Giải mật Tây Du

Lượt đọc: 264 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6: Lão Tôn - Những Cái Tên - Những Khoảng Đời

❊ ❊ ❊

 Tôn Ngộ Không là nhân vật xuyên suốt tác phẩm Tây Du Ký, từ khi mở màn tới lúc kết thúc. Kinh qua suốt chuỗi năm tháng dài đằng đẵng này, Ngộ Không mang nhiều cái tên, nhiều danh hiệu, mà mỗi danh hiệu lại ứng với một chặng đời của mỗi con người.

1. Thạch hầu

Thạch hầu là cái tên đầu tiên của Ngộ Không, chỉ nguồn gốc xuất xứ. Đây là giai đoạn một đứa trẻ mới chào đời, nó hoàn toàn không hiểu biết gì cả, suốt ngày “đi đi lại lại nhảy nhót nô đùa, tìm ăn cỏ cây, uống nước suối trong, hái hoa rừng, tìm quả núi, làm bạn với lang trùng, kết đàn với hổ báo, thân mật với hươu nai, chan hòa với khỉ vượn, đêm ngủ vách núi non, ngày chơi trong hang động”.

2. Mỹ hầu vương

Mỹ hầu vương là danh hiệu mà bầy khỉ đặt cho Ngộ Không khi mới được đưa lên cầm đầu bầy khỉ. Cả ngày vô lo chơi bời, có bạn bè đồng lứa, có một mái ấm trên đầu và không phải lo âu chuyện ăn mặc: “chỉ huy một đàn khỉ vượn, khỉ cái, khỉ ngựa, sắp đặt thành quân, thần, tả, sứ, sớm dạo chơi núi Hoa Quả, đêm về ngủ động Thủy Liêm, cùng nhau đồng lòng, chẳng lẫn vào đàn chim bay, không theo vào loài thú chạy, độc lập xưng vương, rất là thích thú.”

Đứa trẻ ấy là bảo bối trong mắt cha mẹ nó, nên danh hiệu có một chữ “Mỹ”. Con cái luôn đẹp đẽ trong mắt cha mẹ mình, chứ trên đường thỉnh kinh, chúng ta chỉ thấy thường nhân nhìn Ngộ Không mà chết khiếp vì sợ ông Thiên lôi mõm đầy lông.

3. Tôn Ngộ Không

Tôn Ngộ Không là cái tên mà vị thầy Bồ Đề tổ sư đặt cho Ngộ Không. Phép xưa, khi trẻ con đi học thì được thầy dạy đặt cho tên tự. Việc Bồ Đề tổ sư đặt tên cho học trò cũng đại để như vậy. Cái tên này ứng với trẻ em tóc trái đào bắt đầu cắp sách tới trường: “cùng các bạn học nói năng, lễ phép, giảng kinh làm đạo, tập việc thắp hương, ngày nào cũng như vậy. Lúc nhàn rỗi, thì quét sân cuốc vườn, vun hoa tỉa lá, gánh nước kiếm củi, việc gì cũng làm đủ.”

Tây Du Ký viết: “Ở Nam Thiệm Bộ Châu, sục sạo thành lớn, thấm thoắt đã tám, chín năm.” Ám chỉ em bé tới trường khi độ tám, chín tuổi.

“Thấm thoắt ở trong động đã sáu, bảy năm”, tức là hết khoảng thời gian sơ cấp, em bé tám tuổi ngày nào đã thành thiếu niên mười bốn, mười lăm tuổi, bắt đầu được truyền cho kiến thức thực thụ.

Và khi giã từ Bồ Đề tổ sư, Ngộ Không nói “Con bỏ nhà đã hai mươi năm”. Vậy là cậu bé ấy năm nay đã là chàng thanh niên 20 tuổi, chập chững bước vào đời.

