Lược Sử Báo Chí Việt Nam

Lượt đọc: 56 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 2 : NHỮNG GÌ ĐÃ XẢY RA TRONG TIẾN TRÌNH 100 NĂM CỦA BÁO CHÍ VIỆT NAM
1. TỔNG QUÁT

❊ ❊ ❊

a) Cảnh lệ thuộc của báo chí

Trong tiến trình 100 năm của báo chí Việt Nam, những biến cố quan trọng xảy ra khi đơn lẻ, khi dồn dập chi phối một cách trực tiếp sự trưởng thành của ngành báo chí. Nhìn về quá khứ, bất cứ người quan sát nào cũng có thể thấy được những biến cố này, qua các tài liệu được ghi nhận, nhưng tiếc rằng chưa ai mô tả được hết mọi biến cố này một cách đầy đủ.

Lý do chính gây nên sự thiếu sót là vì trong thời kỳ phôi thai xa xưa, việc ghi nhận và lưu trữ các dữ kiện chưa được hoàn hảo khiến cho các nhà nghiên cứu và quan sát gặp nhiều khó khăn sao lục, tìm tòi cũng như lượng giá. Các thời điểm liên quan tới các hoạt động của ngành báo chí thường không được chính xác, gây nên nhiều mâu thuẫn và làm cho người quan sát trong nhiều trường hợp bị lạc đường. Dường như một khuyết điểm lớn của những người đi trước là không căn cứ vào những bút tích, tài liệu hay chứng từ mà lại chỉ dựa vào trí nhớ khiến cho những kẻ đi sau chìm vào nhiều mối nghi ngờ không giải tỏa nổi. Rồi từ chính khuyết điểm đó, người quan sát sau không có cách nào phối kiểm lại các sự kiện đã qua đành phải dựa vào sự hồi tưởng của các bậc đàn anh mà ghi lại được một phần nào những giai đoạn và diễn tiến của báo chí, với hy vọng rằng góp nhặt được nhiều chừng nào hay chừng đó.

Tuy vậy, kết quả ghi nhận được cũng không đến nỗi quá nghèo nàn. Công lao lớn về điểm này là nhờ một tập tài liệu quí giá tưởng bị thất lạc đã lâu : đó là những trang giấy cũ đăng bài « Thử tìm long mạch của tờ báo ta » do Đào Trinh Nhất viết trên tờ « Trung Bắc Chủ Nhật » số 101 ra ngày 9-3-1942. Bằng một công trình tỉ mỉ và đầy thiện chí, Đào Trinh Nhất đã hồi tưởng lại quá khứ để tìm xuất xứ, nguồn gốc mà từ đó báo chí Việt Nam đã xuất phát. Tài liệu này được coi như một chìa khóa mở cho những người làm báo sau này nhìn thấy quãng khơi nguồn của long mạch tờ báo Việt Nam, hay một tài liệu nồng cốt giúp cho những người khảo sát báo chí nhận diện được thời gian khai sinh của làng báo tại xứ này.

Một khi đã tìm được « long mạch » rồi, người khảo sát báo chí Việt Nam có thể tiếp tục đi tìm những diễn biến kế tiếp một cách tương đối dễ dàng, nhất là những dữ kiện lịch sử quốc gia từng chi phối sinh hoạt của ngành báo chí. Các tài liệu sử học, cũng như những công cuộc nghiên cứu của nhiều sử gia, được coi là khá đầy đủ, giúp cho những người đi sau có được một kho tàng dồi dào tin tức để chọn lọc và xây dựng những thiên điều tra tỉ mỉ về cuộc hành trình 100 năm của báo chí. Nói cho đúng ra, trong suốt cuộc hành trình đó, chỉ có các biến cố lịch sử là có tầm ảnh hưởng mạnh vào sâu xa nhất đối với báo chí, trong khi các hoạt động của báo chí tự nó không chi phối nó được bao nhiêu. Do đó, kẻ quan sát tiến trình của báo chí Việt Nam đương nhiên phải tự tạo cho mình một quan điểm thiên về sử học.

Một điểm đáng tiếc của những người đã từng thực hiện cuộc khảo sát về báo chí Việt Nam mà công lao còn để lại cho tới ngày nay là chỉ giới hạn cuộc khảo sát của họ vào các sinh hoạt báo chí tại miền Nam, với rất ít ghi nhận liên quan tới báo chí tại miền Bắc kể cả từ lúc phôi thai vào năm 1865 cho tới những giai đoạn sau này.

Trong thời kỳ khai sanh, báo chí Việt Nam không mang được sắc thái của chính mình mà phải lệ thuộc gần như hoàn toàn vào chính quyền bảo hộ thời đó. Báo chí Việt Nam trong chặng đường đầu tiên khi xuất hiện chỉ là một công cụ của nhà nước Pháp, trong đó có sự đóng góp nhỏ nhoi của một số người Việt làm việc cho nhà nước bảo hộ.

