Sáng ngày hôm sau, với một tấm thiệp trao tận tay, tôi được mời ngay lập tức đến nhà Anna Rosa, cô bạn nhỏ của vợ tôi mà tôi đã thoáng đề cập một hoặc hai lần trước đó.
Tôi đã chờ đợi sẽ có một ai đó cố gắng can thiệp để thử hàn gắn tôi và Dida; nhưng trong những giả thiết của tôi, người này sẽ được bố vợ tôi hoặc các cổ đông khác trong ngân hàng cử đến, chứ không phải trực tiếp từ chỗ vợ tôi; khi xét thấy trở ngại duy nhất cần vượt qua là ý muốn thanh lý ngân hàng của tôi. Giữa tôi và vợ hầu như chẳng xảy ra chuyện gì. Chỉ cần tôi bảo Anna Rosa rằng tự đáy lòng tôi hối hận vì đã hành xử lỗ mãng với Dida, khi tôi lay nàng và đẩy nàng ngồi xuống chiếc ghế bành, lập tức chúng tôi sẽ hàn gắn.
Xét từ mọi khía cạnh, tôi tưởng như chẳng thể nào chấp nhận được chuyện Anna Rosa nhận nhiệm vụ làm tôi từ bỏ ý định nọ, và biến nó thành một điều kiện để đưa vợ tôi trở về nhà.
Nghe Dida kể, tôi biết được cô bạn nhỏ của nàng đã từ chối cơ số những cuộc hôn nhân được cho là có lợi vì cô khinh rẻ tiền bạc. Chính bởi vậy, cô nàng đã chuốc lấy sự phản đối từ những người khôn ngoan và dĩ nhiên từ cả Dida, vì khi nàng cưới tôi (con trai của một kẻ cho vay nặng lãi, ý tôi là vậy), chắc hẳn nàng đã tỏ cho những cô bạn của nàng hiểu rằng nàng làm vậy bởi suy cho cùng, đó là một cuộc hôn nhân vì “lợi ích”.
Chính bởi cái “lợi ích” phải cứu vớt này mà Anna Rosa chẳng thể nào là người đại diện phù hợp nhất.
Thay vào đó, tôi phải giả định điều ngược lại: rằng Dida đã tới chỗ cô nàng nhờ cứu giúp, để khiến tôi hiểu rằng bố nàng, với sự đồng thuận của các cổ đông khác, đã giữ nàng trong nhà và ngăn không cho nàng trở về bên tôi nếu tôi không từ bỏ ý định thanh lý ngân hàng. Nhưng biết rõ vợ mình, tôi cũng chẳng thấy điều này hợp lý.
Tuy vậy, tôi vẫn tới theo lời mời nọ với một nỗi tò mò ghê gớm. Tôi chẳng thể nào đoán định được nguyên nhân đằng sau là gì.
ii. cảnh báo đầu tiên
Tôi không biết nhiều về Anna Rosa. Tôi đã gặp cô nàng vài lần ở nhà, thế nhưng do tôi luôn giữ khoảng cách với những cô bạn của vợ, thuần vì bản năng chứ không hề cố ý, nên rất hiếm khi tôi và cô nói chuyện. Một vài nụ cười nhạt nhòa nở trên môi cô nàng mà tôi tình cờ trông thấy khi cô thoáng nhìn tôi, tôi thiết tưởng lý do đằng sau rõ ràng là hình ảnh cái thằng tôi ngốc nghếch mà tên Gengè của vợ tôi đã vẽ ra trong tâm trí cô nàng, và bởi vậy nên chưa bao giờ tôi nảy sinh ham muốn dừng lại mà trò chuyện cùng.
Tôi chưa bao giờ tới nhà cô.
Mồ côi cả bố lẫn mẹ, cô sống với một bà cô già trong một ngôi nhà tưởng như biến dạng dưới bức tường cao vòi vọi của Đại Tu viện; bức tường của một tòa thành cổ, mà khi hoàng hôn buông xuống trên những khung cửa sổ lắp chấn song cong cong, một vài bà xơ già còn lại ở đó vẫn xuất hiện. Một trong những bà xơ đó, bà trẻ nhất, cũng là bà cô của Anna Rosa, em gái của bố cô nàng; và người ta kháo nhau rằng bà hâm hâm dở dở. Nhưng cũng chẳng cần nhiều để khiến một người đàn bà phát điên, khi bà ta bị nhốt vào một nhà tu. Từ vợ tôi, một người được nuôi dạy ba năm trong nhà tu kín San Vincenzo, tôi biết rằng tất cả những nữ tu, già cũng như trẻ, người nào cũng hâm hâm dở dở, không kiểu này thì kiểu nọ.
Tôi không gặp Anna Rosa ở nhà. Bà hầu già, người tới đưa thiệp cho tôi, nói một cách thần bí qua lỗ nhìn mà chẳng mở cửa, rằng cô chủ đang ở trên Tu viện chỗ bà cô tu sĩ. Tôi cứ việc lên đó mà tìm, nhờ bà xơ giữ cửa dẫn vào phòng chờ của xơ Celestina.
Tất cả những điều kỳ bí này làm tôi choáng ngợp. Thoạt tiên, thay vì thôi thúc trí tò mò, chúng khiến tôi chùn bước. Trong nỗi choáng ngợp, với những gì còn có thể, tôi xét thấy cần phải suy ngẫm trước về buổi hội ngộ lạ lùng ở trên Tu viện đó, trong phòng chờ của một bà xơ.
Mọi sự tương quan giữa những bất đồng phù phiếm trong cuộc hôn nhân của tôi và lời mời nọ, tôi tưởng như đã vỡ nát. Ngay lập tức tôi e ngại như đứng trước một điểm phức tạp khó lường, một thứ sẽ kéo theo hệ lụy nào đó cho cuộc đời tôi mà đâu ai tỏ.
Như tất cả mọi người ở Richieri đều biết, chỉ xém chút nữa điểm phức tạp ấy đã lấy mạng tôi. Nhưng ở đây, tôi vẫn muốn lặp lại những gì mà tôi đã nói trước tòa, âu cũng để xóa bỏ vĩnh viễn mọi hiềm nghi trong lòng mọi người, rằng khi ấy lời khai của tôi chỉ nhằm để cứu rỗi và miễn mọi tội lỗi cho Anna Rosa. Cô nàng chẳng có lỗi gì. Lỗi ở tôi, hay đúng hơn là ở điều mà cho tới giờ vẫn là chủ đề cho những dòng tâm tư đầy bão tố trong tôi, khi tôi, hầu như bất đắc dĩ đã tham gia vào cuộc phiêu lưu bất ngờ và không tưởng vì một thử nghiệm cuối cùng hết đỗi tuyệt vọng, tôi đã liều mình nhận lấy một kết cục như vậy.
III. KHẨU SÚNG LỤC GIỮA NHỮNG ĐÓA HOA
Theo một trong những lối mòn dốc của thành Richieri cổ mà ban ngày tràn ngập mùi ô uế của rác thải phân hủy, tôi trèo lên Tu viện.
Khi con người ta hình thành thói quen sống theo một kiểu nào đó, việc đi đến một địa điểm lạ và im lặng đề phòng thể như nghi ngờ rằng nơi ấy ẩn chứa một điều gì đó bí hiểm đối với ta mà dù cho hiện hữu, tâm hồn ta bị kết án buộc phải đứng xa, chừng ấy là một nỗi đau thương vô tận, âu cũng bởi ta nghĩ rằng, nếu ta có thể bước vào bên trong, có lẽ cuộc đời ta sẽ mở ra một thứ trải nghiệm mới mẻ nào đó mà chẳng ai biết, tới mức ta tưởng như mình đương sống trong một thế giới khác.
