Lược Sử Báo Chí Việt Nam

Lượt đọc: 52 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 4 : NHỮNG KHUÔN MẶT LỚN CỦA LÀNG BÁO
1. TỔNG QUÁT

❊ ❊ ❊

Báo chí Việt Nam, suốt tiến trình hoạt động 100 năm kể từ 1965, đã có sự góp mặt của một số đông đảo những người cầm bút vừa chuyên nghiệp vừa tài tử. Từ lúc khởi thủy chào đời, báo chí Việt Nam trải qua rất nhiều biến cố lúc suy lúc thịnh nhưng bất cứ vào thời gian nào, giới cầm bút trong làng báo cũng vẫn kiên gan trung thành với lý tưởng và hàng ngũ của mình. Sự trung thành đó phát xuất từ nhiều lý do khác biệt đối với từng trường hợp riêng rẽ.

Đứng đầu hàng ngũ những người cầm bút của làng báo, theo thứ tự thời gian, là giới quan lại phục vụ chính quyền bảo hộ trong thời kỳ lệ thuộc. Giới này đi vào làng báo với rất ít ý thức quốc gia dân tộc nhưng nặng lý tưởng văn hóa. Họ muốn làm báo để quảng bá cho tiếng Việt Nam và du nhập tư tưởng phương Tây và nền văn hóa cổ truyền Đông Phương mong tạo được một sự hòa hợp tốt đẹp đưa tới tinh hoa của nghệ thuật. Mặc dù lớp người này, vì áp lực nặng nề về chính trị của chính phủ Pháp, không đi đúng được đường lối của dân tộc ta trong công cuộc đấu tranh chung dành quyền độc lập, nhưng không ai có thể phủ nhận công lao to lớn của họ trong công cuộc xây dựng nền văn hóa nước nhà. Chính nhờ công lao đó mà Việt Ngữ có được con đường tiến nhanh để đạt tới địa vị ưu thế sau này.

Sau ngày khai sanh của tờ báo đầu tiên ở nước ta, các nhà cách mạng đã nhìn thấy ngay sức mạnh của báo chí và ảnh hưởng của nó đối với lối sống quần chúng cũng như cuộc chiến đấu chống thực dân. Những nhà chí sĩ Việt Nam đã mau lẹ nhập vào làng báo, hoặc bằng các phương tiện riêng, hoặc lợi dụng ngay những tờ báo đã do chính phủ thực dân ấn hành, để sử dụng báo chí làm một thứ khí giới hỗ trợ cho việc tranh đấu. Đây là nhóm người cầm bút thứ hai trong hàng ngũ báo chí xứ ta. Họ không phải là những nhà báo chuyên nghiệp, không làm báo vì báo chí nhưng làm báo vì chính trị. Công lao của họ đối với nền văn hóa Việt Nam tuy nhỏ, nhưng trên phương diện ý thức dân tộc và nền độc lập xứ sở, họ đã xây dựng được những thành tích vĩ đại, những con đường vinh quang đưa người dân Việt Nam tới những chiến thắng chống lại nhà cầm quyền thuộc địa.

Xen trong hàng ngũ báo chí, đứng giữa những người cầm bút chiến đấu cho văn hóa và những người cầm bút chiến đấu cho tự do là một số không ít những cây viết mang nặng lý tưởng xã hội. Điển hình cho giới này là Nhóm Tự Lực Văn Đoàn và những đi theo ảnh hưởng của nhóm này cùng chung lưng đấu tranh cho một xã hội Việt Nam tốt đẹp hơn trong thời kỳ dân chúng Việt Nam còn sống trong cảnh khốn cực phát xuất từ chính sách thực dân của người Pháp. Những « chiến sĩ xã hội » trong làng báo Việt Nam là những người làm báo bán chuyên nghiệp, dùng báo chí làm một phương tiện xây dựng xã hội mới, đấu tranh nhằm xóa bỏ một xã hội cũ bất công, bị kềm kẹp và bóc lột.

Nhìn qua những khuôn mặt lớn đã mở đường và đóng góp công lao vào làng báo Việt Nam, chúng ta phải nhận rằng, không phân biệt khuynh hướng của họ, tất cả những người này đều có ảnh hưởng rất lớn đối với phương diện giáo dục, truyền bá văn hóa, chính trị và thông tin.

Thật vậy, những người cầm bút trong thời gian phôi thai của báo chí khoảng cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20 đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giáo dục quần chúng và truyền bá tư tưởng. Về phương diện này, họ là những người khai thông dân trí, ảnh hưởng của họ trong nhiều trường hợp mạnh hơn cả ảnh hưởng của những ngôi trường dạy chữ do chính phủ thuộc địa thành lập. Sự giáo dục phổ quát mà những người cầm bút cung cấp không những nhằm vào giới trẻ đang cầm sách tới trường mà còn giúp ích cho cả những người lớn đã vào đời, miễn là họ chỉ đọc được chữ quốc ngữ. Những người làm báo trong giai đoạn này có thể tự hào đã đóng vai trò một người hướng dẫn hay « sứ đồ » của thánh hiền để giáo dục quần chúng.

Không ai có thể phủ nhận vai trò của những người làm báo Việt Nam trên bình diện văn học. Văn học của chúng ta chỉ xuất hiện từ sau khi báo chí ra đời, với công lao của những người đã khai sinh ra nó. Những người này đều là những tác giả đầu tiên của các tác phẩm tiếng Việt. Huỳnh Tịnh Của, Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký chẳng hạn, những người đã từng viết trên Gia Định Báo, Đông Dương Tạp Chí và Nam Phong, đã có ảnh hưởng rất mạnh đối với nền văn hóa Việt Nam, điều mà các nhà khảo sát về sau không ai chối cãi. Họ là những kẻ tiền phong đối với nền văn chương chữ nôm, đưa tiếng Việt lên vị thế trọng yếu vào thời cận đại.

Xét chung về bình diện văn hóa, những người làm báo trong giai đoạn khởi thủy đều là những chiến sĩ văn hóa xả thân xây dựng xứ sở, nhất là những người hăng say chỉ trích lối học từ chương cũ và đề cao lối học mới. Trong khi đó, cũng chính họ là những người đóng vai trò chiến sĩ xã hội, có ảnh hưởng sâu rộng đối với quần chúng Việt Nam, mặc dù ảnh hưởng này luôn luôn bị chính quyền thực dân kềm kẹp để giảm bớt.

Đứng trên quan điểm lịch sử, chúng ta thấy vai trò của những người dùng ngòi bút để hướng dẫn quần chúng đi theo chiều hướng cách mạng quốc gia và ý thức dân tộc nổi bật hơn hết cả. Họ không phải là những người cầm bút chuyên nghiệp, nhưng ảnh hưởng của họ vượt hẳn lên trên mọi giới khác trong làng báo. Họ xuất hiện giữa một khung cảnh đặc biệt, với những biến cố đặc biệt, và do đó việc làm báo của họ mang một tính chất rất đặc thù. Mang lý tưởng cao xa là dành lại độc lập từ trong tay người Pháp, những người cầm bút đồng thời là các nhà cách mạng Việt Nam đã sử dụng báo chí một cách thật hữu hiệu để khích động quần chúng toàn quốc dấn thân vào cuộc đấu tranh chung chống Pháp. Tất cả những bài viết của họ đều kêu gọi lòng ái quốc, ý chí căm thù ngoại bang, đề cao việc coi thường cái chết, thúc đẩy giới trẻ trở thành những người hùng để đưa tinh thần dân tộc sống dậy. Mọi tác phẩm của họ cũng đề cao sức mạnh của quốc gia, khi toàn dân đoàn kết dành lấy quyền sống từ những kẻ đô hộ. Hơn tất cả những nhà cầm bút chuyên nghiệp, họ là những sĩ phu cương quyết cho những nhà cách mạng làm báo là Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, tác giả của những bài viết táo bạo gây ảnh hưởng vừa mạnh vừa lâu dài trong quần chúng.

Trong phần sau đây, chúng ta hãy nhận diện một số khuôn mặt lớn thuộc các khuynh hướng khác nhau nhưng đã cùng đóng góp công lao cho nền báo chí Việt Nam.

