Lại Thằng Nhóc Emil

Lượt đọc: 62 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thứ Bảy, ngày 28 tháng Bảy, ngày Emil trút bột nhão trộn tiết lên đầu bố và phải đẽo hình nhân bằng gỗ thứ 100

❊ ❊ ❊

Trong bếp của trang trại Katthult có một cái ghế thấp dài bằng gỗ, quét sơn xanh, mà cô Lina vẫn ngủ trên đó. Vào cái thời xảy ra tất cả những câu chuyện này, khắp vùng Smăland đầy những chiếc ghế dài kiểu đó, nơi các cô hầu gái trải những chiếc đệm sờn rách và nằm ngủ giữa những chú ruồi vo ve – vậy thì tại sao ở trang trại Katthult lại phải khác cơ chứ? Cô Lina ngủ ngon lành trên chiếc ghế dài kê trong bếp ấy, và trước bốn rưỡi sáng, là giờ đồng hồ báo thức đổ chuông và cô phải dậy đi vắt sữa bò, thì đố cái gì đánh thức nổi cô.

Cô Lina vừa đi khỏi thì bố Emil rón rén vào bếp, để được nhâm nhi tách cà phê sáng, trước khi Emil thức dậy. Bố thấy thật tuyệt vời khi được ngồi hoàn toàn một mình trên chiếc bàn gấp lớn, không phải thấy mặt thằng bé Emil ở bất kỳ đâu, chỉ nghe ngoài kia tiếng chim hót và tiếng lũ gà mái kêu cúc cúc, rồi vừa nhâm nhi cà phê vừa khẽ đu đưa người trên ghế, cảm nhận được sàn bếp dưới đôi bàn chân mà cô Lina đã kỳ cọ trắng tinh như tuyết. Không, sàn bếp mới là thứ mà cô Lina đã kỳ cọ, bạn phải hiểu như thế, chứ không phải đôi bàn chân của bố Emil, cho dù có khi lẽ ra nó cũng cần được kỳ cọ như thế – có trời biết! Sáng sớm bố Emil thường đi chân đất loanh quanh trong nhà, nhưng không phải chỉ vì ông thích thế.

– Như vậy cũng phần nào cũng tiết kiệm được giầy dép, – ông bảo mẹ Emil, người cứ ương bướng nhất định không bao giờ chịu đi chân đất. – Cứ xem cái cách mình mài mòn đôi giầy của mình, thì quả thật ……. quả thật là cứ mười năm lại phải sắm cho mình một đôi giày mới mất thôi.

– Vâng chính thế đấy, – mẹ Emil đáp, và họ không đả động tới chuyện đó nữa.

Vừa nãy tôi đã kể là không thể đánh thức cô Lina nếu không có chiếc đồng hồ báo thức. Nhưng một sáng nọ cô đã bị đánh thức bởi một thứ khác. Ấy là vào ngày 27 tháng Bảy, đúng vào ngày Emil bị sốt. Có thể hình dung chuyện kinh khủng này không – mới bốn giờ sáng cô Lina đã tỉnh giấc, vì một con chuột to tướng chạy đúng qua mặt cô. Cô Lina rú lên, bật dậy và vớ một thanh củi, nhưng con chuột đã lủi vào cái lỗ ở ngay cạnh hòm gỗ.

Bố Emil nổi đóa khi nghe chuyện con chuột.

– Chuyện hay ho gớm nhỉ! – ông nói. – Trong bếp có chuột! Chúng dám ăn hết bánh mì và thịt của nhà ta lắm.

– Ăn cả cháu nữa ấy chứ! – Cô Lina nói.

– Phải, rồi đến thịt và bánh mì của nhà ta, – bố Emil nói. – Đêm nay phải cho con mèo ở trong bếp thôi!

Emil nghe được chuyện con chuột, và mặc dù đang bị sốt, nó lập tức nghĩ xem làm cách nào để bắt được con chuột, nếu như con mèo không hoàn toàn phát huy được khả năng.

Đúng mười giờ tối ngày 27 tháng Bảy thì Emil đã hết hẳn sốt và tràn đầy sinh lực. Vào giờ này tất cả những người khác ở Katthult đều đã ngủ: bố Emil, mẹ Emil, bé Ida trong buồng ngủ cạnh bếp, cô Lina trên chiếc ghế dài trong bếp, chú Alfred trong lán đầy tớ cảnh xưởng mộc.

