Lược Sử Báo Chí Việt Nam

Lượt đọc: 52 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG I : PHÂN CHIA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM
1. TỔNG QUÁT

❊ ❊ ❊

a) Tiêu chuẩn hoạt động của báo chí

Báo chí Việt Nam trong tiến trình 100 năm kể từ 1865 tới 1965, đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau với nhiều sắc thái tương phản. Lý do của sự tương phản này là do các biến cố bên ngoài cũng có mà do sự chuyển mình của báo chí cũng có. Chính vì thế, cuộc hành trình của báo chí Việt Nam kể từ lúc phôi thai tới những năm gần đây đã được nhiều người phân chia thành nhiều chặng đường để mô tả những thay đổi quan trọng đánh dấu những bước tiến của nó.

Báo chí, cũng như mọi ngành hoạt động văn hóa xã hội khác, luôn luôn thu nhận tầm ảnh hưởng của các biến cố ngoại cảnh để tự tìm đường tiến hóa cho thích hợp. Nói như vậy có nghĩa là báo chí không phải là một sinh hoạt đứng riêng rẽ trong xã hội. Trái hẳn lại báo chí bị ảnh hưởng bởi lịch sử chính trị, các biến chuyển xã hội, các cuộc chiến, cũng như mọi biến cố thời sự có tầm vóc lớn không bị thu hẹp vào một địa phương. Nhờ đó mà báo chí tiến qua các giai đoạn mà cải tiến mà lớn mạnh.

Nhưng khi nhìn vào tiến trình 100 năm của báo chí Việt Nam, mỗi người nghiên cứu bước đi của nó theo một cái nhìn khác nhau. Từ cái nhìn khác nhau đó, các học giả tiền phong trong vấn đề này mới đưa ra những quan niệm khác nhau trong việc phân chia các thời kỳ lịch sử báo chí Việt Nam. Người thì phân chia lịch sử đó theo tiêu chuẩn lịch sử đất nước. Người thì phân chia căn cứ vào các hoạt động của chính báo chí. Người thì phân chia các giai đoạn theo các tiêu chuẩn văn hóa. Và cuối cùng, có người đã tổng hợp tất cả những tiêu chuẩn này để hệ thống hóa tiến trình của báo chí. Dĩ nhiên chúng ta không thể khẳng định ưu và khuyết điểm của mỗi quan niệm vì quan niệm nào cũng có phần chính xác và vững chắc. Ở đây chúng ta chỉ phân tách các sự kiện trong tiến trình của báo chí và thử tìm xem có một đường lối nào khác, hữu hiệu hơn, để phân chia các thời kỳ mà báo chí Việt Nam đã trải qua hay không.

2. PHẢI CHỌN NHỮNG TIÊU CHUẨN NÀO ĐỂ PHÂN CHIA CÁC GIAI ĐOẠN

Người đã căn cứ vào tiêu chuẩn các hoạt động của báo chí để phân chia các giai đoạn trong tiến trình báo chí là nhà văn Thê Húc. Dưới con mắt ông, báo chí Việt Nam, kể từ ngày khai sinh vào 1865 đã chuyển mình qua bốn giai đoạn để đi tới hiện trạng của nó ngày nay. Theo ông, mỗi giai đoạn này được đánh dấu bằng những hoạt động của chính nó, và hoạt động đó đã được bộc lộ qua nội dung cũng như hình thức. Sự phân chia của Thê Húc được trình bày như sau :

1. Giai đoạn dự bị 1865-1913

2. Giai đoạn thành lập 1913-1930

3. Giai đoạn phát triển 1930-1940

4. Giai đoạn phân hóa 1940-1946

Đây là quan niệm đầu tiên về lịch sử tiến hóa của báo chí vì Thê Húc là người đầu tiên phân chia con đường tiến hóa báo chí Việt Nam ra từng giai đoạn rõ rệt. Theo ông, những giai đoạn nầy đều được giới hạn với những thời điểm và hoạt động rõ rệt, bắt đầu từ sự khai sinh của Gia Định Báo, tới sự ra đời của Đông Dương Tạp Chí, đến Đông Tây, Tia Sáng v.v… Mỗi giai đoạn nằm trong hai cái mốc có thể là sự xuất hiện của một tờ báo mà cũng có thể là sự tạ từ của một tờ báo khác đóng cửa. Theo sự phân chia như vậy, giai đoạn 1 (dự bị) của làng báo Việt Nam cho người ta thấy những hoạt động phôi thai, rời rạc của một hai tờ báo đầu tiên ra mắt trên xứ sở chúng ta. Giai đoạn 2 (thành lập) cũng không sôi động lắm, vì báo chí lúc đó như một kẻ chập chững vào đời, các hoạt động còn rời rạc, và nhất là thời kỳ đó, báo chí nước ta còn ở trong tay người Pháp. Phải đợi cho tới giai đoạn 3 (phát triển), cái không khí làm báo mới tưng bừng. Báo ngày, tạp chí nối gót nhau ra phụng sự dư luận. Nhưng rồi trong giai đoạn 4 (phân hóa), các khuynh hướng khác nhau của người làm báo đã đưa báo chí vào một thời kỳ lắng đọng, chấm dứt những ngày « trăm hoa đua nở » mới qua.

