Nhật Bản Duy Tân 30 năm

Lượt đọc: 98 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương IX. VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

❊ ❊ ❊

Về văn hóa tư tưởng, Nhật Bản có chứa cái kết thai lâu đời chẳng phải tầm thường, văn hóa tư tưởng nào họ cũng thâu góp, cảm thụ của người, nhưng rất khéo lựa chọn, khéo dung hòa, khéo lọc hay bỏ dở để cho thích hợp và hữu dụng với mình, thành ra đến lúc văn hóa tư tưởng Thái Tây sang Đông, họ biết đón rước vồ vập lấy liền.

Nhiều người ngó thấy Nhật Bản sinh ra được đứa con duy tân tự cường giống Âu châu như đúc khuôn, tưởng vậy là Nhật Bản nhờ công ơn khí bẩm của Âu châu truyền cho hết thảy.

Mà người ta không tưởng vậy sao được; vì chứng cớ hình tích là những cơ khí, cửa nhà, xe tàu, y phục cho đến chính trị, lý tài, kinh tế, quân sự kia, nhất thiết là của Âu châu sản sinh, vậy thì đứa con Nhật Bản duy tân, chẳng phải con của Âu châu thì còn ai?

Nếu chỉ xét người ở ngoài da, thì vậy đó là phải rồi. Nhưng, chưa chắc mỗi ai có khí bẩm Âu châu truyền cho, cũng duy tân tự cường được, Trung Quốc từ thế kỷ XVIII, đã có nhiều người Tây phương lui tới, đem những cái hay của họ sang cho mà thấy, sao Trung Quốc không văn minh hùng cường đi? Cũng như nước Nam mình đời Gia Long, có những người Pháp tài nghề chuyên môn là Olivier, là Chaigneau, qua đây đóng tàu đúc súng, xây thành luyện quân ở ngay trước con mắt mình, sao mình không giỏi văn minh hùng cường đi?

Tại sao?

Chỉ tại Trung Quốc với mình như chị đàn bà khô khan yếu đuối, trong mình không có những cái tính chất có thể cảm thọ khí bẩm tốt lành của người ta để sinh sản ra tốt lành.

Trái hẳn lại, Nhật Bản từ xưa chẳng những đã chứa sẵn nhiều tính chất phát dục chín chắn tốt lành, mà ngay đứa con văn minh hùng cường cũng đã nằm sẵn trong thai nghén của họ rồi, vừa đúng lúc ngày đầy tháng, thì Âu hóa tới rước nó ra, chớ không phải Âu hóa đem trọn đứa con đẻ sẵn cho Nhật Bản đâu! Khác nào hột giống cây quý tự người Nhật đã gieo nó dưới đất rồi, Âu hóa như trận mưa phải thời, tự nhiên nó nảy mầm đâm nhánh lên vậy.

Một bậc danh nhân trong thời đại Minh Trị, nông học kiêm pháp học bác sĩ là Tân Độ Hộ Đạo Tạo 新渡戸稲造 Nitobe Inazou ví dụ Âu hóa có công như là cô mụ, rất có ý vị:

“Âu hóa đối với nước Nhật chúng tôi không khác gì chuyện cô mụ hộ sinh đối với một đứa nhỏ trong thai, đến ngày đến tháng, cô mụ tới đỡ cho nó chui ra đời. Nếu Âu châu có công với sự tiến hóa duy tân của chúng tôi, tức là cái công của cô mụ hộ sinh đó. Nghĩa là đứa nhỏ cứng cáp tốt lành đã có sẵn trong thai nghén của chúng tôi rồi, chỉ nhờ Âu hóa tới làm người hộ sinh, khiến cho người mẹ sinh ra đứa nhỏ được mau chóng hơn, dễ dàng hơn, và ít quằn quại đau đớn. Bảo rằng đứa nhỏ do chúng tôi sinh ra đó là của Âu châu ban cho hết thảy thì sai lắm. Rút lại mà nói: Nhật Bản có nhờ Âu châu là để cho cái sức có sẵn nơi mình, được mau phấn phát, tấn tới theo thời vậy”.

Câu nói nghe như hơi quá tự phụ, nhưng quả là chứa đầy sự thật.

Về văn hóa tư tưởng, Nhật Bản có chứa cái kết thai lâu đời chẳng phải tầm thường. Nhất là văn hóa tư tưởng nào họ cũng thâu góp, cảm thụ của người, nhưng rất khéo lựa chọn, khéo dung hòa, khéo lọc hay bỏ dở để cho thích hợp và hữu dụng với mình, thành ra đến lúc văn hóa tư tưởng Thái Tây sang Đông, họ biết đón rước vồ vập lấy liền. Trên con đường này, trước khi muốn thấy dấu chân họ ở chặng sau, ta dòm sơ lại bước đi của họ ở mấy chặng trước thử xem.

Sự thật, Nhật Bản đã sẵn có một cái thai văn hóa kết tinh lâu rồi.

Muốn xét cái thai văn hóa của Nhật Bản, đầu hết phải xét từ tôn giáo mà đi.

Thật, quả như lời của ông giáo sư Félicien Challaye đã nói: “Chính là tôn giáo đã vạch rõ ra những tính chất cốt yếu của nền văn hóa ấy, khiến cho nó có vẻ lạ khác người ta, có linh hồn riêng của nó. Nó ảnh hưởng tới tư tưởng, tính tình và công việc của người Nhật làm một cách rất sâu xa; chính tôn giáo đã giúp ý tưởng cho họ nảy ra văn chương, ra mỹ thuật, làm nên khuôn mẫu cho tất cả những điển chương phép tắc tổ truyền; chính tôn giáo đã làm cho rung động và ngày nay cũng vẫn còn rung động sự sống bề ngoài cũng như sự sống bề trong của người Nhật.” (Ce sont les religions qui ont déterminé les caractères essentiels de cette civilisation, lui ont donné son originalité, son âme. Elles ont profondément agi sur les idées, les sentiments et les actes de Japonais; elles ont inspiré leur lictérature et leurs arts, modelé toutes les institutions traditionnelles; elles ont animé et elles animent encore leur vie extérieuse comme leur vie intérieuse).

Từ thuở nước Nhật cổ, có ba nền đạo lớn, vẫn là những đạo cốt yếu của nước Nhật kim ngày nay: Thần đạo, Khổng giáo, Phật giáo.

THẦN ĐẠO

Ở chương thứ nhất, độc giả đã thấy một đoạn nói người Nhật tin tưởng nước họ là Thần quốc, do Thần dựng lên, đức Thiên hoàng là con cháu, dòng dõi của vị Thần tôn nghiêm cao quý hơn hết, đời đời truyền nối trị vì, không ai được xâm phạm, không hề có sự thay đổi bao giờ. Tự nhiên Thần đạo 神道 [Shindou] (shinstoisme) là đạo gốc, có từ lúc Nhật Bản mới thành dân tộc, mới lập quốc gia trở đi.

Đây, cần nói thêm về Thần đạo, nhất là những điều trước kia chưa nói, vì có quan hệ với vấn đề văn hóa.

Ta nên phân biệt: Thần của người Nhật, không phải Thần như của Tàu và nước Nam ta, phàm ai sống khôn thác thiêng, được người ta lập đình miếu thờ tự và có nhà vua sắc phong là Thần thì mới là Thần; cũng không đồng nghĩa với Thánh (Saint) ở đạo Gia-tô, thường là những người xưa kia tận trung với đạo Chúa hay là tử tiết vì đạo, về sau được Tòa thánh ở La Mã phong Thánh thì mới được là Thánh.

Thần đạo ở Nhật Bản cốt nhất là sự tưởng nhớ kính thờ các Gia Di 加彌 [Kami], tức là anh linh của những người qua đời. “Hết thảy những kẻ chết đều thành Thần”, ấy là lời của nhà chí sĩ ái quốc 平田 篤胤 [Hirata Atsutane] (1776-1843), đứng ra xướng minh Thần đạo, gây nên một phong trào vừa có chủ nghĩa tôn giáo quốc gia; vừa có tôn chỉ chính trị ái quốc; chính cái phong trào đó về sau kết cuộc là Mạc phủ phải dâng trả quyền chính của Thiên hoàng và mở ra thời kỳ Minh Trị duy tân vào năm 1868 vậy.

Căn bản của Thần đạo tóm tắt lại ở sự tin tưởng này: anh linh của kẻ chết vẫn quanh quất ở giữa kẻ sống; vẫn đi về lui tới nhà cửa con cháu; tuy ở trong cõi thiêng liêng vô hình mà vẫn kiểm xét tính hạnh đạo đức và dự phần vào những cảnh vinh nhục vui buồn của kẻ đang sống luôn luôn. Vẫn biết rằng cõi Thần cũng như cõi người, có hạng xấu tốt nên hư, nhưng mà hết thảy những kẻ đã chết, đều có quyền sức thiêng liêng tác oai tác phúc cho người sống được. Giữa người sống với kẻ chết vẫn có sợi dây quan hệ liên lạc với nhau.