4. Bật mã ôn

Bật mã ôn là chức quan Thiên đình phong cho Tôn Ngộ Không. Chàng thanh niên hai mươi tuổi bắt đầu đi làm, dĩ nhiên xuất phát điểm rất thấp, một anh chăn ngựa không phẩm không hàm, “chưa liệt vào hàng quan”, làm tốt thì chỉ được khen mà làm dở thì phải chịu phạt. Một chức tiểu lại của thời phong kiến, sao thỏa mãn được hùng tâm tráng trí của chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt.

5. Tề thiên Đại thánh

Vốn tâm cao khí ngạo, nên chỉ làm việc nửa tháng, gã tiểu lại kia bỏ chức về làng. Tự nghĩ mình tài ngang Quản Nhạc liền xưng là Tề thiên. Đó là khoảng thời gian khó khăn trong cuộc đời một con người. Anh tự cho là sinh bất phùng thời, đại tài tiểu dụng. Kỳ thực khi được trao trọng trách thì chỉ sau nửa năm, anh đã tự tư tự lợi mà phá hư tất cả. Hội Bàn đào chính là thể hiện sự kém cỏi của chàng thanh niên chưa đủ kinh nghiệm. Hậu quả anh phải lĩnh là năm trăm năm giam cầm dưới Ngũ hành sơn. Một ngày trên trời bằng một năm hạ giới. Năm trăm năm này tương ứng với gần hai năm tù tội.

6. Hành giả

Hành giả là cái tên mà vị sư phụ thứ hai đặt cho Ngộ Không: “Nhưng nhìn dáng nhà ngươi rất giống một tiểu đầu đà, ta muốn đặt cho một tên nữa là Hành Giả có được không?”

Hành giả là gì? Ngoài ý nghĩa chỉ người theo đạo Phật, thì nó còn chỉ người tu khổ hạnh, khất thực độ nhật - tức đầu đà như lời của Đường Tăng đã nói.

Sau gần hai năm chịu giam giữ, anh thanh niên đã đủ trải nghiệm để biết mình là ai và ở đâu trong xã hội. Không còn giấc mơ đăng đàn bái tướng, không còn cơ hội xuất sĩ nhập sĩ, anh lầm lũi trở thành một hành giả lang thang nay đây mai đó, sống dựa vào tình thương của người qua đường cho qua ngày đoạn tháng.

7. Đấu chiến thắng Phật

Đây là danh hiệu cuối cùng mà Ngộ Không đạt được trong Tây Du Ký. Thỉnh kinh đã xong, đời người cũng đã xong. Con người trở về với Niết bàn tịch tĩnh. Thành đạo hay thành Phật cũng chỉ một chữ Không mà thôi.

Các danh hiệu Chiên đàn công đức phật - cúng nhang Tịnh Đàn sứ giả - cúng cỗ, Kim thân La hán - cúng vàng, Bát bộ thiên long - cúng mã, đều trực chỉ ý nghĩa này.

Ồ khoan! Liệu có thể hiểu Đấu chiến thắng Phật - vị Phật có danh hiệu Đấu chiến thắng - nghĩa là người đã thắng trong cuộc chiến đấu với Phật không? Chúng ta lại quay trở về với hồi 8, khi Phật tổ Như Lai sau khi đấu với Ngộ Không rồi quay về Lôi Âm. Chuyện chép rằng:

Nói về chuyện Phật Tổ Như Lai từ biệt Thượng Đế đến bảo sái Lôi Âm thấy ba nghìn chư phật, năm trăm vị A La Hán, tám vị Đại kim cương, cùng các Bồ tát đều cầm tràng phan, bao cái, của lạ, hoa tiên, sắp hàng đón tiếp ở tiên cảnh Linh Sơn, dưới rừng Sa La Song.