Tu viện ấy, một thời là lâu đài phong kiến của nhà Chiaramonte, với cái cổng chính thấp thấp đầy mối mọt, và khoảnh sân rộng rãi cùng giếng nước ở chính giữa, rồi những bậc thang to lớn cũ kỹ kia, xỉn màu và âm vang, thô kệch như lối vào một hang động, hành lang dài rộng với biết bao cánh cửa cả bên này và bên kia, những viên gạch lát sàn màu hồng dốc xuống phản chiếu ánh sáng từ ô cửa sổ cao lớn phía cuối hành lang đương mở ra trước bầu trời lặng thinh. Tu viện ấy đã tích tụ và trải qua biết bao thăng trầm cũng như khía cạnh của cuộc sống, và giờ đây, trong nỗi bi ai của những bà xơ vẫn lang thang lạc lõng nơi ấy, chừng như nó chẳng còn ý thức được gì về bản thân mình. Mọi thứ trong nó bấy giờ tưởng như đã bị lãng quên, khi những bà xơ cuối cùng mòn mỏi chờ đợi cái chết, từng người từng người một; còn lý do mà tòa thành Nam tước đó, lúc đầu được dựng lên, để rồi sau biết bao thế kỷ trở thành một tu viện, tự bao giờ lý do ấy đã chìm sâu trong quên lãng.
Bà xơ giữ cửa mở một trong những cánh cổng ở hành lang và dẫn tôi vào phòng chờ. Một tiếng chuông buồn bã cất lên từ phía dưới, có lẽ để gọi xơ Celestina.
Phòng chờ tối tăm tới mức thoạt tiên tôi chẳng thể nhìn ra chấn song ở phía cuối, chúng thấp thoáng ẩn hiện nhờ đôi chút ánh sáng len vào khi mở cửa. Tôi đứng chờ; và ai biết được tôi sẽ còn đứng đó cho tới bao giờ nếu không phải rốt cục, một giọng nói yếu ớt vang lên từ sau chấn song mời tôi ngồi xuống, và rằng Anna Rosa sẽ sớm đi từ dưới vườn rau lên.
Tôi sẽ chẳng cố diễn tả cái ấn tượng trước giọng nói không mong đợi trong bóng tối, từ phía chấn song. Trong bóng tối ấy, mặt trời chiếu rọi vào tôi, và hẳn cũng đương tỏa sáng trên vườn rau của tu viện. Tôi chẳng biết vườn rau ấy nằm ở phía nào, nhưng hẳn nơi ấy phải xanh ngắt, và bất chợt giữa màu xanh ngắt đó ngời sáng hình bóng Anna Rosa mà tôi chưa bao giờ thấy, rung rinh một vẻ kiều diễm mà hiểm ác. Chỉ một khoảnh khắc. Bóng tối trở lại. Hay đúng hơn, chẳng phải bóng tối, bởi giờ đây tôi đã có thể nhìn ra chấn song, và đằng trước chấn song ấy là một chiếc bàn nhỏ và hai cái ghế. Ở chỗ chấn song, im lặng bao trùm. Tôi kiếm tìm trong ấy giọng người đã nói chuyện với tôi, nhỏ nhẹ nhưng thanh mát, hầu như trẻ dại. Chẳng có ai khác. Tuy vậy ấy chắc hẳn là giọng của một bà già.
Anna Rosa, giọng nói đó, phòng chờ đó, ánh sáng mặt trời trong bóng tối, màu xanh của vườn rau: tất thảy chiếm lấy tôi bằng một cảm giác chóng mặt.
Một lát sau, Anna Rosa đùng đùng mở cửa và gọi tôi ra hành lang ngoài phòng chờ. Cô nàng mặt mũi bừng bừng, tóc tai luộm thuộm, mắt long sòng sọc, chiếc sơ mi nhỏ đan len màu trắng với cúc ngực để ngỏ như thể vì nóng, và trong vòng tay cô là biết bao hoa lá và một rễ cây thường xuân vắt ngược qua vai, dài lủng lẳng phía sau. Cô chạy, vừa chạy vừa gọi tôi đuổi theo đến cuối hành lang, rồi cô trèo lên một dãy thang nhỏ dưới khung cửa sổ lớn. Thế nhưng khi trèo lên, có lẽ vì lấy một tay để đỡ một phần đống hoa chuẩn bị tuột mất, cô nàng lại đánh rơi chiếc túi khỏi tay còn lại, và ngay lập tức một tiếng nổ rung trời và kéo theo là một tiếng thét chói tai vang động cả hành lang.
Tôi chạy tới vừa kịp để dựng Anna Rosa dậy, khi cô nàng đổ gục lên người tôi. Trong phút ngỡ ngàng, trước lúc tôi nhận thức được những gì đã xảy ra, tôi bỗng thấy vây quanh mình bảy bà xơ già rên rỉ sợ hãi. Ngay khi nghe tiếng súng nổ trong hành lang, dù rằng mấy bà xơ ấy đã chạy tới và thấy Anna Rosa bị thương trong vòng tay tôi, họ lại bị chiếm hữu bởi một nỗi khiếp sợ khác mà thoạt tiên tôi chẳng thể cắt nghĩa. Tôi những tưởng chẳng thể nào họ lại khiếp sợ một thứ khác, khi chính vì kinh hãi mà tôi đã lớn tiếng đòi họ một chiếc giường để đặt cô nàng bị thương. Họ đáp “Đức ông”; rằng Đức ông sắp tới. về phần mình, Anna Rosa nằm trong vòng tay tôi mà gào lên: “Khẩu súng! Khẩu súng!”, rằng cô nàng muốn tôi lấy lại khẩu súng trong túi xách, âu cũng bởi nó là một kỷ vật của bố cô.
Chuyện trong chiếc túi bị rơi ra có một khẩu súng mà khi phát nổ đã làm cô nàng bị thương ở chân, ngay lập tức tôi đã tỏ tường. Thế nhưng tôi không nhìn ra lý do vì sao cô nàng mang theo nó, vào chính buổi sáng mà cô đã hẹn tôi hội ngộ ở Tu viện. Tôi cảm thấy lạ lùng hết đỗi; thế nhưng, giây phút ấy, trong đầu tôi hoàn toàn chẳng có chút ý niệm mong manh rằng cô nàng đã dành nó cho tôi.
Mụ mị hơn bao giờ hết, khi thấy chẳng có ai giúp cấp cứu người bị thương, tôi bèn bế cô nàng lên và đưa cô ra khỏi Tu viện, xuống qua lối mòn, tới nhà cô.
Một lát sau, tôi leo ngược trở lên Tu viện để lấy lại khẩu súng nằm trong hành lang bên dưới khung cửa sổ lớn, thứ sẽ dành cho tôi.
IV. LỜI GIẢI THÍCH
Tin tức về vụ tai nạn hi hữu ở Tu viện lớn và chuyện tôi vội vàng lao ra khỏi đó, trên tay là Anna Rosa bị thương, toàn bộ đã lan khắp Richieri trong chớp mắt, tạo tiền đề cho những tin đồn thất thiệt mà thoạt tiên tôi thấy kỳ khôi hết đỗi vì ngớ ngẩn. Tôi còn lâu mới nghĩ được rằng những tin đồn ấy không chỉ nghe có vẻ hợp lý, mà thậm chí chúng còn được coi là sự thật; không chỉ bởi những người được lợi khi lan truyền và thổi lửa cho chúng, mà bởi cả cô nàng mà tôi đã bế trên tay khi bị thương.
Chính vậy.
Vì Gengè, các ngài ơi, cái tên Gengè hết mực ngu độn của Dida vợ tôi, hắn nuôi dưỡng một tình cảm cháy bỏng với Anna Rosa, trong khi tôi chẳng hề hay biết. Chính Dida đã tự nhồi vào đầu ý tưởng đó; bởi Dida là người nhìn ra chuyện. Nàng chẳng bao giờ nói gì với Gengè; nhưng nàng vừa cười vừa tâm sự với cô bạn nhỏ, một mặt giúp cô tiêu khiển và có lẽ cũng để giải thích lý do đằng sau việc Gengè luôn né tránh mỗi khi cô có mặt; hắn sợ sẽ phải lòng cô.
Tôi tự thấy mình chẳng có quyền gì mà phản biện về tình cảm nọ của Gengè đối với Anna Rosa. Cùng lắm tôi chỉ có thể khẳng định rằng đối với tôi, tình cảm ấy không hiện hữu; thế nhưng điều này cũng không đúng, bởi thực chất tôi chưa bao giờ để tâm suy nghĩ xem tôi ghét bỏ hay thương mến cô bạn nhỏ của vợ tôi.
Tôi tưởng đã chứng minh đầy đủ rằng hiện thực của Gengè không thuộc về tôi, mà thuộc về Dida, người đã tạo ra nó.
