Người ta có thể phản biện:
“Nhưng ý nghĩ này chưa bao giờ thoáng qua trí óc anh hay sao, hả Moscarda tội nghiệp, rằng chuyện xảy đến với những kẻ khác cũng như với anh, rằng họ cũng chẳng thấy mình đang sống; và rằng nếu anh không phải là kẻ mà từ trước đến nay anh vẫn tưởng là mình trong mắt người khác, vậy ngay cả những người khác cũng có thể chẳng giống những gì anh nhìn thấy, vân vân và vân vân?”
Tôi sẽ đáp:
Ý nghĩ ấy có thoáng qua trong trí óc tôi. Nhưng làm ơn, thực sự ý nghĩ ấy cũng thoáng qua trí óc các ngài hay sao?
Tôi cũng muốn giả định vậy, nhưng tôi không tin. Thay vào đó, tôi tin rằng nếu thực sự một ý nghĩ như thế có thoáng qua và ăn sâu bén rễ trong trí óc các ngài cũng như đã ăn sâu bén rễ trong tôi, vậy từng người trong các ngài sẽ phạm phải những chuyện điên rồ y hệt như tôi đã phạm phải.
Hãy thành thực đi: trong đầu các ngài chưa bao giờ nảy sinh ý nghĩ muốn nhìn mình đang sống. Các ngài chăm chăm sống vì mình, các ngài làm tốt điều đó, mà chẳng màng đến chuyện các ngài là gì đối với người khác; cũng chẳng phải bởi các ngài không quan tâm đến đánh giá của người khác, thực sự thì những đánh giá ấy vô cùng quan trọng đối với các ngài; đó là bởi các ngài đang sống trong mộng ảo tươi đẹp rằng những người khác, từ bên ngoài, họ cũng định hình các ngài như những gì các ngài định hình là mình.
Vậy chuyện gì sẽ xảy ra nếu có ai đó nhắc rằng mũi các ngài vẹo chút chút về bên phải… không ư? Hay chuyện hôm qua các ngài đã nói dối… cũng không ư? Một lời nói dối nho nhỏ nho nhỏ, đó, một lời nói dối vô hại… Tựu trung là, nếu một lúc nào đó các ngài loáng thoáng nhận ra đối với người khác, bản thân mình chẳng phải chính những gì mà các ngài hằng tưởng; các ngài sẽ làm gì? (Thành thực đi). Các ngài chẳng làm gì cả, hoặc rất ít. Các ngài cứ ngẫm cứ nghĩ, lòng tràn đầy sự tự tin tuyệt vời và vẹn nguyên, rằng những người khác đã hiểu lầm các ngài, đánh giá sai các ngài; và vậy thôi. Nếu bận lòng, các ngài sẽ gắng biện luận các đánh giá đó bằng những lời thanh minh, giải thích; còn không, các ngài sẽ mặc kệ; các ngài sẽ nhún vai mà cảm thán: “Ôi rốt cục, tôi có nhận thức của tôi và vậy là đủ”.
Không phải vậy sao?
Làm ơn đi, thưa các ngài. Nếu một từ to lớn như vậy đã trôi vào miệng các ngài, vậy cho phép tôi đặt vào tâm trí các các ngài một suy nghĩ nho nhỏ nho nhỏ thôi. Điều này: rằng ở đây, nhận thức của các ngài chẳng liên quan gì sất. Tôi không nói nó vô giá trị, nếu đối với các ngài nó là tất cả; tôi sẽ nói, để vừa lòng các ngài, rằng cũng như vậy, tôi cũng có thứ đó và tôi biết nó vô giá trị. Các ngài biết tại sao hay chăng? Bởi tôi biết nó cũng tồn tại trong các ngài. Vâng. Nhưng khác xa nhận thức trong tôi.
Xin hãy thứ lỗi nếu trong một phút giây tôi có nói theo cách của các nhà hiền triết. Nhận thức là một thứ gì đó tuyệt đối có thể đủ đầy cho chính nó hay sao? Nếu chúng ta ở một mình thì có thể. Nhưng lúc ấy, các ngài thân mến của tôi ơi, nhận thức sẽ chẳng tồn tại. Đáng tiếc, tôi đây và các ngài đây. Đáng tiếc.
Vậy chuyện các ngài có nhận thức của mình và thế là đủ, có nghĩa lý gì? Nghĩa là người khác có thể nghĩ về các ngài và đánh giá các ngài như họ thích, hay đúng hơn là một cách bất công, còn các ngài tự tin và thoải mái nhủ rằng mình đã chẳng làm gì xấu xa?
Hỡi trời cao, và nếu không phải là những người khác, vậy ai cho các ngài sự tự tin này? Sự thoải mái này, ai cho các ngài?
Tự các ngài chăng? Bằng cách nào?
À, tôi biết, bằng cách này: các ngài cứng đầu cứng cổ tin rằng nếu người khác ở vào vị thế và tình cảnh y hệt của các ngài, họ sẽ hành xử giống các ngài, không hơn không kém.
Tuyệt vời! Nhưng dựa vào đâu mà các ngài khẳng định?
Ôi, điều này tôi cũng thấu: rằng các ngài dựa vào những nguyên tắc trừu tượng và khái quát vượt ra khỏi những tình huống thực tế và cụ thể trong cuộc sống, những nguyên tắc mà mọi người có thể đồng thuận (điều này chẳng tốn mấy công sức) cũng một cách trừu tượng và khái quát.
Nhưng làm thế nào mà trong khi ấy, họ vẫn kết tội các ngài, hoặc không ủng hộ các ngài, hoặc nhạo báng các ngài? Rõ ràng, như các ngài, họ không nhận ra những nguyên tắc khái quát nọ trong cái tình huống cụ thể đã xảy đến với các ngài, cũng như chính bản thân họ trong hành động mà các ngài đã thực hiện.
Ôi vậy thì nhận thức của các ngài đủ để làm gì? Để cảm thấy đơn độc? Không, lạy Chúa. Đơn độc khiến các ngài kinh hãi. Vậy các ngài làm gì? Các ngài tưởng tượng mình có nhiều cái đầu. Tất cả đều giống cái đầu của các ngài. Nhiều cái đầu mà là cái đầu của chính các ngài. Những cái đầu ấy, vào một hiệu lệnh định trước, sẽ như bị một sợi dây vô hình kéo khỏi các ngài, sẽ bảo các ngài có và không, không và có; như ý muốn của các ngài. Và điều này khiến các ngài thoải mái và khiến các ngài tự tin.
Các ngài hãy dẹp thứ là một trò chơi hào nhoáng này đi, cái trò nhận thức của các ngài là đủ đối với các ngài.
II. VẬY THÌ?
Thay vào đó, các ngài có biết vạn vật tồn tại dựa trên điều gì hay chăng? Để tôi nói cho các ngài hay. Dựa trên một giả định rằng Chúa lưu giữ các ngài mãi mãi. Giả định rằng hiện thực đối với các ngài bắt buộc và cũng chính là hiện thực đối với những kẻ khác.
Các ngài sống trong hiện thực ấy; rồi các ngài bước ra bên ngoài, tràn đầy tự tin. Các ngài thấy nó, các ngài chạm vào nó; và ngay cả ở bên trong, nếu muốn, các ngài sẽ hút một điếu xì gà (một cái tẩu ư, vậy thì một cái tẩu), và các ngài ở đó mà thỏa mãn ngắm nhìn những cuộn khói chầm chậm, chầm chậm tan biến trong không trung. Các ngài chẳng hề mảy may nghi ngờ rằng đối với những người khác, tất thảy hiện thực xung quanh các ngài chẳng nhất quán hơn cuộn khói kia là bao.
Các ngài bảo rằng không phải? Nhìn xem. Tôi cùng vợ sống trong ngôi nhà mà bố tôi đã dựng lên sau khi mẹ tôi mất sớm, cốt để trốn chạy khỏi căn nhà mà ông đã sống cũng bà, nơi chứa chan những kỷ niệm mặn nồng. Ngày ấy tôi hẵng còn bé, và chỉ tới sau này tôi mới thấu được rằng rốt cục, ngôi nhà mà ông để lại cho tôi vẫn chưa được hoàn thiện và gần như mở toang đối với bất kỳ ai muốn bước chân vào.
Cái mái vòm mà chẳng có cửa vươn hết thân mình, vắt ngang từ đầu này tới đầu kia của những bức tường rào chưa hoàn thiện bao bọc khoảng sân rộng lớn phía trước; còn bậc thềm bên dưới thì vỡ nát và bổ trụ thì bong tróc ở các cạnh. Giờ cái mái vòm ấy khiến tôi nghĩ rằng bố tôi đã để lại nó như vậy, giữa khoảng không gian rộng mở, có thể bởi ông đồ rằng sau khi mình mất, ngôi nhà sẽ thuộc về tôi, nghĩa là thuộc về tất cả mọi người và không ai cả; vì vậy, sửa nó thành một cái cửa chỉ tổ hoài công vô ích.