Những tờ báo đầu ra mắt tại Việt Nam đều là do các chủ nhân ông người Pháp đứng tên. Họ là những nhà cầm quyền da trắng, và dĩ nhiên những chủ nhân ông da trắng này biến báo chí thành cái loa cho họ phổ biến tin tức theo ý muốn của nhà nước thời đó. Trên mặt báo, đôi khi các chủ nhân ông da trắng vẫn viết những bài có luận điệu làm báo để khai phá trí tuệ dân bản xứ, nhưng trên thực tế, quyền lợi của giới chủ nhân da trắng chính là động lực thúc đẩy họ khai sinh tờ báo đầu tiên tại Việt nam.

Dưới đây, trong một bài viết của viên Chủ Báo người Pháp, trên tờ « Lục Tỉnh Tân Văn », người Việt nam có thể nhận thấy rõ ràng « lòng tốt » của giới chủ nhân Pháp dưới chiêu bài thương dân bản xứ :

« BIẾN CÁO NAM NHƠN » : « Nay tôi tỏ cùng liệt vị trong lục châu rõ, tuy tôi là người Lang Sa mặc lòng, song qua ở Nam Việt đã lâu, thông thuộc phong tục và thời vụ của người An Nam hết. Cho nên thấy người An Nam có tánh không lo việc ăn học nghề nghiệp cho văn minh tấn bộ mà so sánh cùng các nước, thì tôi đem lòng thương và buồn cho người An Nam lắm. Vì vậy, tôi mới đứng xin nhà nước mà mở nhà nhựt trình này đặt hiệu là Lục Tỉnh Tân Văn, đặng có kiếu tỉnh người An Nam, lo việc thương mãi, ăn học nghề nghiệp, mà tranh đua quyền lợi cùng Chệt với Chà. Ấy cũng là hữu ích cho liệt vị, xin liệt vị phải biết, chớ khá gọi tôi là tham tiểu lợi ».

Lời « ra mắt » trên đây là đoạn văn tiêu biểu cho khuynh hướng báo chí thời lệ thuộc chính quyền. Chủ nhơn sáng lập báo chí lúc đó là người Pháp, thường là công chức, quan tham biện, thôi giúp việc cho chính phủ Pháp, ra lập một cơ sở ấn loát để làm thương mại. Cũng có trường hợp một chủ báo vẫn là công chức tại vị, đóng vai trò nhà cai trị, và tờ báo của họ trở thành cơ quan ngôn luận của chính quyền đô hộ, tuy rằng trên giấy trắng mực đen, các chủ báo người Pháp vẫn lớn tiếng đề cao chiêu bài giúp đỡ dân ta.

Những người Việt nam cộng tác với người chủ Pháp trong làng báo lúc đó cam tâm làm cái bóng của các chủ nhân da trắng, hoặc nhân thời cơ lợi dụng chức vụ của mình và tờ báo mà phổ biến chữ quốc ngữ, phổ biến tư tưởng Âu Tây cùng khoa học, kỹ thuật và giới thiệu tinh hoa nền cổ học cũng như kho tàng văn chương đất nước. Trong số những người này, hầu hết là những quan lại ngoan ngãi, muốn an thân cầu vinh, hoặc khá hơn thì cũng chỉ là những học giả ôn hòa muốn xuôi mình theo phong trào tân học và bỏ rơi khuynh hướng bảo cổ. Một vài trường hợp, họ là những nhà Nho thất bại, yếm thế, chán nản sau khi con đường cách mạng mà họ noi theo chẳng đưa tới kết quả nào. Mặc dầu vậy, nhờ tài năng và công lao của họ, họ đã gây được ít nhiều ảnh hưởng tốt cho chữ quốc ngữ. Nhưng kết quả này không bù lại được những bất lợi mà họ đã vô tình gây nên, khi đóng vai trò những công cụ để thực hiện một chính sách có lợi cho thực dân trong giai đoạn phôi thai của làng báo.

b) Những tờ báo mới xuất hiện

Năm 1859, thành Gia Định thất thủ vào tay quân Pháp. Ba năm sau, triều đình Huế không còn cách nào giải tỏa được áp lực của Pháp nên đành phải nhường mất 3 tỉnh miền đông. Tới 1865, tờ báo đầu tiên của nước ta ra đời. Đó là tờ Gia Định Báo, và từ đó tới nay làng báo xứ này đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực và công lao để duy trì được sự tồn tại của mình.

Qua bao nhiêu biến thiên của lịch sử, những số báo đầu tiên của tờ Gia Định Báo đã thất lạc hết không ai còn lưu trữ được. Tới nay, Thư Viện Quốc Gia chỉ còn giữ được những số báo in vào năm 1880, nghĩa là năm thứ 16 sau ngày ra mắt. Những số báo này về hình thức gồm có 4 trang cỡ 32x25 phân. Mỗi tháng báo được in 4 lần, mỗi lần vào ngày thứ 3 trong tuần.

