mặt trận. Phía chân trời, bên trên những dải sương mù mỏng mảnh cuối cùng, Lejeune trông thấy mờ mờ hình tháp chuông nhà thờ Saint-Etienne, cảnh tượng này làm cho Lejeune xốn xang; lá thư của anh cuối cùng sẽ đến tay Anna. Anh lại ngoái nhìn sang bờ phải nơi những đoàn quân dài bất tận của Davout đang hành quân, cùng pháo, xe quân nhu và lương thực. Một số lính truy kích ngồi trên mình ngựa, áo quần màu xanh sẫm, mũ có chòm lông đen, tròn như những viên bi, kéo sụp xuống tận trán đang tiến tới những ván cầu đầu tiên như những trinh sát dò đường. Lejeune dùng đầu gối thúc ngựa đi đến gặp họ mà không bị trượt trên những tấm ván cầu ẩm ướt, đôi chỗ đã long đinh rời ra. Từ đêm hôm trước, thợ cầu và công binh đã phối hợp với nhau nhằm hạn chế cuộc đua của các ván cầu, của những thân cây, những chiếc thuyền hỏa công mà bọn Áo đã quẳng xuống dòng chảy; họ sửa chữa ngay lập tức các thiệt hại; Lejeune không chú ý tới cái công việc đã trở thành nếp ấy. Khi anh sắp đi đến giữa cầu thì những tiếng la ó làm cho anh giật mình sửng sốt. Phía trước mặt, kị binh dừng lại nhìn về phía thượng nguồn dòng sông.

Những tiếng hò la í ới từ một từ một đơn vị công binh được bố trí ở một trong những trụ nâng cầu, họ đang đóng cọc và cột chắc lại các sợi dây buộc. Lejeune xuống ngựa và cúi xuống:

– Còn chuyện gì thế hả?

– Bọn chúng sắp liệng những ngôi nhà xuống chỗ chúng tôi, ngay bây giờ đây, để phá vỡ cây cầu của chúng ta.

– Những ngôi nhà ư?

– Đúng thế, thưa Đại tá!

Ông hãy tận mắt nhìn xem, một sĩ quan công binh mặc áo hở ngực, râu ria rậm rì nói. Anh ta đưa cho Lejeune chiếc ống nhòm và chỉ tay về một điểm nhỏ xíu phía xa xa ngang với tháp chuông đen sì của làng Aspern. Lejeune đò xét dòng sông Danube. Anh nhìn thấy những cái bóng mặc quân phục trắng đang đi lại trên một hòn đảo nhỏ cây cối um tùm. Anh nhìn thấy mỗi lúc một rõ hơn. Đám người này đang xúm quanh một cái cối xay chạy bằng sức nước mà chúng vừa tháo hết bánh ra. Một số người khác đang làm những sợi dây sắt để kéo những cục đá tảng. Người sĩ quan công binh trèo lên phía trên mặt cầu, đến bên cạnh Lejeune, giải thích cho anh nghe:

– Ý đồ của chúng, thật đơn giản, thưa Đại tá. Tôi hiểu rõ cho nên tôi thực sự sợ hãi.

– Nói cho tôi hay xem nào …

– Chúng nó đang trát hắc ín vào chiếc cối xay, chúng đã làm từ nãy, kia kìa, rồi chúng sẽ cột chặt cái cối xay đó trên hai chiếc thuyền lèn chặt đá tảng. Đại tá có nhìn thấy không?

- Tiếp đi…

– Chúng nó sẽ thả con thuyền chở chiếc cối xay trát đầy hắc ín ấy xuống dòng sông, cho trôi dần về phía chúng ta rồi phóng hỏa đốt cháy, chúng ta phải đối phó thế nào đây, thưa Đại tá?

– Anh có tin chắc như vậy không?

– Không nghi ngờ gì nữa, chắc chắn là như vậy rồi!

– Từ đây, các anh nhìn thấy chúng quét hắc ín vào cối xay à?

– Sao lại không, thưa Đại tá! Cái cối xay hoàn toàn bằng gỗ màu vàng thế mà bây giờ nó đen sì ra kia kìa! Từ hai tiếng đồng hồ nay, chúng tôi đã hiểu được ý đồ của chúng, chúng sẽ quăng về phía chúng ta những chiếc bè lửa, chúng ta sẽ khó có thể dập tắt được những bè lửa ấy. Cái cối xay quá to, chúng ta không thể dập tắt được.

– Tôi hi vọng là anh bị nhầm, Lejeune nói.

– Hi vọng ư, cái đó chả có giá trị gì cả, thưa Đại tá. Quả là tôi cũng rất thích là tôi bị nhầm. Để rồi xem!

Nhưng anh ta không nhầm. Bị ám ảnh bởi cái cối xay gió cao như một ngôi nhà ba tầng, Lejeune nghiên cứu nhằm vô hiệu hóa thủ đoạn mới nguy hiểm của kẻ địch. Cuối cùng, bọn Áo đã đẩy tác phẩm của chúng xuống dòng sông; cái tác phẩm đó nổi bồng bềnh trên mặt nước. Một số lính ném lựu đang ngồi trên những chiếc thuyền nhỏ dẫn công trình của chúng ra giữa dòng sông nhằm tránh cho nó khỏi va quá sớm vào bờ. Bọn chúng cầm theo những ngọn đuốc, mồi lửa rồi vứt ngọn đuốc cháy bùng bùng xuống phía chân cái cỗ máy chết người đó. Chiếc cối xay bắt lửa trong giây lát rồi cứ thế lừng lững trôi đi giữa dòng sông cuộn sóng.

Về phía quân Pháp, sự bất lực đã làm tăng thêm nỗi sợ hãi: làm sao để ngăn cái con quỷ hung dữ này lại được? Chiếc cối xay đã biến thành một lò lửa khổng lồ di động tiến về phía cây cầu lớn với một tốc độ đáng gờm. Những thứ khí cụ được các công binh sáng tạo ra với những sợi đậy xích căng ngang dòng sông làm vật cản nhằm đổi hướng những chiếc thuyền của đối phương để chúng khỏi lao vào phá vỡ cầu, giờ đây khó có khả năng làm đổi hướng con thuyền hỏa công đồ sộ này. Tuy nhiên, mọi người vẫn trở về vị trí của mình, ngồi trong những chiếc xuồng kết nối với nhau bằng những dây chão, dùng sào, bơi chèo và những thân cây dựng thành một tuyến ngăn chặn; họ đợi chờ cú va chạm với một lo lắng là liệu rồi họ có còn sống sót không đây.

Lejeune vỗ nhẹ vào mông ngựa, đưa nó quay trở lại đảo. Những người tính truy kích bất lực bị dồn lại phía bên hữu ngạn và lực lượng của Davout, kinh hãi trước cảnh tượng này đã đặt vũ khí xuống dưới chân. Chiếc cối xay cháy ngùn ngụt tiến gần lại, lớn dần lên. Nó đủng đỉnh, lắc lư, chao đảo trên dòng sông cuộn sóng nhưng không bị đổ. Đến ngang tầm những chiếc xuồng và những sợi dây xích chằng, cái cối xay bị cháy đứt một mặt đứng, cái mặt đứng đổ nhào xuống dòng sông, tiếng xèo xèo réo lên, khói bốc mù mịt nhưng tổng thể cái cối xay vẫn đứng thẳng và tiếp tục hành trình. Khi vướng vào những sợi xích sắt căng ngang dòng sông, nó giật chúng đứt tung và kéo luôn theo, đẩy những chiếc xuồng lao vào những khúc gỗ đang cháy dở của nó. Những chiếc xuồng bị đốt cháy cùng với những người ngồi trong thuyền rồi cả ngườỉ và xuồng chìm nghỉm trong xoáy nước. Một người lính bị kẹp vào chỗ dầu sôi, anh ta gào lên, nhưng không ai nghe được tiếng gào xé họng của anh ta cả, rốt cuộc, anh ta cũng phải chịu chung số phận như những người khác, bị dòng sông Danube cuốn trôi. Không có gì có thể ngăn cản được đường tiến của chiếc thuyền hỏa công khủng khiếp đó. Những người thợ cầu nhảy ào xuống dòng sông vì họ không còn thời gian để kịp leo lên ván sàn cầu chạy trốn trước khi bị chiếc thuyền va đập và những ngọn sóng cồn đẩy vào thành cầu bẻ gãy xương họ. Lejeune cảm thấy có ai đó cầm lấy cánh tay mình, thì ra đó là người sĩ quan râu rậm đang kéo anh lùi về phía sau và anh chạy về phía đảo Lobau. Anh nghe thấy sau lưng một cú va đập rất mạnh; chiếc cầu rung lên bần bật. Người sĩ quan và Lejeune bị ném bẹp xuống một đống gỗ sũng nước. Tàn lửa do những cú va chạm mạnh gây ra rơi như mưa xung quanh họ. Một vài công binh áo quần bị bén lửa bùng cháy như những ngọn đuốc nhảy xuống nước để rồi chết chìm trong đó. Khi chống tay đứng dậy, Lejeune nhìn thấy thảm cảnh: cây cầu lớn đã bị cắt đứt tung làm đôi và hai đầu cầu đang đổi hướng. Chiếc cối xay vỡ ra tiếp tục cháy bùng bùng, lửa bén lên cả dây rợ, ván sàn, thành cầu.

* * *

Hai thanh niên đi bộ trong khu Jordangasse. Hai người cùng đang ở độ tuổi hoa niên, mặc áo redingote bằng dạ màu sẫm, đội mũ chóp cao. Người lớn tuổi hơn khoảng hai mươi đang đung đưa chiếc gậy cho ra vẻ uể oải. Còn người kia là Friedrich Staps, vì tối qua không về phòng mình ở căn nhà Krauss nên anh ta không biết rằng ông cảnh sát Schulmeister đã đến thăm viếng ngôi nhà, rằng một người Pháp tên là Henri Beyle, thuê một phòng ở tầng dưới đang nghi ngờ về những mánh khóe, những trò nhạo báng, những bí mật của anh ta và về bức tượng nhỏ của Jeanne d’Arc. Cuối cùng, khi về tới chỗ nghỉ trọ, lẽ ra phải nghỉ ngơi nhưng Ernst lại bấm vào tay Staps, mắt không nhằn anh ta, thì thầm: “Đi loăng quăng thêm chút nữa như là những kẻ đi dạo vô hại, vội quay về làm gì..” Friedrich nghe theo bởi lẽ bạn anh ta đã đoán được một mối hiểm họa đang chờ họ, nhưng mãi khi đi đến chỗ phố Judenplatz bên cạnh thì Staps mới dám hỏi lí do tại sao lại có sự nghi ngờ đó. Cả hai giả vờ ngắm tủ kính một cửa hiệu may:

– Cậu sợ cái gì vậy?

– Đối diện vối phòng cậu có một chiếc xe ngựa thùng.

- Thế à.

– Tớ có giác quan thứ sáu nên đánh hơi đám cảnh sát rất tốt

– Cảnh sát ư? Cậu có chắc không? Không ai có thể phát hiện ra tớ ở Vienne này đâu.

– Chúng ta cứ phải cẩn trọng. Bằng hữu của chúng tớ sẽ cho cậu trú nhờ, đừng đặt chân vào căn nhà đó nữa. Cậu để toàn bộ đồ đạc ở đó à?

- Ừ đúng thế…

Staps suy nghĩ rất lung về bức tượng nhỏ, bởi vì anh ta để con dao ở chỗ bức tượng.

– Thôi mặc kệ, Ernst nói.

- Ừ, mặc kệ, Staps thở dài, nhưng những chiến tích trong tương lai đòi hỏi ở cậư nhiều sự hi sinh hơn.

Tối hôm trước, Staps đã gặp lại Ernst von der Sahala trong một căn phòng yên tĩnh tại một quán cà phê thành Vienne. Thoáng nhìn họ đã nhận ra nhau không cần tự giới thiệu.

– Mục sư Wiener, người anh em của chúng ta vẫn khỏe chứ? Emst hỏi.

– Ông ấy đã dẫn đường cho tớ tối gặp cậu đấy!