Chừng nào bố tôi còn sống, chẳng kẻ nào dám bén mảng vào trong sân. Dưới đất vẫn ngổn ngang những tảng đá đã đẽo gọt; và kẻ nào đi qua, khi nhìn thấy chúng, thoạt tiên đều tưởng rằng công trình, dù gián đoạn đôi chút, cũng sẽ sớm triển khai trở lại. Nhưng khi cỏ dại vừa mọc lên giữa những hòn sỏi và dọc theo các bức tường, ngay lập tức đống đá vô dụng ấy trông như cũ kỹ, đổ nát. Khi bố tôi mất, theo thời gian, chúng trở thành những chiếc ghế cho các bà hàng xóm tán chuyện. Thoạt đầu các bà còn ngần ngại, rồi từng bà từng bà một, họ đánh liều vượt qua bậc thềm, thể như kiếm tìm một chỗ râm mát, nơi họ có thể thoải mái ngồi trong bóng râm tĩnh lặng. Thế rồi, khi không thấy ai nhắc nhở điều gì, chẳng mấy chốc họ đã để đám gà mái dè dặt lấn tới, và họ quyết định coi khoảnh sân đó như của họ, nguồn nước trong giếng xây giữa sân đó như của họ; họ giặt giũ và trải quần áo ra phơi phóng. Sau rốt, dưới ánh mặt trời lấp lánh vui tươi tỏa ra từ màu trắng của tất thảy những tấm ga giường và những chiếc sơ mi phấp phới trên các dây phơi căng dài, các bà thả mái tóc bóng dầu xuống vai để “lục lọi” trên đầu, hệt như lũ khỉ.
Tôi chẳng bao giờ để lộ ra sự khó chịu hay thích thú trước cuộc xâm lược của họ, dù cho tôi đặc biệt khó chịu khi thấy một bà già nhỏ thó miệng lúc nào cũng rên rỉ, đôi mắt khô không khốc và cái bướu lồi lên thấy rõ dưới một chiếc áo khoác xanh lá phai màu. Bụng tôi sôi lên trước một bà nhễ nhại, béo ị và rách rưới, bầu vú không khi nào không xồ ra khỏi ngực áo, trong lòng bế một đứa bé nhễ nhại với cái đầu ngoại cỡ, đầy vẩy nến kinh tởm lộ ra phía dưới hàng tóc thưa mỏng màu đỏ hung. Có lẽ vợ tôi cũng có chút lợi ích khi để mặc các bà ở đó, bởi nếu cần họ cho một nhu cầu nào đó, nàng sẽ trả ơn họ hoặc bằng một số thức ăn thừa trong bếp hoặc một vài bộ quần áo vứt đi. Trải đầy sỏi cũng như ngoài đường, tất thảy khoảnh sân này tạo thành một cái dốc. Tôi vẫn tưởng ra mình ngày bé, giữa kỳ nghỉ lễ của trường nội trú, tôi đương phóng tầm mắt vào tối muộn trên một trong những chiếc ban công của ngôi nhà ngày hẵng còn mới ấy. Cái sắc trắng nhợt nhạt mà rộng lớn của tất thảy những hòn sỏi nghiêng dốc nọ, cùng cái giếng lớn đặt ở giữa vang lên những thanh âm kỳ bí đã khiến tôi đau lòng vô kể. Từ ấy, rỉ sét đã gần như ăn mòn lớp véc-ni đỏ của khung sắt mà trên đỉnh gắn ròng rọc thả dây thừng và một cái xô; lòng tôi rầu rĩ làm sao trước gam màu nhợt nhạt của lớp véc-ni trên cái khung sắt đó, trông thực ghê người! Ghê người âu cũng có thể bởi nỗi buồn miên man từ tiếng kẽo kẹt của ròng rọc, khi gió đung đưa sợi dây thừng về đêm; và trên khoảnh sân hoang vắng là sắc sáng từ trời sao nhưng u ám, và rằng trong sắc sáng trống rỗng ấy, bầu trời bụi bặm như thể bị chốt chặt trên đó, mãi mãi.
Sau khi bố tôi mất, Quantorzo, kẻ nhận nhiệm vụ săn sóc những sự vụ làm ăn của tôi, đã dựng một bức vách ngăn giữa những căn phòng mà bố tôi đã dùng để cư ngụ và biến chúng thành một khu nhỏ để cho thuê. Vợ tôi không phản đối. Rồi chẳng mấy chốc, tới thuê khu đó là một ông lão về hưu trầm mặc vô cùng. Ông luôn ăn mặc tươm tất với sự giản đơn sạch sẽ; một ông lão nhỏ con nhưng có dáng dấp quân nhân trong khuôn người mảnh khảnh mà cương nghị, rồi cả trong gương mặt đầy sức sống, dù có hơi sương gió, nom như một ông đại tá về hưu. Ở bên này và bên kia, ông có đôi mắt cá cân xứng như bút tích thư pháp, và trên hai má ông hằn lên một mê cung những đường gân tím.
Tôi chưa bao giờ để ý tới ông lão ấy, cũng như chẳng bao giờ lưu tâm ông là ai, ông sống thế nào. Đã vài lần tôi gặp ông trên cầu thang và nghe ông nói một câu lịch duyệt như: “Chào buổi sáng” hay “Chào buổi tối”, và trong đầu tôi hình thành suy nghĩ rằng người hàng xóm nọ rất đỗi lịch duyệt.
Lòng tôi chẳng dấy lên chút nghi ngờ nào khi ông than phiền về đám muỗi cứ rầy rà ông cả đêm và rằng, ông đinh ninh chúng tỏa ra từ những nhà kho rộng lớn bên phải ngôi nhà mà cũng sau cái chết của bố tôi, Quantorzo đã cải hóa thành mấy nhà để xe cho thuê bẩn thỉu.
“À, hẳn rồi.” Lần ấy tôi đã cảm thán mà đáp lại lời phàn nàn của ông.
Nhưng tôi vẫn nhớ như in rằng trong tiếng cảm thán nọ của tôi còn xen lẫn muộn phiền, chẳng phải vì đám muỗi rầy rà ông lão thuê nhà, mà bởi những nhà kho thoáng đãng tinh tươm mà tôi đã thấy dựng lên từ ngày bé, cũng là nơi, tôi vì kích thích lạ kỳ trước sắc trắng chói lọi của lớp thạch cao và như say trong hơi ẩm của công trình mới xây, đã chạy trên nền gạch âm vang, vẫn còn lốm đốm vôi vữa. Khi mặt trời chiếu vào qua những khung cửa sổ lắp chấn song, ta phải nhắm chặt mắt như thể bức tường đương tỏa sáng chói lòa.
Tuy vậy, tất thảy những nhà để xe nọ với những cỗ xe ngựa kéo cũ kỹ cho thuê nọ, với khung xe tam mã, dù cho chúng thấm đẫm mùi hôi rình của phân rữa và bụi bẩn từ nước tẩy rửa cáu lại đằng trước, tất thảy khiến tôi nhớ lại niềm hạnh phúc trên cỗ xe ngựa thuở bé, mỗi khi đi du ngoạn, trên những con đường thênh thang, giữa vùng đồng quê thoáng đãng mà tôi tưởng như chúng được thiên nhiên kiến tạo để đón nhận và ngân vang tiếng chuông gắn trên cổ ngựa vui tươi. Nhờ ký ức nọ mà tôi thấy chừng như có thể chịu đựng được những nhà để xe gần bên; và cũng bởi ngay cả khi không sống cạnh bên chúng, rõ ràng ở Richieri, tất cả mọi người đều phải chịu đựng đám muỗi khó chịu, mà mọi nhà đều chống đỡ chúng bằng cách sử dụng màn.
Ai mà thấu được tôi đã để lại ấn tượng gì cho ông hàng xóm khi ông thấy tôi nở nụ cười trên môi, trong lúc ông, với gương mặt nhỏ bé mà hung tợn, đã gào lên với tôi rằng ông không bao giờ chịu nổi màn muỗi, bởi ông cảm thấy ngạt thở. Nụ cười đó của tôi chắc chắn đã biểu lộ nét ngỡ ngàng và cảm thông. Không thể chịu nổi lớp màn mà tôi vẫn sẽ tiếp tục chăng ngay cả khi tất cả muỗi ở Richieri biến mất, vì nỗi khoái cảm mà chúng tạo ra cho tôi, khi tôi chăng lên cao tới tận trời xanh và dựng lớp màn đó quanh giường không một nếp nhăn. Căn phòng mà người ta thấy và không thấy qua vô vàn những lỗ hổng tí hin của lớp tuyn mỏng; cái giường bỏ không; ấn tượng như được bao bọc trong một đám mây trắng toát.