Nếu Dida đã gắn kết tình cảm thầm kín đó cho tên Gengè của nàng, việc nó có hiện hữu đối với tôi hay không chẳng quan trọng mấy: nó hiện hữu với Dida, tới mức nàng tìm được trong đó lý do mà tôi giữ mình xa khỏi Anna Rosa; và nó hiện hữu cả với Anna, khi những ánh mắt mà có đôi lần tôi đã thoáng hướng về cô lại được cắt nghĩa như một ẩn ý nào đó, mà vì vậy tôi chẳng còn là tên Gengè ngây ngô đáng yêu mà Dida vợ tôi đã vẽ ra, thay vào đó là một Quý ông Gengè bất hạnh hết đỗi, đương phải chịu đựng sự tra tấn thế nào chẳng ai hay, khi đứng trước tình yêu và sự tôn trọng như vậy của chính vợ mình.
Bởi nếu các ngài nghĩ kỹ, đây mới là chuyện nhỏ nhất trong số những thứ nảy sinh từ biết bao hiện thực không tưởng mà người khác tạo ra cho ta. Bề ngoài, ta thường gọi chúng là những giả định sai lầm, những đánh giá nhầm lẫn, những quy chụp vô cớ. Nhưng tất cả những điều mà họ tưởng tượng về ta, trên thực tế đều có thể xảy ra, dù cho đối với ta chúng không phải sự thật. Họ sẽ cười khi ta bảo đối với ta, chúng không phải sự thật. Là sự thật đối với họ. Thật tới mức nếu các ngài không nắm chặt lấy hiện thực mà bản thân mình đã tạo ra theo ý muốn, có thể xảy ra chuyện người khác sẽ ép các ngài công nhận rằng hiện thực mà họ tạo ra còn thực thụ hơn sản phẩm của chính các ngài. Trải nghiệm ấy chẳng ai rõ hơn tôi.
Vậy là, dù cho bản thân chẳng hề hay biết, tôi đã đem lòng yêu thương Anna Rosa sâu sắc. Và chính vì lý do ấy, tôi vướng vào vụ tai nạn bằng súng ở Tu viện mà tôi chưa bao giờ, và rồi sẽ chẳng bao giờ lường trước được.
Sau khi bế Anna Rosa trên tay trở về nhà và đặt cô xuống giường, rồi chạy đi tìm một y sĩ, một y tá và sơ cứu cho cô, trông nom cô, tức thì tôi cũng cảm thấy những gì mà cô nàng đã tưởng tượng về tôi sau những lời tâm sự của Dida là hoàn toàn có thể, và thậm chí là thực; chính tình cảm mà tôi dành cho cô. Ngồi bên chân giường, giữa màu hồng gần gụi của căn phòng bị mùi độc hại của thuốc men xâm chiếm, tôi đã có tất cả những lời giải thích từ chính miệng cô nàng. Trước tiên, lời giải thích về khẩu súng lục trong túi, nguyên nhân vụ tai nạn.
Nụ cười của cô nàng mới thực tâm làm sao khi cô nghĩ tới cảnh có ai đó cho rằng cô để dành nó cho tôi khi hẹn tôi trên Tu viện.
Cô luôn mang khẩu súng lục ấy theo mình, trong túi xách, kể từ khi cô tìm thấy nó trong túi áo gi lê của ông bố đã đột tử cách đây sáu năm. Với báng súng bằng xà cừ sáng bóng và bắt mắt, từ hồi còn nhỏ xíu, cô đã coi khẩu súng như một món phụ kiện, yêu thương nó hơn nữa vì một cơ quan tinh tế như vậy lại nắm giữ quyền sinh sát. Cô tâm sự với tôi rằng đã nhiều lần, trong một vài giây phút chẳng hề hiếm hoi, khi vì một nỗi giằng xé kỳ lạ nào đó trong tâm hồn mà toàn bộ thế giới xung quanh làm cô choáng váng và trống rỗng, cô đã nảy sinh ý muốn thử sử dụng nó, chơi đùa với nó, cảm nhận ham mê được chạm đầu ngón tay vào lớp thép và gỗ xà cừ sáng nhẵn. Giờ đây, thay vì bắn vào thái dương hay trái tim như ý nguyện của cô, nó lại có thể tình cờ cắn vào chân cô, và có nguy cơ - như cô lo ngại - sẽ làm cô tập tễnh, nó tạo cho cô nàng một nỗi ác cảm lạ lùng hết đỗi. Cô tin mình đã hoàn toàn làm chủ nó, rằng nó sẽ chẳng còn sở hữu quyền năng nọ. Giờ đây, cô thấy nó xấu xa. Rút nó ra khỏi ngăn kéo tủ cạnh giường, cô quan sát và bảo nó:
“Đồ xấu xa!”
Nhưng cuộc hội ngộ ở Tu viện, trong phòng chờ của bà cô tu sĩ, nguyên nhân đằng sau là gì? Và bảy bà xơ, thay vì lo lắng cho cô nàng bị thương, lại bảo tôi, giọng hầu như ức chế, về chuyến viếng thăm của Đức ông nào tôi chẳng biết?
Tôi cũng nhận được lời giải cho chuyện bí ẩn này.
Cô nàng biết trước rằng sáng ngày hôm ấy Đức ông Partanna, Giám mục Richieri, sẽ tới thăm bảy bà xơ già của Đại tu viện, như ngài vẫn thường làm mỗi tháng. Đối với những bà xơ già, chuyến viếng thăm như thể màn dạo đầu về niềm hạnh phúc cõi thiên đường: bởi vậy, nguy cơ chuyến viếng thăm bị hủy hoại vì vụ tai nạn chính là nỗi đau thấm thía nhất đối với họ. Cô nàng mời tôi tới Tu viện bởi cô muốn ngay trong chính buổi sáng hôm đó, tôi sẽ nói chuyện với ngài Giám mục.
“Tôi, với Giám mục? Tại sao?”
Để kịp thời ngăn chặn những âm mưu chống lại tôi.
Họ muốn cản trở tôi, tố tôi tâm thần bất ổn. Dida báo với cô rằng họ đã thu thập và sắp xếp tất cả bằng chứng, từ Firbo, từ Quantorzo, từ bố nàng và từ chính nàng, để chứng minh cho những biến chuyển tâm thần rõ rệt của tôi. Biết bao người sẵn sàng làm chứng; thậm chí cả tên Turolla mà tôi đã bảo vệ trước Firbo và toàn thể đám nhân viên ngân hàng; tới tận Marco di Dio mà tôi đã từ thiện một ngôi nhà.
“Nhưng hắn sẽ mất nó,” tôi chẳng thể kiềm mình mà chỉ cho Anna Rosa thấy. “Nếu tôi bị tuyên án tâm thần bất ổn, lệnh từ thiện sẽ vô hiệu!”
Anna Rosa phá lên cười vào mặt tôi vì ngây thơ. Marco di Dio hẳn phải nhận được lời hứa rằng nếu hắn làm chứng như ý họ, hắn sẽ không mất ngôi nhà. Mặt khác, hắn cũng có thể làm chứng theo tiếng gọi của lương tâm.
Tôi ngờ vực nhìn Anna Rosa đang cười. Cô nàng nhận thấy và bắt đầu gào lên:
“Nhưng đúng vậy, điên rồ! Tất cả đều điên rồ! Điên rồ hết thảy!”
Chẳng những vậy, cô nàng tận hưởng mọi chuyện, cô tán đồng, và còn hơn thế nữa nếu sau những chuyện điên rồ ấy, tôi có thể kết thúc bằng chuyện điên rồ hơn tất thảy: hủy hoại ngân hàng và rời xa người phụ nữ đã luôn là kẻ thù của tôi.
“Dida?”
“Anh không tin ư?”
“Thù địch, đúng, nhưng lúc này thôi.”
“Không, luôn luôn! Luôn luôn!”
Và cô nàng cho tôi hay rằng đã từ lâu, cô gắng sức khiến vợ tôi hiểu ra rằng tôi chẳng phải tên ngốc mà nàng vẫn tưởng. Trong suốt những cuộc đối thoại dài đằng đẵng, cô đã hao tâm tốn sức đến bao nhiêu để kiềm chế nỗi ghét bỏ, khi người phụ nữ kia cứ khăng khăng mà nhận định trong nhiều thật nhiều những hành động hay lời nói của tôi một sự ngu ngốc chẳng tồn tại, hay một thứ xấu xa mà chỉ một tâm hồn có chủ đích thù địch mới có thể nhận định như vậy.