Vào thời kỳ đó, việc phát hành báo khác hẳn lề lối bây giờ. Ai muốn mua thì tới dinh quan Thượng lại tại Saigon cho người nhà báo biên tên, mua trót cả năm thì trả giá 20 francs, mua 6 tháng giá 10 francs, còn mua 3 tháng thì phải trả 5 francs.

Về nội dung, tờ Gia Định Báo đăng tải khá nhiều tiết mục, chia ra làm hai phần chính : phần công vụ và phần tạp vụ. Trong phần công vụ, tờ báo phổ biến những tin tức liên quan tới hoạt động hành chánh của nhà nước thuộc địa, tin thuyên chuyển hay bổ nhiêu các nhà cai trị người Pháp, hoặc những bố cáo của nhà nước. Trong phần tạp vụ, tờ báo phổ biến những lời rao linh tinh liên quan tới đất đai, nhà cửa, án lệ. Ngoài hai phần trên, tờ Gia Định Báo ngay từ thời đó đã dành riêng một mục quảng cáo nơi trang 4, chứa đựng những lời rao mua, bán, cầm thế đồ đạc.

Muốn tìm hiểu tờ báo đầu tiên của Việt Nam một cách tường tận hơn, chúng ta có thể đọc tập « Lịch trình tiến hóa sách báo quốc ngữ » do Nguyễn Khánh Đàm xuất bản, trong đó tờ Gia Định Báo được mô tả như sau :

« Người làm tờ báo thứ nhất ở nước ta là một người Pháp, thủy sư Đô Đốc Bonard. Ông này có mang theo một ít chữ, một cái máy in và mấy người thợ in, ông lập nhà in ở Saigon và đã xuất bản tờ báo thứ nhất lấy nhan đề là Bulletin de l’expédition de la Cochinchine để đăng những nghị định và công văn của chánh phủ. Năm 1861, Đô Đốc cho xuất bản tờ báo thứ hai nhan đề là Bulletin des Communes viết bằng chữ Hán. Đó là một cơ quan để hiểu dụ cho dân.

Ngay hồi đó, chánh phủ Nam kỳ cũng dự định xuất bản một tờ báo quốc ngữ, nhưng chữ dấu gửi đúc ở bên Pháp mãi đến tháng giêng năm 1864 vẫn chưa xong, tờ báo quốc văn vì thế mà chậm ra đời mất hai năm. Trong hai năm chờ đợi đó, ông Phó Đô Đốc Roze xuất bản một tờ báo thứ hai đề là Bulletin du Comité Agricole et Industriel de la Cochinchine mục đích để nghiên cứu về nông nghiệp và công nghệ xứ này và mở rộng công cuộc đấu xảo hàng năm để khuyến khích hai nghề đó.

Tờ báo này xuất bản liên tiếp từ năm 1865 tới 1881, cộng tất cả 21 số. Bởi vì có tờ báo Pháp đó nên ta đã được thấy người Việt Nam viết báo bằng chữ Pháp đầu tiên là Trương vĩnh Ký.

Mấy năm qua đi, người ta như không để ý đến việc làm báo quốc văn ở Nam kỳ nữa. Mãi tới năm 1867, ông Kerguda đang làm thống đốc Nam Kỳ có mời Trương Vĩnh Ký ra làm quan. Trương Vĩnh Ký từ chối và xin lập một tờ báo quốc văn đề là Gia Định Báo. Gia Định Báo là thủy tổ báo chí quốc ngữ ở xứ ta. Nghị định cho phép báo ra đời được ký ngày 1-4-1865, mà lại ký cho một người Pháp tên là Ernest Potteaux, thông ngôn của chính phủ Nam Kỳ.

Mãi tới 16-9-1869 mới có nghị định của Thủy sư Đô Đốc Ohier giao hẳn tờ báo đó cho Trương Vĩnh Ký. Trương Vĩnh Ký là ông tổ nghề báo quốc văn ở xứ ta ». Từ khi được Trương Vĩnh Ký trông nom, với sự cộng tác của Tôn Thọ Tường, Paulus Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, nội dung tờ báo bớt khô khan và thêm phần phong phú : có bài khảo cứu, nghị luận, có mục sưu tầm tục ngữ ca dao, thi ca và cổ tích ».

Qua phần tài liệu trên đây, chúng ta có thể kết luận rằng tờ báo đầu tiên của xứ ta là do một người Pháp sáng lập, với sự cộng tác chặt chẽ của một số người Việt được nhà nước Pháp tín nhiệm. Riêng về phần độc giả, chúng ta có thể biết ngay được đó là những người giúp việc cho nhà nước bảo hộ. Riêng về phần tài chánh của tờ báo thì cho tới nay chưa ai có được một cuộc điều tra chính xác nào. Trên tờ báo cũng không thấy ghi tên người nắm giữ chức vụ tài chánh của nó, mặc dầu có ghi tên một chức vụ là « Chánh Tổng Tài » nhưng không ai biết rõ chức « Chánh Tổng Tài » có phải là Quản Lý hay không.

