Giải mật Tây Du

Lượt đọc: 267 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3: Cha Mẹ Của Tôn Ngộ Không

❊ ❊ ❊

 Tây Du Ký hồi 1 viết về việc Mỹ hầu vương được sinh ra như sau:

Trên đỉnh ngọn núi này, có một tảng đá tiên cao đến ba trượng sáu thước năm tấc, xung quanh hai trượng bốn thước. Chiều cao ba trượng sáu thước năm tấc cùng hợp với vòng trời ba trăm sáu mươi lăm độ. Xung quanh hai trượng bốn thước, hợp với chính lịch hai mươi bốn khí. Trên có chín khiếu tám lỗ hợp với cửu cung bát quái. Bốn bề không có cây cối rủ bóng. Hai bên phải trái, chỉ rặt cỏ chi cỏ lan quấn quýt lấy nhau. Có lẽ từ khi tảng đá mới sinh ra, đã bẩm thụ khí thiêng của trời đất, tinh hoa của mặt trời, mặt trăng đã lâu, nên mới linh thông thế. Bên trong tảng đá chứa đựng một bào thai tiên. Một hôm tảng đá nứt đôi, sinh ra một quả trứng đá tròn, to bằng quả cầu, gặp gió hóa thành một con khỉ đá, đủ cả mặt mũi chân tay.

Nếu chúng ta chấp nhận một kết quả như trên, nghĩa là Tôn Ngộ Không do tảng đá bẩm thụ khí thiêng của trời đất mà sinh ra, không có bất kỳ âm mưu nào trong đó, vậy thì chương này đến đây là kết thúc, không còn gì để giải mật hay suy đoán nữa, chúng ta dừng ở đây. Nhưng tôi không chấp nhận một sự xếp đặt như vậy. Hy vọng rằng độc giả của tôi cũng không ít tính tò mò như vậy.

Tuy nhiên, cũng phải nói trước rằng giải mật Tây Du Ký thì lấy Tây Du Ký làm nòng cốt. Một kết quả mà dựa vào tình tiết của các bộ truyện khác sẽ không được đánh giá cao. Bởi Tây Du, bản thân nó đã là một thế giới đầy đủ. Cũng như các bộ tiểu thuyết khác, bản thân chúng cũng là một thế giới độc lập. Cho nên cùng một nhân vật thì xuất hiện trong các bộ truyện khác nhau sẽ có các sai biệt nhất định. Giải mật bộ truyện này dựa trên một hay vài bộ truyện khác hầu như là vô nghĩa. Chúng ta hãy cùng xem tác giả đã để lại mật ngữ về nguồn gốc Tôn Ngộ Không ra sao.

1. Luyện đá vá trời

Trong hệ thống thần quái Trung Quốc, hễ nhắc tới thần thạch thì đều quy về một mối: Nữ Oa luyện đá vá trời. Truyền thuyết cổ xưa của Trung Hoa viết rằng Thủy thần Cộng Công bị Hỏa thần Chúc Dung đánh bại, liền húc đầu gãy núi Bất Chu. Quả núi này vốn là trụ chống trời, nay gãy đổ khiến trời nghiêng đất lệch. Nữ Oa là thượng cổ thần, liền bay khắp cùng trời cuối đất, tìm đá ngũ sắc về luyện để vá trời.

Truyền thuyết lại kể rằng Nữ Oa trên núi Thiên Thai dùng chín chín tám mươi mốt ngày để luyện ra một tảng ngũ sắc thạch. Các thần đều tán tụng là tuyệt hảo, rồi bèn bỏ ra bốn năm liền luyện ra 36.500 tảng đá nữa, tổng cộng 36.501 tảng. Các thiên thần thiên tướng lại phụ giúp Nữ Oa dùng 36.500 tảng đá để vá trời. Rốt lại dư ra một tảng. Một tảng đá dư này hóa ra lại gây nên bao nhiêu sự rắc rối cho loài người, thời nhà Thanh nó sinh ra Thạch đầu ký (mà chúng ta biết tới với tên gọi Hồng lâu mộng), còn ở thời nhà Minh, nó lại đẻ ra một con thạch hầu.

Có một chút sai biệt về kích cỡ giữa hòn đá sinh ra Thạch hầu với tảng đá ngũ sắc mà Nữ Oa luyện. Truyền thuyết kể rằng ngũ sắc thạch của Nữ Oa cao 12 trượng, dài rộng 24 trượng trong khi tảng đá sinh ra Ngộ Không có kích thước nhỏ hơn nhiều. Chúng ta nên tạm hiểu con số 3 trượng 6 thước 5 tấc là ứng hợp với 36.500 tảng đá, còn dài rộng 24 thước cũng là hô ứng với 24 trượng. Đây là một phiên bản thu nhỏ, hay có thể là một góc sút ra từ tảng đá của Nữ Oa.

Với một chút dễ dãi cả tin như vậy, ta có giả thiết đầu tiên: Tôn Ngộ Không sinh ra từ đá do Nữ Oa luyện để vá trời từ thời thượng cổ. Nhưng khoan, Nữ Oa trong Phong Thần diễn nghĩa mới có chứ nhỉ? Trong Tây Du Ký có sao? Hay ta đang lẫn lộn Tôn Ngộ Không với Viên Hồng rồi ư?

May quá không nhầm lẫn gì cả, mà lại rất liên quan là đằng khác. Hồi thứ 35 Tây Du Ký viết Ngân Giác đại vương có nói: “Hồ lô của ta, từ lúc hỗn độn mới chia, trời khai đất mở, có một vị Thái Thượng lão tổ hóa thân thành bà Nữ Oa, luyện đá vá trời, cứu giúp đất trời đang trôi nổi, vá cho cả chỗ thiếu trên cung trời, thấy dưới chân núi Côn Lôn có một loại mây tiên, bèn lấy tết thành quả hồ lô vàng thế này. Đó chính là quả hồ lô của Lão Quân để lại cho tới nay.

Ngân Giác đại vương nguyên là tiểu đồng coi lò Bát quái của Lão Quân, lời nó nói về Lão Quân hẳn là tin được. Hóa ra Nữ Oa chính là hóa thân của Thái Thượng Lão Quân, mà Ngộ Không cũng từ một tay ấy nhào nặn ra. Khỉ con có thể vỗ ngực mà xưng “Cha ta là Lão Quân”, dọa chết khiếp bao nhiêu yêu ma quỷ quái chưa biết chừng.

2. Gậy Như ý

Trong chương Bí ẩn Kim Thiền Tử, chúng ta đã nhắc qua về việc Bồ Đề chỉ dạy cho Tôn Ngộ Không bảy mươi hai phép thần thông mà không hề dạy tu tâm dưỡng tính, cũng không phải đạo trường sinh bất tử mà Ngộ Không mong cầu, cho nên học thành đạo rồi mà Ngộ Không vẫn bị quỷ sứ câu hồi tới Địa phủ. Giống như các tiểu thuyết thần ma quỷ quái khác, cái làm nên bản lĩnh của một vị thần hay yêu quái không ngoài ba yếu tố: 1. Sức mạnh và phép thuật, 2. Vũ khí, 3. Pháp bảo.

