Trong cái ngày thứ Tư cuối cùng của tháng Mười, thị trấn Vimmerby mở chợ phiên hàng năm và cứ chộn rộn từ sáng sớm tinh mơ tới tối mịt, tôi cam đoan thế. Tất cả dân làng Lönneberga và cư dân từ các vùng khác đều lũ lượt kéo đến đây để mua bán bò cày, bò sữa, để đổi ngựa, để gặp gỡ nhau, để kiếm chồng, để mút đường thanh, để nhảy điệu Polka, để đánh lộn và để mua vui….. Tóm lại mỗi người mỗi kiểu.
Có lần mẹ hỏi cô Lina xem cô có thể kể các ngày lễ lớn trong năm không, vì mẹ muốn thử trí khôn của cô Lina.
– Có chứ ạ, lễ Giáng sinh này, lễ Phục sinh này, rồi cả chợ phiên hàng năm của Vimmerby nữa, là cháu nghĩ thế!
Giờ thì bạn hiểu vì sao ngày 31 tháng Mười ai ai cũng muốn đến Vimmerby rồi nhé! Mới năm giờ sáng, khi trời vẫn còn tối mịt, chú Alfred đã thắng hai con ngựa Markus và Julla vào cỗ xe lớn và thế là tất cả dân cư của trang trại Katthult lên đường: bố Emil, mẹ Emil, chú Alfred, cô Lina, Emil và bé Ida. Riêng bà Krösa–Maja phải ở nhà chăm lo cho bày gia súc.
– Krösa–Maja đáng thương, bà không muốn cùng đi chợ phiên sao? – Chú Alfred, một tâm hồn nhân hậu hỏi.
– Ta có điên đâu,– bà Krösa–Maja đáp. – Đúng vào hôm nay, ngày thiên thạch khổng lồ rớt xuống đấy ư! Ồ không, xin đa tạ! Ta muốn được chết ở làng Lönneberga, nơi ta sống.
Chuyện là thế này: Người dân ở Smăland đang chờ đợi một thiên thạch lớn sẽ đến vào giờ tờ “Bưu điện Vimmerby” loan tin rằng đúng vào ngày 31 tháng Mười thiên thạch này sẽ bay với tốc độ điên cuồng và có thể va vào trái đất khiến trái đất tan thành ngàn mảnh.
Chắc bạn không biết thiên thạch là gì, tôi cũng hầu như không biết, nhưng tôi nghĩ đó là một mẩu của vì sao bị tách ra và rơi xuống, rồi cứ thế bay lang thang trong vũ trụ. Mọi người dân vùng Smăland đều hãi hùng trước một thiên thạch có thể bất ngờ đập vỡ tan tành cả trái đất, và chấm dứt mọi điều tốt đẹp trên đời.
– Rõ là cái thiên thạch chết tiệt đã nhè đúng ngày chợ phiên ở Vimmerby mà đến, – cô Lina tức giận nói. – Nhưng thây kệ, biết đâu mãi chiều tối nó mới tới, khi ấy thì mình cũng chơi gần hết phiên chợ rồi.
Cô Lina cười ranh mãnh và huých cái cùi chỏ vào người chú Alfred đang ngồi cạnh cô trên băng ghế sau. Cô chờ đợi rất nhiều ở ngày hôm nay.
Phía trước là mẹ ngồi ôm bé Ida trong lòng và bố ngồi ôm Emil trong lòng. Thử đoán xem ai là người đánh xe nào? Tất nhiên là Emil rồi. Tôi quên không kể Emil là một xà ích giỏi như thế nào. Từ nhỏ Emil đã được chú Alfred dậy cho tất cả những điều cần biết về ngựa, rốt cuộc nó thạo về ngựa hơn bất kỳ ai trong làng Lönneberga và điều khiển ngựa còn tài tình hơn cả chú Alfred. Lúc ấy nó đang ngồi trong lòng bố và đánh xe như một xà ích thiện nghệ nhất, – phải, thằng nhóc biết phải cầm cương ra sao!
Đêm qua trời mưa, thành thử vào buổi sáng tháng Mười u ám này, bóng tối và sương mù như một tấm chăn phủ lên làng Lönneberga và khắp vùng Smăland. Khi chiếc xe ngựa chở người của trang trại Katthult đi qua, phía trên các ngọn cây trời vẫn chưa hửng sáng, còn rừng hai bên thì tối đen và ẩm ướt. Dẫu vậy ai nấy đều hớn hở và cả con Markus lần con Julla đều đi nước kiệu khiến bùn nhão trên con đường lầy lội bắn tung tóe dưới móng của chúng.
Con Julla chắc chắn không phấn khởi cho lắm. Nó đã già yếu, và chỉ thích nhất là được đứng trong chuồng ở nhà. Từ lâu Emil đã tỉ tê vào tai bố là bố hãy mua một con ngựa non, đủ trẻ đủ khỏe để chạy cùng con Markus. Bây giờ sẽ là cơ hội tốt nhất để làm việc đó, vì cả nhà sẽ đến chợ phiên, Emil nói.
Nhưng bố lại bảo:
– Dễ con tưởng nhà ta dư tiền để sắm tất tần tật mọi cái và mua thêm thứ nọ thứ kia hay sao? Không, không, con ngựa già Julla sẽ phải chạy thêm vài năm nữa. Chẳng ích gì đâu.
Và con Julla cùng chạy, chắc chắn rồi. Con ngựa can đảm chạy trên những triền dốc, còn Emil, vốn quý mến Julla, bèn hát cho Julla nghe như nó thường hát mỗi khi muốn động viên con ngựa già:
Con ngựa của tớ chẳng phi như gió.
Rệu rã rồi, chân cẳng nó.
Có hề chi?
Cõng tớ, nó vẫn đang hoàng phi,
tuy nước kiệu hơi chậm tí ti,
trên những con đường phẳng lỳ.
Đến Vimmerby, việc đầu tiên của những người trang trại Katthult là tìm một chỗ tốt cho hai con ngựa, không xa khu chợ súc vật là bao. Sau đó mỗi người đều muốn lo việc của mình. Mẹ Emil, cô bé Ida bám váy theo sau, tính sẽ tìm mua một cuốn vở màu xanh. Ngoài ra bà định bán tại chợ chỗ len và trứng mang theo. Cô Lina muốn cùng chú Alfred vào một tiệm bánh ngọt để cùng uống cà phê, và quả nhiên cô đã lôi được chú đi, mặc dù thoạt đầu chú cứ giằng ra, cố thoát khỏi cô, vì chú muốn cùng hai bố con Emil đến khu chợ súc vật.
Nếu bạn đã từng tham dự phiên chợ hàng năm ở Vimmerby, thì bạn sẽ biết thế nào là khu chợ súc vật, nơi người ta mua bán bò ngựa. Vào giờ này khu chợ ấy đã rộn rã, tấp nập lắm. Emil chỉ muốn đến đó luôn, và bố không phản đối việc đi cùng nó, mặc dù bố chẳng định bụng mua gì, chỉ muốn xem cho biết thôi.