- Đông Dương Tạp Chí (1913-1916)

Số báo Đông Dương Tạp Chí đầu tiên ra mắt vào ngày 15-5-1913 tại Bắc Kỳ và vốn là ấn bản đặc biệt của tờ Lục Tỉnh Tân Văn trong Nam. Đông Dương Tạp Chí ra đời giữa một khung cảnh lịch sử khá đặc biệt. Đó là thời gian mà bên Âu Châu, Đức và Pháp đang đi dần vào cuộc xung đột, trong khi ở Việt Nam, các nhà cách mạng cho rằng thời cơ đang tới để tranh đấu dành độc lập cho xứ sở. Những biện pháp mạnh đã được đem ra áp dụng chẳng hạn như những vụ ném bom tại Hà Nội.

Với bối cảnh lịch sử đó, tờ Đông Dương Tạp Chí ra đời với một sứ mạng gần như rõ rệt mà ai cũng có thể nhận ra được : đó là chống lại mọi biện pháp võ trang của phong trào tranh đấu dành độc lập và kêu gọi người Việt hợp tác với nhà nước bảo hộ. Ngay trong những số báo đầu tiên, người ta đã thấy những bài viết đả kích dữ dội các nhà cách mạng Việt Nam chủ trương dùng sắt máu chống lại nhà cầm quyền Pháp. Chẳng những vậy, lại còn có những bài tường thuật các phiên Hội Đồng Hình như với ngụ ý cảnh cáo những người chủ trương tranh đấu bằng biện pháp mạnh, đồng thời tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc thấp kém nhằm hạ giá các nhà cách mạng Việt Nam.

Ngay trong số báo đầu tiên, Đông Dương Tạp Chí đã biểu lộ phần nào sứ mạng của nó, qua bài viết tựa đề « lời chủ nhân tổng luận » :

« Bỗng đâu giấc mơ màng chợt tỉnh, mở mắt ra đã thấy cuộc bình yên tan nát mất rồi.

Trái phá đâu hai hòn độc địa. Chết một viên Nam quan, chỉ vì tội trung nghĩa với quốc gia. Rồi không dưng lại mất hai Ông Lang Sa, một viên đã kỳ cựu ở đất này, nhiều phen đã yêu mến người bổn quốc.

Than ôi, việc hại nước An Nam ấy lại do tay một người An Nam.

Đây thoạt mới nghe tin, lão gia ruột thâm, gan tím, mở miệng ra cũng phải kêu một tiếng căm thù.

Giờ chắc hẳn ai cũng đã rõ các mục đích hẹp hòi của chúng nó. Không có lý tưởng nào cao xa nên phục. Chữ Quê hương, câu Độc lập, chẳng qua bọn nó chỉ dùng làm áo ngoài che lòng nham hiểm. Chủ nghĩa riêng của chúng nó chỉ có việc khôi phục chuyên chế mà đàn áp đồng bào.

Đồ mọt giun, đồ khỉ trá, đồ vô học. Chúng nó nói vì nghĩa quốc gia mà làm nên việc độc ác. Đến khi hỏi đến thì lại muốn kiêu căng, ai ngờ bởi kiêu căng mà rơi mất mặt nạ, để ai nấy đi guốc được trên đầu.

…Mấy năm nay, chúng nó vè vè khác chi nhặng bên tai, thấy Lăng Sa yên lặng, cứ tuần tự mở mang, nó ngỡ rằng vô ý, không phòng, tưởng châu chấu đá nổi voi. Biết đâu là nhà nước không khi nào rời mắt trông nom cho dân Bảo Hộ, lúc nào nguy biến cũng sẵn sàng che chở cho dân ».

Với đoạn văn trên, chúng ta thấy ngay luận điệu thóa mạ và pha lẫn đe dọa của nhà nước Bảo Hộ phổ biến trên Đông Dương Tạp Chí. Để chống đối lại phong trào cách mạng đang manh nha bùng nổ, thực dân Pháp đã tung ra những bài viết nhằm hạ giá những người Việt yêu nước sắp vùng dậy đấu tranh và gọi những người này là nham hiểm, đồ mọt giun, khỉ trá, hèn hạ như ruồi nhặng. Đọc qua luận điệu trên đây, ai cũng thấy rõ ngay khuynh hướng của tờ báo, đó là phục vụ cho một giai đoạn chính trị của thực dân và mong tạo dư luận chống lại phong trào đấu tranh dành độc lập.

