Hiến Đăng Sứ

Lượt đọc: 44 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hiến đăng sứ

❊ ❊ ❊

Mumei mặc nguyên bộ đồ ngủ lụa xanh ngồi bệt trên chiếu. Bộ dạng trông như con chim non đó có lẽ do cái cổ ốm, dài so với cái đầu to. Mồ hôi khiến những sợi tóc mỏng như tơ bết vào da đầu. Mumei khép hờ mí mắt, ngúc ngoắc đầu như dò tìm trong không trung bằng đôi tai, và đón tiếng chân bước trên lối đi rải sỏi bên ngoài bằng đôi màng nhĩ. Tiếng bước chân mỗi lúc to dần rồi im bặt. Cánh cửa kéo kêu lạch cạch như tàu chở hàng, Mumei mở mắt, nắng sáng nhuộm vàng, tràn vào như hoa bồ công anh tan chảy. Mumei rụt hai vai thật mạnh về phía sau, ưỡn ngực, giơ hai tay ra ngoài như giang rộng đôi cánh.

Vừa thở hổn hển, vừa tiến lại gần, Yoshiro mỉm cười, đuôi mắt hằn sâu những nếp nhăn. Ông vừa định cúi xuống, giơ một chân lên để cởi giày, mồ hôi trên trán ông nhễ nhại nhỏ từng giọt.

Sáng nào Yoshiro cũng mướn một con chó ở “Tiệm cho thuê chó” nằm ở ngã tư phía trước bờ đê và chạy song song với nó khoảng ba mươi phút trên bờ đê. Dòng sông như thắt chiếc nơ màu bạc, khi nước ít lại chảy xa không ngờ. Người xưa gọi kiểu chạy không mục đích như vậy là “jogging”[1] nhưng trong quá trình từ ngoại lai dần biến mất, chẳng biết từ khi nào, kiểu chạy này được gọi là “kake-ochi”[2]. Lúc đầu, nó là từ thịnh hành được dùng để nói đùa với nghĩa “hễ chạy huyết áp sẽ tụt”, nhưng rồi chết tên luôn. Thế hệ của Mumei chưa từng nghĩ có liên hệ gì giữa “kake-ochi” với yêu đương cả.

Tuy nói là từ ngoại lai không còn được dùng đến, nhưng ở tiệm cho thuê chó vẫn thường viết chữ Katakana[3]. Thời gian đầu, khi Yoshiro bắt đầu thành “người chạy tụt”, do không tự tin với tốc độ chạy của mình nên ông nghĩ mình chọn loại chó nhỏ sẽ tốt hơn và chọn Yorkshire Terrier, nào ngờ giống này chạy quá nhanh. Yoshiro bị nó kéo chạy suýt ngã, thở hổn hển, còn con chó thỉnh thoảng quay lại nhìn với vẻ mặt ra chiều đắc ý “Sao rồi ông bạn?”. Mũi nó hếch lên trông rất láu. Sáng hôm sau, Yoshiro đổi sang giống Daschund nhưng xui sao lại tình cờ trúng con chó chẳng buồn chạy một tẹo nào, chạy được khoảng hai trăm mét, ông phải dùng dây kéo lê con chó chỉ một mực ngồi bệt xuống đất, mãi mới quay về tiệm cho thuê được.

“Cũng có con không thích đi dạo nhỉ” – ông nhỏ nhẹ phàn nàn khi trả con chó.

“Hả? Đi dạo? À à, đi dạo nhỉ. Ha ha ha” – người đàn ông trông tiệm nói lảng. Phải chăng anh ta cảm thấy mình bề trên khi cười nhạo một người già dùng những tử ngữ như “đi dạo” này kia? Tuổi thọ của từ ngữ dần ngắn đi. Những tưởng chỉ có từ ngoại lai biến mất nhưng không phải vậy. Trong số những từ ngữ bị đóng dấu cổ lỗ sĩ và lần lượt biến mất, có cả những từ không có từ kế tục.

Tuần trước, ông quyết định mướn thử một con Shepherd, nhưng con này lại ngược với giống Daschund, nó được huấn luyện thái quá, khiến ông cảm giác mình yếu thế hơn. Mặc Yoshiro dốc hết sức để chạy, hay giữa chừng mệt mỏi như kéo lê đôi chân, mãi mới tiến lên trước được, nó vẫn luôn chạy sát bên cạnh ông. Yoshiro nhìn mặt con chó nhưng nó lại liếc mắt như muốn hỏi: “Sao? Hoàn hảo quá đúng không?”. Yoshiro cảm thấy khó chịu với cái vẻ học sinh ưu tú đó nên quyết định không mướn con Shepherd nữa.

Sự tình là vậy nên Yoshiro vẫn chưa tìm được con chó lý tưởng, nhưng ông thầm thỏa mãn với chính mình khi ấp úng trong miệng mỗi lần bị hỏi “Ông thích loại chó nào?”

Thời trẻ, mỗi khi được hỏi về nhạc sĩ yêu thích, nhà thiết kế yêu thích, loại rượu vang yêu thích này kia, ông đều tâm đắc trả lời ngay. Ông cho rằng sở thích của mình thú vị, và tốn tiền bạc lẫn thời gian để mua đủ những sản phẩm chứng minh cho điều đó. Giờ ông không còn sử dụng sở thích như những viên gạch để xây nên ngôi nhà có tên là cá tính nữa. Mang giày như thế nào là vấn đề quan trọng, nhưng ông cũng không còn chọn giày để phô diễn bản thân nữa. Đôi giày Idaten ông đang mang là loại mới được hãng Tengu bán gần đây, mang êm, thoải mái vô cùng, như dép rơm vậy. Hãng Tengu có trụ sở chính ở tỉnh Iwate, trong đôi giày có dòng chữ “Iwate Ma-de” viết bằng bút lông. Chữ “ma-de” này là cách diễn đạt có được từ cách hiểu của một thế hệ không còn học tiếng Anh, tự mình hiểu theo nghĩa “made” trong “made in Japan.”[4]

Thời học cấp ba, ông thấy khác lạ ít nhiều về bộ phận gọi là chân, đôi chân của ông lớn nhanh, vượt xa những bộ phận khác, và mềm mại, dễ bị trầy xước nên ông rất thích mang loại giày thương hiệu nước ngoài làm từ cao su dày, chắc, như ôm trọn đôi chân. Trong thời gian làm việc cho một công ty sau khi tốt nghiệp đại học, ông luôn mang đôi giày da nâu cứng cáp, cố gắng để chung quanh không phát hiện ra việc mình thật sự không có ý tiếp tục làm nhân viên. Sau khi ra mắt với tư cách nhà văn lần đầu nhận nhuận bút, ông đã dùng số tiền đó mua một đôi giày leo núi. Ngay cả khi đi đến bưu điện gần nhà, ông cũng buộc dây đôi giày leo núi cẩn thận để không gặp nạn rồi mới đi.

Đôi chân vui mừng với guốc gỗ và dép rơm khi ông đã quá bảy mươi. Da chân để trần nào bị muỗi chích, nào bị ướt nước mưa. Chăm chú ngắm mu bàn chân đang âm thầm đón nhận nỗi bất an, ông nghĩ đây chính là mình và ý muốn chạy bộ trỗi dậy. Nghĩ bụng không biết có loại giày nào gần giống dép rơm không, ông gặp được đôi giày của hãng Tengu.

Định cởi giày ở lối vào, loạng choạng vịn một tay vào cột gỗ trắng, Yoshiro cảm nhận mắt cây qua đầu ngón tay. Thời gian để lại trong thân cây những đường vân, vậy chứ trong cơ thể ta, thời gian đã được lưu lại ra sao? Không có chuyện thành vòng năm như cây mà lan thành vân gỗ, cũng không có chuyện xếp thành một đường thẳng đứng, mà biết đâu chừng hỗn độn đọng lại như trong một chiếc ngăn kéo chưa từng được dọn dẹp ngăn nắp? Vừa nghĩ đến đó ông lại loạng choạng rồi để chân trái chạm sàn nhà.

“Xem chừng chân trái vẫn không đủ sức đứng”, ông lẩm bẩm một mình khiến Mumei nghe được, nheo mắt ngẩng mặt lên hỏi: “Ông cố, ông muốn thành con hạc ạ?” Vừa cất giọng, cái cổ khiến đầu Mumei đong đưa như chiếc bong bóng thình lình dừng lại trên sóng lưng, đôi mắt cậu bé ánh màu nâu, trông vừa vui mà lại vừa đượm buồn. Yoshiro xốn xang khi ông trông khuôn mặt của đứa chắt xinh đẹp như mặt của ngài Địa Tạng.

“Còn mặc đồ ngủ sao? Mau thay đồ đi!” – ông cố tình nói giọng nghiêm khắc, mở ngăn tủ. Trong đó, từ tối qua, trước khi đi ngủ, bộ đồ lót và đồ mặc đi học của con trẻ đã được xếp vuông vắn chồng lên nhau, sẵn sàng chờ chủ nhân lên tiếng. Mumei luôn lo lắng, sợ mấy bộ đồ của nó tự ý bỏ đi vào ban đêm. Nó sốt ruột, lo rằng mấy bộ đồ sẽ uống thứ nước cốc tai rồi nhảy nhót ở câu lạc bộ, bẩn thỉu, nhàu nhĩ trở về nhà. Cho nên trước khi đi ngủ, Yoshiro cất đồ của Mumei vào tủ và khóa lại.

“Cháu tự mặc đi. Ông nhất định không giúp đâu đấy”

Yoshiro đặt trước mặt đứa chắt một bộ đồ, rồi đi ra bồn rửa mặt, vỗ nước lạnh lên mặt để rửa. Ông vừa lau mặt bằng chiếc khăn vải dùng để lau tay, vừa chằm chằm nhìn bức tường trước mặt. Ở đó không có gương. Lần cuối ông soi gương là khi nào nhỉ? Trông vậy chứ ở tuổi tám mươi, ông vẫn soi gương kiểm tra mặt mũi, lông mũi có dài ra thì cắt, da đuôi mắt có bị khô liền bôi kem sơn trà.

Yoshiro vắt chiếc khăn lên cây sào bên ngoài, lấy kẹp phơi đồ kẹp lại. Chẳng biết từ khi nào ông không còn dùng khăn lông mà chỉ dùng khăn vải lau tay. Khăn lông giặt mãi chẳng khô nên không đủ dùng. Khăn vải chỉ cần vắt lên cây sào ngoài hàng hiên, gió thổi bay phấp phới, chẳng mấy chốc là khô ngay. Yoshiro ngày xưa rất quý khăn lông cỡ lớn. Cứ mỗi lần dùng xong là ông dồn vào máy giặt, rắc bột giặt lên trên không tiếc tay và tận hưởng cảm giác xa xỉ, bây giờ nghĩ lại thấy cũng thật buồn cười. Chiếc máy giặt đáng thương phải khổ sở vần bao nhiêu chiếc khăn lông nặng trong bụng, mệt rã rời, được ba năm là chết vì làm việc quá sức. Cả triệu chiếc máy giặt đã chết chìm xuống đáy Thái Bình Dương, thành khách sạn con nhộng cho lũ cá.

Giữa căn phòng rộng tám chiếu[5] và nhà bếp có một căn phòng khoảng hai mét, ở đó có đặt một cái bàn đơn giản để đi picnic, một cái ghế xếp như của người đi câu hay dùng. Như kích thích cảm giác muốn đi dã ngoại vốn đã sẵn có trong lòng, trên bàn còn có bình nước tròn vẽ hình con lửng chó[6], trong đó cắm một bông hoa bồ công anh lớn.

Bồ công anh thời nay có cánh dài đến mười xentimét. Thậm chí có người từng đem bồ công anh đến thị trong Hội thi Hoa Cúc được tổ chức hằng năm ở nhà văn hóa, khiến nảy sinh vấn đề là có thể công nhận đó là hoa cúc hay không. Phe phản đối nói “hoa bồ công anh lớn không phải là hoa cúc, mà chỉ là bồ công anh đột biến mà thôi”, còn phe ngược lại cho rằng “đột biến là thuật ngữ phân biệt đối xử”, khơi mào cho một cuộc tranh luận. Thực tế, từ “đột biến” hầu như không còn được dùng trong những ngữ cảnh như thế này mà thay vào đó, từ “đồng hóa môi trường” thịnh hành hơn. Trong bối cảnh nhiều loài hoa dại trở nên khổng lồ, nếu chỉ có mình nhỏ bé không tránh khỏi việc phải sống trong bóng tối. Chắc hẳn, để sống trong môi trường hiện nay, bồ công anh cũng phải thay đổi kích thước. Nhưng ngược lại cũng có loại thực vật chọn chiến lược chỉ mỗi mình trở nên nhỏ bé. Có loại tre mới, dù chăm bón cách mấy cũng chỉ cao bằng ngón tay út, được gọi là “tre ngón út”. Với loại tre này, dù đứa bé từ mặt trăng giáng trần có tỏa sáng bao nhiêu đi nữa, ông lão và bà lão cũng phải lấy kính lúp, nằm bò ra soi may ra mới tìm thấy.[7]

Trong phe phản đối hoa bồ công anh có những người lập luận: “Hoa cúc là loài hoa cao quý, được chọn làm gia huy, trong khi bồ công anh là cỏ dại nên không được đánh đồng chúng với nhau”. Còn liên minh phe ủng hộ hoa bồ công anh được thành lập chủ yếu dựa vào công đoàn các tiệm mì ramen đã trích dẫn danh ngôn của hoàng thất rằng: “Không có loài cỏ nào là cỏ dại” để vặc lại đối thủ, đặt dấu chấm hết cho cuộc tranh luận hoa cúc, hoa bồ công anh kéo dài bảy tháng.

Mỗi khi nhìn hoa bồ công anh, Yoshiro nhớ lại quãng thời gian ông còn nhỏ, một mình nằm lăn ra đồng cỏ ngắm trời mây. Không khí ấm áp, lớp cỏ bên dưới mát lạnh. Tiếng chim ríu rít vọng từ xa. Quay sang nhìn là thấy bông hoa bồ công anh nở ngay bên cạnh, cao hơn tầm mắt một chút. Có lần Yoshiro nhắm mắt, chu miệng ra như mỏ chim, chạm môi vào bông hoa bồ công anh, rồi lật đật ngồi dậy, nhìn quanh xem có bị ai bắt gặp không.

Kể từ khi chào đời, Mumei chưa từng được chơi ở đồng cỏ thật lần nào. Dù vậy, dường như thằng nhỏ vẫn tự hình dung về “đồng cỏ” và ấp ủ nó cẩn thận trong lòng.

“Ông mua sơn về đi. Mình sơn tường” – Mumei thình lình nói vậy cách đây vài tuần. Yoshiro không hiểu, hỏi lại: “Tường á? Còn đẹp mà?”

“Sơn như bầu trời ấy, thành màu trời. Rồi mình vẽ mây, vě chim.”

“Cắm trại trong nhà sao?”

“Thì tại có cắm trại ngoài trời được đâu mà…”

Yoshiro nuốt nước bọt. Có lẽ vài năm nữa là họ không còn được ra khỏi nhà, và phải sống trong khung cảnh được vẽ bằng sơn. Yoshiro gượng gạo làm vẻ mặt tươi cười, trả lời:

“Ừ nhỉ, để ông tìm xem mua được sơn màu xanh da trời không nhé.”

Nếu Mumei giữ được tâm hồn không cảm thấy sợ hãi trước tình trạng giam cầm như thế, ông cũng không cần cố phá hỏng nó làm gì.

Mumei không giỏi ngồi ghế nên cậu bé ngồi trên chiếu, dùng bữa trên chiếc khay vuông hình hộp sơn mài hoa văn xoắn ốc. Trông hệt như chơi trò ông chủ. Cậu làm bài tập về nhà trên chiếc bàn trệt bên cửa sổ. Mỗi khi Yoshiro nói về thói quen đó của cậu: “Nếu cháu không cần bàn ghế, ông đem đi đâu cho vậy nhé”, cậu bé phản đối kịch liệt. Đối với Mumei, dù bàn ghế không có ích trong vai trò là đồ dùng gia đình, chúng vẫn là một hệ thống cài đặt gợi nhớ về thời đại mà điều gì đó không có ở đó đã trôi đi, về những đất nước xa xôi tuyệt đối không còn được đến nữa.

Yoshiro lấy chiếc bánh mì gạo lúa mạch từ trong miếng giấy sáp ra, nghe như tiếng mưa rào. Loại bánh mì Đức phong cách Shikoku, màu đen cháy xém, còn trọng lượng nặng như đá hoa cương. Vỏ bánh bên ngoài cứng giòn, khô, bên trong lại xốp mềm. Chiếc bánh mì đen hơi có vị chua này có cái tên lạ lùng “A phiến Á”. Chủ tiệm đặt cho những chiếc bánh mì mình nướng những cái tên lạ lùng như “Bà cô lưỡi dao”, “Mì mặt mờ”, “Quận bồn tắm lộ thiên”[8] v.v. Ở cửa ra vào của tiệm có dán tờ quảng cáo: “Có đủ loại bánh mì. Hãy tìm loại bánh mì hợp khẩu vị của mình”. Thần kinh ngôn ngữ của Yoshiro cảm thấy câu khẩu hiệu này thật trắng trợn, nhưng khi nhìn phần tại bánh chắc dày của tiệm, cảm giác tin tưởng lại quay về trong ông. Đó là phần tai bánh mà nếu nướng lên hẳn sẽ rất ngon, có độ dai, vị ngọt như ứa ra trong lúc nhai. Ông chủ tiệm bánh mì này tên là “Ông già trẻ”. Từ trước đến nay, có người từng há hốc miệng ngạc nhiên khi nghe từ “ông già trẻ”, nhưng cách nói này cũng đã dần định hình tự lúc nào. Cho đến độ tuổi chín mươi, mãi đến thời được gọi là “ông già trung niên” thì chủ tiệm bánh mì vừa mới bước vào độ tuổi bảy mươi.

Nếu nói việc cứ chần chừ mãi trong chiếc chăn mỏng trong khi phải thức dậy buổi sáng mới “ra vẻ con người”, người đàn ông này chẳng có chút gì ra vẻ con người cả. Mỗi sáng, cứ đến bốn giờ là ông ta ngồi dậy như con búp bê có gắn lò xo ở mông bật khỏi chiếc hộp đồ chơi hù dọa, dù đồng hồ báo thức chẳng hề reo. Sau đó, ông ta quẹt que diêm dài những mười xentimét, châm lửa cho cây nến dài mười xentimét, đường kính năm xentimét được cố định trên chiếc đĩa đựng món ăn kèm, và soi đường đi đến tiệm làm bánh mì đen bằng ánh sáng đó. Dù là chỗ làm việc quen thuộc nhưng ông kính cẩn bước vào hệt như lần đầu đi vào một điện thờ. Trong lúc mình đang ngủ, có ai đó, trong không gian này, đến ủ bột lên men bột bánh mì vô hình rồi nướng, hơi ấm đó vẫn còn thoảng trong không trung. Ông nghĩ chính nhờ những chiếc bánh mì ban đêm vô hình, những chiếc bánh mì tuyệt đối không thể bán đó mà những chiếc bánh mì ban ngày mới tồn tại. Thời gian mà mùi hương lan tỏa từ không gian khác đến rất ngắn ngủi. Tuy rằng tuyệt đối không thể gặp được người nướng bánh ban đêm ấy, nhưng việc ông hoàn toàn không thấy buồn, khi làm việc một mình, có lẽ là nhờ sự tồn tại bí ẩn đó. Giờ mở cửa tiệm là sáu giờ mười lăm phút, giờ đóng cửa là sáu giờ bốn mươi lăm phút chiều. Từ cách quy định giờ mở cửa thế này, cũng có người cho rằng biết đâu chừng lúc xưa, ông chủ từng làm công việc có liên quan đến giáo dục. Nhưng ông giải thích chỉ là do mình tính toán chính xác giờ thức dậy và giờ làm các công đoạn rồi đặt ra giờ làm việc như vậy thôi. Nếu là nhân viên văn phòng, phía công ty quy định giờ làm là tám giờ rưỡi, cả nhân viên buồn ngủ lẫn nhân viên không buồn ngủ đều phải đến đúng giờ đó. Tiệm bánh mì này tuân thủ một cách trung thực quy tắc do chính mình đặt ra.

Tiệm có một nhân viên, người này giống Yoshiro, đã hơn trăm tuổi. Thân hình người này nhỏ bé nhưng di chuyển nhanh nhẹn như một con chồn. Thấy Yoshiro dõi theo chuyển động của nhân viên, chủ tiệm bánh mì đưa mặt lại gần Yoshiro, nói nhỏ vào tai: “Chú tôi.”

“Ông ấy nói hơn trăm tuổi rồi thì không còn cần nghỉ giải lao nữa. Hễ tôi nói ‘Chú ơi, nghỉ tay uống cốc trà đi’ là ông ấy nổi giận, rồi còn mắng ngược tôi là dạo này mấy người trẻ nghỉ giải lao còn nhiều hơn làm Yoshiro gật gù liên hồi, đáp:

“Xưa giờ người già đều chê bai người trẻ không ra gì mà. Nghe đâu kiểu nói như vậy lại tốt cho sức khỏe của người già đấy. Hình như là để họ nói xấu người trẻ huyết áp sẽ hạ”

Người trẻ là chủ tiệm bánh mì, vừa ghen tị nhìn mặt Yoshiro là “người già” danh chính ngôn thuận không bị chụp mũ “trẻ” hay “trung niên”, nói:

“Thật ra chú tôi huyết áp thấp hơn tôi. Mà chẳng thuốc thang gì cả. Ông anh đây có vẻ huyết áp cũng thấp nhỉ? Hễ nhìn chú tôi hoạt động như thế, tôi lại thấy thời đại mà những người trẻ mới ở độ tuổi sáu mươi đã thôi việc về hưu thật kỳ lạ làm sao.”

“Thôi việc về hưu là một chế độ kỳ lạ. Nhưng với ý nghĩa nhường chỗ cho lớp trẻ, đó là một chế độ quan trọng đấy”

“Thật ra tôi từng vẽ tranh, nên rất tự hào nghĩ rằng mình không bao giờ phải thôi việc về hưu cả.”

“Thôi rồi à?”

“Phải, thật ra tôi vẽ tranh trừu tượng nhưng luôn có một nhà phê bình nói là phong cảnh núi Alps nên tôi toát cả mồ hôi. Tại sao tranh tôi vẽ lại bị nghĩ là phong cảnh nước ngoài chứ? Cho nên tôi khổ tâm lắm. Để bảo toàn tính mạng, tôi quyết định kế tục gia nghiệp, nướng bánh mì kiếm sống. Bánh mì cũng khởi nguồn từ châu Âu, nhưng tại sao bánh mì lại được chấp nhận nhỉ?”

“Hồi xưa có bánh mì Pháp, bánh mì Anh nhỉ? Gọi vậy, ngược lại thấy có vẻ Nhật Bản, nhớ ghê.”

Tiếng Yoshiro nhỏ lại mỗi khi nhắc đến tên nước nào đó. Chủ tiệm bánh mì đảo mắt dáo dác, xác nhận xem xung quanh có ai không rồi nói.

“Loại bánh mì này đúng ra hồi xưa cũng được gọi là bánh mì Đức. Tên chính thức bây giờ là Sanuki-pan. Trong khi pan cũng là từ ngoại lai mà nhỉ?”

“Từ ‘pan’ gợi cho chúng ta nhớ lại là có một quốc gia xa xôi tồn tại nên nghe thích nhỉ? Tôi thích ăn cơm hơn nhưng có một ước mơ với ‘pan’ đó chứ. Sắp tới nhờ anh cả nhé.”

“Vâng, nhưng mà, công việc này, lao động tay chân khá vất vả. Tôi lại không giỏi thả lỏng, đang lo không biết có bị viêm dây chằng không đây. Buổi tối nằm xuống giường là cánh tay nặng trĩu. Có khi còn nghĩ nếu được như người máy, gỡ cánh tay ra khỏi vai để ngủ thì khỏe biết bao nữa kìa”

“Có khóa học dạy bí quyết thả lỏng cơ thể mà. Mới đây tôi thấy có quảng cáo. Địa điểm hình như là thủy cung. Do chữ ‘chẳng’ trong viêm dây chằng na ná chữ ‘cẳng’ trong nhện cao cẳng nên tôi nhớ”

“À, tôi có thấy cái áp phích đó. Cuộc sống thân mềm học ở loài nhện cao cẳng”

“Đúng đúng, lúc xưa chúng ta đã coi thường loài động vật thân mềm nhưng loài người đã tiến hóa theo một chiều hướng mà không ai đoán được, ví dụ như tiến gần đến loài nhện cao cẳng không chừng. Nhìn thằng chắt ở nhà mà tôi nghĩ vậy”

“Một vạn năm sau mọi người sẽ thành nhện hết sao?”

“Ừ, con người ngày xưa chắc chắn cho rằng việc con người trở thành nhện là thoái hóa, nhưng thật ra là tiến hóa không chừng”

“Hồi phổ thông, tôi đã rất ghen tị với thân hình như tượng điêu khắc Hy Lạp. Tôi còn cố vào đại học mỹ thuật nữa kia. Rồi chẳng biết từ khi nào, lại thích kiểu thân hình hoàn toàn khác. Chim, hay là nhện. Kiểu muốn thử một lần nhìn mọi thứ bằng con mắt của loài khác vậy.

“Loài khác?”

“Không, nhện. Tôi muốn thử nhìn bằng con mắt của loài nhện.”

Yoshiro vừa nhớ lại cuộc trò chuyện với chủ tiệm bánh mì vừa chờ sữa đậu nành trong chiếc nồi nhỏ ấm lên. Răng của Mumei dễ mẻ nên bánh mì phải ngâm trong chất lỏng mới ăn được.

Khi nhìn thấy những chiếc răng sữa của Mumei rụng là tả như hạt lựu, xung quanh miệng đầy máu, Yoshiro đã rất bối rối, cứ đi quanh quẩn trong phòng một cách vô nghĩa lúc lâu. Ông tự nói với mình đó chỉ là thay răng sữa, không phải lo, mãi mới trấn tĩnh được sự bấn loạn trong lòng, rồi đặt Mumei lên yên sau xe đạp, chở thằng bé đến nha sĩ. Vì không hẹn trước nên hai ông cháu bị bắt chờ hơn hai tiếng. Trong phòng chờ oi bức, Yoshiro nhiều lần đổi tư thế xếp chân, đưa hai ngón tay lên môi như thể hút thuốc, liên tục nhíu mày, và nhìn lên chiếc đồng hồ treo tường không biết bao nhiêu lần. Trong phòng chờ có bày mô hình hàm răng. Mumei làm mô hình răng khôn giả thành chiếc xe tải cỡ lớn, đẩy nó từ từ trên chiếc thảm màu đỏ. Yoshiro cảm thấy ớn lạnh khi hình dung một thế giới không một bóng người, những chiếc răng khổng lồ trở thành xe tải, trượt trên đường.

Chán mô hình răng rồi nên lần này Mumei chuyển sang cuốn truyện tranh cỡ lớn có tựa Cuộc phiêu lưu của Răng Nanh, cậu bé đặt nó lên đùi, bắt đầu giở từng trang. Ngồi cạnh bên, Yoshiro liếc nhìn cuốn truyện, băn khoăn không biết có nên đọc chung với chẳt mình hay không. Đây là khoảng thời gian ông đang viết tác phẩm dành cho trẻ con. Một mặt định viết sách mà Mumei có thể đọc được, mặt khác, cũng vì Mumei ở bên cạnh nên ông khó mà viết đồng thoại được. Chính vì là sách nên nếu chỉ cảm thấy khó chịu khi không có câu trả lời cho những vấn đề gặp phải hằng ngày một cách sống động thì không thể đến được cảnh giới của năng lực. Tuy cũng có ý muốn vẽ nên một thế giới lý tưởng, nhưng đâu phải Mumei đọc rồi thì có thể thay đổi môi trường của mình ngay được.

Mumei đang nhìn vào quyển sách tranh bằng đôi mắt mọng nước. Nhân vật trong sách ngoài Răng Nanh còn có Răng Khôn, Răng Cửa, Răng Xiết, Răng Bọc Vàng, v.v. Do người chủ bị vấp ngã đập vào bê tông mà Răng Nanh bị mẻ, rơi xuống cống. Lũ chuột phát hiện ra Răng Nanh, thoạt đầu không biết đó là gì nhưng sau đó chúng xem Răng Nanh như thần linh và đem đi cúng ở đền thờ Thần Đạo. Cứ như thế, Răng Nanh được cúng bái dưới lòng đất như một vị thần, hoàn thành các nghi lễ xuân hạ thu đông một cách bình an vô sự nhưng ngày nọ, lòng đất bị lụt, đền thờ Thần Đạo của lũ chuột bị cuốn trôi, Răng Nanh cũng bị đẩy trôi lên mặt đất. Có một đứa trẻ nhặt lấy cho vào túi đem về nhà. Đọc tới đó thì đến lượt Mumei vào khám.

Vào phòng khám, khi chạm mắt nha sĩ, tuy chưa được hỏi gì nhưng: “Nó bị khuyết mất ạ” - những lời nói đó tự nhiên vọt khỏi miệng Yoshiro.

Giọng ông run rẩy, âm điệu rung rung nên khi nhận ra câu nói của mình gần biến thành “Nó viết được mất ạ”[9], ông vội vàng nói lại: “Nó bị khuyết rớt mất rồi ạ.” Sau đó, ông còn nói thêm: “Ý tôi là răng sữa…” Ông nghĩ những việc thế này gọi là phép đảo ngược. Trong khi đó, Mumei hầu như còn chưa viết được chữ Kanji nào nhưng với vốn từ vựng phong phú nên dù không biết chữ Kanji, cậu tủm tỉm cười một mình khi hình dung câu nói đó với ý “rớt mất rồi, ý tôi là kỳ thi tuyển sinh”[10].

“Răng sữa là để rụng nên tôi nghĩ bình thường thôi, nhưng vì nó rụng dễ dàng quá nên tôi hơi cuống. Bình thường nó sẽ bám chặt để không bị rụng chứ, đúng không ạ, mấy cái răng ấy? Chứ sao lại rụng dễ dàng như vậy được? Hay là tại tôi lo lắng thái quá ạ?” – Yoshiro giải thích, giọng trầm dần. Vị nha sĩ có khuôn mặt chữ điền quay lại, lãnh đạm trả lời: “Răng sữa mà yếu cũng ảnh hưởng đến răng vĩnh viễn. Nghe vậy, Yoshiro cảm giác như bị khâu một tảng đá lớn vào ngực, còn Mumei hỏi với vẻ mặt sáng rỡ của một cậu thiếu niên khoa học: “Răng sữa là để làm gì ạ? Đằng nào chúng cũng rụng mà?” Nha sĩ nhẫn nại trả lời câu hỏi đó rồi bắt đầu khám răng cho Mumei. Khám xong rồi thì không biết được ai dạy, Mumei nói cảm ơn với vẻ mặt nghiêm túc: “Cảm ơn bác sĩ đã nhẹ nhàng với răng của cháu ạ”, khiến Yoshiro ngạc nhiên đến há hốc mồm. Thằng bé học câu chào hỏi như dịch từ tiếng nước ngoài ở đâu vậy nhỉ? Ở thời đại mà đến cả truyện tranh cũng không còn được dịch như bây giờ, đây thật là một điều kỳ lạ.

Như hầu hết bọn trẻ con thế hệ này, Mumei thiếu khả năng hấp thụ canxi. Nếu cứ thế này, loài người sẽ trở thành sinh vật không răng mất, trên đường từ phòng khám răng trở về, Yoshiro nghĩ vậy và ngay lập tức Mumei đọc được suy nghĩ đang xoắn lấy đầu óc Yoshiro, cậu nói:

“Chim sẻ cũng đâu có răng mà vẫn khỏe mạnh đấy thôi, cháu không sao đâu ạ.”

Mumei có thể đọc được suy nghĩ của người khác. Thậm chí có khi Yoshiro cảm thấy ghê ghê, như thể cậu bé không phải suy đoán chung chung đại khái mà là đọc được rõ ràng như đọc chữ. Vì vậy, trong khả năng của mình, ông luôn lưu ý để không suy nghĩ về tương lai của Mumei theo chiều hướng xấu nhưng phần lớn nỗi lo lắng về sự bất hạnh cứ định kỳ kéo đến như triều dâng, bất chấp ý chí này của ông, dần dần khiến ông bận tâm lúc nào không hay.

“Ông cố cũng đâu có răng mà vẫn ăn cơm nhiều, và khỏe mạnh đấy thôi”

Mumei lại an ủi Yoshiro trong khi con sóng lo lắng trong lòng ông chưa chịu rút. Yoshiro cảm thấy tội lỗi khi thấy sức tưởng tượng của đứa chắt phát triển theo hướng chỉ để an ủi người già. Trong khi ông mong thằng bé chỉ cần nghĩ đến bản thân nó, nghịch ngợm, sống tự do tự tại.

Cũng có giai đoạn ông bắt thằng bé uống nửa cốc sữa mỗi sáng để hấp thu canxi càng nhiều càng tốt nhưng kết quả đáp lại là “tiêu chảy”. Nha sĩ có giải thích với ông tuyệt chiêu của nội tạng khi nhận ra những thứ được đưa vào có độc sẽ nhanh chóng thải ra ngoài cơ thể gây ra tiêu chảy. Ông biết rõ trong đầu có bộ não nhưng thật ra phần thân dưới cũng có một bộ não gọi là ruột, khi ý kiến của cả hai không thống nhất với nhau thì ý kiến của ruột được ưu tiên hơn. Có khi não trên đầu được gọi là “tham nghị viện”, còn ruột là “chúng nghị viện” là vì vậy. Người ta thường tin rằng do bầu cử chúng nghị viện được tổ chức thường xuyên hơn nên ý kiến của người dân luôn được phản ánh thường hơn tham nghị viện. Tương tự như vậy, do nhu động ruột chuyển động nhanh hơn nên so với não, nó phản ánh tình trạng hiện giờ của người đó chính xác hơn.

Khi đi khám răng, không biết có phải do không thể chỉ há to miệng không mà Mumei mở to cả mắt khi há miệng. Có lần do há miệng to quá suýt sái quai hàm nên cậu lật đật ngậm miệng lại, thế là nhắm tịt cả hai mắt.

Có khi cậu lại nói: “Sâu trong họng cháu có Trái đất đấy”, rồi há to miệng, mở to mắt. Cả khi đi khám định kỳ ở khoa Nhi, có lần “Trái đất” này đã xuất hiện. Mumei cuộn áo lại, kéo nó lên trên, xương sườn nổi lên, cậu ưỡn lồng ngực dẹp lép thấy rõ ra và điềm nhiên nói:

“Trong ngực này có Trái đất đấy”

Yoshiro ngoảnh mặt đi để giấu vẻ ngạc nhiên, nheo mắt rồi ngước nhìn cây cối trong vườn qua lớp kính cửa sổ.

Do trong tiếng Nhật, từ “khám bệnh” nghe gần giống “đã chết”[11] nên dần dần từ “khám bệnh định kỳ” không còn được dùng nữa, số bác sĩ gọi thành “xem hàng tháng” tăng lên. Đi khám định kỳ ở khoa Nhi, trước tiên bác sĩ sẽ kiểm tra lưỡi, họng thật kỹ và vạch mí mắt lên để khám mắt. Sau đó, bác sĩ xem xét kỹ càng da lòng bàn tay, mặt, cổ, lưng, nhổ một cọng tóc để phân tích, rọi đèn để khám bên trong tai và mũi.

“Có phải bác sĩ kiểm tra xem tế bào bị phá hủy bao nhiêu rồi không ạ?”, có lần, Yoshiro không kiềm được nỗi bất an trong lòng, ông hỏi xác nhận khiến bác sĩ cười: “Đúng vậy. Nhưng không thể nào có chuyện cho tế bào vào máy rồi hiện lên con số mức độ phá hủy đâu. Nếu có bác sĩ nào nói như vậy thì cũng là một trò lừa đảo đấy. Thứ mà chúng ta phải khám thực sự chính là cơ thể.”

Vị bác sĩ chuyên khoa Nhi này là bác sĩ Satori, nghe đâu là người bà con xa của bác sĩ Satori chuyên khoa Ung bướu mà mẹ của Yoshiro từng đi khám, nhưng cả giọng nói lẫn nét mặt của hai người đều chẳng có điểm nào giống nhau. Bác sĩ Satori chuyên khoa Ung bướu là người nói năng với bệnh nhân như trẻ con. Hễ bệnh nhân có hỏi gì, bác sĩ sẽ nhíu mày hệt như bị phê phán, có khi còn khó chịu nói: “Chỉ cần gạt những thắc mắc ngớ ngẩn đó ra khỏi đầu, làm đúng theo lời tôi sẽ khỏi bệnh. Bác sĩ Satori khoa Nhi thường khám định kỳ cho Mumei lại không tiếc công chia sẻ kiến thức phong phú của mình mỗi khi Yoshiro hay Mumei đặt câu hỏi. Từ ngữ của bác sĩ hoàn toàn không có chút gì là coi thường họ, cũng không có gì là e ngại cả chất vấn lẫn phê phán. Dù biết vậy nhưng Yoshiro cũng không mấy khi thắc mắc. Muốn hỏi ý nghĩa ẩn đằng sau những con số miêu tả tình trạng sức khỏe của Mumei được ghi chép trong sổ nhưng Yoshiro sợ tất cả, “cửu” (9) là “khổ”, “tứ” (4) là “tử”[12] do đã rõ như ban ngày nên ông chẳng dám hỏi gì, chỉ biết gật đầu.