b) Tiêu chuẩn ý thức chính trị

Người thứ hai có công theo dõi tiến trình của báo chí Việt Nam là nhà báo lão thành Trần Tấn Quốc. Trong bài nói chuyện về chủ đề « Lịch trình tiến triển của báo chí nước nhà qua các giai đoạn 1862-1956 », ông đã phân tách các chặng đường mà báo chí đã đi qua. Nhưng trong bài nói chuyện trên, ông chỉ đề cập tới báo chí miền Nam và chỉ nhắc sơ tới báo chí miền Bắc như là để dẫn chứng mà thôi. Trái với Thê Húc, Trần Tấn Quốc không phân chia các giai đoạn theo báo chí mà lấy ý thức chính trị ra làm căn bản để phân biệt. Dưới con mắt của ông, báo chí Việt Nam trong suốt tiến trình 100 năm chỉ được phân chia thành hai giai đoạn như dưới đây :

1. Giai đoạn vô ý thức của báo chí thuở ban đầu 1862-1925.

2. Giai đoạn ý thức quốc gia, xã hội từ lúc Phan Bội Châu bị bắt, Phan Châu Trinh chết, từ 1926 trở đi.

Sự phân chia của Trần Tấn Quốc có cái lý do của nó. Trên con đường dài 100 năm, ông cắm một mốc ở gần khoảng 2/3 chặng đường đó, nghĩa là vào năm 1926 để chia ra làm hai. Đó là năm xảy ra hai biến cố chính trị đặc biệt làm rung động dư luận : Biến cố thứ nhất là vụ cụ Phan Bội Châu bị bắt ở Thượng Hải giải về Hà Nội và bị đem ra xử như một tên phiến loạn vào cuối năm 1925 để rồi tạo nên một không khí công phẫn trong quần chúng vào năm 1926. Biến cố thứ hai là cái chết và đám táng cụ Phan Châu Trinh tại Saigon khoảng tháng 4, 1926. Báo chí lúc đó đã ý thức được tinh thần quốc gia và phản ảnh đúng lòng dân. Không khí làng báo qua hai biến cố lịch sử này thật vô cùng sôi nổi.

Quan niệm của Trần Tấn Quốc cho thấy rằng báo chí Việt Nam kể từ lúc phôi thai cho tới 1925 hoàn toàn ở vào tình trạng « vô ý thức ». Nó hoạt động như một con người, hay sinh vật nào đó sống mà không có trí giác, không biết mình làm gì, cũng chẳng có liên hệ đến đất nước mình đang sống. Nhưng những biến cố năm 1926 đã làm làng báo chợt tỉnh vùng ra khỏi cơn mê để lãnh lấy trách nhiệm đối với quốc gia. Từ « vô ý thức » đến « ý thức », báo chí Việt Nam dưới con mắt Trần Tấn Quốc đột nhiên vùng dậy để nhận biết chính mình và gánh lấy nhiệm vụ, chỉ nhờ hai biến cố chính trị xảy ra trên lộ trình báo chí.

c) Tiêu chuẩn các biến cố thời sự (chính trị, xã hội, văn hóa và phát triển báo chí)

Quan niệm thứ ba về sự phân chia các giai đoạn báo chí là quan niệm tổng hợp của nhà văn Nguyễn Ngu Ý. Con mắt của Nguyễn Ngu Ý nhìn vào tiến trình của làng báo Việt Nam với nhiều khía cạnh hơn con mắt của hai học giả đi trước là Thê Húc và Trần Tấn Quốc. Với quan niệm tổng hợp đó, Nguyễn Ngu Ý đưa ra một cách phân chia khác, với 4 giai đoạn trong đó những cái mốc phần ranh giới có thể là biến cố chính trị, văn hóa mà cũng có thể là các biến cố xã hội hay của chính làng báo xứ sở. Tiến trình của báo chí Việt Nam dưới con mắt của Nguyễn Ngu Ý có 4 chặng dưới đây :

1. Giai đoạn lệ thuộc (báo chí do người Pháp chủ trương) 1865-1917.

2. Giai đoạn độc lập (báo chí do người Việt chủ trương) và đấu tranh chánh trị 1918-1929.

3. Giai đoạn phát triển 1930-1945.

4. Giai đoạn thương mại hóa (Báo chí được khai thác như những cơ sở doanh thương và kinh tế) 1946-1965.

Khi phân chia như trên, chính Nguyễn Ngu Ý cũng cho là để dễ trình bày tiến trình của báo chí chứ không có gì khẳng định. Nhưng nhìn vào sự phân chia đó ai cũng thấy cái mốc đầu tiên mà ông cắm vào cuối giai đoạn một là sự giải thoát báo chí ra khỏi tay người Pháp. Sự thay đổi đó chính là một biến cố của báo chí có pha lẫn màu sắc chính trị. Cái mốc thứ hai, đặt ở năm 1918 là cái mốc văn hóa và xã hội, được cắm vào cuối giai đoạn hai để đánh dấu ngày Thế chiến thứ hai chấm dứt. Ta thấy nó mang tính chất chính trị, khi báo chí Việt Nam đóng vai trò đấu tranh chính trị giữa từng lớp sĩ phu nước ta với nhà cầm quyền thuộc địa. Cái mốc thứ ba thì hoàn toàn mang tính chất văn hóa, còn cái mốc chót lại giống như cái mốc thứ nhất, nghĩa là chỉ ghi dấu một biến cố của riêng báo chí mà thôi.