Kẻ chết cần dùng người sống tưởng nhớ kính thờ để cho vong linh được yên ổn sung sướng trên cõi thiêng liêng. Còn người sống phải nhờ kẻ chết che chở phò trợ cho mình ở đời.

Có nhiều hạng Thần: Thần của gia đình là anh linh của cha mẹ, ông bà, tổ tiên, thờ tự bàn thờ trong nhà; Thần chung của làng xóm, thờ ở đình miếu hương thôn; tới Thần chung cả nước là anh linh của các đấng anh hùng hào kiệt, chí sĩ, danh nhân, mà trên hết là anh linh của tổ tiên đức Thiên hoàng. Cho đến trời, đất, cây, đá, các đồ dùng về nghề nghiệp, mỗi sự vật đều có Thần giám đốc chủ tể nữa.

Cái gốc luân lý ở xã hội Nhật Bản xưa nay cũng thế, là ở gia đình. Ông Lafcadio Hearn làm giáo sư ở Đông Kinh trong lúc Minh Trị duy tân, vô dân Nhật, ở nước Nhật luôn 40 năm, biết rõ người Nhật đến tận móng tay kẻ tóc, muốn chỉ tỏ cái đại cương của gia đình luân lý Nhật Bản bằng câu này đúng lắm: “Gia đình là một tôn giáo, nhà cửa con cháu ở là một đền thờ”. (La famille est une religion, le home (la demeure familiale) un temple).

Xứ mình lâu nay, thấy có nhiều nhà ấy là nói những người không phải theo đạo Thiên Chúa đã dẹp bàn thờ ông bà đi, chớ ở Nhật Bản, nhà nào cũng có, từ nhà các ông tể tướng, nguyên nhung, cho đến nhà của thường dân lao động. Vì đó là một dấu tỏ ra con cháu cung kính tưởng nhớ ông bà tổ tiên, thường thường khấn vái cúng kiến. Họ cho rằng mình đây có thân hình, cửa nhà, có sự nghiệp; hay là bất cứ sự vật gì, đều nhờ ông bà cha mẹ ban cho, nên mình phải luôn tưởng nhớ kính thờ mới được. Huống chi là tổ tiên vẫn dòm thấy công việc ta làm, vẫn nghe mỗi lời ta nói, vẫn thấu lòng dạ ta, vẫn xét đoán ta; nếu ta ở đời mà cư xử hành vi đến can danh phạm nghĩa, để cho anh linh tổ tiên sầu tủi, thật là ta mắc một tội rất lớn.

Trong gia đình, Thần đạo buộc có kỷ luật nghiêm minh: con phải hiếu thảo vâng lời cha mẹ, vợ phải kính nể chồng, em phải nghe lời anh, kẻ dưới phải phục tòng người trên. Luật nghiêm ấy phải có chỗ bù chế lại, là nghĩa vụ giúp đỡ lẫn nhau, buộc những kẻ trên phải lo lắng, phải cứu vớt, phải an ủi, phải tư trợ cho sự sống của kẻ dưới được thong thả êm đềm.

Ngoài luân lý gia đình, tới luân lý hương tộc, Thần đạo nghiêm cấm những kẻ cùng ở một làng xóm, cùng chung một họ hàng, không được gây gổ chửi rủa nhau. Lúc có hoạn nạn như trộm cướp cháy nhà thì phải tương cứu. Ai ở trong làng mà phạm tới luân lý hương tộc đại khái của Thần đạo như thế, đều bị người ta khinh khi, ruồng bỏ, đến đỗi muốn lập gia đình không được, rồi phải bỏ làng mà đi phiêu lưu.

Trên gia đình và hương tộc, là quốc gia. Thần đạo dạy người ta suy rộng tấm lòng con hiếu cha từ ra trung quân ái quốc, làm người phải biết trọng danh dự, trọng khí tiết, khinh tài trượng nghĩa, dầu phải vì danh dự vì quốc gia mà chết bỏ mình đi, cũng đừng thèm sợ tiếc. Võ sĩ đạo, độc giả xem trên xa kia đã biết, là đạo gì, chính là một chi nhánh nảy từ luân lý quốc gia của Thần đạo mà ra đó.

Sở dĩ Nhật Bản là một dân tộc chuộng sự thanh khiết nhất đời, cũng là do phận sự của Thần đạo bắt buộc. Họ nói Thần ưa sự thanh khiết, cho nên mỗi người nào kính thờ tưởng nhớ Thần, luôn luôn phải giữ tâm mình và thân mình cho thật trong sạch; không vậy thì Thần không gần gũi mình, không chứng giám phò trợ cho mình. Người Nhật vẫn lấy chỗ tập tục thanh khiết của Thần đạo bắt buộc họ mỗi ngày mỗi giờ mỗi giây mỗi phút như thế là chỗ đặc biệt tự cao; không như tục lệ người Tàu đến khi sắp có cúng tế mới lo trai giới mộc dục (ăn chay, kiêng cữ, tắm gội), bởi vậy là dấu tỏ ra bình thường không thanh khiết. Người Ấn Độ lúc làm lễ Phật phải xông hương; đạo Gia Tô xức dầu thơm trước khi tụng kinh làm lễ, đều là cách mượn vật che thân.

Cái đặc sắc của Thần đạo, là một nền luân lý đạo đức, chớ không có những lễ nghi phiền phức như các đạo khác, mà chỉ cốt có một tấm lòng thành. Họ lấy lòng thành là nòng cốt mực thước của mọi đức hạnh; lấy đó mà thờ Thần, lấy đó mà ăn ở với người, tấm lòng lúc nào cũng như nước trong, như gương sáng.

Tấm lòng thành đó lúc gặp Nho giáo Phật giáo truyền tới, tức thời biết đón rước dung hòa và lựa lọc cái hay của người rồi đẽo gọt lại trở nên cái hay của mình; tới sau có văn hóa Thái Tây tràn sang, họ cũng tỉnh ngộ ngay về chỗ hay dở, về sự cần dùng mà tiếp lấy tức thời, không chần chờ do dự đến đỗi nguy vong như ai.

NHO GIÁO

Nho giáo ở bên Tàu truyền qua nước Nhật, vào khoảng Ứng Thần Thiên hoàng 応神天皇 [Oujin Tennou] năm thứ 16, chiếu theo Tây lịch, nhằm năm 285.

Ban đầu Nho giáo sang Nhật, xã hội Nhật chẳng hề bị xảy ra mảy may nhiễu loạn nào, không như lúc đầu của đạo Phật và đạo Gia Tô mới truyền bá, lòng người ngờ vực, mới cũ ganh nhau, đến đỗi đổ máu.

Tại sao?

Tại đạo Nho dạy những thuyết phần nhiều phù hợp với Thần đạo và tập tính của người Nhật.

Thiệt vậy, Thần đạo dạy người ta phải hiếu kính cha mẹ, thờ tưởng tổ tiên, phải trọng lễ nghĩa đạo đức, phải trung quân ái quốc… thì đạo Nho cũng vậy. Cho nên người Nhật đón rước đạo Nho một cách vui vẻ êm ái, để tô điểm thêm vẻ tốt đẹp cho nền văn hóa của họ.

Nguyên là đời Ứng Thần Thiên hoàng, có mấy vị sứ thần của nước Bách Tế (tức Cao Ly bây giờ) qua Nhật Bản, đem theo Ngũ kinh Tứ thư dạy cho người Nhật, đạo Nho truyền qua từ đó. Lần hồi nhà vua mở trường đại học ở kinh sư, và truyền lệnh mỗi nước chư hầu lập một quốc học, đặt ra những chức bác sĩ, trợ giáo để dạy Nho học cho dân. Nhờ vậy mà sức truyền bá của đạo Nho càng ngày càng thịnh.

Có một lúc Nho học ở Nhật đã suy vi, nhưng đến đầu thế kỷ XIII (theo Tây lịch) nhờ có mấy ông thầy chùa đem học thuyết Tống Nho truyền qua Nhật, bấy giờ Nho học ở Nhật lại bắt đầu phấn chấn. Nhờ họ Đức Xuyên lên làm tướng quân, thống nhất trong nước, là người trọng Nho, thành ra văn học và Nho giáo trở nên có thế lực.

Ở bên Tàu, khoảng giữa đời nhà Tùy, nhà Đường, Phật giáo thịnh hành quá, gần muốn làm tiêu Nho giáo. Sau nhờ Tống nho cứu vớt lại. Trong Tống Nho, lãnh tụ là Chu Tử (1130-1200), khéo lấy tinh thần của Phật giáo mà thay lông đổi cốt, xướng lên những thuyết lý khí tâm tính, khiến cho Nho giáo sắp nguy lại quật lên có thế lực. Thuở Hán Đường, nhà nho hay câu nệ với những câu nói của thánh nhân, thành ra Nho học thiếu mất khí sống; đến nhà nho đời Tống không vậy, cốt lấy tinh thần mà giải thích đạo Nho, nói rằng tấc lòng của thánh nhân mình không cần phải dò kiếm ở mấy ngàn năm trước làm gì; trái lại, chỉ nên dò kiếm ở ngay trong tim, trong óc mình là thấy. Nhờ Tống Nho phát minh cái thuyết tính lý như thế mà Nho giáo lại có hoạt khí, và Nhật Bản hoan nghênh Tống học là hoan nghênh thứ Tống học đó.