Hồ sơ về tình trạng sức khỏe của trẻ được trợ lý bác sĩ chép tay lại, và được chính tay người đưa thư đem đến Cục Trung ương Viện Nghiên cứu Y tế Nhật Bản Mới. Kể từ khi bộ truyện tranh Lá thư của gió biển mà nhân vật chính là người đưa thư có đôi chân của tỳ linh[13] và bộ óc ghi nhớ mọi ngóc ngách của thị trấn, trở nên thịnh hành, số trẻ em ngưỡng mộ công việc này tăng lên nhưng với thể lực của trẻ hiện nay có lẽ khó. Trong tương lai gần, có lẽ tất cả người trẻ sẽ làm công việc văn phòng, còn công việc lao động tay chân sẽ được người già tiếp tục đảm nhiệm.

Tất cả các dữ liệu gốc về tình trạng sức khỏe của trẻ đều được viết bằng tay, và được giấu ở đâu đó tùy vào chọn lựa của từng bác sĩ. Thỉnh thoảng có những mẩu truyện tranh đăng báo viết bác sĩ giấu hồ sơ trong góc chuồng chó, hay trong cái nồi ninh cỡ lớn. Yoshiro đọc mẩu truyện và bật cười nhưng sau đó chợt nghĩ biết đâu không phải là châm biếm mà có thật.

Do các dữ liệu được gửi từ các bệnh viện đến Viện Nghiên cứu Y tế đều là bản sao của bản chép tay nên không ai có thể viết lại hay tẩy xóa số lượng lớn dữ liệu trong một thời gian ngắn. Với ý nghĩa đó, cách này ưu việt hơn cả hệ thống bảo mật do một lập trình viên ưu tú nghĩ ra trước đây.

Trong một xã hội mà không còn đứa trẻ nào phù hợp với từ gọi là “khỏe mạnh”, thời gian làm việc của bác sĩ khoa Nhi tăng lên, họ không chỉ phải đối mặt với sự tức giận và nỗi buồn của phụ huynh mà còn chịu áp lực từ việc phải nói về thực trạng với cánh phóng viên báo chí, v.v. Khi số người mất ngủ hay tự sát bắt đầu tăng lên, các bác sĩ khoa Nhi lập công đoàn lao động trước, sau đó giảm giờ làm, từ chối nộp các báo cáo mà Bộ Y tế yêu cầu và cắt đứt quan hệ với các hãng dược lớn.

Mumei rất thích bác sĩ khoa Nhi, hoàn toàn không khó chịu khi đi khám định kỳ. Khi đi nha sĩ, cậu bé không những không ghét mà còn háo hức như ngày đi dã ngoại; người cảm thấy nặng nề trong lòng chính là Yoshiro. Mumei mong đợi nhất là được ngồi trên chiếc ghế cao nói chuyện với nha sĩ. Lần trước, khi vị nha sĩ nói: “Đừng ép trẻ uống sữa khi nó ghét mùi sữa. Nhưng với trẻ thích cũng không được cho uống nhiều quá”, và khi Yoshiro trả lời: “Vâng, chuyện đó tôi có nghe bác sĩ nói rồi ạ”, nha sĩ nhìn lom lom vào mặt Mumei hỏi với giọng nghiêm túc: “Cháu có thích sữa không?” Không chần chừ, Mumei trả lời: “Cháu thích giun đất hơn ạ” Yoshiro thật không thể hình dung mối liên hệ giữa sữa và giun đất, trong lòng bối rối nên lảng nhìn ra ngoài cửa sổ nhưng vị nha sĩ bình thản nói: “Vậy à? Vậy cháu không phải là một chú bê mà là chim non rồi. Con bê bú sữa của bò mẹ để lớn lên, còn chim non ăn giun đất mà chim bố chim mẹ tha về. Nhưng giun đất sống trong đất, nếu đất bị ô nhiễm sẽ khiến mức độ phơi nhiễm của giun đất cao đấy. Chim chóc gần đây không ăn giun đất nữa là vì vậy. Cho nên giun đất thừa mứa ra, dễ bắt lắm. Có khi sau cơn mưa, chúng bò lổn nhổn đầy đường. Nhưng cháu đừng có ăn giun đất thừa đấy nhé. Hãy bắt côn trùng có cánh bay trên trời mà ăn.” Giọng điệu vị nha sĩ bình bình hệt như đang giảng giải cách đánh răng cho cậu bé. Phải chăng vì biết Yoshiro là nhà văn nên tinh thần cạnh tranh trỗi dậy mà nha sĩ cố tình nói một câu chuyện bay bổng? Hay là từ lúc nào, Mumei và nha sĩ đã đi đến được tương lai cùng cấp độ, chỉ có Yoshiro là bị bỏ lại phía sau?

Nhiều nha sĩ thích phô diễn tài ăn nói, hẳn là vì họ muốn khoe vẻ đẹp của hàm răng với người khác càng lâu càng tốt. Nghe nói vị nha sĩ này cũng sắp mừng sinh nhật một trăm lẻ năm tuổi nhưng cằm trông vẫn rắn chắc, bạnh ra, mở miệng là thấy những chiếc răng to, vuông vức, hai hàm trắng sáng thẳng đều tăm tắp. Yoshiro thầm nghĩ nếu được, ông cũng muốn cướp lấy hai hàm răng ấy làm quà cho chắt của mình. Vị nha sĩ lại bắt đầu há to miệng nói:

“Cũng có thuyết cho rằng nên hấp thụ canxi từ cá và xương động vật. Tuy nhiên, đó phải là xương của những động vật đã sống trước khi Trái đất bị ô nhiễm đến mức không thể gột rửa. Có kẻ nói, vậy chỉ cần đào xương khủng long sâu dưới lòng đất lên. Nghe nói ở Hokkaido có cửa hàng khai quật xương voi Naumann làm thành bột để bán nữa”

Tình cờ thế nào mà hôm sau, Yoshiro bắt gặp tờ giấy quảng cáo dán trên vách tường trường tiểu học, giới thiệu buổi giảng về voi Naumann của một giáo sư chuyên nghiên cứu sinh vật học cổ đại ở công viên văn hóa, về đến nhà, ông viết “Voi Naumann” lên tờ lịch treo trên tường. Đi nghe giảng là đam mê của Yoshiro. Mỗi lần đi ngang qua tờ lịch, mắt Mumei lại như dán chặt vào dòng chữ “Voi Naumann”, cậu nháy mắt liên hồi. Như thể cậu cho rằng dòng chữ đó là con vật, và nếu cậu cứ chằm chằm nhìn vào đó thì một lúc nào đó nó sẽ chuyển động. Như để gỡ bỏ phép thuật trói Mumei vào đó, Yoshiro thử nói: “Voi Naumann là loài voi sống cách đây năm trăm nghìn năm đấy. Có giáo sư đại học đến để nói chuyện về loài voi đó. Ông cháu mình đi nghe nhé.” Thế là mặt Mumei bừng sáng, “Cực lạc!” – cậu hét vang, giơ hai tay lên và nhảy cẫng lên trong không trung ngay tại đó. Yoshiro giật mình nhưng rồi quên ngay cú nhảy đó của Mumei.

Không chỉ voi Naumann, dù là diệc hay rùa biển, hễ nhìn thấy hay nghe tên của các loài sinh vật là Mumei không thể nào rời mắt, như thể cậu nghĩ sinh vật đó sẽ bay ra từ trong cái tên.

Ông nghĩ không chỉ tên của động vật, nếu chính sinh vật xuất hiện trước mặt, hẳn Mumei sẽ rất vui mừng như mở cờ trong bụng, nhưng đất nước này đã từ khá lâu rồi, không còn thấy động vật hoang dã nữa. Thời sinh viên, Yoshiro từng dẫn một cô gái đến từ thị trấn Mattman của Đức đi tham quan từ Tokyo, băng qua Nakasendo đến tận Kyoto trong mấy ngày nhưng lúc đó, ông đã rất ngạc nhiên khi nghe cô ấy nói: “Nhật Bản chỉ có nhện và quạ thôi nhỉ. Kể từ khi đất nước bắt đầu đóng cửa, những vị khách đến từ phương xa với những lời nhận xét đau lòng như thế cũng không còn nữa. Mỗi lần nghĩ đến các loài động vật, Yoshiro lại nhớ đến cô gái này. Tên cô ấy là Hildegard[14]. Hildegard và Yoshiro bằng tuổi nhau. “Hế lô, Yồ-shi-rổ” - cho đến tận bây giờ, thỉnh thoảng ông vẫn nghe được giọng nói ấy. Không có điện thoại nhưng trong không trung có tiếng điện chạy rè rè ngắn ngủi, sau đó “hế lô” được lặp lại nhiều lần, và âm điệu đặc trưng lên giọng ở chữ cuối “Yồ-shi-rổ” dính chặt vào màng nhĩ. Sau “yồ” là một tiếng thở, “shi” thì nảy mạnh và “rổ” hơi ngắn, dứt khoát khiến ông có cảm giác cô ấy làm một cử chỉ như với tay ra.

Sau đó, hai người họ nói với nhau bằng một thứ tiếng Anh đứt khúc. Yoshiro cứ bày ra một loạt những câu hỏi đơn giản, kiểu “Hôm nay cô đã ăn gì?”, hoặc “Cô mua rau ở đâu?”, hay “Bọn trẻ có thích chơi ngoài trời không?”, v.v. Liệu môi trường nước Đức có bị giống Nhật Bản rồi không, hay vẫn là môi trường như xưa, cháu và chắt của cô ấy có khỏe không, ông rất muốn biết những điều đó. Hildegard vừa dứt lời: “Tôi đang luộc mớ đậu que trồng ngoài vườn với ít rau thơm”, ngay lập tức Yoshiro cảm giác như mình vừa hít luồng hơi bốc lên từ cái nồi, tiếng nói qua cuộc điện thoại huyễn hoặc nhỏ đi ngay, không còn nghe được gì, có phải là ảo giác thính giác không, hay Hildegard đã nói điều đó thật sự, ông bị mất tự tin hẳn. Nhưng dù là gì đi nữa thì nhắm mắt lại, Yoshiro vẫn thấy rõ. Lũ cháu chắt của Hildegard đang chạy quanh trong vườn, phóng qua cái ao, nhón chân hái táo, và cứ thế cạp những trái táo chua lủng lỗ do sâu ăn bằng hàm răng trắng tinh chắc khỏe mà không buồn rửa. Ăn xong chúng lại phân vân, đi hái hoa ngoài đồng cỏ hay đi xem cá ngoài suối.

Yoshiro muốn đi Đức để thăm Hildegard, dù chỉ một lần thôi cũng được, nhưng tất cả chuyến bay kết nối Nhật Bản với nước ngoài đã bị cắt. Không biết có phải vì vậy mà lòng bàn chân ông cũng không còn cảm thấy Trái đất tròn nữa. Sự tồn tại của quả cầu tròn mà ông có thể đi du lịch chỉ là suy nghĩ bên trong đầu ông mà thôi. Ông chỉ còn cách lần theo những đường gấp khúc của quả cầu trong suy nghĩ của mình để chu du phía bên kia địa cầu.

Yoshiro thử hình dung mình đang cho quần áo và dụng cụ vệ sinh cá nhân vào chiếc túi du lịch nhỏ, đi tàu điện rồi đón xe buýt đến sân bay Narita. Khu phố Shinjuku đã bao năm mình không đặt chân đến, nay thế nào rồi nhỉ? Những tấm bảng hiệu quá sôi động để có thể nhìn ra sự hoang tàn; không có lấy một bóng xe chạy mà đèn hiệu giao thông cứ hiện đỏ rồi lại chuyển xanh; cánh cửa tự động bên trong những công ty không có nhân viên cứ hết mở rồi đóng, có lẽ do phản ứng với những cành cây to của hàng cây bên đường oằn mình trước gió. Những sảnh đãi tiệc đặc quánh mùi thuốc lá lạnh lẽo trong sự tĩnh lặng bao trùm; những tòa nhà cho thuê chất đầy bàn ghế, tầng nào cũng huyên náo những vị khách tên “Vắng mặt” ăn uống thỏa thuê; mớ tiền lãi ở những chỗ chuyên cho cánh nhân viên văn phòng vay nặng lãi gỉ sét vì chẳng có người vay; núi đồ lót đại hạ giá ẩm ướt không người mua; ở ô cửa kính trưng bày đọng nước mưa, những chiếc túi xách tay trang trí đang nổi mốc; một con chuột đang say sưa ngủ trưa trong chiếc giày cao gót. Con đường trải nhựa nứt nẻ, cỏ mọc từ những vết rạn nứt đó cao đến những hai mét, vươn thẳng lên trời. Kể từ khi con người mất dạng khỏi trung tâm thành phố, cả hàng cây hoa anh đào khi xưa vốn khẳng khiu, đứng nép bên vỉa hè như những chiếc chổi, nay thân cây trở nên to dày, cành vươn khỏe ra tứ phía, tán lá cây xoăn tròn xanh mướt um tùm, chậm rãi đung đưa trong không trung.

Yoshiro thử tưởng tượng mình đi chuyến tốc hành Express không người lái từ ga Shinjuku đến sân bay Narita. Trên thực tế, tàu điện đi sân bay không còn tồn tại, cũng không thấy người đi chuyến Express lẫn người uống Espresso, là những thứ bán tốc độ với giá cao nhờ đặc trưng chữ Katakana[15]. Ra khỏi cửa soát vé ga cuối ở sân bay, không có một ai ở quầy hải quan để vào trong sân bay nên ông không cần cho xem hộ chiếu. Tấm bảng có viết chữ “Taminaru”[16] đã bị gỡ xuống, cứ thể được dựng sát tường. Ông dùng chiếc thang cuốn chẳng mảy may động đậy làm cầu thang cót két để bước lên trên; quầy làm thủ tục nào cũng không một bóng người; trên đầu là dãy mạng nhện khổng lồ như chiếc dù đi mưa. Yoshiro dừng bước ngó lên, ở góc mạng nhện có một con nhện to bằng cỡ lòng bàn tay, đang yên lặng ẩn mình phục chờ con mồi. Trên lưng con nhện là những sọc hoa văn sặc sỡ theo thứ tự từ trên xuống là màu đen, màu đỏ và màu vàng. Có lẽ vì sắp sửa bay đi Đức nên có sự phối hợp màu sắc như thế chăng - Yoshiro lấy làm thuyết phục. Ông e ngại đưa mắt nhìn sang quầy bên cạnh liền thấy có con nhện sọc đỏ, trắng, xanh. Có cả con nhện đỏ với hoa văn là những ngôi sao tản mát.

Không hiểu vì lý do gì mà Yoshiro có thể mường tượng được cảnh tượng như thế ở sân bay. Dù không tự mình nghĩ ra nhưng những hình ảnh cứ tự nhiên xuất hiện trong đầu ông, nài nỉ “viết tiểu thuyết đi, ông viết tiểu thuyết đi”. Thế nhưng, thật nguy hiểm khi viết về quang cảnh sân bay không một bóng người. Giả sử ở đó có bí mật quốc gia nào đó được che giấu và người ta đã tìm cách đông cứng chúng lại để không ai có thể đến được. Yoshiro hoàn toàn không có ý định đào bới cái bí mật được chôn giấu kỹ càng ở một nơi bị cấm đoán như thế. Nhưng nếu ông công bố một tác phẩm miêu tả chi tiết sân bay trong trí tưởng tượng của mình và tình cờ nó trùng khớp với sân bay thật, có thể ông sẽ bị kết tội làm rò rỉ cơ mật quốc gia và bị bắt. Việc chứng minh tại tòa rằng đó chỉ là tưởng tượng rõ ràng cực kỳ khó. Mà liệu phiên tòa có được diễn ra đàng hoàng hay không? Yoshiro cũng không cảm thấy sợ hãi lắm khi tưởng tượng mình bị tống vào tù, nhưng nghĩ đến Mumei còn lại một mình phải làm sao để sống, ông lo lắng đến mức không dám mạo hiểm.

Đã bao năm trôi qua rồi nhỉ, kể từ khi ông không còn bận tâm đến việc chẳng nhìn thấy một con vật nào ngoại trừ những con chó thuê và xác mèo chết? Nghe nói có một nhóm người lén lút nuôi thỏ và lập ra một tổ chức gọi là “Liên minh Thở” nhưng do không có bà con hay người quen trong tổ chức đó nên ông không thể nào cho Mumei xem con thỏ thật.

“Mumei, cháu sẽ thành nhà động vật học à?” Yoshiro buột miệng hỏi vậy khi nhìn thấy Mumei vừa xem sách bách khoa động vật vừa say sưa vẽ tranh con ngựa vằn. Ông còn nằm mơ thấy Mumei không chỉ trở thành giáo sư động vật học mà còn đi khắp nơi quan sát động vật hoang dã, viết tùy bút, trở nên nổi tiếng trong vai trò nhà văn. Có điều chỉ được một lúc, nụ cười vừa mới làm dịu đi ánh mắt cũng trở nên đông cứng.

Yoshiro vào nhà xí, ngồi xuống bồn cầu và mường tượng bóng dáng phía sau của con voi Naumann. Ông tưởng tượng cảnh Mumei quan sát dấu chân voi đọng nước mưa bằng chiếc kính lúp. Sau đó, cậu túm mớ giấy với vẻ tức giận. Yoshiro vò mềm mớ giấy báo đã cắt từ mấy bài phóng sự và cho vào hộp gỗ làm giấy vệ sinh. Cũng có khi ông rùng mình như thể chính trị dính bẹp vào mông, nhưng rồi tự an ủi mình cảm giác thật dễ chịu vì khi chạm vào da, chữ trên báo hóa thành chữ ngược. Dưới mông ông, chính trị từ trước đến nay trở thành “ngược” hoặc “phản đối”.

Từng có thời kỳ hễ đọc được bài phóng sự nào trên báo về sức khỏe của trẻ em là ông đều cắt lại để lưu giữ, nhưng rồi tự lúc nào ông cũng thôi không làm vậy nữa. Thực tế là ông không đọc lại các bài báo từng đọc, số tập lưu trữ tăng lên và bắt đầu chiếm lĩnh kệ tủ, khiến các bức tường trở nên ngột ngạt. Yoshiro từng sống theo nguyên tắc “Không vứt những gì không có lý do để vứt” trong một thời gian dài. Cùng với việc sinh sống ở dãy nhà tạm, Yoshiro đổi nguyên tắc đó thành nguyên tắc mới: “Vứt tất cả những gì không cần thiết trong đời sống sáu tháng qua.

Còn có một lý do khiến ông không còn luyến tiếc các bài báo cũ. Những thông tin liên quan đến sức khỏe trẻ em thay đổi xoành xoạch, còn hơn cả thời tiết mùa thu, hơn cả trái tim đàn ông. Vừa mới thấy có bài báo viết “Phương pháp giữ gìn sức khỏe bằng cách dậy sớm” là mấy ngày sau, một tiêu đề to đùng đập vào mắt “Trẻ ngủ nướng sẽ phát triển chiều cao”. Và bài viết với nội dung “Nếu không cho trẻ món ngọt như chúng muốn sẽ khiến trẻ trở nên ủ dột” xuất hiện như đuổi theo sau bài “Trẻ ăn vặt giữa buổi sẽ không có cảm giác thèm ăn” trước đó. Vừa mới thấy đăng lời khuyên của chuyên gia rằng: “Quan trọng là cho trẻ đi bộ càng nhiều càng tốt”, lại có bài kể chuyện đứa bé vì bị bắt đi bộ nhiều quá mà xương đầu gối bị bào mòn. Yoshiro không thể đoán trước số phận nào đang chờ đợi Mumei trong tương lai, chỉ biết cứ thế mở to mắt, ra sức mà sống qua từng ngày từng ngày sao cho thời gian gọi là hiện tại không bị sụp đổ dưới chân mình.

Trên bếp, một cái nồi đang ngạo nghễ tỏa sáng. Đó không phải là loại nồi cao cấp đặc biệt gì nhưng tại sao lại có cách tỏa sáng như thế này nhỉ? Yoshiro thỉnh thoảng liếc nhìn cái nồi trong lúc cắt đôi quả cam bằng con dao cắt trái cây lớn. Con dao cũng tỏa sáng nhưng ánh sáng đó không có chút gì của sự ngạo nghễ. Ông mua được con dao cắt trái cây bén như vậy cũng là nhờ công của ông chủ tiệm bánh mì. Ông ấy bảo tuần tới có người quen đến bán dao ở tiệm sách gần nhà, Yoshiro mới hỏi sao lại bán dao ở tiệm sách thì được biết cuốn tự truyện do người bán dao viết bán rất chạy nên có buổi họp báo ký tên, tiện thể bán luôn cả dao thật. Ông bán bánh mì còn vừa cười cười vừa bảo trên cán dao bằng gỗ có khắc dòng chữ “Thổ Tá khuyển” nhưng anh không được nghĩ đó là chó đâu đấy. Nghe đâu “Thổ Tá kiếm”[17] là thương hiệu dao. Sáng đó, có khoảng năm mươi người xếp hàng trước tiệm sách từ sớm. Lâu rồi Yoshiro mới có cảm giác phấn khích khi xếp hàng như thế này. Rồi cũng đến lượt ông. Yoshiro mua cả bộ sách và dao, vừa chờ ký tên vừa hỏi: “Anh đi khắp cả nước à?”

“Không, lần này tôi chỉ đến tỉnh Hyogo và Tây vực của Tokyo thôi”

Hóa ra là khu vực quanh đây được gọi là “Tây vực của Tokyo”, Yoshiro nghĩ bụng, cũng như cách gọi “Trung cận Đông” ngày xưa thường dùng, cách gọi kỳ lạ tạo ấn tượng nhìn từ đâu cũng thấy nơi này cũng là nơi xa xôi, ngoại lai. Cao thủ làm dao không nhận ra Yoshiro bị lấn cấn chỗ cách gọi “Tây vực của Tokyo” nên tiếp tục:

“Thật ra ở Tohoku hay Hokkaido sẽ bán chạy hơn. Mấy chỗ đó kinh tế phát triển. Nhưng nói gì cũng thấy xa quá. Hồi xưa tôi từng đi đến tận New York để bán mà không thấy xa gì cả, khoảng cách đúng là kỳ lạ nhỉ.”

Khi nói đến chữ “New York”, ông ta hạ thấp giọng, khàn khàn. Tuy chưa từng nghe có ai đó bị phạt vi phạm phải điều luật kỳ lạ là không được nói tên các thành phố nước ngoài, nhưng ai cũng trở nên cảnh giác khi nhắc đến địa danh nước ngoài. Không gì đáng sợ bằng những đạo luật chưa từng được áp dụng từ trước đến nay. Nếu muốn tống ai đó vào tù, chỉ cần thình lình đưa ra một đạo luật mà ai cũng bình thản vi phạm rồi bắt họ là được.

Yoshiro cảm thấy vui mừng khi mua được con dao, nhưng cuốn tự truyện kiểu điển hình về mẫu người nỗ lực, lấy nước mắt người đọc nên ông ráng đọc đến phân nửa rồi không thể nào đọc tiếp được. Dù vậy, quyển sách như vậy cũng có một điểm sáng. Có đoạn viết tác giả thường thức dậy trước khi mặt trời mọc, thắp nến và đi vào phòng làm việc, vì còn buồn ngủ nên ông ta không biết mình là ai một lúc lâu. Vì hay thức khuya nên việc dậy sớm đối với ông ta là một cực hình, nhưng ông luôn giữ gìn lời răn dạy phải dậy sớm trước khi bình minh ló dạng. Liệu đó có phải là lời răn của một tôn giáo, truyền thống của người làm dao, hay của gia đình không, không có một lời giải thích nào cả. Thay vào đó, lạ lùng là kích thước của cây nến, đường kính năm xentimét, chiều dài mười xentimét này kia lại được mô tả kỹ càng.

Làm sao ông bán bánh mì lại quen được người làm dao ở tận Shikoku này, Yoshiro thắc mắc nên vào lần đi mua bánh mì tiếp theo, ông bâng quơ hỏi:

“Anh từng sống ở Shikoku à?”

“Thật ra tôi từng thử đi đến Shikoku để tìm kiếm nguồn gốc của bánh mì Sanuki” – ông ta trả lời ngay. Yoshiro định hỏi kỹ thêm về chuyến đi, nhưng ông chủ tiệm bánh mì lại ngoảnh mặt đi, quay trở lại với công việc ngay dù thường ngày ông ta rất hay trò chuyện.

May là mua được nó. Mỗi lần cầm con dao này, trái tim thứ hai bắt đầu đập mạnh trong tay Yoshiro. Có người nói cắt trái cây đâu cần phải dồn nhiều tâm trí như thế, nhưng với Yoshiro của hiện tại, không phải miếng thịt hay con cá mà quả cam mới chính là đối thủ thực thụ để thử độ bén của con dao. Sứ mệnh vắt ra những giọt nước thiêng liêng cho Mumei uống, từ không gian ẩn sâu được bảo vệ bởi những lớp sợi thực vật dày đặc của trái cam khiến Yoshiro run lên vì xúc động. Nào lớp vỏ dày của trái cam, bên dưới đó là lớp bao trắng quý tộc trang nhã bọc lấy phần quả bên dưới đó, và trong đó là những múi cam kín kẽ không để chảy phần nước ra ngoài. Những lớp vỏ bọc chồng chất như thế sẽ cản trở đứa chắt thương yêu của ông thưởng thức hương vị ngọt ngào của nước cam.

Không chỉ có trái cây, cả bắp cải và ngưu bàng, ta ngỡ là cứ thế mà ăn dễ dàng, nhưng chúng có lớp rào chắn bằng sợi thực vật được dệt đều đặn. Các loại thực vật, trông có vẻ hiền lành vậy chứ rất cứng đầu, một bước cũng không lùi. Điều đó mới thật khó chịu làm sao. Con dao hướng thẳng đến mục tiêu, không chần chừ, không dừng lại, cứ thẳng tiến mà cắt, không phải vì ép buộc mà là vì không phí công để do dự, nên nó luôn mỏng và sắc bén.

“Mumei, cứ đợi đấy. Ông cố sẽ thay cháu, băm nhỏ khu rừng sợi thực vật mà cháu không thể tự cắn đứt bằng răng của mình để mở ra con đường sống cho cháu. Ông sẽ là hàm răng của cháu. Mumei, hãy tắm nắng nhiều vào. Cháu cứ thử nghĩ mình là cá mập xem, trong miệng là bộ răng chắc khỏe. Những chiếc răng lớn, nhọn khiến người ta nhìn vào là chỉ muốn bỏ chạy. Nước bọt là một hồ nước đầy, từng đợt sóng ập đến. Cơ họng của cháu phát triển rất tốt đấy, có thể nuốt chửng cả Trái đất đấy. Bao tử của cháu là một hồ bơi trong nhà. Dịch dạ dày chứa đầy trong đó. Do trần nhà làm bằng kính nên ánh mặt trời xuyên thẳng vào dịch dạ dày trong hồ bơi. Khác với những hành tinh khác, Trái đất đón ân huệ của ánh mặt trời mỗi ngày. Nhờ ơn trên mà Trái đất này có vô số hình dạng kỳ lạ được sinh ra. Cho đến tận ngày nay, sứa, bạch tuộc, thằn lằn cổ diềm[18], cua, tê giác, con người và nhiều sinh vật khác vẫn không ngừng tiến hóa và tiếp tục sống. Chồi non nảy mầm từ một phôi thai như hạt đậu, mở ra hình trái tim; những con nòng nọc như những nốt nhạc trở thành những chú ếch hình dạng như những cái mõ; con sâu trở thành con bướm; đứa trẻ đỏ hỏn da nhăn nheo trở thành một ông lão nhăn nhúm. Trong mấy chục năm qua, rất nhiều sinh vật đã bị tuyệt chủng. Nhưng Trái đất vẫn còn ấm áp và tươi sáng lắm.”

Vừa thầm nói trong lòng lời thoại khó thốt thành tiếng vì ngượng, Yoshiro vừa cầm tới cầm lui con dao cắt rau nhiều lần cho đến khi vừa ý. Ông cắt quả cam làm đôi và vắt nước cho Mumei uống. Tuy ông cũng từng gọt vỏ để Mumei ăn trái cây nguyên quả nhưng làm vậy thằng nhỏ sẽ bị trễ học. Nếu là nước trái cây thì chỉ cần mười lăm phút, Mumei sẽ uống được. Nói là vậy nhưng hành vi “uống” đối với Mumei cũng không dễ dàng gì. Cậu đảo tròng mắt đen và ra sức cho cái thang máy là yết hầu trong cổ họng chạy lên chạy xuống, cố gắng để đẩy thứ chất lỏng đó xuống. Có khi chất lỏng bị trào ngược khiến cổ họng bị bỏng. Cũng có khi do cố đẩy xuống nên chất lỏng chui vào khí quản khiến cậu ho dữ dội. Mumei đã bắt đầu họ là khó lòng mà dứt được.

“Mumei! Cháu ổn chứ? Có đau không? Có thở được không?” – Yoshiro vừa rơm rớm nước mắt vừa vỗ nhẹ vào lưng hoặc vòng cánh tay ôm đầu Mumei áp vào ngực mình. Tuy trông Mumei có vẻ khổ sở nhưng thằng bé vẫn có cảm giác rất bình thản. Hệt như đại dương khi đón bão, cậu chờ cơn ho qua đi mà không phản kháng.

Sau đó, khi ngừng ho, Mumei lại bắt đầu uống nước trái cây với vẻ mặt như không có chuyện gì xảy ra. Nhìn mặt Yoshiro, Mumei ngạc nhiên hỏi:

“Ông cố, ông có làm sao không ạ?”

Có vẻ Mumei không hiểu được ý nghĩa của từ “khổ sở”, chỉ đơn giản là nếu cơn ho xuất hiện là ho, thức ăn có trào ngược lên thực quản chỉ cần ói ra. Đương nhiên cậu cũng có đau đấy, nhưng là cơn đau thuần túy không đi kèm những lời khóc lóc như Yoshiro biết, kiểu “Tại sao chỉ có mình cháu phải chịu khổ sở thế này?” Có thể đó là kho báu mà thế hệ của Mumei nhận được. Mumei không biết đến cảm giác cho rằng mình thật đáng thương.

Thuở nhỏ, chỉ cần Yoshiro cảm mạo, hơi sốt là mẹ ông đã chăm sóc ông như một đứa bé sơ sinh. Cảm giác thấy mình đáng thương thật ngọt ngào mà cũng nghẹn ngào, thấm sâu vào từng tế bào. Đến khi trưởng thành rồi, ông hiểu ra chỉ cần bị ốm thôi, dù đó là nơi nhất định phải đi dẫu lòng chẳng chút tha thiết, ông vẫn có thể xin nghỉ làm, để trùm chăn đọc tiểu thuyết hoặc suy nghĩ sự đời. Để bị cúm rất đơn giản. Chỉ cần rút ngắn thời gian ngủ lại. Thế nhưng nếu uống thuốc rồi khỏi, mấy tháng sau có thể bị cúm lại. Cuối cùng Yoshiro nhận ra điều mình muốn không phải là bị cúm mà là ông muốn thôi việc.

May mắn là Mumei chưa từng chứng kiến thói xấu bám víu vào bệnh tật của người lớn. Nếu thằng bé cứ như thế này mà lớn lên thì không phải quỵ lụy xung quanh như một người bệnh, cũng không nghĩ rằng mình đáng thương, mà biết đâu còn có thể sống vui vẻ đến tận khoảnh khắc cuối đời.

Chín mươi phần trăm trẻ em ngày nay sống và phải làm bạn với những cơn sốt nhẹ. Mumei cũng thường hâm hấp sốt. Ngày nào cũng phải cặp nhiệt sẽ gây căng thẳng nên phía nhà trường đã thông báo không cần cặp nhiệt nữa. Nếu nói “Hôm nay con bị sốt rồi”, đứa bé sẽ nhớ lại sự uể oải của cơ thể. Cứ sốt là cho nghỉ học hẳn sẽ có rất nhiều trẻ không thể đến trường. Trường học nào cũng luôn có một bác sĩ túc trực nên thật ra chúng nên đi học những lúc bị ốm. Từ xưa người ta thường hay nói “sốt là để tiêu diệt vi khuẩn nên không được uống thuốc hạ sốt”, còn những hướng dẫn kiểu “không cần cặp nhiệt” lại xuất hiện tương đối gần đây.

Yoshiro đã cùng Mumei chôn cái nhiệt kế trong nghĩa trang đồ vật. Đó là khu nghĩa trang công cộng, ai cũng có thể đến đó chôn những món đồ mà mình muốn chia tay với lòng thành kính. Có những món đồ được chôn rồi mà dường như vẫn còn lưu luyến trần gian, lại trồi lên mặt đất. Như hôm đó, một chiếc khăn quấn đầu màu trắng có vẽ hình mặt trời đỏ ló dạng phân nửa từ mặt đất hoang tàn sau cơn mưa, bị gió thổi bay. Yoshiro thử tưởng tượng người chủ của chiếc khăn, một cậu học sinh cấp ba đã chôn nó sau kỳ thi tuyển sinh chăng, hay một thanh niên đã rời khỏi phe cánh hữu? Một chiếc chân của chú gấu nhồi bông chổng ngược thò khỏi mặt đất. Con gấu này muốn thoát ra ngoài chăng? Có vẻ Mumei cũng hình dung đủ kiểu về những món đồ được chôn trong lòng đất. Một cây kéo làm vườn bị hỏng, tách rời thành hai con nòng nọc; chiếc giày được mang đến mòn vẹt, đế mỏng như tờ giấy; chiếc trống nhỏ rách bươm; chiếc nhẫn kết hôn của đôi vợ chồng đã ly hôn; chiếc bút máy đã bị cong đầu bút; tấm bản đồ thế giới. Yoshiro cũng từng đến đây để chôn cuốn tiểu thuyết đang viết dở. Ông định đốt nó ở vườn nhà, nhưng rồi ông thấy cái lưỡi của ngọn lửa thật tàn khốc nên không cách nào quẹt diêm được. Vì lý do cá nhân, người nào cũng có rác đốt được và rác không đốt được. Đó là cuốn tiểu thuyết lịch sử có tựa Khiển Đường sứ, với Yoshiro, đó là thử nghiệm tiểu thuyết lịch sử đầu tiên và cũng là cuối cùng. Ông viết được kha khá thì nhận ra mình đã lỡ sử dụng khá nhiều địa danh nước ngoài. Những địa danh như là mạch máu trong tác phẩm, chia cành rẽ nhánh cực kỳ chi tiết nên ông không thể nào chỉ xóa mỗi chúng. Để giữ an toàn tính mạng, ông đành phải vứt bỏ nên mới chôn ở nghĩa trang vì không đành lòng đốt nó.

Khi lưỡi dao bằng sứ trắng tinh khứa vào, thứ nước màu cam chảy ra. Ông muốn sống bằng thứ nước trái cây màu cam đều đặn chảy ra mỗi ngày chứ không phải là máu, cũng không phải nước mắt. Ông muốn đưa sự sảng khoái, ấm áp chứa đựng bên trong màu cam và cái vị chua ngọt như hòa quyện vào bên trong cơ thể, để cảm nhận có mặt trời trong ruột[19].

Yoshiro sang nước cam trong hũ đựng qua một chiếc cốc, cẩn thận không làm đổ giọt nào ra ngoài, sau đó dùng tay phải, hết sức vắt kiệt đến giọt cuối cùng những quả cam đã được bổ đôi và hầu như không còn giọt nào còn sót lại.

“Tại sao ông cố không uống ạ?” – Mumei hỏi.

“Ông chỉ mua được mỗi một trái. Từ đây sắp tới, trẻ con còn phải sống hoài nên cái gì cũng phải được ưu tiên” - ông trả lời.

“Trẻ con mà chết còn người lớn vẫn sống, trong khi người lớn mà chết thì trẻ con đâu có sống được đâu” – Mumei nói như hát, Yoshiro lặng người.

Cứ mỗi lần định tưởng tượng quãng thời gian sau khi mình chết đi, Mumei phải tiếp tục sống là ông luôn như đâm đầu vào tường. Làm gì có cái gọi là thời gian sau khi mình chết đi. Những người già như ông có được một cơ thể bất tử, đang phải gánh trên vai một thách thức đáng sợ là tiễn những đứa cháu cố ra đi.

Có thể thế hệ của Mumei sẽ xây dựng và để lại một nền văn minh mới. Từ khi chào đời, Mumei đã trông như được trang bị một trí tuệ kỳ lạ. Thứ trí tuệ mới, chưa từng có ở những đứa trẻ mà ông từng thấy trước đây.

Khi Amana, con gái ông, ở độ tuổi của Mumei bây giờ, nếu ông không khóa thùng đựng bánh kẹo lại không biết chừng có lúc con bé đã ăn trọn một hộp bánh quy hoặc một thanh sô cô la, hễ ông mắng sẽ khiến hai cha con sẽ lời qua tiếng lại.

“Con không được ăn một lần nhiều như vậy chứ!”

“Tại sao ạ?”

“Không tốt cho cơ thể chứ sao.

“Tại sao ạ?”

“Con không ăn được cơm sẽ thiếu dinh dưỡng”

“Nếu vậy, chỉ cần con ăn cơm đàng hoàng là có thể ăn bánh kẹo trước đó chứ gì.”

“Đương nhiên là không được rồi”.

“Tại sao ạ?”

Mệt mỏi với màn hỏi đáp không hồi kết, có khi Yoshiro hét to:

“Ba đã nói không được là không được!”

Ông không định lấy quyền uy của người làm cha ra để át đi, nhưng từ lúc biết nói, con gái ông không ngừng hỏi. Ông nghĩ nếu tranh đấu theo hướng dân chủ hẳn cha mẹ sẽ chịu thua con cái. Chủ nghĩa uy quyền là để bảo vệ những sinh vật dễ tổn thương và khờ dại gọi là “cha mẹ”.