Cả hai đều là người Đức và là tín đồ đạo Luthér, nhưng Ernst thuộc giáo phái Illuminés, một giáo phái giống như nhiều giáo phái khác thời đó, những người Philadelphes của Đại tá Oudet, những người theo thuyết Tương phù, các Hiệp sĩ đen, tự khẳng định họ là những người thanh trừng bạo chúa và đòi tước quyền sống của Napoléon, kẻ áp bức các dân tộc. Đã nuôi ý chí đó từ lâu nhưng họ không thể hiện ra ngoài; tiếng nói của họ không lọt sang bàn bên cạnh được nhờ tiếng nhạc đang phát ra từ một chiếc vĩ cầm. Sau đó, cả hai leo lên chiến lũy ngắm nhìn vùng nông thôn đang rực sáng dưới ánh lửa của những đám cháy của cuộc chiến. Staps nói về nhiệm vụ của mình, anh ta kể bằng cách nào anh ta biến khỏi nhà và vào một buổi sáng, chỉ để lại mấy chữ cho bố: “Con ra đi để thực thi sứ mạng cao cả mà Chúa đã giao phó cho con”. Staps nghĩ là mình được giao trọng trách đó. Cậu ta đã từng nghe những tiếng nói và say sưa đọc tác phẩm Oberon của Wieland, một bài thơ hùng tráng trong trắng ngây thơ, lấy cảm hứng từ thời Trung cổ trong đó độc giả thấy một người lùn, vua của các thần, ủng hộ Huon của Bordeaux trong cuộc viễn chinh tại vùng Babylone; nhờ một cái tù và thần diệu và một chiếc cốc thần, Huon đã cưới được con gái vua Thổ sau khi lấy được những sợi râu và ba chiếc răng hàm của vị vua này. Staps cũng rất thích đọc Schiller, một Schiller tình cảm, kẻ bất nhân thuộc giới quý tộc, và tác phẩm Thiếu nữ thành Orléans đã làm cho anh ta rung cảm. Staps trở thành một người ngưỡng mộ Jeanne d’Arc. Cũng như Jeanne d’Arc, cậu ta mong giải phóng nước Đức và nước Áo khỏi Quỷ dữ. Chính vì sứ mạng đó mà cậu ta đã mua một con dao.

Tám giờ sáng, hai chàng trai rời con phố cổ, tay trong tay, họ lầm rầm hát như những kẻ say rượu. “Thời chiến, Ernst nói, các đội tuần tra không ngăn nổi những tay ăn chơi say rượu”. Họ đi qua trước nhà thờ dòng Dominic thì gặp một toán cảnh sát đi tuần. Tốp cảnh sát nhạo báng họ. Cuối cùng, Ernst lôi kẻ môn đồ mới vào trong một hành lang có mái che. Và lúc này họ đã ở trong một cái sân lát đá. Ernst đi thẳng về phía một cái cửa, gõ nhiều lần theo một mật khẩu nào đó, có người ra mở cửa cho họ, cả hai đi vào một hành lang rồi vào một căn phòng dài có hai ngọn nến chiếu sáng mờ mờ. Phía đầu một chiếc bàn, một người đàn ông gầy và có tuổi, mặc đồ đen đang đọc cuốn Kinh Thánh.

– Thưa mục sư, Ernst nói, xin Ngài cho phép người anh em này tá túc ở đây ạ.

– Bảo cậu ấy bỏ hành lý xuống. Martha sẽ dẫn cậu ấy lên phòng trên tầng ba.

– Cậu ấy chả có hành lí gì cả. Có lẽ phải cho cậu ấy một số vật dụng cần thiết.

Những thứ cần thiết à? Vị mục sư già hỏi. Hãy nghe đây, nhà tiên tri Jérémie đã phán rằng… (ông cầm lấy Kinh Thánh đọc, giọng run run): “Ngày hôm nay là ngày của đấng Thiên chúa, của đấng Vĩnh Hằng của quân đội. Đó là một ngày báo thù. Lưỡi kiếm sẽ được ăn ngấu nghiến, nó sẽ no nê thỏa thích, nó sẽ say sưa tắm máu quân thù. Các dân tộc biết được nỗi hổ thẹn của con, người con gái Ai Cập, và tiếng thét của con tràn ngập trái đất, bởi vì các chiến binh người nọ xô kẻ kia rồi tất cả bọn họ đều ngã xuống!”

– Những lời nói mới tuyệt diệu làm sao, Ernst nói.

– Đúng như vậy, Friedrich Staps đế thêm.

* * *

Napoléon mặt tái xanh, không còn chút huyết sắc, gương mặt nhẵn bóng và đờ đẫn chẳng khác nào một bức tượng dang dở. Đôi mắt vô hồn, Ngài nhìn trời, rồi lại cúi đầu nhìn xuống đất. Đứng lặng trước lối xuống cây cầu phao lớn vừa bị cắt đứt đang dập dềnh như một con thuyền trên mặt sông, Ngài nhìn chiếc cối xay bị lửa thiêu rụi và nghĩ rằng cần phải dẹp bỏ những mảnh vụn đang bốc khói của nó trước khi ráp nối lại hai mảnh cầu vỡ dài cả trăm mét vào đúng vị trí cầu bị phá. Dòng sông vẫn ào ào như thác lũ. Câm lặng, mệt mỏi hơn là phật lòng, Hoàng đế chắp hai tay sau lưng, nhưng vẫn siết chặt chiếc roi ngựa trong tay. Sáng nay, chiến cuộc đối với Ngài thật thuận lợi, cuộc tấn công có hiệu quả: Lannes đã phá vỡ trung quân của bọn Áo, đã đẩy lùi các cuộc phản kích của chúng ra xa; các sư đoàn của Masséna và Boudet đang chờ lúc rời khỏi khu làng. Giữa cánh đồng rộng mênh mông này, Hoàng đế không thể áp dụng chiến thuật quen thuộc của mình được. Khi tiến chiếm đảo Lobau, các chiến thuật thần tốc, bất ngờ, Ngài đem áp dụng cả rồi, thậm chí Ngài gần như đã cầm chắc thắng lợi trong tay, nhưng chiến cục đã thay đổi; cũng như dưới các triều vua khác, chiến cuộc chơi trò pháo đối pháo, trung đoàn đối trung đoàn, tung cả khối người vào một khối người, lúc nào cũng nhiều người hơn, nhiều xác chết hơn, và nhiều lửa đạn hơn. Ngài thèm thuồng nhìn lực lượng bổ sung đang ở bờ bên kia, nhìn đội quân của Davout phải dừng lại với những khẩu pháo vô dụng, những cỗ xe chở đầy thuốc súng và lương thực, hàng hàng chiến binh ngồi chơi xơi nước.

Cách vài bước chân về phía sau, vẻ mặt khó chịu, lo lắng, Berthier và một nhóm sĩ quan không dám nói năng, không dám cử động. Họ hi vọng có một mệnh lệnh sáng suốt, một ý tưởng làm thay đổi số phận. Trong số các sĩ quan đó có Lejeune, đầu để trần, không mũ shako, quân phục nhàu nát. Bị thôi miên bởi cây cầu phao mong manh, dài ngoẵng như đang xem thường, thách thức mình, Napoléon không ngoảnh đầu lại, gọi:

- Bertrand!

Bá tước Tướng quân Bertrand, vẻ kín đáo và tận tụy, mũ kẹp dưới cánh tay, tiến lại bên Hoàng đế, đứng nghiêm trước mặt Ngài chờ lệnh. Chính Hoàng đế đã quyết định vị trí bắc cầu, chính Ngài đã độc đoán quyết định cả thời hạn việc bắc cầu, nhưng lại liên tiếp bổ nhiệm những người phụ trách trong khi chính Bertrand là người chỉ huy lực lượng công binh ở đây.

– Đồ phá hoại![2]

– Thưa ngài, tôi đã thực hiện chính xác mệnh lệnh của Ngài.

– Đồ phản bội! Nhìn xem kìa, cây cầu của chính ông đấy!

– Chỉ trong một đêm, thưa Ngài, chúng tôi không thể làm một công trình tốt hơn thế trên dòng sông hung dữ như thế này.

– Đồ phản bội, đồ phản bội! (rồi Ngài nói với những người khác) Lũ phản bội! Các người cũng vậy! Tất cả các người! Các người đã phản bội ta!

Không một ai đáp lời bởi lẽ sẽ chẳng có ích gì. Cần phải đợi cho cơn giận dữ của Hoàng đế qua đi.

– Bertrand!

– Dạ, thưa Ngài?

– Phải mất bao nhiêu thời gian để sửa chữa vụ phá hoại này của các anh, hả?

- Ít nhất phải hai ngày, thưa Ngài…

- Hai ngày!

Hoàng đế quất một roi ngựa rất mạnh vào giữa mặt Bertrand. Ngài thở phì phì. Bước về phía con ngựa, Ngài khoát tay vẻ nôn nóng, bảo Berthier đi theo.

– Anh đã nghe tất cả những lời xấc láo của tay Bertrand rồi chứ?

– Vâng thưa Ngài, Berthier nói.

– Những bốn mươi tám giờ! Thế lão Quận công hiện đang ở đâu?

– Tại trại Bisamberg của hắn, thưa Ngài.

– Hừ… Lão ta sẽ nhanh chóng biết được sự bất hạnh của chúng ta.

– Trong một hoặc hai giờ nữa, chắc chắn là như vậy. Và lão ta sẽ lợi dụng sự cố này tung tất cả lực lượng dự trữ tấn công chúng ta.

– Trừ khi chúng ta kiên trì tấn công hắn, Berthier ạ! Lannes đang chốt chặn tại một vị trí tuyệt vời, ông ta đã làm cho lực lượng của Hohenzollem rối loạn toàn bộ đội hình.

– Nhưng mà chúng ta thiếu quá nhiều quân nhu, khí giới.

– Davout có thể dùng thuyền tiếp tế cho chúng ta.

– Số lượng chuyên chở được quá ít, thưa Bệ hạ, mà lại lắm rủi ro do thuyền bè có thể bị lật.

- Vậy thì chúng ta đành phải ra lệnh rút lui.

– Nếu chúng ta rút lui, thưa Bệ hạ, lực lượng của Quận công sẽ được củng cố lại.

– Còn nếu chúng ta không rút lui thì Quận công sẽ đánh thọc hai cánh, nơi phòng vệ sơ hở nhất của chúng ta, và sẽ là một cuộc tàn sát! Cần phải rút lui thôi.

– Rút về đâu, thưa Bệ hạ, về đảo ạ?

– Dĩ nhiên, chả lẽ lại rút xuống sông Danube à, đồ ngu!

– Không thể chuyển kịp thời hàng trăm ngàn người cùng với bao nhiêu xe pháo, khí giới trước khi mà quân Áo từ phía hai bờ sông tiến đến đánh bọc hậu chúng ta.

– Trước hết, chúng ta hãy từ từ rút về các vị trí đêm qua đã. Masséna và Boudet củng cố vị trí của họ trong các ngôi làng, Lannes sẽ cắm chốt tại sườn dốc. Khi đêm xuống, chúng ta sẽ tiến vào đảo.

- Cần phải trụ vững trong vòng mười tiếng…

- Đúng vậy!