Tôi ngẩn người. Bỗng chốc, trước những lời tâm sự của Anna Rosa, tôi thấy một Dida khác biệt đến nhường nào so với Dida của tôi và cũng thực thụ y hệt vậy. Lúc ấy, hơn bao giờ hết, tôi cảm nhận được toàn bộ nỗi khiếp đảm về sự phát hiện của mình. Một Dida nói về tôi theo cái cách mà có nằm mơ tôi cũng chẳng tưởng tượng được, một kẻ căm hận tôi tới tận xương tủy. Mọi kí ức thân mật mà chúng tôi từng sẻ chia, rạn nứt và bị phản bội một cách rẻ rúng mà để nhớ lại chúng, tôi phải ức chế mà vượt qua cảm giác kì cục mà trước đây tôi chưa từng nhận thấy, phải vỗ về cảm giác tủi hổ mà trước đây, trong thâm tâm, tôi những tưởng mình chẳng cần cảm nhận. Như một trò lừa gạt, sau khi dẫn dụ tôi tin tưởng để trút bỏ áo quần, nàng mở tung cửa và trưng tôi ra trước sự chế nhạo của bất cứ ai muốn tới mà trông cái thằng tôi trần truồng không mảnh vải che thân. Định giá gia đình tôi và nhận xét những thói quen bình thường nhất của tôi, tuyền những điều tôi chẳng ngờ được ở nàng. Tựu trung, một Dida khác; một Dida thực sự thù địch.
Tuy vậy, tôi dám chắc như đinh đóng cột rằng nàng không đóng kịch với Gengè của nàng: khi ở bên Gengè của nàng, Dida trở thành con người sẵn có trong mình, thiện lương và chân thành đến hoàn hảo. Đẩy khỏi cuộc sống mà nàng có thể hưởng thụ với hắn, nàng biến thành một kẻ khác: một kẻ mà giờ đây nàng bắt buộc hay thích thú hoặc thực tâm cảm nhận là nàng trước mặt Anna Rosa.
Nhưng tôi còn ngỡ ngàng điều chi? Tôi chẳng thể để mặc tên Gengè của nàng cho nàng, như nàng đã nhào nặn ra, rồi trở thành một kẻ khác khi tôi muốn hay sao?
Chuyện là vậy đối với tôi, cũng như đối với tất cả mọi người.
Tôi chẳng thể nào tiết lộ bí mật về phát hiện của mình cho Anna Rosa. Chính cô nàng đã khiến tôi muốn bộc lộ, qua những chuyện về vợ tôi mà bỗng chợt cô kể tôi nghe. Và tôi chẳng bao giờ tưởng tượng được rằng tiết lộ ấy lại khiến tâm hồn cô dấy lên bão tố, tới mức đẩy cô thực hiện chuyện điên rồ mà cô đã thực hiện.
Nhưng trước tiên, tôi sẽ kể về chuyến viếng thăm tới Đức ông, chuyện mà chính cô nàng hối thúc tôi biết bao, như thể chẳng thể nào trì hoãn nữa.
V. VỊ CHÚA BÊN TRONG VÀ VỊ CHÚA BÊN NGOÀI
Những khi tôi dẫn Bibì, con chó cái bé nhỏ của vợ tôi, ra ngoài đi dạo, những nhà thờ của Richieri là nỗi tuyệt vọng trong tôi.
Bibì muốn vào bên trong bằng mọi giá.
Đáp lại lời mắng nhiếc của tôi, nó ngồi bệt xuống trên hai chi sau, giơ một trong hai chi trước lên lắc lắc. Nó hắt hơi, rồi tai vểnh tai cụp mà nhìn tôi, chính với dáng vẻ tự tin rằng chẳng thể nào, chẳng thể nào một con chó cái bé nhỏ xinh đẹp như nó lại bị cấm vào nhà thờ. Trong ấy làm gì có ai!
“Không có ai ư? Sao lại không có, hả Bibì?” Tôi bảo nó. “Ở nơi ấy tồn tại thứ cảm xúc đáng tôn thờ nhất của con người. Mày chẳng thể hiểu những điều này, bởi may mắn thay, mày là một con chó cái bé nhỏ chứ chẳng phải con người. Loài người, mày thấy không? Họ cần phải xây dựng một ngôi nhà cho cả những xúc cảm của họ. Lưu giữ chúng, những cảm xúc, ở trong tâm can là chưa đủ: họ muốn nhìn thấy cả bên ngoài, được chạm vào chúng; và họ xây một ngôi nhà.”
Tới lúc này, tôi vẫn chỉ cần lưu giữ cảm xúc về Chúa ở bên trong, theo cách của riêng mình. Tôn trọng cảm xúc về Ngài trong những người khác, tôi đã luôn cấm Bibì đặt chân vào nhà thờ; nhưng ngay cả tôi cũng chẳng bước vào đó. Tôi giữ lấy cảm xúc của mình và cố gắng tôn thờ Ngài trên đôi chân của mình, thay vì đi quỳ gối trong ngôi nhà mà người khác đã dựng lên cho Ngài.
Yếu điểm mà tôi cảm thấy bị tổn thương trong mình lúc vợ tôi cười khi tôi bảo chẳng chịu làm một tên cho vay nặng lãi ở Richieri nữa, chẳng còn nghi ngờ gì, đó chính là Chúa: vị Chúa đã cảm thấy bị tổn thương trong tôi, vị Chúa trong tôi chẳng thể nào chịu đựng việc những người khác ở Richieri coi tôi là một tên cho vay nặng lãi.
Nhưng nếu tôi kể như vậy cho Quantorzo hoặc Firbo hoặc những cổ đông khác của ngân hàng, chắc chắn tôi sẽ tạo cho họ một bằng chứng khác về sự điên rồ của bản thân.
Thay vào đó, vị Chúa bên trong, vị Chúa này ở bên trong mà giờ đây hết thảy đều cho là điên rồ, Ngài cần tỏ ra ăn năn hết mức có thể để viếng thăm, cầu xin sự trợ giúp và che chở từ vị Chúa bên ngoài hết đỗi uyên bác, vị Chúa sở hữu ngôi nhà, những người hầu cận hết mực trung thành và nhiệt huyết, cùng tất cả những quyền năng đã được sáng tạo đầy thông thái và choáng ngợp để khiến cả thế giới yêu thương và kính sợ.
Vị Chúa này, chẳng có nguy cơ sẽ bị Firbo hoặc Quantorzo bảo Ngài điên.
VI. MỘT GIÁM MỤC KHÓ CHỊU
Vì vậy tôi tới Tòa giám mục tìm Đức ông Partanna.
Người Richieri kháo nhau rằng ngài được bầu làm Giám mục thể theo yêu cầu và chế độ mục ruỗng của những giáo sĩ quyền thế hàng đầu ở Roma. Sự thật là dù đã dành vài năm đứng đầu giáo phận, ngài vẫn chẳng thể thu phục được thiện cảm, hay chiếm được sự tin tưởng của bất kỳ ai.
Ở Richieri, người ta đã quen với vẻ hào nhoáng, với cung cách vui tươi và lịch thiệp, sự phóng khoáng bất chấp của người tiền nhiệm, Đức ông Nhất mực quyền uy Vivaldi quá cố; và bởi vậy, trái tim mọi người như thắt lại khi lần đầu tiên họ trông thấy bộ xương vận áo choàng là vị Giám mục mới bước xuống từ Biệt phủ Giám mục, kẹp giữa hai người thư ký hộ tống ngài.
Một Giám mục đi bộ?
Kể từ khi Tòa Giám mục ngự trị như một pháo đài u ám trên đỉnh thành phố, tất thảy các Giám mục đều luôn luôn đi xuống trên một cỗ xe tuyệt đẹp, phía trước là hai chú ngựa kéo vận trên mình lớp đăng ten đỏ và gắn lông vũ.