Những đòi hỏi của con gái ông không có giới hạn. Con bé ăn đồ ngọt cho đến khi khó chịu trong người, đứng trước cửa tiệm cho đến khi được mua món đồ chơi mà con bé muốn. Thậm chí có khi con bé còn giật bánh kẹo hay đồ chơi trên tay đứa trẻ khác, và ngăn cản điều đó là nhiệm vụ của Yoshiro. Con gái ông có vai trò là xoay vòng các đòi hỏi, còn ông có nhiệm vụ ngăn những đòi hỏi đó lại. Ông đã chịu đựng sự phân chia vai trò như thế khi con bé còn nhỏ. Nhưng giọng con bé ngày càng khỏe, vốn từ tăng lên, cách lập luận cũng trở nên khôn ngoan hơn. Chỉ cần ông mắng một, những từ ngữ sắc bén sẽ được trả lại gấp mười lần. Bị những lời nói sát thương gây rướm máu, có lần Yoshiro còn nghĩ đến mức cứ để mặc con gái ăn kem cho đến khi nó bị đau bụng rồi thôi, nhưng rồi dù là khi nào, ông cũng chưa từng đánh mất lòng tự tin rằng mình có thể dạy con những điều hữu ích nào đó. Chỉ cần nghe lời ông thì đâu phải chịu đau đớn, vậy mà con bé cứ làm ngược lại, sự khờ dại của con khiến ông mất kiên nhẫn. Hoàn toàn khác với con gái ông, Mumei không hề ăn cái gì thái quá cũng chẳng cho vào miệng bất kỳ thứ gì không được ăn, thay vào đó, Yoshiro chẳng có lấy một điều gì để có thể dạy cho Mumei trong hành trình sinh sống sắp tới. Mỗi lần nghĩ đến việc đó, Yoshiro lại thấy mình thật thảm hại, ông dùng nắm tay làm cử chỉ như dụi vào con ngươi của mình.

Thời ông vẫn còn có thể nhấc bổng đứa cháu trai tên Tomo lên, Yoshiro đã rất mong đợi đến cái ngày ông có thể cho cháu những lời khuyên hữu ích về lái xe. Người ta thường cho rằng nhà văn có trí tưởng tượng phong phú, nhưng ông không thể hình dung đến cái ngày mà xe ô tô không còn tồn tại. Vì tương lai của đứa cháu không thích học, Yoshiro đã tặng nó quyển sổ tiết kiệm tích lũy số tiền có thể đi học trường dạy nghề tổng hợp trong ba năm nhưng thằng cháu âm thầm kết sổ, ôm cái túi thể thao chất đầy tiền mặt như ăn trộm, bỏ nhà ra đi. Khi xem hồ sơ ngân hàng gửi đến và biết cháu đã khóa sổ, bụng Yoshiro tức anh ách nhưng sau đó một tháng, các ngân hàng lớn lần lượt phá sản, những người có tài khoản đều mất trọn số tiền gửi, không còn biết bám víu vào đâu ngoài lời đồn đến một lúc nào đó, họ sẽ được trả lại tiền. Những con người thở hồng hộc, mặt đỏ bừng vì tức giận, đổ xô đến chi nhánh của các ngân hàng chỉ thấy cảnh những người đàn ông mặc vét xếp hàng trước cửa chi nhánh, túa mồ hôi giập đầu xin lỗi một cách chân thành. Ban ngày, phải chịu đựng những lời sỉ vả trong nắng gắt, đến chiều tối dầm mình trong cơn mưa rào, tối mặc cho muỗi chích mà vẫn phải cúi đầu xin lỗi, nhìn cảnh nhân viên ngân hàng như thế, khách hàng tạm nguôi giận, trở về nhà. Thế nhưng, theo một bài phóng sự đăng trên báo sau đó, họ là những người được thuê làm thêm, chỉ cần cúi đầu, gọi là “Người xin lỗi”. Nghĩa là so với Yoshiro, người đã tin rằng tiền gửi tiết kiệm có thể giúp ổn định đời sống, đứa cháu trai vốn ngay từ đầu đã không tin tưởng cái tổ chức gọi là “ngân hàng”, lại nhìn rõ cơ cấu kinh tế hơn. Cả trường dạy nghề cũng vậy. Mấy năm sau đó, Yoshiro đọc được bài báo của một nhà phê bình viết: “Phía các trường dạy nghề kiếm bộn tiền nhờ vào tiền học phí hằng tháng, trong khi những người lấy được chứng chỉ không tìm được việc hoặc bán sức lao động với giá rẻ mạt hằng tháng. Đặc biệt phải lưu ý mấy cái nghề có tên gọi mỹ miều chưa từng có từ trước đến nay. Học viên và cả phụ huynh đều cho rằng việc được nhận vào trường đã là bằng chứng công nhận tài năng của họ và trả học phí với lòng biết ơn. Cái giá đó càng đắt thì họ cảm thấy giá trị của mình càng cao và hồ hởi trả học phí. Cả cha mẹ lẫn con cái đều sĩ diện hão. Và có cả nỗi bất an, sợ bị cho là ăn không ngồi rồi. Gần đây, những trường dạy nghề chất lượng kém nhưng biết lợi dụng tâm lý đang tăng lên đó. Phải chăng, tự lúc nào, mọi người đã quên đi rằng, vốn dĩ giáo dục dạy nghề phải được tiến hành miễn phí!” Thế nhưng, từ trước khi nhà phê bình ăn khách viết những điều hiển nhiên đó, một thiếu niên nổi loạn đã không hề tin vào tài khoản ngân hàng lẫn trường dạy nghề mà bỏ nhà ra đi.

Yoshiro chỉ còn cách công nhận những điều mình đã dạy cháu là sai lầm. Ông nhớ mình từng nói với cháu: “Chỉ cần có một miếng đất đắc địa ở Tokyo, trong tương lai không thể nào có chuyện nó rớt giá, không có gì đáng tin bằng bất động sản”. Ấy vậy mà toàn thể hai mươi ba quận ở Tokyo, kể cả khu đất vàng, đều bị chỉ định là “khu vực có nhiều nguy hiểm nếu ở lâu”, và cả đất lẫn nhà đều đã mất đi loại giá trị có thể quy đổi thành tiền. Đó là vùng đất mà nếu đo riêng biệt thì cả nước uống, gió, nắng và lương thực đều có chỉ số nguy hiểm không vượt chuẩn, nhưng nếu tiếp xúc với môi trường này trong thời gian dài, xác suất cao là sẽ xảy ra nhiều ảnh hưởng xấu. Chỉ có thể đo riêng từng thứ, nhưng con người chỉ có thể sống một cách tổng hợp. Tuy hai mươi ba quận không bị cho là nguy hiểm nhưng số người rời bỏ những nơi này tăng lên. Dù vậy, họ cũng không muốn đi đến nơi xa lắm, mà gần biển nguy hiểm nên số người nhắm đến khu vực từ Okutama đến Nagano tăng lên. Vợ của Yoshiro, bà Marika, không phải là người duy nhất ở hai mươi ba quận đành bỏ mặc nhà cửa, đất đai mà mình thừa kế vì không bán được.

Yoshiro thấy rằng việc để lại tài sản hay trí tuệ cho con cháu chỉ là một sự kiêu ngạo mà thôi. Việc mà ông có thể làm bây giờ là cùng sống với đứa chắt. Để làm được điều đó, ông cần phải có đầu óc và cơ thể dẻo dai. Phải dũng cảm nghi ngờ những điều ông đã tin là đúng hơn một trăm năm nay. Lòng tự hào ư, phải cởi bỏ nó nhẹ nhàng như một chiếc áo khoác để mặc lớp áo mỏng. Nếu lạnh phải nghĩ cách làm sao để toàn thân mọc bộ lông dày như con gấu, chứ không phải đi mua chiếc áo khoác mới. Thật ra, Yoshiro nghĩ mình không phải là “người già” mà là một chủng người mới bắt đầu bước đi từ thời điểm vượt qua ranh giới một trăm tuổi, ông đã nhiều lần nắm chặt nắm đấm quyết tâm.

Yoshiro nghe tiếng xấp báo rơi phịch trước cửa nhà. Mỗi sáng, khi nghe tiếng động này, ông đều chạy ngay ra cửa, nhưng dù có hối hả chạy ra ngoài thế nào đi nữa, bóng lưng của người phụ nữ phát báo cũng đã nhỏ chỉ còn cỡ ngón tay giữa. Tấm lưng gầy, tóc búi tròn như quả cầu vải trên đỉnh đầu, cổ thon dài, đôi vai xuôi. Yoshiro hướng về tấm lưng với cái hông săn chắc, cặp mông tròn trịa, đôi bắp chân nổi cơ bắp mà hét to: “Cảm ơn cô.” Không có tiếng đáp lại nên không rõ lời nói của ông có đến tai người ấy không.

Yoshiro cứ đứng ở ngoài như vậy và giở tờ báo ra. Thật ra, lúc trẻ ông không hề đọc báo, nhưng kể từ khi phương tiện truyền thông gọi là báo sụp đổ rồi lại hồi sinh, việc đọc báo từ A đến Z trở thành công việc hằng ngày của ông. Khi chậm rãi liếc xuống mục Chính trị, những từ ngữ sắc nhọn như “quy chế”, “tiêu chuẩn”, “phù hợp”, “chính sách”, “điều tra”, “thận trọng” nọ kia đập vào mắt. Nếu đọc vào nội dung, ông sẽ sa lầy. Từ sáng, ông không được đọc báo mà trước tiên, phải đưa Mumei đi học. Ông có cảm giác cái từ gọi là “trường học” vẫn là nơi trú ngụ một niềm hi vọng mong manh.

Để tờ báo ở lối vào rồi quay vào nhà bếp, Yoshiro đưa cho Mumei chiếc cốc tre có đầu hút nhỏ, đựng nước cam vừa mới vắt.

“Cam được hái ở Okinawa phải không ạ?” – Mumei uống một ngụm rồi hỏi.

“Đúng rồi!”

“Phía Nam dưới Okinawa có trồng được không ạ?”

Yoshiro nuốt nước bọt.

“Chà, được không nhỉ? Ông không biết.”

“Sao ông lại không biết ạ?”

“Vì bế quan tỏa cảng”

“Tại sao ạ?”

“Nước nào cũng đang có vấn đề gay go và để từng vấn đề đó không lan rộng khắp thế giới, các nước phải tự giải quyết các vấn đề của mình. Lúc trước ông có dẫn cháu đi Viện Bảo tàng Tư liệu thời Showa – Heisei[20], nhớ không? Các căn phòng ở đó được ngăn cách bởi một cánh cửa sắt, giả sử một phòng bị cháy đi nữa cũng sẽ không cháy lan sang phòng bên cạnh”

“Làm vậy thì tốt ạ?”

“Ông không biết có tốt hơn không. Nhưng ông nghĩ bế quan tỏa cảng ít nhiều cũng giảm được hiểm họa các doanh nghiệp Nhật Bản lợi dụng sự nghèo đói của nước khác để làm giàu. Và ngược lại, cũng giảm cả mối nguy hiểm doanh nghiệp nước ngoài lợi dụng nguy cơ của Nhật Bản để kiếm tiền.

Vẻ mặt Mumei như hiểu mà cũng như không hiểu gì cả. Yoshiro quyết định không nói rõ với chắt của mình việc ông không tán thành chính sách bế quan tỏa cảng.

Không ai bình luận công khai về chính sách bế quan tỏa cảng nhưng sự bất mãn, những tiếng phàn nàn về trái cây đã đầy rẫy khắp nơi. Kể từ khi nông sản không còn được nhập từ nước ngoài, cả cam hay dứa, chuối đều chỉ được gửi đến từ Okinawa. Quýt được thu hoạch chất đống ở Shikoku nhưng khó mà đến được Tokyo. Shikoku áp dụng chính sách tiêu thụ hầu hết nông sản do mình làm ra, và thay vào đó, kiếm tiền từ các bằng sáng chế về công thức làm mì udon Sanuki, cách nướng bánh mì Đức, v.v.

Có lần thấy tiệm bánh mì bán quýt, Yoshiro đã mua ngay hai trái. Chúng được dán nhãn “Hàng Shikoku”. Hình như tiệm bánh mì có mối liên hệ sâu sắc nào đó với Shikoku. Ông quyết định để dành hai trái quýt mua được đến sáng thứ Bảy để hai ông cháu cùng thong thả thưởng thức. Thế nhưng trước thứ Bảy đã có một ngày nghỉ mới mà ông đã quên béng mất. Yoshiro không tài nào nhớ nổi những ngày nghỉ mới tăng lên gần đây. Ông cũng thường xem lịch để cố nhớ, nhưng chúng không vào đầu.

Ngày nghỉ mới không phải là sinh nhật của các Thiên hoàng trong lịch sử mà toàn những ngày nghỉ mang tính dân chủ, được quyết định cả ngày lẫn tên một cách danh chính ngôn thuận bằng cách bỏ phiếu toàn dân. Trước tiên, người ta thu thập các ý tưởng. Nào là nhờ có “Ngày của Biển” mà người dân có nhiều cơ hội suy nghĩ về ô nhiễm biển, vậy cũng nên có “Ngày của Sông” để tỏ lòng kính trọng những dòng sông lâu nay vốn phải chịu nhiều vất vả bởi chất thải của các nhà máy; nào là có “Ngày màu Xanh lá cây” tức phải có “Ngày màu Đỏ”; rất nhiều ý kiến được đưa ra. Chỉ với “Ngày Văn hóa” thôi thì thật trừu tượng, cảm giác thiếu thiếu gì đó nên phải tạo ra “Ngày Sách”, “Ngày Bài hát”, “Ngày Nhạc cụ”, “Ngày Tranh vẽ”, “Ngày Kiến trúc”, v.v., và rốt cuộc, những nguyện vọng đầy tha thiết của người dân đều được thông qua. “Ngày Kính lão” và “Ngày Trẻ em” được đổi tên thành “Ngày Người già Cố lên” và “Ngày Xin lỗi Trẻ em”; “Ngày Thể dục” thành “Ngày Cơ thể” để những đứa trẻ mà cơ thể không phát triển như mong muốn không phải buồn khổ; “Ngày Cảm tạ Lao động” trở thành “Ngày chỉ cần Sống là Được” để không gây tổn thương cho giới trẻ muốn làm việc nhưng không thể. Không phải trong đầu người dân cả nước chỉ có mỗi việc gia tăng ngày nghỉ. Ý kiến bãi bỏ “Ngày Quốc khánh” như nước lũ tràn về khiến ngày nghỉ này bị cuốn trôi mất tích. Lý do chính là một đất nước tuyệt vời như thế này không thể dựng nên chỉ trong một ngày. Ngoài ra, có thêm “Ngày của những chiếc Gối” để khích lệ việc quan hệ tình dục gần đây bị lơ là, “Ngày của những loài Tuyệt chủng” để thắp hương cho những loài chim và động vật đã bị tuyệt chủng ở Nhật, và “Ngày Ngự Phụ Khỏa Dâm”[21] để chúc mừng ngày không còn internet, hay “Ngày của Xương” để nghiêm túc suy nghĩ về canxi.

Vào những ngày được ăn quýt, Mumei rất phấn khởi, thằng bé ấn vào múi quýt mềm như đầu ngón tay để nghịch chơi. Yoshiro đã nhét quýt vào miệng và im lặng nuốt trọng khi suýt buột miệng nói: “Cháu đừng vọc đồ ăn. Gì chứ, chơi bằng đồ ăn cũng được mà. Biết đâu trong lúc chơi lại có thể nghĩ ra cách ăn mới. Chơi đi! Chơi đi! Chơi bằng đồ ăn đi! Yoshiro đã tính nếu bị Mumei hỏi ăn quýt như thế nào, ông sẽ trả lời: “Cháu tự nghĩ đi. Ăn cách nào cũng được. Cháu vừa chơi vừa tự mình suy nghĩ lấy”. Thế nhưng Mumei không hỏi câu như thế. Thế hệ của Yoshiro từng tin rằng mỗi loại trái cây có cách ăn đúng, như cam phải lột vỏ thế này, bưởi chùm dùng muỗng thế kia để xúc ăn mới đúng, v.v. Họ đã tin rằng chỉ cần thống nhất cách ăn và nghi thức hóa chúng sẽ khiến tế bào có thể bỏ qua tín hiệu nguy hiểm khơi dậy vị chua. Còn thế hệ của Mumei không thể bị lừa bởi trò trẻ con đó. Cho dù cách ăn như thế nào đi nữa, tín hiệu nguy hiểm trong trái cây cũng chắc chắn vang lên. Ăn kiwi sẽ trở nên khó thở, thấm nước chanh lưỡi sẽ bị tê liệt. Không chỉ có trái cây. Ăn rau bó xôi là lồng ngực nóng ran, ăn nấm hương lại chóng mặt. Mumei chưa từng quên một giây một phút nào rằng đồ ăn rất nguy hiểm.

“Chanh chua đến nỗi trước mặt trở nên xanh lè luôn ông ạ.”

Lần đầu tiên nếm thử món kem có chanh, Mumei đã nói như vậy. Kể từ đó về sau, hễ nhìn thấy màu vàng của quả chanh, Yoshiro lại cảm thấy có màu xanh lẫn trong đó. Và trong khoảnh khắc, ông cảm giác như mình đã chạm vào Trái đất tươi sống thực thụ.

Để chắt mình được ăn trái cây, người già phải đỏ mắt, lang thang từ chợ này sang chợ kia như những bóng ma. Ngày xưa chỉ có sách được niêm yết giá bán, còn ngày nay, trái cây và một số loại rau củ đều đồng giá trên toàn quốc, có thiếu hay thừa cam cũng được chỉ định giá 10.000 yên một quả. Nếu không bị lạm phát hẳn sẽ không có chuyện quá nhiều số không theo sau giá trái cây thế này.

Cũng do tính cách của khí hậu ở đảo chính Nhật Bản, Honshu, trở nên hung bạo, thất thường mà người ta khó làm nông hơn. Dù vậy, các địa phương vùng Đông Bắc vẫn còn trù phú nhờ sản xuất ngũ cốc có giá trị dinh dưỡng cao gọi là “ngũ cốc loại mới”, nên tuy tổng sản lượng gạo và lúa mạch giảm nhưng họ vẫn xuất kho bình thường. Gặp nhiều vấn đề hơn cả ở Honshu là vành đai từ Ibaraki đến Kyoto. Có năm tháng Tám tuyết rơi dày, trong khi tháng Hai gió nóng thổi, mang theo một lượng cát khổng lồ đến. Những người đàn ông mắt đỏ quạch, nhỏ thuốc mắt rồi vẫn phải đi ngang như những con cua ở mép vỉa hè là để tránh bị mất sức bởi những trận cuồng phong thổi vụt giữa đường. Những người phụ nữ quấn khăn choàng che tóc, đeo kính râm, đi đi lại lại mỗi một chỗ như một buổi quay phim không suôn sẻ, thật ra là đang chống chọi với nỗi lo do không khí gây nên. Suốt ba tháng hè trời không mưa, cây cối héo úa, chuyển nâu; rồi thình lình tiết trời vì chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới mà mưa to dữ dội, gây ngập lụt cả nhà ga tàu điện ngầm.

Như bị truy đuổi bởi những trận hạn và những cơn mưa to gió lớn, nhiều người đã di cư từ Honshu xuống Okinawa. Nhắc đến những vùng đất có nông nghiệp phát triển, ngoài Okinawa, có thể kể đến Hokkaido, nhưng khác với Okinawa, Hokkaido áp dụng chính sách không tiếp nhận dân nhập cư. Dù từ xưa, Hokkaido với diện tích đất quá rộng trong khi dân số quá ít đã gây ra mối lo sợ mất cân bằng giữa thiên nhiên và con người, nhưng nhờ một nhà nghiên cứu Dân số học quê ở Asahikawa kết luận rằng với diện tích rộng như thế này trong khi số người ở như thế là lý tưởng nên Hokkaido đã quyết định không tăng dân số. Người ở các tỉnh thành khác bắt buộc phải có giấy phép khi dọn đến, nhưng nếu không có lý do đặc biệt, họ không được cấp phép.

Okinawa tuy theo phương châm tiếp nhận không giới hạn dân nhập cư từ Honshu nhưng quan ngại trước việc chỉ có lao động nam giới gia tăng. Vì vậy, tình hình đã thay đổi, những người muốn làm việc ở nông trường ở Okinawa nếu không nộp đơn theo vợ chồng sẽ không được tuyển dụng. Người nữ độc thân hoặc vợ chồng đồng tính nam hoặc nữ có thể ứng tuyển, còn người nam độc thân thì không thể. Tuy nhiên, người nữ độc thân chuyển giới thành người nam sau khi di cư vẫn có thể tiếp tục sống ở đó. Không có việc làm đồng nghĩa với không thể nhập cư, hầu như không có việc gì khác ngoài làm nông nên nếu không có quyết định tuyển dụng của nông trại, họ không được phép nhập cư.

Do không đủ nhà trẻ và chỗ giữ trẻ nên vợ chồng có con nhỏ mười hai tuổi trở xuống muốn nhập cư sẽ không được tuyển dụng, tuy nhiên nếu họ gửi được con cho bà con họ hàng là sẽ có giấy phép nhập cư. Sinh con khiến địa phương gặp rắc rối nên nữ năm mươi lăm tuổi trở lên hoặc nam đã thắt ống dẫn tinh sẽ được ưu tiên hơn. Báo chí từng đăng tin trường hợp người phụ nữ vẽ nếp nhăn lên mặt, nhuộm tóc cho bạc đi nhằm che giấu tuổi thật để xin việc. Việc giả vờ già hơn tuổi thật lại khó đến không ngờ. Nghe kể do cô ấy không hiểu những chữ tiếng Anh “ON”, “OFF” trên công tắc máy nông nghiệp cũ nên bị nghi ngờ, sau đó bị phát hiện là vẫn còn trẻ. Chỉ cần biết chút tiếng Anh là có thể chứng minh tuổi già. Những người trẻ chưa từng nhìn thấy các chữ “ON”, “OFF” được viết trên các đồ điện thậm chí còn không biết những từ tiếng Anh như thế. Việc học tiếng Anh đã bị cấm. Một số ngôn ngữ ngoài tiếng Anh như tiếng Tagalog[22], tiếng Đức, tiếng Swahili[23], tiếng Séc, v.v. được phép học, nhưng vì tìm sách vở và giáo viên cực kỳ khó khăn nên cơ hội được nghe người từng học các ngôn ngữ đó cũng không có, vì vậy cũng không ai nghĩ đến chuyện học thử. Ngay cả việc hát bài hát tiếng nước ngoài từ bốn mươi giây trở lên ở nơi công cộng cũng bị cấm. Và tiểu thuyết biên dịch không còn được xuất bản.

Con gái lớn của Yoshiro là Amana và chồng đã hăm hở chuyển đi Okinawa trong bộ quần áo lao động bằng vải màu xanh được đặt may riêng, bộ đồ ôm trọn cơ bắp trẻ trung ở tuổi sáu mươi của đôi vợ chồng. Họ cho rằng quần áo lao động phải thể hiện được cá tính của người mặc nên từ đầu đã không có ý định mặc bộ quần áo may sẵn của nông trại. Mái tóc dày của Amana nếu xõa ra có thể che cả giường ngủ nên được cô bới lên, nhét gọn dưới chiếc mũ rơm được thiết kế và đan đặc biệt.

Đã lâu Yoshiro không thấy mặt con gái mình. Thỉnh thoảng, báo chí có viết cuộc sống ở Okinawa sung túc đến mức người ở Tokyo không thể nào hình dung được. Ngày nào cũng có trái cây và rau củ như một chuyện đương nhiên. Tuy nhiên, việc các cá nhân gửi nông sản ra khỏi Okinawa bị cấm nên người dân ở đây không thể nào gửi được thứ gì cho gia đình sống ở Honshu.

Các nông trại trên các đảo của Okinawa chuyên chở nông sản đến cảng bằng “xe ngựa”, rồi tàu của công ty vận chuyển của Kyushu sẽ chở các loại nông sản này đến cảng lớn Shinmakurazaki. Nói là xe ngựa chứ chẳng có lấy một con ngựa nào cả. Thỉnh thoảng, mấy tờ báo đăng những bức tranh châm biếm vẽ cảnh chó, cáo, lợn rừng, v.v. kéo những xe hàng chất trái cây, nhưng có lẽ đó chẳng phải là châm biếm mà là miêu tả sự thật.

Ở Kyushu có một số công ty vận chuyển sở hữu những chiếc tàu chở hàng lớn gắn những tấm pin năng lượng mặt trời như những cây nấm khổng lồ. Lớn nhất trong số đó là công ty Vận chuyển Hàng hải Risshin, hầu hết các nông sản đều được chất lên tàu của công ty này để xuất đi khắp Nhật Bản. Nói vậy nhưng hầu hết trái cây đắt tiền đều được đưa đến vùng Tohoku, Hokkaido, chỉ một phần nhỏ đến Tokyo. Đổi lại, gạo và cá hồi được chở đến Okinawa với số lượng lớn. Ở thời đại mà tiền giấy, cổ phiếu, lãi suất đã mất đi ánh hào quang, những đối tượng có thể trao đổi hàng hóa sẽ được ưu tiên. Cá hồi từng tuyệt chủng một lần nhưng một giống mới với hoa văn ngôi sao trên toàn thân quay trở lại, người ta nói ăn loại này sẽ không tốt cho gan, nhưng vị cá xa xưa vẫn được ưa chuộng.

Khác với hai mươi ba quận không còn người sinh sống, khu vực Tama tuy dân số vẫn đông nhưng do không có ngành công nghiệp sản xuất nên cứ vậy mà bị nghèo hóa. Từng biết đến cái thời chính trị gia vẫn còn tồn tại và có người bị cách chức do lỡ dại nói: “Tokyo sụp đổ đồng nghĩa cả nước Nhật sụp đổ. Dù gì cũng phải hi sinh tất cả các địa phương để cứu Tokyo”, Yoshiro phê phán “chủ nghĩa vị kỷ Edo”[24], “chủ nghĩa Edo” nhưng cảm giác thân thương hồi hộp, nôn nao hay nhiệt huyết trong lòng khi thốt thành tiếng “Tokyo” vẫn mạnh mẽ như xưa. Hễ nghĩ đến việc Tokyo sẽ không còn nữa, ông cũng muốn biến mất cùng nó.

Ở Tokyo cũng có phong trào sản xuất đặc sản để hồi sinh thành phố. Khi đọc bài báo viết về dự án sản xuất và bán các sản phẩm mới với tên thương hiệu là “Edo” để khơi gợi lại sức hấp dẫn của một Tokyo từ công nghiệp hóa trở về trước, Yoshiro cũng đã định tham gia.

“Tây vực” của Tokyo cũng có trồng đậu nành, kiều mạch và lúa mạch giống mới, nhưng sản xuất không tăng trưởng đủ để có thể xuất sang các địa phương khác, chưa kể chúng không phải loại đặc sản không thể trồng ở các vùng đất khác. Nhắc Tokyo tạo ra sản phẩm mới thì trước tiên, người ta có thể nghĩ ngay đến sản phẩm có đuôi dài gọi là dây điện kèm phích cắm nhưng những thứ như vậy không còn được bán nữa. Từ dạo điện đóm sáng choang khắp phố phường làm tăng số người mất ngủ, rồi bị tê tay chân và thần kinh căng thẳng do bệnh “tê tê”, sản phẩm điện máy bắt đầu bị quay lưng. Có bài phóng sự trên báo kể về những người mất ngủ có thể ngủ ngay tức thì, ngủ ngon lành ở khu cắm trại trong rừng, nơi không có dòng điện nào chạy qua. Một nhà văn được yêu thích cho đăng một bài viết lên báo, kể rằng vừa nghe tiếng máy hút bụi, ông đã không viết được cuốn tiểu thuyết mà ông định viết. Tuy không hẳn vì thế nhưng đúng khoảng thời gian ấy, một điều gì đó như sự căm ghét máy hút bụi bắt đầu lan rộng khắp xã hội. Với Yoshiro, một người cực kỳ ghét thứ âm thanh khó chịu hút mọi thứ từ tận cùng qua đường ống của máy hút bụi, một thời đại đáng mừng đã đến. Nhờ khu nhà tạm lánh được xây dựng làm sao để có thể quét dọn dễ dàng bằng chổi và giẻ lau nên người dân sống ở đó ngừng sử dụng máy hút bụi trước tiên. Máy giặt cũng mất dạng. Số người vò đồ lót bằng vải bông rồi giặt, phơi ở ngoài trời tăng lên, đầu tiên cũng từ khu nhà tạm. Với những loại quần áo khác, tiệm giặt ủi đến nhận đồ giặt rồi lại đem đến giao. Cái nghề được gọi là giặt ủi lâu nay từng có lúc rơi vào nguy cơ tuyệt diệt, nhưng nhờ đổi tên “lật nhân cự”[25] mà bắt đầu thịnh hành trở lại. Cũng có thể nhờ tiệm giặt ủi rẻ hơn thay vì cứ ba năm mua máy giặt mới một lần, và còn có một bối cảnh khác, đó là sự lan rộng của lập luận hiếm hoi nhưng có sức thuyết phục kỳ lạ cho rằng trong lúc máy móc vận hành, đầu óc con người không làm việc được. Thực tế, có trường tiểu học đã làm thí nghiệm trong lúc bọn trẻ làm bài tập, nếu tắt mọi đồ dùng bằng điện trong nhà, thành tích học tập của chúng tăng vọt.

Thời trẻ, chỉ cần nghe tiếng máy giặt là tâm trạng Yoshiro thường chùng xuống, nhưng nay ông không còn phải lo lắng về điều đó. Xem tivi sẽ lên cân nên số người vứt bỏ tivi với lý do giảm cân cũng tăng lên. Những thứ như máy lạnh không còn thịnh hành từ thế hệ trước. Thứ còn lại cuối cùng là tủ lạnh nhưng chúng cũng không có dây cắm. Loại duy nhất còn tồn tại là tủ lạnh “Ngôi sao Nam cực” làm lạnh bằng năng lượng mặt trời.

Đời sống ở khu nhà tạm nổi tiếng với việc xa rời các đồ dùng điện máy ở thủ đô Tokyo, trở thành hình mẫu đi đầu cho lối sống trên toàn quốc. Tuy nhiên, khó mà bán thứ đặc sản gọi là “không sử dụng thứ gì đó”. Một khi đã nói muốn hồi sinh cộng đồng tức là người ta muốn bày ra thứ gì đó có thể nhìn thấy được.

Nói đến Tokyo là nói đến khu lao động. Nói đến khu lao động lại nhắc đến “bánh kẹo sấm sét”. Mà nói đến sét đánh, tiếc thay, không gì khác ngoài “điện”. Trớ trêu là việc thử tìm kiếm một Tokyo từ bên trong truyền thống của một Edo không cần điện đã va phải bức tường điện gọi là “kaminari okoshi”[26] và không thể tiến lên phía trước.

Nếu có loại rau nào đó chỉ có thể trồng ở Tokyo, nghiễm nhiên nó sẽ trở thành đặc sản, nhưng không hề tồn tại loại rau nào như thế. Vì chỗ cần sử dụng đầu óc mà không thể dùng gì khác ngoài đầu óc nên chỉ còn cách sử dụng đầu óc. Hay là thử trồng loại rau mà các tỉnh khác cũng có thể trồng được nhưng không ai đoái hoài đến? Tinh thần của những người con xứ Edo được cho là chạy theo cái mới, nhưng ngày nay không thể kiếm tiền bằng cách nhập đồ mới từ nước ngoài được nữa, nhờ thay đổi ý tưởng, lại có những người muốn quay về thời nay bằng cách đào bới những cái cũ.

Trong bối cảnh đó, “tiến sĩ Gừng Myoga” nhất thời thu hút sự chú ý của mọi người. Tiến sĩ Myoga nhấn mạnh đoạn viết “gừng myoga mọc khỏe ở sau nhà xí” trong một quyển tiểu thuyết được viết vào thời kì đầu Showa. Nếu nói thứ gì có nhiều ở Tokyo mà hầu như không có ở các tỉnh khác, đó là nhà xí công cộng khổng lồ. Tiến sĩ Myoga đi tìm nhà xí, hễ phát hiện chỗ đất trống ẩm thấp, âm u ở phía sau là ông mua xí chỗ, rồi đặt ở đó một chiếc hộp thủy tinh cao khoảng hai mét, bên trong ngăn thành các kệ khoảng ba mươi xentimét, dùng đất nhân tạo có pha nước khoáng để trồng gừng myoga. Tiến sĩ không nói với ai về lý do tại sao gừng myoga mọc khỏe ở sau nhà xí. Thay vào đó, ông luôn nhấn mạnh rằng tuy trông không có dinh dưỡng gì nhưng việc các nhà sư tu hành dứt khoát tránh ăn gừng myoga chứng tỏ nó đem lại sinh khí mạnh mẽ đến mức không thể tin được. Người ta cho rằng trẻ con ghét gừng nhưng hễ cho trẻ thời nay ăn, chúng sẽ thích như ăn kem vậy. Lý do là trong gừng myoga có chứa nhiều dưỡng chất chưa được biết đến, giúp động viên trẻ em thời nay từ bên trong – tiến sĩ Gừng Myoga giải thích.

Yoshiro cũng từng mua gừng myoga ngoài chợ cho Mumei ăn. Hễ ngửi được mùi gừng, Mumei lại nheo mắt, vẻ mặt trông rất thích thú. Nhưng họ chỉ mua được đúng một lần đó, kể từ đó về sau chẳng thấy gừng đâu, còn trên tên của tiến sĩ Gừng Myoga chẳng mấy chốc mọc đầy vong khước thảo.[27]

Nhắc đến loại rau Tokyo từng thịnh hành một thời còn có rau đắng. Vì câu tục ngữ “rau đắng cũng có sâu thích” mà người ta có thành kiến với rau đắng, nên các tỉnh khác chẳng có nông dân nào thích trồng loại rau này. Do vậy, có công ty để mắt đến và trồng, bán rau đắng như một loại đặc sản của Tokyo. Họ còn làm hẳn một áp phích để dán quảng cáo với hình ảnh thống đốc Tokyo tươi cười ăn rau đắng trộn, nhưng cũng có người cho rằng điều này gây hiệu quả ngược trong việc phổ biến rau đắng. Câu nói nhanh “ăn rau đắng không đắng ví”[28] trở thành câu cửa miệng của mọi người nhưng bản thân rau đắng thực ra chẳng vừa miệng ai cả. Yoshiro cũng từng một lần để mắt đến bó rau màu xanh lá thẫm là lạ bày ở tiệm rau nên dừng chân và được người bán nhanh chóng chào mời: “Là rau đắng dạo này hay được nhắc đến đó ạ. Bác mua một ít ủng hộ Tokyo nhé.” Mọi khi người bán thường hay mời “ngon lắm đấy”, nay lại dùng chữ “ủng hộ” trong khi chẳng phải ngày hội thao gì khiến ông buộc phải nghi ngờ. Yoshiro mua một bó về nhà, dùng cái chày đập giập rồi trộn với giấm ăn thử. Mặc dù từng nghe rau đẳng hợp với cá chẽm nhưng vì không muốn cho Mumei ăn cá, thứ được cho là có nồng độ ô nhiễm cao nên ông thử kết hợp với đậu hũ luộc.

“Ông xin lỗi, dở quá nhỉ” - chịu không nổi sự ngứa ngáy vì hối hận, ông gãi đầu xin lỗi Mumei với vẻ mặt kỳ lạ, Mumei nói:

“Dở hay ngon, bọn cháu đâu có để ý gì mấy?”

Yoshiro cảm thấy khó thở vì xấu hổ khi được đứa chắt chỉ ra sự hời hợt của mình từ góc độ không ngờ đến. Có nhiều người già cảm thấy tức giận khi bị người trẻ phê bình, nhưng Yoshiro hoàn toàn không giận Mumei. Ngược lại, ông đau lòng khi thấy người già như ông thường xuyên làm tổn thương lớp trẻ mà không nhận ra. Chỉ toàn nói “cái này ngon”, “cái này dở” với sự ngạo mạn như thể trình độ ẩm thực của họ ở cấp độ cao hơn vậy, hình ảnh những người lớn như muốn quên đi hàng đống vấn đề mà mọi người đều đang bị nhấn chìm trong đó được phản chiếu thế nào trong mắt bọn trẻ nhỉ? Nhiều độc tố không có vị gì nên có rèn vị giác bao nhiêu đi nữa vẫn không thể bảo toàn sinh mạng.

Có lẽ, nếu biết người sống ở Tokyo trồng gừng myoga và rau đắng để xuất hàng như một loại rau cao cấp, hẳn người Okinawa sẽ cảm thấy rất buồn cười. Thỉnh thoảng, ông đã viết bưu thiếp kể chuyện rau đắng, gửi con gái Amana nhưng không nhận được phản hồi nào. Có thể do con gái ông chưa từng nghe đến loại thực vật có tên rau đẳng cũng nên.

Mỗi lần viết chữ “rau đắng”, Yoshiro lại được kéo về với niềm vui viết chữ. Ông viết chữ này thật chậm, như một con vật nhỏ bé thuộc họ mèo đang dùng móng cào xéo lớp vỏ cây bên ngoài.