Lợn và gà thì ngủ trong chuồng lơn, chuồng gà, còn bò, ngựa, cừu ngủ ngoài trời trên bãi cỏ xanh. Riêng con mèo ngồi thức trong bếp và thấy nhớ kho thóc, nơi có nhiều chuột hơn.

Emil cũng thức. Nó rời khỏi chiếc giường trong phòng ngủ và nhón chân lẻn vào bếp.

– Con miu tội nghiệp, – nói nói khi thấy đôi mắt mèo lóe sáng bên cạnh cửa bếp, – mày ngồi đây à.

– Meo! – Con mèo đáp. Và vốn là đứa rất yêu các loài vật, Emil mở cửa thả ngay con mèo.

Tất nhiên con chuột phải bị bắt, Emil hiểu rõ như thế, nhưng vì con mèo không còn ngồi đây nữa nên phải tìm cách khác. Emil bèn lấy cái bẫy chuột ra, găm một miếng mỡ vào đó và đặt cái bẫy ngay cạnh chiếc hòm gỗ. Nhưng rồi nó suy tính lại. Nếu con chuột vừa thò mũi ra khỏi cái lỗ đã thấy ngay cái bẫy thì con chuột sẽ sinh nghi và sẽ không để mình bị sập bẫy nữa. Tốt hơn là, Emil nghĩ, nếu đầu tiên cứ để con chuột thoải mái loăng quăng trong bếp rồi bỗng đâu sa vào cái bẫy đặt ở chỗ nó không ngờ nhất. Emil cũng thoáng nghĩ đến chuyện đặt cái bẫy ngay trên mặt cô Lina, vì đấy là nơi con chuột thích lượn lờ nhất. Nhưng thằng bé lại sợ cô Lina thức giấc và làm hỏng việc. Không, phải tìm chỗ khác thôi. Mà tại sao lại không đặt bẫy ở dưới cái bàn gấp lớn nhỉ? Đấy chính là nơi con chuột cần chạy đến để tìm những mẩu vụn bánh mì rơi vãi từ trên bàn xuống. Tất nhiên không phải ở ngay dưới chỗ của bố rồi, ở đấy thì hiếm bánh vụn lắm.

Khiếp quá, – Emil chợt rùng mình dừng lại ở giữa bếp. – Ngộ nhỡ con chuột lại mò đến đúng chỗ đấy, rồi không tìm được vụn bánh nào, lại quay sang gặm ngón chân cái của bố thì chết.

Emil sẽ lo sao để chuyện đó không thể xảy ra. Thế nên nó đặt bẫy đúng chỗ bố hay để chân. Xong đâu đấy, nó lại bò về giường, vô cùng hài lòng với bản thân.

Mãi tới lúc trời sáng bạch Emil mới thức giấc. Tiếng la hét trong bếp đã đánh thức nó.

Mọi người thấy con chuột bị sập bẫy mừng quá có khác, hò la to thế, Emil nghĩ. Nhưng đúng lúc đó mẹ Emil lao vào phòng, lôi nó ra khỏi giường và thì thào vào tai nó:

– Nhanh, trốn ngay xuống xưởng mộc, trước khi bố gỡ được ngón chân cái ra khỏi cái bẫy chuột! Mau lên – nếu không mẹ e rằng giờ tận số của con đã điểm rồi đấy.

Mẹ dắt tay Emil kéo nó cùng chạy. Trên người thằng bé phong phanh độc chiếc áo ngủ, vì làm gì có thời gian mặc quần áo.

– Nhưng phải đem theo “sún” và “mú” của con cơ! – Emil la lên. Nó chộp lấy mũ và súng rồi cắm đầu chạy thẳng xuống xưởng mộc, chiếc áo ngủ bay phần phật.

Xưởng mộc là nơi Emil luôn phải ngồi chịu phạt sau mỗi trò tinh nghịch. Mẹ đóng chốt bên ngoài để Emil không ra được, còn Emil cài then bên trong để bố không vào được. Cả hai mẹ con đều khôn ngoan và biết lo xa.

Mẹ Emil cho rằng tốt nhất Emil không nên chạm mặt bố trong vài giờ nữa. Emil cũng nghĩ thế, bởi vậy nó mới cẩn thận cài then cửa, trước khi nó yên chí ngồi xuống cái thớt gỗ lớn và đẽo một hình nhân bằng gỗ. Nó luôn làm việc này mỗi khi bị nhốt vào xưởng mộc sau mỗi trò nghịch ngợm, và đã đẽo được cả thảy chín mươi bảy hình nhân. Đám hình nhân đứng dàn hàng ngay ngắn trên một cái giá, và Emil vui mừng mỗi khi ngắm nhìn chúng, nghĩ bụng mình sắp đẽo đủ một trăm hình nhân. Khi ấy nhất định phải ăn mừng thật to!