Đó là về mặt chính trị, còn về mặt văn hóa, tờ Đông Dương Tạp Chí cũng kể là có công lao trong việc truyền bá chữ quốc ngữ để dịch thuật tư tưởng Tây Phương, đăng tải những bài khảo cứu, luận đàm tương đối vững chắc. Công lao của tờ báo này một phần lớn là do Nguyễn Văn Vĩnh tức là người đứng chủ trương. Ông Vĩnh vốn là một công chức của nhà nước Bảo Hộ, năm 1906 đã từng được cử sang dự cuộc đấu xảo của Pháp tại Marseille, Cùng hợp tác với ông Vĩnh là François Henri Schneider, một cựu công chức pháp đứng ra sáng lập tờ báo. Về phía người Việt, Tờ Đông Dương Tạp Chí được sự góp mặt của các ông Phạm Duy Tốn, Nguyễn Văn Tố, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Phan Kế Bính và Nguyễn Đổ Mục. Tuy ở hai phái tân và cựu học khác nhau, những nhân vật này đều có tiếng tăm trong giới văn học.

Đông Dương Tạp Chí là tờ báo xuất bản hàng tuần. Trong giai đoạn đầu, tờ báo thiên hẳn về thời sự, mỗi tuần có một bài « Tổng thuật » các sự việc xảy ra, một bài « Đại luận » về thời sự, các điện báo hoàn cầu và các tin tức thương mại mà tờ báo cho rằng giới doanh thương cần phải biết. Nhưng qua giai đoạn sau, kể từ 1915 trở đi, tờ báo tách dần khỏi tính chất thời sự để tiến vào địa hạt văn hóa. Vì sự chuyển mình này nên tờ báo bỏ hẳn phần thông tin thường tuần, trong khi giới thiệu những mục văn học mới như mục dịch tiểu thuyết Pháp sang quốc ngữ, mục quốc ngữ, mục văn chương, mục luật lệ An Nam, mục dạy về cách trí, mục kinh tế gia tộc, mục giáo khoa, và mục dạy quốc văn cho người Pháp. Chẳng những vậy, tờ báo còn để dành chỗ cho những mục không thường xuyên về triết học, luận lý học.

Tới khoảng cuối năm 1916 thì sự chuyển mình của Đông Dương Tạp Chí được coi là hoàn tất, tờ báo nhắm thẳng vào địa hạt văn hóa chứ không còn liên hệ với thời sự và chính trị. Nhờ sự chuyển mình này mà Đông Dương Tạp Chí thực hiện được nhiều công lao đóng góp vào nền văn hóa quốc ngữ.

- Nam Phong Tạp Chí (1917-1934)

Khác với tờ Đông Dương Tạp Chí là tờ báo mà nhà nước Bảo Hộ muốn dấu kín khuynh hướng và xuất xứ, tờ Nam Phong Tạp Chí ra đời một cách công khai để lộ chủ trương của nhà cầm quyền Pháp. Sáng lập tờ báo này là viên Trưởng Phòng Chính Trị Phủ Toàn Quyền Louis Marly, còn người chủ trương là ông Phạm Quỳnh, một viên chức Trường Viễn Đông Bác Cổ. Ông Phạm Quỳnh tốt nghiệp Trường Thông Ngôn vào năm 1908. Ông vốn có khuynh hướng cổ võ chế độ quân chủ lập hiến nên thường viết bài về khuynh hướng này. Phụ tá của ông là Nguyễn Bá Trác, một vị thâm nho từng xuất ngoại bôn ba và tham gia cuộc tranh đấu chống thực dân.

Nam Phong Tạp Chí xuất bản hàng tháng. Ngay trong tờ báo số 2 ra trong tháng 3-1917, bài viết của Phạm Quỳnh đã giới thiệu rõ khuynh hướng của tờ báo này :

« …Trong nước ta ngày nay, không những là những người thuần cựu học mà không thích dụng thời thế, những người thuần tân học cũng không ưng thuận với quốc dân. Người nọ thiếu cái gốc mà người kia thiếu cái ngọn cây vậy. Chi bằng ta tiếp ngọn nọ vào cái gốc kia lấy một giống cây riêng cho cái vườn Việt Nam ta ?

Nhà nước Bảo Hộ tất sẵn lòng mà giúp ta gây nên một tư trào mới. Cái thiên chức của nước Đại Pháp xưa nay vẫn là đi dạy cho các dân các nước biết phát triển cái quốc túy của mình khiến cho mỗi dân mỗi nước biết nhìn cái « nhân cách » riêng mà sống theo cái nhân cách ấy, chớ nước Pháp chưa từng bao giờ lấy sự đồng hóa các dân khác theo như mình làm một cái lương hảo chính sách. Hết thảy quốc dân đều một lòng khuynh hướng vào một mục đích chung, thế sao chẳng có ngày đạt được. Biết đâu ? Đến ngày ta có đủ tư cách mà quản trị lấy công việc ta thì nhà nước hẹp gì mà chẳng cho chúng ta quyền tự trị. Cái lượng lớn ấy không phải là trái với chính sách của nhà nước Bảo Hộ, mà thực là hợp với cái lý tưởng, cái lịch sử của nước Đại Pháp.