Yoshiro từng thích viết bưu thiếp. Ông cũng từng nghĩ mình kỳ cục khi gửi bưu thiếp cho người trong nhà trong khi không phải là khách du lịch, nhưng nếu viết thư trong khi mặt giấy quá rộng, ông lại không biết viết gì, rốt cuộc không viết. Còn bưu thiếp mặt giấy có ít chỗ để viết đến nỗi ông hình dung được cả dấu chấm hết từ trước khi bắt đầu viết. Hễ nhìn thấy kết thúc ông lại thấy yên tâm. Lúc nhỏ, ông từng ngộ nhận mục đích cuối cùng của y học là tạo ra một cơ thể vĩnh viễn không chết, nhưng chưa từng thử nghĩ về nỗi đau không thể chết.

Cam có giá bán cố định nhưng tem bưu chính không như thế. Giá tem có từ thượng vàng như tem hình gà gô với giá trên trời, đến hạ cám như tem hình tòa nhà Quốc hội Nhật Bản giá rẻ như cho. Thỉnh thoảng ở bưu điện có bán “một ngàn con tem” với giá đặc biệt nhưng mỗi lần nhìn thấy, Yoshiro hoàn toàn không có hứng mua vì cảm giác như được cho biết là ông có viết một ngàn tấm bưu thiếp đi nữa vẫn không chết được.

Mỗi khi nghĩ hôm nay là ngày đẹp trời để viết bưu thiếp, trên đường đi chợ về, ông lại ghé tiệm bán bưu thiếp mua mười tấm. Do bất kỳ ai cũng có thể mở tiệm bán những gì mình thích bất kỳ lúc nào nên số tiệm như các gian hàng trong lễ hội học đường cũng tăng lên. Tiệm bán bưu thiếp này cũng là một trong đó, chẳng buồn che giấu việc nổi hứng bán buôn của một người nghiệp dư, đến tấm bảng hiệu viết tay dựng ở cửa ra vào cũng bị đặt nghiêng. Dù vậy, không biết có phải ngại nếu chỉ bán bưu thiếp do mình làm ra hay không mà chủ tiệm còn bán cả dù che nắng và các loại văn phòng phẩm khác lạ. Loại dù che nắng trong suốt nhưng lại không để ánh nắng lọt qua khiến Yoshiro cũng muốn sở hữu và đã mua một chiếc. Nào bút chì phát ra tiếng kêu, giấy xếp origami sẽ dún lại thành hình chim uyên ương nếu nhỏ nước từ trên xuống, cục tẩy lớn hệt như quả chanh, v.v., tiệm bán nhiều món mà Mumei rất thích nên ông quyết định đến một mình.

Chủ tiệm là bạn cùng khóa thời trung học cơ sở với con gái Amana của ông, có sở thích từ thời ấy là ép hoa khô. Cô gọi hoa păngxê là bạn thân, vẫy tay với cây mã đề á, cúi chào hoa cải dại, có khi còn viết thư tình cho hoa cánh bướm, nhưng cứ đến Chủ nhật lại ngắt, nhổ các loại thực vật, ép khô chúng và biến thiên nhiên với dung mạo khác hẳn thành bưu thiếp để bán. Hầu hết cô sử dụng cỏ dại nhưng lại cố tình dùng đất nhân tạo ở vườn để trồng chúng nên có thể không gọi đó là cỏ dại được. Khi Yoshiro hỏi chủ tiệm tại sao lại cố tình trồng cỏ dại, cô nói vì cỏ dại sắp tuyệt chủng nên phải gia tăng chúng lên.

“Cả chó tạp chủng cũng đang biến mất đó ạ. Bác có biết không?”

Nghe vậy, ông nhớ đúng là ở tiệm cho thuê chó có viết tất cả chó mà quý vị thấy đều là loại thuần chủng, và ngoài chỗ đó ra ông không thấy chó ở đâu cả.

Yoshiro rất thích đi mua bưu thiếp, để được dựa vào cái cột nhà bên cạnh quầy thu ngân, trò chuyện về con gái với người này.

“Amana có khỏe không bác?”

“Có vẻ nó chẳng đau ốm bệnh tật gì cả”

“Công việc ở vườn cam chắc là lao động nặng ạ?”

“Hình như nó khỏe lắm.”

“Cũng nhờ được rèn luyện trong đội khiêng kiệu thời trung học đấy ạ.”

“Còn cháu thì trong đội điền kinh nhỉ?”

“Chạy cự ly ngắn chẳng có ích gì cho đời sống thực tế hiện nay cả bác ạ. Làm sao có thể đi săn ở những cánh đồng không có lấy một con thú nào” – Nói rồi lão nghệ sĩ ép hoa khô vẫn còn ở độ tuổi bảy mươi trẻ trung, độ tuổi có thể nói cười vô tư, vung cây bút chì như một ngọn giáo, nâng đầu gối cao đến chạm ngực.

“Amana viết gì cho bác trong thư trước ạ?”

“Nó viết là lần đầu thấy loại dứa đỏ mới”

“Ghen tị quá đi mất, Okinawa,” – vừa nói, cô vừa cho mười tấm bưu thiếp vào chiếc túi nhỏ làm bằng sợi thực vật đưa cho Yoshiro. Vì muốn nói thêm về Amana nên Yoshiro tìm đề tài có thể thu hút để nói:

“Hình như người sống ở Okinawa đều gọi Okinawa là Ryukyu đấy.”

“Ryukyu ư? Hay nhỉ. Nhưng lẽ nào là phong trào độc lập?”

“Vậy không có đâu. Nếu thành nước ngoài đồng nghĩa không bán được trái cây cho nước đang phong tỏa là Nhật, lại không có người lao động”

“May quá. Nếu không còn gặp được Amana chắc buồn låm a.”

Lúc ấy, Yoshiro nhớ ra Hildegard từng có người bạn Nhật tên là Tsuyukusa. Ông chưa từng gặp nhưng vì Hildegard có kể cho ông nghe đủ thứ chuyện nên ông có cảm giác đã thân thiết với người này từ xưa. Nghe kể lúc trẻ, Tsuyukusa sang Đức học đàn vĩ cầm, kể từ đó sống ở thành phố Krefeld luôn. Ông còn nhớ là cô kết hôn với một người Iran quen biết qua buổi hòa nhạc, khi cặp sinh đôi chào đời, vợ chồng họ mỗi người bế một đứa đáp máy bay về nhà bố mẹ đẻ. Rồi chẳng biết từ khi nào mà họ không thể bay về Nhật mỗi khi tết đến. Không hiểu họ có cảm giác gì khi cả đời không thể về lại Nhật?

Okinawa dẫu có xa nhưng vẫn là trong nước, cố một chút là đi được. Ấy thế mà mỗi lần nghĩ đến chuyện đi thật, cơ thể lại rũ ra khiến ông từ bỏ ngay ý định đó để tiết kiệm thể lực cho Mumei.

Thời sinh viên, ông có người bạn sang chảnh từng xách chiếc túi thể thao lỗi mốt đi vòng quanh Nam Mỹ và châu Phi. Khi ông hỏi người ấy sao không mua ba lô đi liền được trả lời là nhìn giống người đi du lịch, xấu hổ lắm. Không phải gào lên cho thiên hạ biết là tôi đi du lịch nước ngoài đây, mà cứ như trên đường đi sinh hoạt câu lạc bộ ngoại khóa về, tay xách chiếc túi thể thao thường gặp, chân đạp gót đôi giày thể thao, cứ thế mà đi nước ngoài – chao ôi sang chảnh làm sao! Với vẻ ngoài không gây chú ý đó cũng chẳng phải lo bị bắt lại.

“Bưu thiếp Amana gửi phần lớn dùng cách viết bằng mực tàng hình ấy.”

Vì câu chuyện bị đứt quãng nên Yoshiro buột miệng nói như tình cờ bắt được hoa bồ công anh già đang bay nổi trước mắt.

“Ô, thích vậy ạ? Mà dùng trái cây vào những việc như vậy cho thấy Okinawa đúng là xa xỉ bác nhỉ. Cô ấy dùng chanh ạ?”

“Chà, để lần tới bác hỏi nhé. Bác nhớ lâu rồi, thời tiểu học bác từng dùng mực tàng hình, vui quá chừng. Bọn bác kết một nhóm bí mật, rồi đem mấy tài liệu cực mật được nhóm bạn đưa về nhà, lén soi ở lò sưởi để chữ hiện ra mà đọc.”

“Cháu cũng nhớ ạ. Nhưng có lần bị bố mẹ mắng vì cái tội thắp đèn cầy, chẳng may động đất rồi cháy thì sao.”

“Mà thật ra chữ tàng hình đó, nguyên lý của nó thể nào nhỉ?”

“Phần giấy thấm chất chua dễ cháy ạ. Cho nên khi đưa đến gần lửa, chỉ có phần chữ được viết bằng nước chanh sẽ cháy nâu trước.”

“Ra là vậy. Như tranh màu nước, nó thấm vào rồi nhiều độ đậm nhạt khác nhau, từ vàng đến nâu đẹp nhỉ”

“Vâng, không biết tại sao mà mấy chỗ thấm trông như phong cảnh bác ạ.”

“Cả mấy tấm bưu thiếp con gái gửi, lúc đầu bác thấy tấm nào cũng như phong cảnh có nước, nhìn kỹ, cảm thấy chỗ nước đó cháy, như còn lại ngọn lửa nhỏ, hơi sợ đấy.”

“Nước cháy ạ?”

“Nếu một lượng lớn dầu tràn ra biển, biển cũng sẽ cháy mà đúng không?”

“Bác đừng nói mấy chuyện đáng sợ như thế ạ. Hẳn là cuộc sống của Amana thong thả lắm phải không ạ?”

“Có lẽ vậy”

“Trái cây hẳn là thừa mứa bác nhỉ?”

“Amana thường kể chuyện trái cây nhiều. Nào trồng được dứa đỏ, nào đu đủ vuông, đằng nào mấy thứ đó cũng có đến được Tokyo đâu nên bác cũng không thấy thú vị gì. Thật ra có khi còn thấy lo lắng nữa. Cháu thấy có lạ không, khi mà nó chỉ kể toàn chuyện trái cây. Nếu mà là lúc trước, bác còn nghi nó bị tẩy não nữa kìa”

Đến đây, cả hai bất chợt im lặng, nhưng việc họ nghĩ hầu như giống nhau. Do vườn cây ăn quả như nhà máy trái cây nên cuộc sống lao động bị nhốt trong đó hẳn là khó nhọc hơn ta tưởng. Cứ nghe vườn cây ăn quả, người ta sẽ ghen tị vì hiểu nhầm đó là chốn thiên đường. Họ hình dung một cuộc sống bồng lai tiên cảnh, dạo chơi trong thiên nhiên, dạo núi hái nấm, tận hưởng khí ẩm từ khu vườn mini rong rêu và những bụi dương xỉ, đọc dấu chân nai, lắng nghe tiếng chim véo von. Nhưng Amana không có được cuộc sống như thế, cô làm việc từ sáng sớm đến tối mịt trong một nhà máy có tên gọi là vườn cây ăn quả. Nếu ở đô thị, ta có những niềm vui vào cuối tuần như đến dự các buổi triển lãm, hòa nhạc, thuyết giảng, làm quen với những người bạn mới, đi dạo và phát hiện những cửa hiệu mới. Đúng là Tokyo đã trở thành một thành phố có nền kinh tế nghèo nàn, nhưng những cửa hiệu nho nhỏ mới mở cứ mọc lên như bọt nước nở hoa trên mặt nước, chỉ cần ngồi ghế đá ngắm người qua lại ngược xuôi cũng không chán. Hễ đi dạo trong thành phố, những bánh răng trong não lại chầm chậm xoay. Người ta nhận ra những niềm vui như thế chính là phần ngon nhất trong thứ trái cây được gọi là cuộc sống thường nhật, nên dù nhà ở có chật hẹp, đồ ăn có thiếu thốn đi nữa nhưng “những người muốn sống ở Tokyo” không giảm là vậy.

Giờ đây Amana chỉ còn nghĩ đến trái cây mà thôi, hay là vì bị bưu điện giám sát quá mà cô không thể viết lên bưu thiếp, hoặc cô có điều gì đó đang giấu giếm cha mình, tóm lại, Yoshiro cảm thấy có điều gì đó không ổn. Ông chăm chú nhìn tấm bưu thiếp của con gái và cảm thấy như một phần nội dung bị một bàn tay vô hình úp lại, che phủ khiến ông không thể đọc được.

Nếu là hồi xưa, thời còn điện thoại, ông đã thử gọi con gái một chút rồi, dù thật ra cũng có khi ông nghĩ may là điện thoại biến mất. Ngày xưa, mỗi lần nói chuyện điện thoại với Amana là mười lần như một, hai cha con đều cãi nhau, một trong hai người sẽ tức giận giập máy, kết thúc cuộc gọi. Nếu Amana nói: “Con không thích đồ chua”, Yoshiro sẽ đáp trả: “Con cứ kén ăn cho nên lúc nhỏ mới hay bị cảm đó.” Đầu dây bên kia sẽ bực tức: “Nếu cứ ép trẻ con ăn những thứ nó ghét, lớn lên nó sẽ thành người vô cảm vô lực, không biết mình thích cái gì đâu”, và nếu Yoshiro trả lời: “Cha không nghĩ mình đã ép con ăn cái gì cả”, cô con gái sẽ lại nói gì đó. Nay là những tấm bưu thiếp nên ông không thể đáp trả ngay được, và mỗi khi nghĩ nội dung trong đó cũng đã trải qua một tuần sau khi được viết ra mới đến tay mình, cơn giận của ông cũng nguôi ngoai.

Mỗi lần bưu thiếp được phát đến, Yoshiro đều cho Mumei xem. Khác với tranh vẽ, những bông hoa được ép khô lạ lùng, thay đổi từ hình dáng ba chiều ban đầu sang hai chiều khiến Mumei say sưa ngắm với vẻ thích thú. Nhưng dù Yoshiro có nói “của bà cháu gửi đấy”, cậu bé cũng không có vẻ gì cảm nhận được ngay. Cậu không quen với từ “bà”, và dù có cố nhớ về Amana đi nữa thì giỏi lắm cũng chỉ hình dung được tấm bưu thiếp viết chữ tàng hình được gửi đến lần trước. Cậu cũng không nhớ mình từng gọi tiếng “ông”. Mumei chưa từng nghĩ sẽ tách rời chữ “cổ” ra khỏi chữ “ông”. “Mẹ” đối với trẻ em thời xưa là “ông cổ” đối với Mumei bây giờ, và cậu không có ai là người thân ngoài ông cố cả. Tất cả những gì cần thiết để cậu sống đều được “ông cổ” đem lại.

Với Mumei, “bà cổ” cũng là một người xa lạ nhưng hôm trước, khi bà cố đến thăm, cậu bé đã phấn khích như đêm trước lễ hội, mãi không ngủ được. Đêm đó, Yoshiro cũng trở mình liên tục.

Khi được Mumei hỏi tên của bà cố là gì, Yoshiro lúng búng trả lời: “Marika. Với vẻ già trước tuổi gần đây, Mumei cười nói: “Tên Marika ạ, cái tên nghe được đấy chứ ông cố nhỉ.” Yoshiro sững người khi Mume hỏi tiếp: “Hai người quen biết nhau ở đâu vậy ạ?” Ông không cảm nhận được cảm giác thực thụ của cách nói gọi là “quen biết”. Marika và ông đã gặp nhau lần đầu ở đâu nhỉ? Ông không thể nào nhớ ra. Chỉ biết khi nhận ra thì họ đã gặp mặt hằng tuần ở các cuộc biểu tình. Kí ức yêu đương bắt đầu từ những lần biểu tình. Dạo ấy, mỗi Chủ nhật đều có biểu tình và không ngờ là nhiều người đã kết hôn qua những lần gặp gỡ ở những cuộc biểu tình ấy. Biết đâu chừng trong số ấy đã có người cuối cùng tham gia biểu tình thay vì đi xem mắt.

Chỉ cần tới cuộc biểu tình là chắc chắn gặp nhau nên họ chẳng trao đổi địa chỉ liên lạc, cũng không hẹn trước. Cả hai người đều đi nhanh nên chẳng mấy chốc là dẫn đầu đoàn biểu tình. Cả những ngày đông người kéo thành hàng dài, chỉ cần đi chừng mười lăm phút là Marika đã bên cạnh ông. Họ bắt đầu từ những câu chuyện vô thưởng vô phạt như chuyện thời tiết, giày dép và luôn hào hứng ngay lập tức, nụ cười gặp gỡ nụ cười, và cứ thế rạng ngời hơn, cho đến cuối giờ, họ lại vui vẻ chia tay: “Tuần sau nhé.” Giữa hai người hoàn toàn không có ý định yêu đương. Thế nhưng, vào nửa đêm thứ Ba nọ, vừa rời khỏi tiệm sách cũ, Yoshiro bị một số cậu nhóc choai choai tấn công, chúng dùng gậy bóng chày đập vào đầu ông và cướp mất cái ví. Yoshiro bất tỉnh, khi tỉnh dậy đã thấy mình nằm trên giường bệnh. Ông thấy bóng đèn trên trần phòng bệnh mờ ảo thành hai nhưng bác sĩ cho rằng sóng não không có gì bất thường. Khi không còn cảm thấy toàn thân nhũn nhão nữa, ông lại thấy đau ở cổ tay, ngón tay, có chỗ nghe như xương bị rạn, chỗ bị tróc da, chỗ lại bị sưng, tổng cộng đến tám mươi tám chỗ bị đau, tuy vậy ông lại chỉ lo Chủ nhật mình không tham gia biểu tình được mà thôi. Đến thứ Bảy, Yoshiro không chịu nổi nữa, sáng Chủ nhật, khi trời vẫn còn tù mù, ông trốn khỏi bệnh viện, cứ thế

đi thẳng tới chỗ biểu tình. Trước bộ dạng đuôi mắt và cằm dán băng cá nhân, đầu và cổ tay băng bó của Yoshiro, nhiều người lầm tưởng ông trình diễn nên đã vỗ tay hoan hô. Rồi ông cũng nhìn thấy bóng lưng Marika, ông nhắm sợi dây kéo trên áo như chẻ dọc chiếc lưng ấy mà chạy đuổi theo, quên mất bộ dạng của chính mình, vỗ vào vai cô. Marika quay lại, ngạc nhiên trước bộ dạng ấy của Yoshiro, lại tiếp tục sững sờ khi biết Yoshiro bất chấp để đến biểu tình, và rồi má cô ửng đỏ. Yoshiro cảm thấy trái tim mình bị bóp nghẹt. Ông đã rơi vào cái bẫy vi diệu có tên gọi tình yêu, và không còn sức để có thể tự mình thoát ra. Ông đầu hàng, khuỵu xuống, đưa hai tay ôm mặt.

Khi Marika báo tin mang thai, ông mơ hồ hạnh phúc; khi cô đề nghị kết hôn, ông thấy lo lắng, liệu mấy chục năm tới mình có chịu đựng được cái giọng the thé và kiểu nói vòng vo của Marika vốn đang dần khiến ông khó chịu. Khi Marika hỏi liệu ông có chấp nhận rằng sau khi kết hôn, có thể cô vẫn vắng nhà thường xuyên, ông lại thầm thở phào nhẹ nhõm. Kết hôn với người không ở nhà thường chắc cũng không sao. Cũng có thời gian ông khinh bỉ chính mình khi quyết định kết hôn với lòng dạ nhỏ nhen như thế nhưng rồi sau đó, quá nhiều âm nhạc đã được tấu lên giữa họ, thời gian đã trôi dài đến mức bây giờ, ông không còn nhận ra ranh giới giữa sai và đúng nữa. Ông nhớ lúc nhỏ, ở cửa hàng bách hóa, mình từng đứng ngắm không thôi cái máy trộn nhỏ trước mặt xoay vòng khi nghe giới thiệu “đây là cái máy mà nếu cháu bỏ sữa, trứng và đường từ trên vào thì từ dưới, kem sẽ chạy ra”. Cũng giống như cái máy trộn này, khi cho Yoshiro và Marika vào từ trên, qua hai công đoạn từ dưới xuất hiện đứa chắt là Mumei. Nếu từ trên không cho gì và ở dưới chẳng có gì chạy ra cả, vì vậy ông nghĩ biết đâu vậy mà tốt. Mỗi lần nghĩ lại công đoạn ấy, ông luôn cảm thấy mình giống một thứ nguyên liệu hơn là đầu bếp.

Sau khi đứa con chào đời, Marika cũng vắng nhà suốt. Xong bữa sáng là cô nhét ví và túi đi chợ cùng đứa bé vào xe đẩy, rời khỏi nhà. Trước tiên, cô ào đến quán nước “Thị trấn sữa” mở cửa vào lúc mười giờ, ôm ba tờ báo của ngày hôm đó rồi ngồi vào chỗ. Đứa bé say sưa ngủ trong chiếc xe đẩy, cô phục vụ bàn không cần đến gần cũng đọc được chữ “cà phê” khi Marika mấp máy môi nên cứ tựa vào quầy mà gật gù. Một lúc sau, các bà mẹ khác kéo đến, quán nước đầy những chiếc xe đẩy. Tiếng thở dài ngao ngán, tiếng chê bai như kim chích, tiếng cười chua chát, tiếng bất mãn dồn dập, tiếng nịnh nọt ngọt ngào dẻo như kẹo kéo. Đến trưa, Marika mua nguyên liệu làm rau trộn ở tiệm thực phẩm Công bằng Thương mại gần đó về, nhanh chóng chuẩn bị bữa trưa rồi dùng bữa với Yoshiro, vốn cả sáng ngồi viết trong thư phòng. Vợ chồng họ đối diện với nhau trong khoảng hai mươi phút, im lặng trong thân mật nhưng vừa xong bữa là Marika dọn ào mớ chén bát rồi lại đẩy xe ra ngoài. Chính xác là trông như chiếc xe đẩy em bé chở cảm xúc của Marika chạy về phía trước hơn là cô dẫn đứa bé sơ sinh ra ngoài.

Thời gian đó, Yoshiro đang viết quyển tiểu thuyết mà nhân vật chính là người đàn ông không hề bước chân ra khỏi nhà. Nhưng người đàn ông không phải tự giam mình mà như con cua ẩn sĩ, trở nên lo lắng về mặt sinh lý khi ra khỏi nhà nên anh ta vắt óc tìm cách để có người thú vị tìm đến với mình.

Yoshiro nghĩ hẳn là vợ mình rất khổ sở khi phải ở chung một mái nhà với mình từ sáng đến tối. Cho nên cô phải miễn cưỡng tìm việc để làm, vội vã đẩy xe em bé ra ngoài từ sáng.

Có lần, Yoshiro hẹn gặp một biên tập viên ở quán nước, nhưng sau khi ghi chú các ý tưởng về kế hoạch dự định sẽ gặp và ra khỏi nhà, ông nhận ra mình đã trễ giờ khá lâu. Nhìn thấy dáng người biên tập viên ngồi ủ rũ trong góc quán, vai xụi xuống, cúi gằm nhìn lớp váng nửa trong nửa đục nổi lên trên bề mặt tách hồng trà, ông chỉ muốn càng nhanh càng tốt chạy đến chiếc bàn đó xin lỗi nhưng không tài nào lách qua được. Đến lúc đó ông mới nhận ra quán nước đã trở thành bãi đỗ xe đẩy trẻ em. Những em bé say sưa giấc nồng trên những chiếc giường di động, các bà mẹ nhăn mày cau mặt nói chuyện với nhau. Nào “tài nguyên có thể tái sử dụng”, nào “mối lo con trai sắp trở thành chim”, hay “chế độ ưu tiên lợi nhuận, bỏ mặc sức khỏe người dân”, những mẩu chuyện rời rạc bay vào tai ông. Do mọi người chăm chú vào cuộc trò chuyện nên cà phê trong cốc nguội lạnh, còn bánh kem chẳng được ai gọi, nằm nguyên trong tủ kính, khô khốc đến nứt cả bề mặt bánh. Gáy cuốn sách Bi quan cho người mẹ chợt đập vào mắt ông. Một người mẹ đang cầm quyển sách này bằng một tay, tay còn lại đang khua khua bên trong chiếc xe đẩy. Yoshiro nhỏng dài cổ như kỳ lân nhìn vào bên trong, hóa ra tay người mẹ xoa đầu đứa bé đang bứt rứt, đến mức tóc nó rối bù cả lên. Phải chăng Marika cũng đang đọc sách, trò chuyện tại một quán nước khác giống như vậy? Hay biết đâu đang cạnh khóe, phá hỏng một buổi học hay trò chuyện nào? Chà, bọn họ đang làm gì nhỉ? Trong lòng cứ mất tập trung như thế, Yoshiro kết thúc cuộc hẹn với biên tập viên và đi ra ngoài. Ông nhận ra vỉa hè cũng đầy xe đẩy em bé. Trong lúc Yoshiro nhốt mình ở thư phòng để viết bản thảo, xã hội đã thay đổi hoàn toàn. Nhiều trẻ em ra đời như thế, phố xá đầy những xe đẩy em bé, các bà mẹ thường hay tập trung trong quán nước. Bên dưới tấm màn che bằng vải, thế hệ người mới nhọn miệng ngậm ti giả như mỏ chim, thỉnh thoảng thân hình được quấn trong tấm vải cục cựa tạo sóng, nhìn Yoshiro với vẻ căm ghét. Thì ra đây gọi là em bé. Nếu gặp ở ngoài thế này, phải chăng con gái Amana của mình cũng như một sinh vật kỳ lạ như thế? Đèn giao thông chuyển sang màu xanh, những vạch trắng trên lối băng qua đường biến mất dưới biển xe đẩy em bé. Vào tiệm sách cũng đầy xe đẩy em bé để trước những kệ sách. Yoshiro định đưa tay lấy cuốn sách mới được phát hành Khuyến khích thủ dâm nhưng ba chiếc xe đẩy che kín ngay trước kệ sách đó nên ông không với tới được. Vẫn trong tư thế nhón chân, ông bất chợt nhìn vào một chiếc xe đẩy liền bắt gặp ánh mắt đứa bé như chiếc gương không vương bụi, đang nhìn mình.

Mãi rồi ông cũng được Marika chỉ cho biết cái từ gọi là “phong trào xe đẩy em bé”. Đó là phong trào kêu gọi các bà mẹ đẩy xe em bé dạo quanh phố phường càng lâu càng tốt, khi ánh nắng vẫn còn chưa tắt. Cảm giác buồn buồn mỗi sáng thức dậy, cảm giác thấy mình bất lực với cái bụng rỗng, bài tiết không tự chủ mà không ai giúp được, liệu đó có phải vì mơ thấy một giấc mơ nhớp nhúa, hay là vì bị kích hoạt chỉ bởi ký ức trong người mẹ cả ngày ở nhà một mình với tiếng khóc của trẻ sơ sinh, tóm lại hễ đẩy xe em bé ra ngoài và bước vào những quán nước có dấu xe đẩy em bé, những bà mẹ không chịu được những cảm giác như thế có thể đọc sách báo ở đó hoặc trò chuyện với những người mẹ khác.

Đêm đó, khi được Yoshiro hỏi, Marika hào hứng kể cho ông nghe nhiều hơn về hoạt động của phong trào xe đẩy em bé. Để khảo sát xem thành phố tử tế với người đi bộ đến mức nào, đẩy xe em bé đi là tốt nhất. Nếu không có vỉa hè, hoặc quá nhiều bậc tam cấp sẽ không đi được. Khi quá căng thẳng vì tiếng ồn, hoặc khi đến nơi có quá nhiều khí cácbon điôxit, em bé trong xe đẩy sẽ khóc váng lên. Nếu xung quanh có nhiều xe đẩy khác nữa, chúng sẽ giúp phản ứng dây chuyền, cùng nhau khóc thật to, vang như còi báo động; người đi đường sẽ đứng lại, cảm nhận thực sự nơi ấy khó chịu hoặc nguy hiểm đến mức nào đối với con người. Nghe cô kể người ta còn phát minh ra xe đẩy em bé sạc pin bằng năng lượng mặt trời trong lúc đẩy.

Thường ngày, Yoshiro vốn cảnh giác với những phong trào dân sự tràn đầy thiện ý. Trong thiện ý của mùi sữa tươi có chứa sự căm hận đối với nhà văn nam chỉ biết vùi đầu chấp bút những tác phẩm u ám, đồi trụy mà chẳng quan tâm đến gia đình, như axít sunfuric, chỉ cần ông bất cẩn thì nó có thể tràn ra, đốt cháy da thịt ông. Marika chưa từng chỉ trích công việc cầm bút của Yoshiro, cũng chưa từng có ý kiến gì về những quyển sách Yoshiro viết.

Có lẽ nhờ liên tục được hít thở không khí bên ngoài từ thời còn nằm nôi đẩy như thế mà con gái ông, Amana rất thích đi dạo quanh thành phố dù không có việc gì cần thiết để đi. Chẳng bao lâu sau khi có kinh lần đầu, nhiều ngày liền Amana không về nhà dù trời sụp tối, khiến Yoshiro phải mắng mỏ. Cô bé đã lý luận ngược lại là “xác suất bé gái mười ba tuổi chết trong nhà là cao nhất đấy bố à. Nào là cướp bóc, nào là tự sát tập thể cả gia đình. Cách nghĩ cho rằng bên ngoài nguy hiểm thật vô lý hết sức”.

Mười tám tuổi, Amana rời bỏ Tokyo, vào học một trường đại học ưu tú ở phía Bắc Kyushu, chuyên ngành Hữu cơ học. Cô luôn nhấn mạnh Kyushu là vùng đất có phong cách quốc tế từ thời kỳ đồ đá đến thời Edo. Cô từng nói: “Thiên nhiên ở Tokyo quá nhợt nhạt. Con muốn sống ở miền Nam nước Nhật” Yoshiro thấy khó hiểu, không biết tại sao cô lại nói “miền Nam nước Nhật” thay vì “Kyushu”. Sau khi tốt nghiệp đại học, Amana hầu như không đi quá Shimonoseki để đến đây. Cả những lúc Tomo đến chỗ Yoshiro chơi vào kỳ nghỉ hè, người dẫn cậu bé đến cũng là bạn của Amana, người này đến Tokyo vì có việc riêng.

Khi con gái ra riêng, Marika, vợ ông cũng lấy lý do công việc để sống ly thân. Thời gian đầu, cô làm việc ở một cơ sở bảo hộ trẻ em bỏ nhà ra đi, không muốn về với cha mẹ nhưng sau đó dựng hẳn một “Học viện Trẻ nhà người ta” trong núi cho những đứa trẻ không người chăm sóc và trở thành viện trưởng ở đó. Có tin đồn Marika trở thành viện trưởng nhờ công trạng to lớn trong việc gây quỹ, nhưng với một người chưa từng gây quỹ hay làm những công việc đại loại thế như Yoshiro, chuyện đó thật khó hiểu, ông không thể nào hình dung được phải tiếp xúc với những loại người như thế nào mới có thể gom được một số tiền lớn chừng ấy. Vợ chồng với nhau, hỏi thẳng một câu là được nhưng thật muộn màng khi ông nhận ra mối quan hệ càng gần, những chuyện khó nói càng tăng lên. Hai người họ không xích mích, cũng chẳng ly hôn, cứ thể tiếp tục đời sống ly thân trong lặng lẽ. Họ không thể quay ngược thời gian nên chỉ còn cách để nó cuốn đi.

Sau khi vợ chồng Amana di cư đến Okinawa một thời gian, đứa cháu trai Tomo đã đến tuổi trưởng thành trở thành cơn đau đầu thật sự của Yoshiro. Ông đã nhiều lần thử thuyết giáo đứa cháu này nhưng chỉ như một trò hề.

“Điều gì quan trọng nhất đối với cháu?”

“Chà, cháu có biết đâu.”

“Cháu thử nghĩ xem. Khi nào cháu cảm thấy sống vui hơn chết?”

“Chắc là lúc cháu hưng phấn.”

“Vậy khi nào cháu hưng phấn?”

“Khi cháu làm ba điều”

“Ba điều gì?”

“Mua. Đánh. Uống”

“Câu trả lời của cháu thiếu mất từ chỉ mục đích trực tiếp rồi.”

“Làm gì có mục đích trực tiếp nào.”

“Không phải là mục đích trực tiếp, mà là từ chỉ mục đích trực tiếp. Tiếng Đức có bốn cách, tiếng Nga thì đối cách đấy”. Nhận ra cách giải thích vô nghĩa của mình, Yoshiro vội vàng sửa lại: “Cháu mua gì, đánh gì, uống gì đấy?”, Tomo toe toét trả lời:

“Mua truyện tranh, đánh cú banh ghi điểm, rồi uống sô cô la nóng”

“Đồ ngốc. Cháu chỉ giỏi nói những điều ngu ngốc. Hay thử tu nghiệp làm tác giả tiểu thuyết xem?”

“Khồng, khồng. Cháu chúa ghét hạn chốt “Không phải hạn chốt, mà là hạn chót. Vậy làm nhà thơ đi! Thi sĩ có thể viết khi viết được, không cần quan tâm đến hạn chót. Nghe nói trong tương lai, không nghề nào kiếm nhiều tiền bằng thi sĩ đâu.”

“Chà, kiếm nhiều tiền à? Nhưng mà cháu không giỏi kiếm tiền.”

Có dỗ dành kiểu nào Tomo vẫn cứ nhe răng cười toe toét, hệt như nước đổ đầu vịt. Khi cuộc trò chuyện của hai ông cháu trở nên phiền hơn, Tomo giả lả:

“Ông ngoại có tài, chỉ viết những cuốn tiểu thuyết mà ông muốn viết cũng sống được, cháu thật ghen tị quá đi mất. Ông tiếp tục cố gắng nhé.”

Yoshiro không biết nên cáu thằng cháu hay cười khẩy cho qua chuyện, cứ thế ngắm cái mũi cao và đôi mắt xếch của nó.

Từ thời học cấp ba, sống ở nhà bố mẹ nhưng Tomo thường đi qua đêm, đến khi bỏ học giữa chừng, cậu cũng không ghé nhà nữa. Yoshiro từng đặt nghi vấn phải chăng tồn tại cái gọi gen di truyền thích sống xa nhà. Vợ ông Marika, con gái Amana và thằng cháu Tomo, cả ba đều đã bay đi đâu mất rồi.

Có lần, Tomo dẫn một phụ nữ đẹp như một cánh hạc đến xuất hiện trước mặt Yoshiro. Chúng đến thông báo sẽ kết hôn. Còn nói là không tổ chức lễ cưới, chỉ đăng ký kết hôn. Mấy tháng sau, Mumei chào đời. Lúc ấy, Tomo đang chu du đâu đó, chỉ có mỗi Yoshiro bên cạnh đứa bé đỏ hỏn và mẹ nó. Do sinh sớm hai tuần so với ngày dự sinh mà người mẹ bị ra máu không ngừng, bất tỉnh, phải đưa vào phòng cấp cứu. Đứa bé được gắn các ống trong chiếc hộp thủy tinh như chiếc hòm trong suốt, để thở.

Ba ngày sau khi sinh con, mẹ của Mumei ngừng thở. Tomo vẫn bặt vô âm tín nên Yoshiro nghĩ cách trì hoãn đám tang càng lâu càng tốt. Thi thể của mẹ Mumei tiếp tục ngủ như con búp bê sáp trong “Phòng Yên nghỉ Đông lạnh” của bệnh viện. Còn Mumei mới chào đời, nói đúng hơn là “mới được luộc”, được đưa ra ngoài lồng kính và được các cô y tá chăm sóc tận tình để bảo vệ tính mạng, và hít thở những ngày đầu đời bên tiếng động viên của Yoshiro.

Nhưng, vào ngày thứ năm sau cái chết của mẹ Mumei, Yoshiro được gọi đến phòng yên nghỉ đông lạnh để nói chuyện với hai chuyên gia từ xa được mời đến. Một người nói cái xác có những bất thường không được mong đợi, cần hỏa thiêu ngay thay vì tiếp tục bảo quản. Người còn lại đề nghị ông cho phép giải phẫu xác và ngâm formalin để họ nghiên cứu. Yoshiro không thể hình dung được “những bất thường không được mong đợi” là như thế nào. Do nhiều lần hỏi đi hỏi lại bằng từ ngữ của một người ngoại đạo mà vẫn không có câu trả lời giúp ông hình dung rõ ràng nên Yoshiro mạnh mẽ tuyên bố, nếu không chính mắt mình xác nhận thì không thể hỏa thiêu hay ngâm formalin gì cả, thế là các chuyên gia miễn cưỡng dẫn ông đến nhà xác. Thoạt nhìn dáng cô cháu dâu, Yoshiro kêu “Á” một tiếng rồi đưa một tay che mũi và miệng lại, cúi xuống. Không thể tin vào mắt mình, ông rón rén nhìn lại lần nữa, lần này không đến mức kinh ngạc như ấn tượng lần đầu. Ngược lại, có thể nói là cái dáng đó rất đẹp. Về sau, ông không tài nào tái hiện chính xác dáng vẻ mình đã nhìn thấy lúc ấy. Nói cách khác, cơ thể ấy tiếp tục lớn lên và thay đổi trong ký ức của ông. Chính giữa mặt nhọn lên, biến thành mỏ chim. Các cơ bắp ở vai phát triển, mọc ra lớp lông vũ như thiên nga. Tự lúc nào, các ngón chân đã hóa thành ngón chân gà.