Kết quả là ngoài Cân đẩu vân và phép phân thân là có chút hữu dụng thì thất thập nhị huyền công chỉ là trò phù phiếm hoa dạng, ít khi thấy có tác dụng thực chiến. Bồ Đề tổ sư cũng không ban cho Ngộ Không binh khí, bảo bối hay công pháp đặc biệt gì khác.

Không có binh khí thì sao? Tôn Ngộ Không trở nên yếu ớt tới đáng thương. Ngay trận đầu ra quân đánh nhau với hạng vô danh tiểu tốt là Hỗn Thế ma vương, Ngộ Không đã phải khá chật vật, xuất ra phép phân thân mạnh nhất: “Ma vương tức quá, vớ ngay đao thép, nhắm đầu Ngộ Không bổ xuống. Ngộ Không vội nghiêng mình né tránh. Ma vương chém hụt. Ngộ Không thấy hắn hung dữ, bèn lập tức dùng phép ngoại thân, nhổ một nhúm lông, bỏ vào miệng nhai nát vụn, rồi ngửa mặt phun lên trời, hô biến, tức thì hóa ra hai, ba trăm con khỉ con xúm xít xung quanh.”

Có nghĩa là tuy lão Tôn có sức mạnh, có võ nghệ không tệ, nhưng tay không khó đấu lại thanh đạo trong tay ma vương, nên phải vận phép phân thân để giành chiến thắng.

Khi đánh nhau với Độc Giác Tỷ, bị thu mất gậy Như ý, Ma vương cười nhạo rằng: “Con khỉ ấy bị ta cướp mất gậy sắt, tay không bất lực, chắc là hắn đi cầu viện binh tới.”

Hay ở Ngọc Hoa quốc, bị tiểu yêu tinh như Hoàng Sư ăn cắp mất binh khí là ba anh em đều hết phép, phải bày kế lừa đảo để đoạt lại binh khí trước rồi mới gây sự đánh nhau.

Dài dòng như vậy chẳng qua để thấy rằng Bồ Đề tổ sư tính ra vẫn chưa làm hết trách nhiệm của người thầy. Mưu tính để học trò chọc trời khuấy nước mà chẳng ban cho vũ khí, pháp bảo thì biết phải làm sao?

Thế là Ngô lão tiên sinh liền bày ra lễ thôi nôi ở Thủy cung, cho khỉ con chọn đồ chơi, nào đao, nào bồ cào, nào kích, khỉ con đều chê cả cho tới khi gặp cây gậy Như ý.

Xuất xứ của món vũ khí này được tả rằng: “Đấy là khi xưa vua Đại Vũ đi trị thủy, dùng khối sắt ấy để đo sông bể nông sâu, là thứ sắt thần.”

Đúng là cây gậy này từng qua tay Đại Vũ, nhưng xuất xứ thực sự của nó thì sao? Hồi 75, Tôn Ngộ Không đã tiết lộ cho Thanh Mao Sư biết:

Gậy sắt ta chín lần nấu luyện,
Lão Quân thân vận chuyển vào lò.
“Vật thần” vua Vũ ban cho,
Tám sông bốn biển đã thừa tiếng tăm.

Hóa ra cây thiết bảng Như ý này cũng do một tay Lão Quân luyện ra rồi cẩn thận bố trí để đến tay người con mình. Không tin ư? Cây gậy ấy ở dưới biển không biết đã mấy ngàn năm mà chẳng ai hay nó là một loại binh khí, nhưng Ngộ Không vừa nhìn thấy nó “là một cột sắt, to chừng bằng cái đấu, dài hơn hai trượng” thì đã biết là bảo bối ngay rồi, thậm chí còn biết dùng khẩu quyết “nhỏ lại, ngắn lại”. Bởi “Tuy to nhỏ như kim, như núi, Muốn ngắn dài cũng bởi lòng ta” (nguyên văn Trường đoản tùy ngô tâm ý biến).

Cây gậy ấy là binh khí không hề tầm thường, bởi ngoài khả năng biến to hóa nhỏ, thì nó còn có thể phân thân theo chủ nhân. Khi đánh nhau với Na Tra Tam thái tử, Na Tra biến ra ba đầu sáu tay thì “Đại thánh bèn hô một tiếng ‘biến’, liền biến thành ba đầu sáu tay, cầm gậy sắt bịt vàng vung tít, và cũng biến thành ba cây gậy. Sáu tay cầm ba cây gậy đánh đỡ.”

Ở Ngọc Hoa quốc, khi nói về cây gậy, Ngộ Không cũng thừa nhận cây gậy này có duyên phận với mình:

Khai sơn trị thủy thuở thanh bình,
Lưu lại Đông Dương trấn thủy cung.
Năm tháng trôi đi sinh ráng đẹp.
Trưởng tiêu nào khó, sáng vô ngần.
Lão Tôn có phận lấy đem về,
Biến hóa thần thông thật diệu kỳ.

Nguyên văn hai câu cuối là “Lão Tôn hữu phận thủ tương lai, biến hóa vô phương tùy khẩu quyết” hợp với câu “Trường đoản tùy ngô tâm ý biến” ở trên, cho thấy cây gậy đích thực tâm ý tương thông với Ngộ Không và cũng chỉ lão Tôn mới có khẩu quyết sử dụng.

Nếu vẫn chưa tin, các bạn cứ nhìn cách cây gậy Như ý chọn chủ thì biết “Trong biển ta còn có một khối sắt thần thiêng để định đáy thiên hà, mấy hôm nay tỏa hào quang chói lọi, khí lành rực rỡ, phải chăng là điềm báo gặp được vị thánh này?”

3. Sổ sinh tử và Tam tai lợi hại

Hồi 2 khi truyền đạo cho Ngộ Không, Bồ Đề tổ sư thừa nhận người tu đạo vẫn còn phải đề phòng “tam tai lợi hại - ba tai hại”:

Đây là một thứ đạo phi thường, cướp cả công tạo hóa, trời đất, lấn cả mây huyền vi của nhật nguyệt, sau khi luyện thành, quỷ thần không dung. Dù có thọ cũng chỉ đến năm trăm năm, sau đó trời sẽ sai sét đánh, cho nên cần phải thấy tinh sáng lòng dự phòng né tránh. Nếu tránh được, thì thọ ngang trời đất. Nếu không tránh được thì đến đây là tuyệt mệnh. Lại sau năm trăm năm nữa, trời giáng hỏa tại thiêu cháy. Thứ lửa đó không phải là lửa trời, cũng không phải là lửa thường, mà là thứ “âm hỏa” từ huyệt Dũng Tuyền trong người đốt thấu lên cung Nê Viên, ngũ tạng cháy thành tro, tứ chi vụn nát, tu hành, khổ hạnh nghìn năm biến thành hư ảo cả. Lại sau năm trăm năm nữa, trời giáng phong tai thổi bạt. Thứ gió ấy không phải là gió bốn phương Đông, Nam, Tây, Bắc, cũng không phải là thứ gió thu ấm áp, cũng không phải là thứ gió tùng trúc liễu hoa, mà là thứ “bi phong” từ “tín môn” thổi vào lục phủ, qua đan điền xuyên vào chín lỗ xương thịt tiêu hết, thân thể rời ra. Cho nên đều phải tránh né cả.

