Lược Sử Báo Chí Việt Nam

Lượt đọc: 58 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 3 : ẢNH HƯỞNG LUẬT PHÁP ĐỐI VỚI CÁC SINH HOẠT BÁO CHÍ VIỆT NAM
1. TỔNG QUÁT

❊ ❊ ❊

a) Tóm lược sắc luật

Chúng ta đang sống trong một thời đại kỳ diệu, đó là thời đại nguyên tử, phản lực và điện toán. Nhưng còn quan trọng hơn nữa, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên truyền thông đại chúng qua phương tiện thực tế, phổ quát và hữu hiệu hiện nay là báo chí.

Truyền thông đại chúng đóng một vai trò lớn lao trong đời sống hàng ngày của chúng ta hơn là nguyên tử năng hay những chuyến bay liên hành tinh. Khả năng thâu nhận thế giới xung quanh chúng ta tùy thuộc vào sự phán đoán, ghi nhận các sự kiện chung quanh, đặc biệt là những tin tức mâu thuẫn nghịch lý với nhau và ở mức độ quá nhiều. Là những con người sống liên hệ tới những con người khác trong tập thể, chúng ta luôn luôn tiếp nhận sự chi phối từ bên ngoài, qua hình thức tin tức truyền đi bằng báo chí, truyền thanh, truyền hình và phim ảnh. Các phương tiện truyền thông này ngày một phát triển mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu tin tức của con người.

Tại Việt Nam Cộng Hòa, báo chí là một đặc quyền thiết yếu của người dân. Dưới chế độ dân chủ tự do, chúng ta đang sống với tự do ngôn luận hay tự do báo chí. Nhưng chính sự tự do đó đã nhiều lần bị lạm dụng và do đó, luật pháp phải đặt ra một giới hạn để ngăn chận. Trong những năm qua, suốt tiến trình của báo chí, nhiều đạo luật, sắc luật báo chí đã ra đời để bảo vệ quyền tự do ngôn luận, cũng như ngăn chận sự lạm dụng quyền này. Khảo sát sơ qua các đạo luật báo chí, chúng ta sẽ nhìn thấy hoàn cảnh tế nhị và khó khăn của báo chí qua những giai đoạn khác nhau, với những sắc thái thay đổi liên tục tùy nhu cầu chính trị và thời sự. Qua những đạo luật này, chúng ta sẽ tìm được một cái nhìn sâu xa và thực tế vào đời sống của báo chí.

Nhận xét một cách tổng quát, chúng ta có thể chia các văn kiện pháp lý liên quan tới báo chí Việt Nam ra thành thứ tự 3 giai đoạn liên tiếp nhau :

- Trước hết là những văn kiện mà nhà cầm quyền Pháp đặt ra để chi phối báo chí trong thời kỳ lệ thuộc. Về giai đoạn này, luật pháp tỏ ra có phần dễ dãi đối với Nam Kỳ, trong khi đối với hai miền bảo hộ Bắc và Trung Kỳ thì luật lệ khắt khe hơn.

- Sau đó là giai đoạn mà nhà cầm quyền ban hành trong cả thời kỳ kháng chiến 1943 tới cuộc cách mạng 1963 : trong 20 năm đó, báo chí vẫn phải chịu sự ràng buộc gò bó do nhà cầm quyền quy định tuy có dễ thở hơn một chút.

- Cuối cùng, kể từ 1963 cho tới ngày ban hành luật 007, báo chí đã được hưởng những quy chế khá rộng rãi trong mọi hoạt động, nhưng cũng chính sự rộng rãi này, trong thời gian đầu tiên sau cuộc cách mạng 1963, đã tạo nên một cơn thác loạn cho báo chí lao vào.

Đối với báo chí hiện đại, có lẽ chỉ có hai văn kiện pháp lý được chú trọng hơn hết : đó là Luật 19/69 ấn định quy chế báo chí, và đặt biệt là Luật 007 sửa đổi lại luật 19/69 trong hoàn cảnh đất nước năm 1972.

Sau đây là các văn kiện pháp lý chi phối báo chí và ảnh hưởng của nó trong các giai đoạn tiến triển của báo chí :

2. LUẬT PHÁP ĐỐI VỚI BÁO CHÍ THỜI KỲ PHÁP THUỘC ĐẾN 1-7-1949

- Sắc luật ngày 29-7-1881 về tự do báo chí tại Việt Nam, tương đối dễ dãi đối với Nam Kỳ nhưng khắt khe với Bắc và Trung Việt.

