Nhật Bản Duy Tân 30 năm

Lượt đọc: 89 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương IV. MỞ CUỘC DUY TÂN

❊ ❊ ❊

Từ nhỏ đến lớn, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, nào là chính trị giáo dục, nào là văn hóa võ bị, nào là công thương, lý tài, nào là cơ khí, nghệ thuật, cho đến những chuyện y phục tầm thường, tập quán lặt vặt, chẳng sót một vấn đề nào hay một phương diện nào mà không hóa xưa theo nay, đổi cũ ra mới.

Sự đổi thay vận mạng của một dân tộc quốc gia, đã đành trước hết phải nhờ có bọn đương quyền khôn ngoan sáng suốt và bọn chí sĩ thức thời làm hướng đạo tiên phong, nhưng cũng phải nhờ nơi dân tâm dân khí có biết hăm hở tấn hóa tự cường mới được. Đó là hai sự cần dùng cho cuộc tấn hóa, phải nương dựa lấy nhau và cùng đi với nhau.

Nếu có bọn đương quyền và chí sĩ sốt sắng cải cách song bị phần đông người ta còn quá ngu si thủ cựu, tự họ không muốn khôn, muốn mạnh, hay là họ tưởng mình đã khôn lắm mạnh lắm rồi, như vậy thì việc quốc gia lợi ích, khó lòng trông mong thi thố thành tựu gì được. Trái lại nếu chí sĩ có, dân tâm có, nhưng vô phước mà bị đám người cầm quyền là lũ đầu óc ngu dại, cứ ngồi lỳ trên cao, lấy quyền to sức mạnh của chúng để đè ép cản trở ý muốn tấn hóa của dân, thì việc quốc gia đại kế cũng không trông mong gì làm nổi. Dân tộc nào gặp cảnh ngộ thế ấy, kết quả đố khỏi hoặc là trong nước nổi lên một phen cách mạng đổ máu gớm ghê, hoặc là bị mất nước với người ta, nếu không cũng bị lợi dụng và yếu hèn mãi; chắc ai cũng ngó thấy nhiều quốc gia bị lôi kéo đắm chìm vào trong cảnh dưới đó cảnh vong quốc nhiều hơn. Nhật Bản đã có dân khá, lại không bị quan ngu, thành ra họ tấn hóa tự cường được là phải lắm.

Tuy ban đầu Mạc phủ nhất định chủ trương khai quốc mà dân tâm xôn xao phản đối; chẳng qua chỉ là sự hiểu lầm chốc lát đó thôi; tới chừng có mấy hiệp súng ở Lộc Nhi đảo 鹿児島 [Kagoshima] và Hạ quan 下関 [Shimonoseki] thì cả nước tỉnh ngộ như chớp nhoáng và mạnh bạo thay đổi tư tưởng ngay. Chớ không cố chấp. Bao nhiêu tâm lực trước kia để vào chủ nghĩa “tỏa quốc nhương di”, nay dồn cả về một mục đích “văn minh cải cách”, vậy rồi nền duy tân dựng lên.

ĐỨC XUYÊN MẠC PHỦ DÂNG TRẢ CHÍNH QUYỀN

8

ĐỨC XUYÊN KHÁNH HỈ 徳川慶喜 [Tokugawa Yoshinobu] (1837-1913) - Người kết thúc chế độ Mạc Phủ, năm 1867.

Sau khi các nước ra oai bắn phá thành trì của hai cường phiên Tát, Trường rồi, thì cái tư tưởng “tỏa quốc nhương di” của bọn thủ cựu khắp trong nước đều theo làn khói thần công đại bác của ngoại nhân mà tiêu tan đi liền. Cuộc biến đổi tư tưởng này phát khởi từ cuối năm 1864, chính lúc Hạ Quan vừa mới bị đoàn tàu bốn nước hợp lại ra oai bắn phá, làm cho đảng “nhương di” giật mình hoảng vía, biết ngoại nhân có sức mạnh ghê, nước mình không sao chống cự nổi; chống cự thì chỉ hiểm nguy thiệt hại cho mình.

Trông người rồi ngẫm lại ta mà cảm! Chẳng những người Nhật đã tỉnh ngộ không nên “tỏa quốc nhương di” mà thôi, đồng thời họ lại tỉnh ngộ về chỗ sinh tử tồn vong của họ, tất nhiên phải tấn hóa duy tân cho bằng những kẻ đã tới bắt buộc họ mở cửa thông thương và đã giơ súng ra hăm dọa nọ kia mới được. Giờ họ xoay ra cái tư tưởng “đảo Mạc tôn Vương” 倒幕尊王 [Sonnou Toubaku], để làm cơ sở cho cuộc duy tân cải cách.

Năm 1866, tướng quân Đức Xuyên Gia Mậu qua đời. Đức Xuyên Khánh Hỉ 徳川慶喜 [Tokugawa Yoshinobu] vô ngồi Mạc phủ để nối nghiệp nhà, cầm quyền nước.

Qua năm sau 1867, Hiếu Minh Thiên hoàng 孝明天皇 [Koumei Tennou] thăng hà, thái tử mới có 15 tuổi, lãnh ba món truyền quốc thần khí 2500 năm mà lên nối ngôi báu. Tân quân lên kế vị năm 1867, qua năm sau 1868 đổi niên hiệu là Minh Trị nguyên niên, ấy là Minh Trị Thiên hoàng 明治天皇 [Meiji Tennou]. Viết tới đây, tôi chợt nhớ lại câu thơ truyền tụng của Corneille[1]: “Giá cao chẳng đợi tuổi già mới nên” (La valeur n’attend pas le nombre des années), thật đúng hết sức. Vua Minh Trị lên ngôi tuy còn nhỏ tuổi mặc lòng, nhưng đã có tài cao trí lớn, chính ngài ra tay cải cách duy tân, mở ra kỷ nguyên mới cho nước Nhật, đưa nước Nhật lên cõi phú cường hạnh phúc vậy.

Trong khoảng ba bốn năm đang nói đây, nhân tâm quốc luận hăm hở kêu gào chủ nghĩa “đảo Mạc tôn Vương” dữ lắm. Ai cũng bảo chế độ phong kiến trên 680 năm nay là chế độ Mạc phủ cầm quyền, bây giờ phải đến ngày kết thúc rồi. Ở đời này mà trong nước Nhật Bản còn có hai chính phủ: Một nơi chỉ giữ lấy danh phận hư không, một nơi thì nắm trọn thực quyền chính trị, khiến cho phép tắc chính lệnh tách ra hai ngả, thể thống quốc gia coi chẳng ra sao. Hồi nước nhà còn khóa cửa sống riêng một mình, tuy không hại gì cho công việc quốc gia, chớ một mai đây khai quốc tự tân, thì việc bang giao tất phải lấy danh nghĩa Thiên hoàng để tỏ ra với liệt quốc mới được. Có hai chính phủ cùng đứng trong một xứ, lấy danh nghĩa mà nói, là sự trái ngược không thể nào dung. Vậy nay muốn lo quốc gia đại kế thì trước hết Mạc phủ nên đem chính quyền dâng nạp lại triều đình, và xóa bỏ cái chế độ phong kiến bảy trăm năm nay đi, để Thiên hoàng chủ trương, quốc gia thống nhất, có vậy thì việc lớn mới có thể kết quả thành công được.