Giảng giải xong, Bồ Đề tổ sư bèn dạy cho Ngộ Không… 72 phép biến hóa. Trời ạ, tam tai là cái đại nạn từ trên trời giáng xuống từ trong người phát ra, thì biến hóa thành hổ báo cáo cầy sao tránh được. Cho nên tam tai vẫn cứ là cái tai họa ngầm mà Ngộ Không phải vượt qua nếu muốn trường sinh bất tử.

Độc giả thường nghĩ muốn trường sinh bất tử vốn dĩ rất đơn giản: xóa tên khỏi sổ sinh tử là được. Đây là một vấn đề dễ mà khó, khó mà dễ. Sổ sinh tử là các ghi chép về việc sống chết tiền định của muôn loài do Địa phủ và Thiên đình quản lý. Không chỉ các loài ngư, trùng, điểu, thú, người có tên trong sổ mà thần tiên cũng có. Long vương Kinh Hà được ghi chép sẵn rằng: “Trước khi Long vương ra đời, trong sổ tử của Nam Đẩu tinh đã ghi rõ hắn bị giết bởi tay Nhân tào”. Kẻ có tên trong sổ, khi mãn số thì ắt có quỷ câu hồn tới bắt về Địa phủ. Tuy nhiên việc xóa tên trong sổ sinh tử chỉ đảm bảo rằng không bị Địa phủ quấy nhiễu mà thôi, chứ kẻ thoát khỏi sổ sinh tử hoàn toàn vẫn có thể chết.

Hồi 3 Tây Du Ký chép rất rõ:

Vị Phán quan vội vã cầm bút, chấm đẫm mực, Ngộ Không giở sổ, xóa sạch tên các loài khỉ đi, rồi ném sổ xuống đất nói:
- Vậy là xong, từ rày ta không thuộc quyền lũ ngươi cai quản nữa.
Bởi không còn bị Địa phủ quản lý nên “Từ đấy lũ khỉ núi không biết già, vì không có tên trong sổ âm ty”.

Mặc dầu không bị Địa phủ quản lý, nhưng bầy khỉ ở Hoa Quả Sơn không hề trường sinh bất tử. Hồi 28 khi Tôn Ngộ Không bị sư phụ đuổi về núi, gặp lại bầy khỉ chỉ còn độ một ngàn con. Chúng thưa rằng:

Từ sau ngày Đại vương đi, núi này bị Nhị Lang Bồ tát phóng hỏa đốt cháy quá nửa. Chúng con phải ẩn núp dưới giếng lòng khe, trốn dưới chân cầu sắt mới sống sót. Đến khi khói lửa tan tắt, chúng con bò ra, nhưng không có hoa quả nuôi thân, khó lòng sống được, một nửa bỏ đi nơi khác kiếm ăn, một nửa chúng con đành chịu khổ ở lại núi này. Hai năm qua, lại bị phường săn bắt mất đến nửa rồi.

Cứ nhân ngược lên thì bầy khỉ ở lại chịu khổ là hai nghìn con, mà bầy khỉ sống sót sau trận Nhị Lang đánh núi Hoa Quả là bốn nghìn con. Từ bốn vạn bảy nghìn xuống còn bốn nghìn, mười phần chết tới chín.

Rốt cuộc, muốn trường sinh bất tử thì xóa tên trong sổ sinh tử là chưa đủ, mà phải hóa giải triệt để tam tai lợi hại.

4. Cung Tốn của lò Bát quái

Bấm tay nhẩm tính, khi Ngộ Không bị bắt xuống âm phủ, sổ sinh tử có ghi: “Tôn Ngộ Không, là con khỉ đá trời sinh ra, thọ ba trăm bốn mươi hai tuổi thì hết số”. Lên trời làm Bật Mã Ôn “Thấm thoắt đã hơn nửa tháng”, một ngày trên trời bằng một năm hạ giới, tức là 15 năm, rồi lại lên trời làm Tề Thiên Đại thánh “Ta chỉ nhớ quãng độ nửa năm”, tức khoảng 180 năm ở hạ giới. Vậy thì cái hạn “tam tai nạn” lần thứ nhất cũng là đến rồi. Ngộ Không chỉ luyện thần thông mà không tu đạo nên cái họa này không phải tầm thường.

Lão Quân tính được tai kiếp này bèn tặng luôn con mình năm hồ lô linh đơn cùng năm vò rượu thuốc ngâm. Ta thấy khi Ngộ Không tới cung Đâu Suất, năm hồ lô linh đơn được bày ra cực kỳ hớ hênh: “Lúc ấy Lão Quân cùng Nhiên Đăng cổ Phật đang giảng đạo trên đài Chu Lăng, tầng gác thứ ba. Các tiên đồng, tiên tướng, tiên quan, tiên lại đang đứng hầu hai bên nghe giảng. Đại thánh vào thẳng đan phòng tìm hỏi nhưng không gặp, chợt thấy trong lò bếp có lửa, xung quanh lò để năm hồ lô, trong hồ lô đều đựng kim đơn đã luyện xong.”

Trong khi ở hồi 39, Ngộ Không lên xin linh đơn để cứu quốc vương nước Ô Kê thì chuyện mô tả:

“Vừa vào tới cửa, đã thấy Thái Thượng Lão Quân đang ngồi trong phòng luyện đơn. Mấy vị tiên đồng cầm quạt ba tiêu đang quạt lò nấu thuốc. Lão Quân vừa thấy Hành Giả, bèn dặn dò tiên đồng:
- Các chú phải cẩn thận. Tên ăn trộm linh đơn đến đấy.”
Kỳ kèo mãi mới thấy “Lão tổ mang hồ lô dốc ngược. Lấy ra một viên linh đơn đưa cho Hành Giả.”

Cứ vậy mà suy thì năm hồ lô linh đơn đâu dễ mà bày ra trước mắt cả, rồi lại kéo hết tiểu đồng, quan tướng đi chỗ khác, không người trông nom. Bàn đào, rượu tiên, linh đơn chưa đủ, Lão Quân còn tự tay luyện cho con mình bảy bảy bốn chín ngày trong lò Bát quái để thành một thân kim cương bất hoại.

Xuyên suốt câu chuyện 81 nạn của Đường Tăng, ta thấy Tôn Ngộ Không rất kém khi gặp lửa. Lần đối đầu với Hồng Hài Nhi bị đốt cho “khắp người khói lửa, nóng rát không chịu nổi, phải nhảy tùm xuống khe dập tắt lửa, không ngờ bị nước lạnh đột ngột, hơi lửa nhập vào tim, ba hồn xuất ra khỏi xác. Thương thay! Phổi bị tắc hơi đầu lưỡi cứng, hồn xiêu phách tán đã qua đời!”