Ngày thứ Bảy sau khi qua đời, tử thi được đưa đến lò hỏa thiêu, một đám tang riêng tư mà người thân đưa tiễn chỉ có mỗi Yoshiro, được tổ chức. Khi tung tích của Tomo vẫn trong màn sương, ông nhận được liên lạc của Amana, cô nói “không thể từ Okinawa gấp gáp đi đến đó được nên mọi việc nhờ bố vậy”. Còn Marika, khi bà thu xếp thời gian hối hả đến bệnh viện, Mumei đã chào đời được mười một ngày. Đứng bên giường của Mumei, Yoshiro ưỡn ngực đắc ý như thể mình đã sinh ra thằng bé:

“Sao, thằng bé trông sáng sủa phải không? Lại đẹp trai. - Ông nói nhưng Marika vừa thấy Mumei đã vội rút khăn tay chặm nước mắt và rời khỏi phòng trẻ nhũ nhi như chạy trốn. Yoshiro định đuổi theo nhưng vì Mumei òa khóc nên ông ở lại.

Thời gian đầu, các cô y tá xem Yoshiro như người nhà đến thăm bệnh nhưng dần dà, họ đưa bình sữa, thậm chí bày ông cách thay tã. Hằng ngày, ông vứt tã bẩn vào rổ, các cô lại đem đến xấp tã mới đã giặt sạch.

“Tôi cứ tưởng tã làm bằng giấy, mỗi lần xài mỗi lần vứt chứ?” – Trong lúc ông nói, cô y tá phụ trách khịt mũi cười như muốn nói: “Cho nên mới nói người già thật phiền” nhưng cô y tá khác đứng cạnh tằng hắng:

“Nếu dùng giấy để làm tã sẽ khiến không đủ giấy để mấy nhà văn viết tiểu thuyết đâu ạ?”

Yoshiro rụt cổ thoái lui. Tự lúc nào, dường như cả bệnh viện phụ sản này đều đã biết ông già vụng về thay tã cho chắt mình thật ra là ẩn sau bút danh để viết tiểu thuyết.

Yoshiro cứ ngỡ chỉ những đứa trẻ không có mẹ mới được cho bú sữa bột, nhưng để ý quan sát, ông thấy người mẹ nào cũng cho con bú sữa bột. Một cô y tá giải thích là không có trường hợp bú sữa mẹ nào được đảm bảo an toàn tuyệt đối. Trong sữa mẹ đều có các thành phần nuôi sống con người lẫn thành phần giết chết con người được cô đặc trong đó. Nghe nói trong sữa bò làm thành sữa bột hoàn toàn không có, ông đùa: “Nếu vậy sữa con sói cũng có à?”, cô y tá không mảy may mỉm cười, cho ông biết: “Không, nhưng sữa con dơi thì có ạ.” Chỉ cần ông hỏi thì họ sẽ trả lời, xung quanh là những cô y tá như thế nên Yoshiro thoải mái đến bệnh viện phụ sản mỗi ngày để chăm sóc Mumei. Có điều sau đó, nhận ra hoàn toàn không thấy bóng dáng vị bác sĩ nào nên ông thử hỏi khiến cô y tá phụ trách thoáng như bị xúc phạm, không trả lời, chỉ cười với vẻ mặt “cho nên mới nói người già thật phiền” như mọi khi. Sau đó, ông rụt rè hỏi thử một cô y tá khác mới biết ở Khoa Phụ sản, từ lâu việc phân biệt bác sĩ, y tá hay hộ sinh đã bị bãi bỏ.

Ngày Tomo lao đến phòng nhũ nhi trong bệnh viện là ngày thứ mười ba kể từ khi Mumei chào đời. Cậu ta thở hồng hộc, giữa những hơi thở đứt quãng chỉ gọi được mỗi tiếng “Ông”. Nhìn đứa cháu ầng ậng nước mắt trong im lặng, Yoshiro thử nói với ý định đưa nó một chiếc thuyền cứu sinh:

“Con trai của cháu đó. Ông đặt tên là Mumei rồi. Tên là Vô Danh. Cháu có phàn nàn gì không?”

Như một đứa bé, Tomo nấc lên, nghe tiếng nấc đó Mumei đang ngủ say cũng bật khóc. Tiếng của hai cha con thật khớp nhau. Hệt như hai anh em trai cãi nhau rồi cùng bị mắng, cùng òa khóc vậy.

Tomo kể vì vào trại để cai nghiện nên bị cắt đứt thông tin với thế giới bên ngoài. Dù vậy, cậu ta vẫn được thông báo về cái chết của vợ nên mãi đến giờ mới được phép ra ngoài. Yoshiro không hỏi chi tiết có phải vì gây ra vụ án gì phiền phức mà cậu ta bị bắt nhốt, hay là tự mình xin vào, chi phí ra sao, chỉ nói như để một đứa bé con nghe thấy: “Ông sẽ chăm Mumei cho, cháu cứ yên tâm chữa khỏi bệnh rồi hẵng quay về.”

Một đứa trẻ như thế này lại tạo ra một đứa trẻ khác thì thế giới sẽ đầy rẫy trẻ con.

“Gần đây có một quán ông quen, để ông dẫn đi ăn cái gì đó ngon ngon” – Yoshiro nói, lúc này trên mặt Tomo mới thoáng hiện nụ cười nhẹ.

“Cảm ơn ông. Nói gì thì nói thời gian trôi nhanh thật. Vậy là cháu cũng làm cha sao?” – Cậu ta nhẹ thở dài, nói một câu kịch thoại. “Mày chẳng có chút tư cách đó!” – Yoshiro muốn mắng cháu thế nhưng nén giận:

“Nói tóm lại, cháu bị nghiện gì vậy hả? Đã hết tuổi chạy rộng theo mấy con chó rồi mà. Là mấy lá bài có vẽ hoa hòe hoa sói à?” – ông cố tình hỏi theo cách ngớ ngẩn về thói cờ bạc của cậu ta.

“Ông à, đến mức này thì chứng nghiện không còn thuộc đối tượng cụ thể nào đâu. Nghiện mức siêu cấp rồi. Chỉ cần cảm giác phấn khích đó quay trở lại thì sao cũng được”

“Nướng vào đâu? Cò quay[29] à?”

Khồng!”

Tomo đỏ mặt, cúi gằm xuống. Giá nào cũng phải hỏi cho ra, Yoshiro theo gặng hỏi bằng được, đến khi nghe câu trả lời, ông há hốc mồm, nghẹt thở, khoảnh khắc tiếp theo là phá ra cười, thổi bay cả cơn giận lúc nãy.

Dù từng nghe người ta nói cháu chắt trong nhà cực kỳ đáng yêu nhưng với Yoshiro, Tomo là cái cây liên tục cho ra những trái lo lắng đến mức ông không rảnh để kịp cảm nhận sự đáng yêu đó. Lúc còn chập chững bước đi, Tomo leo lên ghế ở bàn thao tác hệ thống máy tính làm việc nhà vốn thịnh hành thời bấy giờ và bấm loạn xạ các nút, vặn các núm vặn, làm trong nhà hỗn loạn cả lên. Thằng nhóc còn lôi hết mớ này đến mớ khác rau bó xôi từ ngăn đông ra, rã đông và biến căn bếp thành một thảo nguyên, hay làm cho nhiệt độ nước trong bồn tắm tăng vùn vụt, nóng đến mức con vịt đồ chơi nổi trên nước chảy nhũn nhão như quả trứng vỡ.

Tomo thích mọi máy móc có thể hoạt động chỉ bằng cách bấm nút, nhưng thằng nhóc chẳng hề đụng đến bộ đồ chơi xếp gỗ, ngồi xích đu thì chừng ba lần nhún chân đã chán. Có ném bóng cho thằng bé cũng chẳng buồn đón, mà cũng chẳng thèm chạy đuổi theo quả bóng lăn. Ông đọc truyện tranh Ehon thì Tomo không nghe, nhìn thấy bạn nó chẳng bắt chuyện mà cũng chẳng chơi cùng. Cùng lắm thì nó chỉ giật tóc làm bạn khóc. Ấy vậy mà hễ thấy công tắc là mắt nó sáng rỡ, muốn bấm ngay lập tức. Yoshiro nghĩ vậy mai mốt thằng bé trở thành lập trình viên máy tính cũng hay nhưng thật ra Tomo không hề hứng thú gì với toán học lẫn kỹ thuật máy tính, nó chỉ thích bấm loạn xạ và nhìn mọi người nháo nhào lên mà thôi. Với tính vô tổ chức như vậy thì nên trở thành nghệ sĩ, lên kế hoạch về những gì sẽ xảy ra, Yoshiro nghĩ vậy nên từng dẫn Tomo đến các buổi triển lãm và trình diễn nghệ thuật đương đại. Nhưng Tomo ghét nghệ thuật không gì bằng. Ở hành lang bảo tàng mỹ thuật, nơi giăng đầy những băng giấy sặc sỡ, khi người đàn ông mình trần sơn đỏ toàn thân xuất hiện và bắt đầu nhảy múa thì Tomo chịu nhìn, nhưng chỉ vài giây sau, nó cau mày ra vẻ ngán ngẩm, nói nhỏ vào tai Yoshiro: “Đó là nghệ thuật chứ gì?”

Thời thiếu niên, Tomo múa kiếm đánh nhau với con thằn lằn khổng lồ lông rậm trong trò chơi kỹ thuật số, đọc mấy truyện tranh kỳ quái được gửi đến điện thoại di động mỗi ngày, ngủ vùi trên chiếc giường của nhân vật chính trong phim tâm lý tình cảm trong khi vẫn để mở tivi, và vô duyên vô cớ ném bình hoa cổ ra ngoài cửa sổ cho vỡ. Điểm số của Tomo ở trường duy trì vừa sát mức trung bình để không bị rớt, nhưng nó khổ tâm nhất là một tiết học quá dài, khi thì ngáp đến sái quai hàm, khi thì lấy bút chì chọt chọt lưng đứa ngồi trước, hoặc nó ngoáy mũi và nhìn đồng hồ không biết bao nhiêu lần khiến các giáo viên rất bực. Thằng nhóc từng tuyên bố phải chi một tiết chỉ năm phút thôi thì nó đã có hứng học rồi. Nghĩ nó cố tình nói vậy để chọc giận người ta, Yoshiro giả lơ nhưng cũng có thể Tomo nói thật lòng mình.

Yoshiro từng nghĩ phải chi Tomo không phải cháu mình mà là một nhân vật xuất hiện trong tiểu thuyết của mình thì

hay biết mấy. Được vậy ông không phải tức giận, cả người đọc lẫn người viết đều vui vẻ. Tomo không đọc sách nhưng kỳ lạ là thằng bé cực kỳ quan tâm chuyện ông ngoại mình đang viết tiểu thuyết, nó khoe khoang với chúng bạn và lấy cắp sách của ông viết từ tiệm sách về bày đặt trang trí khắp phòng dù chẳng đọc chữ nào. Yoshiro biết có trò xem các nhà văn như những con ngựa để lựa chọn, đánh cược xem ai giành giải Nobel Văn học, hệt như cược đua ngựa với số tiền khổng lồ chảy trong đó, nhưng ông không thể nào ngờ được thằng cháu ngoại lại trở thành nạn nhân của trò kinh doanh cá cược như thế.

“Cháu có bao giờ đọc sách đâu, sao lại cho rằng mình có thể đoán được ai giành giải Nobel Văn học chứ hả?”

“Cá cược á, hễ là dân chuyên nghiệp thì có thể thắng bất chấp lĩnh vực ông ạ.”

“Chứ không phải cháu chỉ cược vào cái tên nào mà mấy nhà dự đoán xếp hạng trên thôi sao? Chứ bộ cháu chưa từng nghĩ biết đâu mấy cái danh sách đó sẽ bị thao túng để lừa tiền thiên hạ hả?”

Không biết có phải vì cuộc tái ngộ ông cháu lần này kết thúc bằng tràng cười không mà nó đọng mãi, thật tươi mới, trong ký ức của Yoshiro. Tomo quay lại trung tâm sau khi hứa sạch tội sẽ quay về. Yoshiro cảm nhận được sự dối trá trong chữ “sạch”, có phải quảng cáo bột giặt đâu, ông nghĩ vậy nhưng không nói ra.

Một tháng sau khi chào đời, cuối cùng Mumei cũng xuất viện, nhưng đón Yoshiro lúc ấy vừa bế Mumei vừa ngân nga về nhà là một thông báo Tomo đã trốn khỏi trung tâm và mất tích. Đêm đó, ông để đèn xoay bốn hướng như ngọn hải đăng với hi vọng có lẽ do Tomo muốn nhìn mặt Mumei quá nên trốn khỏi trung tâm, nhưng biển vẫn tối đen.

Yoshiro đã rất phân vân, không biết có nên báo cảnh sát không. Không phải vì ông không có cảm tình với cảnh sát vốn đã bị tư nhân hóa mà thiện cảm và lòng tin là hai thứ khác nhau. Hoạt động chính của cảnh sát sau khi tư nhân hóa là trình diễn âm nhạc, họ mặc đồng phục, lắc hông, đi bộ quanh thị trấn, trình diễn các bản nhạc nổi tiếng của các ban nhạc đường phố chindon-ya[30] và đoàn xiếc. Bọn trẻ con cực kỳ thích hoạt động này, đến Yoshiro cũng từng muốn đi theo đuôi họ. Nhưng không ai biết cảnh sát làm gì ngoài hoạt động trình diễn. Đồn cảnh sát đã bị xóa bỏ. Khi xưa, đồn cảnh sát được đổi tên thành “Chỉ những gì không biết” và tách khỏi sở cảnh sát, trở thành cơ sở dịch vụ thu phí bởi ngoài chỉ đường, họ còn kiêm cả hướng dẫn du lịch. Đọc báo cũng không còn bắt gặp những từ như “tình nghỉ”, “khám xét”, “bắt giữ” nữa. Cũng có người cho rằng nhờ bảo hiểm nhân thọ bị cấm nên mấy vụ án giết người cũng không còn, nhưng Yoshiro không nuốt trôi thuyết này.

Mẹ thì qua đời, cha thì mất tích, Mumei thật đáng thương biết bao, nhưng chết đi hay bốc hơi, thật ra chỉ là một vấn đề rất cá nhân, Yoshiro thấy ngại khi đem vấn đề đó đến cảnh sát. Nắm nhẹ bàn tay em bé như một con búp bê bé xíu, lòng ông bùng nổ cảm giác muốn vừa khóc vừa cười thật lớn, và buột miệng thốt lên: “Hai ta cùng cố gắng nhé, đồng liêu. Không hiểu tại sao lúc đó cái từ “đồng liêu” ông chưa từng sử dụng lại bật ra trong khoảnh khắc. Có thể thật ra ông muốn nói “đồng chí” hơn nhưng rốt cuộc sau khi lần giở những ký ức rối rắm về từ này thì “đồng liêu” lại xuất hiện.

May là ông không đi báo cảnh sát. Một thời gian sau, ông nhận được thư của Tomo. “Cháu đã bái bai trung tâm rồi. Xin lỗi vì đã làm ông lo lắng. Nhưng thật ra cháu có lý do đàng hoàng. Giám đốc mới là thủ lĩnh tối cao của giáo phái Nhân đạo. Bó tay. Ngày nào cũng toàn giáo điều. Gì mà không dùng đậu để nấu ăn, cấm mặc quần lót màu, rẽ tóc ngôi giữa, toàn những quy tắc ghê tởm đến sợ. Lại còn tanh mùi máu. Nên cháu trốn. Sau đó, cháu lang thang đầu đường xó chợ một thời gian thì tình cờ gặp bạn cũ, nó rủ cháu đến nhà máy làm đồ chơi. Chỗ này chỉ thuê những thằng tàn tạ như tụi cháu mà thôi. Toàn bộ công việc ở nhà máy làm theo kiểu sòng bạc. Thắng làm vua, thua làm nô lệ. Tiền lương thì rẻ mạt, có điều đồ ăn, chỗ ngủ, quần áo đều được đảm bảo.

Lâu lắm rồi cháu mới có cuộc sống vô lo như thế. Cái mặt cò quay cũ rồi nhưng không có thằng nào chơi gian nên cháu cũng thắng kha khá.”

Yoshiro dặn lòng đến ngày Mumei biết nói, nếu nó có hỏi “Cha cháu đâu?”, ông sẽ trả lời: “Cha cháu bị bệnh nặng phải điều trị nên sống ở một nơi rất xa. Nếu bị hỏi là bệnh gì, ông sẽ nói: “Căn bệnh say sưa vào một trò chơi và chỉ chơi trò đó.” Nhưng cho đến nay, Mumei chưa từng tò mò về cha mẹ mình. Không biết có phải vì ở trường tiểu học, chẳng có đứa trẻ nào được cha mẹ nuôi dưỡng hay không mà hầu như “cha”, “mẹ” chưa bao giờ được đề cập đến.

Đã lâu rồi người ta không còn gọi trẻ không có cha mẹ là “cô nhi” nữa, nhưng mỗi lần nhắc đến từ mới xuất hiện “nhi đồng độc lập”, Yoshiro vẫn thấy lấn cấn ở từ “độc lập”. Hễ nhìn chữ “độc”[31], trong đầu ông lại hiện lên hình ảnh một con chó xa đàn, cô độc phải bám sát không rời con người để sống tiếp.

Ở cơ sở do Marika làm viện trưởng, có khoảng năm mươi nhi đồng độc lập sinh sống. Cho dù điều kiện khắc nghiệt nhưng cơ sở vận hành khá suôn sẻ, được đánh giá cao, có điều giữa Marika và viện hình thành một mối quan hệ lệ thuộc không kiện toàn. Nếu Marika nghỉ ba ngày phép thì viện có thể đổ sụp như một tòa thành xây bằng những lá bài. Ví dụ, nếu rau do nông dân vận chuyển không đến đúng dự kiến, có nông trường nào gửi ngay loại rau đó đến không, nếu không thì kế hoạch xe cộ sẽ phải thay đổi ra sao, tất cả những kiến thức đó chỉ được ghi trong não bộ của Marika. Chưa kể, do thiếu bác sĩ nên khi trẻ bị gãy xương hay khó thở, tiêu chảy không cầm mà không bác sĩ chuyên môn của bất kỳ bệnh viện nào đến được, thì cả việc tìm kiếm lẫn dẫn bác sĩ có thể đến giúp họ cũng cần phải có vô số loại kiến thức và mối quan hệ, tài ăn nói, vốn là những thứ không thể dữ liệu hóa hay ghi chép lại. Cơ sở phải chật vật vận hành dựa vào hoạt động siêu việt của bộ não con người, nơi có thể trong tích tắc chọn ra một số kinh nghiệm trong hàng trăm triệu kinh nghiệm từng được tích lũy trong quá khứ để kết hợp chúng lại, và đưa ra kết luận ngay trong khoảnh khắc xảy ra rắc rối trong thực tế.

Bà muốn về thăm Mumei và Yoshiro, cùng họ quây quần bên nồi lẩu để nói chuyện, dù chỉ một đêm. Marika xoay xở kết hợp nối chuyến xe buýt và tàu điện vốn rất rời rạc, không ăn khớp nhau vì đã quyết đi gặp hai ông cháu bất kỳ giá nào. Bà đã quen dậy sớm lúc trời còn tối. Mùa hè cũng như mùa đông, từ trước khi mặt trời vắt móng chân trước lên đường chân trời để nhấc thân trên dậy, sáng nào bà cũng dậy, quẹt diêm châm lửa vào cây nến cao mười xentimét, đường kính năm xentimét được đặt trên bàn. Ngọn lửa màu cam hệt như được làm bằng cao su khi vươn cao, rung rung, khi rút lại, uốn éo.

Ngọn lửa níu giữ trái tim hối hả muốn nhanh chóng xử lý hết công việc còn lại của hôm qua.

Thế nhưng sáng đó, bà ôm chiếc cặp nhỏ rời viện, thậm chí không kịp quẹt diêm. Bà cảm giác khuôn viên mà mình băng ngang như rộng hơn mọi lần, khi bà như bỏ trốn trong cảm giác tội lỗi là mình đã xao nhãng một nghi thức quan trọng. Bên ngoài, từ ngọn đèn này đến ngọn đèn tiếp theo, đôi chân bà bị nuốt chửng trong màn đêm, chẳng thấy gì. Ra đến con đường ngoài khuôn viên cơ sở, chỗ ấy thậm chí còn không có đèn đường, dù vậy Marika vẫn cảm nhận được đâu đó bình minh đang đến gần. Lâu lắm rồi bà mới chờ xe buýt. Bà ngắm quả đồi như chảy tràn mực phía xa xa cùng những bóng cây thì xe buýt đến gần, hai cái đèn pha rọi sáng vào màn đêm. Chuyến xe đầu tiên trong ngày không một bóng hành khách, Marika trả tiền xe mà người tài xế cũng không ngẩng mặt lên, dáng ông ta khuất sau vách ngăn khi Marika ngồi xuống ghế. Bà xuống xe ở ga tàu điện cũng là trạm cuối, nhà ga không bảng hiệu, bên trong cũng chưa có người. Marika ngồi xuống băng ghế lạnh lẽo trong phòng chờ và dỏng tai lắng nghe. Một lúc sau, trong đầu bà hiện lên câu hỏi liệu đây có phải là nhà ga thật không. Dựa theo kinh nghiệm, bà cho đây là nhà ga, nhưng trước đây nó có là thế đi chăng nữa thì cũng chắc gì bây giờ y như vậy. Biết đâu bà đã bỏ lỡ thông tin nơi này không còn là nhà ga nữa.

Một lúc sau, một người đàn ông đội mũ cao và một người phụ nữ xách một chiếc túi lớn lần lượt bước vào cửa phòng + l cùng lúc, họ ngồi xuống cùng một băng ghế như thể đã lợn nhau. Cảm thấy như một cảnh trong phim gián điệp từng xem lúc nhỏ, Marika quan sát một lúc để xem có thật họ là hai người xa lạ không hay có liên hệ với nhau. Mãi rồi chiếc chuông gắn ở góc phòng chờ cũng reng inh ỏi, có thể nghe tiếng tàu tuyến địa phương đang tiến đến gần như đuổi theo tiếng chuông. Marika ra sân ga, bầu trời đã sáng tỏ như bị màu xanh lục phía đông truy đuổi.

Dù đã chuẩn bị tinh thần rằng đây sẽ là chuyến đi nhiều khó khăn với nhiều lần đổi tàu nhưng thoạt đầu, Marika cảm thấy có thể đến với Mumei và Yoshiro thật nhanh chóng. Dần dà, mỗi lần đổi tàu và bước vào phòng chờ, chờ những người khác đến, chờ mãi đến khi cái không gian ấy có dáng vẻ của phòng chờ thì tàu đến, mọi người cùng lên tàu, quá trình ấy lặp đi lặp lại khiến bà như không thấy hồi kết, cảm giác như không còn biết mình đang làm gì. Chuyến tàu nào cũng lạnh lùng thả bà xuống giữa chừng mà không hề đọc hết nguyện vọng của bà. Cho dù chấp nhận đổi chuyến bao nhiêu lần đi nữa, bà có cảm giác chỉ mỗi mình là bị buộc phải chấp nhận lịch trình đổi chuyến lâu nhất mỗi lần. Nếu đúng là vậy thì ai đã xếp lịch tàu chạy như thế, và để làm gì? Marika vốn có sở trường trong việc diễn giải thế giới như những âm mưu lồng ghép vào nhau.

Rồi bà cũng xuống ga cuối, lại chờ xe buýt trước ga, lắc lư trong xe, xuống xe, lồng ngực như sắp nổ tung vì nỗi nhớ; sự chờ đợi, cho dù khó chịu bà vẫn chúi người, hơi thở đứt quãng, mãi rồi mới thấy hai dãy nhà tạm hai bên đường, bà nhắm chính giữa chúng mà tiến về phía trước, phía trước, phía trước nữa, và chạy bước nhỏ. Một khu như vậy không biết có mấy chục căn nhà giống nhau nhỉ. Khi muốn rã rời vì suy nghĩ nơi mình muốn đến chỉ là một căn trong hằng hà vô số căn nhà xếp hàng dãy đó, cuối cùng bà đã thấy. Yoshiro và Mumei đang đứng ngoắc tay hệt như hai con mèo gọi khách. Bà nghĩ lẽ ra lúc này phải huơ tay sang trái sang phải như cái máy đếm nhịp chứ, nhưng cũng có thể chỉ là do ngày xưa bà toàn xem phim nước ngoài mà thôi. Một con mèo lớn và một con mèo nhỏ. Cảm ơn đã vẫy gọi. Thình lình Marika thấy buồn cười, bà chúi về phía trước, vừa cười vừa chạy hết tốc lực.

“Bà cố giáng lâm!”

Chẳng biết người hét bông đùa bằng cái giọng kì quái chính là người vừa “giáng lâm” hay người chồng, hay đứa chắt nữa. Ba người họ vui sướng, lòng như pháo nổ, nhảy cẫng như những chú thỏ đầu xuân. Trong nhà, nồi lẩu nóng hổi bốc hơi nghi ngút chờ cả nhà. Marika tìm được chỗ để an tọa rồi ngồi như mọc rễ ở đó. Hai ông cháu Yoshiro và Mumei bên kia làn hơi của nồi lẩu trông như hai ông tiên trong mây. Mumei cười ha hả, nhiều lần chọc đũa vào nồi nước lẩu sôi sùng sục nhưng không gắp được gì. May là đôi đũa bên cạnh gắp giùm cho nên bát của Mumei luôn đầy những ân huệ của đại dương và núi rừng. Khi gắp phải tôm hay nấm khiêu vũ[32] là những thứ họ thường không ăn, Yoshiro và Marika rũ bỏ những ký ức bất hạnh về ô nhiễm, dùng lưới vớt những kỷ niệm vui vẻ, dù những kỷ niệm ấy như miếng đậu hũ non vỡ vụn giữa những chiếc đũa mà rơi xuống, họ vẫn nhẫn nại múc lên, cho vào bát, thưởng thức từng mảnh vỡ nóng hổi như không chịu từ bỏ. Thời gian không làm đồng minh của ba người, cứ lạnh lùng trôi đi, khi miếng cải thảo còn sót dưới đáy nồi đã rục rã thì chiếc đồng hồ treo tường gõ vang.

“Ôi, tôi phải về thôi.”

Marika đứng dậy, gắng xỏ tay vào ống tay áo bị xoắn, trời không lạnh mà bà vẫn gài hết nút từ dưới lên đến cổ, không sót nút nào, xỏ chân vào đôi giày đã trở nên chật chội chỉ trong khoảng thời gian ngắn.

“Chào nhé, lần tới nhé. Bà muốn tới nữa lắm nhưng mà, nếu được là bà tới ngay, muốn tới lắm, mà thôi bà sẽ tranh thủ.”

Những lời nói thốt ra, những lời không nói ra được, bao nhiêu từ ngữ cứ nảy ra, xé cơ thể như mảnh giấy viết ghi chú tại đó, bà bước đi như thể vò nát miếng giấy vứt đi. Khuôn mặt đẫm nước mắt dúm dó, giọng nói khô khốc từ trước khi cất lời.

“Để tôi tiễn bà” - Yoshiro hét gọi từ phía sau. Marika hướng về Yoshiro đang định bế Mumei lên yên xe đạp, giơ hai tay như chặn lại:

“Không cần đâu, tôi muốn về một mình” - Bà nói với giọng như đang hát một bài nhạc thịnh hành, tuyệt chiêu vừa nghĩ ra trong tích tắc để giấu đi giọng nói nghẹn ngào. Bước chân cứ thế nhanh dần, chẳng mấy chốc thành chạy bước nhỏ, chẳng phải hội thao mà hai khuỷu tay cứ nhịp nhàng đưa lên hạ xuống, răng nghiến chặt, cằm cứ đưa về phía trước, chạy, chạy và chạy. Khi bỏ chạy khỏi đám cháy có lẽ như thế này. Ở đâu đó đang bốc cháy, nên ở đâu đó đau đớn vô cùng. Từ xưa, bà đã không thích những cuộc chia ly, càng có tuổi, bà càng không thích. Nếu là nỗi đau như chạm vào vết thương chưa kín miệng phải gỡ miếng băng dán ra thì thà cứ để mặc miếng băng ấy bẩn đen, dinh dính, lên mủ cùng với lớp da thịt còn hơn, bà nghĩ như một đứa trẻ.

Gương mặt của đứa chắt không thể nào rời khỏi võng mạc của bà, dù lắc lư trên tàu điện hay vật vờ trên xe buýt. Dù quay về với núi công việc bận rộn và bị chúng tấn công như núi lở, bà vẫn nghe được tiếng cười của Mumei giữa những hơi thở của chính mình. Hơn tất cả, bà sợ nhất là tình yêu mà lẽ ra mình nên chia đều cho bọn trẻ trong viện trở nên nhạt đi và chỉ dành trọn nó cho Mumei.

Marika đang tham gia vào một dự án tư nhân cực mật, đó là chọn những đứa trẻ xuất sắc để gửi ra nước ngoài với tư cách sứ giả và gần đây, bà được chọn làm một thành viên chủ chốt của ủy ban sàng lọc. Trong viện có nhiều trẻ như thế, ấy vậy mà bà vẫn chưa tìm được đứa trẻ nào phù hợp để làm sứ giả. Đứa trẻ đầu óc thông minh nhanh nhẹn nhưng nếu chỉ khôn lanh cho chính bản thân mình thôi thì không đủ tư cách. Đứa trẻ có tinh thần trách nhiệm cao nhưng năng lực ngôn ngữ không xuất sắc cũng không đủ tư cách. Cho dù có tài ăn nói nhưng chỉ say sưa với câu chuyện của chính mình cũng không được. Đứa trẻ cảm nhận được nỗi đau của bạn bè bằng chính da thịt mình nhưng lại quá thương cảm ngay cũng không hay. Ý chí mạnh mẽ nhưng sớm thích chia bè phái, chủ tớ, cũng không đủ tư cách. Hoặc đứa trẻ không thể chịu nổi khi ở cùng người khác lại càng không được. Nhưng đứa trẻ không chịu nổi sự cô độc cũng không xong. Đứa trẻ không có dũng khí và tài năng lật ngược giá trị quan từ xưa cũng không đủ tư cách. Đối nghịch với bất kỳ điều gì cũng không được. Trẻ theo chủ nghĩa cơ hội thì cũng đương nhiên, không đủ tư cách. Trẻ dễ dao động thái quá cũng không đủ tư cách. Cứ xét như vậy thì không có đứa trẻ nào phù hợp để làm sứ giả, nhưng, có một ứng viên hoàn hảo cho vị trí này.

Bà không muốn Mumei gánh vác một sứ mệnh quá nguy hiểm. Bà chỉ mong thằng bé cứ luôn sống những ngày êm ả trong vòng tay bảo bọc của Yoshiro. Vốn dĩ cơ thể thằng bé

không biết sống được đến khi nào nên không cần phải đánh đổi sinh mạng đó với hiểm nguy. Chỉ cần bà im lặng, Mumei sẽ không bị ủy ban phát hiện ra, Marika nghĩ vậy.

Mỗi khi nhìn những đứa trẻ bé bỏng òa khóc ở viện, Marika lại nhớ thời con gái mình, Amana, còn nhỏ và cũng thường hay khóc. Với những đứa trẻ khóc và kêu gọi sự giúp đỡ, nên vỗ về chúng ngay, nếu bạn cho rằng bỏ mặc để chúng trở thành người mạnh mẽ thì chúng sẽ trở thành người bướng bỉnh, không thể yêu cầu sự giúp đỡ của người khác và sẽ chết sớm - luận thuyết vốn chiếm ưu thế thời bấy giờ khiến Marika bế và dỗ dành ngay mỗi khi con gái khóc. Có những lúc, khi bế con, bà cảm nhận được sự kết nối giữa hai cơ thể bằng những mạch máu vô hình, thế là bà vội vã buông con ra.

Còn có chuyện như thế này. Khi Amana lên ba, họ ngồi đối diện nhau và chơi trò ảo thuật bằng dây thun trong căn phòng có chiếc đồng hồ treo tường ở nhà cha mẹ ruột. Thế rồi Marika thấy mạch máu vươn ra ngoài cơ thể như những cành cây nhỏ. Những mạch máu li ti như những sợi tơ nhện lan ra khắp tường và trần nhà, cuốn lấy chiếc đồng hồ. Bà ớn lạnh, đứng lên. Cho đến lúc ấy, bà chưa từng nghĩ về lịch sử của ngôi nhà. Bao nhiêu thế hệ những con người, mà bà không biết tên và cũng chưa từng quan tâm, đã sinh ra và chết đi tại ngôi nhà này. Mồ hôi của những người phụ nữ bị bắt làm việc như nô lệ, và tinh dịch của những ông chủ giao phối với những người lao động trẻ, thấm vào những bức tường. Còn có mùi mồ hôi lạnh của đứa con trai vì thèm muốn sớm có được tài sản mà siết cổ người cha nằm liệt giường. Trần nhà và những cánh cửa sổ chứng kiến điều đó đang chằm chằm nhìn bà. Đường ống nước kết nối bồn cầu và hệ thống nước thải, nơi những khổ nhọc của đôi vợ chồng chảy tỏng tỏng. Người mẹ cho biến đổi hóa học nỗi cô đơn thành tham vọng, kẹp cổ đứa con trai gầy nhom giữa hai bắp đùi đẫm mồ hôi. Người vợ giả vờ không biết chồng mình ngoại tình, trộn phân của mình vào món súp miso. Và con ma phóng hỏa mỹ nam lảng vảng quanh nhà biết đâu là người làm công bị đuổi việc vô cớ. Sợi dây rốn thiêng liêng gắn kết một gia tộc trong ngôi nhà cổ đang thắt cổ ai đó. Và bà muốn đoạn tuyệt với dòng máu gia tộc đang cùng chia sẻ niềm vui của những bí mật. Gia đình thật sự của tôi là những con người tình cờ gặp ở quán nước. Con cháu của tôi là những đứa trẻ tự lập sống ở viện.

Lần đầu tiên nhìn thấy ngôi nhà thô sơ mà Yoshiro và Mumei ở tạm, bà cảm thấy sảng khoái. Không phải vì thích mà hai người họ sống ở khu nhà tạm, nói vậy có thể hơi vô tình nên thời gian đầu bà ngại, chỉ im lặng nhưng trong lúc nói chuyện, bà biết được Yoshiro cũng rất thích căn nhà này nên Marika cũng thẳng thắn nói ra ấn tượng của mình. Một căn nhà gỗ biệt lập thô sơ, không tạo cảm giác khổ sở nặng nề như nhà cổ, cũng không có vẻ cao ngạo như căn hộ chung cư cao cấp. Nhưng đó là do may mắn khi mà tình cờ những người thợ xây nhà ở khu vực này rất xuất sắc nên có thể xây những căn nhà như thế này một cách nhanh chóng. Cách đó vài cây số là khu nhà ở tạm do “quỷ lục”[33] chứ không phải thợ xây nên tiền xây tốn gấp ba lần mà vào mùa hè trong nhà nóng hơn bên ngoài, mùa đông lạnh hơn, bít bùng, tường mỏng, chỉ thở dài thôi thì nhà bên cạnh cũng nghe được. Yoshiro đã kể cho bà nghe như vậy.

Nơi gia tăng số nhà ở tạm nổi bật nhất là khu vực từ địa khu Tama trải dài đến Nagano, và người ta dự đoán từ đây sắp tới, dân số sẽ dần dần tăng lên ở vành đai dọc đường núi kéo đến tận Kyoto. Ở trung tâm thủ đô không còn ai sinh sống. Tuy không nghe ai nói là tòa nhà Quốc hội và tòa án tối cao đã chuyển đi nhưng chắc chắn đó là những tòa nhà lâu nay không còn được sử dụng. Trống rỗng. Nghe đồn khi chính phủ Nhật Bản bị tư nhân hóa, nghị sĩ Quốc hội, thẩm phán làm việc cho đến khi đó đã nhận tiền nghỉ việc và di cư đến khu nhà ở cao cấp “Rừng Satsuma” mới xây dựng ở Kyushu. Không biết những nghị sĩ mới được chọn trong cuộc bầu cử sẽ làm việc ở đâu nhỉ? Nghị sĩ có tồn tại thật không? Hay chỉ có họ tên và tấm ảnh chân dung, còn người thì không tồn tại? Yoshiro nhớ mình từng đi đến tận tòa thị chính là địa điểm bỏ phiếu, viết họ tên của họ lên giấy để bầu. Đến lúc này, đó là hiện thực. Ít nhất cây bút chì dùng để viết họ tên lên giấy là hiện thực.

Công việc chủ yếu của các nghị sĩ là xào xáo luật pháp. Vì luật không ngừng thay đổi nên bị xào xáo là chắc chắn. Thế nhưng, ai xào xáo, với mục đích gì thì hoàn toàn không nghe nói tới. Luật cứ vô hình, còn người ta cứ sống mà tự kiềm chế mình, cố mài giũa trực giác như mài dao để không bị bỏng da rát thịt vì luật.

Khi chính sách tỏa quốc được thông qua, và được cho biết mỗi kết quả, không chỉ có Yoshiro và Marika há hốc miệng, trong một thời gian dài, họ không thốt được lời nào ngoài những lời cảm thán. Báo chí chạy một loạt bài, toàn một nội dung: “Thời đại Edo đã rất vàng son, tỏa quốc không hẳn đã tồi tệ”. Thật ra, bản thân những nhà phê bình viết nội dung như thế cũng đã phản đối chính sách tỏa quốc nhưng họ không chịu được nỗi nhục bị trét bùn lên mặt vì chính sách được thông qua mà họ không hề được biết, hay nói đúng hơn, nếu thành thật thổ lộ cảm giác đó ra, họ sẽ bị xem thường, ngang với dân thường, thế thì còn ra cơm cháo gì nên họ đành làm bộ làm tịch nói rằng: “Thật ra ban đầu tôi cũng tán thành với việc tỏa quốc và dự định đề xuất lên chính phủ trong tương lai gần”, đến mức con cáo thích ăn nho cũng phải ngán ngẩm[34].