TRƯƠNG VĨNH KÝ

Sinh năm 1832 tại Vĩnh Long, ngay từ hồi 5 tuổi, ông đã bắt đầu học chữ Hán. Năm 1845, bỏ chữ Hán và bắt đầu học chữ quốc ngữ, ông được gửi vào một trường Công Giáo. Tới năm 1859, ông được nhà trường cấp nhiều học bổng để học các sinh ngữ khác nhau như Hy Lạp, Pháp, Anh, Nhật, Tây Ban Nha.

Sau khi ông Trương Vĩnh Ký tốt nghiệp và sau khi Gia Định Thành thất thủ, người Pháp đã giao phó cho một Giám Mục tìm một người Việt Nam nói giỏi tiếng Pháp để thông dịch trong những cuộc thương thuyết giữa hai chính phủ Pháp và Việt. Chính ông Trương Vĩnh Ký đã được cắt cử vào chức vụ này. Sau khi ký kết Hiệp Ước 1862, ông đã được cử giữ chức vụ thông dịch viên trong phái đoàn do Phan Thanh Giản cầm đầu sang Pháp. Trong dịp nầy, ông Trương Vĩnh Ký đã viếng thăm khắp nước Pháp và một vài nước khác ở Âu Châu như Tây Ban Nha, Ý, đồng thời có dịp làm quen với các danh nhân Pháp như Victor Hugo, Paul Bert, Renan.

Sau chuyến đi này, khi về nước, ông được chính phủ thuộc địa mời dạy học tại trường Collège des Administrateurs stagiaires và trường Collège des Interprètes. Cuối cùng năm 1869, ông được giao phó đảm trách tờ Gia Định Báo với chức vụ Giám Đốc, tờ báo này chính ông đã hợp tác viết kể từ ngày báo ra mắt vào năm 1865. Ông mất vào năm 1898.

HUỲNH TỊNH CỦA

Sinh năm 1834 tại Bà Rịa và mất năm 1907, ông Huỳnh Tịnh Của nổi tiếng tinh thông cả hai nền Hán Học và Tây Học. Năm 1861, ông được cử giữ chức vụ Đốc Phủ Sứ và Giám Đốc Phòng Phiên Dịch Tư Pháp của chính phủ. Chính ông đã đề nghị dùng chữ quốc ngữ thay chữ Hán. Trong một bản điều trần gửi cho vua Tự Đức, ông đã yêu cầu nhà vua cho xuất bản báo chí bằng chữ quốc ngữ để giáo dục quần chúng nhưng ông bị thất bại trong việc này. Ông là một trong những người Việt Nam đầu tiên có sáng kiến thành lập nền báo chí Việt Nam và một trong những cột trụ của tờ Gia Định Báo. Trong ban biên tập, ông chuyên viết về những bài kể chuyện cổ tích Việt Nam. Văn của ông thuộc loại giản dị và bình dân dễ hiểu.

Ngoài công việc của một nhà báo, ông Huỳnh Tịnh Của là người đầu tiên soạn ra một quyển tự điển để chỉ rõ nghĩa và cách viết chữ quốc ngữ khi tiếng nước ta còn trong tình trạng phôi thai. Đó là một tài liệu rất quý được xem như là một cuốn sách căn bản vững chắc để cho các nhà văn Việt Nam lúc bấy giờ dùng để viết cho đúng và chính nó cũng đã giữ một vai trò quan trọng trong văn học sử cận đại cũng như trong đời sống nền báo chí nước nhà.

NGUYỄN VĂN VĨNH

Ông Nguyễn Văn Vĩnh sinh năm 1882, theo học Trường Thông Ngôn và sau khi tốt nghiệp, ông làm việc cho chính phủ bảo hộ Pháp ở Bắc Kỳ. Sau chuyến đi của ông ở Pháp về ông xin từ chức và bắt đầu làm thương mại. Lúc đầu ông hợp tác với một người Pháp tên Dufour để mở nhà in.

Là một người rất thông minh và say mê văn hóa Tây Phương, Nguyễn Văn Vĩnh ngay từ lúc đầu đã nhận thấy các vai trò quan trọng của báo chí. Trong chuyến đi đầu tiên của ông sang Pháp năm 1906 ông đã học hỏi về ngành báo chí. Đọc tờ Tin Vắn số 1 ra ngày 28-7-1935 chúng ta thấy ngay giấc mơ của ông đối với việc làm báo : « Năm 1906 tôi được cử vào phái bộ sang dự cuộc đấu xảo ở Marseille. Gian hàng của Bắc Kỳ dựng liền với gian hàng của tờ báo Le Petit Marseillais. Ông chủ của tờ báo ấy muốn làm quảng cáo cho báo mình đã khuân cả cái tòa báo vào trong trường đấu xảo : xưởng máy, tòa soạn, trị đủ cả. Hằng ngày tôi thấy cái cảnh hoạt động trong tờ báo ấy mà thèm, máy chạy ầm ầm, phóng viên đi lấy tin tới tấp. Tôi thấy như đam mê cái nghề làm báo. Cả ngày tôi sang học hỏi hết cái này, cái nọ, ông chủ báo ôn tồn giảng dạy cho tôi rất tử tế ».

Sau đó lúc trở về Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh cộng tác với ông Đỗ Thuận giữ phần chữ quốc ngữ của tờ Đăng Cổ Tùng Báo. Ngoài ra ông còn chịu khó nghiên cứu học hỏi về kỹ thuật ngành in nữa.

Sau khi tờ Đăng Cổ Tùng Báo đình bản, Nguyễn Văn Vĩnh đảm nhiệm hai tờ báo khác bằng tiếng Pháp : tờ Notre Journal (1908) và tờ Notre Revue (1910) và một tờ báo bằng tiếng Việt xuất bản ở Saigon, tờ Lục Tỉnh Tân Văn. Năm 1913, với tư cách là chủ bút, Nguyễn Văn Vĩnh quản nhiệm tờ Đông Dương Tạp Chí xuất bản ở Hà Nội năm 1913, rồi lại quản nhiệm thêm một tờ báo khác là tờ Trung Bắc Tân Văn của FHF Schneider. Năm 1919, vì sức khỏe yếu kém, ông Schneider rút lui và giao cho Nguyễn Văn Vĩnh trông coi, khi đó ông Vĩnh đổi tờ báo này thành một nhật báo, đồng thời ông mua lại luôn tất cả dụng cụ của nhà in Trung Bắc Tân Văn. Cũng vào năm 1919, tờ Đông Dương Tạp Chí trở thành « Học Báo » tức là tờ báo có tính cách sư phạm do chính Nguyễn Văn Vĩnh điều khiển. Ông Nguyễn Văn Vĩnh còn thành lập cùng với ông Emile Veyrac, nhờ vào nhà in mua lại của Ông Schneider, một ban tứ thư lấy tên là « Tư Tưởng Tây Phương » chuyên việc xuất bản những tác phẩm văn dịch từ Pháp ngữ.

Năm 1931, với tư cách là Giám Đốc và Chủ Bút, Nguyễn Văn Vĩnh còn điều khiển một tờ báo khác lấy tên là L’Annam Nouveau tức là tờ báo mà ông Vĩnh cho ra đời trong dịp bút chiến giữa ông Phạm Quỳnh chủ bút tờ Nam Phong về vấn đề « chế độ trực trị và chế độ quân chủ lập hiến ».

Có một điều đặc biệt là Nguyễn Văn Vĩnh chẳng những điều khiển và trông nom rất nhiều tờ báo nhưng ông cũng viết rất nhiều. Ông viết hầu hết những bài báo từ xã luận đến tiểu thuyết, dịch thuật, dưới rất nhiều tên ký khác nhau. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng Nguyễn Văn Vĩnh là người đầu tiên đã biết lợi dụng và phát triển ngành báo chí cũng như ngành ấn loát tại Việt Nam.

Ngoài những hoạt động trong làng báo, Nguyễn Văn Vĩnh cũng rất thích bước chân vào sự nghiệp chính trị. Năm 1907, ông là người Việt đầu tiên được bầu làm Hội viên của Hội Nhân Quyền và cũng vào năm này ông vào giảng dạy ở trường Đông Kinh Nghĩa Thục do các nhà ái quốc Việt Nam tổ chức. Sau đó, ông đắc cử vào Hội Đồng Tư Vấn Bắc Kỳ. Năm 1932, Nguyễn Văn Vĩnh được cử lần thứ hai vào phái bộ Việt Nam cùng với vua Khải Định sang Pháp dự cuộc đấu xảo quốc tế tại Marseille.