Ban đầu, do những nhà chí sĩ có thanh danh kiến thức đứng lên hô hào xướng xuất chủ nghĩa “tôn Vương đảo Mạc”, sau có nhiều ông Chúa phiên 藩主 [Hanshu] (cũng tức là chư hầu) hùng cường trong nước nghe lấy làm phải, bèn ra sức tán thành. Tháng 4 năm 1867, triều đình vời các Chúa phiên về kinh, nhóm hội chư hầu, để hỏi ý kiến về quốc sự, thì mấy ông Chúa phiên thế lực đều tâu nên bãi Mạc phủ. Rồi đó mấy ông sai sứ tới khuyên tướng quân Khánh Hỉ dâng nạp quyền chính về Thiên hoàng.

Khánh Hỉ là bậc anh hùng quyết đoán, yêu nước kính vua, tự trong bản tâm đã có chí muốn bỏ ngôi tướng quân của mình lâu rồi, song còn sợ giữa lúc quốc bộ gian nan mà mình bỏ chức thì trên vua dưới dân cho là mình trốn lánh trách nhiệm chăng; nay thấy dân tâm sôi nổi, quốc sự dập dồn, tất phải có cái quyền tôn nghiêm thống trị của đức Thiên hoàng mới có thể sửa sang đại cuộc, lo việc duy tân được. Bởi vậy khi nghe lời khuyên rất phải, thì Khánh Hỉ vui mừng nhận theo liền. Rồi đó Khánh Hỉ viết biểu dâng lên triều đình, lời lẽ rất trung thành thống thiết, xin nạp lại quyền chính về Thiên hoàng; tự mình lui về ở ẩn tại Tỉnh Cương, như là một tên dân thường vậy.

Ấy là việc ngày 14 tháng 10 năm 1867.

Thử hỏi thế gian có mấy người ở ngôi cao chức trọng, có oai lớn quyền to, biết vì quốc gia đại kế mà bỗng chốc lui bước từ ngôi được một cách thái nhiên quân tử như Đức Xuyên Khánh Hỉ (徳川慶喜 Tokugawa Yoshinobu] vậy không? Nghĩ lại có lắm quốc gia đến lúc ngửa nghiêng hầu mất, mà bọn quyền thần ngu dại, quan trưởng hư hèn, còn ngồi lỳ bám chặt lấy cái danh vị hư vinh của chúng, không để cho những người có tài đức thế vào, có lẽ cứu chữa được cơn nguy cuộc rối. Than ôi! Quốc gia nguy vong mà bọn ngu hèn cố vị tham quyền, thật là đáng giận, đáng bỉ!

Khánh Hỉ trả quyền lui bước, thế là cái gia nghiệp tướng quân của họ Đức Xuyên trải 250 năm đến đây hạ màn, mà cả cái chế độ Mạc phủ ở Nhật Bản dựng lên từ cuối thế kỷ XII đến đây cũng chung cuộc.

Từ đó, toàn quốc về đức Thiên hoàng thống trị, chính phủ mới thành lập, kỷ nguyên mới bắt đầu.

Nhân nói về chung cuộc Mạc phủ, tưởng nên xét qua ảnh hưởng luôn thể, cho tiếp câu chuyện, rồi sẽ trở lại công cuộc Minh Trị duy tân.

Một cái chính thể lâu đời bền gốc, có quan hệ thâm thiết với lịch sử, với chủng tộc, với quốc gia, như là Mạc phủ ở nước Nhật, nay bỗng dưng xóa bỏ đi, mặc dầu Khánh Hỉ tướng quân là bực quân tử cao nhân, tự mình vui vẻ ngôi phú quý nhất đời như là thảy chiếc giày hư vớ rách đi nữa, nhưng bề nào việc đó cũng là một việc đại biến, không có lẽ nào không có ảnh hưởng tới thế đạo nhân tâm và quốc gia chính trị ít nhiều. Chắc hẳn trong trí Khánh Hỉ [Yoshinobu] tưởng ai cũng kính vua, yêu nước và có độ lượng quân tử như mình, cho nên khi thấy sự mình thoái vị là sự chính đáng cần kíp, thì vội vàng dâng biểu phụng hoàn đại chính rồi thì xuống ngôi tìm chỗ đi ẩn ngay, chẳng có liệu trước tương lai và sắp đặt hậu sự gì cả, vì đó mà xảy ra có nội loạn rắc rối một hồi.

Bấy giờ trong nước chia ra làm hai phái đông tây, một phái tôn Vua, một phái phò Mạc, xung đột nhau để giành lại quyền thế. Phái phò Mạc là một số chư hầu ở miền đông, không muốn khai quốc duy tân, vả lại có mang ơn Mạc phủ đã phong hầu chia đất cho, ngoài ra còn tám muôn tướng sĩ là gia thần bộ hạ của Mạc phủ, bấy lâu họ chịu ơn cơm áo tướng quân, tự nhiên họ phải dốc lòng trung thành ủng hộ tướng quân đến cùng. Sau lúc Khánh Hỉ bỏ ngôi lui bước rồi, thì cả bọn chư hầu và tướng sĩ phò Mạc nổi lên làm loạn ở nhiều nơi, nhât là ở Quan Đông 関東 [Kantou], Áo Vũ 奥羽 [Auu], và Sương Quán 箱館 [Hakodate], ra mặt chống cự với triều đình. Ban đầu loạn đảng ép Khánh Hỉ trở về Giang Hộ một lúc để dựng Mạc phủ lại như cũ, nhưng Khánh Hỉ không chịu. Công sứ Pháp quốc muốn lấy binh lực giúp cho Khánh Hỉ thu hồi đại vị, Khánh Hỉ cũng không nghe, chỉ khăng khăng giữ vững cái chí tôn Vua trả quyền, và lại ăn năn việc mình sơ sót ban đầu khiến nên có loạn. Song, loạn đảng không có bao nhiêu người và chí hướng của họ cũng trái nghịch với nhân tâm thời thế, thành ra không có thực lực gì. Binh triều đình chỉ mất công đánh dẹp có hơn một năm, từ 17 tháng 1 năm 1868 tới 27 tháng 6 năm 1869, thắng luôn bốn trận, thế là bình định được nội loạn, càng tôn thêm oai quyền của triều đình.

Hồi đó Khánh Hỉ vẫn ở yên tại Tỉnh Cương, lấy thú gảy đàn xem sách làm vui, trải 30 năm mới dời về Đông Kinh; đến năm 1902, tức là năm Minh Trị thứ 35, đức Thiên hoàng triệu vô bệ kiến và phong cho Công tước. Hình như lối 1910 hay 1911, Khánh Hỉ mới qua đời[2]. Người Nhật đối với Khánh Hỉ rất tôn kính nhớ thương, vì cái cử chỉ cao minh quân tử của Khánh Hỉ đã từ bỏ quyền hành, phụng hoàn đại chính, kể ra cũng là người có công với lịch sử duy tân của nước Nhật vậy. Nếu như lúc đó Khánh Hỉ không chịu kết thúc Mạc phủ, thì nhân tâm không khỏi chia lìa, quốc thế chẳng chịu ảnh hưởng, chẳng những là cuộc duy tân e chậm trễ khó khăn, mà lại còn sợ có một phen cách mạng biến động gớm ghê, không tránh khỏi được.