Thế nhưng trong chính lệnh tấn phong, Đức ông Partanna đã thảo rằng Tòa Giám mục là nhiệm vụ chứ chẳng phải đặc ân. Ngài sa thải đám người hầu và đầu bếp, xà ích và bộ hạ, bán đi cỗ xe và thiết lập chế độ thắt chặt kinh tế tối đa, trong khi Richieri là một trong những giáo phận giàu có nhất Italia. Việc thăm viếng các linh mục trong giáo phận, chuyện mà người tiền nhiệm hiếm khi màng tới, bản thân ngài lại quản lý với sự tập trung cao độ lịch trình mà Giáo luật đã định. Chẳng nề hà những khó khăn đường sá hay thiếu thốn phương tiện, ngài sử dụng những cỗ xe thuê và thậm chí cả la hay lừa.
Thế rồi, tôi nghe Anna Rosa kể rằng toàn bộ nữ tu của năm tu viện trong thành phố, trừ những bà xơ bấy giờ đã héo mòn trong Đại tu viện, đều ghét bỏ ngài vì những luật lệ tàn nhẫn được ban bố để cấm cản họ ngay khi ngài vừa nhậm chức Giám mục. Họ không được phép chuẩn bị hay buôn bán bánh ngọt hoặc rượu rosolio, thứ bánh ngọt tuyệt hảo làm từ mật ong và bột pasta chính hiệu được thắt nơ và gói lại bởi những sợi dây bạc, thứ rượu rosolio tuyệt hảo thơm mùi hồi và quế! Họ không được thêu thùa, ngay cả trên những đồ nội thất hoặc khăn trải bàn thờ, mà chỉ được đan móc. Sau cùng, họ không được giữ cho riêng mình một linh mục giải tội, mà tất cả, không phân biệt, đều phải tới với Cha xứ của cộng đồng đó. Ngài còn đề ra những luật lệ gay gắt hơn nữa đối với những giáo đồ và những người hưởng lợi từ tất cả các nhà thờ, và tựu trung ngài đòi hỏi tất thảy các tu sĩ phải thực hiện nghiêm ngặt từng bổn phận của mình.
Một Giám mục như vậy thực chẳng hề dễ chịu đối với hết thảy những người muốn đặt xúc cảm về Chúa ra bên ngoài, dựng cho Ngài một ngôi nhà bên ngoài, cùng vẻ tráng lệ tương xứng với nhu cầu được xưng tội ngày càng cao. Nhưng ngài ấy là người tốt nhất mà tôi có thể mong đợi. Người tiền nhiệm của ngài, Đức ông Nhất mực quyền uy Vivaldi, người được tất cả kính trọng, người nắm giữ tất cả trong tay, chắc chắn sẽ tìm ra phương án và cách thức để dàn xếp mọi chuyện, cứu vớt ngân hàng cũng như lương tâm của tôi, không chỉ để tôi được yên lòng, mà cả Firbo và Quantorzo và tất cả những kẻ khác.
Giờ đây, tôi cảm thấy mình chẳng thể hòa hợp với chính bản thân mình hay với bất kỳ ai.
VII. TRÒ CHUYỆN VỚI ĐỨC ÔNG
Đức ông Partanna tiếp đón tôi trong căn phòng rộng lớn, vốn là thư phòng cũ, ở Biệt phủ Giám mục.
Tôi vẫn ngửi thấy trong lỗ mũi mùi vị của căn phòng từ tấm trần u ám được tô điểm bởi những bức bích họa, nhưng phủ trên đó là lớp bụi khiến ta chẳng còn nhìn ra điều gì. Những bức tường thạch cao ngả vàng cao vòi vọi treo đầy chân dung cũ kỹ của những giáo sĩ quyền thế. Ngay cả các tấm chân dung ấy cũng hoen ố vì bụi bẩn, một vài tấm thì nấm mốc. Chúng được treo chỗ này chỗ kia, chẳng theo một trật tự nhất định, trên những kệ tủ hay giá sách bạc màu và mốc meo.
Phía cuối căn phòng là hai khung cửa sổ cao lớn mở ra với một vẻ sầu thảm vô hạn trước bầu trời âm u. Những cánh cửa kính rung lắc liên hồi trước trận gió bất thình lình nổi lên dữ dội: trận gió tồi tệ của Richieri đã khiến hết thảy nhà cửa phải khốn đốn.
Chừng như chỉ chốc lát, những tấm kính nọ sẽ gục ngã trước trận gió tây nam gào thét dữ dội. Toàn bộ cuộc trò chuyện giữa tôi và Đức ông song hành cùng những tiếng rít tệ hại, chói tai và mãnh liệt, hay những tiếng rên trầm dai dẳng mà, thường làm tôi xao lãng lời của Đức ông, chúng khiến tôi cảm nhận trong mình sự hư ảo nghiệt ngã của thời gian và cuộc đời, với một nỗi rúng động chẳng thể diễn tả thành lời.
Tôi còn nhớ một trong hai khung cửa lớn ấy nhìn ra ban công của ngôi nhà cũ nát đối diện. Trên ban công ấy bỗng chợt xuất hiện một người đàn ông, mà hẳn lão ta đã trốn khỏi giường với ý tưởng điên rồ: nếm thử khoái cảm bay lượn.
Giương mình ở đó giữa cơn gió dữ dội, lão phe phẩy quanh tấm thân gầy guộc, một nét gầy guộc khiến người ta ớn lạnh, một chiếc ga giường: một chiếc ga bằng len màu đỏ, hai tay lão vươn chéo trên vai mà treo dựng lên. Và lão cười, cười với một hàng lệ lóng lánh nơi đôi mắt ma dại, trong khi những lọn tóc dài đỏ hoe cứ bay qua bay lại, uốn lượn như những ngọn lửa.
Sự xuất hiện ấy làm tôi choáng ngợp hết đỗi. Tới một lúc, tôi chẳng thể kiềm mình mà chỉ cho Đức ông thấy, làm gián đoạn bài diễn thuyết rất mực nghiêm trọng về những hoài nghi của lương tâm mà ngài đã thao thao bất tuyệt hồi lâu với sự thỏa mãn hiển hiện về tài hùng biện của bản thân mình.
Đức ông quay đầu nhẹ trông; và, với một trong những nụ cười hoàn toàn có thể che dấu tiếng thở dài, ngài bảo:
“Ôi, đúng vậy: một người điên tội nghiệp ở đằng đó.”
Ngài nói với một chất giọng hờ hững, như thể cảnh ấy đã từ lâu trở nên quen thuộc trong mắt ngài. Chất giọng ngài thoạt tiên khiến tôi nảy sinh ý định muốn làm ngài giật nảy bằng cách báo cho ngài biết:
“Không, ngài biết không: hắn không ở đằng đó. Hắn ở đây, thưa Đức ông. Tên điên muốn được bay chính là con.”
Tôi dằn lòng, và tôi chẳng bảo ngài vậy. Thay vào đó, cũng với chính chất giọng hờ hững nọ, tôi hỏi ngài:
“Chẳng phải có nguy cơ ông ấy sẽ nhảy xuống khỏi ban công hay sao?”
“Không, ông ấy đã như vậy từ bao năm nay,” Đức ông đáp. “Ông ấy vô hại, vô hại.”
Tức thì, trong khi lòng chẳng muốn, tôi buột miệng:
“Cũng như con.”
Và Đức ông không thể kiềm chế mà giật nảy lên. Thế nhưng ngay lập tức tôi trưng cho ngài vẻ mặt vô ưu và niềm nở, trong chốc lát đã giúp ngài yên vị. Tôi vội phân trần rằng bản thân mình cũng vô hại trong tâm trí của quý ngài Firbo và quý ngài Quantorzo, của bố vợ tôi và vợ tôi, và tựu trung của tất cả những người muốn ngăn chặn tôi.
Bình tâm trở lại, Đức ông tiếp tục bài diễn thuyết về những hoài nghi của lương tâm, những tưởng ấy là bài rao giảng hợp lý nhất trong trường hợp của tôi, và là thứ duy nhất khiến quyền lực tâm linh uy nghi và cao quý của ngài bằng mọi cách tác động lên những dự định của tôi và những thủ đoạn đến từ phía kẻ thù của tôi.
Liệu tôi có thể làm ngài hiểu ra rằng trường hợp của tôi chẳng liên quan đến lương tâm như ngài nhận định?
Nếu tôi liều mình mà khiến ngài hiểu ra, bỗng chốc tôi cũng sẽ trở thành kẻ điên trong mắt ngài.