– Nhưng phải nhớ đúng mười hai giờ trưa nay chúng ta được mời dùng bữa trưa tại nhà bà Petrell đấy nhé! – Mẹ Emil dặn trước khi mất hút cùng bé Ida.
– Mình khỏi lo, tôi mà quên được một việc như thế sao, – bố Emil đáp, rồi bố cùng đi với Emil.
Có mặt ở chợ súc vật chưa đầy năm phút, Emil đã trông thấy con ngựa. Con ngựa mà nó muốn có, con ngựa đã khiến tim nó đập loạn xạ chưa từng thấy. Ngựa thế mới là ngựa! Đó là một con ngựa nhỏ ba tuổi, màu nâu, đẹp tuyệt vời. Bị cột vào hàng rào, con ngựa đứng nhìn Emil rất dịu dàng, như thể hy vọng cậu bé rồi sẽ mua mình. Emil muốn mua, ồ, nó mới thèm mua con ngựa làm sao! Nó quay người ngó tìm bố: bây giờ nó sẽ bắt đầu nũng nịu kỳ kèo bố dai như đỉa, cho tới lúc bố đành mua con ngựa, để chấm dứt màn mè nheo của nó. Nhưng có ai ngờ nổi nỗi bất hạnh này không: bố đã biến mất! Bố chuồn đi thật đúng lúc, lẩn vào đám đông nông dân nhốn nháo đang gọi nhau í ới và cười nói bô bô, đám ngựa vừa hí vừa giậm chân thình thịch và đám bò cái bò đực thi nhau kêu ầm ĩ.
Bao giờ cũng thế, Emil chua chát nghĩ: Không tài nào rủ bố đi đâu được. Việc đầu tiên là bố tình đường chuồn mất.
Mà lại đúng vào lúc đang vội. Kìa một gã lái ngựa to kềnh càng người vùng Målilla đi tới và ngắm nghía con ngựa của Emil.
– Con này giá bao nhiêu? – Gã kia hỏi bác nông dân đang muốn bán con ngựa. Đó là một người xanh xao bé nhỏ đến từ Tuna.
– Ba trăm đồng ạ, – bác nông dân vùng Tuma đáp, còn Emil thấy tim nhói đau khi nghe câu trả lời. Moi được ba trăm đồng từ bố cũng khó ngang việc khoét được số tiền ấy từ một tảng đá, nó biết thế.
Nhưng mình vẫn cứ thử xem, Emil nghĩ. Thì nó vốn là thằng bé ương ngạnh nhất làng Lönneberga, thậm chí nhất vùng Smăland mà. Thế là nó lao người chạy như bay qua đám đông để tìm bố thật nhanh. Nó sục sạo chỗ này, chỗ khác, mỗi lúc một nôn nóng. Thấy bất kỳ bác nông dân nào nó cũng lôi tay kéo áo, vì cứ ngỡ là bố mình – trông đằng sau họ giống bố lắm. Nhưng lần nào quay lại cũng là một bác nông dân lạ hoắc, hoặc người làng Söedravi hoặc người làng Locknevi, chứ chẳng có ai là Anton Svensson đến từ trang trại Katthult làng Lönneberga cả.
Bạn chớ tưởng Emil sẽ chịu bó tay! Trên chợ súc vật có một cột cờ nhỏ, thoắt cái Emil đã leo lên đến đỉnh cột để ai ai cũng trông thấy nó, và lấy hết sức gào to:
– Mọi người ơi, mọi người ơi, có ai biết thằng bé ở trên này không ạ? Bố nó chạy đâu mất rồi ấy ạ!
Và nó thấy có chuyện gì đó đang xảy ra trong đám đông hỗn độn những nông dân, bò và ngựa bên dưới. Lập tức đám đông rẽ ra và ai đó đang phi nước đại tới chân cột cờ. Còn ai khác ngoài bố của Emil.
Bố Anton Svensson lay cột chờ cho thằng con phải xuống như người ta rung cây táo cho trái táo chín rụng vậy, đoạn bố véo tai Emil kéo đi.
– Cái thằng nhóc hư đốn này, – bố mắng. – Con đã ở đâu vậy hả? Sao lúc nào việc đầu tiên con làm cũng là chuồn mất thế hả?
Emil không có thời gian trả lời bố.
– Bố lại đây, – nó nói, – có một con ngựa mà nhất định bố phải trông thấy!
Phải, chắc chắn bố Emil trông thấy con ngựa, nhưng con ngựa đã bị bán! Có thể nào tưởng tượng một chuyện kinh khủng như thế chăng? Emil và bố đến vừa đúng lúc gã lái ngựa người vùng Målilla rút ví ba trăm đồng dúi vào tay bác nông dân vùng Tuna.
Thế là Emil òa khóc.
– Con ngựa này xem ra rất thân thiện, đúng không? – Gã lái ngựa hỏi.
– Thân thiện lắm ấy chứ ạ, – bác nông dân đáp. Nhưng khi nói thế, bác ta lại nhìn tránh sang bên, trông như thể đang suy tính chuyện gì.
– Tôi thấy nó vẫn chưa có móng sắt, – gã lái ngựa nói. – Tôi phải cho đóng móng xong trước khi đưa nó về nhà.
Emil cứ đứng đó mà khóc khiến bố nó mủi lòng.
– Thôi đừng khóc nữa, Emil, – bố nói, đoạn gật đầu vẻ quyết đoán. – Chúng ta sẽ mua hẳn một túi đường thanh, đắt mấy cũng mua!
Bố Emil dắt Emil vào chợ, nơi những bà bán kẹo ngồi trong quầy kẹo của họ, và mua cho Emil mười xu đường thanh có hình kẻ sọc. Nhưng rồi bố nó gặp một bác nông dân cùng làng và mải trò chuyện với bác này đến nỗi quên cả Emil. Thằng bé đứng đấy, mồn đầy đường thanh, mắt đẫm lệ, bụng nghĩ đến con ngựa. Bỗng nó trông thấy chú Alfred. Cô Lina theo sau chú. Trông chú thật mệt mỏi, chú Alfred đáng thương, và điều đó chẳng có gì lạ, vì cô Lina đã mười bảy lần dắt chú chú đi qua đi lại trước tiệm vàng và lần nào cũng tìm cách lôi chú vào để bắt chú mua nhẫn đính hôn cho cô.
– Nếu chú không ghì cả hai chân cự lại, thì ai mà biết kết cục sẽ thế nào, – chú Alfred sung sướng nói. Tất nhiên chú rất vui khi trông thấy Emil. Emil vội kể cho chú về con ngựa và cả hai chú cháu cùng đứng đấy mà thở dài vì nỗi con ngựa sẽ chẳng khi nào về trang trại Katthult. Sau đó chú Alfred mua từ bác thợ gốm đang rao bán hàng giữa chợ một con chim cúc cu bằng gốm cho Emil.