“Ngày đó mình sẽ mở tiệc trong xưởng mộc và chỉ mời một mình chú Alfred”, Alfred bụng bảo dạ khi ngồi trên thớt gõ với con dao gọt trên tay. Nó nghe tiếng bố quát lác từ xa, nhưng sau đó cứ nhỏ dần. Thay vào đó bỗng vang lên một tiếng kêu khác, chói tai hơn nhiều. Emil chột dạ, không hiểu mẹ bị sao. Nhưng rồi nó chợt nhớ hôm nay là ngày con lợn nái to bị chọc tiết. Chính con lợn đã kêu tiếng eng éc. Tội nghiệp con nái, với con lợn thì ngày 28 tháng Bảy này cũng chẳng vui vẻ gì! Té ra hôm nay có kha khá khá người không gặp may.

Quãng trưa thì Emil được thả, Nó vừa bước vào bếp thì Ida hớn hở chạy ra đón.

– Trưa hôm nay có bánh tiết cơ đấy! – Cô bé hớn hở khoe.

Có thể bạn không biết bánh tiết là gì chăng? Đó là những chiếc bánh tròn to màu đen, nhân thịt mỡ. Mà một khi trang trại Katthult mổ lợn thì đương nhiên là mẹ Emil sẽ làm bánh tiết rồi. Mẹ đã quấy bột trong một cái âu lớn và trên bếp nước bắt đầu sôi sùng sục trong một cái nồi sắt to tướng. Sắp sửa có bánh tiết ăn rồi, thật là sướng.

– Em sẽ ăn mười cái bánh tiết, – bé Ida khoe khoang, trong khi nó gầy như cái que và giỏi lắm cũng chỉ ăn hết được nửa cái bánh tiết.

– Đừng hòng bố cho ăn lắm thế, – Emil nói. – Thế bố đâu rồi.

– Bố đang nằm nghỉ ngoài kia, – bé Ida đáp.

Emil ngó qua cửa sổ bếp. Đúng vậy, bố nằm trên bãi cỏ, ngay dưới cửa sổ bếp, chiếc mũ cói che mặt và đang nghỉ trưa như thường lệ. Bình thường tất nhiên bố không nghỉ trưa trước mà sau bữa ăn, nhưng hôm nay chắc bố quá mệt – người ta có thể bị thế lắm, nếu người ta bắt đầu một ngày mới trong cái bẫy chuột.

Emil trông thấy bố chỉ đi một chiếc giầy bên chân phải. Thoạt đầu nó hy vọng bố quá ư tiết kiệm chỉ muốn dùng mòn từng chiếc giầy một.

Nhưng rồi Emil nhìn thấy cái băng đẫm đầy máu quấn quanh ngón cái chân trái bố, và hiểu ra rằng ngón chân đau khiến bố không thể xỏ giày được.

Emil thấy xấu hổ và ân hận vì cái trò bẫy chuột ngu ngốc của mình. Lúc này nó muốn làm bố vui trở lại, và bởi nó biết bố khoái món bánh tiết hơn hết thảy, nó bèn bưng âu bột lên, giơ ra ngoài cửa sổ.

– Bố xem này, – nó hoan hỉ reo to, – bữa trưa hôm nay có bánh tiết.

Bố nó nhấc chiếc mũ cói khỏi mặt, buồn bã ngước nhìn Emil. Có thể thấy bố chưa quên cái bẫy chuột. Và để lập công chuộc tội, Emil càng gắng sức hơn.

– Bố xem này, bao nhiêu là bột! – Nó reo và cố giơ cái âu ra xa nữa bên ngoài khung cửa sổ. Nhưng – người ta có thể tưởng tượng ra điều gì kinh khủng như thế này chăng? – Thằng bé không còn giữ nổi cái âu, và cả âu bột nhão trộn tiết rơi úp xuống, đúng vào chỗ bố Emil đang nằm ngửa mặt lên trời.

