Giải mật Tây Du

Lượt đọc: 267 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7: Hai Nguyên Mẫu Của Ngưu Ma Vương

❊ ❊ ❊

 Ngưu Ma vương là nhân vật hiếm hoi được nhắc tới từ phần đầu tới phần cuối của Tây Du Ký. Hắn ta xuất hiện từ khi Tôn Ngộ Không đại náo thiên cung với vai trò đứng đầu Thất Đại thánh; rồi trong chặng đường thỉnh kinh cũng liên tục được nhắc tới ở các nạn Hồng Hài Nhi, sông Tử Mẫu và Hỏa Diệm Sơn. Một nhân vật được xây dựng kỳ công như vậy chắc hẳn phải mang nhiều ẩn ý của tác giả chứ không đơn thuần là một yêu quái cản trở thầy trò Đường Tăng.

Quả vậy, hình tượng Ngưu Ma vương không chỉ mang hơi hướm một cá nhân mà ít nhất được dựa trên hai nhân vật có thực trong dòng chảy lịch sử. Chúng ta sẽ lần lượt đi qua từng nguyên mẫu một.

1. Dịch kinh sư

Đầu tiên, chắc chắn không ai ngờ được Ngưu Ma vương là tác giả ám chỉ ngài Cưu Ma La Thập - người được hậu thế tôn xung là Dịch kinh sư (bậc thầy dịch kinh). Ngô lão dùng phép chơi chữ hài âm Ngưu Ma (牛魔) / Cưu Ma (鳩摩).

Trong lịch sử, ngài Cưu Ma La Thập (còn gọi tắt là La Thập) là con trai của công chúa em gái vua nước Quy Từ, lên bảy tuổi đã bắt đầu tu tập, mười hai tuổi học tập Phật giáo đại thừa, đạt được thành tựu cực lớn. Vua Phù Kiên nhà Tiền Tần mời ngài tới Trường An không được, bèn sai tướng Lữ Quang đánh Quy Từ bắt được ngài, lại lừa ép uống rượu say mà phá giới, cưới biểu muội là con gái vua nước Quy Từ, sinh hạ một nhi tử. Phù Kiên chết, Lữ Quang tự lập là Lương chủ, Cưu Ma La Thập ở lại Lương Châu truyền bá đạo Phật. Sau Hậu Tần Văn Hoàn đế Diêu Hưng sai tướng Thạc Đức đánh hạ Lương Châu, đón ngài La Thập về Trường An. Tại đây ngài dịch rất nhiều kinh sách sang tiếng Hán về truyền bá Phật giáo đại thừa. Về sau Trần Huyền Trang dịch lại nhiều kinh Phật gọi là Tân dịch mà các bản của ngài La Thập gọi là Cựu dịch.

Trong thời gian này, Diêu Hưng lại ép ngài phá giới. Tấn thư quyển 95 chép “Hưng thường nói với La Thập: ‘Đại sư sáng suốt ngộ đạo, thiên hạ chẳng có người thứ hai, sao không tìm cách lưu lại dòng giống kế thừa.’ Liền đem mười người kỹ nữ, ép phải nhận lấy.”

Ta thấy Ngưu Ma vương và Cưu Ma La Thập có rất nhiều điểm tương đồng:

a. Cùng theo đạo Phật: Tây Du Ký chép Ngưu Ma vương từng hiện nguyên hình là con bò trắng - ngoài hình ảnh của con bò Yak Tây Tạng, thì còn là ẩn dụ của con trâu trong bộ tranh Thập mục ngưu đồ rất nổi tiếng. Trong bộ tranh này, con trâu từ đen dần chuyển sang trắng, tới khi toàn thân đều trắng là biểu tượng của tâm thanh tịnh, vô cấu.

Sau khi bị Tứ đại Kim cương và cha con Lý thiên vương bắt được, liền xin rằng “Đừng hại mạng tôi, xin tình nguyện quy thuận nhà Phật!” Tô Như

b. Cùng cưới công chúa làm vợ: Ở đây Thiết Phiến công chúa là ngầm chỉ công chúa nước Quy Từ. Cái tên La Sát - một loại quỷ theo kinh Phật cũng mang ẩn ý là ác nữ, phá hoại đạo tâm của ngài Cưu Ma La Thập.

c. Cùng có con trai lưu lạc: Hồng Hài Nhi không ở cùng cha mà tác quái ở núi Hiệu là chỉ việc con trai của ngài La Thập ở lại xứ Quy Từ chứ không vào Trung Nguyên. Nó lại dùng vũ khí là cây Hỏa tiêm thương, ẩn dụ cho cái lưỡi hóa xá lợi của ngài Cưu Ma La Thập.

d. Cùng có hầu thiếp: Ngài Cưu Ma La Thập bị ép nhận kỹ nữ, nên Ngô Thừa Ân viết ả kia là Ngọc diện hồ ly là ý đó. Ngài La Thập tới Lương Châu rồi Trường An, không ở cùng công chúa nước Quy Từ, ứng với việc Ngưu Ma vương không ở động Ba Tiêu núi Thúy Vân, mà sang ở động Ma Vân, núi Tích Lôi.

e. Giao du với các bậc quân chủ: Ngưu Ma vương giao du với Long vương đầm Bích Ba, Cưu Ma La Thập qua lại với Lương chủ và Tần đế.