NĂM LỜI THỀ VỚI TRỜI ĐẤT THÁNH THẦN

Minh Trị Thiên hoàng lên kế vị ngày 14 tháng 2 năm 1867, đến ngày 14 tháng 10 năm đó, tướng quân Khánh Hỉ dâng biểu xin trả lại Thiên hoàng tất cả đại chính quốc gia, để ngài thống nhất toàn quốc, thực hành duy tân. Trong tờ biểu có câu nói như vầy, tỏ ra tấc lòng Khánh Hỉ yêu nước kính vua rất là thành thật.

“Hiện nay việc ngoại giao càng ngày bề bộn khó khăn, trừ phi quyền chính triều đình tóm thâu về một đường, thì mối giềng phép tắc khó lòng mà dựng lên được.

Hạ thần trộm nghĩ ngày nay tất phải sửa hẳn lệ xưa đi, đem chính quyền dâng lại triều đình, rộng cho quốc dân cạn lời công nghị, và muôn việc đều trông thánh thượng xem xét quyết đoán, rồi cả nước đồng lòng hiệp sức, cùng nhau bảo hộ hoàng quốc, như thế thì nước nhà có thể tấn tới ngang hàng với vạn bang trong thế giới đặng. Khánh Hỉ tôi tận trung hy vọng cho quốc gia chỉ có một việc đó.”

Triều đình chuẩn y lời tâu, liền ra tờ đại hiệu lệnh, bá cáo trong nước về việc vương chính phục cổ (王政復古 quyền vua trở lại như xưa), tóm tắt lời cốt yếu như sau này:

“Đức Xuyên Mạc phủ tâu xin trả lại quyền chính của triều đình đã giao phó cho từ xưa nay.

Triều đình y theo lời tâu đó.

Vậy từ nay trở đi, chức Nhiếp quan[3] cùng là Mạc phủ đều bỏ dứt hẳn. Bây giờ triều đình trước hết tạm đặt ra 3 chức Tổng tài, Nghị định và Tham dự để trông coi liệu định các việc, lấy cái tôn chỉ của đức Thần Võ lập quốc ngày xưa làm gốc. Không kể là thế tộc võ biền, kẻ trên người dưới, phàm là quốc dân, thì ai nấy đều phải đồng lòng ra sức lo tính việc chung.

Triều đình khuyên hết thảy dân chúng từ đây đều nên gắng gổ tự tân, rửa cho sạch những cái thói hư tật xấu, đem lòng sốt sắng tận trung, đặng làm việc công, giúp nhà nước…”

Ấy là mấy lời đầu hết của Minh Trị Thiên hoàng ra hiệu lệnh duy tân vậy.

Một nước ôm giữ những phép xưa thói cũ từ mấy ngàn năm, ngày nay bỗng chốc thay đổi sửa sang nhất thiết, cho hợp thời thế và kịp Tây phương, thật là một việc quan hệ lớn lao hết sức. Muốn bày tỏ chỗ quan hệ đó ra, và muốn cho dân biết những cái tôn chỉ duy tân ra thế nào, nên chi tháng 3 năm 1868, Minh Trị Thiên hoàng bèn dẫn hết thảy triều thần văn võ, cùng là các bậc phiên chúa chư hầu (lúc này cũng đang còn chư hầu, hai năm sau mới bãi hẳn) làm lễ rất nghiêm trang long trọng, tế cáo trời đất tổ tiên, đọc lời thề gồm có 5 khoản:

Mở ra hội nghị rộng rãi, trăm công ngàn việc đều lấy theo công luận mà quyết định;

Trên dưới một lòng, ra sức sửa sang việc nước.

Văn võ một đường, từ công khanh đến thứ dân, đều được toại chí, khiến cho lòng người hăm hở sốt sắng.

Thảy bỏ hết những thói hư mối tệ chất chứa lâu đời, từ đây gắng gổ duy tân tự cường, hợp theo công đạo của trời đất.

Cầu trí thức ở thế giới, làm cho nước nhà trở nên mạnh lớn vẻ vang.

Rồi thề sao làm vậy, 5 lời thề này chính là chí nguyện, quy mô và chính sách của vua Minh Trị sửa sang thay đổi nước Nhật, trước sau có chừng 30 năm, là trở nên một quốc gia văn minh, một dân tộc hùng cường, đứng ngang hàng với các nước Âu Mỹ. Vua Minh Trị là người sáng tạo ra nước Nhật mới vậy.

ĐẠI KHÁI CÔNG CUỘC PHÁ CŨ ĐỔI MỚI TRONG 30 NĂM

Công cuộc Nhật Bản duy tân vừa mau chóng mạnh bạo, vừa vĩ đại hoàn toàn, y như lời Minh Trị Thiên hoàng đã thề với trời đất thần minh, khi đã dốc lòng ra tay biến hóa cải lương, thì mỗi việc gì cũng biến hóa cải lương hết thảy. Từ nhỏ đến lớn, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, nào là chính trị giáo dục, nào là văn hóa võ bị, nào là công thương, lý tài, nào là cơ khí, nghệ thuật, cho đến những chuyện y phục tầm thường, tập quán lặt vặt, chẳng sót một vấn đề nào hay một phương diện nào mà không hóa xưa theo nay, đổi cũ ra mới.

Có thể ví dụ như một cái vườn có ngàn gốc cây mọt hư khô héo, người Nhật là lão làm vườn, đã đào từng gốc cây đó liệng đi, mà trồng cây khác mới lạ tươi tốt thế vào. Cách ít lâu, cái cảnh nhánh khô lá rụng, tiều tụy thê lương của miếng vườn kia đều biến đi đâu hết, giờ ta ngó thấy toàn là cây lạ bông thơm, có muốn tìm lại những dấu tích xưa cũng không còn nữa. Thiệt, Nhật Bản trừ cựu canh tân tới vậy lận!

Dưới đây có nhiều việc quan hệ sẽ nói riêng hẳn từng nơi, nhưng ngay bây giờ thiết tưởng cũng nên tóm thâu cái đại quan cho biết công cuộc biến hóa của nước Nhật vừa mau chóng mạnh bạo, vừa vĩ đại hoàn toàn ra thế nào?

9

Ba tay chí sĩ có công với cuộc Duy tân:

- Đại Cửu Bảo Lợi Thông 大久保利通 [Ookubo Toshimichi] (1830-1878) (trên)

- Mộc Hộ Hiếu Doãn 木戸孝允 [Kido Takayoshi] (1833-1877) (giữa)

- Tây Hương Long Thịnh 西郷隆盛 [Saigou Takamori] (1828-1877) (dưới).

Sau khi vua Minh Trị hạ chiếu duy tân rồi, thì nước Nhật cũ bị xô một cái, là đổ ụp xuống. Về mặt chính trị, ngay năm Minh Trị thứ nhất, đã bãi Mạc phủ rồi, còn chư hầu tuy chưa bãi, nhưng chẳng qua họ chỉ còn danh nghĩa vậy thôi, chớ thực quyền như trước không có nữa. Triều đình vời các chúa phiên về kinh làm mấy chức Nghị định 議定 [Gijou] và Tham dự 参与 [Kinyo]; lại cho mỗi đất phiên lựa chọn đôi ba người có tài về triều làm Cống sĩ 貢士 [Koushi] tức là một chức quan nghị sự. Những người này hợp lại thành như một hội nghị để phò tá nhà vua trong việc quốc chính. Ban đầu, nhà vua làm như thế, là cách huấn luyện và sắp đặt cho dân sau này có nghị viện cả dân công cử như ở các nước.