Yoshiro từng một lần gửi bài cộng tác cho một tờ báo với tựa “Chưa từng có tỏa quốc” nhưng không được đăng. Ông chỉ định viết vào thời Edo, Nhật Bản đã có sự giao lưu mạnh mẽ với cả thế giới thông qua Hà Lan và Trung Quốc ra sao. Ông được cho biết lý do bài viết không được đăng là vì một chuyên gia chủ lực của tòa soạn không chịu đóng dấu kiểm duyệt thông qua. Nếu vậy đợi đến khi tạp chí tổng hợp đặt bài viết thì mình gửi, ông nhắm thế, nhưng lạ là hoàn toàn không có lời đề nghị nào vào thời gian đó.

Tức giận, Yoshiro viết đồng thoại và gửi cho nhà xuất bản ông đã từng ra sách một lần trong quá khứ. Câu chuyện về một cô bé học sinh lớp Sáu tiểu học[35]. Ở đất nước cô bé đang sống có quy định cơm hộp phải có hình quốc kỳ Nhật. Vì vậy sáng nào mẹ cô bé cũng làm một hộp cơm trắng và đặt vào giữa một quả mơ muối. Màu đen của rong biển được giấu giữa hai lớp cơm, còn thức ăn gồm trứng cuộn chiên và rau bó xôi được cho vào hộp thức ăn riêng. Ngày nào bà cũng làm cơm hộp hình quốc kỳ Nhật cho cô bé ấy và cậu em trai đem đi. Một ngày nọ, người mẹ bị tai nạn giao thông phải nhập viện, người cha không thể đột ngột bỏ chuyến công tác để về nhà. Để dỗ đứa em trai đang khóc lóc ỉ ôi, cô bé đã khéo léo dùng kéo cắt miếng rong biển, làm thành hộp cơm gấu trúc. Cậu em trai vui mừng đi học, khoe hộp cơm ấy với các bạn cùng lớp. Nhưng rồi hôm sau, người chị bị gửi đến Viện Cảm hóa, cả người mẹ mới xuất viện về nhà cũng bị bắt.

Đáng tiếc là truyện đồng thoại mà Yoshiro viết vẫn chưa được xuất bản. Trong thư nhà xuất bản gửi đến có viết: “Truyện có nội dung mà trẻ em không thể hiểu được.

Buổi tối, đắp chiếc chăn lụa mỏng mát lạnh lên tận mũi, đôi khi Marika nhớ lại những lúc quan hệ với Yoshiro lúc xưa rồi cười khúc khích. Đã hơn tám mươi năm trôi qua kể từ ngày ấy. Hiện lên trong mắt bà không phải là niềm khoái lạc trong chăn mà là hình ảnh những con khủng long đang rong chơi.

Làn da và tư thế của Marika vẫn còn giữ được sự trẻ trung, nhưng cơ thể cảm nhận từ bên trong hoàn toàn khác với ngày xưa. Ngày xưa, hai núm vú như được kéo ra phía trước từ bên ngoài, còn bây giờ bầu ngực hướng vào phía trong, phồng to để bảo vệ tiền tuyến khỏi kẻ thù. Không biết có phải do lúc trẻ, các dây thần kinh vẫn chưa đi qua phần thịt ở mông mà ở đó mát lạnh, chỉ khi bị người khác chạm vào bà mới giật mình nhận ra sự tồn tại của mình căng phồng ra sau như thế; còn bây giờ toàn thể phần mông luôn thị uy một cách nhiệt tình và ra lệnh: “Nào, đứng lên mở cửa sổ đi”, “Nào, ngồi xuống xem kỹ hóa đơn lần nữa đi”, v.v. Ngày xưa có câu nói:

“Đội vợ lên đầu”, nhưng chẳng biết tự lúc nào, Marika đã đội chính cái mông của mình lên đầu.

Trong giới chuyên môn, có người đưa ra luận thuyết: “Loài người sẽ bị nữ tính hóa”, và có người rao giảng: “Những đứa bé được sinh ra là trai sẽ nữ tính hóa, và những đứa bé sinh ra là gái sẽ nam tính hóa.”

Ở vùng văn hóa mà người ta sẽ bỏ thai nếu biết đứa bé trong bụng là con gái thì tự nhiên bị phá vỡ tính cân bằng, trở nên cuồng nộ và bắt đầu giở đủ trò chơi khăm. Giới tính bẩm sinh không được duy trì mà bất kỳ ai đều có thể thay đổi giới tính một hoặc hai lần trong suốt cuộc đời, việc này có lẽ cũng là một sách lược của tự nhiên. Và không ai biết trước việc thay đổi ấy sẽ là một hay hai lần.

Yoshiro trưng tấm ảnh Marika gửi cho mình lên trên đầu tủ. Đó là tấm ảnh chụp ở viện vào dịp năm mới, một đứa trẻ nhắm nửa con mắt, nghiêng đầu lên vai trái của vợ ông với vẻ nặng nhọc. Đứa bé trông khổ sở mà cũng như mơ màng. Hàng mi dày, đôi môi như quả anh đào, cổ ốm tong teo, chỉ có yết hầu là phát triển to lớn. So với cổ của đứa bé thì cổ của Mumei, thậm chí có thể nói là mập và cứng cáp hơn. Đứa bé đặt hai tay lên vai kia của Marika và đưa cả cằm, thè cả lưỡi hướng về phía máy chụp. Đứa bé đang ngủ gối đầu lên đầu gối Marika, đứa ngồi thẳng trên chiếu ra vẻ một học sinh ngoan trước ống kính. Đứa bé có đôi mắt thông minh đứng sau lưng bà thì trán đỏ ửng, không biết có phải vì sốt không. Xung quanh còn có mấy đứa trẻ khác, trông như chúng không nhận ra mình đang được chụp ảnh. Tất cả đều trông như là bé gái nhưng thực tế hẳn cũng có bé trai trong số đó.

Mỗi khi cảm giác muốn đi gặp ông cháu Yoshiro và Mumei dâng lên như thủy triều, Marika lại nhét nó vào cái khung chữ nhật nhỏ trên tấm bưu thiếp nhỏ và chờ thủy triều rút. Mới đây thôi, bà vừa gửi bưu thiếp cho Yoshiro, trong đó có viết: “Hai ông cháu vẫn khỏe chứ? Để mừng sinh nhật một trăm lẻ tám tuổi của ông, tôi sẽ đem con cá tráp làm bằng đường đến mừng ông nhé.”

Yoshiro không hứng thú gì với việc lên kế hoạch cụ thể để mừng sinh nhật một trăm lẻ tám tuổi như thế nào. Nếu được, ông muốn thử làm việc gì đó khiến Mumei có thể hét lên vui sướng: “Cực lạc!”. Có thể là mọi người cùng mặc đồ tắm và mở tiệc phun nước, hoặc buổi tối hóa trang thành ông kẹ đốt pháo hoa cũng được. Có thể cảm nhận được lần cả bà con họ hàng tụ tập, mừng sinh nhật lần thứ chín mươi chín của ông là chuyện xưa lắm rồi vậy. Việc cố tình tránh con số một trăm, quyết định mừng sinh nhật chín mươi chín là đúng đắn, nhưng sai lầm vô cùng khi chọn ý tưởng bình thường là cả nhà cùng ăn uống ở nhà hàng. Hết thảy bà con họ hàng ngồi quây quanh cái bàn tròn như những vạch số trên mặt đồng hồ, người nào tuổi càng trẻ có lưng càng cong, tóc càng thưa, mặt càng xám xịt, cách cầm đũa cũng lóng ngóng chậm chạp. Mỗi khi nghĩ vì thế hệ mình không vững vàng mới khiến con cháu trở thành như thế này là ý thức trách nhiệm của những người già lại khiến bầu không khí bữa tiệc nặng nề.

Liệu thế hệ của Yoshiro có thật sự phải sống bất tử hay không thì không rõ, nhưng chắc chắn tạm thời họ đang trong tình trạng đã bị cướp đi sự chết. Nếu đến mức giới hạn của một sinh vật sống mà cơ thể đã bị bào mòn đến tận cùng, có lẽ chỉ có ý thức dai dẳng không chịu biến mất là còn tiếp tục ngắc ngoải mà thôi, trong mớ thịt không còn cử động được nữa.

Yoshiro nghĩ những người thuộc thế hệ của mình không cần phải mừng thọ gì nữa cả. Sự sống đáng để ta biết ơn, nhưng một khi người già sống thọ là chuyện đương nhiên thì không cần phải chúc mừng. Ngược lại, phải chúc mừng những đứa trẻ có thể sống đến hôm nay khi mà tỉ lệ tử vong của bọn trẻ rất cao. Nếu là ngày sinh nhật của Mumei, ông còn muốn chúc mừng theo mùa, chứ không chỉ mỗi năm một lần. Ông muốn chúc mừng thằng bé có thể vượt qua một mùa đông mà không bị bỏng lạnh. Muốn chúc mừng thằng bé đã đón mùa thu sang mà không bị tổn hao sức lực vì mùa hè. Mỗi lần chuyển mùa, cơ thể lại vứt bỏ những thứ cũ kỹ để làm mới bản thân. Mỗi độ xuân về, Yoshiro luôn cảm thấy mình như trẻ lại, nhưng với Mumei mùa mới luôn là đối thủ đáng gờm, đầy những thách thức mới mẻ. Sang mùa là Mumei cần có một năng lượng dư dả. Với cậu bé, thay đổi môi trường không chỉ là đổi mùa. Trong cái nóng khó thở tưởng chừng không bao giờ thay đổi, chỉ cần độ ẩm âm thầm tăng cao là mồ hôi từ hai bên thái dương xuống đến nách cứ rịn ra; chỉ cần không khí hơi khô một chút là thình lình cậu cảm thấy ớn lạnh như bị cởi cả đồ lót. Nếu mặt trời ló dạng giữa những đám mây trời, da cậu bé lại khô đi, nứt ra; hay sau một lần ướt sũng vì trận mưa rào đêm xuân, cơn lạnh run sẽ từ da xuyên thấu tận xương tủy cậu bé. Không chỉ không khí, đồ ăn hằng ngày cũng là kẻ thách đấu đối với Mumei. Nào là nước cam vắt mà mỗi lần uống vào là cậu phải chịu thua độ chua cào ruột của nó, không chỉ không có dinh dưỡng gì mà còn khiến cậu rất mệt mỏi. Dạ dày còn đang yên tâm với món cà rốt bào hôm qua thì nay, vì phải say sưa chiến đấu với xơ đậu mà tiết thiếu dịch khiến bụng cứ căng đầy hơi.

Yoshiro dùng tay trái nắm lấy cằm mình quay về hướng khác khi nhận ra mình cứ để ý đến Mumei nên chỉ nhìn về phía thằng bé. Nếu cứ nhìn về phía Mumei hoài, ông sẽ bị lây luôn cảm giác của thằng bé, không ăn uống suôn sẻ được nữa. Nếu vậy, ai sẽ chăm sóc cho Mumei? Những người già như ông hoàn toàn trái ngược với bọn trẻ thời nay, là một loài động vật có vú khác với cơ thể rắn chắc, thần kinh vững vàng, tuyệt đối không biết đến đau ốm, có thể làm việc từ sáng đến tối mà chẳng nghĩ ngợi gì – ông tiếp tục thuyết phục mình.

Yoshiro không ngừng để ý sản phẩm mới để tìm loại thực phẩm Mumei có thể ăn uống một cách dễ dàng, nhưng ông không bao giờ mua những thứ không rõ nguồn gốc. Có dạo, xác chim cánh cụt lấp đầy bờ biển Nam Phi. Một công ty do tập đoàn hải tặc quốc tế quản lý đã phơi khô những xác chim đó, nghiền thành bột rồi đóng cục làm thành bánh quy thịt cho trẻ em. Báo chí từng đăng bài có công ty đã bí mật nhập sản phẩm đó vào Nhật Bản và kiếm bộn tiền. Bánh quy thịt làm Yoshiro nhớ lại thức ăn dành cho chó lúc xưa, nhưng một khi đã nghe nói đây là món cực kỳ lý tưởng để trẻ hấp thu chất đạm, ông lại rất muốn mua. Nếu là thịt của chim cánh cụt sống ở Nam Cực, có thể mức độ ô nhiễm sẽ thấp, tuy nhiên chúng chết với số lượng lớn thì có thể do tàu chở dầu chìm gần đó, điều này mới đáng lo.

Do rời Nhật trái phép, những người Nhật gia nhập tập đoàn hải tặc quốc tế không có quyền về nước nữa. Có một người Nhật đã gửi thư cho tòa soạn báo với nội dung bất ngờ là “thay vì về nước, thà làm công việc hải tặc cùng với nhiều anh em từ các quốc gia mà còn kiếm được tiền và đảm bảo an toàn mạng sống hơn”. Yoshiro phải cười to thành tiếng khi đọc bài viết. Việc báo chí cho đăng những bài như thế có nghĩa là tự do ngôn luận chưa hẳn tuyệt chủng như cò quăm mào.

Vì là tổ chức hải tặc nên chuyện nhóm người vốn tự hào với truyền thống thám hiểm, cướp biển như người Na Uy, người Thụy Điển hoạt động tích cực không có gì lạ, có điều nghe nói có cả nhóm người không duyên nợ gì với biển cả như người Nepal, người Thụy Sỹ cũng tham gia. Việc tỉ lệ tham gia của người Nhật cũng kha khá, chứng tỏ không tồn tại cái gọi là gen di truyền tỏa quốc.

Chính phủ Nam Phi thể hiện thái độ dứt khoát đối đầu với hải tặc. Dạo trước, tại buổi nói chuyện “Tương lai của cá mập và Vị lai của chả cá”, ông đã nghe về tổ chức hải tặc quốc tế. Do không kiểm duyệt bản thảo bài nói chuyện nên ông nghe được những thông tin thực tế, sống động. Yoshiro luôn đi nghe những buổi nói chuyện được tổ chức trong phạm vi mười kilômét, phạm vi mà ông có thể đi bộ được. Hội trường các buổi nói chuyện luôn kín chỗ.

Nam Phi và Ấn Độ đã sớm rời khỏi lĩnh vực kinh doanh toàn cầu cạnh tranh giá rẻ trong khi biến tài nguyên ngầm thành những sản phẩm công nghiệp với tốc độ như vũ bão. Nay họ phát triển kinh tế với phương châm không nhập cũng không xuất khẩu gì ngoài việc xuất khẩu ngôn ngữ. Nam Phi và Ấn Độ ký kết với nhau dưới tên gọi “Đồng minh Gandhi, dần trở thành tổ chức được yêu thích trên thế giới. Có nhiều nước ghen tị với cặp đôi thân thiện này. Hai quốc gia chỉ tranh cãi về bóng đá, còn về con người, về thái dương và ngôn ngữ thì ý kiến của họ luôn thống nhất với nhau. Đi ngược lại với dự đoán của các nhà chuyên môn nước ngoài, nền kinh tế của Nam Phi và Ấn Độ ngày càng phát triển thịnh vượng. Chính phủ Nhật Bản cũng đã đi đến bước giống hai nước này là ngừng nhập khẩu tài nguyên ngầm lẫn xuất khẩu sản phẩm công nghiệp, nhưng vì không có ngôn ngữ có thể xuất khẩu nên bị giậm chân tại chỗ. Dường như chính phủ còn lên kế hoạch cho các nhà ngôn ngữ học viết luận văn cho rằng tiếng Okinawa là một ngôn ngữ hoàn toàn độc lập với tiếng Nhật, định bán cho Trung Quốc với giá hời, nhưng Okinawa không tha thứ cho chuyện đó. Người Okinawa mạnh mẽ lên tiếng nếu có ý định bán phăng tiếng Okinawa đi thì từ nay, đừng mong họ xuất trái cây lên Honshu.

Mỗi buổi sáng của Yoshiro luôn chật kín những hạt mầm lo lắng, trong khi đó mỗi sớm mai với Mumei đều tươi mới, vui vẻ. Hiện giờ, Mumei đang chiến đấu với lũ yêu quái gọi là áo quần. Không phải do vải vóc làm khó gì cậu bé, nhưng mãi chúng không đơn giản như ý mình, nên trong lúc vò, kéo, gấp chúng một cách khổ sở thì trong bộ não của cậu, những tờ giấy màu cam, màu xanh dương, màu bạc bắt đầu chiếu lấp lánh. Tuy chỉ muốn cởi đồ ngủ nhưng vì có hai chân, cậu phải nghĩ nên cởi từ chân nào trước, trong lúc đó cậu lại nghĩ đến loài bạch tuộc. Biết đâu chừng thật ra mình cũng có tám chân nhưng bị bó lại từng bốn chân một nên mới trông như có hai chân? Cho nên khi muốn cử động sang phải thì cùng lúc, chân cũng muốn cử động sang trái hoặc lên trên. Con bạch tuộc đã len lỏi vào cơ thể. Bạch tuộc, ra đây coi! Cậu lấy hết sức cởi ra. Lẽ nào, đừng nói là cởi luôn cả chân nhé. Không, có vẻ đã cởi đồ ngủ ra được rồi. Rồi, thứ cần cởi cũng đã cởi rồi, bây giờ thì cần phải mặc quần đi học. Vải trở thành quả đồi, xuyên qua được quả đồi lại đến đường hầm chạy dài. Đôi chân là tàu hỏa chuẩn bị chạy băng qua đường hầm ấy. Mình lại muốn đi đến Bảo tàng Minh Trị Duy Tân quá, muốn chơi mô hình tàu chạy bằng hơi nước quá. Có đến hai đường hầm nên một là cửa để tàu chạy về xuôi, còn một là cửa để tàu về ngược. Chắc chắn là vậy, nhưng dù chân phải có xỏ vào rồi, chân trái cũng không thò ra. Ta chịu sao? Vậy là chiếc tàu chạy bằng hơi nước có màu da người sẽ vào đường hầm. Xình xịch, pí po.

“Mumei à, thay đồ xong chưa?”

Nghe tiếng ông cố, con bạch tuộc vội vã nấp trong đôi vớ, chiếc tàu chạy bằng hơi nước trượt vào bãi kho, chỉ còn Mumei bị để lại đó, chưa làm xong dù chỉ có mỗi việc thay đồ.

“Cháu là một thằng con trai không ra gì” – Mumei lẩm bẩm khiến Yoshiro phì cười:

“Thôi nào, thay đồ đi! Mau!” – Ông vừa nói vừa cúi xuống, bung chiếc quần đi học ra bằng hai tay cho cậu bé thấy.

“Cháu muốn có thứ giống đồ đi làm mà cháu thấy mấy hôm trước ấy”

“Đồ đi làm á? À, bộ đồ tsunagi ấy à? Người ta gọi tsunagi là bộ overall đấy”

“Nghe khó nhỉ, bộ overall à”

“Nhưng overall là tiếng nước ngoài, cháu không nên sử dụng”

Mumei, như mọi khi, cảm thấy không thỏa mãn với cách nói “không nên sử dụng”. Việc biết một từ nào đó, biết rồi mà cố tình không sử dụng, không sử dụng mà vẫn chỉ cho người khác, nói đừng sử dụng nhưng vẫn chỉ. Thằng bé thấy mặt ông cố nhòa thành mấy lớp. Tên gọi mất đi thì áo quần có còn tồn tại không? Hay là áo quần cũng thay đổi, biến mất cùng tên gọi nhỉ? Tuần trước, ở tiệm khu bán quần áo trẻ em trong tiệm đồ tây, Mumei nói: “Cháu không thích loại lưng thun đâu. Nó hắn lại mấy đường răng cưa, ngứa lắm ạ”, rồi nằn nì xin bộ áo liền quần được may như đồ lao động. Nhưng ở trường, khi đi vệ sinh một mình thì khá bất tiện nên ông cố không mua cho. Nó thèm thuồng, không quên được hình ảnh bác sửa đường ống nước mặc bộ đồ tương tự như thế. Tuy không mua cho cậu bộ áo liền quần, nhưng đêm đó ông cố đã thức suốt đêm may cho Mumei chiếc quần đặc biệt.

“Cháu không mau mau lên là trễ giờ đấy”

Câu cửa miệng của ông cố. Không phải nó ghét gì trường học nhưng cứ bị thúc giục, thay đồ và phải đi vào giờ quy định thì cũng ghét lắm. Không chuẩn bị sớm sủa được có phải tại mình đâu. Từ quần áo cho đến nước trái cây, cả đôi giày nữa, đều tùy tiện, không chịu hợp tác với mình; kim đồng hồ chỉ biết nghĩ phần nó, cứ thế mà chạy thôi. Trường học chỉ cần là nơi có thể đi khi nào mình muốn là đủ rồi mà. Điểm tốt của trường học là có nhiều bạn cùng nhau chơi đùa. Điểm không tốt của trường học là bị các bạn khác cản trở việc học. Học một mình tiến bộ nhanh hơn nhiều. Hễ mình nghĩ ra điều gì quan trọng, định nói với thầy cô là y như rằng đứa khác nói một chuyện gì nhảm nhí thật to gây cản trở. Có khi đang suy nghĩ thì bị nắm tóc giật từ đằng sau; khi thầy cô bắt đầu nói điều gì đó thú vị, chắc chắn có đứa đòi “em đi tiểu” khiến câu chuyện bị đứt quãng. Mỗi lần nghĩ đến những điều khó chịu về trường học, Mumei lại mong chờ ngày thứ Bảy, ngày mà nó có thể ở nhà. Đi ị mấy lần nữa thì đến ngày không phải đến trường nhỉ? “Cố lên nào, đi ị được là có sức chiến đấu với mấy con vi khuẩn”, ông cố sáng nào cũng động viên mình. Vẫn mới thứ Ba thôi sao? Thứ Ba là ngày có liên quan đến lửa[36] nên tiết Khoa học sẽ làm thí nghiệm sử dụng diêm quẹt, có thể bị bỏng. Ngày mai là thứ Tư. Thứ Tư là ngày của nước nên mình có thể bị chìm trong hồ. Phải chi trường tăng nhiệt độ nước của hồ bơi ấm lên một chút thì đỡ biết mấy, chứ cứ như lâu nay, lúc mới xuống hồ lạnh đến mức chỉ có cách la oai oái thôi, mà la quá thì sau đó lại mệt rũ người, chân nhũn như cọng mì udon khiến mình không đi bộ được. Thầy có nói nếu mệt thì nằm bên thành hồ bơi mà nghỉ, nhưng chẳng lẽ thầy không nhận ra sao, hồ bơi cũng có thủy triều lên và thủy triều xuống mà. Hễ mình nằm là sóng trong hồ cứ từ từ cao lên, vượt qua mép hồ, ập đến bắn tung tóe vào mặt. Ngay sau đó, một con sóng cao kéo đến, nuốt chửng mình. Ập, ập, mình nâng đầu lên để hít oxy nhưng cổ tay, cổ chân bị kéo xuống đáy nước. Đúng rồi, mình nghĩ ra rồi. Nếu vậy thì mình quay về với hình dáng vốn có của con bạch tuộc. Làm vậy thì chẳng phải sợ nước nữa. Mình sẽ sống sót qua ngày thứ Tư với hình dáng của bạch tuộc để chờ ngày thứ Năm. Thứ Năm là ngày của cây nên cây hoa anh đào trong vườn trường có thể rơi xuống đè bẹp mình. Gần đây, cây cối trông bề ngoài có vẻ khỏe mạnh vững chãi nhưng vẫn có thể rơi. Cho nên trường còn dựng bảng “Không được thở dài gần cây cối”. À á, hàng cây hoa anh đào đang lần lượt ngã xuống theo thứ tự từ cây ở xa đến gần. Mình sẽ chạy trốn. Mình chạy nhanh nên không bị trúng, dù chỉ một cành cây. Thích quá, khi được chạy hết tốc lực. Thứ Sáu là màu vàng kim. Mặt trời chỉ có một con mắt nhưng con mắt đó màu vàng kim nên khi ở một mình mà bị con mắt đó lườm, toàn thân mình cứng đờ, khỏi nhúc nhích luôn. Cho nên không được chơi một mình ngoài trời. Vách đá sau trường bị sạt lở, mình bị đất đá đè bẹp dúm. Không ai đến cứu cả. Khuỷu tay tê đi. Chân không còn cảm giác, sờ vào như da thịt của người khác vậy.

“Mumei, cháu ăn cái này không?”

Miếng bánh mì lúa mạch đen mà ông cố nướng sơ thơm phức nhưng cắn nó rất khổ sở. Những đầu nhọn của ngũ cốc khô đồng loạt đâm vào lớp niêm mạc trong miệng. Có vị máu. Ngũ cốc được tuốt hạt, trẩy vỏ, nghiền thành bột, nhào nặn và nướng lên vẫn tiếp tục phản kháng gai góc như thế này. Thật cứng cỏi. Có lần, chỉ một câu nói: “Bánh mì nướng có vị máu ông cố nhỉ” khiến ông cổ suýt khóc nên mình quyết định không nói những việc như vậy nữa. Ông cố trông mạnh mẽ với đôi chân mày rậm và cái cằm bạnh vuông vức, nhưng thật ra rất dễ bị tổn thương, rất mau nước mắt. Chẳng hiểu sao ông thấy tội nghiệp mình.

Dù vậy đi nữa, sao người già có thể gặm miếng bánh mì cứng như thế một cách bình thường được nhỉ? Nghe kể răng người xưa rất chắc, họ cố tình làm ra loại bánh gạo như đá gọi là “bánh gạo nướng cứng” để ăn cho giòn nữa. Có lần ông cố cố tình bắt chước ăn bánh gạo cứng như đá để chọc cho mình cười. Phải mà ông mua đồ thật về rồi diễn thì còn thú vị hơn, nhưng nghe đâu mấy loại bánh đó không còn được bán nữa. Hình như là loại bánh gạo dễ vỡ tròn như mặt trăng, há miệng thật to ngoạm lấy miếng bánh, dùng tay bẻ phần thừa bên ngoài miệng rơi xuống, tiếng bánh vỡ rốp rốp. Sau đó, dùng lưỡi lừa thật khéo những miếng bánh còn trong miệng vào răng cắm bên trong rồi nhai vụn chúng như nhai đá. Nghe đâu ở những căn hộ có tường dát mỏng, người ta nghe được cả tiếng nhà hàng xóm ăn bánh gạo. Không chỉ bánh gạo thôi. Cắn vỡ hạt hạnh nhân, xé nát thịt phơi khô, chắc chắn người xưa là một sinh vật kiểu như sóc lai sư tử rồi. Có lẽ mình và ông cổ sẽ không được đăng cùng trang với họ trong sách bách khoa động vật đâu.

Nghe kể người xưa còn xiên nội tạng chim chóc, hoặc cá sông đang mang thai rồi nướng trực tiếp trên lửa mà ăn nữa. Thật sự không thể tưởng tượng nổi, nhưng khi nhìn ông cổ, mình cảm giác đó là chuyện có thật. Cơ thể của ông cố và bạn bè quá khác biệt so với cơ thể của bọn nhóc tụi mình. Không chỉ ăn đồ cứng, ông cố còn ăn rất nhiều. Ăn nhiều quá nên dư thừa năng lượng. Cho nên buổi sáng ông dậy sớm, dù không có việc gì cũng chạy một vòng bên ngoài để tiêu hao bớt năng lượng. Chẳng bù cho bọn mình không có được một giọt năng lượng dư thừa. Dùng quá nhiều sức vào việc thay quần áo nên chỉ làm vậy thôi là mình không còn sức để đi bộ đến trường, phải để ông cố chở đi bằng xe đạp. Vì xấu hổ khi để ông chở từ đầu nên mình cố gắng rời khỏi nhà, tự đi vài mươi bước bằng chính đôi chân của mình, nhưng ngay lập tức, chân mình trở nên nặng trĩu, không thể nào nhấc bước được.

“Mumei, cháu chưa thay đồ xong à? Trễ học bây giờ!” – Vừa nói, ông cố vừa đến gần mình. Mình thừa biết ông cố chỉ tỏ vẻ nghiêm khắc mà thôi nên không sợ chút nào cả.

Yoshiro hít thật sâu cái mùi ngọt ngào của con trẻ thoảng lên từ gáy Mumei. Là cái mùi này. Lúc con gái ông, Amana, còn là đứa bé đỏ hỏn, mỗi lần bế con bé lên, đưa mặt lại gần là ông ngửi được mùi này. Ông đã mặc định đó là mùi của bé gái, nhưng Mumei tỏa ra mùi này nhiều hơn. Amana lớn lớn, sinh Tomo. Đến giờ ông vẫn còn nhớ cái lần con gái nhờ mang vớ giúp thằng bé, như đang bọc túi vào quả táo, ông cảm thấy một tình thương yêu nồng nàn từ đôi chân nhỏ bé của đứa trẻ. Nhưng Tomo không thơm như Mumei. Mùi thơm tỏa ra từ cơ thể Tomo lúc còn thơ vốn đã lẫn mồ hôi. Thời mới vào tiểu học, Tomo đã bỏ các thể loại tất, giẫm chân không lên gót giày thể thao, tự ý chạy ra ngoài chơi mà chẳng buồn chào “Thưa ông con đi”. Một đứa trẻ không chịu ở yên một chỗ, cũng chẳng biết quan tâm đến người khác, nhưng thể lực có thừa.

Mumei chào đời, Tomo quay lại và đáp trả thẳng thừng ngay tại chỗ “Sao ông biết là con cháu?” khi Yoshiro buột miệng thốt lên câu nói: “Cháu không thương con mình sao?” Yoshiro sững người. Hòn bấc ném đi, hòn chì ném lại, ông nghĩ có đòi hỏi sự thật bằng cãi vã cũng chẳng ích gì nên ném lời nói của Tomo vào lò lửa lãng quên ngay lập lức. Nhưng mãi về sau ông lại nghe thấy tiếng thì thầm từ trong đống tro tàn. Cha của Mumei có thật là Tomo không, bản thân Tomo cũng không có lòng tin vào điều đó.

Mẹ của Mumei không phải chim uyên ương cũng không phải chim cánh cụt. Cô ta là một phụ nữ đến cả chữ “trinh tiết” cũng không biết viết bằng chữ Kanji, nhanh nhẹn, ngoại tình như cơm bữa, có bị trách mắng cũng như người cõi trên, lại không có ý thức về tội lỗi của mình, và nốc rượu như hũ chìm. Cô ta đã thành tro bụi từ lâu nên có muốn hỏi cha của Mumei là ai cũng không hỏi được. Và dù cô ta còn sống đi nữa thì biết đâu chừng, chính cô ta cũng chẳng nhớ cha đứa bé là ai.

Yoshiro từng có ý định gửi tóc của hai ông cháu đến bệnh viện để xét nghiệm di truyền vì biết đâu mình và Mumei không có quan hệ huyết thống. Nhưng khi kẹp sợi tóc của Mumei rụng trên chiếu vào giữa hai ngón tay và thừ người ngắm một lúc, ông lại bật cười. Không ai có thể ngửi được mùi di truyền cả. Nhưng mình có thể ngửi được rõ ràng mùi ngọt ngào như đứa bé sơ sinh mà Mumei luôn tỏa ra. Đó là một thông điệp đảm bảo hơn bất kỳ thứ gì. Nếu cả mẹ và cha của Mumei đều không say được cái mùi này thì có thể nói Đấng Tạo hóa đã chọn Yoshiro làm cha mẹ dưỡng dục của Mumei, chẳng phải vậy sao?

Tiếng hát của cô bé nhà bên như cuốn vào bầu trời xanh. “Chuồn chuồn, chuồn chuồn, chuồn bay đi đâu?”

Bằng chất giọng cao trong vắt, chữ “chuồn” trong “chuồn chuồn” vang trực tiếp đến óc Yoshiro. Liệu chủ nhân của giọng hát ngây thơ ấy có chính mắt nhìn thấy chuồn chuồn không? Chắc là không. Yoshiro không thể nhớ nổi lần cuối mình nhìn thấy chuồn chuồn là khi nào. Dù không nhìn thấy trong thực tế, chuồn chuồn vẫn hiển hiện trong bài hát mà cô

bé hát. Đôi cánh gần như trong suốt và thân hình thon dài có đốt, vừa thấy vụt bay lên thẳng tắp thì trong tích tắc dừng lại trong không trung, lại đổi hướng bất ngờ, rồi vụt bay đi. Dù chỉ trong tích tắc nhưng việc có thể dừng trong không trung quả thật lạ lùng. Yoshiro rất muốn cho Mumei nhìn thấy con chuồn chuồn dù chỉ một lần.

Tường nhà tạm ở khu lánh nạn rất mỏng nên họ nghe rõ tiếng hát của đứa bé gái. Khi cô bé hát trọn vẹn một bài, họ nghe tiếng phụ nữ: “Đi học nào.” Họ từng chạm mặt cô bé sống ở nhà bên và người phụ nữ chăm sóc cô trên con đường trước nhà khi đi học. Cô bé mặc bộ đồ trắng toát như đồ phi hành gia nên họ không thấy được mặt cô bé. Yoshiro đoán bộ đồ là đồ cơ bắp chạy bằng năng lượng mặt trời, nhưng khi Mumei khen “Bộ đồ đẹp nhỉ?”, ông lại nghĩ thì ra cũng có cách nhìn như vậy, khi đúng bộ đồ ấy không chỉ khiến người ta nghĩ đến đồ phi hành gia mà còn có cái gì đó rất hợp với từ “đẹp”. Có thể đó là vẻ đẹp của một thời đại chưa đến. Yoshiro nhớ lại thời những cô gái khi xưa chú trọng đến vòng eo, vòng ngực, cố tình phô diễn làn da gáy hay cặp đùi. So với họ, khi nhìn thấy cô bé cử động như một cụm mây trắng, trong đầu ông hiện ra từ “u huyền” chứ không phải “quyến rũ”.

Tuy giờ đi học của cô bé và Mumei trùng nhau, nhưng cô bé học ở trường tiểu học trực thuộc một viện nghiên cứu, chỉ dành cho những đứa trẻ được tuyển chọn. Ở đó, những đứa trẻ có năng lực đặc biệt sẽ được đào tạo chuyên môn.

Người phụ nữ chăm sóc cô bé không thuộc loại nhiều chuyện, chỉ cúi chào nhẹ rồi quay mặt đi ngay. Nếu là Yoshiro ngày xưa, ông đã tìm cách gợi chuyện được ngay bằng cách đề cập đến thời tiết, kiểu hôm nay lạnh hay ấm, trời sắp mưa rồi nhỉ, vậy mà chẳng biết từ khi nào, chuyện thời tiết trở nên khó nói hơn. Lạnh và nóng hòa lẫn vào nhau, khí ẩm khô khốc như chọc ghẹo làn da. Hệt như đang cười nhạo ngôn ngữ của loài người. Vừa mới nói “trời đột nhiên ấm lên nhỉ” người lại cảm thấy ớn lạnh, vừa dứt câu “sáng nay lạnh nhỉ” trán đã rịn mồ hôi.

Tháng trước, bên ngoài bức tường của trường tiểu học có dán tấm áp phích nghệ thuật “Không còn ai nói chuyện thời tiết, cũng chẳng còn ai nói chuyện cách mạng”, một kiểu biến tấu câu danh ngôn của một vĩ nhân: “Mọi người chỉ biết nói chuyện thời tiết, còn tôi sẽ nói chuyện cách mạng”, nhưng hôm sau, tấm áp phích đã bị bàn tay của ai đó gỡ xuống.

Không chỉ có lạnh và nóng, cả mối quan hệ đối lập giữa tối và sáng cũng trở nên mơ hồ. Cứ nghĩ ngày tối tăm rồi chằm chằm nhìn bầu trời màu xám thì lại cảm thấy bầu trời đang phóng ánh sáng từ bên trong như bóng đèn điện, đến mức hoa cả mắt phải quay đi. Cứ nghĩ trời trở gió mạnh, vừa nheo mắt lại, không khí đã đông đặc, không nhúc nhích gì được. Trời càng về chiều, đường viền quanh mái nhà lại sáng hơn.

Nghĩ bụng trời tối khó đọc báo quá, vừa bật đèn trong nhà thì mặt báo hút mọi ánh sáng, những con chữ tan vào trong bóng tối và biến mất. Vừa tắt đèn định đi ngủ, mặt trăng sáng quá không ngủ được. Sao lại có mặt trăng sáng đến thế được, nghĩ thật kỳ lạ, mở cửa ra, mặt trăng có lên đâu. Chỉ thấy ruột bút chì rơi trên đường hắt sáng mà thôi. Đèn đường lẫn đèn trong nhà đều tắt, trông như buổi tối đang yêu cầu công nhận buổi tối, nhưng ngay thời điểm trông như đêm tối thăm thẳm nhất đồng thời cũng là thời điểm trời bắt đầu rạng sáng, như vậy có nghĩa là sao?

Trong lúc Mumei mang giày, Yoshiro bị cuốn hút bởi giọng hát của cô bé, nên đi vòng từ phía Nam sang khu đất nhà hàng xóm. Ở khu nhà tạm không có tường lẫn hàng rào. Yoshiro ngóng cổ, nhìn vào bên trong nhà nhưng chỉ thấy tủ, bàn xếp ngay ngắn, lặng lẽ, không một bóng người. Bậu cửa sổ có bày mười chiếc lọ rỗng, cao chừng mười xentimét, từng chiếc lọ cắm một bông hoa nhỏ. Chiếc chuông màu tím, chiếc bình màu vàng, pháo hoa đỏ, cây bạch hoa, chấm tròn đỏ thẫm. Chắc chắn Mumei sẽ rất thích chuỗi màu như thế này. Mình cũng sẽ bắt chước trang trí hoa ở bậu cửa để làm cho Mumei vui, Yoshiro vừa nghĩ thì phía sau lưng có tiếng: “Chào ông!”