Lần khác cầm quạt giả ở Hỏa Diệm sơn: “Hành Giả bèn cầm chiếc quạt, bước tới bên ngọn lửa lấy hết sức phất một cái. Ngọn lửa trên đỉnh núi bốc cao rừng rực. Hành Giả quạt lần nữa, ngọn lửa bốc cao hơn trăm lần. Lại quạt lần nữa, ngọn lửa bốc cao nghìn trượng, dần dần cháy lan bén cả vào người. Hành Giả vội vàng quay về, đám lông ở hai cẳng chân đã bị cháy sém.”

Hỏa Diệm Sơn vốn chỉ là một viên gạch rớt xuống từ lò Bát quái mà 500 năm sau còn khiến Ngộ Không chật vật, bị đốt cháy sém cả cẳng chân. Thế thì cái việc bị nhốt trong lò 49 ngày năm xưa mà chẳng hề suy suyển một sợi lông, há chẳng đáng nghi lám sao?

Sau khi ra khỏi lò Bát quái, ta thấy Ngộ Không luyện được một đôi Hỏa nhãn kim tình, lại đại triển thân thủ đánh cho “Cửu Diệu tinh quân phải đóng chặt cửa, bốn Thiên vương thì không biết chạy trốn phương nào”, pháp lực còn kinh khủng hơn trước. Về sau trên con đường thỉnh kinh, mỗi khi nhắc tới lò Bát quái, Ngộ Không đều thừa nhận lợi ích kinh người của nó:

Hồi 19 viết:

“Ta lại bị Thái Thượng Lão Quân bắt giam vào lò bát quái đốt bằng lửa thần, khiến ta thành người mắt lửa ngươi vàng, mình đồng da sắt.”

Hồi 34 viết:

“Năm trăm năm trước, lão Tôn đại náo thiên cung, bị Thái Thượng Lão Quân bỏ vào lò bát quái luyện đúng bốn mươi chín ngày, khiến lục phủ ngũ tạng bền như vàng bạc, mình sắt da đồng, ngươi vàng mắt lửa, chứ chỉ một giờ ba khắc làm sao nhão nổi ta.”

Quay ngược lại đối chiếu tam tai mà Bồ Đề tổ sư giảng với những gì mà Lão Quân đã làm cho Tôn Ngộ Không, ta lại thấy sự trùng khớp tuyệt đối. Tam tai gồm lôi, hỏa, phong. Khi bị đưa ra hành hình, Ngộ Không đã trải qua “các thần ở bộ Hỏa, phóng lửa đốt cũng không cháy. Lại sai các thần ở bộ Lôi lấy roi sét đánh, cũng chẳng đứt một sợi lông”, cung Tốn (tức gió) trong lò Bát quái chính là những gì Ngộ Không cần phải trải qua để vượt tam tai lợi hại.

Tám quẻ bát quái duy có Ly là Hỏa, nếu để tránh lửa thì Ngộ Không hẳn sẽ chọn trốn ở cung Khảm hay Đoài sẽ an toàn hơn cung Tốn nhiều. Tác giả lại diễn giải “Tốn là gió, có gió thì không có lửa” là muốn đánh lừa độc giả mà thôi, há chẳng phải gió to lửa càng mạnh đó sao. Cho nên Ngộ Không chẳng chui vào cung Khảm hay cung Đoài mà chọn cung Tốn, ấy là nhằm giải cái họa “bi phong, một thứ gió rất mạnh, tự trong đỉnh tháp thổi vào sáu phủ qua đan điền xuyên vào chín khiếu, xương thịt tiêu hết, thân thể rã ra.”

Tính toán đầy đủ sâu xa như vậy, quả không hổ danh là Đạo tổ.

5. Vòng Kim cương đả Ngộ Không

Nếu Lão Quân là cha của Ngộ Không thì độc giả có thể đặt câu hỏi: Khi Ngộ Không đang đánh nhau với Nhị Lang thần, chính Lão Quân là người ra tay tương trợ Nhị Lang bằng cách ném chiếc vòng kim cương đánh Ngộ Không. Như vậy là ý làm sao? Xin thưa rằng: Lão Quân lo cho tính mạng của con trai mình. Bảo bối của Quan Âm Bồ tát không phải tầm thường. Hồi 70 kể Ngộ Không đánh nhau với Trại Thái Tuế ở động Kỳ Lân núi Giải Trãi, chỉ cái lục lạc buộc cổ con vật mà Quan Âm cưỡi đã phóng ra lửa đỏ, khói độc, cát vàng khiến Ngộ Không khốn khổ, huống chi Tịnh bình là bảo bối bất ly thân của Bồ tát. Chiếc Tịnh bình ấy ở hồi 26, Quan Âm đã khoe rằng: “Trước kia, Thái Thượng Lão Quân có đánh cuộc với ta: ngài bẻ một cành dương liễu của ta bỏ vào lò luyện đơn, đốt cháy khô sém, rồi lại đưa trả ta, ta cắm vào trong bình, qua một ngày đêm cành lá lại xanh tươi như cũ.”

Cũng chính chiếc bình ấy, ở hồi 42 khi hàng phục Hồng Hài Nhi, Bồ tát đã thị hiện thần thông của bảo bối bằng cách sai Ngộ Không vận sức nhấc lên. Kết quả là “Hành Giả lập tức đi cầm chiếc bình. Chà, đừng hòng nhấc nổi! Chẳng khác nào chuồn chuồn lay cột đá, không tài nào lúc lắc được nửa phân.” Hãy tưởng tượng nếu Tịnh bình ấy rớt trúng đầu Ngộ Không thì sẽ ra sao?

Việc Lão Quân tự tay ném vòng vừa đảm bảo không hại tính mạng Ngộ Không, lại vừa bắt sống được con khỉ ấy để trị dứt điểm tam tai. Mà nếu Lão Quân không ra tay đánh Ngộ Không lúc ấy, thì liệu về sau Ngọc Hoàng có dám trao Ngộ Không cho ông ta đem về xử lý một mình không?

Rốt cuộc, vở kịch khai màn từ Trộm linh đơn cho tới hồi Lò Bát quái, có thể đặt ra một giả thiết rất đáng tin cậy, là Lão Quân ra sức luyện cho Ngộ Không từ trong ra (phục dụng linh dược), lại luyện từ ngoài vào (nung trong lò bát quái), để cho một thân từ trong ra ngoài đều cứng rắn như một khối kim cương bất hoại, chẳng có tam tai nào hại nổi.