Học phái Chu Tử đẻ ra ở Nhật Bản có nhiều tay đại nho, có công to với nền giáo dục trong nước.

Song cũng có phái Cổ học nổi lên, chê Tống học xen lộn thuyết Phật vô, làm sái mất cái chân nghĩa của Khổng Tử đi, cho nên họ muốn tìm suốt đến nguồn Khổng giáo, để giữ hệ thống chính quyền. Phái này cũng nảy ra lắm bậc danh nho bác học.

Rồi có học phái Chiết trung, nghĩa là ở giữa hai phái trên đây.

Đến lúc bên Tàu có Vương Dương Minh 王陽明 [Ouyoumei] (1472-1528) xướng lên thuyết lương tri 良知 [Ryouchi], chính người Tàu không biết quý chuộng hoan nghênh, mà nhà nho ở Nhật lại đón rước một cách vui mừng nô nức. Đại khái học thuyết Dương Minh lấy lương tri làm gốc, hễ lương tri (tức là lương tâm) của con người ta tìm tòi suy xét một việc gì mà biết nó là hay, là phải, thì cứ việc mạnh bạo thực hành, không ngần ngại gì cả. Chính là một học thuyết chuộng sự thực hành, đào luyện cho người ta giàu về tinh thần thực hành vậy.

Người hoan nghênh học thuyết Dương Minh đầu hết ở Nhật Bản là Trung Giang Đằng Thụ 中江藤樹 [Nakae Touju] một bậc cự phách trong Chu Tử học phái. Đến lúc tuổi già ông ta mới biết học thuyết Dương Minh là hay, tức thời bỏ học thuyết Chu Tử rồi ở Cận Giang 近江 [Oumi] dạy học trò, hết sức xướng lên thuyết Lương tri, nói rằng con người ta chỉ học suông thì vô vị lắm, học phải lo chính mình thực hành mới là có ích, vậy thì chỉ duy có cái đức lương tri là có thể biết rõ năng tính của mỗi người và có thể thấy rõ sự thực tại của cõi đời.

Đằng Thụ nổi tiếng là Cận Giang thánh nhân 近江聖人 [Oumi Seijin], lôi kéo được số khá đông sĩ phu biết bỏ Chu học là cái học chỉ chuộng lý tưởng mà quay về Dương Minh học là cái học ganh đua thực hành.

Lúc Nhật Bản rục rịch khai quốc duy tân, đám chí sĩ trong nước xôn xao hoạt động, muốn mưu ích lợi cho quốc gia mà rủ nhau ra sức hô hào mở mang văn minh mới, trong đó nhà nho chiếm số rất nhiều. Nhà nho hào kiệt có tiếng lớn công to với cuộc duy tân, như Hoành Tỉnh Tiểu Nam 横井小楠 [Yokoi Shonan] (1809-1869), Tá Cửu Gian Tượng Sơn 佐久間像山 [Sakuma Shouzan] (1811-1864), Cát Điền Tùng Âm, Tây Hương Long Thịnh… đều là người của phái Dương Minh. Phái này tuy có số ít, nhưng đẻ ra được anh hùng hào kiệt nhiều hơn. Trong khi phái nho Chu học bo bo cố chấp và xướng lên những thuyết “tỏa quốc nhương di” (khóa các cửa biển lại, chống cự người Tây phương ra vô) thì phái nho Dương Minh biết sự mở cửa đón Tây, duy tân tự cường là sự cần dùng cấp bách. Vậy cho biết cùng là Nho giáo mà biết lựa chọn học thuyết hay dở, nó quan hệ đến cuộc mất còn suy thịnh của một quốc gia dân tộc lắm thay! Thiệt, dân tộc Nhật Bản biết đón rước văn hóa học thuật phương Tây, không phải không nhờ có chỗ dưỡng dục sẵn sàng từ trước; chỗ đó Nho giáo chiếm một phần rất lớn, nhất là Nho giáo theo thuyết Dương minh.

Ta lại nên nhìn biết trong khoảng một ngàn mấy trăm năm, Nhật theo Nho giáo, là chỉ ham chuộng nghiên cứu những cái tinh ba triết lý của Khổng Tử, chớ không rước lấy những cặn bã là hư văn khoa cử của bọn nho Đường Tống bày ra. Đã vậy mà họ lại biết nhân Hán tự để chế tạo ra một thứ văn tự riêng của mình, không chịu làm nô lệ Nho học Hán văn một cách tuyệt đối như các đệ tử khác. Đó là hai cái đặc sắc học Nho của họ, mà chính hai cái đặc sắc ấy dự phần công lao rất lớn vô cuộc duy tân vậy.

Đến đời duy tân trở đi, Nho giáo bị học thuật Tây phương lật đổ, làm cho tiêu mòn, nhưng đó chẳng qua chỉ là hình thể Nho giáo mất đi mà thôi, chớ tinh thần Nho giáo thì người Nhật họ còn giữ mãi trong tâm não và sự giáo dục của họ, lấy cái tinh thần ấy để bù chế vào chỗ thái quá của văn minh vật chất Tây phương. Vả lại, Nho giáo là một dấu tích văn minh cổ thời của Đông phương, và chính Nhật Bản có chịu ảnh hưởng sâu xa, thành ra không khi nào họ bỏ tinh thần Nho giáo. Ta xem trong chương trình đại học của Nhật Bản, vẫn có một khoa Nho học Hán văn, và trong xã hội vẫn có những tay học vấn chuyên môn nghiên cứu và tuyên truyền những triết lý của Khổng Tử; mỗi năm ở văn miếu thờ Khổng Tử vẫn giữ lễ tế tự long trọng như thường. Họ ra sức chủ trương và dẫn nhiều chứng cớ bày tỏ ra rằng Nho giáo có lắm chỗ đi đôi với khoa học đời nay, mà không chống chọi nhau gì hết.

PHẬT GIÁO

Phật giáo truyền sang Nhật Bản vào khoảng thế kỷ VI Tây lịch, tự Cao Ly truyền của Trung Quốc rồi đem qua Nhật.

Các tôn giáo khởi lên ở Ấn Độ, đại khái đều gốc ở quan niệm quốc gia và nhân dân; duy có Phật giáo là một tôn giáo rộng cả thế giới, tự phát lên một vẻ mới lạ tốt đẹp, thành ra nó dễ tràn lan truyền bá ra đến nửa phần thiên hạ.

Phật giáo truyền bá ra hai ngả khác nhau. Một là phái Tiểu thừa 小乗 [Shoujou] hay Hīnayāna, người ta cũng gọi là Nam tông 南宗 [Nanshuu], thịnh hành ở các xứ Tích Lan và Miến Điện. Một là phái Đại thừa 大乗 [Daijou] hay Mahāyāna, người ta cũng gọi là Bắc tông 北宗 [Hokushuu], thịnh hành ở nước Tàu và Trung bộ châu Á. Đại khái hai phái hơi khác nhau về chỗ tin tưởng niết bàn (nirvãna); Nam tông chủ trương rằng người ta có thể tới niết bàn do nơi công phu tu luyện và ý chí tự do của mình; nhưng Bắc tông chủ trương phải nhờ có sức thiêng liêng cứu độ giải thoát nhiều hơn là nhờ ý chí tự do.

Chính Phật giáo Đại thừa đó Cao Ly đem sang Nhật Bản hồi thế kỷ VI. Lúc mới truyền qua, Phật giáo bị Thần đạo chống chọi công kích dữ lắm. Nhưng sau những nhà thâu truyền Phật giáo khéo thay đổi một chút cho thích hợp và không động chạm tới lòng tín ngưỡng Thần đạo của người Nhật, bấy giờ Phật giáo mới thịnh hành truyền bá ở dân gian Nhật Bản.

Nhất là từ thế kỷ thứ IX trở đi, Phật giáo có ảnh hưởng sâu xa đến văn hóa Nhật Bản đủ các phương diện. Tư tưởng triết lý, chính trị, giáo dục, mỹ thuật, công nghệ, kiến trúc, công cuộc xã hội từ thiện… nhờ sức cảm hóa và sức thâu thập của Phật giáo mà mở mang tấn tới lạ thường.

Cho đến văn học thi ca cũng vậy. Thứ chữ riêng của Nhật Bản gọi là Phiến giả 仮名 [Kana], gồm có 50 âm, lấy gốc ở văn pháp của chữ Phạn; còn chữ mới là Bình giả 平仮 [Hiragana], sự sắp đặt có ngụ giáo lý của Phật giáo mà làm thành ra ca dao, tục ngữ, kịch bản, thi văn. Tóm lại, gọi là tinh túy của cổ văn học Nhật Bản đều nhờ đạo Phật cảm hóa mà ra.

Từ thế kỷ IX cho tới trước ngày duy tân 1868, Phật giáo rất có thế lực, hầu như quốc giáo của Nhật Bản; rồi sau đó Phật giáo mới tách riêng quốc gia và trở nên một Tôn giáo tự do quan hệ nhất ở xã hội Nhật Bản đến nay.