Người phụ nữ hàng xóm với mái tóc bạc được buộc gọn, mặc chiếc váy lụa đỏ, đang đẩy xe lăn tiến lại gần. Trong chiếc xe lăn là cô bé luôn mặc bộ đồ như phi hành gia, nhưng hôm nay cô bé mặc váy trắng và đang mỉm cười. Đôi mắt ánh đen, tùy góc độ đón ánh sáng mà ánh mắt từ đen chuyển sang màu ngọc bích. Hai con mắt cách nhau khá xa. Không biết có phải do vậy không mà Yoshiro cảm thấy hoa mắt. Ông muốn thử cho Mumei nói chuyện với cô bé này.

“Xin lỗi. Tôi mạn phép ngắm mấy bông hoa. Đẹp quá ạ. Nếu được, hai vị có thể gặp thằng chắt nhà tôi giúp không?”

Vừa nói Yoshiro vừa quay lại vừa chầm chậm bước đi, còn hai người họ lần lượt gật đầu đi theo sau. Đúng lúc Mumei đang cúi xuống, dùng tay nắm bàn đạp xe đạp mà quay.

“Mumei, cháu chào nhà bên cạnh đi. Xin lỗi, cháu đây tên gì?”

“Suiren ạ.” Cô bé trả lời rồi hướng về Mumei, gật đầu một cái. Cử chỉ tự tin khiến cô bé như lớn hơn hẳn Mumei dù cả hai bằng tuổi. Mumei đi như muốn ngã về phía trước, tiến lại gần chiếc xe lăn.

“Đây là Mumei, chắt của ông. Nó rất vui khi được gặp cháu đấy”

Giới thiệu rồi ông lại thấy hối hận, lẽ ra nên để thằng bé tự giới thiệu thì hay hơn, nhưng Mumei đã chỉ vào Yoshiro giới thiệu: “Đây là Yoshiro. Ông rất vui khi được gặp cậu đấy”

Phát âm rõ từng chữ một, người phụ nữ hàng xóm tự giới thiệu: “Tôi là Nemoto”, nhưng không rõ bà có quan hệ huyết thống với Suiren hay không. Mumei nhìn Suiren không rời. Hoàn toàn không có vẻ gì là ngượng ngùng, cậu nhìn chằm chằm khuôn mặt Suiren không chớp mắt, bất chấp bị nhìn ngược trở lại. Đứng cạnh và quan sát hai đứa trẻ, Yoshiro tự dưng thấy ngượng sao đó, ông nói: “Phải đi học, không thôi trễ mất”, rồi kéo tay Mumei, quay vào trong nhà. Yoshiro dùng chiếc khăn lau tay đã thấm dung dịch sát khuẩn để lau đôi tay của Mumei, chúng lấm đầy dầu xe đạp.

Chân của Mumei đã bị gập ngược từ đầu gối vào trong như chân chim, nên cậu bé cố dạng chân ra phía ngoài để tiến lên trước từng bước một. Cả hai cánh tay Mumei như vẽ một vòng tròn lớn để giữ thăng bằng, chiếc túi nhẹ quàng chéo trên vai khẽ đập vào chiếc hông mỏng manh của cậu khi đi. Yoshiro đẩy chiếc xe đạp đi ngay bên cạnh Mumei. Ông đi chậm đến mức không thể chậm hơn nữa, cố gắng để không bị nhận ra mình cố tình đi chậm. Còn Mumei vờ như không nhận thấy Yoshiro đang cố tình đi chậm.

Hễ Mumei dừng lại, Yoshiro cũng dừng lại. Được một lúc, Mumei lại bắt đầu đi. Tuy vậy, đi được mươi bước, cậu lại dừng. Từng bước từng bước của cậu là cả một quá trình vận động vất vả.

Mumei lén tập cơ bắp hằng ngày ở nơi không ai nhìn thấy. Không phải là loại cơ bắp cuồn cuộn kiểu “nào, hãy nhìn tôi đi” mà là sức mạnh cần để Mumei đi bộ bằng cách chỉ Mumei có thể làm được, như tấm lưới căng ra mọi ngóc ngách cơ thể.

Biết đâu, cách đi bằng hai chân trên mặt đất của loài người chưa phải là cách tốt nhất, Yoshiro nghĩ. Cũng như khi loài người không đi xe đạp nữa, một lúc nào đó họ sẽ thôi đi bằng hai chân, và một cách di chuyển hoàn toàn khác với bây giờ sẽ ra đời thì sao. Khi mọi người bò trên mặt đất như loài bạch tuộc, có thể Mumei sẽ tham dự Olympic.

Cắt đứt những ảo tưởng lan man, Yoshiro dừng xe, hạ cái chống xe vững chắc xuống rồi nói: “Cháu đi nhiều rồi nhỉ. Hôm nay đi được xa hơn hôm qua đấy chứ.” Ông luồn hai tay vào dưới nách Mumei rồi nhấc cậu bé lên, như mọi khi, lòng ông cảm thấy đau đớn trước sự nhẹ bỗng ấy, ông dịu dàng đặt cậu bé lên ngai vàng đã được cố định trên yên sau. Chiếc ngai vàng được chế tạo đặc biệt với một chiếc đệm mềm mại, phần tựa lưng cao, đỡ đến tận phía sau đầu, đồ gác tay, bàn gác chân, đồ bảo vệ bắp chân, dây an toàn màu xanh lá cây. Yoshiro bắt đầu nhấn bàn đạp thật mạnh.

Trước cổng trường nhộn nhịp như phiên chợ sáng. Khi được bế từ xe đạp xuống, Mumei đi thẳng về phía dãy phòng học mà không quay lại nhìn Yoshiro. Tuy phụ huynh có thể đi vào chung đến tận phòng học nhưng Yoshiro luôn dõi theo cái dáng từ phía sau của Mumei khoảng ba giây rồi rời khỏi trường như bị đuổi.

Vào đến dãy phòng học, Mumei cởi giày và cho vào kệ, hai gót giày đều nhau, ngăn nắp. Ngôi trường này không có giày mang trong phòng. Bọn trẻ mang vớ vải đi trên dãy hàng lang gỗ, cảm nhận được sự mát lạnh dưới chân, đi đến dãy phòng học trải chiếu. Những chiếc hộp gỗ chất ở góc phòng học sẽ được dùng làm bàn khi cần thiết. Không có ghế. Mumei vào lớp, nhào đến chọc ghẹo người bạn học mà cậu thấy trước tiên như một con cún. Trên chiếu, cũng có vài nhóm đang chơi vật nhau, hầu hết là con gái. Không có ai té ngã vụng về. Chúng đều xuống tấn thật thấp, hễ bị đẩy ngã là cuộn tròn người như con mọt gỗ. Thời gian đầu, cũng có nhiều phụ huynh lo lắng thái quá, sợ chúng bị chấn thương nhưng dần dà, càng về sau họ càng hiểu ra bọn trẻ này khó mà bị thương.

Yonatani cảm thấy nóng bức khó thở như bị siết cổ nên nới lỏng chiếc khăn choàng lụa màu da trời quấn quanh cổ. Nhưng nếu cứ để vậy khiến dễ rơi mất nên anh quấn tạm quanh cổ tay trái rồi buộc lại. “Trông mình cứ như thương binh”, anh nghĩ. Lúc đó, mắt anh chạm phải Mumei đang ngồi trên sàn và ngước nhìn. Mumei nhìn mãi chiếc khăn choàng quấn ở cánh tay Yonatani với vẻ lạ lùng.

“Thầy, sao thầy tháo khăn choàng ra vậy?”

“Tại nóng quá”

“Nóng ạ?”

“Ừ, tự nhiên thầy thấy nóng, rồi lại thấy lạnh. Chắc là một loại rối loạn tuổi mãn dục thôi.”

“Rối loạn tuổi mãn dục là gì ạ?”

“Là sự thay đổi của cơ thể. Cũng như trong âm nhạc chuyển từ âm dài sang âm ngắn vậy đó”

Ngày xưa, nam giới hầu như không bị rối loạn tuổi mãn dục nhưng gần đây, số đàn ông bị rối loạn tuổi mãn dục nặng đến mức phải nghỉ làm đang tăng lên. Sáng nay, đang đọc trang xã hội trên nhật báo, Yonatani đột ngột bị lạnh tay chân, cơn ớn lạnh chạy khắp người. Anh mang vớ, khoác áo ngoài, uống cà phê thì từ cổ họng, cơ thể bắt đầu nóng ran, mồ hôi đổ khắp trán, anh vội vã cởi áo khoác. Để làm mát cái đầu bắt đầu sôi như ấm thuốc, anh mặc đồ mỏng đến trường. Vừa bước vào dãy phòng học, tiếng la hét của bọn trẻ đang chọc ghẹo nhau vang đến tai, đầu anh hoàn toàn hiểu được là bọn trẻ đang đùa giỡn nhưng nhịp tim anh đập nhanh hơn. Mười năm trước, anh chưa từng để ý đến nhịp tim của mình.

Yonatani không còn nghĩ như hồi mới chuyển việc là phải thường xuyên theo dõi bọn trẻ, nếu không chúng sẽ bị chấn thương. Đến cả đứa trẻ có cách đi như chực ngã lăn ra bất cứ lúc nào là Mumei cũng biết dồn thể trọng xuống phía dưới, duỗi hai tay ra trước, chắn cái lưng của Yasukawamaru. Thằng bé cất tiếng kêu như con chim hạc để nhắc chừng rồi chờ đến lúc cái người đang ngồi quay lưng lại là Yasukawamaru chậm rãi quay đầu nhìn mình. Với nghĩa đó, anh thấy như mình đang xem một màn vũ đạo được tính toán chính xác hơn là màn đối đầu của hai đứa trẻ.

Yonatani lùi lại vài bước rồi đứng sững, nhìn xuống mấy đứa trẻ đang chọc ghẹo nhau. Được một lúc, nhận ra mình đang “đứng nghiêm” dù chẳng cần thiết, nên anh vội vàng cúi xuống ngay tại đó, nhìn khắp phòng học bằng tầm mắt thật thấp. Thời Yonatani còn trẻ, xã hội vẫn còn định kiến rằng đàn ông phải cao to. Đây rõ ràng là cách tư duy được du nhập từ nước ngoài qua mấy bộ phim và mấy tờ tạp chí. Thời đại Heisei kết thúc, sự thay đổi trong xã hội gia tăng tốc độ như đang lăn xuống một con dốc, từ trong nền đất nghĩa trang sụp đổ, những ký ức thời Tenpo, Tenmei[37] trỗi dậy khiến đàn ông cao to không còn được chào đón. Vì nếu thiếu lương thực, đàn ông sẽ yếu đi và chết trước theo thứ tự chiều cao.

Yonatani chưa từng nghĩ thử đứa trẻ nào cao nhất lớp. Nghi thức đo chiều cao đã bị bãi bỏ. “Trẻ con có phải vải hay dây nhợ gì đâu mà phải duỗi thẳng ra để đo chiều dài, thật vô nhân đạo!” – khi nghe nhiều giáo viên khác nói vậy, Yonatanai nghĩ “Thì ra là vậy”. Mỗi đứa trẻ cứ uốn éo tùy thích là được. Tự do chọc ghẹo nhau và phát triển loại thể lực mà chúng cần là được.

Thời Yonatani còn ở tuổi thiếu niên, có rất nhiều trẻ con không thể vận động cơ thể nếu không có kịch bản gọi là thể thao. Bản thân Yonatani cũng vào đội bóng chày thiếu niên của khu vực lúc năm tuổi, ở trường cấp hai thì chơi trong câu lạc bộ bóng đá, lên trường cấp ba anh vào đội bóng rổ. Một tuần luyện tập đến tám ngày. Lúc anh nói vậy với bọn trẻ trong lớp, chúng cười khùng khục nói: “Một tuần có bảy ngày thôi thầy ơi.” Nhưng vì câu cửa miệng của huấn luyện viên lúc bấy giờ: “Cứ xem như một tuần có tám ngày đi!” nên vào Chủ nhật, anh đã phải và cơm với tốc độ nhân đôi, làm cho xong bài tập cũng với tốc độ gấp hai lần, cả sáng lẫn chiều đều có giờ tập, tức là anh và các bạn đã phải chú tâm để sống phần của hai ngày trong một ngày. Đầu học kỳ I năm lớp Mười một, vào một sáng, hoa anh đào nở rộ, đột nhiên anh không thức dậy nổi, thậm chí không có chút sức lực để mang vớ, thế là anh bỏ hẳn.

Yonatani từng chạy đuổi theo trái bóng, vận động cơ thể mỗi ngày cùng với bạn bè, vậy mà anh không có cảm giác tim mình đập mạnh khi va chạm vào cơ thể bạn hay được chạm vào cơ thể mình. Anh chỉ thấy, không chỉ bạn bè xung quanh, mà cả hình dáng bản thân những lúc nó chuyển động trên bề mặt của thế giới hai chiều như những nhân vật xuất hiện trong phim hoạt hình, dường như không thể nào chạm vào được. Nhắc đến những kỷ niệm mang tính cảm xúc, anh lại nhớ mỗi lần xỏ tay vào đôi găng bóng chày, cảm giác làn da chạm vào lớp da thuộc khiến tim anh thoáng chút loạn nhịp, đến mức anh từng lén đưa nó lên mũi, hít sâu cái mùi da ngọt ngào ấy. Có lần, anh bị nhầm, đặt tay mình lên trên tay của người bạn cùng khóa có biệt hiệu là Michiru khi người ấy hờ hững đặt tay lên bàn. Tuy đã vội rụt tay lại nhưng sự ngỡ ngàng trước cảm giác làn da ấm áp ấy đã kịp khắc sâu vào ký ức của anh. Kể từ đó, anh để ý đến Michiru hơn, dù quang cảnh thường ngày trong lớp học có trắng đen đi nữa, chỉ cơ thể của Michiru là luôn đầy màu sắc. Không chỉ vậy, anh bắt đầu để ý cả những cái tên Michiru gọi, những chữ Michiru viết và những hành động trong giờ nghỉ giải lao của Michiru. Dường như chỉ cần chạm vào cơ thể của người khác, anh đã bị cướp mất chìa khóa trái tim.

Mỗi khi quan sát những đứa trẻ ngày nay, anh đoan chắc chúng tiến hóa hơn thế hệ của anh rất nhiều. Như những con sư tử con đang vờn nhau để phát triển một cơ thể sống giữa thảo nguyên bao la, những đứa trẻ của loài người cũng chạm vào cơ thể của nhau và học về Trái đất. Nếu phải đặt tên cho tiết học đầu tiên thì có thể gọi đó là “Tự do nô đùa”. Bài tập của giáo viên chủ nhiệm là phải quan sát kỹ bọn trẻ, Yonatani nghĩ vậy. Không phải giám sát, mà là quan sát.

Mumei chồm đến nhóm ba đứa con trai đang ngồi thành một tụm, như vồ lấy đồng thời cả ba, ra sức phô diễn kỹ thuật bạch tuộc mà mình phát minh. Một lúc sau khi đã thấm mệt, cậu bé đeo vào cổ tấm bảng do mình tự làm, có viết dòng chữ “Đang chuẩn bị” rồi rút vào một góc lớp. Đó là tấm bảng cậu nghĩ ra, kết quả của việc suy nghĩ xem khi muốn nghỉ ngơi một mình thì phải làm sao để không bị bạn cùng lớp quấy phá.

Khi đó, cậu đã tham khảo tấm bảng treo ở cửa tiệm mì. Cô bé Karo tiến lại gần, nghiêng đầu chau mày hỏi: “Chữ đó đọc sao vậy?”. Hôm qua mới chỉ xong, hôm nay lại hỏi câu y vậy. Mumei có chút khó chịu, trả lời dấm dằn:

“Hôm qua tớ chỉ rồi mà?”

“Chuyện hôm qua á, tớ quên rồi”. Karo trả lời, không có vẻ gì là xấu hổ. Làm sao mà có chuyện quên được chữ Kanji mới được chỉ ngày hôm trước, nghĩ Karo trêu chọc mình nên Mumei bực tức:

“Đừng có chọc tớ!” – Cậu nói hơi lớn tiếng một chút thì thình lình khắp nơi vang tiếng khóc như tiếng chuông báo động. Khoảnh khắc nhận ra Karo đang khóc cũng là lúc Mumei bị một bàn tay vô hình vỗ vào trán, như một tia chớp lóe sáng, cậu hiểu ra sự vận hành não bộ của mỗi người khác nhau.

“Xin lỗi, tớ xin lỗi. Chữ này đọc là đang chuẩn bị. Có nghĩa là chưa nấu xong nên chưa vào tiệm được”. Cậu lặp lại câu trả lời giống hệt ngày hôm trước. Hôm qua, Karo đã thỏa mãn với cách giải thích này, vậy mà hôm nay, cô bé bắt bẻ: “Đang chuẩn bị nghe kỳ quá. Cậu có phải tiệm mì soba đâu cơ chứ.”

Ra là vậy, một chiến lược lắt léo từng chút một với cùng một câu hỏi và cùng một câu trả lời nhưng phản ứng mỗi lần sẽ khác nhau. Bọn con gái đúng là quá khác biệt. Nhưng đâu có nghĩa là bọn con gái đều như Karo. Ông cố lúc nào cũng dặn “Không được tin vào mấy cái chuyện con gái thì thế này, con trai thì thế kia đâu đấy”. Con gái cũng có nhiều kiểu. Mumei nghĩ đến cô bé hàng xóm. Hai mắt cách xa nhau khiến khuôn mặt cô bạn rất kỳ lạ. Cậu muốn về sớm để nhìn khuôn mặt ấy lần nữa. Đúng lúc đó, Yasukawamaru hét to:

“Thầy, em đi nhà xí!”

“Em nữa!”

“Em nữa!”

Mumei thử cảm nhận bàng quang của mình nhưng cảm thấy không cần đi nhà xí. Dù vậy, hễ nhìn đầu tóc của bọn bạn rời khỏi lớp nhất loạt rạp xuống là cậu cũng như bị kéo theo về hướng đó.

Nhắc mới nhớ, có lần ông cổ vừa cười vừa chỉ mình thì phải. Ông cố nói ‘tension’ là tiếng nước ngoài, có bạn nào nói ‘tension cao’ thì cháu cũng đừng bắt chước nhé, còn ’đi vệ sinh tập thể là một từ tiếng Nhật tuyệt vời mà bất kỳ người theo chủ nghĩa dân tộc nào cũng chắc chắn công nhận nên cháu cứ dùng nhiều vào”. Ông cố nói đi vệ sinh cùng với bạn bè vừa xả thoải mái, vừa là cơ hội tuyệt hảo để trút bầu tâm sự.

Trong đầu ông cố có đủ những từ đã chết, những từ không còn được sử dụng. Đến cả ông cố cũng cất kỹ bao nhiêu là từ ngữ không sử dụng trong ngăn não của mình, chẳng chịu vứt đi, trong khi lại nói chén bát hay đồ chơi, thứ nào không dùng nữa phải xử lý ngay.

Lúc trước, Mumei từng nghe đã có thời nam và nữ đi học trường khác nhau. Sau đó, đến một thời đại dở dở ương ương là trường học có cả nam lẫn nữ học chung, “nhà xí” được gọi là “toa lét” và chỉ có toa lét và giờ thể dục là nam nữ học riêng. Sau đó, lại đến thời đại mà giờ thể dục nam nữ cũng học chung, chỉ “toa lét” là vẫn tách riêng. Thời đại đó kết thúc là do sự phân biệt giới tính nam nữ trở nên mơ hồ.

Mumei nghe chữ “lét” trong “toa lét” thành “lấy”, cảm thấy thật mâu thuẫn khi chỗ đó là nơi xả ra sao lại nói “lấy”. Nhưng suy cho cùng, từ “toa lét” vốn khởi nguồn từ tiếng Anh nên có lẽ “lét” không liên quan gì đến “lấy”.

Nhà xí nam nữ dùng chung của trường Mumei là một không gian vui vẻ với nhiều màu sắc sặc sỡ như đỏ, vàng, xanh lam, xanh lục, v.v. giao nhau. Bạn có thể ngồi trên bông sen và thong thả đi ị, cũng có thể đi tiểu lên khóm hoa cúc nở ở bồn hoa trên tranh tường. Nghe nói toa lét hồi xưa không phải là chỗ chơi, mà là nơi phải giải quyết cho xong việc để đi ra càng sớm càng tốt. Những người ở lâu trong toa lét bị nghi ngờ làm chuyện gì đó mờ ám. Cũng có phần cảm giác là muốn giảm thời gian tiếp xúc với vi khuẩn càng ít càng tốt nhưng rồi chẳng biết từ lúc nào, chẳng còn ai sợ con vi khuẩn đại tràng này kia nữa. Cơ thể con người đã biết cách đối phó với vi khuẩn đại tràng. Câu cửa miệng của thầy Yonatani là còn nhiều thứ đáng sợ hơn trong môi trường sống ngày nay.

Mumei thử nói với đứa bạn đang đứng cạnh và chiến đấu với cái quần, cậu Yanagi.

“Là bán đảo Malay đó.”

“Cái gì cơ?” - Yanagi trả lời vẻ phiền phức, tiếp tục chiến đấu với bộ đồ của nó.

“Là thứ cậu định đưa ra bây giờ” – Nói rồi Mumei cười khúc khích. Phía sau trán của Mumei có dán tấm bản đồ thế giới, có khi những gì cậu nhìn thấy trước mắt trông như một bán đảo hay dãy núi của một đất nước xa xôi nào đó. Nghe bán đảo Malay, Yanagi cũng chẳng nghĩ ngợi gì.

Cái quần đặc biệt do Yoshiro may cho Mumei không có dây kéo lẫn nút ở phía trước, nhờ đắp vải hai bên trái phải lên nhau mà che được phía trước. Yoshiro bắt đầu học may vá sau khi bước vào tuổi tám mươi nhưng nhờ chăm chỉ học hành nên ông tiến bộ rất nhanh, còn bỏ công khéo léo may áo có cổ và tay áo cầu kỳ đến mức Mumei phải xấu hổ. Cứ nghĩ không ai để ý là được thì Tatsugoro đã sớm phát hiện, nói thật to: “Đẹp quá, cho tớ xem với!” nên đám bạn xung quanh đổ dồn mọi sự chú ý vào Mumei. Tatsugoro từng nói cậu ấy muốn trở thành một nghệ thuật gia sáng tạo quần áo. Người xưa gọi những người như vậy là nhà thiết kế và họ rất được hâm mộ. Không phải do Tatsugoro muốn trở nên giàu, cũng chẳng phải vì muốn trở thành người nổi tiếng, chỉ là cậu ấy muốn may những bộ quần khác lạ thường xuất hiện trong giấc mơ và cho mọi người mặc. “Cậu có muốn mặc thử bộ vét mà chỉ cần mặc vào là cậu biến thành con ve sầu không?” – Mumei từng bị hỏi như vậy. “Chỉ cần vẫy tay áo là có tiếng ve kêu luôn đấy” – Mumei thấy sờ sợ nên từ chối. “Cậu có muốn thử cái quần có một trăm cái túi không?” – Có lần cậu được rủ rê như vậy. Thử hỏi cậu ấy làm nhiều túi như thế để đựng cái gì, Tatsugoro trả lời sẽ cho bút chì, cục tẩy, kẹo, hòn bi, vé, thuốc, v.v. vào từng túi riêng theo thứ tự bảng chữ cái.

Lúc ấy, có ba quý ông đến phiên trực là làm vệ sinh nhà xí bước vào đó. Họ vừa ngắm ống thí nghiệm có đựng dung dịch màu xanh lục như da con ếch xanh, vừa trò chuyện vui vẻ với nhau. Một người từng là giáo viên Hóa học ở trường đại học, một người đã làm việc ở công ty chế tạo dược phẩm hàng đầu, và người còn lại không nói gì về quá khứ của mình. Do thể lực của Mumei và các bạn không thể làm vệ sinh nhà xí nên những người già tinh hoa trẻ tình nguyện đến làm vệ sinh nhà xí giúp trường tiểu học. Không biết có phải do cảm thấy chưa đủ nếu chỉ dọn vệ sinh không thôi mà họ còn tự bỏ tiền túi mua dụng cụ vệ sinh mới và dung dịch sát khuẩn, lần lượt đem đến tặng trường. Mỗi lần nhìn những người này, Mumei luôn cảm thấy xấu hổ như khi bị nhìn thấy chất bài tiết của mình nên cậu rời khỏi đó như thể chạy trốn.

Có lần nọ, khi Yanagi đang từ nhà xí bước ra thì chạm mặt ngay nhóm ba quý ông tinh hoa này. Yanagi đứng nghiêm rồi cúi chào thật sâu, nói: “Các anh vất vả quá rồi ạ!” Nhìn cảnh đó từ một chỗ hơi cách biệt, Mumei đặc biệt quan tâm đến việc không biết Yanagi học lời nói đó ở đâu, sao hay vậy, nên trong giờ học cách chào hỏi, cậu đã giơ tay lên và báo cáo về điều đó. Thầy Yonatani lúng túng nói: “Các anh vất vả quá rồi ạ từng là câu mà người chủ nói với người làm thuê. Em đâu có thuê họ đâu đúng không?” Khi nghe thầy nói vậy, Yanagi mặt đỏ bừng đến tận mang tai.

“Vậy mình phải nói như thế nào ạ?” – Cậu hỏi.

“Nói xin lỗi đấy!” – Kama chen vào phát biểu. Thầy nhẹ đặt tay lên vai Kama: “Xin lỗi là từ dùng khi xin lỗi ai đó. Ngày xưa, từ này còn thường được dùng để bày tỏ lòng biết ơn nhưng các em có làm việc gì xấu đâu, nên không được xin lỗi.”

“Nhưng có làm phiền mà đúng không thầy?”

“Làm phiền là tử ngữ. Các em nên nhớ, ngày xưa, khi văn minh còn chưa phát triển hoàn toàn thì có sự phân biệt giữa người có ích và người không có ích. Các em không được nối bước cách nghĩ đó”

“Không có từ cảm ơn ạ?”

“Nghe có vẻ ngọt ngào, giòn giòn nhỉ, cảm ơn!”

“Từ đó cũng chết rồi.”

Khi ấy, có ai đó gào thật to đến lạc cả giọng: “Cảm tạaaaaa.” Tiếng cười rúc rích từ lòng bàn chân bọn trẻ phun trào như nước đun sôi, cả lớp náo động. Thầy Yonatani tằng hắng thật to rồi nói như thế này:

“Để bày tỏ lòng biết ơn, có người hét to ‘Cảm tạaaaaa’ là từ thịnh hành hiện nay, nhưng ví dụ, với đôi tai của những người già trẻ, người già bình thường và hơn hết là người có tuổi thực thụ thì cách nói này nghe có chút kỳ lạ. Các em không nhận ra điều đó à?”

Nghe vậy, bọn trẻ đồng thanh hét: “Không nhận raaaaaa. Tuy trước đó chúng không hề hẹn nhau sẽ kéo dài âm nào trong bao lâu nhưng cả lớp rất đồng thanh tương ứng. Yonatani nghĩ: “Vậy là sao nhỉ, nếu là mình, mình nhất định không kéo dài âm đó, mà nếu bắt buộc phải kéo dài sẽ là ‘Khôôôôôông’ thôi.” Liệu có cái gọi là cảm nhận nhịp điệu chung cho một thế hệ không nhỉ. Lúc đó, Tatsugoro rút khỏi trận cười như lên đồng tập thể ấy, cậu bé cau mày nói:

“Hôm trước, mama đến nhà, có nói ‘cảm tạaa’ là kỳ cục á!”

“Giờ này mà còn nói mama gì chứ, mày đúng là đồ cổ lỗ sĩ” – Yanagi trêu. Cái từ “mama” du nhập từ nước ngoài vốn không còn được sử dụng từ lâu, nhưng được mẹ của Tatsugoro trộn chung với sữa bột trong bình và cho cậu bú lúc nhỏ. Nên mặc dù họ không còn sống chung với nhau, Tatsugoro vẫn nghe được lời mama dịu dàng thì thầm bên tai. Nên khi bị trêu chọc về mama, Tatsugoro tức giận, xông vào Yanagi:

“Cãi nhau, cãi nhau, tham quan nào!” – Mumei nói với cái giọng đều đều khiến cả hai cùng ngừng lại, quay lại nhìn Mumei với vẻ mặt chán nản. Lúc đó, thầy giáo không bỏ lỡ thời cơ, chen vào nói khiến cả hai thậm chí quên mất là mình định cãi nhau.

“Cảm ơn có thể là từ hơi tốt. Chúng ta cảm thấy biết ơn những điều bình thường, nghĩa là cảm nhận lòng biết ơn và sự ngạc nhiên như một điều gì đó quý hiếm. Cảm ơn” – Vừa dứt lời thì Yonatani cảm thấy mất tự tin. Mọi phong tục đều đảo ngược và lặp lại, những việc mà người lớn có thể tự tin “làm vậy mới đúng” ngày càng ít đi. Những người tràn đầy tự tin không được bọn trẻ tin tưởng. Ngược lại, người không che giấu việc mình không tự tin lại được chúng nghe lời hơn. Trong hoang mang, anh cứ lần mò để tiến đến, cân nhắc từng thứ mình chạm vào, biến phân vân thành từng lời nói, và tiếp tục nói với bọn trẻ. Nhưng khi không chịu nổi sự thiếu tự tin, giọng anh yếu dần đi thì lớp học sẽ ồn ào như ong vỡ tổ. Nếu cứ để mặc như thế này thì sẽ loạn mất. Đúng rồi, phải dùng cách đó thôi!

Yonatani đến gần góc để đồ trong phòng học, kéo cánh cửa kêu cót két. Tim Mumei bị bàn tay của sự kỳ vọng túm lấy, mạch đập nhanh hơn. Thầy giáo lấy tấm bản đồ thế giới lớn được cuộn quanh cây nẹp dài hai mét và kéo ra, trải rộng trước bảng đen. Mumei giơ thẳng hai tay lên trời, hét to: “Cực lạc!” rồi phi thẳng đến đó. Mấy đứa trẻ khác cũng ngừng nói, tập trung lại trước bảng đen, ngồi lại thành hình vòng cung. Không chỉ một mình Mumei thích tấm bản đồ thế giới này. Khi được gió thổi, tấm bản đồ phồng lên như tấm buồm cỡ lớn, bọn trẻ ngửi thấy mùi thủy triều, nghe được tiếng sóng vỗ, và chúng bắt đầu lắc lư theo. Tóc chúng bay theo gió biển, tiếng mòng biển kêu, xé toạc bầu trời xanh.

“Các em đang ở chỗ này” - Thuyền trưởng Yonatani nói và chỉ ngón tay trỏ có móng tay dài vào chính giữa quần đảo Cá Ngựa[38]. Tấm bản đồ nổi đầy những vết ố màu nâu. Mumei vừa giụi mắt không biết đâu là đảo, đâu là vết ố, vừa tiến lên phía trước bằng hai đầu gối để đến gần tấm bản đồ hơn.

“Ngày xưa, xưa rất xưa, quần đảo Nhật Bản từng là bán đảo dính với lục địa nhưng đã bị đẩy ra. Dù vậy, cho đến mới đây thôi nó vẫn còn rất gần với lục địa lớn nhất, rồi vì trận động đất lớn lần trước mà xuất hiện vết nứt sâu ở đáy biển, nên nó bị tách ra hoàn toàn. Đây là tấm bản đồ được vẽ trước đó. Từ đó trở về sau, tuy người ta có tiến hành những cuộc điều tra, đo đạc lớn nhưng mãi không kết thúc. Chính phủ nói không thể làm bản đồ mới do thiếu kinh phí nên tính thu thêm một loại thuế mới là thuế làm bản đồ. Do đã bị tách rời khỏi lục địa nên Nhật Bản xuất hiện nhiều thay đổi về khí hậu và văn hóa”

Chẳng biết tự lúc nào, Yonatani không còn phân biệt cách nói chuyện với người lớn và cách nói chuyện với bọn trẻ. Nhờ xuất hiện trong những từ đã biết nên không tra từ điển, bọn trẻ vẫn có thể hiểu nghĩa những từ chúng chưa biết.

Bằng cách liên tục đọc những gì có khoảng mười phần trăm từ chưa biết lẫn trong những từ biết rồi, vốn từ sẽ tăng lên. Những gì anh có thể dạy chúng chỉ là làm nông nghiệp với từ ngữ. Anh mong bọn trẻ tự mình trồng từ ngữ, thu hoạch từ ngữ, gặt hái từ ngữ và ăn từ ngữ để mập lên.

Khi anh trải tấm bản đồ thế giới rộng ra, nói về những đất nước bên kia đại dương, bọn trẻ hướng những cặp mắt như những trái nho đẫm sương, lắng nghe anh không biết chán. Anh phải chọn đứa trẻ phù hợp nhất để trở thành “hiến đăng sứ” trong số đó. Ở trong môi trường có thể quan sát nhiều học sinh tiểu học, Yonatani cho rằng đó là sứ mệnh của mình. Tuy đã nhắm đến Mumei nhưng vẫn phải theo dõi thêm vài năm xem cậu bé trưởng thành thế nào, anh mới có thể đưa ra quyết định cuối cùng.

Mumei chớp mắt dữ dội. Chính giữa đầu đau như kim đâm. Mạch tim đã chuyển từ ngực lên ốc tai. Mùi máu thoảng ở hốc mũi. Nhưng nếu bây giờ cậu nói mình không khỏe, thầy sẽ không nói chuyện địa lý nữa nên Mumei nhiều lần nuốt nước bọt, siết chặt nắm tay, chịu đựng.

Với Mumei, bản đồ thế giới trông như bức ảnh X-quang chụp rõ nội tạng của mình. Châu Mỹ là phần thân bên phải, còn lục địa Á - Âu là nửa thân trái. Cậu cảm thấy châu Úc ở ngay bụng. Thầy mới nói gì ấy nhỉ? Quần đảo Nhật Bản vốn từng dính liền với lục địa? Có chuyện đó sao? Ngày xưa là bán đảo á? Nếu vậy thì ngày xưa, người ta có thể đi bộ

đến lục địa, băng khắp mặt đất rộng lớn đến mức cảm nhận Trái đất tròn, và có thể đi xa đến mức choáng váng chăng?

“Tại sao lại bị đẩy ra khỏi lục địa ạ?” – Có ai đó hỏi. Ai vậy nhỉ, Mumei quay lại nhưng cổ cậu cứng ngắc, không quay được.

“Bà cố tớ nói vì Nhật Bản làm điều xấu nên bị cả lục địa ghét bỏ” – Tatsugoro nói với vẻ đắc ý. Nghe vậy, Yonatani cười đau khổ, gật gù:

“Nào, nhìn xem. Chính giữa thế giới là đại dương mênh mông. Đây là Thái Bình Dương. Bên trái đại dương này là lục địa Á - Âu và châu Phi, bên phải là châu Mỹ. Các mảng kiến tạo dưới lòng Thái Bình Dương đôi khi dịch chuyển. Thế là động đất lớn xảy ra ở các viền mảng kiến tạo. Có khi sóng thần kéo đến. Với sức của con người thì không thể giải quyết được gì. Trái đất là như vậy đấy. Nhưng Nhật Bản bị như vậy không phải do động đất và sóng thần. Nếu chỉ là thiên tai, chúng ta đã vượt qua từ lâu. Không phải do thiên tai. Các em rõ chưa?”

Yonatani vừa nói dứt câu thì chuông báo cháy trong lớp reng inh ỏi. Yonatani đến gần cái máy đỏ, tắt công tắc.

“Trái đất tròn mà”, khi Mumei nhận ra mình vừa nói thì giọng cậu đã vang khắp phòng học. Bản thân không biết mình định nói gì nhưng tiếng nói cứ tự bay ra. Các bạn trong lớp nhìn Mumei với vẻ kỳ lạ. Mumei nhúc nhích hai cánh tay như con chim vỗ cánh. Cậu chỉ làm vậy do quá mệt nhưng trông như đang bắt chước một con hạc. Thầy giáo nheo mắt cười:

“Đúng vậy. Trái đất tròn. Nếu vẽ Trái đất tròn thành mặt phẳng thì chúng ta có tấm bản đồ thế giới này. Thầy quên nói diều đó” – Thầy nói vậy rồi giả vờ gãi đầu. Yasukawamaru bị đánh lừa, nói với vẻ mặt tức giận:

“Hả? Tròn á? Vậy cái này là xạo à?”

Tatsugoro cũng nói như tức tối:

“Tưởng gì! Tròn sao?”

Yonatani không biết phải trả lời bọn trẻ thế nào. Anh không định đánh lừa chúng. Anh chỉ định nói điều quan trọng hơn việc Trái đất hình tròn. Nhưng biết đâu việc Trái đất hình tròn cũng là điều quan trọng.