Cũng từ thái độ của Ngọc Hoàng Thượng Đế khi cắt cử binh tướng đi đánh Tôn Ngộ Không: Lần đầu cử Thác Tháp Thiên vương, lần hai nhờ Mộc Xoa đồ đệ của Quan Âm, lần ba mời Nhị Lang Thần, lần bốn mời Phật tổ Như Lai. Mà chưa từng mở lời nhờ Thái Thượng Lão Quân ra tay, đủ thấy vị vua trời này nghi ngờ không ít mối quan hệ mập mờ giữa Thái Thượng Lão Quân với Ngộ Không.

Tôi muốn nhắc lại hai sự việc mà từ đó có thể nhìn ra chút manh mối.

Thứ nhất: Sau khi phá hội Bàn Đào, Tôn Ngộ Không say rượu, Tây Du Ký viết:

“Hồi lâu, khi đã say mềm mới bần thần nghĩ rằng:
- Hỏng rồi, hỏng rồi! Rồi đây khách khứa đến, không lấy làm lạ sao? Họ giữ ta lại thì phiền. Chi bằng quay ngay về phủ đánh một giấc ngủ là hơn!
Đại thánh say quá, xiêu vẹo bước đi, chẳng còn tỉnh táo nữa nên lầm đường, không về phủ Tề Thiên mà lại vào cung Đâu Suất. Đến nơi, Đại thánh mới chợt nhận ra, nói:
- Cung Đâu Suất ở tầng trời thứ ba mươi ba, nơi ở của Thái Thượng Lão Quân, sao ta lại lạc đến đây nhỉ? Thôi được, từ trước ta vẫn ngưỡng vọng ông này mà chưa đến được, nhân dịp này, thuận đường vào thăm ông một chút cũng hay.”

Ngày nay ta gọi là đi theo quán tính, đi trong vô thức, thực chất là đi theo tiềm thức. Con đường về cung Đâu Suất nó nằm đâu đó trong tạng thức của Ngộ Không. Nên khi say mê say mệt, đôi chân cứ tự động dẫn về chốn xưa. Cung Đâu Suất chẳng phải chốn xa lạ. Ở Ngũ Trang Quan, Tôn Ngộ Không thấy câu đối trước cửa cũng bảo: “Ông đạo sĩ này nói phét quá trời! Năm trăm năm trước, khi lão Tôn đây đại náo thiên cung, ngay cả trước cửa Thái Thượng Lão Quân cũng không thấy treo câu đối có lời lẽ như thế này.” Lần tới cung Đâu Suất là Ngộ Không say tít cung thang có lẽ chẳng để ý cửa cung treo câu đối nào đâu. Trừ phi con khỉ ấy không hề xa lạ nơi chốn đó.

Thứ hai: Không phải tự nhiên Khuê Mộc Lang tự ý hạ phàm. Hóa ra là Hoàng Bào lão quái cản trở thầy trò Đường Tăng thỉnh kinh, sau khi bị bắt về Thiên đình, y liền bị cho đi lao động khổ sai canh lò Bát quái của Thái Thượng Lão Quân, một sự trả giá, hại ông con thì phải đi ở đợ cho ông cha.

6. Tại sao Lão Quân không trực tiếp dạy Ngộ Không?

Đây là một vấn đề khá hóc hiểm, bởi trên cương vị là người đứng đầu Đạo giáo, là Tổ sư của bao thế hệ thần tiên, thì nhẽ ra Lão Quân phải tự tay dạy dỗ Hầu vương mới phải. Thực tiếc vì khi ấy Lão Quân lại kẹt công chuyện quan trọng khác.

Hầu vương vượt biển tầm sư học đạo là ở thời điểm nào trong lịch sử Trung Quốc? Tây Du Ký có mô tả rằng:

Đua chen danh lợi dập dồn
Thức khuya dậy sớm chẳng còn tự do
Mong tuấn mã khi cưỡi lừa.
Làm quan tể tướng, lại mơ vương hầu.

Thế rồi “Ở Nam Thiệm Bộ Châu, sục sạo thành lớn, thấm thoắt đã tám, chín năm” như bản Như Sơn dịch, hoặc “ở Nam Thiệm Bộ châu chốc đã tám năm, qua thành nọ đến châu kia” như bản Thụy Đình dịch. Thực ra nguyên văn câu này là “Tại vu Nam Thiệm Bộ Châu, xuyến Trường thành, du tiểu huyện, bất giác bát, cửu niên dư”. Trường Thành vốn bắt đầu được xây cất ở thời nhà Chu với điển tích nổi tiếng Phong hỏa hí chư hầu của Chu U vương, rồi dần dần các nước thời Xuân Thu và Chiến Quốc xây đắp các đoạn Trường thành của riêng mình để ngăn sự xâm lược của Di Địch, cho tới khi Tần Thủy Hoàng thống nhất lục quốc, đắp nối các Trường Thành lại với nhau thành ra Vạn Lý Trường Thành. Còn “huyện” cũng là đơn vị hành chính bắt đầu được lập ở thời nhà Chu.

Trong Tây Du Ký, tác giả nhấn mạnh việc Hầu vương vượt các Trường Thành, qua các tiểu huyện, rồi thời kỳ tranh danh đoạt lợi, mơ vương hầu, Tể tướng… ấy là muốn nói Hầu vương tới Trung Quốc vào thời Xuân Thu Chiến Quốc.

Trong thời Xuân Thu Chiến Quốc thì ta biết Thái Thượng Lão Quân hóa thân thành Lão tử. Hẳn là khi Ngộ Không tới Trung Quốc tìm thầy học đạo, thì Lão tử đã ra khỏi Hàm Cốc đi về phía tây rồi. Ngài đi vì mục đích gì? Hồi 6 Lão Quân đã giải đáp rằng: “Trước kia, khi đi qua cửa Hàm Cốc, hóa người Hồ thành Phật”. Cũng nên lưu ý rằng nhân vật Lão Quân không hề được nhắc tới từ khi Ngộ Không được sinh ra, mãi cho tới tận khi Ngộ Không lên trời mới xuất hiện. Người cha ấy vì bận hóa Hồ vi Phật ở phương Tây nên đã không làm tròn bổn phận dạy dỗ, rèn giũa, ngài đành chờ tới thời điểm tam tai sắp xảy ra mới bù đắp cho con trai mình.

7. Thái Bạch Kim Tinh

Thái Thượng Lão Quân có quá vô trách nhiệm khi bỏ rơi con mình từ khi mới sinh ra không? Không đâu, vì Đạo tổ đã cắt cử một vị tiên theo sát và nâng đỡ Tôn Ngộ Không. Đó là Thái Bạch Kim Tinh.

Ngay từ khi Tôn Ngộ Không náo loạn Âm phủ và Long cung, Ngọc Hoàng tính cử binh chinh phạt, Thái Bạch Kim Tinh đã quỳ tấu: “Thần xin Thượng đế, nghĩ sinh hóa, mở lòng từ bi, xuống một đạo thánh chỉ chiêu an, gọi hắn lên thượng giới, trao cho hắn một chức quan nhỏ nào đó, biên tên hắn vào sổ, ràng buộc hắn ở đây. Nếu hắn tuân mệnh trời, thì sẽ thăng thưởng, nếu hắn trái mệnh trời thì sẽ bị bắt ngay.”