Từ năm 1931, Nguyễn Văn Vĩnh đề ra chủ thuyết trực trị cho Việt Nam, một chủ thuyết trái ngược với chế độ quân chủ lập hiến do Phạm Quỳnh đề xướng. Ngoài ra, với những bút hiệu khác như Tân Nam Tử, Trần Thị Loan, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết nhiều bài sống động, thú vị, dí dỏm. Tuy mang một tinh thần hoàn toàn thân Pháp, Nguyễn Văn Vĩnh đã góp phần rất lớn vào việc thành lập nền văn học nước nhà.

Sau khi đã dành hầu như hết cả cuộc đời cho báo chí mà vẫn không có được cuộc sống đầy đủ, Nguyễn Văn Vĩnh thực hiện chuyến đi cuối cùng của đời ông : Ông sang Lào cùng với một người bạn Pháp tên Clément với hy vọng tìm được vàng, nhưng vàng không thấy, ông lâm trọng bệnh rồi mất vào ngày 2-5-1936.

PHAN KẾ BÍNH

Sinh năm 1875 ở Hà Đông, Ông Phan Kế Bính đỗ cử nhân Hán Học và phụ trách phần Hán văn của tờ Đăng Cổ Tùng Báo vào năm 1907. Ông cũng viết cho tờ Đông Dương Tạp Chí và trở thành biên tập viên đắc lực nhất của tờ báo này.

Một thời gian rời Bắc Việt, Ông Phan Kế Bính cộng tác với Lục Tỉnh Tân Văn ở Nam Kỳ. Năm 1914, ông trở về Bắc viết cho Đông Dương Tạp Chí. Đến năm 1918 khi tờ Đông Dương Tạp Chí đổi thành Học Báo, ông chuyên viết những bài xã luận cho tờ này. Ngoài tài học uyên bác về Hán Văn, Phan Kế Bính còn nghiên cứu thâm sâu về môn văn chương quốc âm và các phong tục nước nhà. Ông là một nhà báo kỳ cựu từng nổi bật trong thời gian cộng tác với Đông Dương Tạp Chí, Trung Bắc Tân Văn, Học Báo.

Phan Kế Bính cũng đã từng đạt được một văn nghiệp đáng kể. Ông viết nhiều về đủ mọi bộ môn : trước tác, dịch thuật, nghị luận, khảo cứu. Các tác phẩm của ông trong thời gian làm báo gồm những thiên truyện dài như Nam Hải Dị Nhân liệt truyện, Hưng Đạo Đại Vương truyện, những thiên khảo cứu như Việt Nam Phong Tục, Việt Hán văn khảo, và các tác phẩm dịch thuật như Tam Quốc Chí diễn nghĩa, Việt Nam nhất thống chí, và Đại Nam diễn lễ toát yếu.

Phan Kế Bính có một lối văn rất đanh thép, nhất là trong những bài nghị luận, nhưng trong các tác phẩm dịch thuật, lối văn của ông rất tự nhiên, lột hết được tinh thần của nguyên bản.

Ngoài tên thật, Phan Kế Bính còn có bút hiệu là Bưu Văn. Ông mất vào ngày 30-5-1921 tại quê nhà ở Hà Đông.

PHẠM QUỲNH

Phạm Quỳnh sinh năm 1892, lấy biệt hiệu là Thượng Chi, Hồng Nhân, người làng Thượng Hồng tỉnh Hải Dương. Sau khi đậu bằng Cao đẳng Tiểu Học, và tốt nghiệp Trường Thông Ngôn, ông được cử làm thư ký cho viện Viễn Đông Bác Cổ. Trong thời kỳ này, ông có dịp tham khảo những tài liệu quý giá và nhờ vậy mà kiến thức của ông rất rộng rãi. Ông bắt đầu cuộc đời làm báo năm 1913 bằng tờ Đông Dương Tạp Chí và rồi làm chủ bút cho tờ Nam Phong Tạp Chí. Trong suốt mười năm làm báo, ông đã xây đắp cho nền quốc văn một nền móng vững chắc và đã thâu thập tư tưởng văn hóa Âu Tây để làm giầu, bổ khuyết cho nền văn hóa cổ truyền. Từ năm 1932, ông từ giã cuộc đời làm báo để bước chân vào chính trường, lần lượt nắm giữ những chức vụ Thượng Thư Bộ Học, Thượng Thư Bộ Lại kiêm Ngự Tiền văn phòng cho Hoàng Đế Bảo Đại. Năm 1942, sau khi Việt Minh lên nắm chính quyền, ông bị kết án là thân Pháp và bị hạ sát.

Văn nghiệp của Phạm Quỳnh rất lớn, gồm rất nhiều tác phẩm chia ra làm nhiều thể loại : loại dịch thuật với những tác phẩm Phương Pháp Luận, Đời Đạo Lý, Lời cách ngôn của Marc Aurèle, Tuồng Lôi Sích và Tuồng Hoà Lạc. Về trước tác phẩm, ông đã viết Mười Ngày ở Huế, Một Tháng ở Nam Kỳ, Pháp Du Hành Nhật Ký và một số tác phẩm về tục ngữ, ca dao Việt Nam. Ngoài hai loại trên đây, Phạm Quỳnh viết nhiều thiên khảo cứu và nghị luận như Văn Học Nước Pháp, Khảo về Tiểu Thuyết, Bàn về quốc học, Văn Minh Luận, cùng với một số tác phẩm về xã hội và tôn giáo. Những tác phẩm trên có tính cách văn chương, chính trị và triết học. Những bài khảo cứu của ông rất công phu. Văn Phạm Quỳnh, dù diễn tả trên mặt báo hay trên sách, cũng rất hùng hồn, thường thường có giọng thiết tha. Tuy vậy, cũng có những bài viết quá nặng nề vì dùng nhiều danh từ Hán Việt quá.

Phạm Quỳnh mất năm 1945 sau khi đã đóng góp một di sản quý giá cho làng báo và làng văn Việt Nam.

NGUYỄN BÁ HỌC

Nguyễn Bá Học sinh năm 1857 tại làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Ông theo học Hán văn từ hồi nhỏ nên rất uyên thâm Hán Học, sau lại đậu bằng Cao đẳng Tiểu Học Pháp nên rất giỏi Pháp văn và chữ quốc ngữ. Ông dạy học hơn 20 năm và là một nhà mô phạm gương mẫu. Đi vào làng báo, ông cũng trở thành một nhân vật nổi bật, với những chuyện sáng tác, trú thuật.

Văn nghiệp của Nguyễn Bá Học được giới làm báo tại Việt Nam cho là quan trọng ở tính chất khai phá vì ông là người đầu tiên viết truyện ngắn theo lối mới. Các truyện ngắn của ông được đăng trên Đông Dương Tạp Chí và Nam Phong Tạp Chí rất nổi tiếng lúc bấy giờ. Một số truyện tiêu biểu khuynh hướng của Nguyễn Bá Học là Câu Chuyện gia đình, Câu Chuyện Nhà Sư. Tuy ngày nay các truyện ngắn của ông đã trở nên cổ nhưng vẫn còn chứa đựng tính chất luân lý đạo đức, giáo dục. Lối văn của Nguyễn Bá Học bình dị, ít vẻ hoa mỹ nhưng ý tứ thâm trầm. Ông mất vào năm 1921.

PHAN KHÔI

Phan Khôi biệt hiệu Chương Dân, sinh năm 1887 tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông đỗ Tú Tài Hán Học, từng cộng tác với rất nhiều báo. Các văn phẩm của Phan Khôi phần nhiều là các bài nghị luận hoặc phê bình, hay khảo cứu đăng trong tờ Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Pháp Thời Báo, Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn, Phụ Nữ Thời Đàm, Nam Phong, Tràng An, Sông Hương.

Phan Khôi xuất thân từ dòng dõi nổi tiếng. Thân sinh của ông là Phan Trân, trước làm Tri Phủ phủ Điện Khánh nhưng sau từ quan về nhà dạy học. Thân mẫu ông là con gái cụ Hoàng Diệu. Năm 1907, Phan Khôi rời quê ra Hà Nội tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Trong cuộc biểu tình đòi giảm thuế xảy ra ở Quảng Nam vào năm 1908, ông bị bắt giam cho đến năm 1914 mới được thả. Thoát khỏi nhà tù thực dân, ông lăn xả vào cuộc đời làm báo, viết cho rất nhiều tờ tại cả miền Trung, Nam và Bắc. Năm 1945, ông đi theo Việt Minh.