Như vậy, tiến trình 100 năm của báo chí Việt Nam do Nguyễn Ngu Ý vạch ra cho mọi người thấy rõ ràng từ khi xuất hiện, báo chí nước ta đã chuyển mình theo hai điều kiện : điều kiện thứ nhất là chính vì hoạt động của nó (giai đoạn 1 và 4). Và điều kiện thứ hai là vì ảnh hưởng của các biến cố ngoại cảnh (giai đoạn 2 và 3). Nhưng cũng theo ông, những ranh giới phân chia không phải hoàn toàn cứng nhắc vì trong bất cứ giai đoạn nào, người quan sát cũng vẫn tìm thấy những hoạt động dị biệt với ý nghĩa chung của giai đoạn đó.

d) Tiêu chuẩn lịch sử

Ngoài những tiêu chuẩn phân chia đã nêu trên, người quan sát báo chí Việt Nam có thể phân chia các tiến trình của báo chí theo tiêu chuẩn nào khác hay không ? Câu trả lời nằm ngay nơi tiểu đề của phần này, đó là tiêu chuẩn lịch sử. Nếu căn cứ vào tiêu chuẩn lịch sử mà phân chia các giai đoạn trong tiến trình của báo chí, chúng ta sẽ tìm ra được một quan niệm khác biệt với các nhà học giả tiền phong như Thê Húc, Trần Tấn Quốc, Nguyễn Ngu Ý. Cái khía cạnh đúng hay sai xin để tùy người đọc quyết định, ở đây, người viết chỉ đề nghị việc phân chia các giai đoạn báo chí theo lịch sử đất nước để từ đó chúng ta theo dõi bước đi của làng báo xứ nhà.

Căn cứ vào tiêu chuẩn lịch sử, chúng ta phân chia báo chí như thế nào ? Dĩ nhiên ngày khai sinh của báo chí vẫn phải là theo các quan niệm cũ (1865). Sau thời kỳ phôi thai, báo chí Việt Nam đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi một biến cố lịch sử vĩ đại có liên quan đến vận mệnh toàn thể dân tộc. Đó là Hòa ước 1884 hay còn gọi là Hòa ước Patenôtre qui định việc đặt Việt Nam dưới sự bảo hộ của người Pháp. Theo các tài liệu được sưu khảo, báo chí xứ ta bước một bước lớn nhờ biến cố vĩ đại này. Hòa Ước 1884 đã đem lại sự phẫn nộ cho Triều Đình Huế cũng như các nhà ái quốc Việt Nam. Và chính sự phẫn nộ đó đã được biểu lộ một cách kín đáo trên báo chí, đến nỗi nhà cầm quyền Pháp phải dành những tờ báo của họ để đánh lạc hướng niềm công phẫn nói trên. Theo lịch sử đất nước, ta có thể nói rằng chính biến cố 1884 đã ghi cái mốc đầu trong tiền trình « bán ý thức » của báo chí.

Cái mốc thứ hai trên tiến trình này là cuộc Thế chiến Thứ Nhất 1914. Từ tình trạng « bán ý thức » báo chí tiến qua tình trạng « ý thức » với sứ mạng của mình. Thật vậy, khi tiếng súng của cuộc Thế Chiến bùng nổ bên kia đại dương, dân ta đã nhìn nhận thấy sự liên hệ giữa Việt Nam và thế giới, trong khi báo chí nhìn thấy trách nhiệm đối với đất nước. Lịch sử Việt Nam cũng bởi cuộc Thế Chiến mà đi vào một khúc quanh và ảnh hưởng của nó xâm nhập vào báo chí. Như vậy, ta có thể nói rằng thời kỳ từ Hòa Ước 1884 tới ngày bùng nổ Thế Chiến thứ nhất chính là giai đoạn thứ hai của báo chí Việt Nam.

Từ khúc quanh 1884, lịch sử Việt Nam trở nên cực kỳ sôi động. Ý thức quốc gia và trách nhiệm không còn là một cái gì quá xa lạ đối với những người làm báo. Và suốt từ đó cho tới ngày khai hỏa cuộc Thế Chiến thứ hai, dư luận báo chí đã đi vào giai đoạn « ý thức cao độ » đối với lịch sử. Trong giai đoạn này, người ta đã làm báo vì lý tưởng dùng báo chí làm phương tiện đấu tranh. Dẫn chứng cho lập luận này là tờ La Cloche fêlée của Nguyễn An Ninh cũng như bao nhiêu tờ báo khác xả thân đòi thực hiện những tư tưởng dân chủ cấp tiến.

Nhưng ngày kết liễu Thế chiến thứ hai, báo chí lại đi vào một giai đoạn mới cùng với bước chân của lịch sử đất nước. 1945 là cái mốc lớn đánh dấu bước đi này, và báo chí từ đó xoay sang giai đoạn thương mại hóa. Mặc dầu thế, nó vẫn không phải là hoàn toàn xao lãng trách nhiệm của mình, cho nên báo chí vẫn được gắn liền với tiến trình lịch sử và vẫn đấu tranh quyết liệt trong những cơn nguy biến. Nhưng với đà tiến hóa của kỹ thuật, làng báo đã được coi như một ngành khai thác tân tiến nặng tính chất thương mại, có lẽ một phần cũng vì đà sống cơ khí tiến bộ du nhập vào xứ sở ta từ Âu châu.