– Blupp, – bố chỉ kêu được có vậy. Vì khi bị bột nhão bịt kín mặt mũi như thế, thử hỏi ai còn nói năng gì được nữa. Nhưng rồi bố khó nhọc ngồi gượng dậy và cuối cùng cũng gầm lên được, thoạt đầu tiếng gầm bị bột nhão cản bớt, nhưng sau thì to đến nỗi cả làng Lönneberga nghe thấy. Cái âu úp trên đầu bố như chiếc mũ giáp của một tên cướp biển, và bột cứ thế cứ chảy lòng tòng theo người bố. Đúng lúc đó bà lão Krösa–Maja đi từ trong nhà giặt – nơi bà vừa rửa sạch chỗ lòng lợn – đi ra. Vừa trông thấy bố Emil đỏ lòe từ đầu xuống chân như thể tắm trong máu, bà rú lên còn chói tai hơn cả con lợn bị chọc tiết, rồi cắm đầu cắm cổ chạy với tin dữ khủng khiếp.

– Xong đời ông chủ ở Katthult rồi, – bà Krösa–Maja kêu lên. Cái thằng Emil tội nợ đã đánh bố nó đến xối cả máu ra. Ôi, ôi, ôi khiếp quá bà con ơi!

Khi trông thấy sự tình, mẹ Emil đã vội vã nắm tay nó lôi xuống xưởng mộc. Và trong khi Emil – vẫn chỉ mặc độc chiếc áo ngủ – ngồi đẽo hình nhân thứ chín mươi chín, thì mẹ nó tay năm tay mười gột rửa cho bố nó.

– Mình cũng phải khéo vét thế nào để chí ít cũng còn làm được dăm ba cái bánh chứ, – bố nói. Nhưng mẹ lắc đầu.

– Cái gì phí cũng đã phí rồi. Giờ em sẽ làm bánh khoai tây chiên.

– Hí hí, hôm nay nhà mình sẽ không còn bữa ăn trưa trước bữa ăn tối, – bé Ida nói. Nhưng rồi nó im bặt, vì chợt nhìn thấy cặp mắt rầu rĩ của bố giữa đám bột.

Mẹ Emil để cô Lina nạo khoai tây làm bột bánh khoai tây chiên. Có thể bạn không biết bánh khoai tây chiên là gì chăng? Đó là một loại bánh xếp làm bằng bột bạo từ khoai tây tươi, ngon hơn tên gọi của nó nhiều, tôi cam đoan với bạn đấy.

Chẳng mấy chốc cô Lina đã làm được kha khá thứ bột bánh màu vàng nâu, rất quánh và mịn đựng trong cái âu mà bố Emil ban nãy gỡ xuống khỏi đầu. Bố không muốn suốt ngày chạy quanh trong bộ dạng của một tên cướp biển. Khi đã được gột rửa tương đối sạch sẽ, bố ra đồng tranh thủ bắt tay vào thu hoạch lúa mạch đen trong khi chờ làm xong món bánh khoai tây chiên. Thế là mẹ thả Emil ra khỏi xưởng mộc.

Emil đã ngồi yên khá lâu. Giờ đây nó cảm thấy phải vận động.

– Chơi trò “Cù rốn–cù rốn!” đi, – nó rủ Ida, và bé Ida lập tức co cẳng chạy ngay.

“Cù rốn–cù rốn!” là một trò chơi Emil tự nghĩ ra. Trò chơi như sau: Bọn trẻ chạy thục mạng từ bếp ra hành lang, từ hành lang vào buồng ngủ, từ buồng ngủ vào bếp, rồi lại từ bếp ra hành lang, cứ thế chạy ù tai hết vòng này sang vòng khác. Nhưng Emil và bé Ida chạy ngược hướng nhau và mỗi khi chạm trán, chúng lại chọc ngón trỏ vào bụng nhau và kêu lên: “Cù rốn–cù rốn!” Vì thế mà trò chơi có cái tên này. Hai anh em Emil thấy trò “Cù rốn–cù rốn” vui nhộn kinh khủng.

Nhưng Emil đang lao ở vòng thứ tám mươi tám vào bếp thì gặp cô Lina đúng lúc cô đang bưng âu bột khoai tây sang lò để làm bánh. Vì Emil cũng muốn cô được vui một tý, nó bèn chọc ngay ngón tay vào bụng cô mà reo: “Cù rốn– cù rốn!” Lẽ ra nó không nên làm như thế. Nó vẫn biết cô Lina có máu buồn cơ mà.

– Kiiia! – Cô Lina rú lên và cong gập người như một con sâu. Rồi – có thể tưởng tượng chuyện nào kinh khủng tới mức này không? – Cái âu bay khỏi tay cô Lina. không ai biết sự thể đã diễn ra như thế nào. Chỉ biết là lúc ấy bố Emil, bụng đói cồn cào, vừa bước vào cửa bếp thì lĩnh trọn âu bột khoai tây nhão vào giữa mặt.