– Đây là quà chợ phiên của chú tặng cháu, – chú Alfred nói và lập tức Emil cảm thấy sâu trong lòng nó, nơi mọi thứ đều ảm đạm, bỗng như tươi sáng hơn.
– Thế đấy, cái còi chim cu thì anh mua được, – cô Lina dằn dỗi. –Mà này, khi nào thì cái thiên thạch đó rơi xuống đây? Theo tôi thì bây giờ nó rơi xuống được rồi đấy.
Nhưng chẳng thấy thiên thạch nào cả. Mà cũng mới gần mười hai giờ trưa, thiên thạch việc gì phải vội. Lúc này chú Alfred và cô Lina phải đi xem xét hai con ngựa Markus và Julla thế nào và ăn chút gì đó, họ để một giỏ thức ăn dưới ghế trong xe ngựa. Emil rất muốn đi cùng họ, nhưng nó biết đúng mười hai giờ trưa phải ăn trưa nhà bà Petrell, vì vậy nó quay sang bố. Và – bạn tin tôi hay không thì tùy – bố nó lại biến mất! Bố chuồn thật đúng lúc, lẩn vào đám đông hỗn độn trên quảng trường chợ, giữa bát nháo dân chợ, những bà bán kẹo, những ông thợ gốm, những chú đan sọt, những cô bện sợi, những bác bán bóng bay và ti tỉ những người đi chợ khác.
– Không thể tin được cái ngữ ấy sao mà giỏi biến thế, – Emil nói. – Lần sau mà mình vào thị trấn, sẽ bắt bố ngồi nhà. Vì mình không chấp nhận được nữa.
Emil không chịu bỏ cuộc chỉ vì bố nó đã biến mất. Trước kia nó đã từng vào thị trấn và biết đại khái chỗ ở của bà Petrell. Bà ấy ở đâu đó gần phố chính, trong một ngôi nhà đỏm dáng quét vôi trắng, có sân thượng lồng kính.
Gì mà không tìm được tới đó, Emil nghĩ.
Bà Petrell là một trong những quý bà sang trọng nhất vùng Vimmerby. Việc bà ấy mời những người trong trang trại Katthult tới dùng cơm trưa cũng đã là lạ. Tôi không thể nghĩ bà làm thế chỉ vì món xúc xích ngon lành mà lần nào mẹ Emil cũng mang theo biếu bà – làm gì có ai mê xúc xích đến mức ấy. Không, mà là vì bà Petrell thích tham dự mọi bữa tiệc ở trang trại Katthult, nào là tiệc anh đào, tiệc cua, tiệc bánh ngọt và tất cả những bữa liên hoan khác có món xúc xích, món sườn rán, thịt bê cuốn, thịt băm viên, trứng ốp la, lươn nấu đông và cơ man những món ngon khác nữa. Xét cho cùng không thể cứ đi ăn tiệc triền miên nhà người ta mà không mời lại lấy một lần, bà Petrell nghĩ thế. Cũng phải có đi có lại một chút chứ, bà tự nhủ, và bởi thế bà tranh thủ ngày chợ phiên, ngày mà đằng nào nhà Svensson cũng đến thị trấn để mời họ đến dùng bữa trưa lúc mười hai giờ. Họ sẽ dùng món chè cá và món súp dâu tím hâm nóng, bà tính thế. Riêng bà, từ quãng mười một giờ trưa bà đã dùng cơm trước với mỗi một mẩu nhỏ thịt thăn bê và một miếng to bánh hạnh nhân, vì món chè cá còn hơi ít. Trông sẽ kỳ cục lắm, nếu chính bà lại ngồi đấy mà múc lấy múc để món chè cá, trong khi khách ăn không đủ no! Không, bà Petrell không đời nào làm thế.
Lúc này họ đã ngồi trên bàn ăn trên sân thượng, bố Emil, mẹ Emil và bé Ida.
– Cái thằng quỷ này nữa, giữ một túi bọ chét còn dễ hơn giữ chân nó. Bọ chét cũng không biến nhanh như nó – bố Emil phàn nàn.
Ấy là bố đang nói về Emil.
Mẹ Emil chỉ muốn chạy ngay đi tìm con trai bé bỏng của bà, mặc dù bố cam đoan rằng bố đã tìm nó khắp nơi khắp chốn.
Nhưng bà Petrell bảo:
– Cứ như tôi biết thì thằng bé sẽ tự tìm đến đây được.
Bà Petrell nói không sai. Chả là đúng lúc ấy Emil đang trên đường đi vào cổng vườn nhà bà. Nhưng nó bỗng thấy một thứ níu chân nó lại. Ông thị trưởng Vimmerby ở ngay cạnh bà Petrell, trong một ngôi nhà đẹp có vườn bao quanh. Trong vườn, giữa những cây táo là một thằng bé đang đi lò dò trên đôi cà kheo lênh khênh. Đó là Gottfried, cậu con trai nhỏ của ông thị trưởng. Nó phát hiện ra Emil và lập tức ngã cắm đầu xuống bụi tử đinh hương. Nếu bạn đã từng đi thử trên đôi cà kheo, bạn sẽ hiểu vì sao. Thật không dễ giữ được thăng bằng trên hai thanh cọc dài mà trên mỗi thanh cọc chỉ nhô ra một mẩu gỗ nhỏ vừa để bạn đặt chân lên. Gottfried nhanh chóng thò mũi ra khỏi bụi cây và thích thú nhìn Emil. Hai thằng nhóc cùng một guộc chỉ mới lần đầu gặp nhau mắt đã lập tức sáng lên. Gottfried và Emil nhìn nhau cười.
– Tớ cũng rất muốn có một cái “mú” như của cậu. – Gottfried nói. – Cho tớ mượn nhé!
– Không được. – Emil đáp. – Nhưng đổi lại cậu có thể cho tớ mượn đôi cà kheo của cậu.
Gottfried thấy đây là một cuộc đổi chác ngon lành.
– Nhưng tớ không tin là cậu dùng được chúng. – nó nói. – Vì khó lắm đấy.
– Để rồi xem. – Emil đáp.
Emil hiếu động hơn là Gottfried tưởng. Loáng cái nó đã lênh khênh trên đôi cà kheo và bước những bước dặt dẹo hối hả giữa những cây táo. Nó đã quên phéng bữa ăn trưa ở nhà bà Petrell.
Trong khi ấy bố mẹ Emil và bé Ida ngồi trên sân thượng bịt kín nuốt món chè cá. Chẳng mấy mà hết, nên họ quay ra món súp dâu tím. Món này thì nhiều, cả một liễn tướng đầy phè đặt thù lù giữa bàn.
– Ăn đi thôi, – bà Petrell mời. – Tôi hy vọng cả nhà ngon miệng.