Khi Ngộ Không bỏ chức Bật Mã Ôn về hạ giới xưng Tề Thiên Đại thánh, đánh bại Na Tra Tam thái tử, Ngọc Hoàng nổi giận quát “Con khỉ yêu ấy lại dám ngông cuồng như thế ư? Các tướng hãy mau đi giết nó ngay!”

Thế là Thái Bạch Kim Tinh tiến lên xin chiêu an và phong tước. Sau này trong suốt quãng đường thỉnh kinh, vị tiên này còn nhiều lần xuất hiện để trợ giúp thầy trò Đường Tăng nữa.

Thái Bạch Kim Tinh có quan hệ gì với Thái Thượng Lão Quân? Truyền thuyết Trung Hoa cho biết Thái Bạch Kim Tinh, tên họ là Lý Trường Canh, nghiên cứu thâm sâu về Đạo. Sau khi thành tiên, để cảm tạ ơn đức sâu dày của Đạo tổ, Lý Trường Canh đã cho xây dựng tòa Đạo Đức Trung Cung ở Hào Châu thờ Đạo tổ. Ngoài ra ở ngoại thành Hào Châu nay vẫn còn di tích tháp Tiết Các, được cho là nơi Lão tử truyền đạo cho Lý Trường Canh.

Trong Tây Du Ký, Thái Thượng Lão Quân chính là Đạo tổ, mà Thái Bạch Kim Tinh cũng từng nhận mình tên là Lý Trường Canh như hồi 3 xưng là Trường Canh tinh quân, hồi 21 lại nói đầy đủ cả tên họ “Trường Canh họ Lý chính già đây!”

Với một vị đệ tử đắc lực ở bên cạnh Ngọc Hoàng Thượng Đế, lại tích cực phù trợ con mình như vậy, Thái Thượng Lão Quân hẳn cũng phần nào yên tâm mà sang tây truyền giáo.

8. Cha đó, mẹ đâu?

Phàm có âm thì phải có dương có dương thì tất có âm. Ngô lão tiên sinh đã cho Ngộ Không một người cha bí ẩn là Thái Thượng Lão Quân thì lẽ đâu lại keo kiệt mà không tạo ra một người mẹ thần bí. Khi đặt câu hỏi ai có thể là mẹ của Ngộ Không độc giả có thể đưa ra các giả thiết như Nữ Oa, Quan Âm, Vương Mẫu… Toàn các vị nữ nhân đại danh đỉnh đỉnh. Nhưng Nữ Oa chính là hóa thân của Lão Quân như đã nói tới ở trên. Quan Âm Bồ tát là người bên Phật giáo Tây phương, tôi không thấy sự kết hợp khả dĩ nào giữa Lão Quân và Quan Âm cả. Còn Vương Mẫu là bà hậu của Ngọc Hoàng, vị vua cai quản cả cõi trời, tôi không dám đặt ra một giả thiết lộn sòng như vậy.

Vâng, không dài dòng nữa, tôi xin đưa ra luận điểm đơn giản của mình: Nhân vật được ám chỉ là mẹ của Ngộ Không phải đáp ứng được ba tiêu chí sau: Thứ nhất là trong truyện phải nhắc tới việc gặp gỡ hoặc có liên hệ với Ngộ Không; thứ hai phải là người có quan hệ gần gụi, thậm chí là tâm phúc của cha Ngộ Không - tức Lão Quân; và thứ ba, phải có mật ngữ mà tác giả gài vào câu chuyện. Tôi biết khi mình đưa ra đáp án, sẽ có nhiều độc giả phản đối, thậm chí phẫn nộ. Không sao, tôi chỉ làm công việc của mình. Và đáp án tôi đưa ra kỳ này, đó là mẹ của Tôn Ngộ Không là Cửu Vỹ Hồ, bị chính tay Ngộ Không giết ở hồi 34.

Cửu Vỹ Hồ là nhân vật được Tây Du Ký kể là mẹ của Kim Giác và Ngân Giác, chủ nhân của sợi Hoảng kim thằng (dây kim tuyến). Nhưng Kim, Ngân hai vị ma vương vốn là đồng tử của Lão Quân, làm sao lại xuất hiện một người mẹ yêu quái nơi trần thế được? Hơn nữa khi nghe tiểu yêu báo Ngộ Không giết lão mẫu của nhị quái, phản ứng của ma vương rất dửng dưng. Ma anh nói: “Chú ạ, đem Đường Tăng và Sa Tăng, Bát Giới, ngựa bạch, hành lý, trả hết lại cho Tôn Hành Giả, cắt hết tai tiếng thị phi đi.”

Còn ma em thì đáp: “Nếu tam chiến mà tôi không thắng được y, bấy giờ ta sẽ đem đưa trả Đường Tăng cũng chưa muộn.” Hoàn toàn không có sự đau xót, tiếc thương vì cái chết của người mẹ, cho nên ta có thể kết luận, Cửu Vỹ Hồ chỉ là giả mẫu của hai ma vương.

Nếu vậy thì vai trò của Cửu Vỹ Hồ trong Tây Du Ký là gì? Nếu không phải một nhân vật thừa thì tất nhiên phải mang ẩn ý của tác giả. Với việc tác giả cho Cửu Vỹ Hồ là mẹ của ma vương tôi liều lĩnh đưa ra kết luận rằng tác giả muốn ám chỉ đây là mẹ của Ngộ Không.

a. Tâm phúc của Lão Quân

Trong toàn bộ câu chuyện Tây Du Ký không có nửa lời nào nhắc tới mối quan hệ trực tiếp giữa Lão Quân và Cửu Vỹ Hồ. Tuy nhiên, ta thấy Kim, Ngân là hai đồng tử được Quan Âm Bồ tát mượn Lão Quân để đưa xuống trần, thì nếu Cửu Vỹ chỉ là yêu ma quỷ quái chốn sơn lâm, làm sao lại được nhị ma tôn làm mẹ? Lại giao cho giữ bảo bối Hoảng kim thằng (sợi dây kim tuyến)? Trong năm bảo bối của Lão Quân thì Tử kim hồng hồ lô là thứ đựng linh đơn, Dương chi ngọc tịnh bình là đồ đựng nước, Thất tinh bảo kiếm là thứ luyện ma, Ba tiêu phiến dùng để quạt lò, duy có Hoảng kim thằng là sợi dây buộc áo bào, đi liền với thân thể của ngài. Bốn thứ bảo bối trước là do hai tiểu đồng lấy trộm, còn dây đai buộc áo há lại để lũ tiểu đồng coi lò đụng vào? Giả thiết của tôi là Lão Quân đã cởi nó mà đưa cho Cửu Vỹ Hồ.