Tới đây, có thể tạm chia các thời kỳ báo chí Việt Nam theo tiêu chuẩn lịch sử như dưới đây :

1. Giai đoạn phôi thai 1865-1884.

2. Giai đoạn bán ý thức 1884-1914.

3. Giai đoạn ý thức 1914-1945.

4. Giai đoạn thương mại hóa mặc dầu vẫn có ý thức cao độ 1945-1965.

e) Tiêu chuẩn văn hóa và kỹ thuật

Có lẽ không ai có thể hoàn toàn hài lòng với sự phân chia tiến trình báo chí theo các tiêu chuẩn trên đây. Người quan sát báo chí vẫn còn khao khát một tiêu chuẩn nào khác để hình dung một tiến trình hợp lý hơn và xác thực hơn. Thưa đó là cách phân chia các giai đoạn lịch sử báo chí theo tiêu chuẩn văn hóa và kỹ thuật.

Sở dĩ chúng ta cần phối hợp cả hai yếu tố văn hóa và kỹ thuật thành một tiêu chuẩn bởi vì những biến chuyển trong tiến trình của báo chí đòi hỏi cả hai yếu tố này.

Theo tiêu chuẩn trên, cái mốc đầu tiên xin được đặt ở năm 1915. 40 năm sau khi báo chí Việt Nam xuất đầu lộ diện. Tại sao vậy ? Lý do là vì trong 40 năm đó mặc dầu báo chí có biến chuyển theo các sự kiện lịch sử hay chính trị, nhưng chẳng thay đổi là bao về mặt văn hóa và kỹ thuật. Suốt trong 40 năm, nội dung tờ báo có khác nhau nhưng về phương diện văn hóa, phải đợi mãi tới 1915 mới xuất hiện một biến cố đặc biệt. Đó là sự chuyển hướng của báo chí từ chính trị vào đời sống văn hóa, với sự góp mặt đầu tiên của những cây viết tên tuổi mới cùng với những chủ đề mới. Các chủ đề này đưa người đọc vào vấn đề phát triển học thuật Đông, Tây, phổ biến tư tưởng triết học, đồng thời đề cao văn hóa quốc gia. Đây là thời kỳ báo chí nhận thức được rằng nhiệm vụ của mình không hẳn chỉ ở trong lãnh vực chính trị mà còn ở cả trong lãnh vực văn hóa nữa.

Nhưng giai đoạn đó chưa phải là giai đoạn nhảy vọt. Cái mốc của bước tiến nhảy vọt về văn hóa phải là năm 1930, khi cả làng báo nối gót nhau chuyển mình theo chiều hướng mới. Đây là năm những tờ báo phụ nữ đầu tiên xuất hiện trên văn đàn. Cùng với những tờ báo đó, báo chí Việt Nam ồ ạt lột xác, xuất hiện với những bộ mặt khác lạ hơn và nội dung phong phú chứa đựng toàn những món ăn tinh thần mới như thơ văn trào phúng, tin tức thể thao, kịch trường, tiểu thuyết dài, tranh hí họa. Như một cơn gió mát, báo chí đã được dân chúng đón nhận niềm nở. Nhờ sự niềm nở đó, báo chí bước xa hơn trong việc cải tiến xã hội, chỉ trích các bất công, hướng dẫn dư luận trong cách sống, đóng góp vào việc phục hưng và kiện toàn văn hóa. Chúng ta có thể coi giai đoạn này như một cách mạng báo chí, so với thời gian trước.

Nhưng thời gian nhảy vọt không kéo dài lâu. Biến cố năm 1946 đã lại lôi kéo báo chí về với sứ mạng lịch sử. Với cuộc cách mạng mùa thu 1945, báo chí lại trở thành lơ là với văn hóa và đặt nặng vai trò chính trị. Cùng với chiều hướng đó, báo chí còn dấn thân phục vụ độc giả theo chiều hướng thương mại. Cho nên giai đoạn sau 1945 có thể chỉ coi là giai đoạn « tất cả cho độc giả », báo chí trở thành những cơ sở giao dịch và phát triển kinh tế.

Để kết luận phần này, ta có thể phân chia các thời kỳ báo chí theo tiêu chuẩn văn hóa như dưới đây :

1. Giai đoạn phôi thai 1865-1915.

2. Giai đoạn phát triển văn hóa 1915-1930.

3. Giai đoạn cách mạng báo chí 1930-1945.

4. Giai đoạn phát triển kinh tế 1945-1965.

f) Tiêu chuẩn độc giả

Trong số những người phân chia các giai đoạn lịch sử báo chí, có người chỉ nhìn vào con số độc giả để dùng nó như một thước đo bước tiến của báo chí. Cái nhìn này tuy có phần hạn hẹp, nhưng vô cùng chính xác, mặc dù rằng nó không phản ảnh được nhiều khía cạnh liên quan đến báo chí.

Với cái nhìn đó, ông ta đưa tầm mắt vào con số độc giả cũng như hình thức của tờ báo để dựng những cái mốc phân chia, nhưng không đặt tên các giai đoạn trong tiến trình của báo chí. Cái mốc đầu tiên được đặt vào năm 1865, với Gia Định Báo, nghĩa là ngày báo chí phát sinh tại nước ta. Mốc thứ hai được đặt ở năm 1924, với Trung Lập Báo, tờ báo đầu tiên của Việt Nam làm theo quan niệm Tây phương với các bài nói về đời sống dân chúng, và các bản kẽm in hình sinh hoạt người dân lên trang nhất, tạo được một số độc giả lớn.