* * *

Một lần nữa, vào lúc chín giờ sáng, Đại tá Lejeune lại phải phi ngựa qua các cánh đồng; anh mang mệnh lệnh rút lui quân của Hoàng đế đến Thống chế Lannes. Anh gặp một đoàn tù binh Áo đi ngược chiều. Cả một tiểu đoàn lính không mũ, không vũ khí, đầu cúi thấp, một số có sẹo dài trên mặt, dải băng sơ sài vòng qua đầu hoặc tay bị băng bó đeo chéo qua vai, một vài tên tụt lại sau đang tập tễnh lê bước theo, máu me thấm đỏ cả đôi ghệt. Đoàn tù binh đi vào khu vực cánh đồng, cậu bé Louison vừa lùa chúng như lùa một đàn ngỗng vừa ứng tấu trên chiếc trống to đùng của cậu một điệu sarabande nhọc nhằn. Lejeune lòng nặng trĩu, nhưng bất giác mỉm cười. Cảnh tượng này làm anh nhớ lại cuộc phiêu lưu mạo hiểm của Guéhéneuc sau chiến thắng Eckmühl; khi đi đưa tin, vị Đại tá này gặp phải một trung đoàn kị binh đối phương, bị lạc trong đêm tối nhưng rồi cũng tìm được đường về. Từ chuyện này, Hoàng đế mới đùa rằng: “Chính anh, Guéhéneuc này, chỉ có một mình mà anh đã bao vây cả một trung đoàn kị binh Áo đó sao?”. Nhưng sáng nay, phía sau đoàn tù binh còn có đội quân của Lannes, mình mang đầy chiến lợi phẩm như những tên kẻ cướp, họ mang những bó súng tịch thu được của kẻ thù, kéo theo năm khẩu pháo còn nguyên vẹn được mắc thêm vào đó những chiếc xe ngựa, những túi đạn đầy ắp và một lá cờ bị thủng lỗ chỗ.

Lejeune tiếp tục phóng rất nhanh về phía mặt trận vì anh nhìn thấy phía xa xa, tại thôn Breintenlee, một đám kị binh đang phóng hỏa. Thống chế Lannes ngồi trên thân một khẩu pháo mất hết bánh. Ông đang chỉ huy trận đánh, phân công các sĩ quan tùy tùng của mình chuyển mệnh lệnh đến Saint-Hilaire, Claparède hay Tharreau.

Khi Lejeune vừa đặt chân xuống đất thì Lannes nhíu mày kêu lên:

– A, ngài Đại tá mang tai họa lại đến!

- Tôi e rằng Bệ hạ có lí.

- Nói đi.

– Bệ hạ…

– Nói đi! Tôi đã quen nghe những điều kinh tởm rồi mà.

– Cuộc tấn công cần phải dừng lại

– Cái gì? Nhắc lại cho tôi nghe cái điều xuẩn ngốc kia xem nào!

– Lệnh tấn công bị thu hồi.

- Lại thế nữa! Vừa mới cách đây một giờ, Périgord, đồng nghiệp của anh đã yêu cầu tôi một điều xuẩn ngốc tương tự, sửa chữa cây cầu ma quỷ bị một cái bè lửa phá hỏng! Thế cây cầu của các anh làm bằng rơm à?

- Thưa ngài…

– Anh có biết cái gì đã xảy ra không, Lejeune? Phía trước, kẻ dịch đã tập hợp lại sau đợt nghỉ đầu tiên, do đó, chúng ta cần phải tiếp tục tấn công, chúng ta đã bắt đầu và bị mất khá nhiều người, nhưng một lần nữa chúng ta đã làm tiêu hao lực lượng quân Áo! Kia kìa, ngồi xuống, nhìn đám rối của Hohenzollern kia kìa, có phải là chúng đang hồi phục sức lực đấy không?

– Hoàng đế ra lệnh phải rút lui về Essling.

- Gì cơ?

– Lần này có vẻ nghiêm trọng hơn.

Lejeune giải thích những sự kiện mới nhất cho Lannes. Bối rối, Thống chế phẫn nộ:

– Chúng ta đã cầm chắc thắng lợi! Đã cầm chắc thắng lợi, ta thề với anh như vậy! Một giờ nữa, lực lượng hỗ trợ của Davout đến, chúng ta sẽ biến đám quân của Quận công thành…

Nói rồi, Lannes dõng dạc ra lệnh cho hai sĩ quan tùy tùng:

– Lệnh cho Bessières đưa lực lượng kị binh vào sâu trong làng, lệnh cho Saint-Hilaire và những tướng lĩnh khác rút lui có trật tự, từ từ, để không làm bộc lộ điểm yếu của chúng ta, làm như thể là chúng ta đang chuẩn bị một chiến lược mới, như thể chúng ta đang hi vọng nhiều hơn ở lực lượng tiếp ứng rất mạnh hoặc chúng ta để lại lực lượng pháo binh tiếp tục triển khai trên những cánh đồng, cần phải có thủ đoạn đánh lừa bọn Áo chứ không để cho chúng hí hửng.

Ông đứng lên nhìn các sĩ quan của mình đang vội vã đi truyền cái mệnh lệnh tai hại của Hoàng đế, rồi thấy Lejeune đang đứng bất động, ông nói:

- Cảm ơn Đại tá. Anh có thể quay về Bộ tham mưu. Nếu như anh còn sống sót sau cuộc chiến, và nếu như một ngày nào đó anh có thể kể lại cái câu chuyện ít nhiều điên rồ này của chúng ta, tôi cho phép anh nói rằng anh đã nhận thấy Thống chế Lannes bị tước vũ khí, ôi, không phải trong cuộc chiến, tất nhiên, mà do một mệnh lệnh. Chỉ cần một từ là có thể làm hại một người lính, Masséna nghĩ gì về mệnh lệnh này?

– Tôi không biết gì cả, thưa ngài.

– Chắc là ông ta cũng phát điên lên như ta, nhưng mà ông ấy ít hung hăng và không lắm điều bằng ta. Ông ta chẳng cần thể hiện cái gì cả. Hay ít ra là ông ta cóc cần…

Lannes ưỡn ngực:

– Tôi muốn rằng cuộc rút lui này phải là một cuộc rút lui kiểu mẫu. Hãy nói với Hoàng đế như vậy.

Lejeune quay ngựa để lại Thống chế Lannes đứng một mình giữa cánh đồng lúa mì. Anh nghĩ rằng đấy là một cuộc chiến không bình thường, người ta thường xuyên hăng máu lên rồi lại hạ giọng xuống và việc này làm tổn hại thần kinh. Khả năng hành động đang yếu đi. Trời rất nóng. Lejeune chỉ muốn nằm dài ngủ một giấc. Anh yêu thành Vienne biết bao, giá như anh đến đây chỉ với tư cách là một du khách. Anh nghe rõ bên tai mình thứ tiếng Đức mà Anna Krauss nói như hát. Khi nào chiến tranh kết thúc, anh sẽ cùng với nàng đến nhà hát. Chú ngựa của anh nhảy nhót giữa đủ mọi kiểu dáng xác chết.

* * *

Sĩ quan tùy tùng của Đại tá Lejeune như một kẻ phàm ăn tục uống đang ngốn ngấu một con gà nguội. Sau khi trao bức thư cho cô Anna Krauss, anh ta đã gặp Henri và ngay lập tức bị hỏi dồn hỏi dập. Đó là một chàng trai dũng cảm nhưng rất khoác lác, rất thích khoe khoang và che giấu nỗi vất vả hiểm nguy của cuộc chiến mà anh ta chứng kiến từ xa trên đảo Lobau, nhưng khi Henri hỏi có đói không thì đôi mắt anh ta sáng rực lên và anh ta lập tức đi theo ngay vào bếp, đôi ủng bê bết bùn làm bẩn cả sàn. Anh ta ngồi vào bàn trước các món ăn do người quản gia từ từ dọn ra. Anh ta ngồi vững chãi, áo cởi hết cả khuy, vục cả bàn tay vào trong đĩa thức ăn, trả lời nhát gừng từng câu hỏi, một tay khua khua cái tỏi gà gặm nham nhở, tay kia liên tục rót rượu vang trắng xứ Vienne vào chiếc cốc bóng nhẫy mỡ:

– Ngày hôm qua thật là khủng khiếp, anh ta vừa nói vừa nhai nhồm nhoàm vừa uống ừng ực, nhưng Đại tá Lejeune không hề bị một vết xước nào cả, tôi thề với ông như vậy, và sáng nay, khi tôi từ biệt ông ấy chỗ cây cầu, lực lượng của Thống chế Davout cũng vừa đến đúng lúc, cùng với pháo và các cỗ xe chở lương thực.

– Lương thực à, cứ xem anh ăn ngon miệng đến thế thì chắc là thiếu hung lắm rồi!

– Đối với lương thực thì đúng là như thế đó thưa ngài Henri Beyle. Đến lúc rồi. Cứ tự do săn bắn thì chả mấy chốc trên đảo chẳng còn tìm đâu ra thú săn nữa.

– Thế còn trên bờ thì sao?

– Mọi thứ đều diễn ra như một sự kỳ diệu theo như dự đoán của Hoàng đế. Và ít ra đó là điều mà Đại tá Lejeune làm cho tôi tin tưởng, thưa ngài, Đại tá không nói dối đâu, có thể tin tưởng được. Bọn Áo bị thất bại hoàn toàn, binh lính của chúng ta đang nổi giận. Chiến thắng đã ở trong tầm tay.

Anna đi vào phòng cùng với lá thư động viên khích lệ của Louis-François viết bằng tiếng Đức. Nàng nhìn chằm chặp vào tay trung úy đang ăn ngốn ngấu một cách bất lịch sự. Đến để xem Henri có dùng thuốc đúng liều và đã bình phục chưa, bác sĩ Carino trở thành phiên dịch, ông thì thầm dịch lại những thông tin mà người sĩ quan đang nói. Càng nghe, gương mặt Anna mỗi lúc càng trở nên tái xanh, nàng trùm chiếc khăn thêu kín mặt cứ như thể là trời đang giá lạnh. Lá thư trở nên lạnh lẽo trong tay nàng. Henri liếc mắt quan sát, lơ mơ hiểu rằng nàng không hề vui khi nhận được những tin tốt lành này. Rồi tự nhủ rằng cô gái này là người Áo mà ông bố của nàng lại đang chiến đấu bên canh Quận công nên nàng lo lắng là chính đáng; anh nghĩ rằng trong cuộc chiến, một khi chiến thắng của người này lại là sự thảm bại của người kia và hoàn cảnh sẽ trở nên cực kì khó xử dù nó như thế nào. Điều đó đi ngược lại lập luận mà Henri đã phác thảo, bởi lẽ anh tin rằng tình yêu sẽ vượt qua và xóa nhòa ranh giới mọi gia đình cũng như các dân tộc. Người sĩ quan tùy tùng kể về những chiến công quân sự mà mắt thì cứ nhìn chằm chằm vào cái liễn sành đựng thịt thỏ. Henri vừa nghe những gì anh ta nói, vừa suy nghĩ phải chăng Anna không còn yêu Louis-François nữa? Nếu thế thì Henri có được chút may mắn gì không?

- Cho nên, người sĩ quan nhét vào mồm một miếng thịt thỏ to tướng, nói tiếp, Hoàng đế đã ra lệnh tấn công và toàn bộ quân đội bất ngờ xuất hiện từ trong đám sương mù dày đặc…

Có thế chứ, Hemi thán phục mỉm cười, Anna không thích chuyện đó! vẻ mặt thật đáng thương, nàng buông mình trên ghế trong khi Carino vẫn tiếp tục dịch cho nàng nghe về các cuộc tiến quân của Napoléon, sự tháo chạy của các trung đoàn Hohenzollern mà tay trung úy đã nói bừa là toàn bộ lực lượng quân Áo đã tháo chạy toán loạn. Đôi mắt Anna đẫm lệ, lá thư nhàu nhĩ roi xuống đất mà nàng cũng chẳng buồn nhặt lên. Người bác sĩ đặt bàn tay lên vai nàng và nàng cứ để mặc, nước mắt chứa chan, nàng nức nở khóc trước sự kinh ngạc của tay trung úy phàm ăn tục uống đang nhồm nhoàm nhai thức ăn như gia súc nhai lại; anh ta rót đầy một li rượu đứng lên đến trước mặt nàng:

– Câu chuyện làm cho cô ấy xúc động, chỉ một chút rượu vang là sẽ làm cho cô ấy bình tâm lại ngay thôi mà…

Henri ngăn lại, cầm li rượu uống cạn:

– Cái cô ấy cần nhất lúc này là nghỉ ngơi.

– Ôi, chiến tranh, nếu không có thói quen thời chiến, thì nó sẽ làm các bạn xáo trộn hết cả lên. 