Bất cứ ai đọc kinh Phật hay nghiên cứu về cuộc đời Phật Thích Ca đều sẽ liên tưởng Sa La Song lâm (rừng Sa La Song) với Sa La Song thụ, đó là nơi Phật Thích Ca nhập Niết bàn. Các kinh truyện miêu tả lại khi đức Thích Ca nhập diệt đều đại để thống nhất rằng:

Sau khi đến Câu Thi Ca La, đức Phật trú nghỉ ở dưới gốc hai cây Sa la (Sa la song thụ). Ngài hướng về đại chúng tuyên nói lời di giáo sau cùng với nội dung:

1. Tôn giả Ca Diếp sẽ kế thừa y bát.

2. Các đệ tử từ đây về sau hãy lấy giới luật làm thầy.

3. Khi mở đầu các lời kinh nên nói: “Như thị ngã văn”.

4. Xá lợi của Phật chia ra ba phần: một phần cho Long cung một phần cho Thiên cung, và phần còn lại chia đều cho tám vị vua nước Ấn Độ.

Vậy là có vẻ như Lôi Âm bảo sái thực ra đang phỏng dựng lại khu rừng ở Câu Thi Ca La, nơi đức Thích Ca nhập diệt. Thế rồi Tây Du Ký lại viết:

Như Lai dừng đám mây lành bước xuống nói với mọi người rằng:
Ta đem:
Mắt tuệ bát nhã
Nhìn thấu xa gần,
Suy đến ngọn nguồn,
Thảy đều tịch diệt.
Chẳng có gì hết,
Thảy đều hư không,
Khỉ quái trừ xong,
Việc này ai biết.
Có danh bắt đầu từ sống chết,
Pháp tướng rành rành chẳng sai nào.

Nói xong phóng luồng ánh sáng xá lợi thành bốn mươi hai chiếc cầu vồng trắng đầy khắp bầu trời, thông suốt nam bắc. Mọi người trông thấy, ai nấy đều chắp tay đảnh lễ. Một đoạn văn kinh thiên động địa. Phía trên là một bài kệ và nhắc tới các từ tịch diệt, hư không, sống chết. Chúng ta nhớ rằng Tôn Ngộ Không chỉ bị nhốt dưới núi Ngũ Hành mà thôi, chứ đâu có bị giết. Vậy thì bài kệ này dành cho ai? Có phải nó rất giống với những bài kệ mà các vị tổ thường tụng đọc cho môn đệ trước khi ngài nhập Niết bàn?

Lại nữa, câu dưới nhắc tới “phóng ánh sáng xá lợi”, những viên xá lợi đầu tiên là vật báu thu được khi hỏa thiêu di thể của Phật Thích Ca. Nếu Phật còn đương thế thì sao lại có xá lợi? Không riêng ở hồi này mà hình ảnh xá lợi của Phật còn được nhắc tới ở hồi 32, Đường Tăng ngâm bài thơ có câu “Xá lợi tượng vàng phô rực rỡ”, hồi 62 có câu “Tháp lưu li ngũ sắc, ngọn xá lợi vàng ròng”, hồi 66 có câu “Hào quang xá lợi sáng vùng biển xa”, hồi 83 tả về bảo tháp của Thác Tháp Thiên vương rằng: “ban cho Lý Thiên vương một tòa bảo tháp như ý có đính hạt xá lợi long lanh trong suốt”.

Lại nữa, “bốn mươi hai chiếc cầu vồng trắng đầy khắp bầu trời, thông suốt nam bắc” là dị tượng được ghi chép trong kinh văn Phật giáo Trung Hoa về Trung Quốc về thời điểm Phật Thích Ca nhập Niết bàn. Đơn cử bộ Thích thị thông giám trích lục lại đoạn văn trong Chu thư dị ký rằng: “Khi Phật nhập diệt, phương ấy chợt nổi giông gió, gãy cây đổ nhà, động đất cây rung. Phương tây có mười hai đạo cầu vồng trắng liên thông nam bắc, suốt đêm không tắt. [Chu] Mục vương lấy làm lạ hỏi quần thần. Thái sử Hộ thưa rằng: Phương tây có bậc Thánh nhân nhập diệt nên sinh dị tượng ấy.”