- Sắc lệnh ngày 30-12-1898 buộc các báo Việt ngữ, Hoa ngữ phải xin phép trước mới được xuất bản.

- Sắc lệnh ngày 4-10-1927 liên quan đến quy chế báo chí tại Đông Dương ngoại trừ tại Nam Việt.

- Sắc lệnh ngày 30-8-1938 hủy bỏ các bản văn buộc báo chí Việt Ngữ và Hoa ngữ phải xin phép trước.

- Sắc lệnh ngày 24-8-1939 ấn định việc kiểm soát báo chí và ấn loát phẩm.

- Sắc lệnh ngày 27-8-1939 liên quan đến việc kiểm soát các loạt ấn loát phẩm, vô tuyến truyền thanh và phim ảnh.

- Sắc lệnh ngày 24-8-1941 buộc phải có phép của cơ quan hành chánh địa phương mới được xuất bản báo chí.

- Sắc luật ngày 13-12-1941 đình chỉ thi hành điều 5 luật ngày 29-7-1881.

3. LUẬT PHÁP ĐỐI VỚI BÁO CHÍ TỪ 1-7-1949 ĐẾN NGÀY CÁO CHUNG ĐỆ I CỘNG HÒA 1-11-1963

- Sắc luật số 36/TT ngày 19-9-1949 ấn định chức trưởng của Bộ Trưởng Bộ Thông Tin.

- Nghị định số 275/PTT/TTK ngày 5-4-1954 ấn định thể lệ kiểm duyệt các ấn loát phẩm xuất bản trong nước.

- Nghị định số 269/NĐ/BTT ngày 15-10-1954 cấm các chủ nhiệm báo không được cho người khác mướn hoặc khai thác giấy phép xuất bản báo chí của mình.

- Dụ số 65 ngày 17-10-1955 qui định sự kiểm soát ấn loát phẩm ngoại quốc nhập cảng vào việt Nam.

- Dụ số 7 ngày 1-12-1955 dành cho quốc gia độc quyền về vô tuyến truyền thanh và vô tuyến truyền hình và xác định cho Nha Giám Đốc Đài Phát Thanh Quốc Gia quyền chuyên nhất khai thác ngành này.

- Nghị định số 266/NĐ/BTT ngày 14-12-1955 cho phép những cá nhân hoặc tổ chức nào muốn phát hành báo chí thì phải có giấy phép của Bộ Thông Tin.

- Nghị định số 1/BTT/NĐ ngày 5-1-1956 quy định thể thức kiểm soát ấn loát phẩm ngoại quốc nhập cảng.

- Sắc lệnh số 23/TTP ngày 19-2-1956 đình chỉ kiểm duyệt báo chí.

- Dụ số 13 ngày 20-2-1956 ấn định hình phạt tiền và hình phạt giam đối với những vi phạm luật lệ hiện hành về báo chí và tất cả các phương tiện xuất bản phổ biến khác.

- Nghị định số 151/BTT/NĐ ngày 29-6-1959 ấn định thể lệ nạp bản báo chí và xuất phẩm kỳ.

- Quyết định số 491/PT/NGT/QĐ ngày 25-8-1960 v/v thiết lập một Ủy Ban Liên Bộ để lựa chọn các sách cho phép nhập cảng.

4. LUẬT PHÁP HIỆN ĐẠI ĐỐI VỚI BÁO CHÍ TỪ 1-11-1963 ĐẾN NAY

- Sắc luật 2/64 ngày 19-2-1964 công nhận quyền tự do ngôn luận và ấn định thể thức truy tố các tội trạng do báo chí gây ra.

- Sắc luật 10/64 ngày 30-4-1964 ấn định quy chế xuất bản báo chí và tổ chức nền báo chí.

- Sắc luật ngày 20-7-1964 đình chỉ kiểm duyệt đối với các nhật báo và tạp chí có giấy phép xuất bản của Bộ Thông Tin trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa :

*Nếu sau một lần bị tịch thu vì lý do an ninh quốc gia hay trật tự công cộng, dù chưa có bản án chung thẩm cho kỳ tịch thu trước, báo vẫn bị tạm thời đình bản.