Năm 1929, năm sanh của tờ Thần Chung, được dùng làm cái mốc thứ ba vì tính chất sôi động về mặt chính trị của nó. Tuy Thần Chung không cải tiến hơn Trung Lập Báo nhưng đã thu hút được con số độc giả kỷ lục. Cuối cùng, cái mốc chót được đặt vào cuối năm 1929 khi Phụ Nữ Tân Văn ra mắt. Mang tiếng là báo phụ nữ, Phụ Nữ Tân Văn lại bao gồm cả những mục dành cho nhiều loại độc giả khác nhau, lại đẹp về hình thức nên thành công mỹ mãn.

Xin đưa quan niệm phân chia lịch sử báo chí dưới cái nhìn vào con số độc giả như dưới đây :

1. Giai đoạn 1 : 1865-1924 (không có tên)

2. Giai đoạn 2 : 1924-1929

3. Giai đoạn 3 : đầu 1929 (Thần Chung)

4. Giai đoạn 4 : cuối 1929 (Phụ Nữ Tân Văn)

g) Tiêu chuẩn thế hệ

Người chót đưa ra nỗ lực phân chia các giai đoạn lịch sử báo chí Việt Nam được đề cập tới trong cuốn sách này là Linh Mục Thanh Lãng, một người đã từng đóng góp rất nhiều cho các công trình khảo sát báo chí. Trong nhiều tác phẩm, đặc biệt là trên tờ Văn Bút, dưới tựa đề « Báo chí Việt Nam và 100 năm xây dựng văn hóa », LM Thanh Lãng đã phân tích lịch sử sinh hoạt của báo chí qua 100 năm mà ông chia ra làm bảy thế hệ. Đây là một quan điểm vô cùng độc đáo và xác thực, khác hẳn với lối phân chia của các nhà khảo sát báo chí từng được mô tả trong các đoạn trên.

- Thế Hệ « Bình Tây Sát Tả » 1862-1900 : Thế hệ này, thời gian mở đầu của báo chí Việt Nam, là thế hệ người Việt nổi lên chống Pháp và chống sự truyền giảng Công Giáo. Bối cảnh lịch sử lúc đó khá sôi động, với nhiều biến cố nhắm vào việc đấu tranh chống ngoại xâm. Nhưng có điều lạ là báo chí trong thế hệ này lại đứng ngoài cuộc đấu tranh đó, không tham dự vào thời cuộc. Với 5 tờ báo có mặt, 4 ở Sàigon và 1 ở Hànội (Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo), những người làm báo chỉ đặt nặng công cuộc truyền bá văn minh Pháp kèm theo việc phổ biến đôi chút cổ văn Việt Nam.

- Thế Hệ « Hóa Dân Cường Quốc » 1900-1913 : Báo chí Việt Nam trong thế hệ này chưa thoát được sự kềm tỏa của thực dân Pháp, và tất cả chỉ có 6 tờ báo ở cả hai miền. Khá hơn thế hệ trước, báo chí tuy vậy cũng tương kế tựu kế, tạm đóng vai trò phục vụ việc giáo hóa quần chúng và mở đường cho cuộc cách mạng bằng cách chuyển hướng vào văn hóa. Sự đóng góp của báo chí cho đất nước trong thế hệ này cũng khá quan trọng, do những tờ báo có uy tín thực hiện, như tờ Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn, và Đăng Cổ Tùng Báo là tờ báo hướng vào đối tượng chính là giới trí thức đang âm thầm thực hiện cuộc cách mạng xã hội hoặc mở đường cho phong trào Đông Du và Đông Kinh Nghĩa Thục sau này.

- Thế Hệ « Dung Hòa Đông Tây » 1913-1932 : năm 1913, Đông Dương Tạp Chí ra đời, rồi tới Trung Bắc Tân Văn, mở một kỷ nguyên mới cho báo chí xứ này. Sinh hoạt báo chí trỗi lên ồ ạt, với tổng số 97 tờ, và người làm báo đã nhận thức được thiên chức của mình, đó là dung hòa văn hóa Đông Phương và văn minh Tây Phương để phục vụ quốc gia, dân tộc. Làng báo Việt Nam trong thế hệ này được sự góp mặt quý giá của những nhân vật lớn như Phan Kế Bính, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Đỗ Mục v.v…

- Thế Hệ « Đoạn Tuyệt Đông Phương » 1932-1945 : Hô hào phong trào Âu hóa 100 phần trăm, báo chí cổ võ cho việc thoát khỏi mọi ràng buộc của truyền thống Đông Phương từng ăn sâu trong tinh thần người Việt. Biến cố nổi bật nhất trong thế hệ này là sự khai sinh Tự Lực Văn Đoàn vào năm 1932 cùng với tờ Phong Hóa. Tổng số báo trong thế hệ này lên tới 432 tờ đủ mọi loại, và tất cả đều chủ trương Âu hóa.

- Thế Hệ « Kháng Pháp dành Độc Lập » 1945-1954 : Làng báo Việt Nam trải qua rất nhiều thử thách để trưởng thành, nhưng gặp hai tai họa lớn trong thế hệ này là nạn độc tài và chiến tranh ác liệt. Chế độ kiểm duyệt cũng ràng buộc và làm chậm bước tiến của sinh hoạt báo chí, tuy vậy báo chí vẫn làm tròn được thiên chức của mình, với 196 tờ báo góp mặt. Con số này đã sút giảm so với số báo trong thế hệ trước, nhưng bước chân của báo chí Việt Nam đã chứng tỏ sự tiến-triển vững chãi và già dặn. Sự già dặn đó chính là nhờ ở sự tôi luyện của hoàn cảnh khó khăn kéo dài theo cuộc chiến, giúp cho báo chí vượt qua được mọi khó khăn và rút tỉa được nhiều kinh nghiệm mới.