Tay trung úy lại cắt một tảng thịt thỏ và tiếp tục câu chuyện tào lao:

– Không giống như người yêu của Công tước Montebello, một người đã rất quen với hoàn cảnh chiến tranh, đúng như vậy. Bà ta đến đảo và đã hỏi tôi, vì khi ấy tôi đang có mặt tại đó…

– Cảm ơn trung úy, cảm ơn, Henri cắt ngang vì muốn giúp bác sĩ Carino đưa Anna trở lại phòng, nhưng Anna bồn chồn, cuống cuồng đẩy Henri ra. Người bác sĩ xin lỗi mắt ngước lên trần nhà. Khi họ đi ra, Henri cúi xuống nhặt lá thư của Lejeune, anh vuốt cho phẳng nhưng không đọc được.

– Anh đọc được tiếng Đức không, trung úy?

- À không, thưa ngài Beyle, tôi rất lấy làm tiếc. Tôi biết chút ít tiếng Tây Ban Nha, có thể đọc được ít nhiều, tôi đã cùng vớỉ Đại tá học một chút, nhưng tiếng Đức thì chịu, tôi không có thời gian để học.

Rồi anh ta lại tra tấn Henri về những khó khăn trong việc học thứ tiếng này.

* * *

Vincent Paradis ngủ vùi với những giấc mơ trong trắng, thực ra thì chỉ là những chuyện mộng mơ, những hình ảnh thì đúng hơn, mà toàn là những hình ảnh đưa anh ta trở về làng quê, gặp lại những ngọn đồi quen thuộc, khoảnh sân trong trang trại nơi bố anh trộn lá cây với rác để làm phân bón. Người dân sống bằng những thứ trồng trọt được trên đồng, và cuộc sống tạm ổn năm này qua năm khác. Năm ngoái, họ giết lợn; một sự kiện rất hiếm hoi đáng ghi nhớ, những người láng giềng cũng tham gia, chung đụng nhau con thịt, chia ra ướp muối mà muối thì ông xã trưởng biếu không cho họ. Vincent vì không biết ghi sổ sách cho nên họ cho anh ngồi ké bên cạnh các cụ trong làng, lại ngồi sát ngay bên cạnh một ông có ý tưởng tát cạn đầm lầy. Ở vùng nông thôn này, người nông dân luôn sống trong cảnh đơn điệu và phải chịu những cái chết vì bệnh tật, rồi thì lực lượng hiến binh, quân đội đến tóm những người khỏe nhất đi phục vụ cho chiến tranh. Cũng như người anh cả, Vincent đã rút phải một cái số hẩm hiu, mà gia đình anh thì không có lấy một xu để tìm người thay thế cho Vincent. Vincent đã lừng khừng không dám bắt chước mưu mẹo trốn quân dịch của Bruhat, một đứa bạn làm việc tại xưởng thuộc da, chính nó đã phát minh ra một quỷ kế để được ở lại quê nhà; cậu ta cười, để lộ rõ cái miệng bị nhổ trụi răng: “Đúng đấy, tao đã cho nhổ cả hai hàm răng sát tận lợi mày trông thấy không, bởi vì nếu không có răng, thì không thể nào xé được cát-tút đạn, mà răng như thế thì chả ai cần đến mày nữa đâu!” Không còn cách nào khác, Vincent đành ngoan ngoãn, lầm lũi đi theo mấy tay trung sĩ mộ lính.

- Ê, này, đứng lên chứ, đồ con sên!

Vincent cảm thấy một cái đế giày nện mấy cú vào vai, anh mở mắt, ngáp dài và trông thấy y sĩ Morillon, chỉ huy tiểu đoàn lính cứu thương mà anh đã được đầu quân vào hôm trước, theo lệnh của bác sĩ Percy.

Paradis chống tay lên thứ gì đó dùng làm gối đầu đứng dậy; anh ta ra vẻ thảm hại như một xác chết hòng kiếm tìm một sự xúc động nơi người chỉ huy. Nhưng ở đây, Morillon đã quá quen thuộc với cái cảnh vẫn diễn ra thường ngày với cả đống người như vậy; Morillon chỉ lẩm bẩm: “Ngủ ngon nhé, đồng đội, chuẩn bị sẵn sàng đi nhé. ..” Không còn vũ khí đeo lủng lẳng bên mình, Paradis cảm thấy nhẹ nhõm, anh đi theo Morillon như đã từng theo đám trung sĩ tuyển mộ anh dạo trước. Tiểu đoàn cứu thương được biên chế toàn những người vụng về chậm chạp và bọn vô lại đến từ các thành phố lớn, sẵn sàng vì tiền mà làm bất cứ cái gì, bởi vì bác sĩ Percy trả công cho chúng bằng chính tiền riêng của ông và dùng chúng vào những công việc do ông sai khiến. Theo hàng dọc, bọn họ đi theo một chiếc xe có bánh rất to để khênh số thương binh từ mặt trận đặt lên đó. Hai y tá đi cùng để loại ra những người đang hấp hối: những người bị thương nặng nhất sẽ được đưa về xe cứu thương dừng ở chỗ lối vào vạt rừng thưa, những người khác sẽ được sơ tán lên đảo. Nhóm cứu thương đi qua một tốp thương binh, họ được tập trung tại chỗ bờ sông. Gió thổi mù mịt, cát bụi phủ lấp cả người họ. Họ lấy những cành lau sậy để che bớt cái nắng chói chang. Một vài thương binh nhoài người ra phía bờ sông Danube vì quá buồn nôn, một số khác lên cơn co giật; số thương binh lên đến hàng trăm, họ rên rỉ, la hét, thở khò khè, lắp bắp những câu không thể nào hiểu nổi, họ hoảng loạn, cố sức bám víu vào ống quần những người đi qua bằng những bàn tay yếu ớt, họ chửi rủa, họ muốn kết thúc cơn đau đớn bằng cách này hay cách khác, và đó là lí do tại sao người ta không dám để súng, gươm, kiếm, dao găm, lưõi lê gần chỗ họ, nếu vớ được, họ sẵn sàng chọc vào ven để kết thúc sự đau đớn và biến mất khỏi cõi đời này.

Lính cứu thương và cỗ xe của họ đi dọc theo con sông tới tận làng Essling, vì không thể rời làng để thực hiện cuộc tấn công nên sư đoàn của Tướng Boudet đã lập chiến lũy ở đó. Từ mặt giáp vùng đồng bằng, khu làng được đào đắp tạo nên những vòng tường dài. Đồ đạc, chăn đệm, xác những khẩu pháo và xác người lẫn lộn chất cao tới tận ngang trần tầng một của các ngôi nhà mà tường đã bị đạn pháo phá sập. Ban đêm, họ tìm mọi cách bịt các cửa lại bằng cày bừa, bằng vôi, gạch vụn. Những thương binh cuối cùng đang đợi dưới những hàng cây trên đường phố chính, trên bãi cỏ, một số thương binh bê bết máu. Một Đại úy đứng tựa lưng vào một gốc cây, mắt trái che khăn mùi soa đẫm máu, anh đang nhăn mặt nghiến chặt chiếc tẩu giữa hai hàm răng. Paradis giúp một long kị binh đứng lên, anh ta bị đâm một mũi giáo vào trán, xương sọ lòi ra trắng nhởn. Một khinh binh thét lên khi được đặt lên sàn xe có lót những bó cỏ khô, anh ta bị vỡ xương vai và Morillon, với vẻ lão luyện của một chuyên gia y khoa, bình luận:

– Cần phải cắt bỏ những mảng thịt kia đi để gắp mấy mẩu xương ra…

– Ông cũng là bác sĩ giải phẫu à, ông Morillon? Paradis hỏi, mặt ngời sáng thán phục trước tài năng của Morillon.

– Tôi đã phụ mổ cho bác sĩ Percy, anh biết quá rồi còn gì!

– Nhưng mà bất hạnh quá, anh ta có chịu được không?

- Tôi đâu phải thánh thần! Nào! Nhanh lên!

Một lần nữa, những tiếng ồn ào của chiến trận lại vang lên. Hình như những tiếng động đó mỗi lúc một gần. Bọn Áo không lùi nữa. Những thương binh chất đống trong xe, chiếc xe quay đầu hướng về vạt rừng và sông Danube. Paradis lau hai bàn tay đỏ máu, dấp dính lên bãi cỏ, đầu anh ong ong những tiếng kêu than, nhưng anh tự hào với nhiệm vụ mới này: bác sĩ Percy và những người trợ giúp ông có thể cứu thoát được một số cơ thể thương binh khỏi lũ giun đất.

Cách chiếc cầu nhỏ một quãng ngắn, nơi họ sẽ chuyển số thương binh thảm hại xuống, lính cứu thương đi thành một hàng cắt ngang con đường; mấy người lính biệt kích khiêng một sĩ quan đang lên cơn cơ giật trên một tấm ván:

– Ôi trời ơi! Paradis kêu lên. Ít ra cũng là một Đại tá, trên ngực ông ấy lấp lánh những thứ vàng óng!

– Bá tước Saint-Hilaire, Morillon bật kêu lên, anh ta là người biết gần như khắp lượt những gương mặt các tướng lĩnh của Đế chế.

Paradis quên bẵng số thương binh vừa được gom nhặt về, dán mắt vào cửa trạm cứu thương. Mấy người lính đặt viên sĩ quan lên bàn của bác sĩ Percy:

– Chân trái ông ấy bị trúng đạn…

– Tôi thấy rồi! Percy nói và lấy tay xé nốt phần còn lại của cái gọi là ủng, rồi ông gào lên: nát hết rồi!

– Không còn gì nữa.

– Kiếm ngay một mảnh áo khoác, một mảnh giẻ lau, rơm rạ, cỏ, bất cứ thứ gì!

Paradis xé toạc một vạt áo sơ mi của mình trao cho bác sĩ. Bác sĩ cầm mảnh vải lau mồ hôi trán. Ông đã kiệt sức. Từ hôm qua, ông không còn cưa nữa. Mắt ông mờ đi. Bằng một thanh sắt nung đỏ rực, ông đốt vết thương làm cho dây thần kinh mất cảm giác. Saint-Hilaire mở miệng định kêu, nhưng rồi chỉ nhăn mặt, co rúm lại, cứng đờ rồi đổ xuống bàn khi bác sĩ Persy cưa mắt cá chân ông vì đã có dấu hiệu uốn ván. Người bác sĩ dừng lại, vạch mí mắt người thương binh rồi nói:

– Thưa các ông, các ông có thể mang vị tướng của các ông đi. Ông ấy vừa chết rồi.

Paradis không biết Tướng quân Saint-Hilaire sẽ được mai táng luôn hay phải chờ đưa ông về Vienne vì Morillon đã phái Paradis cùng mười người lính cứu thương khác đi lo nồi cháo cho các thương binh. Họ cau có nhận nhiệm vụ, nhưng cái công việc khổ sai này không có gì nguy hiểm cả. Việc tiếp tế lương thực phải ngừng cả lại ở bờ bên kia cùng với Davout, không một ai có thể chiến đấu cũng như sống sót được với cái dạ dày rỗng tuếch, vì thế nên mấy đại đội của Percy phải giúp các đầu bếp sửa soạn căng tin lưu động. Một số nhóm khác, đêm nay đã xông xáo trên cánh đồng để thu nhặt những con ngựa chết bụng đã bắt đầu trương phềnh lên. Họ buộc những con vật này vào những sợi dây rồi những con ngựa gầy yếu của lực lượng pháo binh kéo chúng về khu xẻ thịt của bộ phận cứu thương: một đống kinh tởm lổn nhổn những đầu, bờm, móng guốc, xương sườn ngựa. Paradis và những đồng nghiệp mới của anh, tất cả phải xẻ thịt bằng kiếm cùn hoặc bằng những con dao thái; sau đó, số thịt tươi sẽ được đưa vào trong những bộ giáp sắt nhặt được, lấy nước có đầy cát phù sa của sông Danube đổ vào, rồi đặt lên bếp lửa cháy đùng đùng; rồi họ thêm vào một ít bột. Paradis đang thái thịt thì một toán khinh binh đói khát đi đến:

– Cậu không đem tất cả cho những người đang hấp hối đấy chứ?