Với thuộc tính trói buộc của Sợi dây kim tuyến, có thể thấy Lão Quân không yên tâm về bộ đôi Kim Ngân nên đã giao nó cho Cửu Vỹ Hồ và để bà ta hạ phàm giám sát nhị ma. Cũng bởi là tâm phúc của Lão Quân nên nhị ma không dám hỗn hào, tôn làm mẹ và hết lòng cung phụng. Dĩ nhiên khác máu tanh lòng, không có bất kỳ sự yêu thương hay xót xa của hai đứa con hờ dành cho người mẹ giả.

Quan điểm này càng được củng cố khi Tây Du Ký mô tả Ngộ Không biến thành Cửu Vỹ Hồ tới động Liên Hoa, nhị ma liền “sai bày hương án ra đón tiếp”. Rồi Tây Du Ký lại chép “Các yêu ma lớn nhỏ, đều đến quỳ đón, tiêu thiều nhã nhạc, trầm bổng du dương, trong đỉnh hương trầm, khói tuôn ngào ngạt.”

Đây không phải lễ nghi con cái đón mẹ mà giống như nghi thức quan viên đón tiếp Khâm sai đại thần.

b. Manh mối Đại Vũ - Đồ Sơn phu nhân

Cùng với sự xuất hiện của cây Kim cô Như ý bổng, ta lại thấy một sự kết nối giữa năm nhân vật: Lão Quân - Đại Vũ - Tôn Ngộ Không - Cửu Vỹ Hồ - Đồ Sơn phu nhân.

Lão Quân cho Đại Vũ cây Định hải thần châm để trị thủy. Bên cạnh Đại Vũ lại có một vị phu nhân là Nữ Kiều thuộc Đồ Sơn thị, cũng là Cửu vỹ bạch hồ, vị Đồ Sơn phu nhân này cũng là người trợ giúp đắc lực cho Đại Vũ trị thủy. Sau khi trị thủy xong, Đại Vũ đem Định hải thần châm cắm dưới biển, sau truyền tới tay Tôn Ngộ Không. Một vòng tuần hoàn rối rắm, mà sự trùng lặp thể hiện ra rằng rất có thể là Lão Quân giúp Đại Vũ công cụ để trị thủy, còn Cửu Vỹ sai tộc nhân của mình tới làm trợ thủ cho Vũ.

Một truyền thuyết cổ của Trung Quốc kể rằng sau một thời gian thành thân và có mang với Đại Vũ, Nữ Kiều vô tình phát hiện ra bản chất của Vũ là con gấu hung bạo cùng cực, nàng bèn bỏ đi. Đại Vũ hiện thân gấu đuổi theo, Nữ Kiều chạy mãi tới khi kiệt sức biến thành tảng đá. Đại Vũ chỉ tảng đá quát: “Trả con cho ta.” Tảng đá liền nứt đôi, một đứa trẻ chào đời, đó chính là Hạ Khải - vị vua thứ hai của nhà Hạ.

Truyền thuyết này có lẽ là nguyên mẫu để Ngô Thừa Ân dựng nên Tôn Ngộ Không sinh ra từ tảng đá. Một Cửu Vỹ Hồ hóa đá rồi sinh ra Hạ Khải, một Cửu Vỹ Hồ tiền bối đẻ ra thạch thai, sinh ra Ngộ Không. Phải chăng đó chỉ là một sự tình cờ trùng hợp?

Lại nhớ tới bộ Phong Thần diễn nghĩa, Cửu Vỹ Hồ là yêu tinh được tin cậy sủng ái bậc nhất của Nữ Oa nương nương. Mà theo Tây Du Ký thì Nữ Oa là hóa thân của Lão Quân. Dẫu rằng Tây du là Tây du, Phong thần là Phong thần, nhưng cũng thấy có chút liên quan nho nhỏ, ghi lại hầu bạn đọc.

c. Lãng tử hồi đầu

Tây Du Ký mô tả lần đầu tiên Ngộ Không gặp Cửu Vỹ Hồ:

“Đến lần cửa thứ hai, Hành Giả ngẩng đầu lên, nhìn vào bên trong, thấy một bà cụ già ngồi ngay ở chính giữa. Hình dung mụ ta thế nào? Chỉ thấy:
Tóc bạc phất phơ, mắt mày óng ánh. Hai má hồng hào nếp rạn nhiều, hàm răng thưa thớt sức khỏe mạnh. Mặt như hoa cúc đượm màu sương, hình tựa thông già mưa vừa tạnh. Đầu đội khăn quàng lụa trắng phau, hoa trĩu hai tại vàng óng ánh.”

Cách mô tả này không gợn chút oán ghét hay hận thù, cũng không tả ra một mụ yêu quái tàn ác dữ tợn, mà đó là một bà cụ phong sương hạc cốt. Câu văn gợi lên hình ảnh một đứa con xa nhà đã lâu, nay trở về nhìn thấy mẹ già tóc bạc đang ngồi mong con. Tuyệt không có nửa chữ nào mang hàm nghĩa chê bai cả. Nhìn thấy Cửu Vỹ Hồ rồi, Ngộ Không nghĩ gì? Tác giả lại gài một loạt mật ngữ:

“Tôn Đại thánh thấy vậy không dám tiến vào, chỉ đứng ở ngoài lần cửa thứ hai, nét mặt rầu rĩ, sùi sụt khóc thầm.” Chính là cảm giác của lãng tử hồi đầu, nhìn thấy mẹ già, chàng vừa thương cảm, vừa ân hận nên chần chừ chưa dám vào lạy chào.

Rồi Ngộ Không lại chua xót trong lòng: “Từ khi ta là người, làm một trang hảo hán, chỉ phải lạy có ba người: lạy Phật tổ ở Tây Thiên; lạy Quan Âm ở Nam Hải; sư phụ cứu ta ra khỏi Lưỡng Giới sơn, ta đã lạy người bốn lạy. Vì người mà gan phổi tan nát, quả tim ba lông sáu khiếu dỡ hết ra. Một quyển kinh đáng giá là bao, để đến nỗi ngày nay ta phải đi lạy quái vật.”

Nếu không phải bản tâm Ngộ Không muốn lạy thì đã một gậy đập chết tốt yêu bà mà đoạt lấy bảo bối rồi. Cho nên Ngô Thừa Ân viết ở đây chính là ám chỉ Ngộ Không lạy mẫu thân. Tiếp đến là câu chuyện vấn an. Đoạn này phải phân tích qua bán gốc mới thấy rõ được:

[Ngộ Không] triều thượng quỵ hạ, đạo: “Nãi nãi, khái đầu.” Na quái đạo: “Ngã nhi, khởi lai.”
Hành Giả ám đạo: “Hảo hảo hảo, khiếu đắc kết thực!”

Hai chữ nãi nãi (奶奶) thường mang nghĩa “bà nội”, “bà chủ”, nhưng thực ra ở một số vùng, nó còn mang nghĩa là “vú em”, “mẫu thân”. Kết thực (結实) nghĩa là vững chắc, tráng kiện. Cho nên đoạn văn này có thể dịch thành:

[Ngộ Không] hướng tới, quỳ xuống nói: “Thưa mẹ, con xin khấu đầu.”
Yêu quái nói: “Con ta (ngã nhi) hãy đứng lên.”
Hành Giả nghĩ thầm: “Tốt, tốt, tốt, giọng nói vẫn còn khang kiện lắm.” (câu này bản Như Sơn dịch là “Ăn nói thực thà lắm”, bản Thụy Đình dịch là “Tiếng nói có vẻ lắm” đều không truyền tải được ý nghĩa.)