*Nhà chức trách hành chánh sở tại sẽ đóng cửa trong thời hạn tối thiểu hai tháng nhà in nào : công khai hoặc lén lút đưa báo ra khỏi cơ sở ấn loát trước giờ phát hành.

*Tiếp tục in thêm, cất dấu, táng trữ hoặc đưa ra khỏi cơ sở ấn loát những số báo đã bị tịch thu.

- Nghị định số 908 ngày 19-12-1964 qui định việc xuất bản báo chí của các đảng phái.

- Sắc luật 19/69 ngày 30-12-1969 ấn định quy chế báo chí.

- Sắc luật 007 (nằm trong Luật Ủy Quyền ngày 28-6-72) sửa đổi lại một số điều khoản Luật 19/69.

5. NHỮNG NÉT CHÍNH CỦA SẮC LUẬT 007

Sắc luật 007/TT/SLU gồm có 4 điều :

- Điều thứ I (Sắc luật) : Sửa đổi một số điều khoản của luật số 19/69 ngày 30-12-1969, ấn định qui chế báo chí (gồm có 21 điều). Các điều khoản kể trên gồm :

*Điều 4 (mới) : quy định thể thức khai báo, điều kiện chủ nhiệm, ký quỹ.

*Điều 7 (mới) : Sau khi nhận đủ hồ sơ khai báo, Bộ Thông Tin phải cấp ngay biên nhận tạm.

*Điều 12 (mới) : Vấn đề nạp bản, phải có chữ ký và con dấu của chủ nhiệm hay quản lý ; phải khai rõ số báo phát hành.

*Điều 13 (mới) : Sau khi nạp bản 4 giờ tại Bộ Thông Tin hay cơ quan liên hệ, báo mới được phát hành.

*Điều 15 (mới) : Trước khi xuất bản 15 ngày, chủ nhiệm tờ báo phải khai rõ lý lịch của Ban Quản lý và bộ biên tập. Sự tăng vốn cũng phải được chứng minh về xuất xứ.

*Điều 19 (mới) : Tổng Trưởng Nội Vụ, Tỉnh, Thị Trưởng có thể ra lệnh tịch thu báo, trước hay sau khi phát hành và sẽ đưa ra tòa trong vòng 8 ngày. Trong khi chờ phán quyết của Tòa Án, báo vẫn có quyền tiếp tục phát hành.

*Điều 20 (mới) : Nếu được tha bỗng trong điều 19 kể trên, có thể đòi bồi thường thiệt hại.

*Điều 23 (mới) : Các tin tức đăng tải sau đây không bị truy tố : Các cuộc thảo luận công khai tại diễn đàn quốc hội ; Các quan điểm chánh trị của dân biểu, nghị sĩ ; Các tham luận thuyết trình được đọc công khai tại quốc hội. Nếu các đăng tải trên đây không phương hại đến thuần phong, mỹ tục, an ninh quốc gia, danh dự cá nhân.

*Điều 25 (mới) : Có thể trích dịch báo chí ngoại quốc, miễn là trung thực và không được phương hại đến danh dự cá nhân an ninh quốc gia và thuần phong mỹ tục.

*Điều 27 (mới) : Không được dùng báo chí để : Xúi dục người khác phạm tội an ninh ; Xúi dục quân nhân bất tuân kỷ luật ; Đề cao các tội phạm nói trên.

*Điều 31 (mới) : Cấm chỉ phỉ báng Tổng Thống, Phó Tổng Thống VNCH, Đại Sứ các quốc gia liên hệ ngoại giao với VNCH.

*Điều 36 (mới) : Mọi thể nhân hay pháp nhân có quyền phát hành báo chí.

*Điều 37 (mới) : Quy định hồ sơ khai nạp nếu tự phát hành báo hoặc phát hành báo do người khác xuất bản.

*Điều 42, 43, 44, 45, 46, 47, 49 (mới) : Ấn định các hình phạt pháp lý trong trường hợp vi phạm Sắc luật : Phạt tiền từ 100.000 đến 5.000.000đ ; Phạt tù từ 2 tháng đến 5 năm.

*Điều 52 (mới) : Quy định trách nhiệm xét xử cho tòa án, lên đến Tối Cao Pháp Viện.

- Điều thứ 2 (Sắc luật) : Ấn định thời hạn điều chỉnh tình trạng pháp lý của các báo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ban hành Sắc luật nầy. Nếu không, coi như báo tự ý đình bản. Quá 60 ngày, chưa điều chỉnh tình trạng pháp lý, các cơ sở báo chí sẽ không được phép hoạt động.