- Các anh đã có khẩu phần riêng rồi, Louis béo - người phụ trách đám học việc mổ thịt ở đây, trả lời.

– Cà mên rỗng không cả rồi.

– Ôi, mặc kệ!

Lính khinh binh bao quanh nhóm người làm bếp, giương lê đe dọa:

- Tránh ra!

– Mày muốn đấu kiếm à, Louis béo nói rồi giơ cao con dao thái thịt, bọn Áo đang chờ mày đó!

– Trên cánh đồng, Paradis nói chêm vào, đang có rất nhiều ngựa để đánh chén đó.

– Cảm ơn chàng trai, nhưng mà ta đang đói, tránh ra!

Tay khinh binh phũ phàng đẩy Paradis lùi ra, chĩa mũi lê vào cổ một con ngựa cái màu xám. Louis béo gạt ngang mũi lê của hắn bằng con dao thái thịt. Hai người lính gầy nhom nhưng dữ tợn như những con sói từ phía sau ôm lấy Louis. Bọn họ đánh nhau kịch liệt. Paradis vội chuồn nấp vào sau đống xác ngựa chết mắt mở trừng trừng. Lính tráng và đám cứu thương đánh chửi nhau; một kẻ ma mãnh cắt vội một tảng thịt rồi ngoạm cả hàm răng vào đó.

* * *

Bessières phải nhẫn nhục chịu đựng những lời quở trách phi lí của Hoàng đế và cương quyết không đưa ra một sáng kiến nào cả; ông thường dựa vào mệnh lệnh của Lannes, cho dù có đánh giá cao hay không, chứ không nghĩ đến chuyện cải thiện những mệnh lệnh nào đó cho có hiệu quả tốt hơn. Ông đã khéo léo bảo toàn lực lượng kị binh của mình, ông chỉ gửi đến mặt trận những đại đội được yêu cầu mà thôi. Phải rút lui à? Cũng được. Tấn công ư? Cũng xong. Cả đêm, ông bực bội không nguôi, và thế là không sao chợp mắt được. Ông đã đi kiểm toa toàn bộ lực lượng của mình, làm hai con ngựa mệt lử, đã cùng với đơn vị long kị binh vùng Gascogne nhấm nháp những lát bánh mì phết tỏi. Hoàng đế đã làm ông thất vọng, nhưng ông cố giữ vẻ mặt vui vẻ. Họ cùng có một quá khứ chung, căm ghét những người theo phái Giacobin và coi thường nền Cộng hòa. Ông hiểu cách cai trị của Hoàng đế và thấy ngán ngẩm: sao cứ phải khơi sâu mối thù hằn để cai trị? Hai năm trước đây, Lannes đã bị làm nhục, khi Hoàng đế ưu ái Bessières hơn ông, đúng vào lúc có cuộc gặp Sa hoàng tại Tilsit. Tình cảm không phù hợp với lí trí, Bessières suy nghĩ, mắt quan sát cánh đồng. Qua ống nhòm, ông nhìn thấy quân Áo đang củng cố lực lượng, pháo binh và súng máy liên tục khạc đạn quyết liệt vào các tiểu đoàn của Saint-Hilaire. Một tiếng nổ dữ dội, khô khốc vang lên giữa tiếng ồn ào hỗn độn của cuộc chiến. Tiếng nổ ấy xuất phát từ đại đội thiết kị. Bessières quay ngựa về hướng đó và nhìn thấy hai kị binh bị ngã ngựa đang cãi nhau. Một người trong bọn họ một tay đẫm máu. Lẽ ra phải tách họ ra thì Đại úy Saint-Didier lại giúp cái tay cao lớn hơn đóng đinh người bị thương xuống đất, người này đang ra sức giãy giụa.

– Tai nạn à? Bessières hỏi.

– Thưa ngài, Đại úy nói, tay thiết kị này muốn tự sát.

– Tôi đã hất được con dao của hắn, Fayolle nói thêm, tay vẫn giữ chặt người bạn, đè gí anh ta xuống đất bằng cả trọng lượng cơ thể của mình, một đầu gối tì lên ngực anh ta.

– Đúng là tai nạn. Băng tay cho anh ta.

Bessières không áp dụng bất cứ một hình phạt nào đối với anh lính Brunel. Lúc này, anh ta đã bình tâm trở lại. Những vụ tự sát ngày càng tăng trong quân đội, các vụ đào ngũ cũng tăng lên đáng kể; không còn hiếm hoi khi giữa trận tiền, người ta nhìn thấy một tay tân binh phẫn nộ chạy vào nấp sau bụi cây, dùng súng bắn vỡ sọ mình. Thống chế quay lưng rồi tiến về phía một trung đoàn long kị binh đeo gù đen; ông biến mất giữa đội hình đội mũ đồng có cuốn dải băng da bê màu nước biển sáng lấp lánh dưới ánh mặt trời. Brunel chống khuỷu tay ngồi dậy; anh thở rất khó khăn. Một lính thiết kị cắt dải băng vải trên mảnh thảm yên ngựa băng bàn tay có hai ngón bị chặt đứt lìa của anh ta. Đại úy Saint-Didier rút một lọ cồn trong chiếc túi của minh, mở nắp rồi tống vào giữa kẽ răng của người tự nguyện bị thương:

– Uống đi rồi lên ngựa!

– Với bàn tay tóe máu thế kia ư? Payolle hỏi.

– Cậu ta không cần đến tay trái để cầm gươm!

– Nhưng để giữ cương thì phải cần chứ lị.

– Cậu ta chỉ việc buộc cương vào cổ tay là đủ!

Fayolle giúp Brunel móc lại bàn đạp rồi càu nhàu:

- Ngựa của chúng ta cũng thế, chúng không chịu nổi nữa rồi.

– Chúng ta cứ cưỡi cho đến khi nào chúng nó khuỵu xuống thì thôi!

– À, thưa Đại úy! Nếu những con ngựa này biết bắn thì chúng sẽ tự sát ngay tức thì!

Brunel nhìn đồng đội:

– Cậu không cần phải như vậy.

– Ôi giời…

Fayolle không tìm ra cớ gì để nói nữa, mà thực ra thì anh ta không còn thời giờ nữa. Bởi vì một lần nữa, tiếng kèn ra lệnh tập hợp lại vang lên, một lần nữa, gươm lại được tuốt ra khỏi vỏ, một lần nữa, họ lại giục ngựa xông lên tiến thẳng về phía lực lượng pháo binh Áo.

Leo lên mép tường thành, họ phát hiện ra ở phía trước có nhiều khẩu pháo đang cày xới cánh đồng lúa mì xanh mướt, nhưng khi tiếng kèn xung trận vang lên, thì họ không thể nào thúc ngựa phá nước kiệu tiến lên được nữa vì chúng đã yếu đi rất nhiều do phải chuyên chở quá nhiều lần, và thức ăn nuôi chúng thì chỉ toàn đại mạch. Đối với lính thiết kị, nước đi của ngựa rất quan trọng. Nếu cứ lắc lư liên tục, tấm kim loại che lưng và bụng cọ xát vào vai, cổ, háng, họ không chịu được phải cởi bỏ và thế là bị phơi thân trước những loạt đạn bắn như xối của quân thù vì pháo cứ nã liên tục không dứt cứ như súng máy, và đạn vãi như mưa phá vỡ đội hình của họ. Tuy vậy, kị binh của Saint-Didier vẫn tấn công rất chậm dưới mưa đạn rừng gươm. Fayolle nghĩ rằng anh ta sẽ chạy tới một mục tiêu xác định, nhưng bên cạnh anh, Brunel lại xông lên trước tiến thẳng vào địa ngục: một quả đạn xé gió cắt phăng mất đầu Brunel, nhưng vì trái tim vẫn còn đập, nên máu phun ra thành dòng nơi cổ áo giáp; người kị sĩ không đầu, cứng đơ trên yên ngựa, cánh tay rủ xuống phía trước, thanh kiếm buông rơi treo lủng lẳng trên sợi dây nối với cổ tay, con ngựa tiếp tục chạy theo quán tính xô bừa vào đám pháo thủ Áo. Đúng lúc đó, con ngựa của Fayolle lại bị loạt đạn cắt phăng một chân, quay ngoắt lại hí lên đau đớn. Fayolle xuống ngựa mặt không hề biến sắc, không để ý đến những khẩu súng đang điên cuồng nhả đạn. Anh thương con vật, nó mệt nhoài thế mà vẫn đứng trên ba cái chân còn lại, thè lưỡi liếm vào mặt anh như nói lời vĩnh biệt. Người lính thiết kị buông mình ngã xuống giữa cánh đồng lúa mì xanh rờn. Mệt mỏi, hai tay khoanh lại, anh nhắm mắt thiếp đi mong quên đi cái chết và cái lò nướng thịt này.

* * *

Napoléon dừng lại bên bìa cánh đồng đầy ắp sự bất trắc, trên hai trăm họng lửa của bọn Áo liên tục nhả đạn vào khu vực đó. Những sĩ quan tùy tùng đã thuyết phục được Ngài không vào khu vực Aspern, nơi ngài muốn đến động viên tinh thần dũng cảm của binh lính Masséna:

– Xin đừng có phiêu lưu vô ích!

– Cuộc chiến sẽ thất bại nếu Hoàng đế bị giết!

– Các người cũng run như con ngựa của ta, Hoàng đế quở trách, tay nắm chặt dây cương, thực ra thì Ngài đã bí mật phái một người vào làng để nắm diễn biến tình hình.

– Thưa bệ hạ, đây là Laville…

Một sĩ quan trẻ mặc quân phục sang trọng đang phi ngựa rất nhanh; để đến báo cáo tình hình một cách thật nhanh chóng, anh chàng thúc ngựa nhảy vọt qua cả rào chắn, nói không kịp thở:

– Ngài Công tước Rivoli, thưa Bệ hạ…

- Ông ta chết rồi à?

– Ông ấy đã giành lại được làng Aspern rồi, thưa Bệ hạ.

– Thế lão ta đã để mất cái làng quỷ ám đó à?

– Mất nhưng rồi lại chiếm lại được rồi, thưa Bệ hạ, lực lượng sông Rhin đã hỗ trợ cho Công tước rất kịp thời.

– Thế còn bây giờ?

– Vị trí của ông ấy bây giờ có vẻ vững chãi ạ.

– Ta có hỏi vị trí ông ta bây giờ ra sao đâu, ta chỉ muốn hỏi ông ta nghĩ gì về điều đó lúc này!

– Ngài Công tước ngồi trên một thân cây, rất bình tĩnh, Ngài quả quyết với tôi rằng Ngài có thể giữ vững trong vòng hai mươi giờ nữa nếu cần thiết.

Hoàng đế không trả lời gì cả, tay sĩ quan tùy tùng này làm cho Ngài tức tối khó chịu. Ngài quay phắt ngựa lại, cả nhóm đi về phía khu lò ngói nơi vị Tham mưu trưởng đang vừa đợi vừa cầu nguyện cho Ngài khỏi bị giết chết. Hoàng đế yêu cầu đỡ Ngài xuống khỏi con ngựa ương ngạnh đôi khi hay làm phiền Ngài, vừa xuống đất Ngài đã nói:

– Berthier, phái ngay Tướng Rapp hỗ trợ cho Công tước Rivoli ngay, ông ấy đang cần sự trợ giúp.

– Rapp là Tướng thuộc Bộ tham mưu của Bệ hạ, thưa Bệ hạ.

– Ta biết chuyện đó quá đi rồi!

– Thế đi với lực lương nào ạ?

– Giao cho anh ta chỉ huy hai tiểu đoàn bộ binh thuộc lực lượng Cận vệ của ta.