Tôi chẳng màng đến những gì ông có thể nghĩ về tôi sau cuộc gặp lần đó. Tôi vẫn thấy ông trên cầu thang, và tôi vẫn nghe ông nói như trước, “Chào buổi sáng” hoặc “Chào buổi tối”, và tôi vẫn đinh ninh rằng ông rất đỗi lịch duyệt.
Tôi dám chắc với các ngài rằng, ông ấy trong chính giây phút mà ngoài mặt tỏ ra lịch duyệt nói với tôi trên cầu thang “Chào buổi sáng” hoặc “Chào buổi tối”, thì trong lòng, ông cho tôi sống như một thằng đần chính cống bởi phía đó đằng trong sân, tôi đã chịu đựng cuộc xâm lược của mấy mụ già và mùi giặt giũ hôi nồng cùng đám muỗi.
Hiển nhiên tôi sẽ chẳng tiếp tục nghĩ: “Ôi Chúa ơi, ông hàng xóm nhà mình lịch duyệt làm sao,” nếu tôi có thể nhìn thấy mình trong ông, và rằng ngược lại, ông nhìn thấy tôi theo cách mà tôi chẳng bao giờ thấy mình. Ý tôi là nhìn tôi từ bên ngoài, nhưng cũng trong ánh mắt ông ấy dùng để nhìn mọi sự vật và con người mà trong đó, ông cho tôi sống theo cách của ông: một thằng đần chính cống. Tôi chẳng thấu điều đó và tiếp tục nghĩ: “Ôi Chúa ơi, ông hàng xóm nhà mình lịch duyệt làm sao.”
III. XIN PHÉP
Có tiếng gõ cửa phòng ngài.
Ngài, ngài vẫn thoải mái nằm trên chiếc ghế dài của ngài. Còn tôi ngồi đây. Ngài bảo không phải ư?
“Tại sao?”
À, đó chính là chiếc ghế mà hằng bao nhiêu năm về trước, mẹ ngài đã ngồi trên ấy mà từ giã cõi đời. Xin lỗi, tôi sẽ chẳng bỏ một đồng cho cái ghế ấy, cũng như ngài sẽ chẳng bán nó với bất kỳ giá gì; tôi đoan chắc. Trong khi đó, ai nhìn thấy nó trong căn phòng được bài trí tuyệt hảo của ngài hẳn sẽ ngỡ ngàng tự hỏi, nếu lòng vốn chẳng biết, rằng làm sao mà ngài lại giữ nó lại, cái ghế cũ kỹ, bạc màu và rách rưới là thế.
Đây là những chiếc ghế của ngài. Còn đây là một chiếc bàn nhỏ, nhỏ tới mức không thể nhỏ hơn. Kia là một khung cửa sổ nhìn ra vườn. Và ngoài kia, nào thông, nào bách.
Tôi biết. Những giờ phút ngọt ngào trải qua trong căn phòng mà ngài thấy đẹp đẽ biết bao, nhìn ra rặng bách phía đằng kia. Vậy mà trong khi đó, cũng chính vì căn phòng ấy mà ngài phá vỡ mối quan hệ với người bạn trước kia vẫn đến thăm ngài mỗi ngày. Giờ chẳng những cậu ta không đến nữa, cậu ta còn đi rêu rao rằng ngài bị điên, điên rồ thì mới sống trong một ngôi nhà như vậy.
“Với tất thảy những cây bách kia xếp thành hàng,” cậu ta rêu rao. “Quý ông quý bà của tôi ơi, hơn hai mươi cây bách, thể như một nghĩa trang vậy.”
Hắn chẳng chịu yên.
Ngài nhắm hờ đôi mắt; ngài nhún vai; ngài thở hắt:
“Gu!”
Bởi ngài xét thấy đó chính là vấn đề về thị hiếu, hoặc quan điểm, hoặc thói quen; rồi ngài chẳng có chút đỉnh hoài nghi về hiện thực của những thứ thân mến, hiện thực mà giờ ngài nhìn thấy và chạm vào thích thú.
Ngài đi khỏi ngôi nhà này; rồi ngài trở lại sau ba hay bốn năm và nhìn lại nó với một tâm trạng khác với hôm nay; ngài sẽ thấy nó lớn lao hơn cái hiện thực thân mến này.
“Ô nhìn kìa, đây là căn phòng ư? Đây là khu vườn ư?”
Và ta hãy hy vọng vì tình yêu với Chúa, rằng không có họ hàng thân thích nào của ngài mất đi, bởi ngài cũng sẽ nhìn tất thảy rặng bách thân mến kia thể như một nghĩa trang vậy.
Giờ ngài bảo điều này ai chẳng biết, rằng tâm trạng thay đổi và ai cũng có thể sai lầm.
Chuyện xưa rồi, thực chất là vậy.
Nhưng tôi đâu vờ như kể cho ngài chuyện gì mới. Tôi chỉ hỏi ngài câu này:
“Lạy Chúa thiêng liêng, tại sao ngài cứ làm như không biết vậy? Tại sao ngài tiếp tục tin rằng hiện thực duy nhất là của ngài, hiện thực của ngày hôm nay, và ngài ngỡ ngàng, bực bội, ngài gào lên rằng bạn ngài đã lầm, kẻ mà, dù cho có làm gì đi chăng nữa, tội nghiệp, cậu ta cũng chẳng thể có được tâm trạng chính như của ngài?”
IV. MỘT LẦN NỮA XIN THỨ LỖI
Ngài hãy để tôi nói thêm một điều nữa rồi thôi.
Tôi không muốn xúc phạm ngài. Nhận thức của ngài, ngài nói về nó. Ngài không muốn có bất cứ hoài nghi nào bao phủ nó. Tôi quên mất điều ấy, xin thứ lỗi. Nhưng tôi nhận ra, tôi nhận ra rằng đối với chính ngài, bên trong ngài, ngài chẳng phải kẻ mà tôi nhìn từ bên ngoài vào. Tôi chẳng có ý xấu. Tôi chỉ muốn ít nhất ngài sẽ bị điều này thuyết phục. Ngài biết mình, cảm thấy mình, mong muốn mình theo một cách chẳng phải cách của tôi, mà của ngài; và một lần nữa, ngài tin rằng cách của ngài là đúng, còn của tôi thì sai. Có thể, tôi không phủ nhận. Nhưng có thể nào cách của ngài là cách của tôi và ngược lại?
Kìa chúng ta đã trở về vạch xuất phát!
Tôi có thể tin tất cả những gì mà ngài bảo. Tôi tin. Tôi đưa ngài một chiếc ghế: hãy ngồi xuống; và ta hãy gắng cùng nhau nhất trí.
Trên dưới một tiếng đồng hồ đàm luận, ta đã hiểu nhau rõ ràng.
Rồi ngày mai, ngài lại ôm mặt chạy đến chỗ tôi mà gào lên: “Nhưng tại sao? Ngài đã hiểu được gì? Không phải ngài đã nói với tôi thế này thế kia hay sao?”
Thế này thế kia, chính vậy. Nhưng rắc rối là ngài, bạn thân mến, ngài sẽ chẳng bao giờ biết được, cũng như tôi chẳng bao giờ có thể biểu đạt lại việc những gì mà ngài đã nói được cắt nghĩa trong tôi thế nào. Ngài không nói tiếng Thổ, không. Chúng ta, tôi và ngài, đều sử dụng chung một ngôn ngữ, những ngôn từ giống nhau. Nhưng chúng ta, tôi và ngài, có lỗi gì, nếu ngôn từ tự bản thân chúng đã trống rỗng? Trống rỗng, bạn thân mến. Và ngài đong đầy nó bằng ý nghĩa của chính mình, khi truyền đạt chúng cho tôi; và khi tiếp nhận, tôi đong đầy chúng bằng ý nghĩa của tôi, chuyện không thể tránh khỏi. Ta tin rằng đã hiểu nhau; mà ta hoàn toàn chẳng hiểu nhau tẹo nào.