Chính bà lại không thấy món súp dâu có gì ngon, nên chẳng hề động đến. Bù lại bà lại lắm lời hơn. Bà nói về cái thiên thạch khổng lồ nọ, vì nó chính là chủ đề câu chuyện của tất cả mọi người ở thị trấn Vimmerby ngày hôm nay.
– Sẽ là quá ư khủng kiếp, nếu một thiên thạch có thể kết liễu tất cả, – bà nói.
– Vâng, ai mà biết được, có khi món súp dâu tím này là món ăn cuối cùng trong đời chúng ta, – mẹ Emil nói, thế là bố Emil vội chìa cái đĩa của mình ra.
– Cho tôi xin thêm chút nữa được không? – ông hỏi. – Đề phòng mọi bất chắc mà.
Nhưng bà Petrell chưa kịp múc đầy súp vào đĩa thì đã xảy ra một chuyện kinh khủng, một tiếng choang, một tiếng rú, rồi từ phía sau bà Petrell một vật gì bay vèo qua khung cửa sổ lớn, rồi bỗng nhiên nào mảnh thủy tinh nào súp dâu tím văng loạn xạ trên khắp sân thượng.
– Thiên thạch! – Bà Petrell kêu thét lên và – “Phịch” bà ta ngã lăn ra sàn bất tỉnh.
Nhưng đó không phải là thiên thạch, chỉ là thằng nhóc Emil đã như là một viên đạn đại bác xuyên qua kính cửa sổ, đầu cắm thẳng vào liễn súp khiếp súp bắn ra tung tóe.
Ôi trời, thế là trên sân thượng bịt kính loạn xị ngầu cả lên. Mẹ la hét, bố quát tháo còn bé Ida thì khóc. Có mỗi bà Petrell tỏ thái độ hoàn toàn im lặng, thì bà đang nằm bất tỉnh dưới sàn mà.
– Chạy xuống bếp mau! Lấy nước lạnh lại đây! – Bố Emil hét. – Phải đắp nước lạnh lên trán bà ấy!
Thế là mẹ Emil co cẳng chạy hết tốc lực, bố cũng vừa chạy theo vừa đẩy lưng mẹ, vì bố muốn mẹ chạy nhanh nữa.
Emil từ từ ngóc khuôn mặt bê bết dâu tím lên khỏi liễn súp.
– Sao lúc nào muốn ăn anh cứ vội vội vàng vàng thế? – Bé Ida hỏi đầy trách móc.
Emil không trả lời.
– Gottfried nói thế mà đúng, – nó nói. – Không thể đi cà kheo mà trèo qua hàng rào được. Ít nhất điều đó đã được chứng minh.
Đoạn nó trông thấy bà Petrell tội nghiệp nằm bất động dưới sàn nhà và thấy thương bà.
– Có lấy nước lên thôi mà cũng lâu đến thế sao? – Nó nói. – Phải cấp cứu nhanh, thật nhanh vào chứ!
Emil không quá khó tính. Nó nhanh tay bưng ngay liễn súp dâu tím và hắt hết phần súp còn lại vào chính giữa mặt bà Petrell. Mặc bạn có tin tôi hay không, – cách này đúng là hiệu nghiệm.
– Blupp, – bà Petrell nói và nhanh như chớp đứng phắt dậy. Có thể thấy ích lợi của việc nấu nhiều súp dâu tím, nó đủ dùng trong trường hợp xảy ra tai nạn.
– Con đã chữa khỏi cho bác ấy rồi! – Emil tự hào khoe, khi bố mẹ nó cuối cùng cũng mang được nước từ nhà bếp lên.
Bố Emil nhìn nó hằm hằm và bảo:
– Bố biết khi chúng ta về đến nhà, có kẻ sẽ được chữa khỏi trong xưởng mộc.
Đầu óc bà Petrell vẫn còn rối tinh. Mặt mũi bà nhoe nhoét tím chẳng kém gì Emil. Nhưng mẹ Emil, vốn nhanh nhẹn khéo léo, đã đặt bà Petrell nằm trên ghế sô pha rồi cầm một cái bàn chải to bản.
– Phải làm vệ sinh chỗ này mới được, – mẹ tuyên bố rồi bắt đầu cọ, đầu tiên là bà Petrell, sau đến lượt Emil, rồi tới sàn sân thượng. Chẳng mấy chốc đã chẳng còn chút dấu vết nào của món súp dâu tím – trừ một tí tẹo súp còn đọng lại bên tai của Emil. Mẹ còn quét những mảnh kính vỡ vụn thành đống, trong khi bố chạy đến ông hàng kính cắt một miếng kính mới đem về lắp đền vào chỗ kính vỡ. Emil mon men định giúp, nhưng bố không cho nó lại gần kính cửa sổ.
– Tránh xa ra! – Bố rít lên. – Biến ra ngoài kia và đừng có quay trở vào trước khi chúng ta ra về.
Emil không phản đối việc phải biến ra ngoài. Nó đang muốn tán chuyện với Gottfried thêm tí nữa. Nhưng nó đói. Nó chẳng có gì trong bụng ngoài một ngụm nhỏ súp dâu tím mà nó nuốt phải khi cắm đầu vào cái liễn.
– Trong nhà cậu có gì ăn được không? – Nó hỏi cậu bé Gottfried nãy giờ vẫn đứng sau hàng rào.
– Chà, tớ nghĩ là có đấy, – Gottfried đáp. – Hôm nay bố tớ tròn năm mươi tuổi nên nhà tớ sẽ liên hoan to. Thức ăn nhiều đến nỗi các cánh cửa kho căng phồng lên ấy chứ.
– Tốt, – Emil nói. – Có lẽ tớ có thể nếm một chút xem đã vừa muối chưa.
Gottfried chẳng nghĩ ngợi lâu. Nó vào bếp nhà ông thị trưởng lấy ra một đĩa đầy ụ toàn là món ngon: xúc xích này, thịt băm viên này, cả pate gan nữa, mỗi thứ một ít. Thế là Gottfried và Emil – mỗi đứa đứng một bên hàng rào – ngon lành chén hết đĩa thức ăn. Emil sung sướng mãn nguyện lắm.
Cho tới khi Gottfried bảo:
– Tối nay chúng tớ sẽ có một cuộc đốt pháo hoa lớn chưa từng thấy ở Vimmerby!
Emil tội nghiệp cả đời đã được xem đốt pháo hoa bao giờ đâu – dân làng Lönneberga chẳng dư tiền cho những trò điên rồ như thế – cho nên giờ đây thằng bé bực mình vì nỗi ở đây sẽ có một đêm pháo hoa cực kỳ hoành tráng mà nó lại chẳng được xem, bởi trước lúc trời tối cả nhà nó đã phải lên đường trở về trang trại Katthult rồi.
Emil thở dài. Nghĩ cho kỹ thì đây là một ngày chợ phiên buồn thảm. Không ngựa, không pháo hoa, chỉ toàn chuyện bực mình và cả một xưởng mộc còn đang chờ đợi ai đó ở nhà. Đấy, tất cả chỉ có thế.