- Điều thứ 3 (Sắc luật) : Trong suốt thời gian ban bố tình trạng chiến tranh hay tình trạng thiết quân luật, nếu vi phạm các điều 27 (mới), điều 28 và 29 luật số 19/69 sẽ bị phạt cấm cố và phạt từ 1 triệu đến 5 triệu đồng. Việc xét xử các vi phạm trên thuộc thẩm quyền Tòa Án Quân Sự Mặt Trận nơi xuất bản tờ báo. Tòa án thường tụng vẫn thụ lý như thường lệ nếu nhà chức trách quân sự không dành quyền truy tố trước Tòa án Quân Sự Mặt Trận.

- Điều thứ 4 (Sắc luật) : Sắc luật này được ban hành theo thủ tục khẩn cấp và đăng vào Công Báo Việt Nam Cộng Hòa.

b) Đặc điểm của Sắc luật

Sắc luật này có 2 đặc điểm sau đây :

1. Các nguyên tắc căn bản về quyền tự do ngôn luận báo chí và xuất bản ấn định trong điều 12 của Hiến Pháp đều được tôn trọng. Điều này có nghĩa là chúng ta vẫn chỉ áp dụng chế độ khai báo đối với việc xuất bản báo chứ không phải chế độ xin phép. Hơn nữa, chế độ kiểm duyệt cũng không được chấp nhận, mặc dù hiện nay Quốc gia đang trong tình trạng chiến tranh và thiết quân lực.

2. Nhằm mục đích bảo vệ trật tự công cộng, an ninh Quốc Gia và quyền lợi của tư nhân, những điều khoản sau đây đã được minh định trong Sắc Luật mới :

- Báo chí và các cơ sở phát hành phải đóng tiền ký quỹ để bảo đảm việc thanh toán các ngân hình án phí và tiền bồi thường thiệt hại cho dân sự nguyên cáo.

- Nhật báo hay Tạp chí nào sau một lần bị tịch thâu vì lý do an ninh Quốc gia hay trật tự công cộng còn bị tịch thâu một lần thứ hai cũng vì những lý do này thì Tổng Trưởng Nội Vụ có quyền tạm thời đình bản. Tuy nhiên, vẫn phải tôn trọng phán quyết cuối cùng của Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết định tối hậu. Hơn nữa nếu được Tòa án tha bổng. Chủ Nhiệm nhật báo hay tạp chí bị truy tố có thể ngay tại phiên tòa ấy phản tố đòi bồi thường thiệt hại.

- An toàn cá nhân được bảo vệ. Điều này nhằm mục đích duy trì trật tự xã hội và có nghĩa là tư nhân nào bị báo chí phỉ báng và mạ lỵ, ngoài quyền yêu cầu Tòa truyền đăng bản án trên ba nhật báo mà lệ phí do các bị can phải liên đới chịu, còn có quyền thỉnh cầu Tòa buộc bị can phải bồi thường thiệt hại tương xứng bằng tiền chứ không phải chỉ được bồi thường tượng trưng bằng một đồng danh dự và có quyền được lấy tiền thẳng trong số tiền ký quỹ của báo chí tại Tổng Nha Ngân Khố nếu bị can không chịu thi hành án văn.

- Nhằm mục đích ngăn chận sự lạm dụng thủ tục thượng tố để duy trì việc nộp phạt, báo chí bị tuyên phạt phải đóng tiền ký quỹ tương đương với số tiền bị phạt mới được quyền thượng tố.

- Nhằm mục đích ngăn chận sự coi thường pháp luật này, nguyên tắc bất câu phát ngân hình được áp dụng đối với báo chí vi luật.

- Sau cùng để bảo vệ quyền lợi tư nhân và của quốc gia, việc xét xử các vi phạm của báo chí phải được hoàn tất trong thời hạn 30 ngày tại mỗi cấp tài phán.

c) Ảnh hưởng của Sắc luật 007/TT/SLU

Theo cơ quan ngôn luận Tiền Tuyến số ra ngày 13-9-1972, ta thấy trên nguyên tắc, sắc luật 007 ra đời để đáp ứng với tình thế cuối tháng 3-1972. Sắc luật này nằm trong phạm vi luật ủy quyền của Tổng Thống ngày 28-6-1972 nhằm ngăn chận mọi xáo trộn tại hậu phương.