Phật giáo ngay từ khi mới vô nước Nhật trở đi, đã chia ra nhiều tôn phái, nhưng tôn phái nào cũng đóng góp vô cuộc xây dựng văn hóa tốt đẹp rất nhiều, và không nhiễm phải những cái lưu độc của bọn háo sự bày đặt ra như các nơi khác. Cũng như đón rước Nho giáo, người Nhật đón rước Phật giáo cũng chỉ cầu lấy cái chân tinh thần làm gốc, chính cái chân tinh thần đó phát huy ra văn hóa rực rỡ cho họ. Văn học bác sĩ Cao Nam Thuận Thứ Lang 高楠順次郎 [Takakusu Junjirou] đã nói không sai:

“Phật giáo qua Nhật không bao lâu mà phổ biến cả trên dưới, ai nấy đều hâm mộ quy hướng. Chẳng những Phật giáo cảm hóa đạo đức người Nhật mà thôi, lại có vang bóng rất sâu xa tới mọi việc chính trị, giáo dục, văn học, công nghệ, mỹ thuật. Tóm lại, nền văn hóa xưa của nước Nhật, do Phật giáo vun đắp mở mang cho phần nhiều.

Có một điều nên nói cho rõ, Phật giáo ở các nước trên đại lục kia, người ta đều quên sót cái tinh thần khởi nguyên của nó, chỉ vồ vập lấy những nọc đọc mối tệ là nhiều. Duy có Nhật Bản có cái tính riêng, đối với văn vật xứ ngoài truyền vào, biết lựa chọn tinh hoa, thảy bỏ cặn bã, rồi nhồi nắn lại, cho vừa hợp với quốc tình của mình. Thì tinh thần của Phật, gặp được sự lựa chọn nhồi nắn đó, mà nảy được chân tướng ra. Cho nên Phật giáo của Nhật không phải là Phật giáo của Ấn độ, cũng không như Phật giáo của các nước Trung Quốc, Miến điện, Xiêm La, Việt Nam. Các xứ này đều trúng độc, duy có Nhật là giữ được tinh thần khởi nguyên của Phật mà thôi”.

TÓM LẠI ẢNH HƯỞNG CỦA BA ĐẠO THẦN, NHO, PHẬT

Tới đây tưởng độc giả đã thấy rõ rằng: tư tưởng, luân lý, phong tục, tính tình, chính trị, học thuật, mỹ nghệ, nhất thiết những cái hợp lại thành ra một nền văn hóa riêng của Nhật Bản sẵn có từ xưa, đều lấy ở trong nguồn ba đạo lớn là Thần đạo và Nho giáo, Phật giáo mà ra.

Về văn học, kho sách xưa của Nhật chứa đầy những sách có giá trị của các bậc danh nho, cao tăng viết ra, đủ các môn loại: triết lý, tôn giáo, kịch bản, thi ca, sử ký... Có ông soạn tới sáu bảy chục bộ sách. Đời xưa, họ đã thịnh hành in sách truyền bá khắp trong dân gian, chớ không phải viết sách ra để dành làm riêng của mỗi nhà.

Về mỹ thuật, kiến trúc, hội họa và điêu khắc, những tay thợ khéo đời xưa lưu lại thiếu gì kiểu nhà đẹp, thiếu gì bức tranh vẽ tuyệt bút, thiếu gì đồ chạm trổ thêu dệt có công phu tinh tế lạ lùng. Nhà mỹ thuật Tây phương ngó thấy cũng phải thán phục.

Những vẻ đặc biệt về sự sống vật chất và sự sống tinh thần, như thanh khiết, giản dị, lễ phép, tình quyến luyến gia đình, yêu mến quốc gia nồng nàn cực độ và cái thiên tính ưa cảnh tự nhiên, cũng là chịu ảnh hưởng ba đạo Thần, Nho, Phật.

Tập tục vệ sinh sạch sẽ của Nhật Bản, thật không phải là thứ nhập cảng từ Âu châu, cũng không phải ở bên Tàu truyền qua; nó là tập tục sẵn có tự nhiên ở dân tộc Nhật Bản, do nơi Thần đạo bắt buộc mỗi người tin Thần kính Thần phải giữ thân thể và tâm não trong sạch luôn luôn, thì Thần mới phù hộ, chứng giám.

Tính ăn ở giản dị, có phần tại lẽ kinh tế, vì Nhật vốn xứ nghèo, có phần tại vẻ mỹ quan của người Nhật rất ghét thói xa hoa, chỉ chuộng sự đẹp thanh tao, đơn giản, nhất là vì đạo Thần và đạo Nho đều dạy người ta phải quý trọng giữ gìn những sự sản của ông bà đã khó nhọc gây dựng lên mà lưu lại cho mình; mình không có quyền được hoang phí sự sản ấy đi một cách ích kỷ.

Nói gì sự lễ phép của người Nhật khắp thiên hạ đều biết. Còn tinh thần ái quốc của họ thôi thì tuyệt phẩm. Chính vì tấm lòng ái quốc nồng nàn, người Nhật buộc mình cái nghĩa vụ phải đóng góp tâm lực vô công cuộc duy tân nước mình để cho nước cũng mới mẻ, cũng hùng cường như Âu Mỹ. Ai được chứng kiến trận Nhật Nga chiến tranh đủ ghê tướng sĩ Nhật yêu nuớc đến đỗi khinh sống liều chết ra thế nào. Sau hết, đến tấm lòng tự phụ nước non mình là Thần quốc và yêu mến phong cảnh thiên nhiên một cách thâm thiết, làm cho tâm não người Nhật cao thượng, đối với sự sống có vẻ hớn hở tươi cuời hiện ra trên nét mặt luôn luôn. Ông giáo sư Lafcadio Hearn đã nói cái nụ cười của người Nhật là một sức mạnh lạ lùng, thiêng liêng. Thiệt vậy, nụ cười như hoa nở tối ngày trên môi; vui sướng mà cười đã đành, lúc rầu buồn giận dữ, lúc cầm dao tự mổ bụng mình mà nụ cười vẫn tươi vẫn có mới kỳ.

Thế là Nhật Bản sẵn có một nền văn hóa, sẵn có những cốt cách văn hóa lâu đời rồi, không phải mù mờ hèn thấp gì; đến lúc tư tưởng học thuật Thái Tây sang Đông, họ thấy cần dùng thì tự nhiên đón rước và cũng dung hóa như xưa kia đã đón rước dung hóa đạo Nho đạo Phật vậy. Hèn chi họ nói: “Đứa con văn minh, chúng tôi đã chửa sẵn nó trong thai, Âu châu các ông tới chỉ như cô mụ đỡ giùm cho nó ra đời, chớ không phải bản lai chúng tôi tối tăm ngu dại, rồi nhờ có văn hóa các ông thì chúng tôi mới có văn hóa đâu”.

ÂU HÓA CỦA NHẬT BẢN

Nhật Bản bỗng chốc sửa sang thay đổi mọi việc, mới theo phương Tây, tự mắt người ngoài dòm vào cho là sự lạ lùng, còn chính họ là người trong cuộc, chỉ cho là sự tự nhiên. Nguyên lai dân tộc họ từ xưa vẫn có tính hăm hở mạnh bạo bắt chước những cái hay của người ta rồi khéo dung hòa uốn nắn cho hợp với chỗ cần dùng của mình, thành ra lúc trước ngó thấy Nho giáo, Phật giáo có chỗ hay, họ vội vàng đón rước cũng như bây giờ ngó thấy văn minh Âu châu hay, tự nhiên họ cũng vội vàng đón rước, không lạ gì.

Có điều ta nên nhìn biết rằng thuở xưa dân tộc Nhật Bản ở dưới chế độ phong kiến, có bị áp chế là áp chế về hình thức bề ngoài thôi, chớ về tư tưởng học thuật, dân họ vẫn tự do dùi mài lượm lặt theo ý họ muốn, nhà cầm quyền muốn ngăn cấm cũng chẳng ngăn cấm được. Thì đời Mạc phủ Đức Xuyên, đằng đẵng 300 năm khóa cửa tuyệt giao với người ngoài, nhất là với giáo sĩ Tây phương, tức là đời Đông là Đông, Tây là Tây chưa gặp nhau mấy, lại nghiêm cấm nhân dân cầu học ngoại nhân, thế mà cũng có những người Nhật, hoặc lén bỏ nhà vượt biển ra ngoài mà dọ xét sự tình thiên hạ, hoặc lò mò tới Trường Kỳ học hỏi nơi mấy người Hòa Lan mua bán tại đó mà biết chữ Hòa Lan, biết những thuật chữa bệnh, đúc súng, trị quân, xây thành của Âu châu. Thử xem giữa lúc nhà nước cấm học Âu học mà Nhật Bản còn cầu kỳ háo dị như thế, có lạ gì đến lúc chính nhà nước cần dùng đổi thay lối mới, nhân sĩ họ chẳng ùn ùn đổ theo Âu hóa, phát khởi chóng mà thành hiệu mau!