“Chút nữa chúng ta sẽ cắt giấy để làm quả địa cầu như quả cầu vải nhé”

Mumei ra sức nhúc nhích cánh tay liên hồi để kềm chế cơn đau như bị vặn ốc từ hai bên thái dương. Kỳ lạ là dường như xung quanh không nhận thấy điều đó. Cùng với cảm giác bị cô lập là tầm mắt bị mờ đi, cậu phải nhíu mày lại để tập trung nhìn vào tiêu điểm là tấm bản đồ thế giới. Nhìn sao cũng thấy như tranh chân dung của chính mình. Dãy núi Andes hướng ra ngoài vẽ một hình cung, các đường gấp khúc hướng vào trong hệt như phần xương gấp khúc từ hông xuống đến cổ chân của mình. Xương thân trên ngoặt vào trong, hướng lên đỉnh, gặp dãy núi nhô cao từ bên trái biển Bering. Xương mình tất cả đều cong. Mình không bẻ cong chúng, chúng tự cong sẵn rồi và nếu đây gọi là cơn đau thì ngay từ đầu chúng đã tồn tại mà không có lý do. Nước do băng ở Bắc Cực tan ra, biển lạnh buốt, là dịch não của mình. Đầy những địa hình phức tạp. Toàn bộ phổi là sa mạc Gobi, lòng bàn tay ở cạnh đó là châu Âu này. Châu Phi có phần ngực lớn nhưng mông nhỏ. Giống đứa bé đang nhảy múa trên một chân. Cái cổ nối châu Phi và châu Âu bị xoắn lại, tuyến giáp sưng, amidan sưng, chúng đang hét lên “cứu tôi với”. Cái bụng là nước Úc, một cái túi. Một cái túi đựng nhiều đồ ăn. Nhưng mình không ăn được mấy thứ đó.

“Các em nhìn xem, bản đồ thế giới được làm ở Nhật thì từ xưa Thái Bình Dương nằm chính giữa, hướng về bên phải là châu Mỹ, bên trái là lục địa Á – Âu và châu Phi. Nhưng nếu cắt cùng một Trái đất theo cách khác, ta sẽ có một bản đồ thế giới khác” – Thầy giáo nói rồi nhìn khắp một lượt bọn trẻ. Mumei thở hắt ra, trong tích tắc, cậu được giải phóng khỏi sự khổ sở khi bản đồ thế giới và cơ thể mình trùng khớp với nhau. Thì ra còn có những tấm bản đồ thế giới khác. Thầy tiếp tục giảng.

“Rãnh biển bao quanh Thái Bình Dương tạo thành một vòng. Nó chạy dọc Nam Mỹ lên phía Bắc, dọc theo California về phía Bắc nữa, xong rẽ trái, băng qua Alaska, từ Kamchatka nối với Mariana, vẽ thành một vòng. Quần đảo Nhật Bản nằm trên cái vòng đó. Cái vòng này bây giờ lõm vào ở phía Đông Nhật Bản.”

“Nước của Thái Bình Dương khoảng bao nhiêu cốc ạ?” – Yanagi thốt lên hỏi. Có tiếng cười nhưng Yonatani giữ mắt và chân mày nhìn thẳng, trả lời:

“Nước bị động đất làm cho rung lắc, đổ tràn ra, có lẽ ít hơn lúc trước rồi”

“Nói dối, nói dối, thầy nói dối” – Người hét lên bằng cái giọng the thé chính là cô bạn Kama. Lúc ấy, Mumei cảm nhận Trái đất rung lên ở đỉnh đầu, nước Thái Bình Dương bắn ra vũ trụ. Cánh tay và đầu ngón tay co lại. Nếu cứ tiếp tục rung lắc thế này, cả xương lẫn thịt sẽ tan ra, trở thành những giọt bắn vào tứ phía, ôi, ôi mình phải làm sao, làm sao dừng lại được. Cậu bị bao vây bởi những biểu hiện đầy kinh ngạc mắt chữ O mồm chữ A, không còn phân biệt được ai với ai, không thốt nên lời. Cậu thấy mặt thầy giáo dần trở nên to lên, như những gợn sóng lan ra, nhưng phía trước là bóng tối.

Đường sá được làm bằng những tấm thủy tinh trong suốt. Bên dưới là những hang động trải dài đến vô tận. Không nhìn thấy đáy. Nghe nói những tấm thủy tinh này chịu được chấn động mạnh nhưng chẳng may, thủy tinh bị vỡ sẽ khiến chúng sẽ rơi đến tận đâu nhỉ. Người ta đã xác nhận các chất có hại đầy trong đất thấm vào nhựa đường, rỉ ra bề mặt đường, nhưng có kiện lên chính phủ cũng không truy cứu được trách nhiệm của ai nên chính quyền địa phương nhờ thầu khoan, cắt nhựa đường, khoan sâu xuống dưới lòng đất, trả tiền cho nhà thầu để họ xử lý phần đất đó, dát tấm thủy tinh lên trên để người đi đường không bị rơi xuống địa ngục. Nếu được, không ai muốn biết nhà thầu đã xử lý phần đất ô nhiễm như thế nào. Những nhà báo có lương tâm kiên trì điều tra thì họ biết được là chính phủ mua lại. Vậy chính phủ xử lý phần đất đã mua với giá cắt cổ đó như thế nào ư? Một quan chức của Bộ Ô nhiễm Môi trường đã khiến công chúng cười nhạo khi khổ sở trả lời rằng họ đã dùng tàu vũ trụ tư nhân để đem bỏ ra ngoài hệ Mặt trời. Những buổi tối rải rác những nụ cười nhạt của những vì sao kéo dài một thời gian. Có người còn lo lắng không biết mặt trăng có bốc hơi vì quá ngán ngẩm hay không. May là một thời gian sau, mặt trăng đã quay lại với vẻ mặt mệt mỏi.

Vào cái đêm mà mặt trăng quay lại, lồng ngực của những cậu thiếu niên ngủ say trở nên căng tràn sức sống, giữa đôi chân đã mở thẳng đầu gối toát lên một mùi thơm như quả sung chín. Mumei cũng bừng tỉnh trước mùi thơm ngọt ngào, do tấm trải ẩm ướt nên cậu thức dậy, rời khỏi giường nhìn thử thì thấy một vết loang lớn từ nước quả đỏ. Có cảm giác bị ai đó nhìn trộm từ bên ngoài, cậu kéo rèm, trăng rằm vàng ươm, to lớn, đang ở một vị trí thật thấp nhìn Mumei chằm chằm. Trăng đêm nay sao lại to thế nhỉ? Hay vì độ cận tăng lên nên nhìn bị nhòe nhỉ? Phải xin mua mắt kính mới được. Ơ, nhưng mà mình có mắt kính rồi. Mình thấy mắt kính để trên bàn. Mumei biết mình đã mười lăm tuổi. Cậu vẫn nhớ rõ cái ngày còn là học sinh tiểu học, cậu đã ngất xỉu khi nhìn thấy bản đồ thế giới. Dường như lúc ấy cậu đã bay vượt thời gian, lao thẳng vào tương lai. Nhưng nhờ vậy mà bản thân cậu bây giờ thật đằm. Bản thân cậu bây giờ không quá rộng như cái áo khoác quá khổ, mà hợp vừa khít. Ngước nhìn mặt trăng khiến mí mắt nặng trĩu, cậu nhắm mắt rồi lại mở ra thì thấy trời đã sáng. Mumei cởi bộ đồ ngủ, mặc bộ đồ lụa xanh, đeo mắt kính và thắt chiếc cà vạt màu đỏ tím khổ hẹp. Cậu ngồi lên xe lăn, ra ngoài cửa. Lớp thủy tinh phủ trên đường phản chiếu nắng sáng thành bảy sắc màu như những bong bóng xà phòng. Mumei bắt đầu trượt trên con đường thủy tinh như một vận động viên trượt băng. Quả bóng điều khiển đọc chính xác suy nghĩ của Mumei truyền đến đầu ngón tay, chiếc xe lăn sẽ rẽ phải nếu cậu muốn rẽ phải, sẽ dừng nếu cậu muốn dừng. Thời tiểu học, Mumei có thể đi bộ bằng chính đôi chân của mình một chút nhưng càng lớn, cậu càng khó cử động đôi chân, thậm chí còn không đứng được lâu. Cậu đã nhận thức lần nữa việc bản thân không thể đi đứng ở tuổi mười lăm nên không lấy làm kinh ngạc. Khi ý muốn tiến lên trước chếch về bên phải truyền từ bụng dưới đến đầu ngón tay thì hầu như đồng thời, truyền cả áp lực nhè nhẹ lên đầu ngón tay đang nắm quả bóng điều khiển ở chỗ gác tay, và rồi chiếc xe lăn bắt đầu tiến lên trước chếch về bên phải.

Mumei thử lên tiếng: “A!” Tiếng nói phát ra từ chiếc đồng hồ đeo tay chứ không phải thanh đới. Một giọng nói trẻ trung, mềm mại, cảm giác đáng tin, ấm áp, tươi tắn, tràn đầy sinh lực. Bản thân cậu cảm thấy cơ quan hô hấp trong người mình thật không nhờ vả gì được. Có thể tương lai gần, con người sẽ được hô hấp ngoài cơ thể bằng máy móc nhưng nếu là vậy, cái máy đó phải để cực gần mình mới sống được. Trường hợp xe lăn bị lật, cái máy sẽ làm sao nhỉ? Sẽ rất nản nếu phải cần có người đi cùng hai bốn trên hai bốn. Mumei rất thích ra ngoài một mình, cố tình lăn xuống dốc cho chiếc xe lăn lật chơi. Chiếc xe ngã lăn ra, cơ thể bị ném khỏi xe lăn, cậu sẽ nằm lăn ra ngắm bầu trời. Cậu có thể tận hưởng những chuyến dã ngoại vô tư như thế thêm mấy năm nữa?

Cậu chẳng thấy sợ hãi chút nào khi chiếc xe ngã lăn và cơ thể bị ném ra ngoài. Mặt đất thủy tinh không dễ vỡ bởi sự va đập cỡ đó, cậu lại rất giỏi cuộn người lại nên chưa từng bị gãy xương. Khi chiếc xe lăn ngã, bộ máy cảnh báo được tích hợp tự động liên lạc với đội cứu hộ nữ, các bà trẻ sẽ đến giúp cậu ngay. Trong khoảng thời gian cho đến khi được cứu, cậu tận hưởng niềm vui được quăng ra khỏi bề mặt Trái đất. Trọng lực luyến tiếc kéo cậu lại nên Mumei không thể rơi vào vũ trụ. Cậu ngắm bầu trời và hít thở. Không lo lắng. Thế hệ của Mumei được trang bị một năng lực được gọi là không bi quan.

Đáng thương vẫn là những người già. Cơ thể một trăm mười lăm tuổi của Yoshiro vẫn còn tráng kiện, buổi sáng vẫn thuê chó chạy tụt, vắt nước cam cho Mumei, thái rau, đeo ba lô đi rảo chợ phiên bán hàng trực tiếp, lau đầu tủ và mép cửa sổ bằng cái giẻ vắt ráo mà không để lũ bụi kịp bám vào, viết bưu thiếp cho con gái, ngâm đồ lót vào chậu rồi giặt tay, buổi tối thì lấy hộp kim chỉ ra để may những bộ đồ thật bảnh cho chắt ngoại. Lý do ông làm việc không nghỉ là vì nếu không làm gì nước mắt sẽ không ngừng tuôn.

Mumei lấy từ trong túi ra tấm vé dài có in bức tranh chiếc tàu du lịch cỡ lớn. Cảm xúc cậu lẫn lộn, nửa hiểu, nửa không hiểu tại sao đã vượt thời gian mà mình còn giữ tấm vé đó. Cậu thử lần hồi về ký ức. Thế rồi lần lần ký ức tương lai mơ hồ quay lại. Thì ra mình được chọn là “hiến đăng sứ” và phải bí mật đến Madras, Ấn Độ. Ở đó có Viện Nghiên cứu Y học Quốc tế, và họ đang chờ Mumei đến. Thông qua nghiên cứu y học, các dữ liệu liên quan đến tình trạng sức khỏe của Mumei vừa có ích cho bao người trên thế giới, và biết đâu lại có thể giúp cậu kéo dài tuổi thọ.

Người đề nghị cậu trở thành hiến đăng sứ là thầy Yonatani, chủ nhiệm thời tiểu học. Vốn chẳng hề liên lạc với nhau vậy mà một ngày nọ, khi Mumei đã mười lăm tuổi, thầy thình lình đến nhà. Không chỉ Mumei mà cả Yoshiro cũng ngạc nhiên, nhưng sau cuộc nói chuyện lan man giữa ba người, thầy chỉ dẫn mỗi mình Mumei đi ăn. Họ được hướng dẫn đến một phòng riêng không có cửa sổ của tiệm ăn chuyên món quả óc chó cao cấp, và ngồi đối diện nói chuyện ba tiếng đồng hồ. Trước tiên, thầy kể về cuộc đời mình.

Cha của thầy Yonatani có họ là Yo-na-tan. Ngay sau khi kết hôn, không ai biết tung tích của ông. Mẹ của thầy rất muốn giữ cái họ này như là họ của mình, nhưng do sống ở thời đại mà bạn sẽ bị cảnh giác nếu người nhà có ai đó không phải người Nhật nên cái họ Yo-na-tan rất bất lợi. Thực tế, bà đã cảm nhận được mình bị theo dõi, bị trộm lẻn vào nhà khi đi vắng, dù không bị mất cắp gì nhưng cả căn nhà bị lục soát. Do vậy, bà đổi họ thành chữ Hán là “Dạ Na Cốc (Yonatani)”, quyết định không nói gì về người cha, bà một mình bao bọc, nuôi nấng con trai bằng hai cánh tay to khỏe của mình. Nghe thầy kể vậy, cậu mới nhìn lại thật kỹ, thình lình thấy hiện lên đặc trưng khuôn mặt của thầy Yonatani mà lâu nay cậu không nhận ra. Khoảng giữa hai mắt cao, sống mũi bắt đầu từ đó. Giữa lông mi và mắt lõm vào, xương gò má không nổi bật, đường rãnh chỗ gò má hóp vào, cằm dài.

Khi ấy, lần đầu tiên Mumei nghe đến từ “hiến đăng sứ”. Tuy không được nói việc gửi hiến đăng sứ ra nước ngoài ở chốn công cộng nhưng không phải là hành vi bị cấm đoán đến mức bị gọi là tội phạm nên em không cần phải sợ - Yonatani hạ giọng nói với cậu. Giả dụ những người định vượt biên ra nước ngoài, nếu bị phát hiện thì cũng chỉ giam mấy ngày nhưng rồi cuối cùng cũng không bị phạt gì cả. Theo cách lý giải chính thức của chính phủ, chính sách tỏa quốc tuy đàn áp các phong trào lan tỏa đến công chúng hệ tư tưởng thúc đẩy mở cửa nhưng không ràng buộc tự do du lịch cá nhân trên phương diện pháp luật. Giả dụ nếu đó là thật, chính sách của quốc gia có thể thay đổi trong một đêm. Một người hoàn toàn có thể bị tuyên án chung thân vào tuần sau chỉ vì một hành động nhỏ nhặt không ai để ý vào tuần trước. Trước khi xảy ra chuyện này, Hội Hiến đăng sứ mà Yonatani đang gia nhập, nghĩ cách tìm người phù hợp để gửi ra nước ngoài. Làm vậy thì tình trạng sức khỏe của trẻ em Nhật Bản sẽ được nghiên cứu kỹ càng, và trở thành tài liệu tham khảo trong trường hợp các hiện tượng tương tự cũng bắt đầu xuất hiện ở các nước khác. Đã quá rõ ràng, chỉ còn cách nghĩ về tương lai theo đường gấp khúc của Trái đất hình tròn mà thôi. Chính sách tỏa quốc trông có vẻ tuyệt vời nhưng thật ra chỉ là tòa lâu đài làm bằng cát. Có thể phá vỡ nó từng chút một bằng cái xẻng dành cho trẻ con. Do vậy, Hội Hiến đăng sứ muốn lần lượt gửi từng người trẻ ở cấp độ con người ra nước ngoài.

Hội Hiến đăng sứ không có hội báo, cũng không có hội họp kiểu tập trung đông đúc các hội viên mỗi năm một lần, chỉ ba hoặc nhiều lắm là bốn người tập trung tại nhà của ai đó để nói chuyện, vì vậy sự tồn tại của hội không bị con mắt thế gian dòm ngó. Không đóng hội phí cũng chẳng có thẻ hội viên. Trụ sở chính nằm ở Shikoku nhưng rải rác ở tám mươi tám chỗ trên đảo Shikoku chật hẹp nên cũng khó xác định địa điểm. Mumei hỏi có cách nào để phân biệt hội viên không thì Yonatanai trả lời không. Tuy nhiên, có một nghi thức nho nhỏ để bản thân tự nhận thức mình là hội viên. Đó là thức dậy trước khi mặt trời mọc, khi bắt đầu công việc của một ngày thì phải thắp nến và đi vào màn đêm. Kích thước của cây nến được quy định là đường kính 5 xentimét và chiều cao 10 xentimét.

Theo giải thích của Yonatani, Mumei chỉ cần đi đến trạm chắn sóng có gắn bảng “Trạm Lữ khách dân quốc tế” ở cảng Yokohama vào giờ quy định là được. Một chiếc tàu bảo vệ biên giới sơn sọc xanh ở bụng tàu sẽ neo ở đó, người đàn ông mặc đồng phục sẽ xuống tàu lại gần, Mumei chỉ cần trình vé lên tàu và hỏi mình phải đi đâu. Nếu người đó nói “Trước mắt cậu cứ lên tàu đi” tức là không nên do dự, hãy lên tàu và tàu sẽ cứ thế ra khơi, Mumei sẽ được trao cho tàu nước ngoài. Vì đoan chắc trong số học trò từng dạy từ trước đến nay không có ai để phù hợp làm hiến đăng sứ nên thầy Yonatani đã nhờ người theo dõi sự trưởng thành của Mumei sau khi cậu tốt nghiệp tiểu học.

Yonatani nói, Mumei đã mười lăm tuổi, và thầy đánh giá cậu bé đã đạt độ chín về tinh thần, nếu phải chờ hơn nữa và cần đến máy trợ thở này kia sẽ rất phiền phức nên quyết định lên tiếng đề nghị. Đương nhiên Mumei có thể từ chối, có thể chờ thêm một thời gian - thầy Yonatani nói, hai bên thái dương nổi những đường gân xanh.

“Em hiểu rồi ạ. Em sẽ đi ngay” – Giọng nói cả đời không thay đổi của Mumei cao và trong vắt.

Sau khi hẹn gặp lại vào ngày hôm sau, tại quán cũ, trên đường về nhà, Mumei nghĩ đến ông cố và bắt đầu phân vân. Cậu cảm nhận mối quan hệ giữa mình và ông cố ngày càng thân thiết hơn theo tháng năm. Những mảnh ký ức xảy ra vào khoảng thời gian mà cậu đã băng qua, đang lần lượt quay lại. Tóc của Mumei bị mất màu, dần dần bắt đầu ánh màu bạc là khoảng ba năm trước thì phải. Mumei vừa thẫn thờ nhìn mình trong gương vừa nói: “Ông cháu mình màu tóc giống hệt nhau, như anh em sinh đôi vậy nhỉ”, cậu chỉ định chọc cười ông cố nhưng Yoshiro ôm Mumei vào lòng, dịu dàng vuốt tóc cậu, nước mắt tuôn rơi. Mumei vội vàng nói:

“Ông cố à, hai chúng ta kết đồng minh tóc bạc đi. Màu tóc này thay cho thẻ hội viên. Ông cố đã sống khỏe mạnh với mái tóc bạc này hơn năm mươi năm rồi, nên chắc chắn là từ giờ cháu cũng sẽ khỏe mạnh hơn năm mươi năm nữa chứ” - Thể là như kỳ tích, nước mắt của Yoshiro ngừng rơi, nụ cười màu bạc hiện lên nơi khóe mắt.

Ngày nọ, đột nhiên bà Nemoto hàng xóm dắt theo Suiren chuyển đi đâu mất. Nhắc mới nhớ, trong một khoảng thời gian nhất định trước khi xảy ra chuyện đó, tuy còn là trẻ con nhưng Mumei đã nhận thấy Yoshiro có mối quan hệ yêu đương với bà Nemoto. Bà ấy không để lại địa chỉ mới, sau đó cũng chẳng một lần liên lạc. Yoshiro buồn bã một thời gian, nhưng rồi Mumei nhớ mang máng lời ông cố từng nói: “Chắc chắn phải có sự tình gì đó khiến bà ấy phải lẩn trốn. Tuy có buồn thật nhưng ông cố có Mumei rồi nên không sao.” Cái lưng ủ rũ của Yoshiro dần thẳng trở lại, da dẻ cũng căng bóng lại. Thật ra, Mumei cũng nếm trải nỗi đau như lồng ngực bị đâm thủng một lỗ khi Suiren không còn nữa, nhưng không bao lâu, cậu đã buông bỏ được nỗi thất vọng đã đốt cháy lòng bàn tay mình bằng cách mở lòng bàn tay ra. Có thể cậu đã tiếp nhận nguyên vẹn sự tồn tại của cái ổ nhện có tên gọi là “sự tình” vây quanh mình mà chẳng hiểu gì về nó.

Buổi sáng ấy, Mumei còn là học sinh lớp Hai và bắt đầu để ý đến cô bé Suiren. Sau khi Yoshiro đưa Mumei đến trường, ông hùng hục đẩy cái tay cầm cứng như sừng trâu của chiếc xe đạp về nhà. Như tức giận, mặt trời vén màn mây mỏng, rọi thẳng ánh nắng xuống trán Yoshiro. Ông cảm giác mọi thứ đập vào mắt mình đều phiền nhiễu đến khổ sở, thậm chí cả mấy cái cột điện báo vô tội cũng như đang thách thức ông bằng cách giăng những đường thẳng vô dụng lên phong cảnh. Những sai lầm to lớn lúc xưa tưởng như còn nhớ mà không thể nhớ ra cứ cào xé trong lòng ông. Chỉ vì những sai lầm đó mà ông và mọi người bị cầm tù. Những cột điện báo trở thành hàng rào, mỗi sáng chúng cho ông biết mình không thể nào đi đến đất nước thần tiên ở phía bên kia. Nếu ông giao cháu trai lại cho con gái, giao chắt lại cho cháu trai để bay về phía bên kia bầu trời thì tốt biết mấy. Đó không phải là sự kỳ vọng mà là nỗi tức giận. Ông đã thử cố tình cười lớn tiếng để túi trái tim không bị rách vì nỗi tức giận, ấy vậy mà chẳng thấy vui lên chút nào.

Đã từng có một thời yên bình, khi mà đèn giao thông chuyển từ đỏ sang xanh là người bộ hành đồng loạt bước đi. Nhìn kiểu gì cũng là màu xanh lá cây vậy mà mọi người vẫn gọi ánh đèn giao thông màu xanh lá cây ấy là “xanh dương”. Rau tươi xanh, bụi cỏ xanh rờn. Đúng rồi, còn có ngày Chủ nhật xanh. Không phải màu xanh lá cây. Là xanh dương. Là xanh da trời. Biển xanh, thảo nguyên xanh, bầu trời xanh. Không phải “gờ-rin”. Hả, chính trị “cờ-lin”[39]? Có sạch đâu. Sạch chỉ là như dung dịch khử trùng, hay chất hóa học để khử những người mà họ xem như vi khuẩn và muốn giết, theo ý mình thôi chứ có gì. Cái tòa thị chính bị tư nhân hóa là nơi để họ lén lút to nhỏ, làm rối tung pháp luật lên ấy, là “tình thị chóa” thì có. Mình chỉ muốn vo tròn, vò nát mà ném đi thôi. Thằng chắt của mình lúc nào cũng đòi đi picnic ở đồng cỏ. Một mơ ước bé xíu như vậy mà cũng không làm được cho nó, là tại ai chứ, tại cái gì mà đồng cỏ bị ô nhiễm cả rồi? Mấy người định làm gì hả? Của cải, địa vị, không giá trị bằng một cọng cỏ dại. Mấy người nghe đây, nghe đây, nghe đây, ráy tai mà khảy những ngụy biện như cứt ráy ra cho hết đi, và hãy lắng nghe, nghe cho kỹ đây! Đúng lúc đó, một viên đá nhỏ kẹt vào bánh trước xe đạp, bắn lên ống quyển của Yoshiro. Đau điếng! “Chết tiệt!” – Ông định chửi thề thật to nhưng kịp nuốt lại cùng với nuốt bọt, đến khi nhận ra không có Mumei bên cạnh thì có thể nói những lời tục tĩu, ông đã hết cả hứng. Ông nghĩ thì ra mình là người nóng nảy và đầy những lời dơ bẩn. Nếu không có Mumei, hẳn cả cuộc sống của ông đã thối um vì những quả hôi thối mà ông đã vứt ra.

Quay về nhà, ông chỉ thấy khung cửa nhà bên thật nổi bật. Ông thử đi vòng ra hướng Nam nhưng rèm cửa đều bị kéo kín. Yoshiro bỏ cuộc, quay về nhà mình, ngồi vào chiếc ghế xếp để viết tiếp bản thảo. Lúc ấy, ông nghe tiếng vỗ cánh phành phạch như muốn vỡ ngực bên ngoài. Nghĩ là chim bồ câu đưa thư, ông đứng dậy mở cửa sổ, một bóng đen cắt ngang mặt đất. Ông vội vàng phóng chân trần ra ngoài. Con chim bồ câu bay bằng pin mặt trời chính xác như được lập trình bay quanh nhà Yoshiro ba lần, và đậu xuống trước lối vào. Đôi mắt nó tỏa ra tia sáng như trân châu đen thật đáng sợ. Ông rút lá thư từ trong cái ống nhỏ màu vàng kim được cố định ở chiếc chân thon nhỏ của con chim, mở ra đọc. Lá thư viết Mumei ngất xỉu trong giờ học, đang được bác sĩ khám.

Mumei mười lăm tuổi, nhận thấy một chiếc xe lăn từ đằng trước đang tiến lại gần. Trên xe là một cô bé trạc tuổi mình, tóc ánh màu bạc. Định rủ cô bé gia nhập đồng minh tóc bạc, Mumei thử nở nụ cười thật tươi với cô bé. Cô bé dừng xe lăn, chớp mắt như muốn hỏi. Mumei tiến lại gần bạn, thật chậm như tốc độ của một con ốc sên. Mumei càng đến gần, mặt cô bé càng trở nên kỳ lạ hơn. Hai con mắt cách xa nhau, xa hơn so với người thường. Tròng mắt cô hẳn là đen rồi nhưng vào khoảnh khắc mặt trời thay đổi góc độ thì ánh xanh dương. Nhận ra đang bị quan sát ở phần bụng, Mumei vội vàng cúi xuống nhìn thân dưới của mình. Không có gì phải bận tâm. Có điều, cậu cảm thấy như có một quả bóng âm ấm, vô hình, được đặt trên đầu gối dưới lớp quần rộng thùng thình.

Mumei đi ngang qua cô bé liền đổi hướng ngay, dừng chiếc xe lăn cùng hướng và sát ngay bên cạnh xe của cô bé. Cậu nghĩ nếu dừng đối diện để nói chuyện thì khoảng cách khá xa. Cô bé nói một câu: “Lâu ngày quá!” Ơ? Đúng lúc Mumei ngước cằm, ngoẹo cổ nhìn thẳng vào mặt cô bé cũng đang ngoẹo cổ, cậu như bị hút vào không gian giữa mắt và mắt ấy.

“Cậu là người sống ở nhà bên cạnh?”

“Nhớ ra rồi à?”

“Tự nhiên biến mất, làm tớ cứ nghĩ không biết cậu có bị gì không.”

“Tại có

su tình.”

Một khoảng lặng ngắn ngủi.

“Giờ cậu có thời gian không? Đi ra biển một chút đi!”

Suiren gật đầu, hai cô cậu bắt đầu chạy song song trên con đường thủy tinh. Ở một góc não bộ của Mumei, những thắc mắc hiện lên và biến mất, tại sao biển lại gần đến thế, đảo chính Honshu đã hẹp lại đến thế sao. Chọn con dốc cao xuất hiện ở tay phải, Mumei không phanh mà còn tăng tốc chiếc xe lăn, đổ dốc nhanh. Chiếc xe lăn vừa lao vào bãi cát, đổ ngang ra, Mumei bị ném lên bãi cát nóng. Cậu thở hổn hển, hướng về phía cô bé còn đang trên đầu dốc, hét to: “Cậu cũng làm thử xem!” Chiếc xe lăn của Suiren cũng đã lăn bánh xuống dốc. Tốc độ tăng dần, khoảnh khắc bánh xe chạm vào bãi cát, Suiren nghiêng trọng tâm, ngã vừa khéo bên cạnh Mumei. Cho đến lúc cô bé ổn định nhịp thở, đã có mấy con sóng tạt vào bờ.

“Nếu tớ đi về phía bên kia đại dương, cậu có theo cùng không?” – Suiren hỏi. Mumei ngạc nhiên đến độ không trả lời được. Suiren nhăn trán: “Cứ tưởng cậu là một người rất hiếu kỳ chứ, nào ngờ. Thì ra phần lo lắng nhiều hơn nhỉ. Mà thôi không sao, tớ đi một mình”

Mumei vội vàng trả lời.

“Đương nhiên, tớ sẽ đi cùng cậu. Có điều…”

Ý muốn theo đuổi tình yêu chớm nở lần đầu trong lòng Mumei đã chôn vào bãi cát câu nói: “Thật ra tớ cũng định đi nước ngoài một mình”. Nếu không nói điều đó ra, cậu sẽ được Suiren nghĩ rằng vì cô mà cậu sẵn sàng vứt bỏ cuộc sống của mình.

Cát nóng có mùi tảo biển, không khí ẩm ướt bám chặt vào làn da, trộn lẫn với mồ hôi, cậu dùng lưỡi nếm thử và cảm nhận vị của muối. Tiếng sóng nghe gần sát vậy mà khi ngẩng đầu lên, cậu nhận ra biển xa hơn mình tưởng. Khoảnh khắc ý thức của cậu lần ra thân dưới đang được làm ấm lên từ dưới làn cát nóng, tim Mumei đã ngừng đập. Giữa hai đùi cậu đang thay đổi. Cậu đang trở thành con gái. Những hạt cát hình thành từ vỏ ốc dán chặt vào trán Suiren, chiếu sáng. Liệu Suiren vẫn là con gái? Hay là đã trở thành con trai? Cô có khuôn mặt nữ tính xinh đẹp, nhưng thời nay, con trai như vậy bao nhiêu cũng có. Suiren nhẹ nhướn mày và đôi môi, vẻ như rủ rê. Mumei định nhổm dậy để nhìn kỹ hơn đôi môi Suiren đang mấp máy phát ra những lời vô thanh, nhưng cơ thể cậu bị cát kéo trì lại, không cử động được. Cậu thử lắc hai vai qua lại để nhấc người dậy. Cậu thấy thân trên của Suiren đã ngồi thẳng dậy. Khuôn mặt ấy bao trùm bầu trời chỗ Mumei. Giữa hai mắt cách một khoảng xa. Mắt phải, mắt trái. Thấm vào và từ từ to lên. Thứ mà cậu thấy thành hai thật ra không phải đôi mắt mà là hai lá phổi. Không phải phổi mà là hạt đậu tầm khổng lồ. Không phải đậu mà là khuôn mặt người. Bên trái là mặt thầy Yonatani, bên phải là mặt Yoshiro. Khuôn mặt nào cũng đăm chiêu lo lắng. “Cháu không sao đâu, cháu đã mơ rất thú vị ạ” – Cậu định nói vậy nhưng lưỡi không cử động được. Ít nhất cũng phải nở nụ cười để hai người họ yên tâm. Còn đang nghĩ vậy thì bóng tối đeo găng tay vươn đến từ sau gáy, âm thầm túm lại bộ não của cậu, Mumei rơi xuống vực sâu của eo biển tối đen.

An Nhiên dịch

❀ ❀ ❀

[1] Chạy bộ. (Toàn bộ chú thích trong sách là của dịch giả và biên tập viên.)

[2] “Kake-ochi” có nghĩa là hai người yêu nhau dắt nhau chạy trốn.

[3] Một trong ba loại ký tự của chữ viết tiếng Nhật. Hai loại còn lại là Hiragana và Kanji (còn gọi là Hán tự).

[4] Tác giả chơi chữ, “Iwate Ma-de” vốn có nghĩa là “đến Iwate” thì ở đây lại được hiểu thành “được sản xuất tại Iwate”.

[5] “Chiếu” là đơn vị đo diện tích nhà ở của Nhật. Kích thước tiêu chuẩn của 1 chiếu là khoảng 9,1 x 18,2 cm.

[6] Lửng chó thuộc họ Chó, là loài đặc hữu của Nhật Bản.

[7] Tác giả nhắc đến truyện cổ tích Nhật Bản Kaguyahime (Nàng tiên ánh trăng) với nhân vật ông lão đốn củi phát hiện một bé gái nằm trong cây tre tỏa ra ánh sáng.

[8] Các âm đọc trong tiếng Nhật của các từ này gần với cách đọc các địa danh ở Đức là Hannover, Bremen, Rothenburg.

[9] Tác giả chơi chữ giữa hai từ đồng âm “kakemasu” nhưng khác nghĩa: “bị khuyết” và “viết được / có thể viết.”

[10] Tác giả chơi chữ giữa hai từ đồng âm “nyushi” nhưng khác nghĩa: “răng sữa” và “tuyển sinh”.

[11] “Khám bệnh” là “shindan”, “đã chết” là “shinda”.

[12] Do trong tiếng Nhật, các từ này đồng âm. “Số 9” và “khổ” đều đọc là “ku”, “số 4” và “chết” đều đọc là “shi”.

[13] Tỳ Linh Nhật Bản có hình dạng nửa giống dê nửa giống linh dương.

[14] Hildegard (1908 – 1179), hay được biết đến là Hildegard xứ Bingen, là tu viện trưởng người Đức dòng Benedicti.

[15] “Express (tàu nhanh)” và “Espresso (cà phê pha nhanh)” trong tiếng Nhật đều được viết bằng chữ Katakana, ký tự thường dùng để ghi phiên âm các từ có nguồn gốc nước ngoài.

[16] Chữ tiếng Nhật là “民なる (trở thành người dân)” và “Terminal (trạm / ga cuối)” của tiếng Anh, đều được đọc là “taminaru”.

[17] Trong tiếng Nhật, “Thổ Tá khuyển” và “Thổ Tá kiếm” đều cùng âm đọc là “Tosaken”.

[18] Thằn lằn cổ diềm hay còn gọi là thằn lằn xếp nếp, rồng mào, thuộc họ kỳ nhông, có phần da xếp nếp ở cổ, thường xù lên như cái dù để dọa kẻ thù.

[19] Ở đây tác giả chơi chữ “mặt trời 太陽” và “ruột 腸” đều có phần “dương 易” khi viết bằng chữ Kanji.

[20] Thời Showa (Chiêu Hòa) kéo dài từ năm 1926 đến năm 1989. Thời Heisei (Bình Thành) kéo dài từ năm 1989 đến năm 2019.

[21] Ở đây tác giả chơi chữ từ cách đọc theo âm tiếng Nhật của những chữ Hán “Ngự” = “O”, “Phụ” = “Fu”, “Khỏa” = “Ra”, “Dâm” = “In”, ghép lại thành “Ofurain” tức là “Offline” trong tiếng Anh.

[22] Ngôn ngữ chính của một phần dân số Philippines.

[23] Ngôn ngữ có nguồn gốc lịch sử của châu Phi, và là ngôn ngữ chính thức của 4 quốc gia gồm Tanzania, Kenya, Uganda và Congo.

[24] Tên cũ của Tokyo.

[25] Ở đây tác giả chơi chữ từ cách đọc “cleaning” trong tiếng Anh và “栗 人具” trong tiếng Nhật đều là “kuri-nin-gu”.

[26] Ở đây tác giả chơi chữ “okoshi” có nghĩa “hồi sinh” với tên tiệm bánh nổ lâu đời ở Tokyo là “Kaminari okoshi”, trong đó “kaminari” có nghĩa là “sấm sét”.

[27] Nguyên văn: 忘却草 (vong khước thảo). Tác giả chơi chữ về ý nghĩa tên hoa. Hoa vong khước thảo tức là hoa forget-me-not (xin đừng quên tôi, hay còn gọi là hoa lưu ly). Vong ở đây là vong ơn bội nghĩa.

[28] Tiếng Nhật là “tade tada de tabeta de”, có nghĩa “tôi đã ăn rau đắng miễn phí đấy”.

[29] Lối đánh bạc dùng cái mỏ cò quay trên một bảng số.

[30] Một loại hình quảng cáo di động truyền thống của Nhật. Ban nhạc múa hát, chơi nhạc cụ chủ yếu là trống, đi khắp đường phố để quảng cáo cho các cửa tiệm, v.v.

[31] Chữ Hán viết là 独 có bộ "khuyển (犬, con chó)” bên trái.

[32] Nấm khiêu vũ hay còn gọi là nấm Maitake, nấm gà mái sừng, là loại nấm được dùng nhiều ở Nhật Bản.

[33] Nhân vật con quỷ đối đầu với người thợ xây cầu trong truyện cổ của tỉnh Iwate.

[34] Tác giả mượn hình ảnh con cáo trong truyện ngụ ngôn Aesop không với tới chùm nho chín trên cây nên đành nói: “Nho còn xanh lắm”.

[35] Cấp bậc tiểu học ở Nhật có 6 năm.

[36] Trong tiếng Nhật, thứ trong tuần lần lượt được viết bằng chữ Hán như sau: Thứ Hai = 月 (nguyệt), thứ Ba = 火 (hỏa), thứ Tư = 水 (thủy), thứ Năm = 木 (mộc), thứ Sáu = 金 (kim), thứ Bảy = 土 (thổ), Chủ nhật = 日 (nhật).

[37] Thời Tenpo (Thiên Bảo) kéo dài từ năm 1831 đến năm 1845, thời Tenmei (Thiên Minh) kéo dài từ năm 1781 đến năm 1789.

[38] Ý nói Nhật Bản có hình dạng con cá ngựa.

[39] “Gờ-rin” là green: xanh lá cây, “cờ-lin” là clean: sạch.

Người dịch: Nguyễn Đỗ An Nhiên, Nguyễn Thị Ái Tiên
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.