Với sự ra đời của sắc luật báo chí 007, các báo đã cố gắng thích nghi để sống còn dù có rất nhiều nhật báo hay báo định kỳ lên tiếng hay tạm thời đình bản để bày tỏ thái độ.

Tuy nhiên, theo bản tin VTX ngày 16-9-72 có tất cả 29 nhật báo gồm có 17 Việt Ngữ, 11 Hoa Ngữ, 1 báo Anh Ngữ cùng 5 tạp chí định kỳ Việt Ngữ đã điều chỉnh tình trạng theo sắc luật 007 để tiếp tục xuất bản kể từ ngày 16-9-1972 :

« Tin từ Nha Báo Chí Bộ Thông Tin cho biết sau khi cứu xét hồ sơ khai nạp để điều chỉnh tình trạng pháp lý qui định ở điều 4 mới, quy chế báo chí, kể từ 16-9-72 có 17 tờ nhật báo việt ngữ được xuất bản gồm có các tờ : Bút Thép, Cấp Tiến, Chính Luận, Độc Lập, Đông Phương, Đại Dân Tộc, Điện Tín, Sóng Thần, Hòa Bình, Quật Cường, Trắng Đen, Thăng Tiến, Tranh Thủ, Tin Sáng, Tin Sống, Tiền Tuyến và Công Luận ; 11 Nhật Báo Hoa Ngữ được tiếp tục xuất bản gồm các tờ : Á Châu, Kiến Quốc, Luận Đàm, Luận Đàm Mới, Tân Văn Khoái Báo, Thành Công, Tân Việt, Nhân Dân, Viễn Đông, Việt Hoa và Quang Hoa và một nhật báo anh ngữ là tờ Saigon post.

Ngoài ra, còn có 5 tạp chí định kỳ cũng đã điều chỉnh tình trạng pháp lý gồm các tờ Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Mới, Thẩm Mỹ, Tân Tiến và Sân Khấu Mới.

Nha Báo Chí còn cho biết nhật báo Việt Nam và tuần báo Nàng vừa nộp hồ sơ khai báo (đã ký quỹ, sẽ xuất bản sau khi được cấp biên lai chính thức)

Cuối cùng, Nha Báo Chí cũng cho hay rằng các tạp chí định kỳ được miễn ký quỹ chiếu theo Sắc luật 007 được tiếp tục xuất bản kể từ ngày 16-9-72 gồm các tờ Tạp Chí Phòng Thương Mãi Hoa Kỳ, Chấn Hưng Kinh Tế, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Kinh Tế VN, Hiệp Sống, Liên Lạc, Lửa Mến, Legio Maria, Mây Hồng, Minh Đức, Nông Dân, Nguồn Sống, Nhà chúa, Nhân Dụng, Nghiên Cứu Hành Chánh, Ngàn Thông, Tuần San Phòng Thương Mại Công Kỹ Nghệ Saigon, Phát Triển Xã Hội, Quan Thuế Nguyệt San, Quản trị Xí Nghiệp, Rạng Đông, Nguyệt San Sử Địa, Sacerdof, Tin Vui, Tuổi Hoa, Thánh Tâm Chúa Giê-Su, Thành Kính, Trái Tim Đức Mẹ, Tập San Quốc Phòng, Thông Tin Lao Động, Tin Tức, Tín Hiệu, Từ Quang, Tạp Chí, Nguyệt San Tư Tưởng, Thằng Bờm, Tuổi Ngọc, Thiếu-Nhi và Nguyệt San Xã Hội ».

Qua bản tin trên đây, chúng ta thấy làng báo Việt Nam chuyển mình vào bầu không khí mới với rất ít suy giảm về số lượng. Tính chung, tất cả có khoảng 30 tờ nhật báo tiếp tục cuộc hành trình trên đường ngôn luận, và cũng chừng đó báo định kỳ, không kém hơn thời gian trước khi Luật 007 được ban hành là bao nhiêu. không những thế, chỉ trong một thời gian ngắn sau khi luật này ra đời, những tờ báo tạm ngưng hoạt động cũng lục tục hồi sinh và hoạt động đều hòa như cũ.