Emil rầu rĩ chào từ biệt Gottfried, và lên đường tìm chú Alfred, người bạn của nó, niềm an ủi của nó những lúc nó buồn.
Nhưng chú Alfred đâu nhỉ? Đường phố đông nghẹt những người, những bác nông dân đi chợ, và cư dân của thị trấn Vimmerby, cứ tán loạn hết cả lên. Gặp được chú Alfred giữa đám đông bát nháo này không phải là chuyện dễ nhất. Emil chạy loanh quanh tìm kiếm cả tiếng đồng hồ và kịp gây khá nhiều rắc rối, những rắc rối không bao giờ được ghi vào cuốn sổ xanh do không ai phát hiện ra. Nhưng chú Alfred thì nó không tìm thấy.
Ngày tháng Mười chưa cười đã tối. Mấy chốc nữa mà trời nhập nhoạng, mấy chốc nữa mà chợ phiên năm nay kết thúc. Khách đi chợ đã nghĩ đến chuyện lên xe ra về, và thật ra người dân thị trấn Vimmerby cũng đã đến lúc rục rịch chuẩn bị về nhà được rồi, nhưng họ chưa muốn. Họ vẫn muốn nán lại ngoài đường mà cười, mà tán gẫu, mà làm ầm ĩ phố xá. Tất cả bọn họ đều có vẻ phấn khích lạ thường – đúng vậy, nhưng hãy xem hôm nay là một ngày thế nào chứ! Nào phiên chợ một năm mới có một lần, nào sinh nhật ông thị trưởng, rồi biết đâu lại là ngày tận thế nếu mảnh thiên thạch ấy lại vù vù lao tới thật. Chắc bạn sẽ hiểu cảm giác của người dân Vimmerby khi họ cứ đi loanh quanh dưới trời chiều chạng vạng và chờ đợi mà chẳng biết thứ họ chờ đợi sẽ vui hay khủng khiếp nữa. Khi con người ta cùng lúc vừa hân hoan lại vừa sợ hãi thì họ sẽ gây ồn ào hơn bình thường. Bởi thế mà trên các phố mỗi lúc một sôi nổi và ầm ĩ hơn. Nhưng trong các ngôi nhà lặng lẽ và yên ả, chẳng có ai ngoài lũ mèo và bà cụ này hay bà cụ khác phải ngồi nhà trông cháu nội, cháu ngoại.
Nếu bạn đã từng đi dạo qua một thị trấn như Vimmerby, có thể vào một ngày chợ phiên hoặc đúng vào lúc trời chạng vạng tối, thì bạn sẽ biết cảm giác tuyệt vời khi đi qua những con đường nhỏ lát đá và nhìn những bà cụ cùng bầy cháu nội, cháu ngoại rồi lũ mèo sau những ô cửa sổ của những căn nhà nhỏ. Và bạn cũng sẽ biết cái cảm giác hồi hộp khi lách người qua những ngõ, những cổng tối tăm và bước vào những khoảng sân tối om, nơi khách thăm chợ để những cỗ xe ngựa của họ và lúc này họ vẫn đứng luẩn quẩn trên sân, tay cầm chai bia, trước khi thắng ngựa vào xe lên đường về nhà.
Emil cũng thấy thích và hồi hộp. Chỉ lát sau nó đã quên khuấy là vừa nãy thôi nó còn rất bất bình, và nó tin rằng sớm muộn nó cũng tìm được chú Alfred. Mà nó tìm được chú Alfred thật, nhưng trước tiên nó tìm thấy một thứ khác.
Đang đi qua một ngõ nhỏ, Emil bỗng nghe thấy tiếng ầm ĩ kinh khủng vọng ra từ một cái sân tối tăm. Nó nghe tiếng đàn ông chửi rủa và tiếng một con ngựa hí. Emil lập tức vọt qua cổng vào sân xem có chuyện gì xảy ra. Điều mà Emil trông thấy cũng chẳng vui vẻ gì với nó. Trên sân có một xưởng rèn móng ngựa cũ kỹ, và trong ánh lửa Emil thấy con ngựa của nó, con ngựa lông nâu xinh đẹp của nó, lọt giữa đám đàn ông đang nổi giận đùng đùng. Bạn đoán xem tại sao họ lại tức giận? Chỉ vì con ngựa lông nâu không chịu để cho họ đóng móng sắt. Hễ bác thợ rèn thử tìm cách nhấc chân con ngựa là con ngựa lồng lên điên cuồng, chân đá tứ tung, khiến đám đàn ông chỉ còn nước chạy dạt ra. Bác thợ rèn vò đầu bứt tai không biết làm sao.
– Đời tôi, tôi đã đóng móng cho biết bao nhiêu con ngựa, – bác nói. – Nhưng tôi chưa từng gặp con nào như nó.
Có thể bạn không biết một thợ rèn móng là gì? Đó là một người đàn ông chuyên đóng giày cho ngựa. Phải, ngựa cũng cần giầy như bạn vậy, nếu không nó sẽ bị mòn móng, bị trượt chân và chạy rất khó khăn trên những con đường xấu. Tất nhiên ngựa không mang những đôi giầy bình thường, mà là miếng sắt uốn vừa vặn và đóng chặt vào móng của nó: đơn giản là những chiếc móng sắt – nếu bạn đã từng trông thấy.
Rõ ràng con ngựa lông nâu đã quyết định không chấp nhận móng sắt. Nó đứng rất yên lặng và hiền từ, như người ta không thể mong gì hơn thế, chừng nào không có ai chạm đến một trong hai chân sau của nó. Nhưng chỉ cần bác thợ rèn đưa tay vuốt nhẹ lên chân con ngựa là màn xiếc dữ dội vừa rồi sẽ lập tức tái diễn, và con ngựa sẽ giãy ra kỳ được., bất chấp cả nửa tá đàn ông đang gắng sức giữ lấy nó. Gã lái ngựa người vùng Målilla, kẻ đã mua con ngựa, mỗi lúc một cau có.
– Giờ tôi sẽ tự ra tay….– Cuối cùng gã nói và tóm mạnh một chân sau con ngựa. Nhưng gã đã bị con ngựa đá bay, rơi phịch xuống chính giữa một vũng nước mưa.
– Chà chà, thế đấy, – một bác nông dân đứng xem nói. – Tin tôi đi, không đóng móng cho con ngựa này được đâu. Vì chủ cũ của nó ở Tuna đã thử ít nhất cả hai chục lần rồi.
Thế là gã lái buôn hiểu ra mình đã bị lừa khi mua con ngựa và càng tức lồng tức lộn.
– Ai thích thì đi mà dắt cái con nghẽo chết tiệt này về! – Gã gầm lên. – Chỉ cần đây thoát được nó!
Ai bước vội lên thế nhỉ? Cố nhiên là Emil.
– Cháu có thể dắt nó về ạ, – Emil nói.