Đến năm Minh Trị thứ 4 (1871), chế độ Phong kiến bãi hẳn: các Chúa phiên (les daimyos) đem hết đất nước của mình nạp lại triều đình, đổi ra làm huyện. Tới năm Minh Trị thứ 23 (1890) mới có Hiến pháp ban hành và có Chúng nghị viện 衆議院 [Shugiin] mở ra từ đó.

Về mặt bình dân, xưa kia họ là hạng người lao khổ, ở dưới quý tộc và sĩ tộc, tới năm 1867, lệnh duy tân tuyên bố hết thảy nhân dân bình đẳng; ruộng đất để tự do, người nông dân bây giờ làm chủ ruộng mình, không phải chỉ như khi xưa họ nai lưng cày cấy làm mọi cho Chúa phiên, cho quý tộc.

Các cửa biển đều mở toang ra cho ngoại nhân ra vô buôn bán tự do. Trải 1000 năm, Thiên hoàng vẫn đóng đô ở thành Kinh Đô 京都 [Kyoto], giờ vua Minh Trị dời đô về Đông Kinh 東京 [Tokyo] tức là thành Giang Hộ của Mạc phủ Đức Xuyên trước.

Cả âm lịch, triều đình y quan cũng bỏ cũ theo mới.

Tóm lại chỉ trong ít tháng, bao nhiêu dấu cũ lệ xưa của Nhật Bản biến tiêu đi hết, nhường chỗ cho những cách tây phép mới thay vô.

Sự thay cũ đổi mới của Nhật Bản mau lẹ quá chừng, ai cũng phải kinh hoàng sửng sốt.

Mỗi việc nhỏ lớn gì cũng phải tạo lập ra mới mẻ hết thảy, thế mà mỗi việc nhỏ lớn gì họ cũng tạo lập ra đủ hết. Không sót cái hay nào của Tây phương mà Nhật không bắt chước; không có cơ quan chế độ nào hữu ích của Tây phương mà Nhật không làm theo. Xe lửa, tàu thủy, nhà băng, xưởng máy, cùng là mọi việc giáo dục, công nghệ, khoa học… thứ nào Nhật Bản cũng tổ chức ra có đủ hết thảy trong một lúc.

Ta thử xem một vài con số như dưới đây, sẽ biết người Nhật họ chạy phăng phăng trên con đường duy tân mau lẹ ra thế nào?

Năm 1870, nghĩa là sau khi quyết chí cải cách mới có ba năm, thì đã làm xong con đường xe lửa thứ nhất, nối liền Đông Kinh với Hoành Tân, 28 cây số. Con đường này họ làm hết hai năm mới xong, là vì họ tự làm lấy, chỉ mua tài liệu của Âu châu và mướn một vài người Âu châu làm đốc công thôi. Đến năm 1880, đường xe lửa dài được 117 cây số. Qua 1893 được 3.010, tới 1903 lên 6.800.

Dây thép cũng tuôn ra mau như đường sắt vậy. Liền sau khi hạ lệnh cải cách một năm, cuối năm 1868, đã có đường dây thép thứ nhất từ Đông Kinh đi ra. Đến 1893, kéo dài được 13.576 cây số.

Việc quốc phòng cũng lo sắp đặt ngay từ ban đầu, học theo cách luyện quân của Pháp và Đức. Xưởng đúc súng đạn mở ra nhiều nơi. Sáu tháng đầu tiên, còn dùng người Âu châu, trông coi chỉ vẽ; từ sáu tháng sau trở đi thì nhất thiết người Nhật làm một mình. Về hải quân cũng vậy, trước hết họ còn mua của Âu châu một đội tàu chiến, gồm có 7 chiếc tuần dương, 7 chiếc thiết giáp, 17 chiếc khinh hạm, 30 chiếc ngư lôi, và lại phái nhiều thanh niên nhân tài đi qua Âu Mỹ học tập hải quân. Không bao lâu, họ tự mở ra trường luyện tập lấy và tự mở ra xưởng đóng tàu trận một mình, không phải nhờ cậy gì Âu Mỹ nữa.

Trong nước, từ trên xuống dưới, khắp chợ tới quê, ai nấy đều hăng hái về việc tự tân tự cường. Các ông Chúa phiên đã trả đất lại cho triều đình rồi thì xoay ra làm chủ ngân hàng, chủ xưởng tàu, chủ nhà máy, còn tên tá điền lao khổ của mấy ông lúc trước thì bây giờ ra làm thợ máy nọ kia.

Về việc kết xã lập hội để mở mang thương mãi kỹ nghệ, người Nhật cũng làm mau như bay, như biến. Kể tới năm 1894, nghĩa là duy tân chưa đầy 30 năm, trong xứ đã có: 1.200 công ty có vốn tới 300 triệu; 130 nhà băng lớn; 30 công ty bảo kê sinh mạng; 17 công ty điện khí.

Giữa thời kỳ duy tân, về mặt công nghệ bằng cơ khí, chỉ trong vòng mươi năm, người Nhật mở ra những nhà máy nọ nhà máy kia đầy rẫy ở các đô thị. Ngay hồi năm 1880, nghĩa là mới duy tân có 14 năm, đã có 20 nhà máy lớn, dùng tới 20.000 thợ. Nói chi bây giờ công nghệ cơ khí của họ phát đạt tới cực điểm, làm cho Âu Mỹ phải sợ; những ống khói nhà máy tua tủa lên trời, riêng một châu thành Osaka, ngó như một đám ngọn cỏ đâm cao lên trên mặt đất vậy.

Tàu buôn của họ cũng mở mang rất sớm: Năm 1890, đã có 855 chiếc tàu buồm và 580 chiếc tàu chạy bằng máy hơi rồi.

Việc canh nông tấn tới sửa sang có kết quả lạ lùng: Từ nghề trồng dâu trồng trà, cho đến làm ruộng cấy lúa, nhất thiết đều kinh doanh theo cách mới, cho nên hoa lợi thêm ra rất nhiều.

Công nho trong khoảng 20 năm đầu, tăng số thu nhập lên ba lần nhiều hơn; kho bạc mỗi năm thu vô tới 580 triệu. Số xuất cảng cũng tăng lên bốn lần trong khoảng 12 năm: Từ 347 triệu hồi năm 1890 mà lên tới 1.326 triệu trong năm 1902; thật cổ kim đông tây chưa ai có cái kết quả lạ lùng như thế.