Nói một cách trung thực, cả hai văn kiện pháp lý chi phối sinh hoạt báo chí hiện đại. Luật 19/69 và 007 đều là những định chế cần thiết để đáp ứng nhu cầu cấp bách của quốc gia. Sắc luật 19/69 ban hành ngày 30-12-69 nêu rõ rằng : « Quyền tự do báo chí là quyền tự do căn bản trong chính thể Cộng Hòa Việt Nam, nhưng sự hành xử quyền tự do đó không được phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc gia, hay thuần phong mỹ tục. Báo chí không thể bị đóng cửa nếu không có quyết định của cơ quan tư pháp ». Theo nội dung đó, luật pháp đã dành cho báo chí một môi trường sinh hoạt rất thuận lợi, miễn là báo chí không lợi dụng chính môi trường đó để thực hiện những điều phương hại trong ba lãnh vực : danh dự cá nhân, an ninh quốc gia, và thuần phong mỹ tục.

Người làm luật cũng dựa vào một căn bản chính xác khi viết văn kiện 19/69. Quan niệm đó là quyền tự do thiên nhiên của con người phải được đặt trong khung cảnh sinh hoạt xã hội chung và con người không thể lạm dụng tự do riêng để làm những hành động khiến cho cộng đồng mà chính mình đã tự sát nhập vào phải tan rã. Cũng vẫn theo quan niệm đó, báo chí là một sinh hoạt trong cộng đồng xã hội, nó phải tuân theo những giới hạn nào cần thiết để bảo tồn sự an toàn và tồn tại của cộng đồng này.

Do đó, quyền tự do báo chí phải được phân tích trên hai khía cạnh : khía cạnh thực hiện và khía cạnh hành xử.

- Về khía cạnh thực hiện, luật pháp luôn luôn chủ trương tạo và bảo vệ những quyền tự do căn bản của con người, trong đó có quyền tự do báo chí.

- Về khía cạnh thịnh xử, luật pháp chủ trương « trách nhiệm hóa » những người thụ hưởng quyền tự do báo chí để duy trì quyền lợi của tất cả cộng đồng. Khi bảo vệ cộng đồng, tất nhiên luật pháp đã gián tiếp bảo vệ các cá nhân hoặc thành phần trong cộng đồng đó, dù đôi khi có những trường hợp sự bảo vệ này không được thể hiện một cách rõ rệt.

Từ quan niệm này, người khảo sát báo chí, khi nghiên cứu về ảnh hưởng của luật pháp, có thể rút ra ở một kết luận rằng khi luật pháp giới hạn sự tự do ngôn luận vì nhu cầu an ninh quốc gia thì chính sự giới hạn đó cũng đã đương nhiên bao hàm ý nghĩa bảo vệ sinh hoạt của báo chí. Chính vì thế mà những giới hạn của luật pháp đối với quyền tự do ngôn luận và báo chí không bao giờ được coi là phản với công lý.

Nhìn vào chi tiết, Sắc luật 19/69 và luật 007 đưa ra 4 giới hạn chính đối với các sinh hoạt báo chí ; tất cả đều đáp ứng nhu cầu của cộng đồng quốc gia và xã hội trong 3 lãnh vực đã nêu trên :

1. Bảo vệ cá nhân các công dân chống lại sự lăng mạ và vu cáo.

2. Bảo vệ xã hội chống lại sự phổ biến sách vở tà dâm.

3. Bảo vệ quốc gia chống lại sự phá hoại trong nội bộ.

4. Bảo vệ quốc gia chống lại ngoại xâm.

Chúng ta có thể nói rằng dù chế độ chính trị nào cai trị quốc gia thì luật pháp cũng đều quy định các hạn chế trên đây đối với báo chí, và dù cách hành văn của luật pháp có đổi khác, hay hình thức ban hành thay đổi qua các quy chế, sắc luật hay sắc lệnh thì nội dung của các hạn chế đó vẫn tương tự.

Muốn nhận xét một cách khách quan, chúng ta hãy tìm ra một thí dụ điển hình, qua nền báo chí của Hoa Kỳ, để thấy rằng đã có rất nhiều trường hợp nhà cầm quyền Hoa Kỳ phải thực hiện sự hạn chế quyền tự do báo chí để đáp ứng nhu cầu an ninh quốc gia và bảo vệ cộng đồng xã hội Hoa Kỳ. Hai trường hợp cụ thể nhất là trong Thế Chiến II, chính quyền Hoa Kỳ đã thành lập một chế độ kiểm duyệt thật là chặt chẽ.