Vị Chúa trong tôi muốn đòi lại tiền từ ngân hàng để tôi không còn bị gọi là tên cho vay nặng lãi, Ngài là một vị Chúa thù địch của mọi công trình.
Thay vào đó, vị Chúa mà tôi tới cầu xin trợ giúp và che chở, Ngài chính là vị Chúa dựng xây. Ngài giúp tôi đòi lại tiền, vâng, nhưng với điều kiện tôi phải xây thêm chí ít một ngôi nhà cho một cảm xúc khác trong những cảm xúc đáng ngưỡng vọng nhất của loài người: lòng nhân ái, ý tôi là vậy.
Khép lại buổi trò chuyện với tôi, Đức ông nghiêm giọng hỏi tôi rằng liệu đây có phải là điều tôi mong muốn?
Tôi buộc phải trả lời ngài rằng đó chính là điều tôi mong muốn.
Tới đây, ngài bèn lắc chiếc chuông nhỏ bằng bạc xỉn màu và ảm đạm đương nằm thu lu thu lu trên bàn. Một linh mục trẻ tóc vàng, làn da xanh xao hết đỗi xuất hiện. Đức ông lệnh cho anh ra sảnh mời Don Antonio Sclepis, giáo sĩ của Nhà thờ lớn và truởng Giáo đoàn Oblati. Ông là người tôi cần.
Tôi biết vị tu sĩ này phần nhiều vì danh tiếng hơn là con người thật của ông. Đã có lần tôi vâng lời bố đi giao cho ông một bức thư ở trên Giáo đoàn Oblati. Tòa nhà mọc lên chẳng xa Biệt phủ Giám mục là mấy, trên điểm cao nhất của thành phố, một công trình rộng lớn, cổ kính thâm sâu, mặt ngoài vuông vức và u ám, tàn tạ vì thời gian và mưa gió, thế nhưng bên trong hết thảy đều trắng toát, sáng lạn và rực rỡ. Ở đó, họ nhận nuôi những đứa trẻ mồ côi nghèo khổ và những đứa con hoang khắp vùng. Từ sáu tới mười chín tuổi, chúng sẽ ở đó mà theo học những nghệ thuật khác nhau hay những ngành nghề đa dạng. Kỉ cương trong ấy được giữ nghiêm tới mức khi những tên Oblati tội nghiệp đó ca lời cầu nguyện theo tiếng đàn organ trong nhà thờ của Giáo đoàn vào buổi sáng hay giờ kinh chiều, lời cầu nguyện vọng từ trên xuống nghe sầu thảm như tiếng khóc than của những kẻ bị giam cầm.
Xét từ vẻ bề ngoài, chừng như giáo sĩ Sclepis chẳng sở hữu nội lực áp chế và nguồn năng lượng cứng cỏi tới vậy. Một tu sĩ cao và gầy, hầu như xuyên thấu, cứ như thể hết thảy không khí và ánh sáng ở độ cao mà ông sống không những khiến ông nhợt nhạt mà còn tẩy trắng con người ông, và chúng còn khiến đôi bàn tay mỏng manh đung đưa của ông trở nên hầu như trong suốt, còn hàng lông mày trông thanh mảnh hơn một cọng hành trên cặp mắt sáng hình bầu dục. Ngay cả giọng nói và nụ cười điệu đà cũng run run và nhạt nhòa trên đôi môi rộng trắng ởn, mà từ ấy vẫn ứa ra một vài giọt nước dãi.
Ngay khi bước vào và được Đức ông cho biết về những hoài nghi trong lương tâm và các dự định của tôi, ông bèn nói với tôi với một sự vội vàng ghê gớm, cùng vẻ tin tưởng sâu sắc, vỗ một tay lên vai tôi và xưng hô thân mật với tôi:
“Được được, con trai ta! Thực là một nỗi đau to lớn, ta hài lòng vì điều đó. Hãy tạ ơn Chúa. Nỗi đau sẽ cứu vớt con, con trai, cần phải nghiêm khắc đối với tất thảy những kẻ ngu muội không muốn chịu khổ. Thế nhưng vận mệnh đã an bài cho con phải chịu khổ, chịu khổ rất nhiều. Thử nghĩ tới cha của con, tội nghiệp, ông ấy đã làm, ừ… làm biết bao chuyện xấu! Hãy để tâm tư về cha của con là lời sám hối! Lời sám hối của con! Cứ mặc ta chiến đấu với quý ngài Firbo và quý ngài Quantorzo! Họ muốn cản trở con? Ta sẽ dàn xếp với họ, con chớ có ngờ!”
Tôi rời khỏi Biệt phủ Giám mục với một sự tự tin rằng bản thân đã chiến thắng tất cả những kẻ muốn cản trở mình; nhưng khi giờ đây tôi đã liên thủ với Giám mục và ông Sclepis, sự tự tin này và những nghĩa vụ nảy sinh lại đẩy tôi xuống một đại dương những bất định không hồi kết về kết cục cuộc đời tôi, khi đã trút bỏ tất cả, chẳng còn địa vị, chẳng còn gia đình.
VIII. CHỜ ĐỢI
Tạm thời tôi chẳng còn mối bận tâm nào ngoài Anna Rosa, khi cô nàng muốn tôi bầu bạn trong những ngày ốm yếu.
Cô nằm trên giường, một chân băng bó; và cô bảo sẽ chẳng bao giờ đứng dậy nữa, nếu cô bị tập tễnh như các y sĩ vẫn lo ngại.
Vẻ xanh xao mệt mỏi khi phải nằm nguyên một chỗ hồi lâu đã trao cho cô một nét duyên dáng mới mẻ, đối lập với dáng vẻ thuở trước. Ánh sáng trong đôi mắt cô trở nên đậm đà hơn, hầu như trầm lắng. Cô bảo chẳng thể ngủ được. Mái tóc cô dày, đen, hơi xoăn và khô, khi cô thấy chúng xõa xượi và rối bời trên gối mỗi buổi sáng, mùi hương của chúng khiến cô ngạt thở. Nếu chẳng phải ghê tởm đôi bàn tay của một ông thợ cắt tóc trên đầu, cô đã cắt phăng đi rồi. Một sáng, cô ướm hỏi liệu tôi có thể cắt tóc cho cô hay chăng? Cô cười vì câu trả lời ngượng ngùng của tôi, thế rồi cô kéo đầu chăn trùm kín mặt và ngồi đó một hồi với gương mặt ẩn giấu, im lặng.
Dưới lớp chăn, cơ thể đầy đặn của cô, một nàng trinh nữ trưởng thành, ẩn hiện gợi cảm. Dida kể cho tôi rằng cô đã hai mươi nhăm. Hẳn rồi, nằm vậy với khuôn mặt che kín, cô nghĩ tôi chẳng thể nào kiềm chế mà ngắm nhìn cơ thể cô khi cô đương bày vẽ dưới lớp chăn. Cô thử tôi.
Giữa cảnh tranh sáng tranh tối của căn phòng bé nhỏ màu hồng lộn xộn, vẻ thinh lặng chừng như đồng lõa với nỗi đợi chờ vô vọng cho một cuộc sống mà những ham muốn nhất thời của sinh vật kỳ lạ nọ chẳng thể bằng một cách nào đó sản sinh hay cấu tạo.
Tôi đã nhìn nhận được rằng cô nàng tuyệt đối không cam chịu tất cả những gì bén rễ mà duy trì và trường tồn. Tất cả những thứ mà cô làm, mọi ham muốn hay suy nghĩ nảy sinh tức thời, trong khoảnh khắc đã trở nên xa xôi vạn trượng đối với cô; và nếu có chăng cô còn lấn cấn, thì đó tuyền là những nỗi giận run người, những cơn phẫn nộ bùng nổ và thậm chí cả những trận mê sảng rối bời.
Chừng như chỉ có cơ thể mình mới khiến cô hứng thú luôn luôn, dù rằng có vài lần cô bày tỏ nỗi thất vọng vô cùng, thậm chí cô còn bảo mình chán ghét nó. Thế nhưng cô nằm đó mà liên hồi ngắm nhìn mình trong gương, mọi góc cạnh hoặc đường nét; cô thử mọi thái độ, mọi biểu cảm có thể thành hình từ đôi mắt sáng trong và sống động đến nhường kia, với hai lỗ mũi phập phồng, làn môi đỏ khinh bạc và hàm dưới linh hoạt hết đỗi. Cô làm vậy, như thể vì ngẫu hứng nghệ sĩ trong mình; chứ chẳng phải vì nghĩ rằng đối với cô, trong cuộc sống, những thứ đó có thể giúp ích được gì nếu chẳng để tiêu khiển: một trò chơi nhất thời khiêu gợi và kích thích.