À, chuyện này cũng xưa rồi, ai chẳng biết. Và tôi đâu vờ như kể cho ngài chuyện gì mới. Chỉ có điều tôi quay lại hỏi ngài: “Lạy Chúa thiêng liêng, tại sao ngài cứ làm như không biết vậy? Tại sao ngài cứ kể với tôi về mình, nếu ngài biết để bản thân đã trở thành kẻ mà ngài vẫn nghĩ là mình trong mắt tôi, và tôi trở thành kẻ mà tôi vẫn nghĩ là mình trong mắt ngài, tôi sẽ phải tạo ra cho ngài hiện thực hệt như cái mà ngài tạo cho mình, và ngược lại; điều này chẳng phải bất khả hay sao?”
Hỡi ôi, bạn thân mến, dù ngài có làm gì đi chăng nữa, ngài luôn luôn tạo cho tôi một hiện thực theo cách riêng của ngài, và ngài thật tâm tin rằng đó cũng là cách của tôi. Và cũng có thể, tôi không nói không. Hoàn toàn có thể. Nhưng hiện thực ấy theo “cách của tôi” mà tôi chẳng biết và sẽ chẳng bao giờ biết; và chỉ có ngài biết khi nhìn tôi từ ngoài vào: vậy là một “cách của tôi” đối với ngài, không phải một “cách của tôi” đối với tôi.
Nếu có thì đã đành, nếu bên ngoài chúng ta, đối với ngài và đối với tôi, có một Quý bà Hiện Thực của tôi và một Quý bà Hiện Thực của ngài, mà tự thân họ hiện hữu, tương đồng, bất biến. Nhưng không có. Có một hiện thực trong tôi và đối với tôi: hiện thực mà tôi tạo ra cho mình; một hiện thực trong ngài và đối với ngài: hiện thực mà ngài tạo ra cho mình. Đối với cả tôi và ngài, hai hiện thực ấy không bao giờ giống nhau.
Vậy thì sao?
Vậy thì, bạn tôi ơi, ta cần phải an ủi bằng điều này: rằng hiện thực của tôi cũng chẳng thực tế hơn của ngài, và hiện thực của ngài cũng chỉ kéo dài trong khoảnh khắc cũng như của tôi.
Đầu óc ngài đã quay quay chưa? Vậy, vậy… ta hãy kết luận thôi.
V. ÁM ẢNH
Vậy thì, đó, tôi muốn dẫn tới điều này, rằng ngài không được nói vậy nữa, không được nói rằng ngài có nhận thức của mình và vậy là đủ.
Ngài đã hành xử như vậy khi nào? Hôm qua, hôm nay, hay một phút trước? Còn giờ thì sao? Ôi, giờ chính ngài sẵn sàng thừa nhận rằng ngài đã có thể hành xử khác đi. Và tại sao? Lạy Chúa, ngài tái mặt. Giờ cả ngài cũng nhận ra, rằng một phút trước, ngài đã là một người khác?
Nhưng vâng, vâng, bạn thân mến, ngài hãy ngẫm kỹ mà xem: một phút trước, trước khi tình cảnh này xảy đến với ngài, thì ngài là một người khác; không phải một người, mà là cả trăm người khác, trăm ngàn người khác. Và cũng chẳng cần phải ngỡ ngàng vì điều ấy, xin ngài hãy tin. Ngài hãy nhìn xem, liệu ngài còn tưởng bản thân có thể tự tin rằng từ giờ cho đến mai, ngài vẫn còn là người mà ngài cho là mình ngày hôm nay.
Bạn thân mến của tôi ơi, sự thật là đây: rằng đó tuyền là những ám ảnh của riêng ngài. Hôm nay ngài ám ảnh mình một kiểu và ngày mai một kiểu khác.
Sau rồi tôi sẽ kể cho ngài như thế nào và tại sao.
VI. THÔI TÔI SẼ KỂ VỚI NGÀI LUÔN
Ngài đã bao giờ thấy một ngôi nhà được dựng lên hay chưa? Tôi đã thấy nhiều rồi, ở đây, Richieri. Và tôi đã nghĩ:
“Nhưng ta hãy trông một chút mà xem, loài người có khả năng làm được những gì kìa! Họ tùng xẻo ngọn núi; họ bòn rút những tảng đá; họ gọt đẽo chúng; họ chất chúng tảng này lên tảng khác, và rồi hết chuyện này đến chuyện kia, thứ mà trước đó là một phần của ngọn núi giờ đã trở thành ngôi nhà.”
Ngọn núi bảo: “Tôi là núi và tôi sẽ không dịch chuyển.”
Ngươi không dịch chuyển ư, bạn thân mến? Hãy trông những cỗ xe bò đằng kia. Chúng đang chất chứa ngươi, những tảng đá của ngươi. Họ đem ngươi đi trong những chiếc xe rùa, bạn thân mến! Ngươi tin mình nằm ì mãi ở đó ư? Một nửa của ngươi đã cách hai ngàn dặm xa xôi, dưới đồng bằng. Ở đâu? Trong những ngôi nhà kia, ngươi không thấy sao? Tảng màu vàng, tảng màu đỏ, tảng màu trắng; hai, ba, bốn tầng.
Còn những cây sồi của ngươi, cây óc chó của ngươi, cây linh sam của ngươi?
Chúng đây, trong nhà của ta. Ngươi có thấy bọn ta chế biến chúng tinh xảo thế nào không? Nào ai có thể nhận ra chúng trong những chiếc ghế này, trong những cái tủ này, trong những cái giá này?
Ngươi, ngọn núi, ngươi to lớn hơn loài người biết bao; cả ngươi - cây sồi, và ngươi - cây óc chó và ngươi - cây linh sam. Còn con người là một loài thú bé nhỏ, đúng vậy, nhưng bản thân hắn sở hữu thứ gì đó mà các ngươi chẳng có.
Luôn luôn phải đứng, chính xác là đứng thẳng chỉ trên hai chi, hắn mệt mỏi; còn duỗi mình xuống đất như các loài thú khác, hắn chẳng thấy thoải mái, hắn khó chịu, âu cũng bởi khi trút bỏ đi lớp lông, thì lớp da, lớp da đã trở nên mỏng manh hơn, đó! Khi ấy hắn trông thấy cây cối và ngẫm rằng mình có thể bòn rút thứ gì đó để ngồi thoải mái hơn. Và rồi hắn cảm thấy gỗ mộc cũng chẳng thoải mái và hắn độn nó: hắn lột da những con vật nuôi, những con khác thì hắn róc da, rồi hắn đắp da thuộc lên miếng gỗ và giữa lớp da thuộc và miếng gỗ hắn nhồi len. Hắn nằm lên trên đó, và hắn sung sướng: “Ôi, thế này mới thoải mái làm sao!”
Con vàng anh cất tiếng hót từ chiếc lồng con con, lơ lửng giữa những manh rèm gắn trên ô cửa sổ. Có lẽ nào nó cảm thấy mùa xuân đương tới? Hỡi ôi, biết đâu cả nhánh sồi già đã tạo ra cái ghế của ta cũng cảm thấy mùa xuân, và nó kẽo kẹt trước tiếng hót của con vàng anh.
Có thể chúng hiểu nhau, bằng tiếng hót và tiếng kẽo kẹt, chú chim bị cầm tù và cây sồi giờ đã trở thành cái ghế.
VII. NGÔI NHÀ THÌ QUAN HỆ GÌ?
Có chăng các ngài tưởng câu chuyện về ngôi nhà này chẳng quan hệ gì, bởi các ngài thấy nó là chính nó, ngôi nhà của các ngài, giữa những ngôi nhà khác tạo nên thành phố. Các ngài nhìn thấy xung quanh những vật dụng của bản thân, những thứ thuận theo xu hướng và gia cảnh mà các ngài đã mua về tùy nghi sử dụng. Và chúng tỏa ra xung quanh ngài thứ cảm giác ngọt ngào thân thuộc, như sống dậy nhờ tất thảy những ký ức của ngài. Chúng không còn là đồ vật, mà dường như đã trở thành những phần thân thiết của chính các ngài, và trong chúng, các ngài có thể chạm vào và cảm nhận thứ mà các ngài tưởng là hiện thực vững chãi cho sự tồn tại của các ngài.
Chúng làm từ sồi, từ óc chó, từ linh sam, những vật dụng của các ngài, cũng như những ký ức thân thương gắn với ngôi nhà của các ngài, nồng đượm một hơi thở đặc biệt nọ. Hơi thở ấy thổi vào mỗi ngôi nhà và tạo ra cho cuộc sống của chúng ta gần như một thứ mùi mà ta sẽ cảm nhận sâu sắc hơn khi nó nhạt dần, nghĩa là lúc ta ý thức được một hơi thở khác ngay khi bước chân vào một ngôi nhà khác. Và các ngài bực bội, tôi thấy, khi tôi đã gợi các ngài nhớ về những cây sồi, óc chó, linh sam trên ngọn núi nọ.