Ngoài các bài viết báo, Phan Khôi còn sáng tác rất nhiều tác phẩm. Ông còn nổi tiếng là nhà thơ Việt Nam đầu tiên mở đường cho phong trào thơ mới, với bài thơ bất hủ « Tình Già » :

Hai mươi năm xưa

Một đêm vừa gió lại vừa mưa

Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ

Đôi mái đầu xanh, kề nhau than thở

« Ôi đôi ta thương nhau thì vẫn nặng

Mà lấy nhau hẳn là không đặng

Để đến nỗi tình trước phụ sau

Chi bằng sớm liệu mà buông nhau »

Nhận xét chung về Phan Khôi, các nhà phê bình văn học cho rằng ông tuy là một nhà cựu học nhưng tư tưởng của ông rất mới mẻ. Ông phê bình rất táo bạo với lời văn hoạt bát, tự nhiên pha lẫn dí dỏm khiến những bài báo của ông luôn luôn có đủ sức thu hút độc giả. Ngoài ra, văn chương của Phan Khôi luôn luôn biểu lộ một sức sống mãnh liệt và một tinh thần bất khuất gắn liền vào lương tri của con người cầm bút chỉ biết sống theo lý tưởng của mình. Dù trong hoàn cảnh khó khăn đến mấy, Phan Khôi cũng xứng đáng tiêu biểu cho người làm báo, làm văn chân chính, không hề run sợ trước bạo lực và cường quyền, cũng như không thể bị tư lợi làm cho mất nhân cách. Tác phẩm luận đề mang tên « Nắng Chiều » của ông, nội dung chứa đựng những lập luận vững chắc, nhưng không được nhà cầm quyền Hà Nội cho phép xuất bản.

Những năm cuối cùng trong đời, Phan Khôi đã chứng tỏ lối sống bất khuất của ông bằng cách tự do viết những cảm nghĩ thực của ông trong tờ Nhân Văn Giai Phẩm tại Hà Nội. Vụ này đã gây sôi nổi một thời gian trong giới báo chí Việt Nam ở cả hai miền, và cũng đã khiến cho mọi người cầm bút tỏ lòng thán phục ông như một nhà văn còn giữ được những tình cảm chân thực của con người giữa xã hội máy móc tàn bạo. Câu nói nổi tiếng của ông dưới đây đã khiến ông phải đi vào cuộc sống tù đày sau khi gây nên vụ án « Nhân Văn Giai Phẩm » :

« Khi ghét cứ nói rằng ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không đổi ghét thành yêu

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không đổi yêu thành ghét ».

NGUYỄN TRỌNG THUẬT

Nguyễn Trọng Thuật sinh năm 1882, lấy hiệu là Đồ Nam Tử, người xã Mạn Nhuế, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Ông tinh thông Hán học, trước đi dạy học sau viết cho khá nhiều tờ báo đặc biệt là Nam Phong Tạp Chí và Đuốc Tuệ. Riêng trong tờ Đuốc Tuệ, ông ký tên là Tràng Thiệt cư sĩ.

Những tác phẩm của Nguyễn Trọng Thuật gồm đủ mọi bộ môn : tiểu thuyết, khảo cứu, nghị luận và thơ. Năm 1925, cuốn tiểu thuyết mang nặng tính chất giáo dục của ông, tựa đề « Quả Dưa Đỏ » đã được giải thưởng của Hội Khai Trí Tiến Đức. Đây là một tiểu thuyết luận đề đặc sắc, đề cao sự chịu đựng của con người và thuyết duy linh, tin vào quyền năng của thượng đế. Ngoài ra, ông viết cuốn « Thơ Ngụ Ngôn » gồm hai quyển, một do chính ông soạn, còn một cuốn do ông diễn giải những bài thơ ngụ ngôn cổ của Trung Hoa. Trong khi hoạt động về báo chí, Nguyễn Trọng Thuật vẫn ôm mộng phát triển tiếng quốc ngữ, do đó ông đã sáng tác cuốn « Việt Văn Tinh Nghĩa » nói về nguồn gốc tiếng Việt và bàn việc đặt văn phạm tiếng Việt theo tiếng Pháp cho được chính xác và khoa học.

Nguyễn Trọng Thuật cũng được ca ngợi là một nhà báo tài ba khi ông viết cho tờ Nam Phong Tạp Chí. Một thời gian, tên tuổi ông vang dội trong làng báo nhờ cuộc bút chiến với Phan Khôi trên tờ Phụ Nữ liên quan đến việc thẩm định nền quốc học vào năm 1931, theo đó Ông Phan Khôi cho rằng nước ta chưa có được một nền quốc học.

Nguyễn Trọng Thuật, để đối chọi lại Phan Khôi, đã viết rằng dân tộc nào cũng có những sáng tạo riêng nên dù có chịu ảnh hưởng ngoại lai chăng nữa thì Việt Nam vẫn có một nền quốc học. Quan điểm của ông cho thấy ông là một chiến sĩ văn hóa nặng lòng với việc phát huy nền văn hóa cổ.

Vai trò của Nguyễn Trọng Thuật trong làng báo Việt Nam còn quan trọng ở chỗ ông là người đầu tiên viết một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu (Quả Dưa Đỏ) khiến ông trở thành người tiên phong trong trào lưu sáng tác. Trong khi đó, những bài khảo luận của ông, tuy không xuất sắc bằng Phan Kế Bính nhưng cũng có công làm cho nền văn học Việt Nam thêm phần phong phú.

Nguyễn Trọng Thuật mất năm 1940 sau gần hai chục năm hoạt động trong làng báo kể từ Nam Phong Tạp Chí.

NGUYỄN VĂN TỐ

Sinh năm 1889, Nguyễn Văn Tố lấy biệt hiệu là Ứng Hoà, xuất thân từ trường Thông Ngôn và Trường Luật Hà Nội. Ông phục vụ cho Viện Bác Cổ Viễn Đông một thời gian rồi gia nhập phong trào kháng chiến chống Pháp.

Gia nhập hàng ngũ những người làm báo, Nguyễn Văn Tố khởi hành bằng tờ Đông Dương Tạp Chí, rồi tới Tri Tân Tạp Chí và Đồng Thanh tạp chí. Ngoài ra, ông còn viết bài cho tập kỷ yếu của Trường Viễn Đông Bác Cổ và tập kỷ yếu của Hội Trí Tri Bắc Kỳ.

Công lao của Nguyễn Văn Tố đối với nền văn học Việt Nam cũng xuất phát từ những ngày ông viết báo. Ông chuyên dịch những tài liệu hay từ Pháp ngữ sang Việt ngữ, cùng với rất nhiều bài phê bình, khảo cứu, đính chính các tác phẩm văn học và lịch sử Việt Nam. Ông cũng từng viết nhiều tác phẩm khảo cứu quan trọng như Đại Nam Dật Sử và Những Ông Nghè Triều Lê.

Nhận định tổng quát về Nguyễn Văn Tố, giới phê bình văn học cho rằng ông là một người làm báo vì lý tưởng văn hóa, đồng thời là một học giả uyên thâm, một nhà khảo cứu thận trọng, một người thiết tha với nền văn hóa dân tộc. Ông đã thực hiện được một việc rất cần thiết mà nhiều nhà văn học chờ đợi là đính chính những sai lầm trong các tác phẩm văn chương và lịch sử Việt Nam. Lối văn của ông nhẹ nhàng, lưu loát, ít dùng chữ Hán nên rất bình dị.

Nguyễn Văn Tố mất năm 1947 khi đang hoạt động tại chiến khu chống Pháp.

NGUYỄN AN NINH

Ra đời năm 1900, Nguyễn An Ninh dành suốt cả cuộc đời mình cho cách mạng và mất năm 1943 tại Côn Đảo.

Nếu như những người khác sẵn sàng chấp nhận một cuộc sống do thực dân sắp đặt, chắc chắn Nguyễn An Ninh có thể vinh thân phì gia trong cuộc đời nhung lụa… Nhưng ông đã từ bỏ tất cả mọi đặc ân do người Pháp ban phát để chấp nhận một cuộc sống đầy gian nan thiếu thốn.