Một buổi sáng, tôi thấy cô nàng cố nghiên cứu hồi lâu, trong chiếc gương nhỏ cầm tay mà cô mang theo trên giường, một nụ cười bao dung và ấm áp, dù trong mắt cô ánh lên vẻ xấu xa hầu như trẻ dại. Thế rồi trông cô diễn lại nụ cười ấy, sống động, chính như thể nụ cười vừa mới đó ngẫu nhiên nảy nở dành cho tôi, trong tôi cuộn trào cảm xúc chống đối.
Tôi bảo cô rằng tôi chẳng phải chiếc gương của cô.
Nhưng cô chẳng tự ái. Cô hỏi tôi rằng nụ cười đó, như tôi vừa nhìn cô diễn, có phải chính là nụ cười mà cô đã quan sát và nghiên cứu trong chiếc gương trước mặt.
Tôi đáp, khó chịu vì bị vật nài:
“Sao tôi biết được? Tôi chẳng thể nào biết được cô đã trông thấy nó như thế nào. Hãy chụp một tấm hình với nụ cười ấy.”
“Tôi đã chụp,” cô bảo. “Một tấm lớn. Đằng đó trong ngăn kéo phía dưới tủ. Anh làm ơn hãy lấy nó cho tôi.”
Ngăn kéo đó tràn ngập những ảnh của cô nàng. Cô cho tôi xem nhiều tấm, cả cũ lẫn mới.
“Đều là những tấm ảnh chết,” tôi bảo cô.
Cô quay phắt lại nhìn tôi.
“Chết?”
“Dù rằng chúng muốn tỏ ra mình vẫn sống.”
“Ngay cả tấm này với nụ cười?”
“Và tấm này, vẻ suy tư; tấm này, với ánh mắt hạ thấp.”
“Nhưng cớ sao chúng lại chết, khi tôi còn đương sống ở đây?”
“À, cô thì vâng; bởi giờ đây cô không nhìn thấy bản thân mình. Nhưng khi cô ở trước gương, trong giây phút mà cô nhìn lại mình, cô chẳng còn sống nữa.”
“Vì sao?”
“Bởi để nhìn thấy bản thân, trong một khoảnh khắc cô cần phải ngưng đọng sự sống trong mình. Như đứng trước một chiếc máy ảnh. Cô tạo dáng. Tạo dáng cũng như biến thành tượng trong một khoảnh khắc. Sự sống biến chuyển liên hồi, và cô chẳng bao giờ có thể thực sự nhìn thấy bản thân mình.”
“Vậy là khi còn sống, tôi chưa bao giờ nhìn thấy bản thân mình?”
“Chưa bao giờ, không như cách mà tôi nhìn thấy cô. Tôi nhìn thấy một hình ảnh của cô. Hình ảnh ấy thuộc về riêng tôi, chắc chắn không thuộc về cô. Hình ảnh thuộc về cô, sống động, có lẽ cô có thể thoáng thấy nó ẩn hiện trong một bức hình chớp nhoáng nào đó mà người ta chụp cho cô. Nhưng chắc hẳn cô sẽ cảm thấy một nỗi bàng hoàng nghiệt ngã. Cũng có lẽ cô sẽ khó mà nhận ra bản thân đương chuyển động, luộm thuộm ở đằng đó.”
“Thực vậy.”
“Cô chẳng thể nào biết được bản thân mình ngoài cách tạo dáng: như một bức tượng: chẳng có sự sống. Khi sống, người ta sống và chẳng nhìn thấy bản thân mình. Biết được bản thân mình đồng nghĩa với cái chết. Cô đã dành biết bao thời gian mà ngắm nghía bản thân trong chiếc gương này, trong tất cả những tấm gương, bởi cô không sống; cô không biết, cô không thể và cô không muốn sống. Cô rất đỗi mong muốn được ngắm nhìn bản thân mình, và cô không sống.”
“Nhưng hoàn toàn chẳng phải vậy! Tôi chẳng bao giờ kiềm chế mà ở nguyên trong một khoảnh khắc được, chính tôi đây.”
“Nhưng cô luôn muốn nhìn thấy bản thân mình. Trong từng hành động của cuộc sống. Như thể cô luôn giữ được hình ảnh của mình trước mắt, trong mọi hành động, trong mọi bước đi. Có lẽ đó cũng là nguyên nhân cho tính thiếu kiên nhẫn của cô. Cô chẳng muốn cảm xúc của mình bị che mờ. Cô buộc nó phải mở mắt và nhìn cô trong tấm gương mà cô luôn luôn giơ ra trước mặt. Còn thứ cảm xúc đó, ngay khi cô nhìn thấy mình, nó đóng băng trong cô. Người ta chẳng thể sống trước một tấm gương. Cô hãy cố đừng bao giờ nhìn bản thân mình. Bởi dù sao đi chăng nữa, cô sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy mình như người khác thấy cô. Và vậy thì chỉ mình cô biết cô như thế nào, như vậy còn ý nghĩa gì? Có thể cô sẽ chẳng còn hiểu được tại sao mình lại có hình ảnh mà tấm gương kia phản chiếu.”
Cô lặng người hồi lâu với đôi mắt đăm chiêu suy nghĩ.
Tôi dám chắc rằng cả đối với cô, cũng như đối với tôi, sau cuộc đối thoại đó và sau tất cả những gì tôi kể cho cô về hết thảy sự giằng xé trong tâm hồn tôi, giây phút ấy, hình tượng về nỗi cô đơn chẳng thể bù đắp và vô hạn của chúng ta sẽ mở ra trước mắt, ghê sợ biết bao và cũng sáng rõ biết nhường nào. Vạn vật hiện lên đơn độc đến đáng sợ. Rồi có lẽ cô nàng sẽ chẳng còn nhìn ra lý do phải giữ lấy khuôn mặt mình, nếu ngay cả cô cũng chẳng thể nhìn thấy nó sống động trong nỗi cô đơn, vậy thì những kẻ khác nhìn cô từ bên ngoài, tách biệt cô, ai biết được họ sẽ thấy cô như thế nào.
Mọi sự kiêu ngạo đổ vỡ.
Nhìn ngắm vạn vật với đôi mắt mà chẳng thể nào biết được đôi mắt của người khác nhìn thấy chúng như thế nào.
Nói mà chẳng để hiểu.
Trở thành một thứ gì đó đối với bản thân mình, chuyện ấy chẳng còn quan trọng.
Và chẳng còn gì là chân lý, khi chẳng có gì là chân lý đối với chính bản thân nó. Mỗi người, về phần mình, tự ngộ nhận chân lý như vậy và chiếm hữu nó để sau rốt có thể lấp đầy nỗi cô đơn và khiến cho cuộc sống của họ trở nên nhất quán bằng một cách nào đó, từng ngày từng ngày một.
Tôi ngồi đó, bên chân giường cô, mắc kẹt trong nỗi cô đơn của cô, với một dáng vẻ lạ lẫm đối với bản thân tôi, và chẳng thể cắt nghĩa đối với cô. Còn cô nằm đó, trên giường, trước mặt tôi, trong nỗi cô đơn của tôi, với đôi mắt đăm đăm và xa xăm hết đỗi, làn da xanh xao, một khuỷu tay chống xuống gối và bàn tay đỡ lấy cái đầu rối bù.
Trong hết thảy những điều tôi kể, cô cảm nhận một sự thu hút chẳng thể chối từ và cùng với nó là một cảm giác như ớn lạnh; thi thoảng còn tưởng như căm phẫn: tôi thấy cảm xúc ấy lóe lên trong đôi mắt cô, khi cô lắng nghe những lời tôi nói với một sự tập trung khao khát.
Tuy vậy cô vẫn mong tôi tiếp lời, kể cho cô nghe toàn bộ những gì chảy trôi trong trí óc tôi: những hình ảnh, những tâm tư. Và tôi nói hầu như chẳng suy nghĩ; hay đúng hơn, suy nghĩ của tôi đã tự mình cất tiếng, như thể chúng cần phải giải phóng một thứ áp lực cực độ.