Trong kỳ Thế Chiến I, Tổng Thống Hoa Kỳ lúc đó là Wilson đã ra lệnh cho Bộ Chiến Tranh thi hành sự kiểm duyệt những tin tức quân sự liên quan tới mối bang giao giữa Hoa Kỳ và Mễ Tây Cơ.

Đến năm 1917, đạo luật về vấn đề gián điệp đặt ra nhiều cách phạt trừng trị tất cả những người viết, in hay xuất bản những sách vở có tính cách bất chánh, lăng mạ và phỉ báng đối với hiến pháp Hoa Kỳ, hay đối với riêng ngành hành pháp Hoa Kỳ.

Năm 1941, với đạo luật về « các quyền tự do trong thời kỳ chiến tranh », Tổng Thống Hoa Kỳ được quyền cho hệ thống kiểm duyệt can thiệp bất cứ lúc nào vào những liên lạc giữa Hoa Kỳ và những quốc gia liên hệ với Hoa Kỳ. Quyền này bao gồm cả sự kiểm soát những tin tức chuyển vào lãnh thổ Hoa Kỳ, hoặc từ Hoa Kỳ chuyển đi bằng tầu thủy, xe lửa, máy bay v.v… hoặc bằng hải điện tín vô tuyến điện hay bằng bất cứ phương tiện nào khác.

Tổng Thống Hoa kỳ cũng có quyền đặt ra những luật lệ riêng biệt ấn định sự hạn chế quyền tự do ngôn luận và báo chí, ai vi phạm sẽ phải chịu những hình phạt tù hoặc phạt tiền, hoặc cả hai, và bị tịch thu gia sản. Các đạo luật như vậy tại Hoa Kỳ thường được áp dụng triệt để nghiêm khắc trong thời kỳ chiến tranh để giới báo chí Hoa Kỳ không thể vô tình hay cố ý loan truyền những tin tức làm lợi cho quân địch.

Ngoài ra, Quốc Hội Hoa Kỳ đã thông qua một sắc luật về an ninh nội bộ năm 1950 và một đạo luật khác liên quan đến sự hạn chế quyền tự do báo chí để tránh làm lợi cho đối phương. Đây là những đạo luật nhằm bảo toàn chủ quyền và nền độc lập của quốc gia Hoa Kỳ.

Nói tóm lại, trong thời chiến tại Hoa Kỳ, người ta đã quan niệm rõ rệt quyền tự do của báo chí phải nhằm phục vụ an ninh quốc gia và bảo toàn xã hội trong đó báo chí sinh hoạt. Luật lệ tại Hoa Kỳ ghi rằng « Quyền tự do báo chí là quyền tự do phát triển ý kiến, quyền bào chữa, quyền phê bình, quyền khiếu nại, chứ không phải là quyền tự do tiết lộ những tin tức xét ra có hại đến vấn đề an ninh quốc phòng ».

Tại Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia đang lâm chiến, luật lệ báo chí cũng quy định rõ rệt rằng « sự hành xử quyền tự do báo chí không được phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc gia hay thuần phong mỹ tục ». Giải thích điều căn bản đó, luật lệ báo chí ở đây cũng đòi hỏi người cầm bút : không được dùng báo chí để phổ biến các luận điệu, các tin tức thất thiệt, hoặc các tin tức có thật nhưng với dụng ý có thể gây ra một trong những tác dụng sau đây :

1. Làm phương hại nền an ninh quốc gia hay trật tự công cộng.

2. Làm phương hại nền kinh tế tài chánh quốc gia.

3. Làm suy giảm kỷ luật và tinh thần chiến đấu của quân đội.

4. Gây chia rẽ giữa các tôn giáo, địa phương, các sắc dân.

Thêm vào những điều trên, luật lệ báo chí Việt Nam còn ấn định : không được dùng báo chí để phổ biến các tin tức tài liệu và luận điệu nhằm đề cao chủ nghĩa, chủ trương hay hành động của đối phương hay chủ trương trung lập thân đối phương.

Xét như vậy, quyền tự do báo chí đã được điều kiện hóa bởi những nhu cầu quan thiết hơn để bảo vệ xã hội, môi trường chung trong đó có các sinh hoạt và quyền tự do nuôi dưỡng. Trên thế giới, chính quyền tại mọi quốc gia đều phải hạn chế quyền tự do báo chí, dù dưới hình thức này hay hình thức khác, vì quyền căn bản này là một con dao hai lưỡi đối với sự tồn vong của xã hội.