Quá rõ ràng người con trai đi xa về, nhìn mái tóc mẹ phong sương, da dẻ đã có nếp nhăn, mà nghe giọng nói còn khang kiện thì vui thầm trong lòng. Nếu Ngộ Không với Cửu Vỹ Hồ là người dưng thì rất khó lý giải việc khi ta nghĩ thầm: “Tốt, tốt, tốt, giọng nói vẫn còn khang kiện lắm.” Dĩ nhiên Ngộ Không gọi Cửu Vỹ Hồ là “nãi nãi”, Cửu Vỹ Hồ gọi là là “ngã nhi” cũng là một ám thị rõ ràng về mối quan hệ mẫu tử giữa hai người.

d. Ngộ Không giết Cửu Vỹ

Cố sự này thực sự làm đau đầu người giải mật. Bởi nếu Ngộ Không là con Cửu Vỹ Hồ thì phải giải thích làm sao việc Ngộ Không giết mẹ?

Tây Du Ký hồi 34 viết:

Tiểu yêu không biết hay dở thế nào, đứng vây lấy Hành Giả chia lương khô, bị Hành Giả giơ gậy sắt ra, khẽ mài lên đầu một nhát, một đứa lăn kềnh ra, người xám ngắt, một đứa mới xát qua, chưa chết hẳn, còn kêu được. Lão quái nghe tiếng kêu rền rĩ thò đầu ở trong kiệu ra ngó, bị Hành Giả xông đến trước kiệu, nhằm giữa đầu, đánh cho một gậy, thủng toạc đầu ra, óc chảy lênh láng, máu tươi đầm đìa rồi lôi ra ngoài kiệu xem, té ra là con hồ ly chín đuôi.
Hành Giả nói:
- Con súc vật tạo nghiệt này! Đức bà gì cái thứ mày, mày mà được gọi là đức bà thì lão Tôn đây phải xưng là cụ kỵ đức ông mới đúng!

Tôi đọc đi đọc lại đoạn này, và nhận ra khi Ngộ Không giết Cửu Vỹ Hồ, không hề có chứng nhân nào cả. Hai phu kiệu đều bị giết chết trước đó, như vậy việc Ngộ Không giết Cửu Vỹ chỉ là lời kể của người thứ ba, và qua thông báo của tiểu yêu cho nhị ma: “Đại vương, tai vạ to rồi! Tôn Hành Giả đánh chết đức bà, cải trang đến đây!”

Tại sao tiểu yêu biết Ngộ Không đánh chết Cửu Vỹ Hồ? Có thể vì xác hai phu kiệu, xác hai tiểu yêu Ba Sơn Hổ, Ỷ Hải Long bị bỏ giữa đường.

Tôi lại chú ý tới việc Cửu Vỹ Hồ dặn dò tiểu yêu trước khi lên kiệu:

Mấy đứa nữ quái khiêng một cái kiệu bằng mây thơm ở nhà sau ra, để ở ngoài cửa, quây màn lục xanh. Lão quái đứng dậy ra khỏi động, ngồi lên trên kiệu, theo sau có mấy đứa nữ yêu nhỏ mang những thứ trang sức, xách chiếc giá gương, cầm cái khăn mặt, mang lọ nước hoa, theo hầu hai bên tả hữu.
Lão quái nói:
- Chúng bay đi làm gì! Ta đến chỗ con ta đằng kia, ở đấy thiếu gì đứa hầu hạ, chúng bay đến đấy mà cãi vã nhau sao? Về cả đi! Đóng cửa lại coi nhà!
Thứ nhất, nữ yêu khiêng kiệu ra thì tự động mang theo mấy đồ lặt vặt để theo hầu, đó đã là lệ thường, không cần chủ nhân nhắc nhở.

Thứ hai, lão quái chủ động không cho ai đi theo. Mà quãng đường từ chỗ Cửu Vỹ Hồ tới động Liên Hoa khá xa, hai tiểu yêu Hổ, Long khi tới, đi tám, chín dặm rồi mà vẫn còn cách mười lăm, mười sáu dặm nữa. Về sau Ngộ Không cũng bảo hai gã phu kiệu: “Nói ra không tốt, đường sá xa xôi, đến mời đức bà, người chẳng thưởng cho cái gì ăn, trong bụng đói meo…” Đi kiệu chừng ấy đường mà không cho người hầu kẻ hạ theo để lo việc trà nước điếu đóm, kể cũng không hợp lý.

Thứ ba, nhiệm vụ giám sát nhị ma đã hoàn thành, con trai mình cũng đã được gặp, không còn gì để lưu luyến chốn trần gian nữa, nên lão quái trở về chốn xưa được rồi, cho nên mới nói “Ta đến chỗ con ta đằng kia, ở đấy thiếu gì đứa hầu hạ”. Động Liên Hoa, núi Bình Đính đa phần là nam quái, đâu ra nữ quái mà hầu hạ lão yêu. Cho nên câu này ám chỉ việc lão quái trở về bản xứ chứ không phải tới nhà nhị ma.

Rốt lại, câu chuyện Ngộ Không giết Cửu Vỹ Hồ chỉ là dựng lên để đánh lừa người đọc mà thôi. Hoặc giả Ngô lão tiên sinh có ẩn ý khác mà tôi chưa mò ra được?

9. Một lý giải khác

Bản thân tôi cũng nhận thấy lý giải việc tác giả Tây Du Ký xây dựng chi tiết Tôn Ngộ Không giết mẹ như trên vẫn khá khiên cưỡng, chưa đủ sức thuyết phục. Bởi vậy tôi đưa ra tiếp một sự so sánh giữa ba thành viên trụ cột của đoàn thỉnh kinh.

Đường Tăng: Một Oedipe phương Đông trực tiếp dẫn đến việc cha (Lưu Hồng) bị giết, gián tiếp khiến mẹ tự tử.

Tôn Ngộ Không: Đạp cha (Lão Quân) ngã lộn (khi ra khỏi lò Bát quái), tự tay giết mẹ (Cửu Vỹ Hồ).

Trư Bát Giới: Tự cắn chết mẹ (con heo nái) và các anh em (heo) đồng bào.

Phải chăng tác giả muốn xây dựng đoàn thỉnh kinh là một tập hợp những kẻ tội ác tày trời tìm về nơi đất Phật? Một sự trùng hợp với những ám chỉ rằng cuộc sang Tây Thiên thỉnh kinh của Tây Du Ký là để ẩn dụ các chuyến Hạ Tây dương của Trịnh Hòa, các cuộc viễn du được thực hiện theo lệnh của Minh Thành tổ, một kẻ vô quân vô phụ.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.