Sau đó, Hoàng đế chúi đầu vào tấm bản đồ đã được hai sĩ quan giúp việc giữ cho phẳng trước mắt Ngài. Cũng như đêm hôm trước, mặt trận kéo dài từ làng nọ qua làng kia, theo cung tròn để tựa lưng vào sông Danube. cần phải ngăn chặn quân Áo, không cho chúng chọc thủng vị trí này để buổi tối có thể rút toàn bộ lực lượng về đảo Lobau. Hoàng đế không ngại ngần, Ngài cần phải sử dụng đội Cận vệ mà mãi cho tới lúc này vẫn đang nằm trong đội hình dự trữ, và đã đến lúc cần tăng cường cho vị trí khó khăn nhất Berthier đã cho thảo và đã kí lệnh cho Tướng Rapp thực hiện, ông quay lại thông báo những tin mới nhất ông vừa nhận được:

Boudet đã dựng chiến lũy tại Essling, thưa Bệ hạ, lỗ châu mai được bố trí khắp nơi, ông ta chưa bị đe dọa. Quận công Charles đang tập trung tất cả lực lượng nhằm vào trung quân của chúng ta. Ông ta đích thân chỉ huy cuộc phản công cùng với mười hai tiểu đoàn lính ném lựu của Hohelzollem…

– Vấn đề tiếp tế như thế nào?

– Davout đã dùng thuyền tiếp trợ cho chúng ta các loại quân nhu mà ông ấy có thể. Những người chèo thuyền khó khăn lắm mới đưa thuyền tiếp cận được đến đảo phía khu vực hạ lưu.

– Còn Lannes thế nào?

- Sĩ quan tùy tùng của ông ấy sẽ thông báo những tin mới nhất cho Bệ hạ.

Berthier đưa tay chỉ Đại úy Marbot đang ngồi trên một cái hòm, tay cầm giẻ lau vết thương ở đùi hiện đang ứa máu, loang đỏ cả chiếc quần. Hoàng đế nói với anh ta:

– Này Marbot! Chỉ có các sĩ quan liên lạc của Bộ tham mưu mới được mặc quần cụt màu đỏ đấy nhá!

– Thưa Bệ hạ, tôi chỉ có cái quyền đó ở một chân thôi ạ.

– Anh lúc nào cũng ăn miếng trả miếng tuyệt vời đấy!

– Không có gì ghê gớm cả, thưa Bệ hạ, chỉ mất một mảng thịt thôi mà.

– Lannes thế nào?

– Thống chế đang duy trì cuộc chiến bằng cách tập trung số binh lính của Saint-Hilaire sát Essling.

– Phía đối diện à?

Lúc bắt đầu đánh nhau, lính Hungari làm cho tân binh chúng ta sợ hãi, bởi vì họ chưa bao giờ trông thấy bọn lính tráng to con, lông lá rậm rì đến thế, nhưng Thống chế Lannes đã biết cách động viên binh lính. Ngài nói to lên rằng: “Chúng ta không thể kém cỏi hơn ở Marengo, quân thù của chúng ta không có cái gì là ghê gớm cả!”

Hoàng đế bĩu môi, đôi mắt xanh của Ngài một thoáng như xám lại, bởi lẽ như những con mèo, Ngài có khả năng thay đổi màu sắc đôi mắt theo trạng thái tinh thần. Marengo ư? Ví dụ của Lannes thật quá vụng về. Tất nhiên, lực lượng bộ binh của Desaix đã đánh bại đội quân tinh nhuệ của Tướng Zach, đội quân này chính là lực lượng mà ngày hôm nay Quận công Charles đang trực tiếp chỉ huy, nhưng mà quân số hiện nay thì ít hơn rất nhiều. Lực lượng kị binh của Kellermann, con trai của Người Chiến Thắng trận Valmy, đã thực hiện những cú quyết định, nhưng nếu như binh đoàn của Tướng Áo Ott đến kịp thời thì sao đây? Napoléon nghĩ về việc Davout đã không đến ứng cứu kịp thời. Vậy thì thắng lợi dựa trên cơ sở nào đây? Một sự chậm trễ, một trận cuồng phong hay sự đỏng đảnh của một dòng sông.

* * *

– Hãy kiểm tra kỹ đi, Đại tá.

Tướng Boudet đẩy Lejeune vào trong một cái boong ke được ghép tạm bợ bằng những tấm ván lấy từ những chiếc tủ và két sắt. Từ đây có thể quan sát toàn bộ cánh đồng, và có thể kiểm soát mọi diễn biến tình hình của quân đội đối phương mà không gặp phải quá nhiều bất trắc. Lejeune quan sát kĩ mọi thứ. Boudet nhấn mạnh với vẻ mệt mỏi:

Chẳng còn bao lâu nữa, chúng ta sẽ có nhiều trung đoàn ở sau lưng. Quận công Áo không thể vượt qua các sư đoàn của Lannes và các đại đội của Bessières được, vì thế cho nên hắn có lí do để nhắm vào khu làng mà chúng cho rằng được bố trí lực lương rất mỏng này. Hàng giờ, hàng giờ chúng xối đạn và nã pháo hòng bắt chúng ta phải quỳ gối, người của chúng ta mỏi mệt, buồn ngủ, đói ăn và bắt đầu sợ hãi.

Lejeune nhìn các trung đoàn Hungari đang tiến về Essling theo lệnh tấn công. Bọn chúng ào ạt tràn lên như những đợt sóng dữ dội nhằm thẳng vào các chiến lũy yếu ớt được xây dựng bằng đồ đạc và đá, và chắc chắn là chiến lũy không thể nào cầm cự được lâu. Bằng số quân đông, chúng sẽ đè bẹp sư đoàn đã bị tiêu hao quá lớn của Tướng Boudet. Ở giữa đội hình bộ binh và những người lính đội chiếc mũ gù lông đen, Quận công Charles, tay cầm cờ lệnh, đang đích thân chỉ huy các đợt sóng người tràn lên tấn công về phía khu làng. Chứng kiến cảnh dàn trận đó, lính khinh binh đang đứng gác câm lặng, run rẩy, tim đập loạn xạ.

– Báo cho Hoàng đế biết tình hình ngay, Tướng quân Boudet lệnh cho Lejeune. Anh đã thấy và đã hiểu rõ tình hình rồi đấy. Nếu không được ứng cứu kịp thời thì chúng ta phải chịu thảm họa đó. Một khi đã vào được Essling, thì quân Áo có thể tràn đến sông Danube. Lực lượng kị binh của Rosenberg đã giậm chân rậm rịch phía sau khu rừng rồi, và nếu như ta thất bại tại đây, thì chúng có thể sẽ luồn vào và đánh bọc hậu chúng ta. Toàn bộ quân đội sẽ bị bóp chặt trong thế gọng kìm.

– Tôi sẽ chạy đến đó ngay, nhưng còn Ngài?

– Tôi sẽ rút về phía trong khu làng.

– Tới chỗ nào?

– Tới chỗ nhà kho, lùi thêm vào sau một chút, sát chỗ lối đi có trồng những cây du. Ở đó có những bức tường dày, những cửa sổ con và những cánh cửa được gia cố bằng tôn. Tôi đã cho chuyển đến đó số quân nhu và thuốc súng còn lại. Chúng tôi sẽ quyết tâm chống trả lại chúng bằng hết khả năng của mình. Đó sẽ là một pháo đài.

Một quả đạn rơi xuống xì khói chỉ cách họ có mấy mét, rồi lại một quả khác. Một bức tường rung lên dữ dội. Một mái nhà bị bắt lửa. Tướng Boudet giơ tay vuốt khuôn mặt đầy những nếp nhăn hằn sâu:

– Khẩn trương lên, Lejeune, bắt đầu rồi đấy.

Viên Đại tá nhảy lên ngựa, nhưng Boudet níu anh lại:

- Anh phải nói với Hoàng đế…

– Nói gì ạ?

– Tất cả những gì anh đã nhìn thấy.

Lejeune thúc ngựa phi thẳng đến chỗ con phố chính. Boudet nhìn Lejeune mỗi lúc một xa, miệng làu bàu:

– Anh sẽ nói với Hoàng đế rằng tôi làm Ngài bực mình…

Tướng quân Boudet triệu tập các sĩ quan, ra lệnh cho đội trống đánh hiệu lệnh thu quân rút lui ngay lập tức. Hiệu lệnh vang lên, khinh binh chạy ra từ các điểm chốt, từ nhà thờ, từ những ngôi nhà, từ phía sau những bãi bồi, họ tập trung thành từng đoàn lộn xộn. Lực lượng pháo binh trở thành đơn vị có đội hình nghiêm chỉnh nhất.

Mười lăm người hợp thành một nhóm tại khu nhà kho để đảm đương một vị trí. Súng chĩa qua lỗ châu mai, qua cửa sổ được sửa cho nhỏ lại nhờ các lá trập. Các cánh cửa chính tầng trệt hé mở để thò các họng pháo ra ngoài. Một tiểu đội bộ binh chiếm lĩnh vị trí xung quanh, trong những cái hố đầy cỏ dại, sau những ụ đất, hoặc phía sau những cây du. Ngôi làng bốc cháy, các chiến lũy đã bị đạn pháo chọc thủng nhiều chỗ. Người ta không chờ đợi. Mới nửa giờ trôi qua mà những toán tính mặc đồng phục màu trắng đã ló dạng phía đầu con đường và trong những thửa ruộng bên cạnh, chúng chạy lom khom, gập người dưới những chiếc ba lô. Boudet nhận ra cờ hiệu tính ném lựu của Nam tước Aspre. Ông ra lệnh nổ súng. Loạt đạn pháo đã phá vỡ đợt sóng tấn công đầu tiên của kẻ thù, nhưng bọn chúng tiến lên từ mọi phía, đội ngũ chặt chẽ, đông nghịt, binh lính không có thời gian kéo những khẩu pháo nóng bỏng lùi xuống để nạp lại đạn, những loạt đạn bắn ra từ những cửa sổ, từ những lỗ châu mai; bọn Áo gục ngã, một số khác ào lên thay thế, chúng vấp phải những bức tường chắc chắn của khu nhà kho. Boudet cầm một khẩu súng và hạ ngay một tay sĩ quan mặc áo măng tô xám đang cầm thanh đoản kiếm gào thét, hắn ta ngã nhào, nhưng không gì có thể cản được bước tiến của đám lính mặc quân phục trắng, một số tên đã áp sát dọc theo chiều dài bức tường, chúng mang theo rìu chiến và phóng vào những lá trập cửa sổ và các cánh cửa đã bị khép lại. Bên trong, binh tính ho sặc sụa vì khói và thiếu dưỡng khí. Một số khinh binh bị thương vì mảnh đạn văng vào. Họ ngồi chồm hỗm, nạp đạn, giương súng, tì vai, nhắm bắn bừa vào đám đông đang ào ào tiến lên như một đàn sáo đá; họ giết đối thủ nhưng mà chẳng nhìn thấy gì cả, lại cúi xuống, nạp đạn, đứng lên, bắn, nấp, rồi cứ liên tục lặp đi lặp lại như thế.

Cuộc chiến cứ kéo dài quyết liệt như vậy. Từ trên tầng ba, giữa chỗ khe hở của các tấm tôn và cửa trập, Boudet chú ý thấy các đợt sóng trào của quân Áo tự nhiên thưa đi. Ông ra lệnh không bắn nữa và mọi người nghe rõ tiếng trống quen thuộc đang rung lên. Boudet mỉm cười, lắc vai một người tính đang tái xanh mặt mũi, ông hét lớn với giọng vùng Bordeaux:

- Này các con trai! Thế là chúng ta lại thoát rồi!

Thở phào nhẹ nhõm, lính tráng mở tất cả cửa sổ, thò mũi ra ngoài. Họ nhận ra những túm lông màu xanh và đỏ của lực lượng bộ binh của đội Tân cận vệ. Bọn kị binh đánh thuê quẳng giáo rút kiếm thuận cho một cuộc giáp chiến lá cà. Trận đánh dịch chuyển vào phía trong làng. Khi Boudet súng trong tay bước ra, thì gặp một sĩ quan đội chiếc mũ có chùm lông đứng chắn ngay trước cửa nhà kho giữa một đám người lộn xộn:

– Thưa Ngài, Tướng Mouton và bốn tiểu đoàn thuộc đội Vệ binh Đế chế đang dọn dẹp làng Essling.

– Cảm ơn.