Nhưng trước hết, ta phải cố công cùng sức mà làm, ăn học hành cho xứng đáng cái lòng hy vọng kia, cái lượng lớn lao ấy.

Bản báo cũng muốn giúp một phần nhỏ trong các công cuộc lớn ấy. Bản báo cũng muốn vun trồng lấy cái gốc học ở trong nước mà đưa cái tư tưởng của quốc dân vào đường chính đáng.

Cái tôn chỉ của bổn báo rất là thiết thực, cái ý hướng của bản báo rất là phân minh. Còn sự thực hành được hay chăng thì không dám nói được.

Ngay tập thứ nhất mới xuất bản, gọi là có mấy lời phiếm luận để cùng với các bạn đọc báo giải chút lòng si ».

Thực sự ra, sự đóng góp của tờ Nam Phong Tạp Chí đối với nền văn học không phải là nhỏ. Tờ báo này chú tâm vào việc trui luyện quốc văn, sưu tầm vốn văn hóa cũ, phổ biến tư tưởng học thuật Đông Tây và làm giầu tiếng nước ta bằng cách vay mượn các danh từ khoa học, triết học của Trung Hoa.

Trong tác phẩm « Nhà Văn Hiện Đại », Ông Vũ Ngọc Phan đã nhận định về Nam Phong Tạp Chí như sau : « Nhiều người thanh niên trí thức đã có thể căn cứ vào những bài trong Nam Phong Tạp Chí để bồi bổ cho cái học còn khuyết điểm của mình. Thậm chí có người đã lấy Nam Phong làm sách học mà cũng thâu thái được tạm đủ tư tưởng học thuật Đông Tây. Muốn hiểu những vấn đề về đạo giáo, muốn biết văn học sử cùng học thuật tư tưởng nước Tầu, nước Nhật, nước Pháp, muốn đọc thi ca Việt Nam từ đời Lý, Trần cho đến ngày nay, muốn biết thêm lịch sử nước Nam, tiểu sử các đấng danh nhân nước nhà, muốn am tường các vấn đề chính trị, xã hội Âu Tây và cả những học thuyết của mấy nhà hiền triết cổ La-Hy, chỉ đọc kỹ Nam Phong là có thể hiểu biết được. Một người chỉ biết đọc quốc ngữ mà có khiếu thông minh có thể dùng tạp chí Nam Phong để mở mang học thức của mình ».

Hầu hết các nhà khảo sát báo chí về sau cũng phải nhận định như vậy. Nam Phong Tạp Chí có thể được coi như một ngôi trường thu hẹp, luôn luôn mở cửa đón nhận học trò tự mọi nơi, mọi giới, và ở mọi trình độ. Sự đóng góp của tờ báo này chẳng những hữu ích cho nhiều người vào thời kỳ đó mà còn tỏ ra bổ ích lâu dài như một thứ tài liệu dành cho nhiều năm về sau. Các nhà phê bình văn học cho rằng Nam Phong Tạp Chí đã tiếp tay nhóm Đông Dương Tạp Chí để đưa quốc văn tiến thêm một bước nữa, và văn học sử nước nhà có bổn phận phải ghi công lao của kẻ đã chủ trương tờ báo này.

- Các tờ báo khác (xuất bản trong thời gian từ 1865 tới 1917)

Ngoài 3 tờ chính yếu : Gia Định Báo, Đông Dương Tạp Chí và Nam Phong Tạp Chí, trong thời gian lệ thuộc chính quyền bảo hộ, báo chí nước ta còn có sự góp mặt của một số báo khác nhưng chẳng có tờ nào đặc biệt về hình thức cũng như về nội dung. Tất cả những tờ báo này đều là công cụ của nhà nước bảo hộ, lần lượt xuất hiện và được xếp theo thứ tự mà Nguyễn Ngu Ý đã trình bầy trong số Bách Khoa tháng 1 năm 1966 như dưới đây :

1865 : Gia Định Báo (báo tuần, Ernest Potteaux sáng lập)

1868 : Phan Yên Báo (Diệp Văn Cương, một công chức dân Tây biên tập nội dung do Phan Yên Trấn chủ trương)

1883 : Nhật Trình Nam Kỳ (vừa chữ Pháp vừa chữ Việt)

1892 : Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo (ở Bắc, báo chữ Hán do Schneider sáng lập, sau đổi ra Đăng Cổ Tùng Báo).