- Thế Hệ « Cộng Hòa I » 1954-1963 : Làng báo Việt Nam dồn mọi nỗ lực cho việc xây dựng chế độ Cộng Hòa Nhân Vị, bỏ quên các mục tiêu khác. Tổng số báo trong thế hệ này lên tới 212 tờ.

- Thế Hệ « Cách Mạng » 1963-1972 : Thế hệ này là giai đoạn thác loạn của báo chí nước ta, một cơn lốc khủng khiếp. Vào cuối năm 1963, tổng số báo tất cả có 25 tờ, đến đầu năm 1964, số này tăng lên 91, để rồi tụt xuống 47 tờ vào năm 1965, Sinh hoạt báo chí tuy có rầm rộ nhưng pha mầu hỗn loạn và mục tiêu thì không minh định rõ rệt. Hàng loạt báo mới ra đời và hàng loạt báo cũ đóng cửa. Báo chí thực sự đi vào giai đoạn thương mại hóa và trở thành một kỹ nghệ có tầm vóc lớn như các đại kỹ nghệ sản xuất khác. Nhưng trong tầm vóc đó, báo chí hầu hết làm môi trường cho một thứ văn chương sa đọa tầm thường.

3. NHẬN XÉT

Không ai có thể dễ dàng khẳng định việc phân chia các giai đoạn lịch sử báo chí theo tiêu chuẩn nào là hợp lý hơn tiêu chuẩn nào, vì mỗi tiêu chuẩn phân chia chỉ phản ảnh một khía cạnh của tiến trình báo chí. Tuy nhiên chúng ta có thể nhìn vào những tiêu chuẩn đó để đưa ra một vài nhận xét tổng quát về quan niệm của người đã làm công việc phân chia tiến trình báo chí.

Người đầu tiên, Thê Húc, cho chúng ta thấy ông có cái nhìn tường tận về báo chí, nhưng cái nhìn đó chỉ giới hạn vào cái nhìn của người làm báo mà thôi. Sự phân chia của ông hoàn toàn căn cứ vào những sinh hoạt nội bộ làng báo, nghĩa là mọi ranh giới phân chia đều phản ảnh những biến cố liên quan đến hoạt động của báo chí. Báo ra mắt, báo đóng cửa, báo do người Pháp chủ trương, báo do người Việt chủ trương, báo phát triển, báo phân hóa v.v… Tất cả mọi biến đổi của báo chí được Thê Húc sưu tầm, đánh giá, nghiên cứu để rồi lựa ra những biến đổi quan trọng làm cái mốc cho các thời kỳ của tiến trình báo chí.

Vậy sự phân chia theo tiêu chuẩn hoạt động của báo chí, như Thê Húc đã làm, mang những tính chất gì ? Câu trả lời có thể là sự phân chia đó chính xác, đầy đủ, nhưng… phiến diện. Chính xác vì nó đã căn cứ vào những sự kiện có thực. Đầy đủ vì nó đã căn cứ vào hết mọi biến đổi đáng kể trong tiến trình báo chí 100 năm qua. Nhưng phiến diện vì nó chỉ phản ảnh những sinh hoạt của riêng báo chí mà thôi, trong khi báo chí không phải là một sinh hoạt riêng rẽ trong xã hội. Nó là một phần tử trong một cộng đồng, nó phân phối ảnh hưởng của nó ra ngoài, đồng thời tiếp nhận ảnh hưởng của các sinh hoạt khác vào trong. Như vậy việc phân chia các thời kỳ lịch sử báo chí theo tiêu chuẩn của Thê Húc rất cần được bổ khuyết cho được thêm hoàn hảo.

Người bổ khuyết cho Thê Húc có thể là Trấn Tấn Quốc. Ông vốn là một nhà báo, nghĩa là làm báo, viết báo và sống bằng nghề báo. Nhưng khi phân chia các giai đoạn lịch sử báo chí, ông không đóng vai người làm báo mà lại đóng vai chính khách, nhìn vào các biến cố chính trị để cắt đoạn con đường mà báo chí đã đi qua. Thật vậy, T.T. Quốc, khi đi tìm ranh giới cho các giai đoạn, không để ý tới việc báo ra mắt, báo đóng cửa, báo phát triển như Thê Húc. Ông chỉ để ý tới việc báo chí có ý thức được nhiệm vụ chính trị của mình không mà thôi. Cũng chính vì quan niệm đó mà T.T. Quốc chỉ chia tiến trình báo chí ra làm hai : giai đoạn vô ý thức và giai đoạn ý thức.

Đối với T.T. Quốc, tiến trình báo chí, cả 100 năm dài, chỉ mang duy nhất một cái mốc giữa đường là năm 1926, năm mà nhà cách mạng Phan Châu Trinh về nước và chết. Đây là biến cố chính trị, hoàn toàn bắt nguồn từ lịch sử chính trị và chỉ ảnh hưởng tới báo chí chứ không phải là một biến cố của báo chí.

Như vậy, cái nhìn của T.T. Quốc đối với báo chí, đối với một người làm chính trị có thể là đầy đủ, nhưng đối với người làm báo thì quả là thiếu sót. Cái nhìn đó không cho chúng ta một hình ảnh đầy đủ về các giai đoạn lịch sử báo chí, và cũng không cho thấy gì ngoài một cái mốc duy nhất, hơi bé nhỏ, trên con đường quá dài và đầy rẫy biến cố.