– Blupp, – bố lại kêu lên. Vì khi mặt bít đầy bột khoai tây nhão như thế, thử hỏi ai còn nói năng gì được nữa. Từ cảnh tượng này, về sau hai anh em Emil đã sáng tác hẳn một câu gần như thành ngữ.

“Blupp, bố kêu trong bột khoai tây nhão”, chúng thường vừa cười khúc khích vừa đọc hoặc : “Blupp, bố kêu trong bột trộn tiết nhão” – lúc này cũng đúng một trong hai tình huống.

Nhưng giờ đây Emil không còn thời gian để cười khúc khích, vì mẹ đã nắm tay nó lôi tuột xuống xưởng mộc. Emil còn nghe sau lưng tiếng gầm của bố, thoạt đầu tiếng gầm bị bột khoai tây nhão cản bớt, nhưng sau khi to đến nỗi cả làng Lönneberga đều nghe thấy.

Khi Emil ngồi trên cái thớt gỗ lớn trong xưởng mộc đẽo hình nhân thứ một trăm thì nó chẳng còn bụng dạ nào nghĩ đến chuyện ăn mừng nữa. Ngược lại, nó tức giận như một chú kiến lửa đang trở nên hung dữ. Trong một ngày mà bị nhốt đến ba lần trong xưởng mộc thì thật là quá lắm, nó nghĩ, – mà hơn nữa còn bất công.

– Đâu phải lỗi của mình, nếu bố chỗ nào cũng thò mặt tới, – Emil tức tối nói. – Ở cái trang trại này đến một cái bẫy chuột cũng không biết đặt vào đâu…. vừa đặt thì bố đã lò dò đến và thò ngay ngón chân cái vào. Mà tại sao bố cứ phải nhè đúng chỗ bột trộn tiết nhão với bột khoai tây nhão bay vèo vèo mà hứng mặt vào cho kỳ được!

Nhưng bây giờ tôi không đời nào muốn bạn nghĩ rằng Emil không yêu bố và bố thằng bé không yêu nó. Bình thường hai bố con họ vẫn yêu quý nhau, nhưng ngay cả những người yêu quý nhau cũng xung khắc, nếu xảy ra chuyện chẳng lành với cái bẫy chuột, hoặc với bột tiết hay bột khoai tây.

Thứ Bảy, ngày 28 tháng Bảy sắp kết thúc. Emil ngồi trong xưởng mộc, mỗi lúc càng thêm tức giận. Nó đâu có ngờ lễ ăn mừng con hình nhân gỗ thứ một trăm của nó lại ra nông nỗi này. Thứ nhất, giờ đang là tối thứ Bảy, thử hỏi nó làm sao mời được chú Alfred đến xưởng mộc đây? Tối thứ Bảy chú Alfred còn bận chuyện khác. Chú ngồi trên bậc thang ở lán đầy tớ, tán tỉnh cô Lina và chơi đàn phong cầm cho cô nghe. Không, quả là chú không có thời gian cho lễ ăn mừng của Emil.

Emil quăng con dao gọt gỗ đi. Đến chú Alfred nó cũng không có, nó hoàn toàn cô đơn, và nó chỉ thêm tức giận khi nghĩ đến cái cách mọi người cư xử với mình. Cái lối ở đâu mà lại bắt người ta suốt cả ngày thứ Bảy dài đằng đẵng cứ ngồi một chỗ trong chiếc áo ngủ – không cho người ta cả thời gian mặc quần áo nữa, lúc nào cũng phải chạy hộc tốc xốc gan đến xưởng mộc. Thế nhưng xem ra họ lại thích nhốt nó trong cái xưởng mộc này, những người lớn ở trang trại Katthult! Họ sẽ được toại nguyện!

Emil đấm tay cái rầm xuống cái bàn dùng để bào gỗ. Được, rồi họ sẽ toại nguyện! Và trong khoảnh khắc ấy Emil đã đưa ra một quyết định kinh khủng: nó sẽ sống nốt quãng đời còn lại trong xưởng mộc này. Chỉ trong chiếc áo ngủ phong phanh, chiếc “mú” đội đầu, cô đơn và bị mọi người ruồng bỏ – Emil sẽ ở lại đây, chừng nào nó còn sống trên trái đất này.