1901 : Nông Cổ Mín Đàm (tuần báo do Canavaggio sáng lập, Dũ Thúc, Lương Khắc Ninh, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Đồng Trụ, Lê Vân Trung, Tân Châu Nguyễn Chánh Sát thay nhau làm chủ bút)

1905 : Đại Việt Tân Báo (ở Bắc, Ernest Babut sáng lập, Đào Nguyên Phổ chủ bút, chia làm 2 phần, một bên in chữ quốc ngữ và 1 bên in chữ Hán)

1905 : Nhật Báo Tỉnh (Georges Garros sáng lập với mục đích « dạy dỗ loài người An Nam » theo lời tuyên bố trên nhãn báo. Có Thái Chiêu Đình và Nguyễn Phong Quang hợp tác)

1907 : Lục Tỉnh Tân Văn (tuần báo, do Pierre Neantet sáng lập, Trần Nhựt Thăng chủ bút, Nguyễn An Khương làm chủ sự)

1907 : Đăng Cổ Tùng Báo (ở Bắc là Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo đổi ra do Schneider sáng lập, Nguyễn Văn Vĩnh trông nom phần quốc ngữ và Đào Nguyên Phổ trông nom phần Hán Văn).

1909 : Nam Kỳ Địa Phận (tuần báo).

1912 : An Hà Nhật Báo (tờ báo Tỉnh đầu tiên của nước ta do Luật Sư Gallois Monbrun sáng lập, ra hàng tuần ở Cần Thơ, về sau đổi lại tên là An Hà Báo).

1913 : Đông Dương Tạp Chí

1913 : Trung Bắc Tân Văn (ở Bắc, Schneider sáng lập, Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương, có Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc và Nguyễn Đỗ Mục cộng tác).

1915 : Công Luận Báo (ra ngày thứ ba và thứ sáu hàng tuần, ấn bản tiếng Việt của tờ L’Opinion, cơ quan bênh vực quyền lợi của người Pháp tại Đông Dương).

1917 : Nam Trung Nhật Báo (Schneider sáng lập, có tên Pháp ngữ là Le Courrier de la Cochinchine, chủ nhơn là Renoux và Nguyễn Văn Của, chủ bút là Nguyễn Tử Thức).

1917 : Nam Phong Tạp Chí.

2. THỜI KỲ BÁO CHÍ ĐI VÀO Ý THỨC QUỐC GIA (1918-1929)

Năm 1918, đại chiến thứ nhất chấm dứt. Pháp ca khúc khải hoàn sau bốn năm gian khổ vì khói lửa. Trong những năm này, dân các xứ thuộc địa và bảo hộ đã cùng nhau đưa lưng gánh vác cùng « mẫu quốc ».

Chính vì sự gánh vác chung đó mà nhà nước bảo hộ đã phải nhớ lại những lời hứa cùng dân thuộc địa trước đây. Nào là hứa cho tự do ngôn luận, nào là hứa trao quyền độc lập. Tất cả những lời hứa này đã được chính quyền thực dân đưa ra khi kêu gọi lính thuộc địa tòng chinh, hoặc hô hào dân thuộc địa mua quốc trái và giữ gìn an ninh trật tự. Sau khi chiến tranh chấm dứt, nhà nước bảo hộ thấy rằng dân trí các xứ thuộc địa đã mở mang rất nhiều nên phải nhớ lại lời hứa cũ và cố gắng thực hiện không nhiều thì ít. Vả lại, nếu sai lời hứa và cứ tiếp tục bóp nghẹt quá có thể đưa tới tình trạng tức nước vỡ bờ chẳng có lợi gì cho chính quyền bảo hộ.

Nhờ những lời hứa đó mà người Việt Nam được quyền ra làm chủ báo. Làng báo Việt nhân cơ hội này chuyển mình mạnh mẽ. Ở Bắc, Nguyễn Hữu Thụ ra tờ Thực Nghiệp Dân Báo vào năm 1920, trong khi Bạch Thái Bưởi cho xuất bản tờ Khai Hóa Nhật Báo vào năm 1921.

Tại Nam Việt, Nguyễn Kim Đính xuất bản tờ Đông Pháp Thời Báo, ra những ngày thứ hai, thứ tư và thứ sáu mỗi tuần. Tờ báo này sống được 6 năm từ 1923 tới 1929. Cũng trong năm 1923, tờ Khoa Học Tạp Chí ra đời và sống cho tới năm 1926. Trong thời gian này, cả Hội Truyền Giáo cũng cho ra 1 tờ báo lấy tên là Trung Hòa Nhật Báo, xuất bản 1 tuần 2 kỳ. Tới năm 1924, tờ L’Impartial, một cơ quan ngôn luận binh vực quyền lợi người Pháp tại Đông Dương được cho ra chào đời ấn bản tiếng Việt của nó là tờ Trung Lập Báo. Tờ này sống được tới năm 1933 thì đóng cửa.