Cũng đem cái tinh thần khéo biết chọn lựa dung hóa là tinh thần sẵn có từ xưa, họ đón rước chọn lựa Âu hóa: nước nào ở Tây phương có món sở trường thì họ lọc lấy món sở trường ấy, mà tẩy đi món nào xem ra là sở đoản và không lợi cho quốc tình, không hợp cho gia dung của họ, chớ không phải vùa càn quơ bướng hết thảy. Ví dụ lục quân hóa theo Đức, tư tưởng dân quyền tự do hóa theo Pháp, hải quân và chế độ lập hiến hóa theo Anh, công nghệ kiến trúc hóa theo Mỹ. Nhiều môn khác, họ trộn chung những cái hay của người ta, rồi lọc ra lấy một cái hay nào hơn hết để mà theo. Họ Âu hóa những triết học, chính trị, pháp luật, giáo dục, cơ khí… theo kiểu lọc bột vậy đó.

Cuối thế kỷ trước, Nhật Bản bắt đầu Âu hóa, nhiều người Âu châu nghe tiếng hay là ngó thấy, đều ra dáng kiêu ngạo, nhăn mặt phì cười. Có phái cho Nhật Bản là thứ người Đông phương lạc hậu, số phận đày vậy muốn ti toe Âu hóa sao cho nên thân. Một nhà ngoại giao, tên gì tôi quên, đã nói: “Nhật Bản kim thời là một bản dịch sơ sài. Le Japon moderne, c’est une traduction mal faite”. Ngay danh sĩ Pierre Loti chớ phải ai không mắt tinh đời, cũng nói Nhật Bản Âu hóa như một tuồng hát khỉ của mấy chú khách Sơn Đông! Có một phái khác thì tưởng Nhật Bản Âu hóa một cách tuyệt đối đến làm tiêu hết dấu tích Nhật Bản cổ thời.

Cả hai phái đều tưởng sai sự thật.

Phái trên đợi đến kết quả Nhật Nga chiến tranh, tự biết mình bậy rồi: Nhật họ Âu hóa nên thân, chớ không phải là tuồng hát khỉ.

Còn phái dưới chỉ ngó bề ngoài mà nói, tới chừng dòm xa vô bề trong một chút, họ phải thấy sự thật hiển nhiên này: Những cái mà cậu Nhật kim thời muốn bảo tồn dấu tích nước Nhật xưa, còn nhiều hơn là những cái mà cậu đã mượn và muốn mượn của Âu châu đời nay.

Thật vậy, cũng như ngày họ Nho hóa, Phật hóa, ngày nay Nhật Bản không Âu hóa nhất thiết đâu.

Họ vẫn giữ cái cốt cách xưa của họ về sự sống vật chất, như nhà cửa, vật dụng, ẩm thực, y phục; cả cái cốt cách xưa về sự sống tâm linh, như phong tục, các thói quen, các cuộc giải trí… Cho đến nghệ thuật xưa, luân lý xưa, tôn giáo xưa, họ vẫn bảo thủ y nguyên mặc dầu Âu hóa.

Họ không trọn vẹn bắt chước văn minh Âu châu cho tới nhất thiết cái gì ngộ nghĩnh hơn hết, đặc biệt hơn hết, thâm thúy hơn hết. Không, không mặc dầu phải Âu hóa còn nhiều, người Nhật vẫn so sánh phán đoán mình Âu châu thô lỗ, không được sâu sắc lý thú bằng cổ văn minh của họ.

Thế mà họ vẫn phải Âu hóa, là vì sự cần dùng bắt buộc, thời thế bắt buộc, tấm lòng độc lập tự tôn của họ bắt buộc.

Coi mấy chương ở trên đầu sách, độc giả đã biết Nhật Bản khóa cửa tuyệt giao từ thế kỷ XVII, đến giữa thế kỷ XIX, người Tây phương đem sức mạnh tới hăm dọa, biểu họ phải mở cửa ra trước mặt của sức mạnh, Nhật Bản phải tuân lệnh. Bấy giờ cả nước rung động như sấm vang núi chuyển; họ biết rằng sống bằng lý tưởng thanh cao không đủ, sức mạnh tuy họ gớm ghiếc, nhưng mà cần dùng. Nước họ tuy có trình độ tinh thần, nghệ thuật và tôn giáo khá cao, nhưng không thể ỷ thị có bấy nhiêu đó mà sống đối với đời này; nếu họ không làm sao cũng có sức mạnh về quân sự, về kinh tế, về cơ khí, về công nghệ như người ta, thì bề nào cũng bị ngoại nhân mạnh hơn kéo tới lấy họ làm mồi để trên dao thớt; họ sẽ đứng vào hàng nô nhan thuộc địa của Âu châu.

Sự sống và cách sống của họ xưa nay họ quý chuộng mến yêu lắm, không thể nào rời bỏ; họ đoán biết thân mình nếu rủi để cho ngoại nhân tới nước họ làm chủ, họ sẽ buộc mình đổi thay mất sự sống và cách sống riêng đó, cho tới tính tình, phong tục của tổ tiên để lại cho, cũng không sao giữ nguyên vẹn được đâu. Huống chi non nước của Thần, dòng dõi của Thần, lẽ nào để ai xa lạ đâu tới nuốt sống và nhấn chìm xuống cho đành. Vậy thì, cho được giữ nguyên văn hóa tổ truyền, họ muốn họ vẫn tự do độc lập, cho được tự do độc lập, họ muốn trở nên hùng cường, cho được trở nên hùng cường, họ phải bắt chước phỏng theo ít nhiều món của cái văn minh Âu châu kia đã lấy sức mạnh mà ấn đại vô nhà họ.

Những chế độ học thuật gì của Âu châu mà họ xem ra Âu châu được hùng cường độc lập bởi đó thì họ bắt chước phỏng theo có bấy nhiêu thôi. Ngoài ra, chính họ cũng sẵn có những món không kém thua ai, còn hay hơn nữa không chừng.

Ta nên hiểu cái chủ nghĩa, cái thâm tâm của Nhật Bản Âu hóa là thế.

Trước hết, họ mượn của Âu châu những cơ quan mới lạ, cần dùng cho việc hộ vệ non nước, là lục quân và hải quân. Cho được giao thiệp bằng vai ngang bậc với các nước Âu Mỹ và chỉ tỏ ra họ cũng là một quốc gia văn minh tân thời, họ bèn Âu hóa những chế độ chính trị và pháp luật. Cho được làm nên công cuộc duy tân lớn lao, về xã hội, về quân sự, về kinh tế, tất nhiên phải cần nhiều tiền, họ bèn vay mượn tiền bạc của các nước Tây phương để dựng lên đại thương mãi và đại công nghệ theo Âu hóa. Cho được Âu hóa các chế độ cơ quan trong nước, Âu hóa cả thương mãi, công nghệ, quân sự; cho được tự mình đào luyện ra cho mình có những tướng, những quân, những quan tòa, những thầy thuốc, những kỹ sư, mỗi mỗi như Âu châu, Nhật bèn mở mang sắp đặt một khuôn khổ giáo dục mới, một phần dựa vào khoa học Âu châu làm gốc.

Hết thảy những sự bắt chước đó đều phát động ra bởi cái ý chí kiên cường của người Nhật muốn trở nên mạnh để vẫn được tự do, vẫn được tự do để giữ lấy lối sinh hoạt riêng, tư tưởng riêng của mình từ xưa. Thì ra Nhật Bản chỉ Âu hóa để đương đầu với Âu Mỹ cho dễ và để vẫn là Nhật Bản cho dễ đó thôi.

Bởi vậy, phần nhiều cái họ Âu hóa chỉ như bao phủ lơ thơ một lớp bề ngoài; lắm người Âu Mỹ thật thà không biết, tưởng đâu là Nhật họ Âu hóa không nên thân, Âu hóa như hát khỉ; chớ kỳ thiệt họ chủ tâm Âu hóa một cách có chừng vậy đó. Đến nay cũng thế, Âu hóa trải 70 năm dư, mà nước Nhật kim thời vẫn ở bên cạnh với cổ Nhật Bản hơn là với kim Âu châu (En tout cas, aujourd’hui encore, le Japon moderne reste plus voisin du vieux Japon que de la moderne Europe. - Félicien Challaye).Có lẽ không một người Tây phương nào cho bằng ông giáo sư Lafcadio Hearn thấy rõ tới những lằn xếp ở trong trái tim khối óc của dân tộc Nhật Bản, là vì như trên kia đã nói ông ta sống làm giáo sư ở Nhật tới 40 năm, lại vô dân tịch Nhật, lấy tên Nhật là Koizumi Yakumo. Chính ông đã lấy những sự kinh nghiệm và kiến văn tận gốc của mình mà nói: “Âu hóa mặc lòng, Nhật Bản vẫn là Đông phương như ngàn năm trước”.

MỘT NGƯỜI BẢO THỦ

Muốn hình dung ra cái hiện tượng “hóa Tây giữ Đông” của dân tộc Nhật Bản. Ông giáo sư Lafcadio Hearn chép truyện một chàng thanh niên con nhà Thần đạo võ sĩ của Nhật ở giữa thế kỷ XIX, mà ông đặt tên là “Một người bảo thủ”.