Lúc đầu, Âu châu thấy Nhật Bản bắt chước họ thì họ cười thầm và nghĩ cho là vô hại, bởi vậy họ vẫn kêu là cậu nhỏ Nhật Bản (le petit Japon). Nhưng đến năm 1894, họ thấy cậu học trò của họ thì phải giật mình, đổi ngay cái tư tưởng khinh thị ban sơ. Năm 1894, cậu bé tí hon Nhật Bản dám đánh ông khổng lồ Trung Hoa, chỉ trong mấy trận, là ông khổng lồ bị cậu bé con đánh ngã nằm ngay đơ. Trung Hoa phải để cho Nhật chiếm cứ Triều Tiên là miếng mồi Nhật vẫn thèm muốn từ xưa; ngoài ra còn phải bồi thêm Liêu Đông nữa. Nhưng liệt cường Âu châu ép Nhật phải trả Liêu Đông cho Tàu; Nhật đành lấy Đài Loan thôi. Sau Tàu nhường Liêu Đông cho Nga; Nga được đất này, trong lòng hớn hở cho là mình thắng trận ngoại giao, không dè vì đó mà ít lâu về sau mang lấy một cái thua đại nhục.

Đến năm 1900, lại có dịp cho người Tây phương kính phục cái giá trị của Nhật Bản hơn nữa. Năm đó, nước Tàu có giặc Quyền Phỉ (les boxers)[4] nổi lên, chủ ý là thù nghịch đánh phá người ngoại quốc; có trút ngàn người Âu châu bị giặc bao vây ở Bắc Kinh, không đường tẩu thoát, mà cứu binh chưa tới, tình thế rất là hiểm nguy. Trong 8 nước cùng ra binh để can thiệp vào cuộc nội loạn này, đội binh Nhật Bản tức tốc tấn lên Bắc Kinh đầu hết, giải được trùng vây, nhờ đó mà những người Âu châu mới thoát nạn.

Rồi cách 4 năm sau, 1904-1905 bỗng dưng như một tiếng sét đánh rung đất vang trời, cả thế giới đều sửng sốt ngẩn ngơ: Cậu bé Nhật Bản dám nhảy lên đấm cú một ông khổng lồ khác là Nga La Tư [dân tộc Nga], lúc bấy giờ là một nước hùng cường đệ nhất thiên hạ. Ai không bảo ông khổng lồ này nhai ngấu Nhật Bản như chơi. Thế mà trong 18 tháng, Nga bị bại trận thảm thê: Trên bộ thì thua về tay Nãi Mộc tướng quân 乃木将軍 [Nogi shougun], binh Nga không còn manh giáp mà về; dưới nước thì thua về tay Đông Hương nguyên soái 東郷元師 [Tougou Heihachiro], cả đoàn tàu trận Nga trên ba chục chiếc bị Nhật bắn chìm ở eo biển Đối Mã. Lần thứ nhất trong lịch sử nhân loại, người da vàng đánh ngã người da trắng. Chẳng phải riêng một mình người Nhật lấy làm khoan khoái vẻ vang, mà cả đại lục Á châu, dân tộc hoàng chủng cũng có ý vui mừng hỉ hả nữa. Từ đó, người Tây phương bắt đầu để tâm lo nghĩ về “cái họa da vàng” (péril jaune) mai sau. Từ đó, bắt đầu sản xuất cái vấn đề rắc rối lo ngại, gọi là vấn đề Thái Bình Dương (Question du Pacifique), mà người Nhật chính là chủ động!

Một vài việc làm, một vài con số, như đã lược thuật trên đây, đủ bày chứng cớ cho ta thấy công cuộc duy tân tự cường của Nhật Bản chỉ làm trong một thời kỳ rất ngắn, và được thành công mau lẹ, kết quả vẻ vang là dường nào?

Một nước đang cũ hết sức cũ, yếu hết sức yếu, bỗng chốc trong vòng chỉ có 30 năm, xoay đổi ra mới thiệt là mới, mạnh thiệt là mạnh, cái kết quả lạ lùng đó vẫn biết là trên nhờ có bực anh quân thánh chúa là Minh Trị Thiên hoàng, nhưng chính là do nơi cái thông minh, cái lực lượng, cái khí khái chung cả dân tộc Nhật Bản mà nên vậy.

Viết tới đây, tôi chợt nhớ lại bài ca Á tế Á của cụ Tán Thuật[5] có đoạn nói về cái thành tích Minh Trị duy tân như vầy:

Mênh mông một dải Đông Dương,

Nước non quanh quất trông càng thêm đau.

Cờ độc lập đứng đầu phất trước,

Nhật Bản kia vốn nước đồng văn.

Phương Đông nổi hiệu duy tân;

Nhật hoàng Minh Trị anh quân ai bì?

Sức Thần Võ riêng về một họ,

Vùng Phù Tang chói đỏ góc trời!

Kể đời một trăm hai mươi hai,

Năm hai ngàn rưỡi năm mươi có thừa.

Sẵn cơ hội trời đưa lại đó,

Chốn kinh thành Giang Hộ dời sang.

Dẹp Mạc phủ, bỏ Phiên bang,

Đổi dòng chánh sóc, thay lòng y quan.

Khắp trong nước dân đoàn xã hội;

Nhà học đường đã ngoại ba muôn.

Việc kỹ nghệ, việc bán buôn,

Nơi lờ nấu sắt, nơi khuôn đúc đồng.

Trà, tơ, lụa, gai, bông, nhung, vũ,

Mọi đồ sơn vân mẫu pha lê.

Gươm và quạt, tán và xe,

Đủ mùi hải lục, hiệp nghề công thương.

Đất Đại Bản mở trường đúc súng,

Xưởng Đông Kinh riêng cũng một nhà,

Trường Kỳ thuyền cuộc mở ra,

Dã Tân, Tu Hạ, ấy là hải quân.

Thuyền với pháo đã trăm lần chấn chỉnh,

Lại ngư lôi bác đĩnh ai tày?

Quan quân luyện tập đêm ngày,

Một nghề so với Thái Tây kém gì!

Duy tân rồi tới năm Giáp Ngọ (1894), vì chuyện Cao Ly mà Nhật Bản đánh Tàu đại thắng:

Năm Giáp ngọ đùng đùng sóng gió,

Vượt quân sang thắng trỏ Tam Hàn.

Quân Lục áo, tướng Đại san,

Ra tay cho biết lá gan anh hùng.

Đông tam tỉnh đã thu trong tay áo,

Người trắng da ngơ ngáo giật mình.

Cuộc hòa đâu khéo thình lình,

Chủ trương này bởi Nga đình vẽ khôn,

Bụng ái quốc ghê hồn Nhật Bản,

Giận xung quanh khôn cản nghĩa đồng cừu.

Đã toan trở súng quay tàu,

Y Đằng khen khéo mưu sâu vãn hồi.

Nhận bồi khoản với Bánh đài nhượng địa,

Trong mười năm rồi sẽ xem nhau.

Nga kia lớn nước lại giàu,

Bên giường giấc ngáy dễ hầu chịu yên.

Tới trận Nhật Nga đại chiến hồi 1904-1905, Nhật cũng toàn thắng:

Giáp Thìn trong tháng chạp tây,

Chiến thư hai nước định ngày giao tuy.

Trận thứ nhất Cao Ly lừng tiếng,

Khắp hoàn cầu muôn miệng đều khen.

Sa trường xung đột mấy phen,

Ngọn cờ Áp Lục, tiếng kèn Liêu Dương.

Hải quân nguyên soái Đông Hương,

Lục quân Nãi Mộc, ai đương anh hùng?

Hội liệt quốc diễn tuồng hòa nghị.

Chấu đá voi, sự ấy cũng nực cười.

Xem trong hòa khoản mười hai,

Điều nào Nga cũng chịu lui trăm phần.