Đi bách bộ qua những vũng máu và con đường đầy những xác chết, Boudet ngược về phía khu nhà thờ đổ nát. Những tiếng kêu than thảm thiết từ khu nghĩa địa vọng tới. Ông hỏi. Một trung úy thuộc lực lượng vệ binh trả lời rằng đó là bọn tính Hungari đang bị quân lính cắt cổ bên những ngôi mộ:

– Họ không biết xoay xở như thế nào với đám tù nhân nữa.

– Nhưng mà có bao nhiêu tù binh?

– Bảy trăm, thưa Tướng quân.

* * *

Đây đó, tiếng súng đạn dịu dần. Tình hình có vẻ như dịu xuống, nhịp độ các loạt đạn rời rạc tạo nên ảo giác là chiến trường đang dần yên tĩnh. Nhưng thực ra thì những cuộc chiến giáp lá cà bằng kiếm, bằng lê, bằng giáo đang tăng lên và đầy chết chóc, nhưng rõ ràng là ít kịch liệt hơn; người ta bắn để duy trì cuộc chiến, người ta tấn công với một tinh thần chiến đấu có vẻ bạc nhược, như để phòng thủ hoặc duy trì trận tuyến, lính tinh nhuệ lúc này không còn lấy một viên đạn đang vây lấy Lannes, Thống chế cảm thấy mình bị cơn lũ của dòng sông phản bội; ông đi dạo với người bạn già Pouzet trong lòng chảo ở dưới cánh đồng; ở đây những rào chắn, tường vây sẽ bẻ gãy chân bọn kỵ binh Áo nếu chúng đột kích. Lannes cởi khuy áo khoác, trời đã ngả sang chiều, nhưng vẫn còn nóng hầm hập. Ông lấy ống tay áo lau mồ hôi trán:

- Mấy tiếng nữa thì trời tối?

– Hai hoặc ba giờ nữa, Pouzet giơ cái đồng hồ củ hành ra xem và trả lời.

– Chúng ta không thể đảo ngược được tình hình.

– Quận công Charles cũng thế.

– Lính tráng tiếp tục bỏ mạng, nhưng mà tại sao chứ? Chúng ta đã chiến đấu liên tục suốt ba mươi giờ qua, Pouzet ạ, tôi chán ngấy lên rồi! Sự khủng khiếp của chiến tranh làm cho tôi đến lộn mửa.

– Anh ư? Anh chưa bị một vết thương nào cả mà đã vội than vãn ư? Trong khi đó, phần lớn sĩ quan của anh đã không thể chiến đấu được nữa, Marbot thì tập tễnh đi cà nhắc như một con vịt bị đâm thủng đùi, Viry thì trúng đạn vào vai, Labédoyère bị một mảnh đạn găm vào chân, còn Watteville thì ngã ngựa gãy tay…

– Chúng ta mê hoặc họ để dễ bề dẫn họ tới chỗ chết. Thằng cha Bonaparte ngu xuẩn kia sẽ làm cho chúng ta bỏ mạng cả ở đây thôi!

– Anh đã nói câu đó ở đâu đó rồi. Ở Arcole phải không?

– Lần này thì tôi tin chắc là…

– Đêm nay, chúng ta dùng thuyền vượt sông Danube, nếu như thuyền của chúng ta không bị lật thì ngày mai chúng ta đã ở Vienne.

– Trời ơi, Pouzet!

Thống chế gào lên. Pouzet bị trúng đạn ngay giữa trán. Ông gục xuống ngay tức thì. Một số binh lính chạy đến nhìn vị tướng già bất hạnh, ông đã tắt thở.

– Một viên đạn lạc, một ai đó nói.

- Đúng là đạn lạn Thống chế hét lên, nói rồi ông ta bỏ đi để lại phía sau xác người bạn.

Sự ngu xuẩn của trận đánh này làm cho ông tức tối. Ông bước về phía khu lò ngói, rồi nhằm một cái hố, ông buông mình xuống vạt cỏ mắt ngước nhìn bầu trời. Ông cứ nằm như vậy trong nhiều phút. Phía trước ông, bốn người lính đang khênh một xác chết bằng một chiếc áo choàng, họ dừng lại để thở; xác chết quá nặng mà đường thì còn rất dài. Họ đặt xác chết xuống. Một cơn gió thổi lật chiếc áo choàng, Lannes nhận ra đó chính là Pouzet. Ông đứng bật dậy:

– Sao cái cảnh này cứ đuổi theo ta khắp mọi nơi như thế?

Một người lính chỉnh lại chiếc áo choàng, lấy một góc phủ lên mặt vị tướng xấu số. Lannes cởi móc cài thanh kiếm, ném xuống đất:

-A, aaa…!

Ông thét to, tiếng vọng vang đi rất xa, ông thở hổn hển, tiến thêm mấy bước nữa, ông ngồi bệt xuống dưới chân dốc, hai chân đan chéo vào nhau, ôm đầu vào giữa hai cánh tay để khỏi phải nghe, khỏi phải nhìn thấy bất kì một cái gì nữa. Những người tính lại tiếp tục khênh Pouzet đi về phía bộ phận cứu thương, chỉ còn lại một mình Thống chế. Tiếng pháo vẫn nổ rền vang.

Một viên đạn nảy thia tía đập vào đầu gối Lannes. Ông nhảy dựng lên đau đớn, rồi cố gắng đứng lên, nhưng mất thăng bằng lại ngã xuống bãi cỏ miệng bật ra một câu chửi thề: “Mẹ kiếp!”. Marbot ở cách đó không xa, chứng kiến tai nạn của Lannes bèn ôm cái chân bị thương cà nhắc chạy lại.

– Marbot! Giúp tôi đứng lên với!

Viên sĩ quan tùy tùng giúp Thống chế đứng lên nhưng Thống chế lại ngã khụy xuống; cái đầu gối bị vỡ không thể đỡ cái thân thể nặng nề của ông. Marbot gọi, một số pháo thủ và thiết kị binh chạy đến, họ xúm vào khiêng Thống chế, mỗi người nâng một chỗ lên, đôi chân của Thống chế buông lủng lẳng mềm oặt. Người bị thương không than vãn, nhưng khuôn mặt của ông biến sắc. Viên đạn đập vào chỗ xương bánh chè trái và làm nát cả ống chân phải. Vì mỗi cử động đều làm ông đau đớn, nên mới đi được vài mét, những người khiêng ông đã phải dừng lại. Marbot chạy đi lấy một chiếc xe bò, một cái cáng, những thứ mà anh đã tìm thấy. Anh quay lại chỗ các pháo thủ đang khiêng thi hài Tướng Pouzet:

– Đưa chiếc áo măng tô của ông ấy cho tôi, nhanh lên! Ông ta không cần đến nữa đâu!

Khi anh quay về chỗ Thống chế với chiếc áo thấm đẫm máu, Lannes nhận ra, cương quyết từ chối:

– Đó là áo của bạn ta! Trả lại cho ông ấy đi! Cứ kéo ta đi như thế chừng nào có thể!

- Đi bẻ cành cây và vặt thật nhiều lá lại đây, Marbot ra lệnh, phải làm ngay một cái cáng!

Mấy người lính cầm kiếm đi cắt cành lá trong một bụi cây, họ nhanh chóng làm một cái cáng sơ sài. Thống chế Lannes được khiêng đi như vậy tới tận trạm cứu thương của đội Cận vệ nằm sau khu vực lò ngói do bác sĩ Larrey phụ trách cùng hai đồng nghiệp xuất sắc của ông là Yvan và Berthet. Họ băng ngay đùi phải cho Thống chế, và ông yêu cầu họ:

– Larrey, kiểm tra cả vết thương của Marbot…

– Vâng, thưa ngài.

– Chàng trai đó đã không được chăm sóc chu đáo, ta hơi lo đấy.

– Tôi sẽ xem xét ngay, thưa ngài.

Sau khi kiểm tra toàn bộ vết thương của Thống chế Lannes, ba bác sĩ quay ra chẩn đoán tình trạng sức khỏe của Thống chế và hướng điều trị:

– Rất khó khăn để tìm mạch của ngài.

– Khớp gối phải, ghi lại đi, bị tổn thương.

– Nhưng đùi trái vỡ lòi cả xương…

– Đứt động mạch chủ.

– Thưa các vị, Larrey nói, tôi cho rằng cần phải cưa chân trái.

– Trong lúc nóng như thế này ư? Yvan phản đối. Không hợp lí chút nào cả.

– Than ôi, Berthet nói thêm. Anh bạn đồng nghiệp của chúng ta có lí đấy, còn tôi, tôi nghĩ là cần phải thận trọng cắt cụt cả hai chân.

– Anh điên thật rồi!

– Phải cắt thôi!

– Anh đúng là điên! Tôi biết rất rõ Thống chế, ngài có đủ sức để tự hồi phục mà không cần phải cắt chân!

– Chúng tôi cũng vậy, nhưng chúng tôi hiểu rõ Thống chế, đồng nghiệp thân mến ạ. Anh có nhìn thấy đôi mắt của Thống chế không?

– Nó làm sao?

– Một đôi mắt buồn. Một người đã mất hết sức lực.

– Thưa các ông, bác sĩ Larrey kết luận, tôi xin lưu ý các ông rằng tôi là người chi huy trạm cứu thương này, tôi quyết định thế này. Chúng ta sẽ cắt chân trái.

* * *

Khi về đến trại lính của đội Cận vệ nằm giữa cây cầu nhỏ và khu lò ngói, Edmond de Périgord nhìn thấy Tướng Dorsene đang đi kiểm tra, không biết là lần thứ bao nhiêu, các đơn vị lính ném lựu của mình. Ông muốn họ lúc nào cũng trong tình trạng được chăm sóc tuyệt vời và sạch sẽ. Ông kiểm tra quân sĩ xem áo quần có được vệ sinh không, râu tóc có được chăm sóc cẩn thận không, giày ủng có để tuột dây buộc không; ông nhấc từng chiếc áo gi-lê lên xem áo sơ mi có được sạch sẽ hay không. Đối với ông, người lính ra mặt trận cũng như đi trảy hội. Phải lịch sự, trang nhã và ngay bản thân ông cũng vậy, ông cũng bị ám ảnh bởi những bộ áo quần của ông; ông rất thích đứng trước gương để chăm sóc ngoại hình của mình. Ông trông thật trang nhã, nhiều phụ nữ có nhận xét như vậy, mái tóc đen uốn thành lọn, da mặt xanh xao, đường nét rất tinh tế. Triều đình đàm tiếu về ông, ông đam mê bà d’Orsay, người đàn bà khêu gợi, vợ của một tay công tử bột nổi tiếng mà Bộ trưởng Fouché đã từng nhắc đi nhắc lại những giai thoại tục tĩu. Périgord cũng rất lịch lãm, mặc dù còn trẻ, anh thường xuyên gặp Dorsenne ở rạp hát hoặc trong những buổi hòa nhạc tại điện Tuillerries. Khác với phần lớn những quân nhân khác, cả hai đều rất tự nhiên mang tất lụa và giày có khóa cài, hoặc là những bộ quân phục ngông nghênh nhằm thu hút sự chú ý của các nữ Công tước. Sự dũng cảm của cả hai người là có thật nhưng mà họ cứ thích phô ra; nếu ai tỏ ý coi thường điệu bộ đấy; họ nhăn mặt khó chịu.

– Thưa ngài Tướng quân Cận vệ, Périgord nói, Bệ hạ yêu cầu ngài lên tuyến trên.

– Tuyệt vời! Dorsenne vừa trả lời vừa xỏ tay vào găng.

– Ngài sẽ chỉ huy tấn công kẻ địch bằng một bức tường bộ binh suốt chiều rộng của sườn dốc, bên phải ngài là lính thiết kị của Bessières.

- Rất tuyệt! Cứ coi như là chúng ta đã có mặt tại đó rồi.