Nguyễn An Ninh nguyên quê quán tại ấp Mỹ Hoà, Hóc Môn, Gia Định. Ngày đi học, ông được cấp hai học bổng để theo học Trường Đại Học Hà Nội rồi qua Pháp đậu bằng Cử Nhân Luật. Trong thời gian ở Pháp, ông đã du lịch sang Ý, Áo, Đức, Hoà Lan và Bỉ.

Ngày đi vào làng báo, Nguyễn An Ninh còn rất trẻ, lạc quan và nổi danh về trí thông minh. Ông từng diễn thuyết ở nhiều nơi về những cao trọng của thanh niên và được nhiều người hâm mộ về tài hùng biện. Ngày 24-3-1925, Nguyễn An Ninh cầm đầu cuộc biểu tình ở Saigon và bị bắt, truy tố ra toà. Tính tổng cộng, Nguyễn An Ninh đã phải vào tù tất cả 5 lần nhưng vẫn không hề nản chí. Mỗi khi được thả ra, ông lại tiếp tục tranh đấu cho cách mạng qua phương tiện báo chí của ông là tờ La Cloche Felée, một tờ báo có sinh khí vũ bão tranh đấu chống nhà cầm quyền Pháp. Trong thời gian đầu, tờ La Cloche Felée được phát hành mỗi tuần một lần, nhưng từ số 20 trở đi, tờ báo này được đổi thành mỗi tuần 2 lần và trở thành cơ quan tuyên truyền dân chủ với chủ trương ghi ngay trên mặt báo « Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh ».

Lịch sử báo chí Việt Nam ghi nhận Nguyễn An Ninh là người đầu tiên bị nhà cầm quyền Pháp kết án nặng nề. Lần đầu ra toà, ông bị 18 tháng tù. Lần sau 3 năm tù ở. Lúc đó chính là lúc ông điều khiển tờ La Cloche Felée ở vào thời kỳ có ảnh hưởng mạnh nhất. Lần thứ ba, Nguyễn An Ninh cũng lại vào tù vì tờ báo của ông, rồi đến lần thứ tư bị 5 năm biệt xứ vì hành động chính trị. Lần cuối cùng, ông bị lưu đầy ra Côn Đảo cho tới ngày bị bệnh mà chết.

Cuộc đời của Nguyễn An Ninh là cuộc đời của một chiến sĩ. Trong suốt những ngày làm báo, ông chỉ mong truyền bá những tư tưởng ái quốc và đề cao tinh thần bất khuất của người trí thức trước sự tồn vong của đất nước. Ngoài tờ La Cloche, Nguyễn An Ninh cũng còn cộng tác với một vài tờ báo tiếng Pháp theo cùng đường lối như tờ La Cloche nhưng ít ảnh hưởng hơn. Rồi tới khi ông vào tù, tờ báo được giao lại cho Phan Văn Trường điều khiển nhưng chỉ được một thời gian thì tờ báo đình bản.

Đối với quần chúng Việt Nam, và nhất là giới trẻ, Nguyễn An Ninh là một thần tượng của cuộc đấu tranh chống Pháp. Ông được ca tụng là người có một lý tưởng không thể lay chuyển được, và lúc nào cũng sống với lý tưởng đó. Ngoài việc làm báo, Nguyễn An Ninh còn đi về các tỉnh xa và các vùng nông thôn để sống với quần chúng, diễn thuyết, khơi động tinh thần dân tộc. Ngay từ ngày còn đi học tại Pháp, ông cũng đã từng diễn thuyết cho các sinh viên Việt Nam nghe và ông đã công khai đả kích chính sách thực dân của người Pháp tại Đông Dương.

Một điểm đặc biệt khác về Nguyễn An Ninh là ông sống thật liêm khiết và thiếu thốn từ ngày còn nhỏ cho tới lúc lìa đời.

BÙI QUANG CHIÊU

Cộng tác với tờ Nam Phong Tạp Chí của Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu không nổi tiếng được như Phạm Quỳnh nhưng cũng đã đóng một vai trò quan trọng về những vấn đề văn học, nghệ thuật, triết học. Ở miền Nam, nhà báo Bùi Quang Chiêu được nhiều người biết tới là nhờ ông có chân trong Đảng Lập Hiến Đông Dương và là Giám Đốc của tờ La Tribune Indochinoise.

Sanh quán tại Bến Tre, chào đời năm 1873, Ông Bùi Quang Chiêu du học tại Algérie, bạn với Van Vollenhoven là người sau này được cử làm Toàn Quyền tại Đông Dương. Sau khi thi đậu Tú Tài tại Alger, Bùi Quang Chiêu vào học Trường Canh Nông tại Paris, ra trường năm 1897 với bằng Kỹ Sư Canh Nông.

Về Saigon, ông làm việc cho Viện Khảo Cứu Saigon, khi trường Canh Nông Huế thành lập, triều đình Huế mời ông ra dạy. Năm năm sau, chính phủ Pháp bổ nhiệm ông làm Phó Giám Đốc Nha Canh Nông ở Hà Nội. Năm 1907, ông được nhà nước giao phó chăm sóc thí điểm nuôi tầm và dệt lụa ở Tân Châu. Năm 1913, ông trở lại Hà Nội để nghiên cứu vấn đề tơ lụa. Tất cả những công việc này, dù đưa lại cho ông nhiều lợi lộc và danh vọng, nhưng vẫn không lôi cuốn ông bằng nghề viết báo.

Bùi Quang Chiêu sống một cuộc đời rất đa dạng : làm báo, làm chính trị, làm kinh thương, và tương đối thành công trong cả mọi ngành hoạt động. Riêng trong ngành báo chí, ông luôn luôn đi theo chiều hướng dung hoà giữa những ảnh hưởng tương phản và chủ xướng chính sách « Pháp Việt đề huề ». Theo ông : « người Pháp đã góp phần thắt chặt tình thân hữu Việt Pháp tạo nền móng vững chắc để từ đó Đông Dương sẽ vươn lên đẹp đẽ và vững mạnh. Người Việt Nam đã từng yêu mến nhiều người Pháp có thiện chí, mà họ xem như là bạn thân, là anh cả. Những người anh cả này sẵn sàng đền đáp lại, giúp đỡ đàn em… »

HOÀNG TÍCH CHU

Hoàng Tích Chu là người tiêu biểu cho phái làm báo chuyên nghiệp. Ông sinh năm 1897 và chết yểu vào năm 1932 nhưng đã giúp ích rất nhiều cho làng báo Việt Nam.

Sau khi du học ở Pháp về, Hoàng Tích Chu chủ trương tờ Đông Tây, nhờ đó ông có đất đứng để làm đảo lộn tất cả kỹ thuật làm báo cũng như phương pháp hành văn báo chí. Thời bấy giờ, văn xuôi trên báo thường rất dài dòng, nặng về điển tích và dùng quá nhiều chữ Nho không cần thiết. Hoàng Tích Chu đã giới thiệu lối hành văn đơn giản, sáng sủa, khiến người đọc dễ lãnh hội hơn theo kiểu hành văn của báo chí Pháp. Thoạt tiên các bạn đồng nghiệp của ông không mấy tán thành nhưng rồi họ bắt chước theo. Quả là Hoàng Tích Chu đã mở một phong trào mới, cải tiến lối hành văn không riêng gì cho báo chí mà còn giúp ích cho cả tiểu thuyết và truyện ngắn.

Năm 1927, Hoàng Tích Chu, với sự cộng tác của Đỗ Văn Phối, đã điều khiển tờ Hà Thành Ngọ Báo, đánh dấu một bước tiến mới so với các báo đã ra mắt trước đó. Cũng trên tờ báo này, Hoàng Tích Chu đã phá lối văn mang nặng dấu vết biền ngẫu, chứa đựng toàn điển tích Trung Hoa, và áp dụng lối văn mới gọn gàng, sáng sủa. Bằng lối văn này, ông đã viết những bài xã luận thật sắc bén và hữu hiệu. Ngoài ra ông còn « cách mạng » cả bộ mặt của tờ báo bằng cách thay đổi vị trí của các mục tin tức và xã luận để làm nổi bật tính cách thời sự sốt dẻo của nội dung tờ báo.