Thuở nhỏ, anh này cũng phải chịu sự giáo dục nghiêm khắc như con nhà võ sĩ khác. Người ta rèn tập anh phải chịu đói chịu lạnh cho quen. Người ta dạy dỗ anh cái đạo lập thân xử thế, bất cứ gặp cảnh ngộ nào cũng phải ung dung trấn tĩnh, coi thường sự đau đớn khổ sở, xem khinh sự chết và đừng thèm sợ hãi gì hết. Bởi vậy, có bữa cách giáo dục lạ thay! người ta dẫn anh đi xem một vụ xử trảm, căn dặn khi ngó thấy gươm chém đầu rơi, không được rùng mình biến sắc chút nào. Trở về, anh phải ăn một chén cơm chan canh đỏ tươi như sắc máu. Đến đêm, người ta sai anh ra chỗ xử trảm ban ngày mà tìm cái đầu rụng đó đem về. Cả ngày, anh chàng hết giờ luyện tập võ nghệ, thì tới giờ nghiên cứu Hán văn, Nho học và những triết lý của Thần đạo, của Phật giáo. Không bao lâu, anh chàng trở nên một người vũ dũng, lễ độ, liêm khiết, hăm hở đem tấm thân của mình cống hiến cho nước, cho vua, cho đồng bào, cho danh dự.

Lúc này có đoàn tàu chiến của ngoại quốc ra vô phấp phới ở cửa biển Hoành Tân, Giang Hộ, hăm dọa bắt buộc Nhật Bản phải mở cửa thông thương. Chàng thiếu niên võ sĩ ta thấy tổ quốc bị khinh khi như thế, thì khí phẫn uất nổi lên đùng đùng. Nhưng không biết làm sao nhấn chìm cả đoàn tàu của kẻ nghịch đi, tối ngày chàng khấn vái Thần, Phật lấy phép linh xô đẩy ra khỏi bờ biển Phù Tang hay là dùng cách nào đánh chìm nó xuống đáy biển hết thảy. Cả dân tộc cũng đều một lời khấn vái như chàng vậy. Song đoàn tàu vẫn trơ trơ bất động; Thần, Phật làm ngơ. Liền đó, Mạc phủ tới. Triều đình, tự thú mình vô lực để chống lại sức mạnh của người Tây dương, bèn hạ lệnh cho nhân dân phải mau mau học lấy ngôn ngữ và học thuật Âu châu. Vì sự sinh tồn của quốc gia quan hệ ở đó; nếu không duy tân cải cách sớm lẹ, thì nguy cho nền độc lập của dân tộc quốc gia.

Chàng thanh niên võ sĩ ta liền đi học tiếng Anh ở một hải cảng bị buộc mở ra giao thông lúc bấy giờ; chàng háo kỳ, nên chăm chỉ nghiên cứu dọ hỏi cả những sự tình của các nước Tây phương. May sao gặp được một vị giáo sĩ Thiên Chúa thấy chàng là người chí sĩ, bèn đem lòng thương, dạy chàng học Thánh kinh. Chàng tự suy nghĩ trong trí, có lẽ tại người Âu châu có một nền luân lý rất cao, cho nên họ mới hùng cường quái lạ như thế kia chăng. Vì tấm lòng ái quốc sai khiến, chàng trở nên tín đồ Gia Tô và vẫn cặm cụi nghiên cứu những học thuật Âu Tây.

Lần hồi, chàng tự tỉnh ngộ và tin quyết rằng tinh thần khoa học chống chọi với đạo lý Gia-tô, và chống chọi với cả những tôn giáo tổ truyền Nhật Bản nữa. Bảo rằng có một ông Thượng đế chủ tể vũ trụ và linh hồn của mỗi người trường sinh bất diệt, thì làm sao mà tin cho được. Chàng nghĩ trong trời đất không có cái tính thiêng liêng nào hơn là cái tình người đối với người thì mới phải. Rồi đó chàng thôi không tín ngưỡng đạo Gia-tô nữa. Bây giờ, muốn phán đoán Âu châu cho đúng, chàng quyết đi du lịch quan sát Âu châu một phen.

Chàng qua ở quanh các nước Âu châu rất lâu năm, tự mưu lấy sự sống của mình, cho nên hết làm việc bằng tay thì làm việc bằng não, cốt để kinh nghiệm cho nhiều, và mắt ngó thấy mỗi sự vật gì, chàng cũng chịu khó tìm xét suy nghĩ đến nơi.

Thử hỏi sau cuộc du lịch quan sát đó, chàng thanh niên võ sĩ có cảm giác và phán đoán ra thế nào?

Té ra trước cặp mắt chàng xem xét, thì văn minh Âu châu có mở mang thông minh của con người ta một cách đáng sợ thật, nhưng nó vẫn thiếu giá trị về tinh thần. Cái chỉ tỏ ra đặc sắc của Âu Mỹ, chỉ là sức mạnh vật chất của họ tràn lan mở rộng ra một cách dữ dằn, do nơi một công cuộc cạnh tranh nhau gớm ghiếc mà ra. Sự sống là một đám vật lộn tranh ăn giữa đàn beo sói. Kẻ mạnh và kẻ khôn lanh làm cho thế giới thành ra địa ngục cho những kẻ hèn yếu. Thói xa hoa hoang phí vô độ của một bọn người bắt cả phần đông phải làm tôi mọi mà không biết thương hại một chút nào. Còn biết bao nhiêu con người ta khổ não tới nước những sự cần dùng thiết thân cho họ mà họ không có. Chỉ vì tính dâm lạc trong một vài giờ, mà thói kiêu căng của bọn giàu có nhai nuốt mất cả công lao nhọc nhằn hàng mấy chục năm. Rồi chàng nghĩ bụng: “Bọn ăn thịt người ở đời văn minh còn độc dữ bằng mấy bọn ăn thịt người ở chốn rừng rú, là vì chúng đòi thịt mãi, không biết bao nhiêu cho vừa!”

Mà hễ xã hội càng lớn lên chừng nào, thì vực thẳm hang sâu đau đớn khổ sở của xã hội đặt mình lên trên đó càng thêm sâu thẳm chừng nấy. Người Âu châu chỉ biết tôn trọng có sức mạnh mà thôi, coi sức mạnh như thần thánh; rõ ràng họ thờ phụng những vị thần bạo ngược đời xưa là Odin và Thor, mà đổi tên khác đi đó thôi. Cái thế giới đó không còn có đức tín gì hết.

Rồi thì anh Nhật Bản này cả quyết xuống tàu trở về tổ quốc đứng lên hô hào đồng bào dìu dắt quần chúng. Chương trình hành động của anh ta rất là đơn giản:

“Anh em chúng ta chỉ nên mượn của Âu châu những cái gì cần dùng cho sự hộ vệ tổ quốc ta mà thôi, còn thì ta vẫn phải giữ những cái tinh hoa của văn minh nước Nhật cổ mới được”.

Câu chuyện tóm tắt đại khái trên đây, thật khéo tả rõ ra cái chủ não Âu hóa của dân tộc Nhật Bản; nó không phải là tư tưởng cố chấp của một người đâu, chính là tấm gương chiếu rọi chung cả tinh thần dân Nhật vậy.

Quả thực, Nhật Bản họ chỉ cốt Âu hóa để cho dễ chống chọi với Âu châu và cho dễ còn y là người Nhật đó thôi.

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Trong thời đại duy tân, văn hóa Thái Tây vang dội đến cuộc sinh hoạt chính trị và xã hội Nhật Bản, có hai cái sức mới, thế lực rộng lớn: Xã hội chủ nghĩa và Phụ nữ vận động.

Xã hội chủ nghĩa truyền vô nước Nhật vào khoảng 1890, nghĩa là sau lúc thực hành duy tân mới được 22 năm.

Những tín đồ xã hội chủ nghĩa trước hết ở nước Nhật chính là những người Nhật tín đồ Thiên Chúa. Lúc nào nước họ luôn mấy trăm năm ngờ vực cấm tuyệt đạo Thiên Chúa, tới chừng khai quốc duy tân, họ lại lợi dụng ngay đạo Thiên Chúa và các ông cố đạo làm xe chở học thuyết nọ chế độ kia của Âu Mỹ đem qua cho họ.

Katamaya - nhà viết báo, Kinoshita - nhà văn học, Abe - cựu giáo sĩ và giáo sư, đều là người truyền bá xã hội chủ nghĩa đầu hết. Nhưng họ là người xã hội chủ nghĩa ôn hòa, chịu ảnh hưởng Tolstoi.

Có nhiều người khác tư tưởng mạnh bạo hơn, như Sakai, chủ trương phổ thông đầu phiếu và Kotoku, cộng sản, chủ trương lấy tổng bãi công làm khí giới để đối phó với tư bản.