2. Đế vương trong lịch sử

Nguyên mẫu thứ hai là dựa trên sự pha trộn các cố sự Trần Huyền Trang ngoài đời thực với Tôn Ngộ Không trong tiểu thuyết, tình tiết không hiển lộ rõ ràng như trường hợp trên, nhưng độ trùng khớp các chi tiết cũng rất cao. Tác giả dựa trên một phần sự thực trên hành trình thỉnh kinh của Tam Tạng pháp sư để sáng tạo ra nhân vật tiểu thuyết của mình. Trên con đường sang tây, Trần Huyền Trang có gặp và kết nghĩa huynh đệ với vua nước Cao Xương là Khúc Văn Thái, nên trong Tây Du Ký cho Ngưu Ma vương là anh em kết nghĩa với Ngộ Không để ám chỉ nhân vật thực này. Cao Xương là nước có mùa hè rất nóng bức, hệt như mô tả về Hỏa Diệm Sơn. Đặc sản của nước này là quạt lá cọ, chính là ẩn dụ của cây quạt Ba tiêu.

Hai nhân vật nữ xuất hiện trong cuộc đời Ngưu Ma vương là Thiết phiến công chúa và Ngọc diện hồ ly cũng được xây dựng dựa trên nhân vật thật.

Liên quan tới Khúc Văn Thái và cuộc thỉnh kinh của Trần Huyền Trang có hai người phụ nữ, một là mẹ của Khúc, tức Trương Thái phi, hai là Vương phi Vũ Văn thị, vợ Khúc. Tác giả đã dùng Bà La Sát để ngầm chỉ Trương Thái phi và Ngọc diện hồ để chỉ Vũ Văn thị.

Tuy nhiên trong Tây Du Ký đã để quan hệ giữa Ngưu Ma vương và Bà La Sát cùng Ngọc diện hồ ly đều là vợ chồng. Tại sao lại có sự loạn ngôi thứ này? Kỳ thực ban sơ Trương Thái phi và Vũ Văn thị là ngang vai vế nhau. Cha của Văn Thái là Cao Xương vương Khúc Bá Nhã thỉnh nhà Tùy gả công chúa cho mình, Dạng đế liền đem Vũ Văn thị phong làm Hoa Dung công chúa và gả cho Bá Nhã. Sau Bá Nhã chết, theo tập tục người Hồ, con trai tiếp nhận kế mẫu làm vợ mình, nên Vũ Văn thị lại trở thành vợ của Khúc Văn Thái. Vũ Văn thị trước là vợ của cha, sau là vợ của con nên Ngô lão lấy hình tượng hồ ly tinh để ám chỉ sự lang chạ. Mà trong Tây Du Ký, ta thấy Ngưu Ma vương đối với La Sát cung cung kính kính, không thấy khí độ trượng phu mà giống như con trai sợ mẹ hơn.

Trong lịch sử, Trần Huyền Trang sang nước Cao Xương được Khúc Văn Thái đón tiếp trọng thể. Khi Huyền Trang muốn tiếp tục sang tây, họ Khúc níu kéo lưu giữ mãi không được bèn mời mẹ mình ra mặt để giữ Huyền Trang lại. Giống như trong Tây Du Ký, người cầm chân thầy trò Đường Tăng không phải Ngưu Ma vương mà chính là Bà La Sát. Một điểm tương đồng khác giữa Khúc Văn Thái và Ngưu Ma vương là người con trai. Hồng Hài Nhi là ẩn dụ chỉ Khúc Trí Thịnh, con Khúc Văn Thái. Năm Trinh Quán thứ 14, Hầu Quân Tập đem quân đánh Cao Xương, Văn Thái lo lắng sợ hãi mà chết, Trí Thịnh kế ngôi, chống không lại Hầu Quân Tập, phải đầu hàng nhà Đường, theo về Trung Nguyên được phong Tả võ vệ tướng quân, Kim Thành quận công, ứng với việc Quan Âm thu phục Hồng Hài Nhi làm Thiện tài đồng tử. Nếu so niên đại thì từ lúc Đường Tăng khởi hành là năm Trinh Quán thứ 13, thì kiếp nạn Hồng Hài Nhi cũng rơi vào khoảng chừng năm Trinh Quán thứ 14-15, tương tự như thời gian Khúc Trí Thịnh theo về với nhà Đường.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.