Hẳn cuối cùng mọi người sẽ hài lòng và không cần thiết phải tất tả ngược xuôi giữa nhà chính và xưởng mộc nữa, thằng bé nghĩ. Nhưng đừng hòng tìm cách vào xưởng mộc của mình – vô ích thôi! Nếu bố muốn bào các tấm ván, thì tốt hơn là bố cứ mặc chúng, khỏi bào làm gì, vì nếu có bào thì thể nào bố cũng lại bào bay ngón tay mất thôi. Mình chưa thấy ai hay bị đen đủi như bố.

Nhưng khi trời nhá nhem tối, mẹ của Emil đi xuống xưởng mộc và đẩy chốt cửa – tất nhiên là cái chốt bên ngoài. Bà kéo cánh cửa và nhận ra cửa bị cài then bên trong. Thế là bà mỉm cười dịu dàng và bảo:

– Con không việc gì phải sợ nữa. Emil bé bỏng! Bố đã đi nằm rồi. Bây giờ con có thể ra được rồi.

Nhưng từ trong xưởng mộc vọng ra một tiếng “Ha!” nghe rất đáng sợ.

– Sao con lại nói “Ha!”, – mẹ Emil hỏi. – Mở cửa và đi ra nào, Emil bé bỏng!

– Con sẽ không bao giờ ra khỏi đây nữa, – Emil trầm giọng nói. – Mẹ đừng tìm cách vào đây, nếu không con sẽ bắn!

Mẹ Emil nhìn đứa con trai bé bỏng đứng bên cửa sổ trong xưởng, tay lăm lăm khẩu súng. Thoạt đầu bà không muốn tin thằng bé nói nghiêm chỉnh, nhưng cuối cùng, khi hiểu ra là nó nói thật, bà vừa khóc vừa ù té chạy vào nhà đánh thức bố Emil.

– Emil ngồi trong xưởng mộc và không chịu ra nữa, – bà nói. – Chúng ta phải làm sao đây?

Bé Ida vừa thức giấc và lập tức khóc òa lên. Thế là tất cả chạy vội xuống xưởng mộc: bố Emil, mẹ Emil và cả Ida. Còn chú Alfred và cô Lina lúc đấy đang ngồi trên bậc thang ở lán đầy tớ tán tỉnh nhau đành phải dừng lại – khiến cô Lina rất cáu. Giờ đây mọi người đều phải giúp sức dỗ Emil ra.

– Nào nào! Nếu đói bụng, con sẽ phải ra thôi! – Bố Emil gọi.

– Ha! – Emil lại nói.

Bố không biết Emil có gì trong cái hộp để sau bàn bào. Trong hộp để toàn thức ăn dự trữ ngon lành, thật đấy! Vốn tinh khôn, Emil đã lo xa dự trữ thức ăn để không bị chết đói trong xưởng mộc. Nó đâu biết vào ngày nào, giờ nào sẽ bị tống vào đây, và vì vậy nó luôn trữ thứ gì ăn được trong cái hộp. Đúng lúc này trong hộp đang có bánh mì và phô mai, mấy miếng thịt nguội, và ngoài ra còn có những trái anh đào khô và nhiều bánh mì sấy. Những chiến binh ngày xưa thường giữ vững những thành trì bị bao vây của họ với ít lương thực hơn ý chứ. Với Emil, xưởng mộc giờ đây là một pháo đài bị bao vây, và nó quyết bảo vệ pháo đài này trước mọi kẻ thù.

Can đảm như một dũng tướng, nó đứng sát bên cửa sổ, chĩa súng ngắm:

– Kẻ nào tiến lại gần đầu tiên, ta sẽ bắn! – Nó thét.

– Ồ, Emil, con trai bé bỏng yêu quý của mẹ, đừng nói năng như thế, ra đi con trai, – mẹ Emil van vỉ. Nhưng không ăn thua, Emil cứng như đá. Dỗ ngọt như chú Alfred cũng chẳng nước non gì:

– Nghe này, Emil, ra đây rồi hai chú cháu mình ra hồ bơi nhé, chỉ chú cháu mình thôi!

– Không! – Emil thét lên quyết liệt. – Chú đi mà ngồi cầu thang với cô Lina, cháu cóc cần! Còn cháu, cháu cứ ở đây đấy.

Chẳng thay đổi được gì. Emil vẫn ở nguyên chỗ. Cuối cùng, khi thấy mọi cách – từ dọa nạt đến van xin – đều vô hiệu, bố mẹ và Ida đành đi ngủ.