Cứ như thể các ngài đã bắt đầu thẩm thấu đôi chút sự điên loạn trong tôi, và ngay lập tức, các ngài hoài nghi mọi sự tôi kể; rồi các ngài hỏi:
- Tại sao? Điều này thì quan hệ gì?
VIII. NGOÀI KIA RỘNG MỞ
Nào, thôi đi, đừng lo sợ rằng tôi sẽ đánh đổ vật dụng của các ngài, bình yên của các ngài, tình yêu với ngôi nhà của các ngài.
Khí trời! Khí trời! Ta hãy rời bỏ ngôi nhà, rời bỏ thành phố. Tôi chẳng nói rằng các ngài có thể tin tưởng tôi nhiều nhặn gì; nhưng, thôi nào, đừng sợ. Các ngài có thể theo tôi tới con đường với những ngôi nhà kia chìm vào vùng đồng quê.
Vâng, con đường này. Các ngài thực sự sợ rằng tôi có thể nói khác đi hay sao? Con đường, con đường. Con đường sỏi đá; cẩn thận những chỗ đá vỡ. Còn kia là những cột đèn đường. Các ngài cứ vững tin mà tiến bước.
Ôi, những đỉnh núi xanh thiên thanh đằng xa! Tôi nói “xanh thiên thanh”; cả ngài cũng nói “xanh thiên thanh”, không phải vậy sao? Đồng ý. Còn đỉnh núi này ở gần đây, với khu rừng hạt dẻ: hạt dẻ, không phải sao? Ngài xem, ngài xem chúng ta hiểu nhau thế nào? Chúng đều thuộc họ dẻ, thân dài. Dẻ thơm. Khu đồng bằng trước mặt mới rộng lớn làm sao (“xanh lục” nhỉ? Đối với ngài và với tôi nó màu “xanh lục”: ta bảo nhau vậy, và ta hiểu nhau trọn vẹn). Rồi trong bãi cỏ đằng kia, ngài nhìn xem, nhìn xem đống cây anh túc rực đỏ trước ánh mặt trời! - Ôi, sao kia? Là những chiếc áo choàng màu đỏ mà lũ trẻ đương mặc ư? - Hẳn rồi, tôi thực có mắt như mù! Là những chiếc áo choàng len đỏ, ngài có lý. Tôi những tưởng lùm cây anh túc. Và cả chiếc cà vạt này của ngài cũng màu đỏ… Ôi sung sướng làm sao giữa khí trời thanh khiết rộng mở, xanh màu thiên thanh và màu lục, của mặt trời tỏa nắng tinh khôi! Ngài cởi bỏ cái mũ dạ màu xám xấu xí đó ư? Ngài đã đổ mồ hôi đó ư? Ôi, ngài thực béo tốt, Chúa ban phước ngài! Nếu ngài thấy được những ô vuông trắng đen be bé trên mông quần mình… Cởi đi, cởi áo khoác đi! Chừng như ngài mặc nhiều quá thể.
Vùng đồng quê! Thực là một cảm giác yên bình khác lạ, nhỉ? Ngài thấy mình tan chảy. Vâng, nhưng liệu ngài có biết nó ở nơi đâu chăng? Ý tôi là cảm giác yên bình. Không, đừng sợ, đừng sợ! Ngài chân thành tưởng rằng ở đây có cảm giác yên bình đó sao? Ta hãy gắng hiểu nhau đi, hỡi ôi! Đừng phá vỡ sự đồng điệu hoàn hảo này giữa chúng ta. Ở đây tôi chỉ thấy, nếu ngài cho phép, thứ mà tôi nhận thấy trong bản thân mình ở thời khắc này, một sự ngô nghê vô cùng. Sự ngô nghê ấy biến mặt ngài, và chắc chắn cả mặt tôi, trở thành gương mặt của những kẻ ngô nghê thỏa mãn; thế nhưng ta lại gán nó cho cỏ cây đất đai, những thứ ta trông như sống chỉ để sống, như chúng chỉ có thể sống trong sự ngô nghê này.
Vậy ta hãy cứ cho rằng thứ mà ta gọi là cảm giác yên bình ấy ở trong ta. Ngài không thấy vậy sao? Và ngài biết nó khởi nguồn từ đâu không? Từ sự thực nhất mực giản đơn rằng ta vừa mới rời thành phố; hay nói cách khác, vâng, một thế giới được dựng lên: những ngôi nhà, con phố, nhà thờ, quảng trường. Tuy nhiên, không phải chỉ vì vậy mà ta nói nó được dựng lên, mà cũng bởi con người ta không còn sống chỉ để sống như cỏ cây này, mà chẳng biết đang sống. Thay vì vậy, ta sống vì một thứ gì đó chẳng tồn tại, thứ mà ta đặt nó vào trong thế giới ấy; vì một thứ gì đó tạo cho cuộc đời chúng ta ý nghĩa và giá trị: một ý nghĩa, một giá trị mà nơi đây, ngài đã rũ bỏ được, ít nhất là một phần, hoặc ngài nhận ra sự phù phiếm đau thương của chúng. Và ngài sầu, kìa, ngài bi. Tôi hiểu, tôi hiểu. Thần kinh suy sụp. Mong muốn được thả trôi mình đến đớn đau. Ngài thấy mình tan chảy, ngài thả trôi mình.
IX. MÂY VÀ GIÓ
Ôi, chẳng còn nhận thức được sự tồn tại, như một phiến đá, một nhành cây! Không nhớ cả tên mình! Các ngài nằm đây trên thảm cỏ, với đôi tay đan chéo sau gáy, nhìn lên bầu trời xanh những đám mây trắng tỏa sáng mãnh liệt, căng phồng nắng mặt trời lướt đi; nghe tiếng gió trên cao, giữa những cây hạt dẻ trong rừng, thể như tiếng ầm ào ngoài khơi.
Mây và gió.
Các ngài nói gì? Hỡi ôi, hỡi ôi. Mây? Gió? Ý thức và phân biệt những thứ sáng ngời đương lướt đi giữa không trung xanh trong vô hạn kia là những đám mây, các ngài không thấy rằng đó là tất cả ư? Liệu nó có biết mình là mây chăng? Tới cái cây và phiến đá cũng chẳng biết đến mây, bản thân chúng cũng chẳng biết mình là ai; và chúng cô độc.
Khi đã ý thức và phân biệt ra đám mây, các ngài thân mến, các ngài có thể ngẫm tới cả hiện tượng của nước (tại sao không?) khi nó trở thành mây rồi lại trở thành nước. Một sự thật thú vị, vâng. Và chỉ cần một giáo sư vật lý tầm thường tội nghiệp cũng đủ giải thích cho các ngài hiện tượng này. Nhưng để giải thích cho các ngài nguyên cớ cho câu hỏi tại sao ấy.
X. CHÚ CHIM NHỎ
Nghe kìa, nghe kìa: trên kia trong khu rừng hạt dẻ, tiếng rìu bổ. Dưới kia trong hầm mỏ, tiếng cuốc chim vang.
Tùng xẻo ngọn núi, chặt cây xây nhà. Đằng đó, trong thành phố cổ kính, những ngôi nhà khác, vất vả, khó nhọc, vật lộn đủ kiểu; vì nguyên cớ gì? Để dựng được một ống khói, các ngài của tôi ơi; và rồi từ cái ống đó phả ra chút khói, lập tức tan biến vào trong thinh không trống rỗng.
Và cũng như làn khói đó là mỗi tâm tư, mỗi ký ức của loài người.
Ta ở đây nơi đồng quê; mệt mỏi khiến chân tay ta rã rời. Hiển nhiên rằng ảo tưởng và vỡ mộng, đau thương và vui sướng, ước vọng và ham muốn, ta tưởng như chúng đều vô nghĩa và thoảng qua, trước thứ cảm xúc đọng lại trong ta từ những vật bền bỉ, trường tồn và trầm lắng. Chỉ cần nhìn về phía đằng kia qua thung lũng, tới những ngọn núi cao xa xa, mờ ảo phía chân trời, nhỏ bé trong ánh hoàng hôn, ẩn giấu trong làn sương hồng đỏ.
Kìa: ngả mình, ngài tung chiếc mũ dạ xấu xí lên không trung; ngài biến sắc bi thảm; ngài thốt lên: “Ôi tham vọng của loài người!”