Quả thật Hoàng Tích Chu đã thực hiện một cuộc cách mạng trong làng báo Việt Nam. Lúc ban đầu, ông đã gặp phản ứng dữ dội vì độc giả chưa quen với lối hành văn tắt, ngắn gọn mà họ chê là quá vắn tắt, văn lai Tây, lập dị, khôi hài. Hậu quả là báo bán không được, thiệt hại rất nhiều về phương diện tài chánh. Nhưng về sau, với trình độ dân trí cao thêm, lối hành văn của ông đã được các báo khác khai thác một cách mỹ mãn. Tuy vậy, trong cuộc đời làm báo, Hoàng Tích Chu đã mắc phải một khuyết điểm lớn : đó là ông đã đề cao quá lố lối sống buông thả của Tây Phương và áp dụng ngay lối sống đó cho chính mình. Cả nhóm người viết báo của ông sống rất phóng túng, rượu chè, khiêu vũ, hút thuốc phiện và nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp, trong khi làng báo Việt Nam sống rất đạo mạo và khép mình vào trong các khuôn phép cổ. Chính nhóm Hoàng Tích Chu đã thúc đẩy thanh thiếu niên Việt Nam vào con đường trác táng qua ảnh hưởng của tiểu thuyết và thơ.

Các nhà khảo sát lịch sử Báo Chí Việt Nam cũng nhận định rằng, Hoàng Tích Chu, xuất thân từ tầng lớp trí thức tư sản và sau một thời gian học tập về báo chí tại Pháp, khi trở về nước, đã sống theo nền văn minh mới của Pháp nhiều hơn tập tục Việt Nam. Về cá nhân, ông muốn mô phỏng nếp sinh hoạt Âu Châu, trong khi về nghề nghiệp, ông mô phỏng kỹ thuật của Pháp. Khi làm báo, ông đặt nặng vai trò thông tin hơn vai trò giáo dục quần chúng, và dĩ nhiên coi nhẹ khía cạnh luân lý, triết học và truyền thống dân tộc. Kể từ thời Hoàng Tích Chu, các ký giả Việt Nam từ bỏ y phục lối cổ mà mặc Âu Phục, đi đâu thì xách máy ảnh bên người cho thiên hạ biết ngay mình là « thầy ký giả ». Hình ảnh một ký giả Việt Nam ngay từ ngày đó cũng đã không khác một ký giả ngoại quốc.

Về phương diện văn học, ảnh hưởng của Hoàng Tích Chu tuy có nhưng yếu ớt. Ông thường bị nhiều luồng dư luận chỉ trích nặng nề về việc đề cao lối sống phóng túng, hưởng lạc cá nhân và thói quen của ông là « thách đấu súng hay đấu kiếm » mỗi khi muốn kết thúc một cuộc bút chiến trên mặt báo. Thói quen này ông cũng bắt chước theo các ký giả Tây Phương vào cuối thế kỷ 19. Sự chỉ trích nặng nề nhất dành cho ông là việc phổ biến tư tưởng lãng mạn của Tây Phương để chi phối giới trẻ Việt Nam làm va chạm mạnh tới nền luân lý phong kiến Khổng Mạnh.

SƯƠNG NGUYỆT ANH

Các tài liệu văn học ghi nhận quá ít về một nhân vật có tầm vóc quá lớn trong lịch sử báo chí : đó là Bà Sương Nguyệt Anh, người chủ trương tờ báo dành cho nữ giới ra mắt lần đầu tiên vào năm 1918, tờ « Nữ Giới Chung » (Tiếng Chuông của phái nữ).

Nữ sĩ Sương Nguyệt Anh là con gái cụ Đồ Chiểu, lúc còn nhỏ theo cha học Hán văn nhưng sớm chuyển qua Âu học cho tới ngày đỗ Cao Đẳng Tiểu Học thì nhập vào hàng ngũ làng báo bằng tờ Nữ Giới Chung với mục đích giải phóng chị em phụ nữ khỏi bao nhiêu trói buộc của luân lý phong kiến. Nữ sĩ Sương đã nuôi giấc mộng xã hội này ngay từ khi còn nhỏ nhưng chưa có cơ hội thực hiện. Mãi cho đến khi phong trào báo chí nổi lên rầm rộ và ảnh hưởng đời sống Tây Phương bắt đầu thấm vào xã hội Việt Nam qua ảnh hưởng của những người làm báo cấp tiến như nhóm Hoàng Tích Chu, Sương Nguyệt Anh mới quyết đứng dậy thực hiện lý tưởng xã hội của mình, và mở đầu cho phong trào báo chí phụ nữ.

Nhưng trong cuộc đời làm báo, Sương Nguyệt Anh không gặp được con đường bằng phẳng dễ dàng. Tờ Nữ Giới Chung do bà chủ trương tuy có gặt hái được chút ít thành công nhưng đã gặp phản ứng dữ dội vì lý do lúc đó phái yếu ở xứ ta vẫn còn thờ ơ với thời cuộc và thường không ưa thích những cải tiến quá táo bạo dù những cải tiến này có lợi cho họ. Tờ báo do đó phải đình bản nhiều lần, sau những số báo đầu tiên cổ động cho việc phái yếu thoát ly gia đình để tham gia các công tác xã hội bị đả kích, bị chê cười mỉa mai. Thiếu sự ủng hộ của đồng bào, tờ báo không có độc giả trong phái yếu và chỉ lần hồi phát triển được trong những năm sau 1930. Tuy vậy, Sương Nguyệt Anh vẫn không nản lòng và vẫn tiếp tục sống chết với nghề làm báo. Trong lịch sử báo chí Việt Nam, nữ sĩ Sương Nguyệt Anh là người đầu tiên của phái nữ góp mặt vào hàng ngũ những người cầm bút chuyên nghiệp.

ĐÀO TRINH NHẤT

Đào Trinh Nhất, một người làm báo nhà nghề, gia nhập hàng ngũ những người làm báo vào năm 1929 với tờ « Phụ Nữ Tân Văn » tại Saigon, do bà Chủ Nhiệm Nguyễn Đức Nhuận trông coi. Ngay sau khi bắt tay cộng tác, Đào Trinh Nhất đã trở thành nổi tiếng hơn cả bà Chủ Nhiệm. Năm 1942, Đào Trinh Nhất cộng tác với tờ Trung Bắc Chủ Nhật và viết nhiều bài khảo cứu giá trị trên tờ này.

Công lao của Đào Trinh Nhất đối với làng báo Việt Nam rất lớn. Tuy không là người đầu tiên khai sáng phong trào báo phụ nữ, Đào Trinh Nhất là một chiến sĩ xã hội luôn luôn hướng về đại chúng. Trong khi giữ chức chủ bút cho tờ Phụ Nữ Tân Văn, Đào Trinh Nhất đã chú trọng tới các mục thường xuyên về ý kiến đối với thời sự, vấn đề giải phóng phụ nữ Việt Nam, vấn đề tổ chức gia chánh, vệ sinh, khoa học và đặc biệt hơn hết là mục dành cho nhi đồng.

Một điểm khác đã giúp cho Đào Trinh Nhất thành công trong nghề làm báo là việc dùng tờ Phụ Nữ Tân Văn vào khuynh hướng chính trị. Mặc dù tờ báo này, như danh nghĩa của nó, chỉ nhằm vào đối tượng chính là lối sống nữ giới, nó đã được sử dụng để khơi động ý thức dân tộc trong đám quần chúng đông đảo và thành công vượt bực. Cũng trong khi trông coi tờ báo này, Đào Trinh Nhất đã kết hợp được những người cầm bút có thành tích cách mạng để dễ dàng khích động dư luận.

Đào Trinh Nhất cũng được coi là người làm báo nặng tinh thần xã hội.

NHẤT LINH (1906-1963)

Nhất Linh, một khuôn mặt nổi bật trong làng báo Việt Nam và cột trụ của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, sinh tại làng Cẩm Giang, tỉnh Hải Dương, Quảng Nam. Tên thật của ông là Nguyễn Tường Tam, và ngoài bút hiệu Nhất Linh, ông còn dùng bút hiệu Nhị Linh, Bách Linh.

Ông học Trường Bưởi Hà Nội, đậu bằng Thanh Chung năm 1920 và làm thơ ký sở Tài Chánh. 6 năm sau, ông cho ra đời cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông là cuốn « Nho Phong », sau đó sang Pháp du học, đậu bằng Cử Nhân Khoa Học và trở về nước năm 1930. Kể từ đó ông lăn xả vào nghề làm báo.