Các nhà xã hội chủ nghĩa Nhật Bản hoạt động cũng hăng hái: nào là dịch những sách của Marx, Engels và Kropotkine, nào là mở ra những báo chí làm cơ quan truyền bá chủ nghĩa xã hội, nào là tổ chức ra các cuộc mít tinh, nào là xướng khởi nhiều vụ bãi công. Kể tới tháng Chạp năm 1904, xã hội chủ nghĩa mới hoạt động có 14 năm, mà họ bán được 15.000 cuốn sách dịch của Âu châu, 200.000 tờ báo, 39.000 tập sách cổ động, 120 cuộc đại hội và lập ra nhiều chi bộ ở trong 11 nơi có thợ khai mỏ và xưởng công nghệ lớn lao.

Ban đầu chính phủ còn dung dưỡng, nhưng sau thấy chủ nghĩa xã hội có cái phong trào vận động cộng hòa, tức là có ý nghĩa phản đối, cách mạng, xâm phạm bất kính với quyền tuyệt đối của đức Thiên hoàng. Bấy giờ chính phủ mới ra tay trừng trị: tịch thu, hủy đốt những sách của Marx; các báo xã hội hơi nói quá một chút đều bị phạt vạ rất nặng, các ông trợ bút chủ nhiệm thường bị kêu án tù năm mười năm, còn nhà in thì bị tịch biên mất.

Sức đè xuống càng nặng, thì sức bùng lên càng nhiều. Năm 1910, vợ chồng Kotoku và mấy chục bạn đồng chí xã hội chủ nghĩa rủ nhau sắp đặt ám sát Minh Trị Thiên hoàng và khởi loạn. Nhưng cơ mưu bị bại lộ; họ đều bị bắt. Ngày 24 janvier năm 1911, hai vợ chồng Kotoku và mười người nữa bị xử tử.

Dầu bị trừng trị cấm ngăn mặc lòng, đảng viên xã hội Nhật Bản vẫn hoạt động, vẫn tuyên truyền, nhất là trong đám thợ thuyền, cho tới thanh niên học sinh và hạng trí thức vô sản cũng quy hướng chủ nghĩa xã hội rất nhiều.

Bắt đầu từ năm 1807, thợ mỏ ở Trường Kỳ bỏ việc, nắm đầu ông chủ và hai người lính cảnh sát mà đánh gần chết, từ đó trở đi thợ thuyền Nhật Bản, chịu ảnh hưởng xã hội chủ nghĩa, có tổ chức thành ra liên đoàn hẳn hoi và tổ chức ra những cuộc đình công luôn luôn. Thợ thuyền đàn bà cũng vậy.

Tinh thần cách mạng càng ngày càng bồng bột.

Bởi vậy các nhà cầm quyền ở Nhật Bản vẫn lo sợ phong trào cộng sản tràn lan qua nước mình. Họ phải chiếm cứ Mãn Châu và tính xâm đoạt cả nội, ngoại Mông Cổ nữa, là cốt đóng đường chặn ngõ cộng sản qua nước Nhật đó.

Nhiều người Âu châu xem xét tình trạng Nhật Bản rồi nói trước rằng rồi đây thế nào cũng thực hành một chế độ cộng sản mới, chế độ cộng sản Thiên hoàng làm chủ, để cho được điều hòa tấm lòng người ta trung thành với cuộc dĩ vãng và tấm lòng hâm mộ những sự mới lạ đời nay.

Kỳ thực, dân Nhật chỉ mượn chủ nghĩa xã hội để làm khí giới đối phó với những tay quý phái, nghiệp chủ, phú gia, không đè nén ức hiếp họ được nữa thôi, chớ không khi nào trong tâm não họ mất được cái tinh thần trung nghĩa sùng bái Thiên hoàng. Vụ âm mưu của hai vợ chồng Kotoku đã nói sơ trên kia chỉ là chuyện muôn ngàn thuở vậy thôi. Từ đó tới nay gần ba chục năm trời, thỉnh thoảng vẫn có một vụ âm mưu hay ám sát có mục đích chính trị chớ chẳng không, nhưng chỉ là đối với quan liêu chính khách mà phát ra, còn đối với Thiên hoàng, dầu kẻ gây biến làm phản tới đâu cũng vẫn là đặt cao trên đầu, coi như “thần thánh bất khả xâm phạm”.

PHỤ NỮ VẬN ĐỘNG

Địa vị gia đình và xã hội của đàn bà Nhật xưa kia cũng bó buộc thấp thỏi như chị em nhà Nam chúng ta vậy. Cũng y như mình, sợi dây luân lý nghiêm khắc trói buộc họ không biết là mấy vòng: tứ đức, tam tòng, chức nghiệp, tiết tháo... vòng nào cũng riết chặt lạ lùng. Đến đỗi đàn bà phải thờ Trinh nữ đạo (貞女道) thiêng liêng như đàn ông phải thờ Võ sĩ đạo; một chương trên xa kia đã nói.

Song, tới lúc quốc gia dân tộc bước vào cõi duy tân, mọi việc ùn ùn sửa đổi theo ảnh hưởng văn hóa Thái Tây, tự nhiên địa vị phụ nữ cũng vậy.

Đồng thời với xã hội chủ nghĩa, phụ nữ vận động cũng xuất hiện ở Nhật. Nhờ nơi phụ nữ tự giác mạnh bạo, mà cũng nhờ nơi công cuộc Minh Trị giáo dục xô đẩy phần nhiều. Độc giả đã thấy trong tờ sắc lệnh thề nguyền duy tân của Minh Trị, việc quan hệ nhất là việc quốc dân giáo dục, trai gái cũng thế.

Phụ nữ giáo dục vừa mới gây dựng mở mang theo cách thức Thái Tây được mười lăm năm, liền có phụ nữ vận động nổi lên. Các cô có học thức mới, nhất là các cô đi du học Âu Mỹ về, xúm nhau tổ chức hoạt động, và có khi yêu cầu ra mặt nữa, cho địa vị và quyền lợi đàn bà được sửa đổi theo thời.

Họ muốn sửa đổi ít nhiều khoản ở trong luật pháp, phong tục, mà triều đình chính phủ phải chiều theo. Bởi vậy trong bộ Dân luật mới thảo giữa hồi duy tân, sự yêu cầu của đàn bà được thỏa mãn, như là nhất định một vợ một chồng, bỏ hẳn thói tục đa thê ngày trước, lại cho đàn bà cũng được có sản nghiệp riêng, và có quyền như đàn ông được đứng lên xin ly hôn vì lẽ chồng có ngoại tình.

Về mặt chức nghiệp, họ cũng được thỏa nguyện và được bình đẳng với đàn ông; nghĩa là các ty các sở, bất cứ công tư, đều mở rộng cửa cho viên chức đàn bà. Họ cũng đậu đốc tơ, mở bệnh viện, hay là làm trạng sư ngang vai đồng bậc với đàn ông.

Duy có về mặt sửa đổi phong tục và luân lý gia đình, chị em bên Nhật đã phải nhiều phen lao tâm khổ tứ, kêu gào chống chọi lắm mới được. Họ không chịu cái lối hôn nhân “cha mẹ đặt đâu ngồi đó” nữa. Nhiều cô ra mặt phản kháng gia đình, không chịu lấy anh chồng do cha mẹ hay gia đình lựa chọn, mà các cô không biết mặt mày tâm tính và không thể nào thương. Ngoài đường, người ta thấy nam nữ học sinh dắt tay nhau đi lại tự nhiên; cái luân lý “nam nữ thụ thụ bất thân 男女授受不親” của thói Nho xưa, các cô đã hất đi xa lắc. Trong nhà, kính chồng chiều chồng đã đành, nhưng anh chồng lăm le ràng buộc các cô bằng những sợi dây luân lý hà khắc như xưa, thì các cô “cách mạng” ngay, không chịu bị ép một bề.

Âu hóa vang dội thành ra phong trào phụ nữ vận động ở Nhật trong thời kỳ duy tân đại khái như vậy đó.

Phụ nữ vận động lúc bấy giờ có nhiều tay kiện tướng đứng ra xung phong đột trận, sốt sắng kêu gào. Nổi tiếng thứ nhất là cô Ume Tsuda, giáo sư trường Quý tộc nữ tử học hiệu, đã nhiều lần thay mặt chị em đi dự mấy cuộc Phụ nữ thế giới đại hội ở Âu châu và Mỹ châu.

Họ lập ra nhiều báo chí làm cơ quan cho phụ nữ vận động, làm chủ và viết bài toàn là đàn bà.

Có mấy cô có tư tưởng cấp tiến, muốn nhập phụ nữ vận động và xã hội chủ nghĩa làm một, để nâng cao địa vị của phụ nữ bình dân và sinh kế quyền lợi của họ; không phân giai cấp. Phụ nữ vận động trải qua thời gian không mấy, mà thâu được kết quả khá nhiều; ngoài ra những kết quả vật chất, người ta thấy tinh thần tự do và bác ái nhiễm sâu trong óc của các hạng phụ nữ Nhật, giàu sang nghèo hèn không còn là hàng rào cách biệt như xưa. Rất đỗi có những cô con gái quý tộc, thà bỏ địa vị sang giàu, thà bị bôi tên trong sổ quý phái, để tự do kết hôn với một anh học trò nghèo, hay là một chú thợ bình dân.