Hẳn rồi. Ví như tiếng gào thét vinh quang khi con người, cũng như chiếc mũ xấu xí của ngài, bắt đầu cất cánh, để làm chú chim nhỏ! Trong khi đó, kia là một chú chim nhỏ đích thực, kia là cách nó bay. Ngài có nhìn thấy hay chăng? Nó bay lên dễ dàng, một sự dễ dàng nhẹ nhàng thuần khiết, tức thì kéo theo một tiếng líu lo hạnh phúc. Giờ hãy nghĩ tới bộ máy thô kệch ầm ĩ cùng nỗi rúng động, bồn chồn, đau thương chí tử của loài người khi muốn làm chú chim nhỏ! Đây một tiếng vỗ cánh líu lo; kia một chiếc động cơ ồn ào hôi hám, cùng cái chết phía trước. Động cơ hỏng hóc, động cơ chết máy; vĩnh biệt chú chim nhỏ!
Ngả mình trên thảm cỏ, các ngài bảo: “Con người đừng bay nữa! Tại sao ngươi muốn bay? Mà ngươi đã bay bao giờ?”
Hoan hô. Tạm thời, ở đây, các ngài nói vậy; bởi các ngài đang ở vùng đồng quê, ngả mình trên thảm cỏ. Đứng dậy đi, quay trở lại thành phố, và ngay khi bước vào, các ngài lập tức sẽ hiểu thấu cớ sao con người muốn bay.
Ở đây, các ngài thân mến, các ngài đã trông thấy chú chim nhỏ đích thực, nó thực sự cất cánh bay, và các ngài đánh mất ý nghĩa và giá trị của đôi cánh nhân tạo cùng chuyến bay cơ giới. Các ngài sẽ lấy lại được chúng ngay tắp lự ở đó, nơi mọi thứ đều nhân tạo và cơ giới, được sửa đổi và dựng xây: một thế giới khác trong thế giới này: thế giới nhân tạo, được nhào nặn, chắp ghép mà thành; thế giới của kỹ xảo, giả tạo, của chỉnh sửa, hư cấu và phù phiếm; một thế giới sở hữu ý nghĩa và giá trị chỉ đối với loài người, đấng sáng tạo của nó.
Nào, nào: ngài hãy đợi tôi kéo ngài lên. Ngài nặng lắm. Chờ chút: còn vài ngọn cỏ dính trên lưng ngài kìa… Rồi, ta đi thôi.
XI. TRỞ LẠI THÀNH PHỐ
Giờ hãy nhìn cho tôi những thân cây bên này và bên kia, đứng thành hàng dọc vỉa hè mà hộ tống đường Porta Vecchia này của chúng ta. Trông chúng mới lạc lõng làm sao, những thân cây thành thị tội nghiệp bị tỉa tót và chải chuốt!
Cây cối, có thể chúng không ngẫm nghĩ; muông thú, có thể chúng chẳng tư duy. Nhưng nếu cây cối biết nghĩ, Chúa ơi, và nếu chúng có thể nói, ai biết được những thân cây nhỏ bé đáng thương ấy sẽ nói gì, đám cây cối mà ta trồng lên giữa thành phố để tạo ra chút bóng mát! Chừng như khi nhìn thấy mình phản chiếu trong gương kính những cửa tiệm, chúng băn khoăn bản thân có nhiệm vụ gì ở đây, giữa đám đông người lộn nhộn, trong cuộc sống thành thị xô bồ ồn ã. Chúng vẫn đứng đó sau bao năm vun trồng, đám cây nhỏ bé thảm hại và thê lương. Tai, chừng như chúng đâu có. Mà biết đâu, có thể cây cối cần tĩnh lặng để đâm chồi nảy lộc.
Các ngài đã bao giờ tới quảng trường nhỏ Olivella, bên ngoài các bức tường thành chưa? Tới tu viện nhỏ cổ kính của dòng Chúa Ba Ngôi trắng chưa? Cảm giác mới mơ mộng và lâng lâng làm sao nơi quảng trường nhỏ nọ, và không khí mới trầm mặc lạ lùng làm sao, khi từ trên lớp ngói đen rêu phong của tu viện cổ, nụ cười của buổi sớm ngây thơ, xanh xanh rọi vào!
Rồi hằng năm ở đó, đất mẹ gắng gượng tận dụng sự trầm mặc nọ, trong nét ngây thơ ngờ nghệch của nàng. Có lẽ nàng tin đó chẳng còn là thành phố nữa; rằng con người đã bỏ hoang quảng trường nhỏ đó; và nàng cố chiếm lại nó, thầm lặng thầm lặng, chầm chậm chầm chậm, nàng vươn ra mặt đường với biết bao ngọn cỏ. Chẳng còn gì tươi mới và mong manh hơn những ngọn cỏ mảnh mai e lệ ấy, mà chẳng mấy chốc chúng sẽ phủ xanh cả quảng trường nhỏ. Nhưng hỡi ôi, chúng đâu trụ được quá một tháng. Nơi đó là thành phố; và cỏ dại đâu được phép mọc lên. Hằng năm sẽ có bốn hay năm công nhân vệ sinh tới; họ ngồi xổm xuống đất và với một số dụng cụ chuyên dụng, họ nhổ chúng đi.
Năm kia, tôi đã thấy ở đó hai chú chim nhỏ. Khi nghe tiếng kêu rít tai của những vật dụng đó trên mặt đường đá sỏi gồ ghề xám xịt, chúng bay từ bờ giậu sang mái hiên của tu viện, rồi từ đây lại về bờ giậu. Chúng lắc lắc cái đầu nhỏ tí và nhìn ngang, thể như chúng đương đớn đau mà hỏi, rằng đám người đằng kia chuẩn bị làm gì.
“Và các ngươi không nhìn thấy sao, hỡi những chú chim nhỏ?” Tôi bảo chúng. “Các ngươi không thấy họ làm gì sao? Họ đương cạo râu cho mặt đường cổ kính này.”
Đôi chim nhỏ kinh hãi bỏ trốn.
May mắn thay cho những con vật có cánh và có thể bỏ trốn! Biết bao sinh vật khác không thể, và chúng bị bắt giữ, giam hãm, thuần phục ở thành thị và cả nông thôn; rồi rầu lòng làm sao khi chúng phải miễn cưỡng phục tùng những nhu cầu cổ quái của loài người! Chúng hiểu gì cơ chứ? Chúng kéo xe, chúng kéo cày.
Nhưng biết đâu ngay cả chúng, muông thú, cỏ cây và vạn vật, có thể chúng có một ý nghĩa và một giá trị của riêng mình mà loài người không thể thấu hiểu. Họ khép kín trong những ý nghĩa và giá trị mà tự họ trao cho vật này vật kia, trong khi thiên nhiên thường tỏ ra không công nhận hoặc đoái hoài tới.
Loài người và thiên nhiên cần phải thấu hiểu nhau hơn. Đã bao lần thiên nhiên nghịch ngợm mà tung lên không trung tất thảy những công trình tuyệt thế của chúng ta. Lốc xoáy, động đất… Nhưng loài người nào có chịu khuất phục. Họ dựng lại, dựng lại, như một con thú cứng đầu cứng cổ. Và tất thảy đều là nguyên liệu để dựng xây lại đối với họ. Bởi họ có trong mình thứ gì đó mà họ chẳng biết là gì, nhưng vì nó mà họ buộc phải xây dựng, buộc phải chuyển hóa theo cách của mình những vật liệu mà thiên nhiên ban tặng những khi nàng ngờ nghệch, hay chí ít khi nàng tỏ ra nhẫn nại. Nhưng loài người chỉ có thể thỏa mãn bằng những vật mà cho tới khi có minh chứng ngược lại, họ chẳng biết liệu chúng có khả năng cảm nhận nỗi tra tấn từ những sửa đổi của họ, những công trình xây dựng của họ! Không, thưa các ngài. Con người cũng lấy bản thân mình ra làm nguyên liệu, và họ xây dựng mình, vâng thưa các ngài, như một ngôi nhà vậy.
Ngài tin là ngài biết chính mình nếu ngài không tự dựng xây bản thân bằng một cách nào đó? Và rằng tôi có thể biết ngài, nếu tôi không dựng xây ngài theo cách của tôi? Và rằng ngài có thể biết tôi, nếu ngài không dựng xây tôi theo cách của ngài? Ta chỉ có thể biết kẻ mà ta đã tạo được hình hài đó thôi. Nhưng những hiểu biết đó có thể là gì? Và hình hài đó có phải chân thể hay chăng? Phải, là chân thể đối với tôi, cũng như đối với ngài; nhưng đối với tôi, nó không giống như đối với ngài: tới mức tôi chẳng nhận thức được mình trong hình hài mà ngài tạo cho tôi, cũng như ngài trong hình hài tôi tạo ra cho ngài. Một thứ duy nhất chẳng phải là một đối với mọi người, và đối với mỗi người trong chúng ta, nó có thể biến đổi liên hồi, và đúng thực là nó biến đổi liên hồi.