Bước đầu tiên của Nhất Linh là điều khiển tờ Phong Hóa, do ông Phạm Hữu Ninh trao lại vào năm 1932. Tới năm 1935, ông sáng lập tờ « Ngày Nay » gây một tiếng vang lớn. Năm 1945, ông từ Trung Hoa trở về và chủ trương tờ Việt Nam để chống lại Việt Minh. Sau Hội Nghị Genève, ông lập nhà xuất bản Phượng Giang và chủ trương giai phẩm « Văn Hóa Ngày Nay ».

Song song với nghề làm báo, Nhất Linh hoạt động chính trị chống Pháp, chống Việt Minh, chống mọi hình thức thực dân, độc tài, và năm 1960, ông thành lập Mặt Trận Quốc Dân Đoàn Kết chống chế độ Ngô Đình Diệm. Ngày 7-7-1963, ông dùng độc dược tự tử trước ngày bị chế độ Ngô Đình Diệm đưa ra Tòa án xét xử. Cái chết của ông đã gây xúc động mãnh liệt ở trong nước cũng như trên quốc tế. Trên cả hai phương diện chính trị và văn hóa, Nhất Linh có một tầm vóc ít nhà văn khác sánh kịp.

Về phương diện văn hóa, Nhất Linh là người có công lớn nhất trong thời tiền chiến, nhờ sự nghiệp của ông trong ngành báo chí. Chính ông đã đưa tờ Phong Hóa từ chỗ không ai biết đến chỗ có ảnh hưởng sâu rộng trong mọi giới Tự Lực Văn Đoàn. Và tờ Ngày Nay sở dĩ có uy thế trội hẳn đối với các tạp chí khác một phần lớn cũng là nhờ tài tổ chức của ông. Những tác phẩm ông viết nhất là loại luận đề không những đã mở một chân trời mới cho cả một khuynh hướng văn chương mà còn gây được những thành quả vĩ đại về phương diện xã hội.

Về phương diện chính trị, Nhất Linh cũng được xưng tụng là nhà đại cách mạng có đủ thành tích chống thực dân, chống độc tài vừa bằng tư tưởng, bằng hành động, qua báo chí và qua các tác phẩm của ông. Cái chết đúng lúc của ông vào năm 1963 đã làm sáng thêm một gương phấn đấu bất khuất. Sau khi ông mất, nhiều nhà bình luận cho rằng chính cái chết của ông đã làm sống lại sự nghiệp chính trị và văn hóa của ông.

KHÁI HƯNG (1896-1947)

Tên thật là Trần Khánh Giư, Khái Hưng sinh tại làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương, con ông Tuần Phủ Trần Mỹ.

Sau khi thi đỗ Tú Tài Pháp, Khái Hưng làm giáo sư Trường Tư Thục Thăng Long và đi ngay vào làng báo bằng tờ Phong Hóa, trên đó ông chuyên viết bài nghị luận. Năm 1932, khi tờ báo này được trao cho Ông Nguyễn Tường Tam điều khiển, Khái Hưng chuyển hướng sang địa hạt tiểu thuyết và dùng các tác phẩm của ông hỗ trợ cho lý tưởng xây dựng một xã hội mới, đả phá nếp sống cổ hủ và chậm tiến.

Trong những năm hoạt động chính trị, Khái Hưng vẫn không rời bỏ sáng tác. Năm 1941, ông và Hoàng Đạo bị nhà cầm quyền Pháp bắt giam. Khi được thả ra, ông cộng tác với Nguyễn Tường Bách xuất bản tờ báo mới lấy tên là « Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới ».

Năm 1945, Khái Hưng cộng tác với Nhất Linh làm tờ « Việt Nam » và viết những bài nghị luận chống đối Việt Minh thay cho Tú Mỡ. Năm 1947, khi tản cư ra khỏi Hà Nội, ông bị bí mật thủ tiêu.

Công nghiệp của Khái Hưng trong địa hạt báo chí và văn chương rất lớn cả về lượng và phẩm. Ông viết nhiều, và hầu như tác phẩm nào của ông cũng đạt được ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng. Ông viết đủ các bộ môn tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn, truyện nhi đồng. Trên địa hạt văn chương, ông là cây bút cừ khôi nhất trong Nhóm Tự Lực Văn Đoàn và là một nhà văn tiền chiến. Tuy một số tiểu thuyết của Khái Hưng ít gây được dư luận sôi nổi nhất thời nhưng thường có giá trị vĩnh cửu và cho tới ngày nay, khi đọc lại những tiểu thuyết của ông, độc giả vẫn cảm thấy say mê và thấy rằng ông có một khả năng nhận định xác thực, tâm lý sắc bén với cách hành văn rất nhẹ nhàng nhưng tinh tế.

NGUYỄN TUÂN

Sinh năm 1913 tại Thanh Hóa, Nguyễn Tuân là một nhà văn, một nhà báo tiền chiến, nổi tiếng là con người hào hoa và khinh bạc. Con người ông bộc lộ rõ rệt trong văn chương của ông qua rất nhiều tác phẩm gồm tiểu thuyết, truyện ngắn và phóng sự thời đại.

Về phương diện báo chí, Nguyễn Tuân không phải là người làm báo mà chỉ dùng báo chí làm môi trường sáng tác. Ông viết trên các báo « Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Tao Đàn, Hà Nội Tân Văn, Trung Bắc Chủ Nhật ».

Nhận xét tổng quát, Nguyễn Tuân thường có khuynh hướng mô tả một cách thơ mộng đời sống của giai tầng trí thức Việt Nam vào cuối thế kỷ trước. Ông không nổi tiếng bằng các nhân vật cột trụ của Tự Lực Văn Đoàn, nhưng có một bút pháp chải chuốt rất độc đáo, bay bướm, đầy nghệ thuật.

THẾ LỮ

Tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, Thế Lữ sinh năm 1907 tại Hà Nội. Ông theo học và tốt nghiệp ngành mỹ thuật. Cũng giống như Nguyễn Tuân, Thế Lữ dùng báo chí để sáng tác truyện và thơ, dưới bút hiệu Thế Lữ và Lê Ta. Ông cộng tác với các báo Phong Hóa, Ngày Nay, và Tinh Hoa.

Thế Lữ ít có công nghiệp đối với làng báo Việt Nam nhưng về phương diện văn chương, ông là người mở đường cho phong trào thơ mới nên địa vị của ông thật nổi bật trên văn đàn.

Về tiểu thuyết, Thế Lữ viết cũng khá nhiều, hầu hết đều có tính cách mạo hiểm, trinh thám rất hấp dẫn.

HỒ BIỂU CHÁNH (1885-1958)

Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của miền Nam, đồng thời là một nhà báo tên tuổi. Ông sinh tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công. Ngay trong thời kỳ phôi thai của báo chí Việt Nam, Hồ Biểu Chánh đã có mặt. Ông cộng tác với 6, 7 tờ báo ban đầu như Đông Pháp Thời Báo, Nam Kỳ Tuần Báo, Phụ Nữ Tân Văn.

Văn nghiệp mà Hồ Biểu Chánh để lại gồm 60 bộ truyện dài, 2 tập thơ và nhiều sách biên khảo. Các tiểu thuyết của ông có tính cách tình cảm xã hội. Lối hành văn của ông giản dị, chân thực, biểu lộ lối sống bình dị của người miền Nam.

PHI VÂN

Tên thật là Lâm Thế Nhơn, Phi Vân sinh năm 1917 tại An Xuyên. Ông là một nhà văn và nhà báo kỳ cựu miền Nam, từng cộng tác với hầu hết các nhật báo ở Thủ Đô kể từ 1938 tới nay.

Là người nặng ý thức dân tộc, tranh đấu cho nền độc lập của đất nước, Phi Vân là một nhà báo có lý tưởng, muốn dùng báo chí làm phương tiện hữu hiệu yểm trợ cho cuộc tranh đấu. Các tác phẩm của ông đều đánh dấu từng giai đoạn đời sống dân quê miền Nam từ thời Pháp thuộc cho đến ngày cuộc cách mạng 1963 bùng nổ. Nổi bật nhất trong số tác phẩm này, cuốn « Đồng Quê » của ông đã được giải nhất cuộc thi văn chương của Hội Khuyến Học Cần Thơ năm 1943.