Cuộc tang hải khuất thân từng lúc,

Đám liệt cường nay cũng chen vai.

Khen thay Nhật Bản nhân tài,

Từ đây danh dự còn dài về sau.

Cả bộ sử tấn hóa tự cường của Nhật Bản, cụ Tán Thuật mô tả thâu rút vào trong khuôn khổ mấy vần thơ khéo lắm.

CÁC NƯỚC ÂU MỸ CÓ CÔNG GIÚP ĐỠ NHẬT BẢN DUY TÂN RA THẾ NÀO?

Vấn đề này cũng nên biết, vì nó có ý nghĩa và có chỗ quan hệ lý thú của nó.

Có người yên trí rằng mấy thế kỷ trước, người Âu Mỹ lần mò qua Đông phương là chỉ có mục đích “thực dân lược địa”[6], mưu lấy sự tư lợi mà thôi, chớ họ có lòng giúp đỡ cho ai khá lên như họ bao giờ. Với xứ nào, họ cũng dùng cách “tiên lễ hậu binh”; cho mấy ông thầy tu qua trước rồi kế đưa binh lính tới sau, kiếm cớ kia khác choán đất người ta thì có, khi nào giúp ai?

Sự yên trí này cũng có một phần phải ở trong, nhưng còn một phần chưa thiệt là phải. Có xứ họ tới cốt để lược địa thực dân, mà cũng có xứ họ tới sẵn lòng giao hảo thông thương và phò trợ khai hóa cho; ấy là tùy nơi tình thế và lực lượng của giống người trong xứ mà họ để chân vào. Tạo hóa đối với muôn vật, cái gì mọc lên được thì vun bón thêm cho, cái gì nghiêng ngả thì đạp xô cho ngã; ở giữa loài người mạnh yếu với nhau cũng có cái lẽ thường như thế. Dân mạnh tới một xứ yếu, thấy xứ này vua hèn dân ngu, nói phải chẳng nghe, dạy khôn không hiểu, thì họ không chiếm trị còn để làm gì? Thứ quốc gia dân tộc thế ấy chẳng mất vào tay kẻ mạnh này cũng mất vào tay kẻ mạnh khác; sự suy vong đó đáng kiếp cho cái xứ có vua hèn dân ngu và sự xâm lược cũng là cái quyền tự nhiên của giống mạnh.

Còn như tới xứ nào xem ra có hạng trên trước khá, và dân cứng cỏi, thông minh, thì kẻ mạnh kia chẳng tiếc gì mà không vừa giúp cho khá, chỉ vẽ cho hay, chớ muốn nhai muốn nuốt chưa chắc đã trôi, chi bằng vun bón phò trợ người ta, cũng là cách kết giao cầu lợi cho mình được.

Âu Mỹ đối với Nhật Bản trong thế kỷ vừa qua ở vào trong cái trường hợp như vậy đó.

Trong cuộc Nhật Bản khai quốc duy tân, cố nhiên là Nhật học theo bắt chước Âu Mỹ đã đành, nhưng chính thiệt Âu Mỹ cũng có lòng lành ý tốt mà phò trợ cho nhiều lắm.

Giữa thế kỷ XIX, vì vấn đề thông thương đính ước, mấy phen hầu gây ra cừu thù đại biến, mà rốt lại Nhật Bản cũng được liệt cường Âu Mỹ ân cần vừa giúp cho được tỉnh ngộ duy tân tới cùng. Ngay lúc đề đốc Bá Lý nước Mỹ đem đoàn tàu chiến qua bắn súng ra oai, nhưng trong ý vẫn có lượng khoan thai tử tế, chỉ muốn cùng Nhật Bản giao hảo thông thương mà thôi; về sau cơ nghiệp vẻ vang mới lạ của Nhật Bản dựng lên, thật là có nguồn suối đi ra bởi đó.

Kế sau đề đốc Bá Lý, tới Cáp Lợi Tư qua làm công sứ Mỹ ở nước Nhật, ông này rõ biết quan lại của Mạc phủ chưa rành ngoại giao, nên chi ông thường lấy chân tình thổ lộ và giảng giải cho nhà cầm quyền Nhật Bản lúc bấy giờ biết rõ những cái lợi khai quốc thông thương ra thế nào. Sở dĩ Mạc phủ quyết lòng khai quốc là nhờ có sự khuyên bảo lợi ích của công sứ Mỹ ban đầu, thây kệ dân tâm phản đối xôn xao, Mạc phủ cũng cứ khai quốc. Cáp Lợi Tư lại khuyên Nhật Bản cần nên cấm tuyệt a phiến, kẻo có hại to cho nòi giống; nhờ vậy mà Nhật Bản tránh hẳn được cái độc a phiến từ đó đến giờ.

Hồi trong nước nổi lên phong trào “Nhương di” điên cuồng sôi nổi, xảy ra tới vụ đánh chết viên thông ngôn ở dinh công sứ Mỹ, làm cho công sứ các nước phát giận, gửi thư trách hỏi chính phủ Nhật Bản sao không hết lòng bảo hộ ngoại nhân. Duy có một mình Cáp Lợi Tư rõ biết nội tình dân tâm Nhật Bản, và cũng lượng xét Mạc phủ có thành tâm khai quốc lắm, thành ra chính viên Thông ngôn của ông bị hại vì tay của bọn thủ cựu ở Nhật, mà ông làm lơ, không trách hỏi phiền hà gì. Đến đỗi công sứ các nước khác giận quá, rủ nhau hạ quốc kỳ xuống mà bỏ đi Hoành Tân, không chịu ở Giang Hộ nữa, vậy mà một mình ông Cáp Lợi Tư vẫn ở Giang Hộ không nhúc nhích, lại còn vì Mạc phủ điều đình giùm cho êm vụ bất bình này.

Trong hồi Nhật Bản bắt đầu khai quốc, mỗi việc gì người Mỹ cũng lấy lòng tử tế chỉ vẽ giúp đỡ cho, có bổ ích cho cuộc tấn hóa của nước Nhật nhiều lắm.

Năm 1859, Nhật Bản sai sứ qua Mỹ để trao đổi tờ ước đã ký với nhau, chính phủ Mỹ phái tàu trận ra đón rước và nghị viện Mỹ bỏ thăm quyết nghị lấy lễ quốc tân 国賓, là lễ đãi khách chung cả nước mà tiếp đãi Nhật sứ, khiến cho người Nhật lấy làm cảm động hết sức.

Cũng nhờ có chuyến đi sứ này mà nhiều người Nhật Bản càng dễ hiểu biết rành rẽ về những lễ nghĩa ngoại giao. 

Cùng theo đi sứ lúc đó có hai người chí sĩ về sau in sâu những dấu tích to lớn vẻ vang trong lịch sử Nhật Bản duy tân, ấy là Thắng Lân Thái Lang 勝麟太郎 [Katsu Rintarou] và Phúc Trạch Dụ Cát 福澤諭吉 [Fukuzawa Yukichi].