Trên con đường dài và đầy rẫy biến cố đó, Nguyễn Ngu Ý đã đứng ra cắm bốn cái mốc, căn cứ vào những tiêu chuẩn khác nhau và cho chúng ta một quan niệm tổng hợp về các giai đoạn trong tiến trình của báo chí. Trong cái nhìn của Nguyễn Ngu Ý, ta thấy có tiêu chuẩn chính trị, tiêu chuẩn văn hóa, và cả tiêu chuẩn phát triển báo chí. Nguyễn Ngu ý có cái nhìn của một nhân vật vừa là chính khách, vừa là người làm báo, vừa là người làm văn hóa. Đủ bằng đó tiêu chuẩn được thu gọn vào tầm mắt của Nguyễn Ngu Ý khiến chúng ta thấy quan niệm của ông có phần đầy đủ hơn những quan niệm trước, và vẫn chính xác như vậy.

Nhưng nếu đứng trên một vị trí khác, đi tìm sự hoàn hảo trong sự phân chia các giai đoạn báo chí, thì cái nhìn của Nguyễn Ngu ý vẫn chưa thể được chấp nhận. Lý do là vì trong khi dùng một quan niệm tổng hợp để phân chia, Nguyễn Ngu ý không tận dụng được mọi biến cố lớn nằm ở mỗi khía cạnh. Nói một cách giản dị hơn, đã tổng hợp thì không nói được chi tiết, và ngược lại, đã nói tới chi tiết thì không thể tổng hợp được nhiều tiêu chuẩn. Chắc hẳn chính Nguyễn Ngu Ý cũng đã nhận thức được điều này nên khi làm cuộc phân đoạn, ông đã nói là « xin tạm phân chia cho dễ trình bầy chứ sự phân chia của ông không có gì là khẳng định ».

Ngoài những quan niệm của các học giả tiền phong, người phân chia lịch sử báo chí theo tiêu chuẩn lịch sử quốc gia có lẽ cũng không thể nào đưa ra một hình ảnh đầy đủ và hoàn hảo. Lịch sử chỉ ảnh hưởng tới báo chí trên một khía cạnh nào đó, không hoàn toàn làm cho báo chí lột xác hay nhảy vọt được. Chúng ta có thể tưởng tượng báo chí như một con tầu, ảnh hưởng của biển cả, của thời tiết, của giông tố có thể khiến cho nó chuyển hướng vào một thời gian nào đó chứ không thể làm cho con tầu này biến thành một con tầu khác.

Như vậy người phân chia lịch sử báo chí theo tiêu chuẩn lịch sử cũng không tránh khỏi cái phiến diện của người phân chia theo tiêu chuẩn chính trị. Tuy nhiên, tiêu chuẩn lịch sử cho chúng ta một hình ảnh rõ rệt hơn, với ba cái mốc trên con đường 100 năm của báo chí. Mỗi cái mốc đó giới thiệu một thời kỳ mà báo chí chuyển hướng, nhất là về phương diện ý thức trách nhiệm và tranh đấu. Cái nhìn của người phân chia báo chí theo tiêu chuẩn này có vẻ liên quan đến người viết sử nhiều hơn là một người làm báo hay chính khách. Nhưng dầu sao tiêu chuẩn này cũng có thể dùng để bổ khuyết cho việc phân chia lịch sử báo chí theo tiêu chuẩn chính trị vì sự liên hệ hỗ tương giữa chính trị và lịch sử.

Riêng về tiêu chuẩn văn hóa, nó có phải là cái thước chính xác nhất để đo bước tiến của báo chí hay không. Câu trả lời có lẽ cũng không ai khẳng định được. Lý do là vì nó cũng phản ảnh những biến đổi của làng báo Việt Nam qua tiến trình một trăm năm, nhưng chỉ cho thấy một mặt của những biến đổi đó, trong khi tiến trình của báo chí thì rất « đa diện ». Phân biệt các giai đoạn báo chí theo tiêu chuẩn văn hóa, cũng như theo các tiêu chuẩn riêng rẽ khác, không thể cho chúng ta một cái nhìn toàn diện và đầy đủ. Tiêu chuẩn văn hóa chỉ thích hợp cho người làm văn hóa và người viết báo vì sự hỗ tương giữa hai giới này.

Nếu có nới rộng ra thêm nữa thì tiêu chuẩn văn hóa có thể có ích cho những ai nghiên cứu về báo chí trên phương diện xã hội mà thôi.

Nói như vậy, người viết có ý muốn nhấn mạnh rằng chỉ một tiêu chuẩn văn hóa mà thôi không thể cho chúng ta một cái nhìn thích hợp cho đủ các giới như giới chính trị, giới sử gia, giới kinh tế. Với quan niệm đó, ta có thể thấy ngay rằng đo bước tiến của báo chí bằng cái thước văn hào thì cũng chẳng khác gì đo bằng cái thước lịch sử, cái thước chính trị riêng rẽ. Kết quả đo được cũng sẽ mang tính chất phiến diện mặc dù nó đầy đủ trên một khía cạnh nào đó nằm trong tầm ảnh hưởng của tiêu chuẩn đó.

Trong khi đó, việc phân chia giai đoạn báo chí bằng tiêu chuẩn độc giả mang nhiều tính chất thống kê hơn là phân tách. Việc phân chia như vậy cho người đọc một ý niệm về sự lớn mạnh của báo chí như một vật hữu hình chứ không phải một sinh hoạt xã hội và kỹ thuật. Con số độc giả tăng chắc chắn phản ánh sự phát triển của báo chí, nhưng trên một bình diện khác, có ai chắc chắn rằng giá trị của báo chí là tùy thuộc vào sự gia tăng con số độc giả.