“Cô hướng ra ngoài một khung cửa sổ; cô nhìn ngắm thế giới; cô tin rằng nó như những gì cô trông thấy. Cô thấy dòng người qua lại dưới đường, nhỏ bé trong tầm nhìn vĩ đại của cô, khi cô đứng trên cao, từ khung cửa sổ mà cô hướng mặt ra nhìn xuống. Cô không thể nào phủ nhận trong mình sự vĩ đại này, bởi nếu có một người bạn đương tản bộ dưới đường lúc bấy giờ và cô nhận ra cậu ấy, thì khi nhìn từ trên cao xuống như vậy, trông cậu ta chẳng cao hơn ngón tay của cô. Ôi, nếu cô nổi hứng mà gọi cậu ta và hỏi rằng: ‘Cậu cho tôi hỏi chút, cậu thấy tôi thế nào, khi tôi từ khung cửa sổ này nhìn xuống?’. Cô sẽ không nổi cái hứng đó, bởi cô sẽ chẳng nghĩ tới chuyện những người đi lại dưới đường hình thành trong đầu hình ảnh như thế nào về khung cửa sổ và về cô đương từ đó mà hướng mặt ra nhìn ngắm. Cô buộc phải gắng sức tách rời những điều kiện cấu thành hiện thực của những người khác, những kẻ đương qua lại dưới kia mà trong một phút giây họ đã sống trong tầm nhìn rộng lớn của cô, những người bộ hành nhỏ bé trên một con đường. Nhưng cô sẽ chẳng gắng sức, bởi cô chẳng mảy may hoài nghi hình ảnh trong họ về cô và về khung cửa sổ của cô, một trong vô vàn những khung cửa, bé xíu, trên cao là vậy, và hình ảnh cô nho nhỏ nho nhỏ ở trên đó nhìn ra với chiếc tay bé xinh đương vẫy vẫy trên không trung.”
Cô nhìn thấy bản thân mình trong lời mô tả của tôi, nho nhỏ nho nhỏ ở một khung cửa sổ trên cao, với chiếc tay bé xinh đương vẫy vẫy trên không trung, và cô cười.
Chớp nhoáng, rung động; rồi im lặng quay trở về ngự trị trong căn phòng bé nhỏ. Thi thoảng, bà cô già mà Anna Rosa sống cùng lại xuất hiện như một cái bóng: béo mập, lãnh cảm, với cặp mắt sáng xanh to lớn và bất cân xứng đến đáng sợ. Bà nán lại đôi chút ở bậc thềm, trong cảnh tranh sáng tranh tối hư ảo của căn phòng nhỏ, đôi tay mụ mẫm và trắng ởn đặt trên bụng; trông bà như một con quái vật dưới thủy cung; bà chẳng nói gì và rời đi.
Cô nàng chẳng trao đổi gì với bà cô nọ ngoài một vài lời hãn hữu suốt cả ngày. Cô sống với mình, vì mình; cô đọc, mơ tưởng, nhưng cô luôn thiếu kiên nhẫn, cả với những câu chuyện hay những mộng tưởng trong cô; cô ra ngoài mua sắm, tới thăm cô này cô nọ; nhưng cô tưởng chừng như tất cả bọn họ đều nhạt nhẽo và ngu ngốc; cô tiêu khiển bằng cách làm họ ngỡ ngàng; nhưng rồi, khi trở về nhà, cô cảm thấy mệt mỏi và bực bội trước tất cả. Có thể nhìn ra trong cô những nỗi ghê tởm nhất định chẳng thể vượt qua, từ cái giật mình hay tiếng thét bất chợt trước một lời bóng gió nào đó. Có lẽ chúng tồn tại bởi cô đã đọc những cuốn sách y học được tìm thấy trong thư viện của ông bố, một thầy thuốc. Cô bảo sẽ chẳng bao giờ cưới chồng.
Tôi chẳng thể nào biết được cô đã hình thành ý niệm thế nào về tôi. Chắc chắn cô quan sát tôi với một mối quan tâm lạ thường, khi những ngày ấy trong mắt cô, tôi hiện lên như một kẻ lạc lối giữa những suy nghĩ của chính mình và cảm giác bất định trước tất cả mọi chuyện.
Cảm giác bất định trong tôi phủ nhận mọi giới hạn, mọi cơ sở, và giờ đây, hầu như theo bản năng nó từ chối mọi hình thể thực thụ cứ như nước biển rút khỏi bờ. Cảm giác bất định, vơ vẩn trong mắt tôi đã hoàn toàn thu hút cô. Vậy nhưng có những lần nhìn cô, tôi có ấn tượng lạ lùng rằng cảm giác ấy trong tôi như một thú tiêu khiển của cô; một chuyện mà suy cho cùng cũng đôi chút buồn cười, khi ở chân giường cô có một người đàn ông đương đắm mình trong những hoàn cảnh tinh thần không tưởng là vậy, lung lạc hết thảy là vậy, chẳng biết làm cách nào mà sống tới ngày hôm sau, khi mà sau lúc đoạt lại tiền từ ngân hàng nhờ ông Sclepis, hắn lại sẽ trút bỏ và giải phóng tất cả.
Bởi cô nàng chắc chắn rằng giờ đây tôi đã bước đến những hệ quả cuối cùng, như một tên điên đúng nghĩa. Và chuyện này khiến cô vui thú vô ngần, đồng thời tạo cho cô một cảm giác tự hào nhất định, bởi trong những buổi trò chuyện với vợ tôi, cô đã đoán định được, không hẳn là chuyện này, mà rằng xét từ mọi khía cạnh tôi đều là một người đàn ông không bình thường, khác biệt so với những người khác; một người mà chỉ ngày một, ngày hai, ta có thể trông thấy từ hắn điều gì đó phi thường. Như thể để ngay lập tức đưa ra cho người khác, đặc biệt là vợ tôi, bằng chứng về việc cô đã đúng khi nghĩ về tôi như vậy, cô vội vàng gọi tôi tới, cho tôi hay những mưu đồ của họ chống lại tôi, thúc giục tôi tới chỗ Đức ông. Và giờ đây, cô hết mực hài lòng về bản thân tôi, khi trông thấy tôi ở đằng đó phía chân giường, như hình ảnh tôi trong mắt cô, kiên định và bình thản đợi chờ những gì sẽ phải xảy đến, chẳng màng đến bất kì điều gì hay bất kì ai.
Thế nhưng cô chính là người muốn hạ sát tôi. Chính từ cảm giác mãn nguyện mà tôi mang lại đã khiến cô cười vui đôi chút, như một người u mê, cô đã nảy lòng thương xót tôi ghê gớm, để đáp lại cảm xúc mà chắc hẳn đôi mắt tôi đã biểu lộ, khi tôi ngắm nhìn cô từ một khoảng xa xăm vô tận của một thời đại chẳng còn lưu dấu ấn.
Tôi chẳng biết chuyện đã xảy ra chính xác như thế nào. Khi ngắm nhìn cô nàng từ khoảng xa xăm nọ, tôi nói với cô những ngôn từ mà tôi chẳng còn nhớ, những ngôn từ mà chắc hẳn cô phải cảm nhận được trong đó một nỗi khát khao cháy bỏng muốn được hiến dâng tất thảy sự sống trong con người tôi, toàn bộ con người có thể là tôi, để trở thành một kẻ như cô mong muốn và đối với tôi, thực chất, chẳng là ai cả, chẳng là ai cả. Tôi nhớ rằng từ trên giường cô giơ tay; tôi nhớ rằng cô mời gọi tôi lại gần.
Chỉ thoáng chốc sau, cũng chính từ trên giường tôi lăn xuống, tối tăm mặt mũi, với vết thương chí tử ở ngực do khẩu súng lục nhỏ mà cô nàng giấu dưới gối.
Động cơ mà cô tường trình trong lời biện hộ chắc hẳn phải là thực: cô bị thôi thúc lấy mạng tôi bởi nỗi ghê rợn bản năng, bất chợt, trước hành động mà cô cảm thấy mình bị cuốn hút với một cảm giác mê say lạ lùng đối với tất cả những gì mà tôi kể cho cô nghe ngày hôm ấy.