10

Thắng Lân Thái Lang 勝麟太郎 [Katsu Rintarou] (1823 - 1899)

Thắng Lân Thái Lang vốn là người ăn lộc của Mạc phủ, mà đến lúc Minh Trị duy tân lại sốt sắng hô hào, có công với đại nghiệp quốc gia nhiều lắm. Còn Phúc Trạch Dụ Cát thì qua xem xét văn hóa Âu Mỹ, rồi về nước chuyên tâm vào công việc giáo dục thanh niên, rèn đúc nhân tài; nhiều tay anh tuấn trong buổi duy tân là học trò của ông đào tạo ra, chính ông đã mở ra một trường đại học rất lớn đến nay vẫn còn gọi là Khánh Ứng đại học 慶応大学 [Keiou Daigaku].

Thuở đó người Nhật xuất dương cầu học ở các nước Âu Mỹ rất nhiều, mà chính người Âu Mỹ đem văn nghệ học thuật của họ vô truyền bá cho Nhật Bản cũng chẳng ít; nhất là người hai nước Mỹ và Anh đối với Nhật Bản dày công lao phò trợ hơn hết.

Ban đầu khai quốc, nhờ Công sứ Mỹ là Cáp Lợi Tư mỗi việc bày lợi tránh hại cho Nhật, như đã nói sơ ở trên. Sau tới Công sứ Anh là A Nhĩ Ca Quật (阿爾哥窟, viết theo sách Nhật) khuyên bảo chỉ vẽ cho Nhật Bản đúc ra tiền tệ mới, khiến cho Nhật Bản tránh được một mối hại to. Nguyên là hồi đó, chế độ tiền tệ của Nhật còn lôi thôi, nên chi vàng bạc trong xứ bị lọt mất ra nước ngoài rất nhiều; quốc dân thấy vậy kinh hoàng, nhưng không biết cách nào ngăn cản cho được. Bọn thủ cựu càng được trớn mà oán trách Mạc phủ về sự hại mở cửa cho ngoại nhân vô thông thương. Công sứ Anh lo giùm cho Nhật, bèn trung cáo Mạc phủ mau mau đúc ra tiền vàng và in ra giấy bạc, nhờ đó mà cầm cản được cái hại lọt vàng ra ngoài. Người Nhật ghi nhớ luôn luôn rằng công đức này của công sứ Anh cũng có lợi cho Nhật như công đức của công sứ Mỹ đã khuyên bảo cấm tuyệt a phiến kia vậy.

Đến cuối năm 1867, Khánh Hỉ tướng quân dâng nạp đại chính về Thiên hoàng Minh Trị. Chính phủ Thiên hoàng tư giấy khắp công sứ các nước hay rằng những tờ ước do Mạc phủ lúc trước đã ký với các nước, nay vẫn kế tiếp thi hành và việc giao hảo vẫn y như cũ. Có một bọn chư hầu không ưng cải cách, liền chia trong nước ra làm hai phe: Đông và Tây, xung đột với nhau. Ấy là nội loạn. Trong vòng ít tháng, binh triều dẹp yên được loạn ở Quan Đông, Áo Vũ; rồi một năm thì loạn ở Sương Quán cũng êm. Lúc đó nhân tâm chưa trọn lòng quy hướng triều đình, nghiệp thống nhất chưa được hoàn thành, mà ngoại nhân đối với chính phủ cũ, tức là Mạc phủ, xem ra tình ý vẫn còn trìu mến không phai. Nay chính phủ mới bỗng chốc nói về việc kế tiếp giao hảo, công sứ các nước chợt nghe, dầu muốn không sinh lòng nghi ngại cũng không được. Bởi vậy các nước còn đang dụ dự về sự nhìn nhận chính phủ mới.

Duy có công sứ Anh đứng ra nhìn nhận chính phủ Thiên hoàng trước hết, rồi sau công sứ các nước lần lượt nhìn nhận theo, nhờ vậy mà địa vị chính phủ mới lập ra đối với ngoại bang được danh nghĩa nhất định. Công sứ Anh đối đãi như thế, là vì ông với mấy ông tham tán của ông ngày thường kết giao với đám chí sĩ Nhật, rõ biết nội tình nước Nhật, nay cho sự Mạc phủ trả quyền triều đình chính là việc duy tân cải cách, chớ không phải là cách mạng gì mà bảo rằng không nên nhìn nhận chính phủ mới. Nhân đó ông nói giùm với công sứ liệt quốc mà chính phủ Thiên hoàng được nhìn nhận đều hết vậy.

Tóm lại, ban sơ khai quốc có tình thân của nước Mỹ, trong lúc duy tân, có lòng tốt của nước Anh, người Nhật kể ngoại bang phò trợ cho họ khai hóa tấn bộ, có hai việc đó là lớn hơn cả. Là vì Mỹ quốc lấy tình thân thiện mà mở ra kỷ nguyên mới cho Nhật. Anh quốc thì lấy đại nghĩa mà giúp cho việc chính của Nhật Bản được dấy lên.

Ngoài ra, còn nhờ có hai cái thế biến cũng làm gốc nguồn cho cuộc duy tân của Nhật nữa.

Một cái thế biến từ trong ra.

Một cái thế biến ở ngoài vào.

Ta đã biết rằng khởi từ năm 1853 trở đi, Nhật Bản đang là một nước thủ cựu đáo để và đóng cửa tuyệt giao với ngoại quốc gần ba trăm năm, vụt chốc mạnh bạo khai quốc rồi mau chóng duy tân được, là nhờ có một bọn chí sĩ từng đọc sách Hòa Lan, biết chuyện Âu Mỹ, đứng lên kêu gào thúc giục mà ra.

Ý hẳn có nhiều độc giả phải sửng sốt muốn hỏi điều này: Quái lạ! Từ năm 1854 trở về trước, Nhật Bản vẫn công nhiên đóng cửa tuyệt giao, vậy chớ làm sao có bọn chí sĩ từng đọc sách Hòa Lan biết chuyện Âu Mỹ được? Còn như anh Tàu với nước Nam mình đây, chẳng hề đóng cửa tuyệt giao lúc nào, thế sao Tàu với mình không có ai biết chuyện của Tây phương được mảy may cóc rác gì, thiệt là khù khờ tức tối quá! Chính nước Nam mình, hồi đời vua Lê có lập ra một chỗ riêng gọi là Phố hiến[7] cho người Tây phương tới cư ngụ thông thương tự do; lại sau đến đời Gia Long, đức thầy Bá-đa-lộc có rước nhiều người Pháp kỹ sư và quân gia tới xây thành, luyện quân, đóng thuyền, đúc súng cho vua nhà Nguyễn; ấy chính là những dịp cho ta mở mắt ra ngó thấy tài hay của Tây phương và có thể học khôn họ được, nhưng vậy mà chớ hề có ai biết thâu thái lấy trí thức Tây phương một chút, đáng tiếc biết bao! Tới nay Nhật Bản hùng cường vinh diệu thế kia, còn Tàu với mình yếu hèn thấp thỏi thế này là đáng kiếp lắm.

Phải, tôi cũng suy nghĩ như thế.

Thuở xưa ở Nhật, Nho học và Hán văn cũng thịnh, cũng tôn như ở các xứ chung quanh cùng chung một nguồn văn hóa với họ, song đám sĩ phu học giả họ không quá cố chấp lỳ, tự cao bậy, hết thảy ai cũng như ai đâu. Kỳ thiệt, trong đám nhà nho cố chấp tự cao, có nảy ra ít nhiều người có chí, muốn hiểu rộng thấy xa, chịu khó xem xét tài khôn sức mạnh của người ta, chớ không bo bo ôm chặt lấy những lý thuyết của Nghiêu Thuấn Khổng Mạnh, tưởng trong trời đất không có gì hơn được nữa.