Ấy vậy nhưng chẳng có hiện thực nào khác, ngoài hiện thực tồn tại trong hình hài nhất thời mà ta tạo ra cho chính chúng ta, cho người khác, vật khác. Hiện thực mà tôi có về ngài nằm trong hình hài mà ngài thể hiện ra cho tôi; nhưng đó là hiện thực đối với ngài chứ không phải đối với tôi. Hiện thực mà ngài có về tôi nằm trong hình hài mà tôi thể hiện ra cho ngài; nhưng ấy là hiện thực đối với tôi chứ chẳng phải đối với ngài. Đối với chính tôi, thì tôi chẳng có hiện thực nào khác nếu chẳng phải cái nằm trong hình hài mà tôi thể hiện ra cho tôi. Bằng cách nào? Dựng xây bản thân mình, chính vậy.
Ôi, ngài tin rằng người ta chỉ xây nhà thôi hay sao? Tôi xây dựng bản thân mình liên hồi và tôi xây dựng ngài, rồi ngài cũng làm tương tự. Công cuộc dựng xây ấy sẽ tiếp diễn nếu nguyên liệu là cảm xúc của chúng ta không vỡ vụn và xi măng là ý chí của chúng ta vẫn vững bền. Vậy tại sao ngài những tin rằng con người ta trông cậy tới sự kiên định của ý chí và sự bất biến của cảm xúc nhiều tới vậy? Chỉ cần ý chí của chúng ta lung lay đôi chút, và cảm xúc của chúng ta chịu một sự thay đổi nhỏ nhoi hay biến hóa tối thiểu, vậy là vĩnh biệt hiện thực của chúng ta! Ngay tức khắc ta nhận ra nó chẳng là gì ngoài một ảo ảnh tự thân ta làm nên.
Sự kiên định của ý chí là vậy đó. Sự bất biến của cảm xúc. Hãy giữ mình thật chắc, giữ mình thật chắc để chẳng phải lộn nhào vào hư không, chẳng phải đối đầu với những bất ngờ không tên.
Nhưng những công trình được kiến tạo nên mới đẹp đẽ làm sao!
XII. TÊN GENGÈ THÂN MẾN NỌ
“Không không, cục cưng của em, đừng nói nữa! Anh nghĩ em không biết điều anh thích và điều anh không thích ư? Em biết rõ gu của anh, thật đấy, cũng như cách anh nghĩ.”
Đã bao lần Dida vợ tôi bảo tôi như vậy? Còn tôi, đần độn, đã chẳng bao giờ để tâm tới.
Nhưng tôi dám cá rằng nàng biết tên Gengè nọ của nàng rõ hơn tôi! Như thể nàng đã dựng xây hắn! Mà hắn nào phải con rối. Có chăng, con rối chính là tôi.
Chi phối? Thay thế?
Nhưng sao có thể!
Để chi phối ai đó, kẻ này nhất định phải tồn tại; và để thay thế hắn, kẻ này cũng phải tồn tại và người ta có thể nắm lấy vai hắn mà lôi tuột về sau, rồi đặt một kẻ khác thế chỗ hắn.
Dida vợ tôi đã chẳng chi phối tôi cũng như thay thế tôi. Ngược lại, nàng sẽ tưởng đó là một sự chi phối và thay thế nếu tôi đánh gục tên Gengè nọ của nàng, bằng cách nổi loạn và khẳng định một ý chí theo cách của riêng mình.
Bởi tên Gengè nọ của nàng tồn tại, trong khi đối với nàng, tôi hoàn toàn không tồn tại, chưa bao giờ tồn tại.
Đối với nàng, hiện thực của tôi nằm trong tên Gengè nọ của nàng mà nàng đã nhào nặn ra. Hắn có tâm tư, cảm xúc và gu riêng mà chẳng phải của tôi, và tôi chẳng thể tạo ra những biến đổi dù chỉ là nhỏ nhất, trừ phi tôi muốn liều mình ngay tức khắc trở thành một kẻ khác mà nàng chẳng thể nào nhận ra nữa, một kẻ lạ mặt mà nàng sẽ chẳng thể thấu hiểu hay yêu thương nữa.
Tiếc rằng tôi đã chẳng bao giờ biết tạo ra một hình hài nào đó cho cuộc đời mình. Tôi đã chẳng bao giờ kiên quyết thể hiện bản thân theo một cách riêng biệt và đặc trưng, âu cũng bởi chưa bao giờ gặp phải những trở ngại khiến tôi nảy sinh một ý chí kháng cự và khẳng định mình trước kẻ khác cũng như trước bản thân mình. Rồi cũng do tâm trí này của tôi sẵn sàng suy nghĩ và cảm nhận trái ngược hẳn với những gì mà tôi đã suy nghĩ và cảm nhận chỉ thoáng trước đó; hay nói cách khác, nó sẵn sàng tháo dỡ và phá bỏ trong tôi bất kỳ sự manh nha trong tâm trí và cảm xúc bằng những tâm tư dai dẳng và thường là đối lập. Và rốt cục cũng bởi căn tính tôi dễ dàng khuất phục, phó mặc bản thân cho sự sai khiến của kẻ khác, chẳng phải vì yếu mềm, mà bởi sự lãnh đạm và nhẫn nhục mà tôi tiên liệu trước những nỗi muộn phiền dành cho tôi có thể nảy sinh.
Và kìa, trong khi đó, hãy xem chuyện gì xảy đến với tôi! Tôi hoàn toàn chẳng biết mình, chẳng có một hiện thực nào cho riêng mình. Tôi ở trong một trạng thái ảo giác liên hồi, gần như hóa lỏng, mềm nhũn. Người khác biết tôi, mỗi người theo cách của riêng họ, theo cái hiện thực mà họ tạo ra cho tôi. Nói cách khác, mỗi người họ nhìn thấy trong tôi một tên Moscarda chẳng phải là tôi, cũng như tôi chẳng là ai đối với bản thân mình. Ấy là biết bao tên Moscarda, tất thảy chúng đều thực tế hơn tôi, một kẻ chẳng có, tôi xin nhắc lại, một hiện thực cho riêng mình.
Gengè, vâng, hắn có một hiện thực, đối với Dida vợ tôi. Thế nhưng tôi chẳng cách nào an ủi bản thân vì điều ấy bởi tôi đảm bảo với ngài, thực khó để tưởng tượng ra một sinh vật ngu ngốc hơn tên Gengè thân mến của Dida vợ tôi.
Và trong khi đó, điểm thú vị nằm ở việc: đối với nàng, tên Gengè nọ của nàng cũng chẳng phải không có khuyết điểm. Nhưng nàng cảm thông cho hắn tất cả! Bao thứ nàng không thích về hắn, bởi nàng không xây dựng hắn hoàn toàn theo cách của nàng, theo gu và ngẫu hứng của nàng: không.
Vậy thì theo cách của ai?
Chắc chắn không phải cách của tôi, bởi xin nhắc lại, tôi chẳng tài nào nhận ra chúng là của tôi, những suy nghĩ, cảm xúc và gu mà nàng gán cho tên Gengè của nàng. Và người ta thấy rõ rằng nàng gán chúng cho hắn bởi theo nàng, Gengè có những gu đó và hắn suy nghĩ như vậy, cảm nhận như vậy, theo cách của hắn. Chẳng còn gì phải nói, hoàn toàn của hắn, theo hiện thực của hắn mà hoàn toàn chẳng phải của tôi.
Tôi thấy nàng khóc đôi lần vì vài nỗi cay đắng nào đó mà tên Gengè đó gây ra cho nàng. Hắn, vâng thưa các ngài! Và tôi hỏi nàng: “Nhưng tại sao, em yêu?”
Nàng đáp: “Ôi, anh hỏi em ư? Ôi, anh thấy điều anh vừa nói với em vẫn chưa đủ hay sao?”
“Anh?”
“Anh, anh, đúng vậy!”
“Nhưng khi nào? Và điều gì?” Tôi choáng váng.
Chừng ấy chính là minh chứng rằng ý nghĩa mà tôi tạo ra cho ngôn từ của mình là một ý nghĩa đối với riêng tôi; và rồi ý nghĩa mà chúng, những ngôn từ của Gengè, truyền tải cho nàng lại hoàn toàn khác biệt. Có một vài ngôn từ nhất định sẽ chẳng mang lại đau thương cho nàng, nếu tôi hoặc một kẻ khác nói. Nhưng nếu là Gengè, ngôn từ ấy sẽ khiến nàng bật khóc, bởi từ miệng Gengè chúng thể hiện một giá trị nào đó mà đâu ai thấu; và chúng khiến nàng bật khóc, vâng thưa các ngài.