Gã lái ngựa phá lên cười:
– Choắt con như mày ư?
Là gã nói thế, chứ gã đâu định cho con ngựa đi thật. Nhưng bởi đang có đông người xúm quanh và lắng nghe, gã phải tìm cách khôn khéo gỡ bí cho đỡ ngượng. Vì thế gã bảo:
– Tất nhiên mày sẽ được con ngựa, với điều kiện mày có thể giữ chặt chân nó để chúng tao đóng móng cho nó.
Tất cả mọi người đứng đó đều cười ồ, vì chính họ đã từng thử và biết không ai có thể giữ được con ngựa này.
Nhưng bạn chớ nghĩ rằng Emil ngu ngốc. Thằng bé hiểu biết về ngựa hơn bất kỳ ai ở làng Lönneberga cũng như khắp vùng Smăland. Và ban nãy, khi con ngựa lông nâu lồng lộn, đã lung tung và hí lên hung tợn, Emil đã tự nhủ: Nó phản ứng y như cô Lina ở nhà khi cô bị cù vậy!
Chính xác là như vậy, và Emil là người duy nhất hiểu được điều ấy! Rất đơn giản là con ngựa có máu buồn. Vì thế con ngựa mới thở phì phò và tung vó loạn xạ y như cô Lina, và nó hí to nhường ấy cũng bởi nó cười gần chết như cô Lina khi ai đó chạm vào chân sau của nó. Chính bạn cũng biết cảm giác thế nào khi bị cù mà.
Thế là Emil đi đến bên con ngựa, đưa đôi tay khỏe khoắn bé nhỏ ôm lấy đầu con ngựa.
– Nghe này, ngựa ơi, – nó nói. – Đừng giận dữ nữa nhé. Mày phải có móng sắt chứ. Tao hứa sẽ không cù mày đâu.
Đoán xem Emil làm gì tiếp nào! Nó vòng ra sau con ngựa, nắm thật nhanh một móng sau và nhấc lên. Con ngựa chỉ ngoái đầu lại và nhìn Emil rất thân thiện, như thể muốn xem Emil đang định làm gì. Vì bạn thấy đấy, ngựa cảm nhận ở móng không hơn gì bạn cảm nhận ở móng tay, và giờ thì bạn biết nó không hề có cảm giác buồn hay nhột gì ở đó.
– Mời bác, – Emil bảo bác thợ rèn. – Bác hãy đem móng sắt lại đây! Cháu giữ chặt nó rồi.
Tiếng trầm trồ rộ lên trong đám đông, và họ còn tiếp tục trầm trồ khi Emil giúp bác thợ rèn đóng móng sắt vào cả bốn vó của con ngựa.
Nhưng khi công việc xong xuôi, gã lái ngựa bắt đầu trở mặt. Gã thừa biết mình đã hứa gì, nhưng không muốn giữ lời. Thay vào đó, gã rút ví đưa tờ năm đồng cho Emil.
– Thế này hẳn đã đủ rồi, – gã nói.
Nhưng đám đông nổi giận. Tất thảy bọn họ đều trọng danh dự và quen hành xử theo phương châm “Quân tử nhất ngôn”.
– Đừng có giở trò nữa, – họ nói. – Con ngựa là của thằng bé!
Thế là đã quyết định. Mọi người đều biết gã lái ngựa rất giàu có và vì sĩ diện gã sẽ phải giữ lời.
– Thôi được, ba trăm đồng bạc đâu phải cả thế gian, –gã nói. – Nhận lấy cón nghẽo và xéo đi!
Hãy đoán xem Emil mừng rỡ tới cỡ nào! Nó nhảy phắt lên lưng con ngựa vừa đóng móng của mình và đi ra cổng, hiên ngang như một vị tướng quả cảm nhất. Cả đám nông dân đồng thanh hô “Hurra!”, còn bác thợ rèn thì bảo:
– Những chuyện như thế này chỉ xảy ra khi có chợ phiên ở Vimmerby.
Emil cưỡi ngựa xuyên qua đám đông đang họp chợ với vẻ sung sướng và kiêu hãnh, khiến xung quanh chỉ còn biết ngước nhìn ngưỡng mộ. Trên phố chính, đúng nơi người ngựa chen chúc nhất, nó quả nhiên chạm mặt chú Alfred.
Chú Alfred đứng sững lại, trố mắt nhìn:
– Ôi chao, ôi chao, – chú kêu lên – con ngựa nào vậy hở?
– Ngựa của cháu, – Emil đáp. – Nó tên là Lukas. Chú tin cháu đi: Nó có máu buồn y như cô Lina!
Đúng lúc đó cô Lina chạy tới, kéo tay chú Alfred.
– Chúng mình phải về nhà thôi, – cô nói. – Ông chủ đang thắng ngựa và xe rồi.
Phải, giờ đây mọi sự vui vẻ đã chấm dứt. Giờ đây những người của trang trại Katthult muốn trở về làng Lönneberga. Nhưng Emil nhất định muốn làm một việc nữa: Nó phải khoe con ngựa với Gottfried.
– Bảo với bố cháu là năm phút nữa cháu sẽ quay lại!
Emil kêu to và thúc ngựa đi đến nhà ông thị trưởng, tiếng móng ngựa gõ vang trên con đường lát đá.
Màn chiều tháng Mười đã buông xuống khu vườn và khu nhà của ông thị trưởng, nhưng mọi ô cửa sổ đều rực rỡ ánh đèn và từ trong nhà vọng ra tiếng cười nói vui vẻ. Tiệc sinh nhật của ông thị trưởng đang vào lúc cao trào.
Ngoài vườn, Gottfried đang đi tới đi lui với đôi cà kheo. Nó vốn chẳng ưa gì tiệc tùng nên bỏ ra đây. Vừa trông thấy Emil cưỡi ngựa tới, nó đã ngã cắm đầu xuống bụi tử đinh hương.
– Ngựa của ai thế? – Chưa kịp ngóc đầu lên nó đã hỏi.
– Của tớ, – Emil đáp. – Con ngựa thuộc về tớ.
Thoạt đầu Gottfried không muốn tin, nhưng cuối cùng khi đã hiểu ra, nó nổi giận. Nó đã mất công rót vào tai bố nó bao nhiêu lần là hãy mua ngựa cho nó. Nó từng năn nỉ bố suốt từ sáng đến tối – và bố đã luôn luôn trả lời nó như thế nào chứ?
– Con còn quá nhỏ. Không có đứa trẻ nào ở tuổi con mà lại có ngựa cả!
Một lời nói dối trắng trợn làm sao! Bây giờ thì Emil đã tới đây rồi – bây giờ bố có thể tự thấy, nếu trên đầu bố vẫn còn có hai con mắt và nếu bố chịu ra đây mà nhìn! Nhưng bố còn đang mải ngồi trong nhà còn tiệc tùng cơ, Gottfried giải thích cho Emil. Bố ngồi lì giữa một đám những kẻ ngu ngốc, những kẻ chỉ biết ăn, uống, tán chuyện và diễn thuyết không bao giờ dứt.