Bởi vậy, giữa đời Mạc phủ đóng cửa tuyệt giao, trừ ra cho người Hòa Lan và người Trung Quốc là được phép ra vô mua bán tại Trường Kỳ mà thôi, thì trong nước Nhật đã có ít nhiều nho sĩ cầu kỳ ham học, biết cái học thuật phương tây có lắm chỗ hay. Họ bèn rủ nhau đọc sách Hòa Lan, để nghiên cứu về những môn học luyện binh, đúc súng, chữa bệnh, cùng là các khoa thiên văn, bác học, hóa học nữa.

Những nhà chấp chính có trí rộng, cũng biết để tâm xem xét Tây học; hoặc tự học lấy, hoặc sai người học rồi thuật lại cho mình nghe. Ví dụ hồi giữa thế kỷ 18, có nhà Hán học là Thanh Mộc Văn Tàng 青木文藏 [Aoki Bunzou] vâng lệnh Mạc phủ sai học chữ Hòa Lan, để tâu bày tình thế và học thuật Tây phương cho tướng quân biết. Kế sau có những nhà Lan học như Tiền Dã Lương Trạch 前野良沢 [Maeno Ryotaku], như Bân Điền Huyền Bạch 杉田玄白 [Sugita Genbaku], đem sách thuốc Tây phương dịch ra tiếng Nhật.

Ngoài ra, có nhiều nhà văn học, nhà chính trị, theo mấy thầy thuốc Hòa Lan học tập Tây văn. Dầu không thông hiểu Tây văn, nhưng mà nhờ gần gũi ngoại nhân rồi cũng nghe qua học thuật và tình thế liệt quốc, cái hạng sĩ phu đó lần hồi nảy ra cũng đông.

Ấy là giữa đời thủ cựu, trong nước Nhật đã có một bọn người tiên giác, từng nghiên cứu học thuật phương Tây rồi vậy.

Tới năm 1853, có đoàn tàu trận Mỹ quốc vô cửa Phố Hạ, cả đám nhà nho thủ cựu trề môi nhún mỏ, tỏ ý khinh khi người Mỹ là mọi rợ, nhưng riêng hạng thức giả thì không nghĩ như thế. Hạng này tuy còn số ít mặc lòng, cũng mạnh bạo đứng ra chống cãi với tất cả dư luận sai lầm trong xứ; ráng sức khuyên can ai nấy chớ có coi thường Tây phương là mọi rợ mà nguy. Quốc dân hăm he muốn đánh ngoại nhân, thì hạng thức giả tỏ bày lợi hại, bảo đừng có chọc ghẹo đánh lộn với người ta mà thua chết. Dư luận xướng lên chủ nghĩa “Nhương di” um sùm; hạng thức giả cố giảng giải cái chỗ không thể nào “nhương” được đâu, tất phải giao thiệp đón rước người ta, để lượm lặt lấy những chỗ hay của họ mà bổ vào chỗ dở của mình mới đặng.

Rồi ít năm sau, vụt một cái thời thế nhân tâm xoay đổi như chớp nhoáng, người Nhật thay đổi tư tưởng, mạnh bạo duy tân, đó là nhờ có số ít thức giả mở trí tỉnh hồn trước mà khuyên lơn dìu dắt hết thảy quốc dân vậy.

Cái thế biến từ trong biến ra có nguồn gốc mối manh như vậy đó.

Người Hòa Lan, trong những thuở có một mình họ được Mạc phủ rộng dung cho ra vô buôn bán, họ hay thân cận với đám học thức hữu chí ở Nhật Bản và có công chỉ dẫn cho đám này về học thuật Tây phương nhiều lắm. Đến năm 1854 trở đi, Nhật Bản khai quốc với Mỹ rồi, các nhà truyền đạo và các nhà bác học Mỹ bắt đầu sang Nhật, phần nhiều có lòng sốt sắng rộng rãi, giao tiếp với người Nhật một cách ôn hòa niềm nở, khiến cho bọn chí sĩ trong nước lân la thân cận mà được mở mang về trí thức mới rất nhiều. Hạng chí sĩ về sau ra hoạt động chính trị và có công lao lớn trong cuộc duy tân, được phong Bá tước, như Đại Ôi 大隈[Ookuma], như Phúc Đảo 福島 [Fukushima], như Hậu Đằng [後藤 Gotou], đều nhờ có sự tác thành ban đầu của người Mỹ nhiều lắm.

Ngoài ra, các ông cố đạo Thiên Chúa tầm ngầm giúp ích cho cuộc tấn hóa của Nhật Bản cũng nhiều. Ông thì chỉ vẽ khoa học, ông thì giúp đỡ giáo dục nọ kia, đều là làm ích dạy khôn cho người Nhật; biết bao thanh niên hữu chí, nhờ có công ơn khai đạo thế ấy mà hóa ra bực anh tài. Lại cũng vì đó mà thành ra người Nhật không còn nghi ngờ thù ghét đạo Thiên Chúa như xưa nữa, rồi trở nên có tục tốt tự do tín ngưỡng và ít lâu nhảy vọt lên trên đài duy tân.

Ấy là cái thế biến ở ngoài biến vào, làm gốc nguồn mối manh cho lịch sử nước Nhật mới vậy.

❀ ❀ ❀

[1] . Pierre Corneille (1606-1684), nhà viết kịch, nhà thơ lớn của Pháp. (BT)

[2] . Đến giờ con cháu họ Đức Xuyên vẫn được triều đình trọng đãi, quốc dân kính tôn. Con của Khánh Hỉ là Đức Xuyên Gia Đạt 徳川家達 [Tokugawa Iesato] được lập tước công, hiện có một lúc làm Nghị trưởng viện Quý tộc.

[3] . Nhiếp quan 摂官 [sekkan] hay Quan bạch 官白 [kambaku], đều là chức phẩm rất cao của triều đình phong cho vị tướng quân Mạc phủ.

[4] . Tức cuộc nổi dậy của Nghĩa Hòa Đoàn năm 1900. (BT)

[5] . Nguyễn Thuật, làm chức Tán tương quân vụ ở đời vua Hàm Nghi, sau bỏ nước đi qua Nhật Bản rồi về ẩn cư bên Tàu; tạ thế chừng ngoài mười năm nay. Cụ chính là nhạc phụ của Tôn Thất Thuyết. [Có lẽ tác giả bị nhầm, ở đây phải là Nguyễn Thiện Thuật mới chính xác. (BT)]

[6] . Thực dân lược địa (殖民掠地): Dời dân mình đi ở nơi khác kiếm ăn và cướp lấy đất nước của người ta.

[7] . Phố hiến lúc đó là tỉnh Hưng Yên ở Bắc Hà bây giờ, nhiều người các nước Hòa Lan, Y Pha Nho, Bồ Đào Nha, Nhật Bản… tới lập tiệm bán buôn đông đảo vui vẻ. Sự phồn ba của Phố hiến chỉ thua có thành Thăng Long tức là kinh đô Hà Nội mà thôi, bởi vậy thuở ấy ta có câu phong dao: “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố hiến”.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.