KINH TẾ LÝ TÀI, CÔNG NGHỆ, THƯƠNG MÃI ĐỀU ÂU HÓA

Mấy việc kinh tế, lý tài, công nghệ, thương mãi, chẳng phải nhờ có ảnh hưởng Thái Tây dội qua Nhật Bản mới có, mới biết đâu. Chỉ có thể nói rằng nhờ ảnh hưởng Thái Tây khiến cho Nhật Bản mở mang sửa đổi những việc ấy trở nên mới mẻ rộng lớn, theo thời đại và theo Thái Tây.

Thật vậy, người Nhật thuở xưa đã từng sinh tồn về công nghệ, ham chuộng ganh đua về công nghệ. Họ có nhiều món công nghệ đặc biệt của họ. Nhất là mấy món đại công nghệ như dệt sơn, chạm, vẽ, họ vốn có căn cơ và đặc sắc lâu đời. Thương mãi cũng vậy.

Thì năm sáu trăm năm trước người Nhật đã vượt biển qua buôn bán ở Ấn Độ, Nam Dương quần đảo, Xiêm La, Việt Nam, các xứ ở quanh phương Đông, không mấy xứ không có dấu cẳng vết chân của chú lái buôn Nhật, ganh đua mạo hiểm và thương lợi với người Tàu. Nước ta, giữa đời nhà Lê, miền Bắc có Phố hiến (thuộc tỉnh Hưng Yên bây giờ) là thành phố buôn bán tụ tập các ngoại thương, bên cạnh những tiệm buôn của người Hồng Mao, người Hòa Lan, người Tàu, có những tiệm buôn của người Nhật. Miền Nam, thuở họ Nguyễn làm chúa, ở Hội An (Faifo, tỉnh lỵ Quảng Nam bây giờ) cũng có người Nhật tới mở tiệm mua bán, nhiều cậu lấy vợ An Nam đẻ con rồi chết chôn ở đó, mồ mả đến nay vẫn còn dấu tích. Có lần một chiếc ghe buôn của họ gặp sóng gió đánh chìm ở hải phận ta, hình như Mạc phủ Nhật Bản lấy nghĩa bang giao tương trợ, viết thơ qua cầu triều đình nước Nam giúp sức đóng giùm cho những người sống sót kia một chiếc ghe để họ về xứ. Họ phải ở lại chầu chực cả năm, quan ta và thợ mộc ta không sao đóng nổi chiếc ghe to lớn để vượt biển khơi như họ được. Nhắc mấy chuyện này lại cho biết xưa kia người Nhật từng chuộng thương mãi và mạo hiểm thông thương ra thế nào rồi.

Cho đến cơ quan lý tài, ta gọi là nhà băng hay ngân hàng, không phải đợi tới giữa thế kỷ XIX, nước Nhật cổ thời đã có những nhà ngân hàng lớn, sắp đặt theo cách cha truyền con nối. Xưa gọi là Tiền trang (銭莊 Sensou), nghĩa là một nơi đổi chác gửi gắm tiền bạc để mua bán, thì chính công việc nhà băng ngày nay.

Nổi tiếng nhứt là Tiền trang nhà Tam Tỉnh 三井 [Mitsui], tổ tiên của nhà triệu triệu phú Tam Tỉnh ở nước Nhật bây giờ, làm chủ không biết bao nhiêu là nhà băng, xưởng tàu, mỏ than và những công ty buôn bán lớn, người ta gọi là ông vua lý tài ở nước Nhật, sản nghiệp có lẽ giàu hơn ông vua dầu hỏa Rockefeller ở Hoa Kỳ nhiều. Đường Chaigneau ở Sài Gòn ta đây, ai đi qua để ý chắc thấy một nhà treo bảng “Tam Tỉnh dương hàng” 三井洋行 [Mitsui Youkou] thì là một chi nhánh của nhà Mitsui, hầu khắp thế giới đều có chi nhánh.

Nhà Tam Tỉnh mở ra công cuộc buôn bán lớn lao ở kinh đô (Kyoto, nơi đóng đô của vua Nhật hồi xưa) từ thế kỷ XVI. Qua đến thế kỷ XVII, nhà này khéo sắp đặt cách thức giao dịch chở chuyên tiền bạc khắp trong nước Nhật. Cuối thế kỷ XVII, Mạc phủ Đức Xuyên phó thác việc kiểm soát lý tài cho nhà Tam Tỉnh. Tục lệ nhà này, cha truyền con nối, trông coi sản nghiệp và càng ngày mở mang thêm giàu thêm lớn ra mãi; sự kinh doanh và giàu lớn đã có trước khi Âu hóa sang Đông. Đến thời kỳ Minh Trị duy tân, nhà Tam Tỉnh sắp đặt sửa sang lại công cuộc kinh doanh đồ sộ của nhà mình theo cách Âu Tây.

Xem sơ như vậy, là độc giả đủ thấy trước hồi Minh Trị duy tân, nước Nhật từng có trí thức riêng và căn cơ thực lực riêng của họ về kinh tế, lý tài, công nghệ, thương mãi rồi đó.

Nhờ có trí thức và căn cơ sẵn sàng đó, thành ra đến lúc Âu châu qua xông đại vô nhà Nhật Bản mà đánh thức họ vùng dậy, quanh quẩn không có bao nhiêu năm, đại công nghệ, đại thương mãi, đại lý tài của xứ họ mở mang xây dựng lên đồ sộ lạ lùng. Thì nền móng có sẵn rồi, họ chỉ có việc xây cao đắp rộng ra bằng vật liệu mới và nhân công mới thôi. Nếu như canh nông và tiểu công nghệ, tiểu thương mãi còn thấy những dấu tích quang cảnh Nhật Bản cổ thời, nhưng kể toàn thể, người ta có thể nói rằng tình hình kinh tế hoạt động ở nước Nhật đã Âu hóa, Mỹ hóa, tân thời hóa một cách sâu xa lắm.

Bởi sự thế không vậy không được; Nhật Bản phải Âu hóa từ kinh tế lý tài cho đến thương mãi công nghệ xứ họ, cũng như họ đã Âu hóa cả những lục quân hải quân, chính trị luật pháp vậy. Ngay lúc mới bắt tay vào cuộc duy tân, họ háo thắng và phấn phát lạ lùng: “Hễ Âu Mỹ có thứ gì thì ta cũng phải có thứ nấy, tổ chức như họ, hùng cường như họ, có thế mình mới tự lập và tranh hành với thiên hạ được”.

Bấy giờ, phần nhiều là các ông phiên vương chư hầu trả đất nạp quyền lại nhà vua nhất thống rồi, đem vốn liếng tiền bạc ra lập những nhà máy nọ, hãng buôn kia, kinh doanh các cuộc thương mãi công nghệ lớn lao. Từ năm 1872 trở đi, nhà băng dựng lên như nấm mọc, để giúp vốn cho người ta mở mang chế tạo buôn bán. Nhưng ban đầu, mọi việc kinh tế lý tài do sức dân và của dân hùa nhau sắp đặt xây dựng mặc lòng, nhà nước vẫn có quyền xem xét, chỉ bảo, dìu dắt, tức là thực hành chính sách “Kinh tế chỉ huy” (Economie dirigée). Bên cạnh Minh Trị Thiên hoàng, có một hội đồng cố vấn làm việc đêm ngày, gồm những người cẩn thận sáng suốt và chuyên môn về các vấn đề kinh tế, ngồi đó suy nghĩ tìm tòi, làm như ngồi cầm lái, để sai khiến cả bộ máy kinh tế trong nước.

Chủ ý nhà nước buổi đầu cốt trông nom chỉ dẫn cho dân, làm việc gì đều nên việc ấy, kẻo sợ có những người hấp tấp nóng nảy quá mà làm hư việc đi, không những hao tốn tài lực của mình đã đành, còn e tổn thương đến công cuộc duy tân của nhà nước nữa. Sau mười lăm năm kinh tế chỉ huy, nhà nước mới để dân tự do kinh doanh hoạt động. Một việc đó đủ chỉ tỏ cho người ta thấy công cuộc Minh Trị duy tân là một công cuộc sắp đặt, tính toán rất kỹ lưỡng chi li, không có một mảy nào bơ thờ quên sót vậy.

Trên kia đã nói Nhật phải nôn nao Âu hóa cả công nghệ thương mãi, là bởi sự thế bắt buộc không vậy không được. Sự thế bắt buộc để tranh hành với thiên hạ, mà cũng bắt buộc vì lẽ trăm công ngàn việc sửa đổi có liên lạc quan hệ với nhau, mà sự cần dùng hơn hết chính là tiền bạc. Thật vậy, cho được thực hành sửa đổi to lớn lạ lùng về quân bị, về chính trị, về giáo dục, như Nhật đã làm thành công kết quả đó, Nhật đã cần phải vung tay trút túi, xài những món tiền hao tốn gớm ghê, tự nhiên họ phải hối hả mở mang ra đại công nghệ và đại thương mãi theo như Âu châu, để có tiền bạc dồi dào làm việc duy tân.

Sự biến hóa cải cách như thế, chính là do nơi ý chí sắt đá của giống người Nhật muốn trở nên hùng cường như người ta cho mau, để mình vẫn được độc lập tự do như xưa vậy.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.