– Tớ không thể lôi bố ra đây, – Gottfried buồn bã nói, nước mắt rơm rớm.
Emil thấy thương Gottfried và nó không bao giờ bối rối khi nghĩ cách giải quyết. Nếu ông thị trưởng không thể ra với con ngựa, thì con ngựa có thể vào với ông thị trưởng chứ sao, khó khăn gì đâu. Chỉ cần đi lên cầu thang, qua cửa, qua sảnh là vào phòng tiệc thôi mà. Việc duy nhất mà Gottfried phải là mở và giữ hộ các cánh cửa.
Nếu bạn đã từng có mặt trong một bữa tiệc, nơi đột nhiên có một con ngựa lừng lững tiến vào, thì bạn biết không ít người sẽ tròn mắt và giật thót cả người, như thể suốt đời họ chưa từng thấy một con ngựa! Ở bữa tiệc này cũng thế. Đặc biệt là ông thị trưởng. Ông giật mình đến nỗi một miếng bánh to tướng mắc nghẹn trong cổ ông.
Vì vậy mà ông không thể thốt ra một lời chống chế khi thằng con Gottfried gào lên:
– Giờ thì bố nói gì nào? Nhìn đây, giờ thì bố đã thấy trẻ con cũng có ngựa rồi nhé!
Thực ra trong thâm tâm đám thực khách lấy làm hoan hỉ khi con ngựa xuất hiện, mà điều này cũng hoàn toàn tất nhiên thôi, vì ngựa là loài vật đáng yêu. Ai cũng muốn vuốt ve con Lukas. Emil ngồi trên lưng ngựa, mỉm cười mãn nguyện. Họ cứ việc vuốt ve con ngựa của nó.
Nhưng rồi một ông đại tá già tiến lại gần, ông ta muốn chứng tỏ mình sành ngựa đến thế nào và định véo yêu vào cẳng con ngựa. Trời ạ, ông ta đâu biết Lukas là chúa có máu buồn! Đúng lúc ông thị trưởng vừa tạm nuốt trôi miếng bánh và toan nói gì đó với Gottfried, thì ông đại tá véo và cẳng sau con Lukas. Con ngựa lập tức tung vó đá văng chiếc bàn nhỏ đặt cạnh đó, khiến cả chiếc bánh kem bày trên bàn bay vèo ngang căn phòng, úp đánh “bẹt!” vào chính giữa mặt ông thị trưởng.
– Blupp, – ông thị trưởng chỉ thốt lên được có thế.
Lạ một điều là tất cả đều phá lên cười, họ cũng chưa kịp hiểu chuyện gì đã xảy ra.
Riêng phu nhân thị trưởng không dám cười. Sợ hãi, bà vơ cái đĩa lớn lật đật chạy đến và bắt tay vào việc cào kem trên mặt đức ông chồng, để chí ít ông cũng hở được hai lỗ quanh mắt mà nhìn ra, nếu không làm sao ông thấy được chuyện gì sẽ còn tiếp diễn tại bữa tiệc sinh nhật của mình.
Nhưng sực nhớ ra đã đến lúc phải trở về nhà ở làng Lönneberga, Emil vội phi ngựa ra cửa. Gottfried chạy theo, vì đằng nào cũng chưa nói được chuyện với bố khi mặt ông phủ đầy những bánh kem, hơn nữa Gottfried không nỡ rời xa con ngựa.
Emil đứng lại đợi bên cổng vườn để chào tạm biệt.
– Cậu may thế, – Gottfried vừa nói vừa vuốt ve con ngựa lần cuối.
– Ừ, tớ may thật, – Emil đáp.
Gottfried thở dài.
– Nhưng dù sao chúng tớ cũng sẽ có một màn pháo hoa ra trò, – Gottfried nói như để tự an ủi. – Pháo kia kìa!
Gottfried chỉ cho Emil thấy cả đống pháo trên chiếc bàn kê trong vườn giữa những bụi tử đinh hương, thế là Emil lập tức nóng ran cả người. Chắc chắn là Emil đang vội rồi – nhưng trong suốt cuộc đời đáng thương của mình, nó chưa từng được biết thế nào là pháo hoa.
– Tớ có thể châm thử một quả xem sao, – nó nói. – Xem nổ có giòn không.
Gottfried chẳng nghĩ ngợi lâu. Nó nhặt từ đống pháo lên một quả và bảo:
– Được, nhưng chỉ quả pháo ếch nhỏ này thôi đấy!
Emil gật đầu, tụt khỏi lưng ngựa:
– Ừ, chỉ quả pháo ếch nhỏ này thôi. Cho tớ xin que diêm được không?
Nó nhận que diêm. Và ….pip…..pap, quả pháo ếch nhỏ vừa nổ vừa nhảy loi choi. Được, nổ giòn đấy! Quả pháo nhảy tới nhảy lui, cuối cùng nhảy lên chiếc bàn, chui tọt vào giữa đống pháo. Hẳn quả pháo không muốn ở một mình, tôi đoán thế. Nhưng cả Gottfried và Emil đều không hề nhận thấy điều này, vì đúng lúc đó chúng nghe tiếng gọi to đằng sau lưng. Đó là ông thị trưởng đang chạy tất tả xuống bậc tam cấp ra vườn, ông muốn nói chuyện với hai đứa. Lúc này mặt ông đã gần như sạch kem, chỉ bộ râu là vẫn trắng lấp loáng trong màn đêm tháng Mười.
Trên các phố thị trấn Vimmerby, người dân Vimmerby vẫn còn đang dạo chơi, cười đùa, hò reo mà không biết mình đang chờ đợi một điều gì đó vui vẻ hay khủng khiếp.
Và rồi nó đến! Cái điều khủng khiếp mà họ đã rùng mình chờ đợi. Đột nhiên cả bầu trời phía trên nhà ông thị trưởng chìm trong lửa. Đột nhiên khắp thế gian tràn ngập những con rắn rực đỏ gầm rít, những vầng sáng chói lòa và những chùm lửa dội từ trên cao xuống. Những tiếng nổ chát chúa, đùng đoàng rồi tiếng rít và xé gió tạo thành một tạp âm ghê rợn đến nỗi đám cư dân tội nghiệp của thị trấn Vimmerby sợ hãi xanh xám hết mặt mày.
– Thiên thạch! – Họ rú lên. – Cứu với! Chúng tôi chết mất!
Chưa bao giờ ở thị trấn này tiếng than khóc lại nổi lên ầm ĩ như thế, và ai nấy đều đinh ninh giờ tận số của mình đã điểm. Những kẻ đáng thương! Chẳng có gì lạ khi họ cứ ra sức gào rú và ngã lăn ra bất tỉnh, chất thành đống trên đường phố. Duy có bà Petrell vẫn điềm nhiên ngồi trên sân thượng mà ngắm nhìn những trái bóng lửa bay loạn xạ.