Vậy là tôi chỉ trò chuyện với riêng tôi. Nàng trò chuyện với tên Gengè của nàng. Và tên này đáp lại nàng bằng miệng tôi theo một cách mà tôi hoàn toàn chẳng biết. Chẳng thể tưởng được, tất thảy những điều tôi bảo nàng và nàng lặp lại đã trở nên ngu ngốc, giả dối và vô lý làm sao.
“Gì cơ?” Tôi hỏi nàng. “Anh đã nói như vậy?”
“Vâng, Gengè của em, chính như vậy!”
Đó: những ngôn từ ngu ngốc ấy là của Gengè. Mà cũng đâu phải là những ngôn từ ngu ngốc: hoàn toàn khác! Đó là cách nghĩ của Gengè, chính cách ấy.
Còn tôi, hỡi ôi, tôi những muốn tát, muốn vụt, muốn xé hắn ra thành từng mảnh! Nhưng tôi nào chạm được vào hắn. Bởi bất chấp những muộn phiền mà hắn gây ra cho nàng, những ngôn từ ngu ngốc mà hắn nói, Gengè được Dida vợ tôi yêu thương vô cùng. Bản thân hắn như vậy, hắn ứng với hình tượng người chồng tốt bụng lý tưởng của nàng. Nàng tha thứ cho một vài khuyết điểm nhỏ nhoi nào đó nhờ muôn vàn đức tính tốt đẹp khác của hắn.
Nếu tôi không muốn Dida vợ tôi đi tìm hình mẫu lý tưởng của nàng trong một kẻ khác, tôi không được phép động đến tên Gengè nọ của nàng.
Thoạt tiên tôi những tưởng có chăng cảm xúc của tôi quá mức phức tạp; những suy nghĩ, thực rối rắm; những gu cá nhân, thực bất thường. Bởi vậy, thường thường vợ tôi chẳng thấu hiểu chúng, và nàng cải biến chúng. Tựu trung, tôi ngẫm rằng những ý tưởng và cảm xúc của mình chẳng thể được thấu hiểu trong trí óc và trái tim nhỏ bé của nàng, nếu chúng không giảm thiểu và thu gọn; và rằng gu của tôi chẳng thể hòa đồng với sự giản đơn trong nàng.
Nhưng sao cơ! Sao cơ! Nàng đâu có cải biến chúng, nàng đâu có thu gọn những suy nghĩ và cảm xúc của tôi. Không, không. Chúng đến với nàng từ miệng của Gengè, biến đổi là vậy, thu gọn là vậy, và Dida vợ tôi cho chúng là ngu ngốc. Ngay cả nàng, các ngài có hiểu không?
Vậy ai mới là kẻ đã cải biến và thu gọn chúng như vậy? Chính cái hiện thực là Gengè, các ngài của tôi ơi! Gengè, kẻ mà nàng đã tạo ra, kẻ chẳng thể có gì khác ngoài những suy nghĩ nọ, những cảm xúc nọ, những gu nọ. Ngu ngốc nhưng đáng yêu. Ôi vâng, đối với nàng, hắn đáng yêu biết bao! Nàng yêu hắn như vậy: một tên ngu ngốc đáng yêu. Và nàng yêu hắn chân thành.
Tôi có thể đưa ra muôn vàn dẫn chứng. Nhưng chỉ điều này là đủ: dẫn chứng đầu tiên xảy tới trong trí óc tôi.
Từ thuở con gái, Dida đã chải tóc theo một kiểu mà không chỉ mình nàng ưa, mà ngay cả tôi, tôi cũng vô cùng thích thú. Ngay sau ngày cưới, nàng đổi kiểu tóc. Tôi chẳng bảo với nàng kiểu tóc mới này tôi hoàn toàn chẳng thích, mặc nàng làm theo cách riêng mình. Thế rồi kìa, một buổi sáng, nàng bất chợt xuất hiện trước mặt tôi, mình mặc áo tắm, tay vẫn cầm lược, tóc chải theo kiểu cũ và mặt thì đỏ bừng.
“Gengè!” Nàng thét khi mở toang cánh cửa mà xuất hiện và bật cười thành tiếng.
Tôi chiêm ngưỡng nàng, chừng như lóa mắt.
“Ôi,” tôi thảng thốt. “Anh đã chờ mãi!”
Nhưng ngay lập tức nàng đưa tay lên tóc, rút ra một cái kẹp nhỏ và chỉ trong chốc lát, nàng đã xõa tóc.
“Thôi đi!” Nàng bảo. “Em muốn trêu anh đó thôi. Em biết rõ đấy, ông kễnh, rằng anh chẳng thích em chải tóc như vậy!”
Bất thình lình tôi phản đối: “Nhưng ai bảo em vậy, Dida của anh? Thay vào đó, anh thề rằng…”
Nàng chạm tay lên miệng tôi:
“Thôi đi!” Nàng lặp lại. “Anh bảo vậy để làm em vui lòng đó thôi. Nhưng em không được phép hài lòng, anh yêu của em. Chẳng nhẽ ý anh là em không biết Gengè của em thích em thế nào hơn hay sao?”
Rồi nàng chạy đi mất.
Các ngài hiểu chưa? Nàng chắc chắn, vô cùng chắc chắn rằng Gengè của nàng thích kiểu tóc khác kia hơn, và nàng chải theo kiểu tóc đó trong khi cả tôi lẫn nàng đều chẳng thích. Nhưng Gengè của nàng thích; và nàng hy sinh bản thân. Các ngài tưởng rằng chừng đó là ít ỏi hay chăng? Đối với một người phụ nữ, đó chẳng phải là những hy sinh thực sự và chân chính hay sao?
Nàng yêu hắn hết mực!
Còn tôi - khi mọi thứ rốt cục cũng đã sáng tỏ - tôi bắt đầu cảm thấy ghen tuông khủng khiếp - không phải ghen với tôi, xin các ngài hãy tin: tôi biết các ngài buồn cười! - không phải ghen với chính tôi, thưa các ngài, mà với một kẻ chẳng phải là tôi, một tên đần độn đã nhảy vào giữa tôi và vợ tôi. Hắn chẳng giống như một cái bóng vô hình, không - xin các ngài hãy tin - bởi thay vào đó, chính hắn lại biến tôi trở thành một cái bóng vô hình, tôi, chính tôi, khi hắn lợi dụng cơ thể tôi để khiến nàng yêu thương.
Ngẫm kỹ mà xem. Vợ tôi, có lẽ nàng hôn lên đôi môi tôi, một kẻ không phải là tôi? Lên đôi môi của tôi? Không! Của tôi gì chứ! Chúng là của tôi đến mức nào, đôi môi mà nàng hôn lên thực sự là của tôi đến mức nào? Có lẽ nàng ôm lấy cơ thể tôi trong tay? Nhưng cơ thể ấy thực sự có thể là của tôi đến mức nào, nó thực sự thuộc về tôi đến mức nào, nếu tôi không phải kẻ mà nàng ôm ấp và yêu thương?
Ngẫm kỹ mà xem. Liệu các ngài có thấy mình bị vợ phản bội, bằng một hành động bội bạc khéo léo nhất, nếu các ngài có thể biết rằng khi ôm chặt các ngài trong tay, nàng ta thích thú và hưởng thụ vòng tay của một kẻ mà nàng nắm giữ trong tâm trí và trái tim, thông qua cơ thể các ngài?
Tuy vậy, chuyện đó có gì khác so với tình cảnh của tôi? Tình cảnh của tôi còn tệ hơn! Bởi trong hành động kia, vợ các ngài - xin thứ lỗi - vòng tay của các ngài, nàng ta chỉ giả vờ như vòng tay của một kẻ khác. Trong khi đó, ở tình cảnh tôi, vợ tôi ôm chặt trong tay hiện thực của một kẻ chẳng phải là tôi!
Và kẻ này mới chân thực làm sao, kẻ mà rốt cục, tâm trạng bực bội, tôi đã muốn hủy hoại bằng cách áp đặt một hiện thực của riêng tôi, thay vì của hắn, để rồi vợ tôi, một người chưa bao giờ là vợ tôi mà là vợ của hắn, nàng sẽ lập tức tỉnh dậy, kinh hãi, như thể nàng đang ở trong vòng tay của một người lạ, một kẻ nàng chẳng hề quen biết. Nàng sẽ tuyên bố chẳng thể yêu tôi nữa, chẳng thể chung sống cùng tôi thêm một phút giây và bỏ chạy.
Vâng thưa các ngài, như các ngài sẽ thấy, nàng bỏ chạy.