Cùng với Hồ Biểu Chánh, Phi Vân tiêu biểu cho những nhà báo và nhà văn lớn của miền Nam.

TẢN ĐÀ (1888-1939)

Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh tại làng Khê Thượng huyện Bất Bạt tỉnh Sơn Tây.

Thời còn nhỏ, Tản Đà được người anh là Nguyễn Tái Tích nuôi cho đi học chữ Hán, đỗ Phó Bảng nhưng sau chuyển qua Âu học. Tại Hà Nội, ngày còn đi học, Tản Đà say mê một cô hàng sách tên Đỗ Thị Ái Khanh nhưng mối tình này tan vỡ vì mấy lần ông thi trượt. Sự kiện này đã ảnh hưởng sâu xa đến cuộc đời và nguồn cảm hứng của ông trong thi văn.

Nhập vào làng báo, Tản Đà viết cho Đông Dương Tạp Chí, Đông Pháp Thời Báo, giữ mục Thi Đàn cho Tiểu Thuyết Tuần Báo và tờ Ngày Nay. Không những viết báo, Tản Đà còn làm báo, ông điều khiển tờ Hữu Thanh và An Nam Tạp Chí nhưng cả hai tờ báo này không sống được lâu vì thiếu thốn về tài chính cũng như tính tình nghệ sĩ của người điều khiển. Cũng vì vậy mà nghề làm báo của Tản Đà không mấy khá, ông quay sang viết văn viết thơ mướn, cuối cùng phải đi viết tuồng cho những gánh hát để mưu sinh.

Về phương diện văn học, Tản Đà là một nhà thơ có sắc thái rất đặc biệt. Tư tưởng ông dù bị nền cựu học chi phối, vẫn có tính chất tiến bộ nên thi ca của ông phản ảnh được ảnh hưởng Nho Lão đồng thời biểu lộ sự tiến bộ của nền văn minh Tây Phương. Đó là một sự dung hòa kỳ diệu mà ít nhà văn, nhà thơ khác tạo được, và đưa ông lên hàng thi sĩ thiên tài. Trong làng báo, ông ít lừng danh như các đồng nghiệp đương thời vì tính tình ông lãng mạn, ít chú trọng tới thực tế. Khi chủ trương tờ An Nam Tạp Chí, ông lâm vào một hoàn cảnh rất bi đát phải xoay sở vất vả để cho tờ báo tồn tại nhưng mặc dù vậy, ông vẫn tỏ ra khinh bạc và sống với những giấc mơ riêng của mình.

Ông mất tại Hà Nội, trong cảnh túng thiếu cùng cực. Báo chí Việt Nam chưa bao giờ có một nhà báo có lý tưởng cao xa và nghèo khổ vất vả như ông. Trường hợp của Tản Đà là một hiện tượng lạ ít thấy xuất hiện. Cũng chính nhờ vậy mà Tản Đà ghi được những nét sâu đậm trong lịch sử báo chí Việt Nam.

NAM CAO (1914-1951)

Nam Cao tên thật là Trần Văn Trí, sinh năm 1914 tại làng Đại Hoàng thuộc tỉnh Hà Nam. Sống thời thơ ấu trong sự nghèo nàn, Nam Cao lớn lên phải ra đời tự lập sớm lại hay bệnh hoạn. Ông có gia đình và đông con. Bản tính Nam Cao hiền hậu, thật thà và khiêm tốn. Đời sống khổ cực của chính bản thân và sự bất công của xã hội lúc đó đã khiến ông bi quan về cuộc đời. Sau ông đi theo phong trào kháng chiến chống Pháp và bị đạn chết tại Ninh Bình năm mới có 37 tuổi.

Nam Cao vào làng văn không gặp nhiều may mắn. Ông viết đủ các loại như tin tức, tiểu thuyết, thơ, kịch. Vào làng báo, Nam Cao cộng tác với Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Phổ Thông Bán nguyệt san và tạp chí Văn Nghệ của phong trào kháng chiến. Các tác phẩm của ông khá nhiều nhưng nay đã thất lạc và chỉ còn lại rất ít.

Làm báo cũng như làm văn, Nam Cao là một con người đặc biệt được kể như một nhà văn hiện thực xã hội. Lúc viết báo, ông muốn dùng các tác phẩm của ông để phơi bầy những sa đọa của chế độ đương thời. Vì nhằm mục đích trên nên văn của Nam Cao thiếu bóng bẩy, chỉ nhẹ nhàng, tự nhiên, và vô cùng chính xác.

BÌNH NGUYÊN LỘC

Bình Nguyên Lộc, hay Tô Văn Tuấn, sinh năm 1915 ở làng Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa. Bình Nguyên Lộc đi vào làng báo rất sớm và cộng tác với các tờ Tiếng Chuông, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Nhân Loại, Bách Khoa v.v… Ông cũng đã từng chủ trương một tạp chí riêng của ông và một nhà xuất bản.

Bình Nguyên Lộc từng được giới báo chí mệnh danh là một người có óc sáng tạo phong phú và viết không biết mệt. Ông sở trường về loại chuyện dài, các tiểu thuyết tình cảm xã hội và tỏ ra tha thiết yêu quê hương và văn hóa dân tộc. Văn ông giản dị, tự nhiên, linh động và duyên dáng.

MỘNG SƠN

Mộng Sơn, một ngòi bút phái nữ từng nổi bật trong làng báo trước đây, còn có bút hiệu khác là Sơn Tiên, tên thật là Vũ Thị Mai Hương, sinh năm 1920 tại Trung Lao tỉnh Nam Định. Bà thông minh, đọc sách nhiều, có một tầm kiến thức rộng rãi và từng tham gia hoạt động chính trị chống lại phe Đệ Tam Quốc Tế.

Trong làng báo, Mộng Sơn nổi danh ngay từ 1936 khi bà hợp tác với Nguyễn Vỹ để thành lập nhóm Tao Đàn Bạch Nga, rồi sau đó liên tiếp đứng ra chủ trương nhiều tờ báo phụ nữ văn học. Bà là chủ bút tờ Việt Nữ, rồi hợp tác làm tờ Đông Phương, và cộng tác với Phụ Nữ Thời Đàm, Tri Tân, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Thanh Nghị, và Văn Học Tạp Chí. Trong suốt những năm làm báo và viết báo, Mộng Sơn chú trọng vào chủ đề phụ nữ Việt Nam và cải tiến xã hội. Bà viết riêng một tập khảo cứu nổi tiếng mang tựa đề « Lược luận về Phụ Nữ Việt Nam » với chủ đích đặt lại vai trò của nữ giới.

Trong số các khuôn mặt nữ thuộc hàng ngũ báo chí, ít có người nào viết nhiều và cộng tác với nhiều báo như Mộng Sơn. Ngoài ra, Mộng Sơn là một con người đa dạng : một nhà báo, một nhà văn, một chính trị gia và nhà xã hội học. Tài năng của bà đã được chứng tỏ trong những tác phẩm triết học và văn học sử do bà biên soạn.

THU VÂN

Thu Vân, tên thật là Lê Thị Anh, sinh năm 1925 tại làng Long Hậu, quận Lai Vung tỉnh Sa Đéc. Theo học tại ngoại quốc trong một thời gian dài, bà trở về nước và bắt tay ngay vào việc viết cho các báo Văn Hóa Ngày Nay, Tân Phong và Văn Đàn. Trong khi đó bà cũng sáng tác một số truyện dài, nổi tiếng nhất là cuốn Đất Mẹ.

Trong số những nhà văn nữ, Thu Vân ít nổi tiếng hơn các đồng nghiệp của làng báo, lý do là vì các tác phẩm của bà chuyên về phân tích tình cảm và tâm lý ở trình độ cao. Lối hành văn của bà tương đối giản dị nhẹ nhàng.

NGUYỄN VIỆT CHƯỚC (Hồng Hà) LƯỢC SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM Soạn theo chương trình của Bộ Giáo Dục để áp dụng vào việc giảng dạy môn Quốc Văn Lớp 12 và dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các Phân Khoa Truyền Thông Báo Chí IN LẦN THỨ NHỨT 1974 NHÀ XUẤT BẢN NAM-SƠN 36, Nguyễn an Ninh Saigon – Đ.T : 21.026 (cửa Tây chợ Bến Thành)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.