– Ta không tin vào chuyện thiên thạch, – bà thủ thỉ với con mèo của mình. – Ta đánh cuộc lại thằng bé Emil bày trò đấy thôi.
Bà Petrell đã nói chí lý. Dĩ nhiên chính là Emil và quả pháo ếch nhỏ của nó đã làm cho cả đống pháo “nổ giòn” và bay tung hết lên trời.
Nhưng thật may là ông thị trưởng đã mò ra vườn đúng lúc, nếu không có lẽ ông đã chẳng được thưởng thức màn pháo hoa tuyệt vời vốn dành mừng sinh nhật ông. Còn bây giờ ông ở đó, nơi tập trung nhiều tiếng nổ và chớp lửa nhất, và quả thật ông rất vất vả khi cứ phải nhảy loi choi hết qua phải lại qua trái để tránh những quả cầu lửa cứ rin rít bay sát sạn ngang tai. Emil và Gottfried đoán ông thích thú lắm, vì mỗi lần nhảy cẫng lên ông lại hét to hoan hỉ. Chỉ khi bị một quả pháo bay tọt vào một bên ống quần, thì ông thị trưởng mới tức giận ra mặt. Nếu không tại sao ông lại rú lên một tiếng khủng khiếp và cứ bướng bỉnh rú mãi lên như thế trong khi vội vã chạy lại chum nước ở góc nhà và nhúng cả cẳng chân vào đó như một người điên! Ai lại nhúng pháo vào nước cơ chứ, sẽ bị xịt ngóm còn gì là pháo! Lẽ ra ông thị trưởng phải tính được như vậy.
– Cuối cùng thì tớ cũng đã được xem pháo hoa rồi, – Emil nói. Nó đang nằm nấp cạnh Gottfried sau kho củi nhà ông thị trưởng.
– Ừ, giờ thì quả là cậu đã được xem một màn pháo hoa, – Gottfried đáp.
Rồi chúng im lặng chờ đợi. Cũng chẳng chờ đợi gì đặc biệt, mà chỉ chờ cho ông thị trưởng thôi lượn vè vè trong vườn như một con ong vò vẽ to kềnh càng hung dữ.
Nhưng sau đó một lát, khi cỗ xe ngựa trang trại Katthult lăn bánh trở về làng Lönneberga, thì tất cả những vầng pháo sáng và những quả bóng lửa đều đã tắt ngóm từ lâu. Chỉ các vì sao còn nhấp nháy trên những ngọn thông. Rừng tối om, đường cũng tối om, nhưng Emil vẫn sung sướng hát vang khi nó cưỡi ngựa đi xuyên bóng đêm:
Ha–hop! Bố yêu ơi!
Thế mới là con ngựa của tôi:
Ngựa nhanh nhất, giỏi nhất trên đời
Lại chẳng tốn tiền, thế mới hời!
Còn bố Emil ngồi đánh xe, rất hài lòng về cậu con trai. Chắc chắn là thằng bé đã khiến bà Petrell và cả thị trấn Vimmerby suýt phát điên với những trò nghịch ngợm và màn trình làng thiên thạch của nó, nhưng chẳng phải Emil cũng đã kiếm được hẳn một con ngựa đó sao? Mà lại chẳng tốn lấy một xu – mà rốt cuộc đây mới là điều then chốt. Đào đâu ra ở khắp làng Lönneberga một thằng bé như thế, và lần này thằng bé sẽ không bị nhốt vào xưởng mộc, bố Emil bụng bảo dạ như vậy.
Hơn nữa bố lại đang lâng lâng khoan khoái, có lẽ vì đúng lúc cả nhà định lên đường về thì bố gặp một người quen cũ và được ông này mời uống hẳn mấy chai bia. Bình thường bố không uống bia, không, bố không phải hạng người thích bia bọt, nhưng nếu đã được mời uống không mất tiền thì bố còn biết làm thế nào khác?
Bố Emil phấn khích quất ròi đèn đẹt trong lúc đánh xe ngựa và thét vang:
– Ông bố tô…..ố….t ở trang trại Katthult,…… người đàn ông qua....a….an trọng đang đến!
– Ha ha ha, phải, phải, – mẹ của Emil nói. – May quá, không phải ngày nào cũng có phiên chợ hàng năm. Ồ, được trở về nhà mới sướng làm sao!
Bé Ida đang ngủ trong lòng mẹ, hai bàn tay ôm chặt món quà chợ phiên của nó. Đó là một cái giỏ nhỏ bằng sứ màu trắng với những bông hồng cũng bằng sứ, trên có dòng chữ “Kỷ niệm Vimmerby”.
Trên hàng ghế sau, cô Lina tựa vào cánh tay chú Alfred mà ngủ. Cánh tay chú Alfred cũng ngủ, vì bị cô Lina tỳ vừa nặng vừa lâu. Nhưng ngoài ra chú đang tươi tỉnh và vô cùng phấn chấn, đúng như một nông dân thực thụ. Chú quay sang bảo Emil đang cưỡi ngựa đi bên cạnh:
– Mai nhà ta chở phân cả ngày, sẽ vui lắm đấy.
– Mai cháu sẽ cưỡi con ngựa của cháu cả ngày, – Emil nói. – Sẽ vui lắm đấy.
Đúng lúc ấy cả nhà quành vào chỗ rẽ cuối cùng và cả nhà có thể trông thấy ánh sáng sau ô cửa sổ bếp của trang trại Katthult, nơi bà Krösa–Maja đang chờ họ về ăn tối.
Lúc này bạn có thể tưởng tượng rằng Emil sẽ thôi bày trò nghịch ngợm chỉ vì nó đã có một con ngựa. Nhưng không phải như thế. Hai ngày liền nó mê mải cưỡi ngựa chạy loăng quăng, nhưng sang ngày thứ ba tức ngày mồng 3 tháng Mười một, nó lại bắt đầu giở trò…. Hô hô hô, cứ nghĩ đến đấy là tôi không sao nhịn được cười. Là thế này, đúng vào hôm đó, Emil đã…….Thôi, dừng lại! Dừng lại! Tôi đã hứa với mẹ của Emil là sẽ không bao giờ kể cái thằng bé đã gây ra chuyện gì trong ngày mồng 3 tháng Mười một đấy, vì sau trò quỷ quái đó dân làng Lönneberga đã quyên góp tiền – bạn vẫn nhớ chứ – và muốn gửi Emil sang Mỹ. Sau này mẹ của Emil chỉ ước gì quên được mọi sự. Bà cũng không hề ghi lại chuyện này vào cuốn vở xanh, vậy thì hà cớ gì tôi lại phải kể ra đây nhỉ? Không, và thay vào đó bạn sẽ được nghe chuyện Emil đã làm gì trong ngày thứ Hai của lễ Giáng sinh. Đó là