Bằng một động tác rất mềm mại, Dorsenne nhảy lên con ngựa mới được dẫn đến, phát mệnh lệnh tiến quân ngắn gọn và đội Vệ binh Đế chế rùng rùng chuyển bước, như để làm một cuộc diễu binh tại Caroussel, đi đầu là đội quân nhạc và đội hình cầm cờ. Périgord chiêm ngưỡng toàn cảnh dàn quân đó rồi quay ngựa trở về Bộ tham mưu báo cáo tình hình cho Berthier.

Sự xuất hiện những chỏm mũ lông của đội Cận vệ đã đủ cắt đứt lực lượng pháo binh quân Áo, nhưng rồi chúng lại bắt đầu khạc lửa. Tướng Dorsenne điều chỉnh lại đội hình lính ném lựu thành ba hạng. Ông quay ngựa để kiểm tra xem đội ngũ của họ đã được siết chặt chưa, mà không lo ngại quay lưng về phía những khẩu pháo và tính bộ binh của Quận công Charles. Một quả đạn pháo đốn gục một người lính của ông, ông liền ra lệnh, hai tay vẫn khoanh trước ngực:

– Siết chặt đội ngũ!

Tinh binh lấy chân gạt ra khỏi lối đi người đồng đội vừa gục ngã, xếp lại đội hình. Việc này cứ lặp đi lặp lại tới hai chục lần, rồi có thể là cả trăm lần, và họ cứ tiếp tục siết chặt hàng ngũ. Một trong những người lính đứng hàng đầu bị đạn pháo phạt mất đầu, những đồng tiền vàng rơi vương vãi trên mặt đất; anh chàng ngốc này cất giữ khoản tiền tiết kiệm trong một chiếc cà vạt, không một ai dám cúi xuống nhặt những đồng tiền rơi vương vãi đó vì sợ bị khiển trách; những người đứng gần nhất ghé mắt thèm thuồng khi trông thấy những đồng vàng sáng lấp lóa trên mặt đất. Đạn pháo vẫn rú rít mù trời, đốn ngã lực lượng Cận vệ.

– Siết chặt đội ngũ!

Tới tối vì không thể bao vây được đối phương, Quận công Áo ra lệnh tiếp tục bắn như vãi đạn. Đứng theo đội hình hình vuông dưới làn đạn, đội trống lệnh đánh trống vang lừng, bên cạnh là những chiến binh đứng bất động, giương cao vũ khí. Khoảng một chục người đã ngã xuống giữa đồng lúa mì và những người khác vẫn tiếp tục siết chặt đội ngũ. Cuối cùng, thấy bức tường người của ông đã quá thưa thớt, Dorsenne cho chấn chỉnh lại đội ngũ tạo thành một hàng duy nhất đối diện với kẻ thù. Một sự kiện suýt làm nhiễu loạn cái sự thể hiện lòng quả cảm nhằm gây ấn tượng cho quân Áo này. Một số binh lính lúc nãy do Lannes chỉ huy, đã tháo chạy toán loạn trên cánh đồng trước sự tấn công của lực lượng bộ binh của Rosenberg. Họ vừa chạy vừa mang theo cả thương binh; rất nhiều người phải quẳng cả ba lô để chạy cho nhanh. Khi chạy đến chỗ phòng tuyến của lực lượng Cận vệ, những kẻ thoát chết lại rơi vào vị trí giữa tầm bắn chết người của bộ binh và pháo binh, lính cận vệ vội nắm lấy cổ hoặc ống tay áo quẳng họ ra phía sau. Bình tâm vì hi vọng vào sự bảo vệ chắc chắn này, một số người quỳ xuống, một số khác điên loạn vì quá sợ hãi nằm cuộn tròn, mép sùi bọt như người đang lên cơn động kinh. Được tin báo về việc nhiều tiểu đoàn, cùng với họ là hai Đại úy bị thua trận đã bỏ chạy toán loạn, Bessières vội vàng xông đến, củng cố lại đội hình những người lính mới chạy đến này:

– Chỉ huy của các anh đâu rồi?

– Trên cánh đồng ấy, chết cả rồi!

– Nào, chúng ta cùng đi tìm xác của họ! Nạp đạn vào súng đi! Củng cố lại đội hình!

– Siết chặt đội hình lại! Cách đó một trăm mét, Dorsenne vẫn tiếp tục ra lệnh.

Một anh lính bị một mảnh đạn găm vào bắp chân ngã nhào; trong khi ngã, anh ta còn kịp vơ vội mấy dồng tiền vàng vương vãi trên mặt đất; đó là những đồng tiền của người bạn đồng ngũ giấu trong chiếc cà vạt bị đạn bắn trúng đứt lìa văng ra. Anh ta mở bàn tay một cách xảo trá, cân nhắc cái kho báu của mình rồi chửi thề vì rằng giờ đây mấy đồng tiền đó chẳng còn giá trị gì nữa. Thực tế thì từ tháng Một năm 1809, Hoàng đế đã ra sắc lệnh xóa bỏ dòng chữ: “Thống nhất, Toàn vẹn nền Cộng hòa” trên những đồng tiền vàng, vậy mà trên những đồng xu anh ta vừa lượm được, vẫn còn nguyên dòng chữ đó.

* * *

Màn đêm bắt đầu ập xuống trên chiến trường không có kẻ chiến thắng. Napoléon và các sĩ quan dưới trướng rời khỏi khu lò ngói đi về khu trại Hoàng đế được dựng lên hôm qua trên bãi cỏ trên đảo. Họ tiến bước trên con đường ngổn ngang những thùng, hòm rỗng, những khẩu pháo bị tháo tung, những con ngựa đơn độc và hoảng hốt, lính cứu thương đang chuyên trở thương binh. Chỗ mố cầu nhỏ, Hoàng đế mặt nhợt nhạt. Ngài gặp một sĩ quan quân y thuộc lực lượng thiết kị đang lặng lẽ khóc. Rồi tiếp theo, Ngài nhận ra bác sĩ Yvan, rồi Larrey, đang cúi xuống một thương binh đặt nằm trên một chiếc cáng làm bằng những cành cây sồi và chiếc áo măng tô. Người đó chính là Lannes, Marbot đang nâng cao đầu ông lên. Mặt ông tái mét, biến dạng vì đau đớn, mồ hôi chảy đầm đìa. Mảnh vải nhuộm đỏ máu cột chặt lấy đùi trái của ông. Hoàng đế đề nghị cho xuống ngựa, Ngài bước lại bên Thống chế, quỳ xuống phía đầu chiếc cáng:

– Lannes, bạn của ta, anh có nhận ra ta không?

Thống chế mở mắt nhưng câm lặng.

– Ông ấy yếu lắm rồi, thưa Bệ hạ, Larrey thì thào.

– Nhưng ông ấy nhận ra ta chứ ?

– Đúng thế, tôi nhận ra Bệ hạ, Thống chế nói nhỏ. Một giờ nữa thôi, Bệ hạ sẽ mất đi người ủng hộ nhiệt tình nhất…

– Ngu ngốc nào! Thống chế không thể nào xa chúng ta được, phải không các ông?

– Vâng, thưa Bệ hạ, Larrey nói dịu dàng.

– Bởi vì Hoàng đế muốn như vậy, Yvan nói thêm.

– Anh nghe thấy chưa?

– Tôi nghe thấy cả…

– Tại Vienne, Napoléon nói, một thầy thuốc đã phát minh ra cái chân giả cho một viên tướng Áo…

– Đó là Mesler, Yvan nói.

– Đúng thế, Bessler, ông ta sẽ làm cho anh một cái chân, rồi tuần tới, chúng ta sẽ đi săn!

Hoàng đế ôm chặt Thống chế trong cánh tay mình, Thống chế nói thì thào vào tai Napoléon, không ai nghe thấy được ông nói gì:

– Cần phải nhanh chóng kết thúc cuộc chiến này thôi đó là nguyện vọng của tất cả mọi người. Đừng có nghe những lời thẽ thọt xung quanh, chúng nó nịnh bợ Ngài đấy, chúng nó khom lưng, nhưng hoàn toàn không phục Bệ hạ đâu. Bọn chúng sẽ phản bội lại Bệ hạ. Mà thực ra chúng nó đã phản bội lại Bệ hạ rồi vì chúng nó luôn luôn che giấu mọi sự thật..

Bác sĩ Yvan chen ngang nhắc:

– Thưa Bệ hạ, ngài Công tước Montebello đã đuối sức lắm rồi. Cần phải tiết kiệm sức lực, không nên để ngài Công tước nói nhiều.

Hoàng đế đứng lên, nhíu lông mày, im lặng một lát nhìn thân hình Thống chế Lannes. Chiếc áo gilê của Ngài đẫm máu. Ngài quay về phía Caulaincourt:

– Quay lại đảo thôi.

– Cây cầu nhỏ bị hỏng hoàn toàn rồi, thưa Bệ hạ.

– Su presto, sbrigatevi![3] Khẩn trương lên! Hãy tìm giải pháp đi!

Hoàng đế Napoléon không thể nào vượt được cây cầu nhỏ mà lực lượng làm cầu đang gia cố lại. Công việc của họ luôn bị cản trở, phiền nhiễu bởi những thương binh cụt tay, cụt chân. Các thương binh bất hạnh này đang run lập cập vì sốt và giận dữ, họ chen lấn nhau, giẫm đạp lên nhau, xô đẩy nhau, họ bám vào cả những dây buộc và dây chão làm cho chúng thỉnh thoảng lại đứt tung ra, họ chửi rủa, xỉ vả nhau ầm ĩ; một số đang lặn lội giữa sóng nước. Caulaincourt tháo một cái thuyền để kiểm tra, thấy nó còn chắc chắn, ông chọn mười tay chèo lực lưỡng nhất trong số lính công binh, và Hoàng đế, trong ánh hoàng hôn, đang đứng thẳng trong cái thuyền đó để rời sang bờ bên kia, nhưng thật bất hạnh, cái được gọi là thuyền đó đã bị lật khi cách bờ đảo hai trăm mét về phía hạ lưu.

Ngài lóp ngóp lội bộ vào bờ, bước trên dải cát ngổn ngang những người đang hấp hối, họ vươn cánh tay về phía Hoàng đế cứ như thể Ngài có thể chữa trị được cho họ, nhưng Hoàng đế cứ nhìn thẳng về phía trước, đám sĩ quan tùy tùng đi theo bảo vệ Ngài vây chặt xung quanh. Ngài về tới trại, một căn lều rộng che bằng vải màu xanh da trời và màu trắng. Constant đang đợi sẵn Ngài ở đó, ông ta giúp Ngài cởi chiếc áo redingote và chiếc áo khoác màu xanh ra. Trong khi cởi bỏ áo khoác và chiếc gi-lê đầy những vết máu của Lannes, Hoàng đế càu nhàu giữa hai hàm răng:

-Viết đi!

Người thư kí ngồi trên một chiếc đệm trong gian ngoài, nhúng chiếc bút lông vào lọ mực.

– Thống chế Lannes. Những lời nói cuối cùng của ông ấy. Ông ấy đã nói với ta: “Tôi muốn sống tiếp để phục vụ Bệ hạ…”

– Phục vụ Bệ hạ, viên thư kí nhắc lại, tay tì xuống chiếc bàn viết lưu động của mình.

– Viết tiếp: “và nước Pháp”…

– Tôi đã viết thêm rồi ạ.

– “Nhưng tôi tin rằng một giờ nữa, Bệ hạ sẽ mất đi người bạn tốt nhất…”

Napoléon khịt mũi, Ngài im lặng. Người thư kí chờ đợi, cây bút lông giơ trong không khí.

– Berthier!

– Ngài Berthier chưa lên đảo, một sĩ quan tùy tùng đứng ở cửa trại nói.

– Thế Masséna đâu? Ông ta chết rồi à?

- Tôi không rõ, thưa Bệ hạ.

- Ồ không, Masséna không thể như thế được. Bảo ông ta đến đây ngay đi!

❀ ❀ ❀

[1] Westphalie: Một bang phía tây nước Đức, cái nôi của vùng công nghiệp Rhein-Ruhr.

[2] Nguyên văn Napoléon mắng bằng tiếng Italia “sabotatore”.

[3] Su presto, sbrigatevi (tiếng Italia): Nhanh, khẩn trương lên!

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.