Một tối thứ Bảy buồn, mẹ và bé Ida khóc như mưa. Bố thì thở dài thườn thượt khi bò lên giường, bố thấy nhớ cậu con trai bé bỏng bình thường vẫn nằm ngủ trên chiếc giường xinh xắn đằng kia với mái tóc tơ bồng bềnh xõa trên gối, “mú” và “sún” kè kè bên người.

Chỉ mỗi cô Lina chẳng nhớ gì Emil, cô cũng chưa muốn đi nằm. Cô chỉ muốn ngồi cùng chú Alfred trên bậc thang dẫn lên lán đầy tớ mà chẳng bị ai quấy rầy. Vì vậy cô rất hài lòng khi biết Emil đang giam mình trong xưởng mộc.

– Nhưng ai mà biết được thằng nhóc đáng nguyền rủa này thực sự ở trong đó bao lâu, – cô lẩm bẩm, rồi lặng lẽ đi đến xưởng mộc và lén cài cái chốt cửa ngoài.

Chú Alfred mải kéo đàn và hát, không nhận thấy hành vi xấu xa của cô Lina. “Các chiến binh từ chiến trường trở về trên lưng ngựa…..”, Emil nghe chú hát. Nó ngồi trên cái thớt gỗ và thở dài.

Nhưng cô Lina đã quàng tay bá cổ chú Alfred mà tỉ tê nũng nịu, như cô lúc nào cũng thế, và chú Alfred đáp lại bằng câu trả lời muôn thủa:

– Tất nhiên anh có thể cưới em, nếu em nhất định muốn thế, nhưng có vội gì đâu.

– Nhưng sang năm là phải cưới đấy, – cô Lina nói không khoan nhượng, và chú Alfred còn thở dài não ruột hơn cả Emil, rồi chú hát bài ca về Cô dâu sư tử Hà Đông. Emil cũng nghe chú hát, bụng nghĩ: giá được ra hồ bơi với chú Alfred cũng thích.

– Mà tội gì lại không nhỉ? – Nó tự nhủ. – Mình có thể dễ dàng đi bơi với chú Alfred. Sau đó nếu muốn, mình lại vẫn chui vào xưởng mộc của mình được mà.

Emil lao về phía cửa, rút cái then ra. Nhưng ích gì nữa, vì cái cô Lina đầy mưu mô ấy đã cài chốt bên ngoài mất rồi. Cánh cửa không chịu mở, cho dù Emil đã lấy hết sức húc vào đấy. Thế là nó hiểu. Nó biết ngay kẻ nào đã giam nó.

– Rồi cô ta sẽ thấy. – nó nói. – Cô ta sẽ thấy.

Emil ngó quanh trong tường lúc này đã khá tối. Lần nọ, sau khi gây ra một lỗi tồi tệ nhất, Emil đã từng thoát thân qua cửa sổ xưởng mộc. Nhưng sau đó bố đã đóng mấy thanh gỗ bắt chéo phía ngoài cửa sổ, để Emil không thể chui ra một lần nữa mà không bị rơi xuống đám lá han mọc bên dưới cửa sổ. Bố Emil thực sự lo lắng cho thằng con bé bỏng và không muốn nó bị bỏng lá han.

– Mình không ra được lối cửa sổ, – Emil nói, – lối cửa ra vào cũng không nốt. Kêu cứu thì mình thà chết còn hơn. Vậy mình ra cách nào được đây?

Nó tư lự nhìn về phía lò sưởi, nơi vẫn đốt lửa để sưởi ấm xưởng mộc trong mùa đông, và để bố Emil đun nóng keo dán.

– Chỉ còn cách chui qua ống khói, – Emil nghĩ và nhanh nhẹn trèo qua bệ lò sưởi, bước vào giữa đống tro than còn lại từ mùa đông năm ngoái, khiến những lớp tro mềm bám cả vào đôi chân trần của nó.

Thằng bé ngước nhìn lên theo đường ống khói và phát hiện ra một thứ rất hay. Trong cái lỗ phía trên, đúng đỉnh đầu nó, vầng trăng tháng Bảy đỏ ối đang ngó xuống Emil.

– Chào ông trăng, – Emil reo lên. – Giờ ông hãy xem một đứa biết trèo nhé !

Đoạn nó tỳ vào thành ống khói đầy muội than và trườn dần lên.

Nếu bạn đã từng thử trườn mình lên theo đường ống khói chật hẹp, hẳn bạn biết việc đó khó khăn nhường nào và khắp mình mẩy sẽ đen nhẻm ra sao. Nhưng bạn chớ nghĩ điều đó ngăn cản được Emil.