Ảnh hưởng nguy hại hay xây dựng của báo chí rất lớn lao vì đó là món ăn tinh thần thường nhật của con người và mang lại cho con người những phán đoán có sẵn trên mọi vấn đề. Chính vì vậy mà báo chí trở thành sức mạnh của những lực lượng xây dựng xã hội, đồng thời cũng có thể trở thành những vi khuẩn giúp ích cho những lực lượng phá hoại xã hội. Xã hội bắt buộc phải quy tắc hóa quyền tự do báo chí theo nguyên tắc tự do của người này không xâm phạm tự do của người kia, để một cộng đồng có thể dung hòa và tồn tại.

Không ai có thể nói rằng sự hạn chế quyền tự do báo chí là không cần thiết. Những ai không chấp nhận như vậy sẽ không thể giải quyết được những khó khăn chồng chất do báo chí gây ra, và không thể dung hợp được quyền lợi của báo chí với quyền lợi của cộng đồng xã hội là tập thể ở vị thế cao hơn báo chí. Nếu quyền tự do báo chí không được căn cứ trên quyền tự nhiên và căn bản của con người thì sự hạn chế tự do báo chí trong những chế độ chuyên chế là dựa vào ý chí nhân dân về phương diện lý thuyết. Trong các chế độ dân chủ, nơi mà vô số ý kiến tư tưởng được tự do phô diễn bởi từng cá nhân, vấn đề tự do báo chí rất gay go vì phải đặt ra một cái « mốc luật pháp » tại đó những hạn chế về tự do báo chí được coi là vừa đủ, không quá dễ dãi mà cũng không quá khắt khe. Thật vậy, các hạn chế không thể quá lỏng lẻo để báo chí có thể tác hại cá nhân và xã hội, trong khi đó, chúng không thể quá khắt khe để có thể làm phương hại tới tự do báo chí.

Do đó, sự nới rộng hay thu hẹp mức độ hạn chế quyền tự do báo chí phải tùy theo thời kỳ riêng biệt, loạn lạc hay thái bình, trình độ dân trí cao hay thấp, mức độ thụ cảm của con người trong cộng đồng xã hội sâu sắc hay nông cạn. Như vậy, chúng ta có thể tạm kết luận rằng chế độ báo chí có được tự do hay không KHÔNG phải là do luật pháp có ấn định tự do báo chí hay không mà ở chính việc báo chí có hành xử quyền tự do ấy một cách khôn khéo và hợp lý hay không. Tự do báo chí không phải là một nguyên tắc cố định mà là một sự điều hợp linh động giữa các quyền tự do của con người với quyền lợi của xã hội, của quốc gia, nói đúng ra là của vấn đề an ninh quốc phòng, nhất là trong thời kỳ chiến tranh bùng nổ.

Theo lý thuyết trách nhiệm xã hội của báo chí thì tự do ngôn luận phải thăng bằng với quyền tự do của kẻ khác và quyền lợi cốt yếu của xã hội. Con người chỉ có quyền lợi về tinh thần khi đảm nhận những nghĩa vụ về tinh thần, và cán cân công lý khó mà đo lường được mức độ thăng bằng về tinh thần đó. Cho nên, ảnh hưởng của luật pháp đối với báo chí chỉ là một sức chi phối ngoại hướng, không quan trọng bằng ý thức của chính báo chí. Việc báo chí có hành xử được quyền tự do của mình một cách chính xác hay không mới là điều quan trọng, và sự hành xử như vậy chưa thể được coi là hoàn hảo trừ khi chúng ta có được một nền giáo dục khả dĩ nâng cao ý thức con người, kể cả người cầm bút, người đọc, và người điều khiển xã hội, để đạt tới một trình độ tự giác khả dĩ dung hòa được quyền lợi của cá nhân với quyền lợi của tập thể.

NGUYỄN VIỆT CHƯỚC (Hồng Hà) LƯỢC SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM Soạn theo chương trình của Bộ Giáo Dục để áp dụng vào việc giảng dạy môn Quốc Văn Lớp 12 và dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các Phân Khoa Truyền Thông Báo Chí IN LẦN THỨ NHỨT 1974 NHÀ XUẤT BẢN NAM-SƠN 36, Nguyễn an Ninh Saigon – Đ.T : 21.026 (cửa Tây chợ Bến Thành)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.