Nói đúng ra, tiêu chuẩn độc giả trong việc phân chia giai đoạn báo chí cho chúng ta một kết quả nằm trong lãnh vực kinh tế, với mãi lực báo chí tính bằng con số. Tiêu chuẩn này chỉ có giá trị khi được dùng để bổ khuyết cho các tiêu chuẩn phân chia khác quan trọng hơn để người nghiên cứu tìm được một ý niệm đầy đủ về tiến trình của báo chí.

Như thế, cái nhìn vào con số độc giả gia tăng là cái nhìn của một nhà kinh tế đi tìm một con đường gia tăng mãi lực, hay một nhà thống kê muốn ghi lại những biến đổi mang tính chất thương mại của báo chí. Cái nhìn đó chẳng ảnh hưởng bao nhiêu đối với nhà chính trị, nhà viết sử hay nghiên cứu xã hội. Tuy nhiên nó không phải là không cần thiết cho chúng ta trong khi phân chia tiến trình báo chí Việt Nam trên mọi khía cạnh.

Cuối cùng, việc phân chia lịch sử báo chí theo tiêu chuẩn thế hệ tuy có đầy đủ và khá xác thực nhưng cũng chỉ nhằm khảo sát tiến trình của báo chí về phương diện ý thức mà thôi. Phương pháp phân chia này nhấn mạnh vào các biến cố lịch sử và bỏ sót một số yếu tố khác đánh dấu bước tiến của làng báo Việt Nam suốt quá trình 100 năm sinh hoạt.

4. KẾT LUẬN

Báo chí là một sinh hoạt gắn liền với các ngành sinh hoạt khác trong xã hội. Ảnh hưởng giữa nó đối với xã hội là một ảnh hưởng hỗ tương, nghĩa là nó chi phối các sinh hoạt xã hội trong khi tiếp nhận sự chi phối từ bên ngoài vào nội bộ của mình.

Vì lý do đó, báo chí không bao giờ đứng riêng rẽ trong không gian và thời gian. Nó không phải là sản phẩm độc lập. Mọi biến đổi xã hội, chính trị, lịch sử, kinh tế, đều có tầm ảnh hưởng đến báo chí, lúc đầu tạo cơ hội cho báo chí phát sinh và sau đó giúp báo chí phát triển. Nhưng chính trong khi báo chí phát triển, nó tạo nên những biến đổi, dù xa dù gần, đối với các ngành sinh hoạt khác.

Như vậy chúng ta làm sao phân tách được báo chí một cách đầy đủ và chính xác. Làm sao chúng ta có thể nói báo chí Việt Nam bước đi từ một giai đoạn này tới một giai đoạn khác ? Mọi tiêu chuẩn phân chia, như chúng ta thấy trong phần trước, đều chỉ có giá trị trên một phương diện nào đó chứ không thể dùng để đo báo chí trên mọi mặt. Có tiêu chuẩn chỉ thích hợp cho người làm báo. Có tiêu chuẩn chỉ thích hợp cho người làm chính trị. Và cũng có tiêu chuẩn khác chỉ thích hợp đối với một số người khác không ở trong hai ngành sinh hoạt nói trên.

Cái khó là ở chỗ đó. Khi nghiên cứu và phân tích báo chí, chúng ta không thể chỉ để mắt nhìn vào một khía cạnh mà thôi. Cái nhìn như thế sẽ hạn hẹp, thiếu sót, và chẳng đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu của người phân tích. Thí dụ một tiêu chuẩn chính trị của Trần Tấn Quốc không thể cho một người nghiên cứu báo chí về phương diện kinh tế một hình ảnh nào về con đường kinh tế mà báo chí đã đi qua. Ngược lại, chỉ riêng tiêu chuẩn kinh tế, căn cứ vào con số độc giả mua báo, cũng chẳng có giá trị là bao đối với người nghiên cứu báo chí về phương diện văn hóa.

Để tìm ra một cái thước đo vừa chính xác, vừa đầy đủ, vừa thích hợp cho mọi quan niệm khác nhau, có lẽ chúng ta không còn cách nào hơn là tổng hợp tất cả các tiêu chuẩn đã nói ở trên để phân tích tiến trình của báo chí. Dĩ nhiên, một cuộc phân tách căn cứ vào tất cả các tiêu chuẩn đó rất chính xác, nhưng cũng vô cùng phức tạp và khó khăn.

Nói chung, khi phân chia các giai đoạn trong tiến trình của báo chí, tiêu chuẩn nào cũng là cần thiết và không thể bỏ sót. Làm được như vậy thì cái nhìn của chúng ta mới đủ các góc cạnh phản ảnh mọi tiến triển của làng báo Việt Nam.

NGUYỄN VIỆT CHƯỚC (Hồng Hà) LƯỢC SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM Soạn theo chương trình của Bộ Giáo Dục để áp dụng vào việc giảng dạy môn Quốc Văn Lớp 12 và dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các Phân Khoa Truyền Thông Báo Chí IN LẦN THỨ NHỨT 1974 NHÀ XUẤT BẢN NAM-SƠN 36, Nguyễn an Ninh Saigon – Đ.T : 21.026 (cửa Tây chợ Bến Thành)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.