Chúng ta sẽ không truy nguyên sách Chu thư dị ký có phải ngụy tác của đời sau, mà ở đây ta quan tâm tới khía cạnh ở Trung Quốc đã lưu hành các sách vở ghi chép về dị tượng xảy ra ở Trung Hoa khi Phật Thích Ca nhập Niết bàn. Tác giả đã đem gần như y nguyên cảnh tượng ấy vào trong Tây Du Ký, ngoại trừ con số 42 thay cho 12. Cũng có thể với Trung Quốc thì Phật chỉ là một ông Thánh ở phương tây nên ứng với 12 đạo cầu vồng trắng, còn Tây Du Ký lấy Phật tổ làm trung tâm nên có tới 42 đạo chăng?

Thế rồi sau khi Phật tổ phóng hào quang, thì “Mọi người trông thấy, ai nấy chắp tay đảnh lễ”. Hình như đâu đó ta thấy chư Bồ tát, La hán đang hành đại lễ trong phút lâm chung của Đức Phật.

Thế rồi Tây Du Ký lại tiếp tục cho chúng ta thêm mật ngữ: “Từ ngày ta diệt trừ được khỉ quái, giúp trời được yên ổn đến nay, sống trong cảnh giới chẳng biết có năm tháng, nhưng ở trần gian có lẽ đã đến năm trăm năm rồi.”

Đoạn Phật tổ mở hội Vu Lan Bồn, nhân đó bàn về việc truyền kinh sang Đông thổ. Tại sao Phật tổ chờ tới năm trăm năm rồi mới tính đến chuyện ấy? Xin thưa, bởi như Đức Thế tôn từng giảng trong Đại Tập kinh: “Sau năm trăm năm Chánh Pháp của ta, Thiền định, Tam muội được kiên cố vững chắc. Kế năm trăm năm, đọc tụng, nghe nhiều được kiên cố vững chắc. Kế năm trăm năm, ở trong Pháp ta xây nhiều tháp tự được kiên cố vững chắc. Kế năm trăm năm, ở trong Pháp ta, tranh giành, tranh luận, ca tụng, Pháp rõ ràng đã ẩn kín không còn, tổn giảm kiên cố.”

Phật pháp chia làm ba thời kỳ chính, khoảng thời gian từ khi Đức Phật giảng dạy cho các đệ tử và kéo dài cho tới sau khi Ngài nhập Niết bàn 500 năm gọi là Thời kỳ Chánh pháp; sau 500 năm Chánh pháp thì tới Thời kỳ Tượng pháp kéo dài 1.000 năm; và 1.500 năm sau khi Đức Phật nhập Niết bàn là Thời kỳ Mạt pháp*. Căn cứ theo sự phân chia các thời kỳ này, ta thấy Phật tổ bởi lo lắng cho thời kỳ Tượng pháp, như kinh điển hằng ghi nhận “tuy vẫn có giáo pháp, có sự hành trì, nhưng số người chứng đắc quả vị thì rất ít; thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ ‘tự miếu kiên cố’.” Bởi Phật giáo không còn huy hoàng như thời kỳ Chánh pháp nên mới cần truyền bá kinh điển, đó là lý do mà sau 500 năm, việc thỉnh kinh mới bắt đầu được Phật tổ khởi lên.

Về ba thời kỳ của Phật pháp, có nhiều thuyết khác nhau, nhưng đại đa số đều thống nhất rằng Thời kỳ Tượng pháp bắt đầu từ thời điểm 500 năm sau khi Đức Phật nhập Niết bàn. 

Với các điểm trực chỉ việc Phật nhập Niết bàn trong đoạn văn này, có thể mạnh dạn suy đoán rằng ở đầu hồi 8 này, tác giả miêu tả cảnh Phật nhập Niết bàn sau khi hàng phục Tôn Ngộ Không trở về. Cũng bởi vậy mà kết thúc truyện, Ngộ Không được phong Đấu chiến thắng Phật - người đã thắng trong cuộc chiến đấu với Phật.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.