Lina, cô hầu gái đáng thương nhất đời, đang ngồi bên chú Alfred trên bậc thang, hai tay bá cổ người tình, mà không hề linh cảm điều gì. Nhưng Emil thề là cô ta sẽ thấy, và cô ta sắp thấy thật.

Bỗng Lina ngước mắt lên để ngắm trăng, và cô ta rú lên một tiếng làm kinh động cả làng Lönneberga.

– Ma! – Cô Lina rú lên. – Có con ma trên ống khói!

Trước kia dân làng Lönneberga rất sợ ma. Cô Lina cũng từng nghe câu chuyện rùng rợn của bà Krösa–Maja về tất cả những thứ ma quỷ mà người ta có thể bắt gặp, thế nên cô rú lên như hóa dại khi trông thấy một con ma ngồi thù lù trên miệng ống khói, mặt mũi đen sì, từ đầu xuống chân chỗ nào trông cũng nhọ nhem phát khiếp.

Chú Alfred cũng nhìn thấy con ma, nhưng chú chỉ cười.

– Ta nhận ra con ma nhỏ này, – chú nói. Xuống đi, Emil!

Emil nhỏm dậy trong chiếc áo ngủ đầy bồ hóng và đứng trên mái nhà, hiên ngang như một tổng tư lệnh. Nó giơ thẳng nắm đấm đen thui lên trời và thét to khắp làng Lönneberga đều nghe thấy:

– Tối nay xưởng mộc này sẽ bị phá tan hoang và ta sẽ không bao giờ ngồi trong ấy nữa!

Chú Alfred đi đến xưởng mộc, dang rộng hai cánh tay.

– Nhảy xuống nào, Emil! – Chú nói.

Thế là Emil nhảy. Đúng vào vòng tay của chú Alfred. Rồi hai chú cháu đi ra hồ bơi. Emil cần phải được tắm táp.

– Mình chưa từng thấy một thằng oắt nào như nó! – Cô Lina nói, rồi tức tối bỏ vào nhà đi nằm.

Trong khi dưới hồ của trang trại Katthult, giữa những bông hoa súng trắng, Emil và chú Alfred bơi lội thỏa thích trong làn nước mát. Trên trời, vầng trăng tháng Bảy như một chiếc đèn lồng treo lơ lửng đang tỏa sáng.

– Hai chú cháu mình, chú Alfred nhỉ, – Emil nói.

– Phải, hai chú cháu mình, Emil, – chú Alfred đáp. – Nhất định phải thế rồi!

Vắt ngang mặt hồ là một dải đường rộng lóng lánh bạc được tạo bởi ánh trăng, nhưng xung quanh hồ lại tối đen. Bởi đêm đã khuya, và ngày 28 tháng Bảy cũng đã hết.

Nhưng rồi sẽ đến ngày mới với trò nghịch ngợm mới. Mẹ của Emil ghi chép vào cuốn sổ xanh miệt mài tới mức mỏi cứng cả tay. Rốt cuộc cuốn vở đã được viết kín từ trang đầu tới trang cuối.

– Mình phải kiếm một cuốn vở mới, – mẹ Emil nói. – Đằng nào cũng sắp có chợ phiên hàng năm ở thị trấn Vimmerby, khi đến đó mình phải nhờ mua một cuốn vở mới được.

Và bà đã nhớ mua, may thế! Vì nếu không bà biết ghi chép vào đâu tất cả những trò quái quỷ mà Emil đã gây ra trong ngày có phiên chợ đó?

“Cầu Chúa phù hộ cho thằng bé,” bà viết. “Để thằng bé thành đạt, nếu nó còn sống tới lúc nó trưởng thành, cho dù bố nó không tin điều này.”

Thế nhưng ở đây bố Emil đã nhầm, còn mẹ lại có lý. Emil sau này đã rất thành đạt, trở thành chủ tịch hội đồng xã và là người đàn ông tốt nhất, giỏi giang nhất làng Lönneberga.

Nhưng bây giờ chúng ta hãy cứ xem xem chuyện gì đã xảy ra tại phiên chợ hàng năm ở thị trấn Vimmerby thời đó, khi Emil vẫn còn nhỏ. Đó là

NXB HỘI NHÀ VĂN Năm sản xuất: 2008 Đánh máy & sửa chính tả: nutuongcuop Chuyển sang ebook: nutuongcuop Ngày hoàn thành: 14/01/2009 http://www.thuvien–ebook.com
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.