Về phần tạp chí, người ta không quên được tờ Hữu Thanh, một tờ bán nguyệt san có uy tín khá vững chắc trong nền văn học nghệ thuật và ý thức dân tộc. Chủ trương của tờ báo này là « nương tựa vào nước Pháp mà tiến lên con đường văn minh ». Nhóm chủ trương là Hội Bắc Kỳ Công Thương Đổng Nghiệp gồm nhiều nhân vật có tăm tiếng, nhưng uy tín của tờ báo chỉ dựa vào những bài viết giá trị của nhà thơ lỗi lạc ngày đó là Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu và « Ông Nghè » Ngô Đức Kế. Về phần Tản Đà, ông thường sáng tác những bài thơ đầy ý nghĩa yêu nước, kêu gọi mọi người đoàn kết với nhau để đạt mục đích chung là tranh đấu dành độc lập. Trong khi đó, Ngô Đức Kế đưa ra những bài viết hoàn toàn nằm trong phạm vi văn học, chống đối lại chủ trương đề cao truyện Kiều của Phạm Quỳnh.

Khảo sát về báo chí trong giai đoạn này, chúng ta không thể bỏ qua mà không nhìn tới khía cạnh pháp lý ảnh hưởng tới sinh hoạt báo chí. Nhà nước Bảo Hộ tuy giữ đúng lời hứa trước đây là cho phép người Việt ra báo, nhưng lại tìm cách kềm kẹp báo chí Việt bằng những đạo luật khắt khe. Khắt khe nhất trong số này là đạo luật ban hành ngày 29-7-1881, cho phép xuất bản báo không cần xin phép trước, với điều kiện người chủ trương phải là người… Pháp. Đối với người Pháp, đạo luật này quả thật là dễ dãi, ai muốn ra báo chỉ phải nộp đơn tại biện lý cuộc trước 24 tiếng đồng hồ và không phải chịu chế độ kiểm duyệt. Khổ một điều là đạo luật này không được áp dụng khi người chủ trương tờ báo là người Việt.

Vì không được hưởng sự dễ dãi của đạo luật 1881, các nhà báo Việt Nam đã khôn ngoan chơi đòn « gậy ông đập lưng ông » bằng cách mượn một người Pháp đứng làm quản lý, rồi xuất bản một tờ báo tiếng Pháp, và dùng ngay nó làm phương tiện đấu tranh cùng với các nhà cách mạng. Số báo loại này (do người Việt sáng lập nhưng do người Pháp đứng tên chủ trương) phát triển khá mạnh tại miền Nam.

Trong khi các báo Pháp ngữ sống mạnh, thì các báo Hán Văn kéo dài sự tồn tại của nó một cách lây lất không lấy gì làm vững chãi. Dư luận báo chí chia ra làm hai, một phe chủ trương loại dần các bài viết bằng chữ Hán vì cho rằng Hán Văn không còn đóng được vai trò văn hóa trong giai đoạn đó, còn phe kia vì nặng lòng với cổ nhân, vẫn muốn duy trì các tác phẩm Hán Văn trên báo chí. Nhưng rồi theo đà thời gian, luật đào thải đã đưa tới tình trạng các bài viết bằng chữ Hán thưa dần, rồi lui vào dĩ vãng. Báo Pháp ngữ càng ngày càng thắng thế, lan tràn cả sang địa hạt văn hóa cổ của người Việt. Trong số các báo Pháp ngữ, nổi bật nhất là tờ « La Cloche Felée » của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, người đã dùng ngay báo Pháp để chống lại người Pháp, công kích chế độ thực dân, để giới thiệu và cổ võ những tư tưởng dân chủ Âu Tây.

Vì có chủ trương, đường lối rõ rệt như vậy, Nguyễn An Ninh phải đón nhận nhiều đòn tấn công của nhà nước bảo hộ. Trong suốt tiến trình báo chí nước ta, không có một tờ báo nào bị khủng bố, đe dọa, áp lực nhiều bằng tờ La Cloche Felée, và mọi nhà nghiên cứu báo chí đều nhận rằng chưa có ai làm báo với nhiều lý tưởng như Nguyễn An Ninh cả. Ông trải qua một thời kỳ vô cùng vất vả, khó khăn và nguy hiểm khi chủ trương và điều hành tờ báo này. Có những trường hợp tờ báo bị nhà cầm quyền Pháp khủng bố đến nỗi không còn ai dám hợp tác, khiến ông chủ báo đành phải tự mình xoay xở mọi điều, từ viết bài, in báo, xếp báo và bán báo. Nhà in báo cũng không bao giờ được an toàn, phải di động nay đây mai đó, và ngay cả người đọc báo cũng không được yên thân. Thế mà tờ báo sống được mới là chuyện hi hữu.

Nguyễn An Ninh, một người nổi tiếng thông minh xuất chúng ngay từ ngày học tiểu học tại Pháp và đậu cử nhân Luật, khi về nước không chịu đi tìm cuộc sống nhung lụa trong hàng ngũ quan lại mà chỉ thích đi làm báo. Ông thích « dùng báo tiếng Tây để chửi Tây », và vì vậy mà tờ báo của ông nhiều lần bị Tây làm cho khốn đốn, một đôi lần đình bản tạm rồi lại sống lại. Nó sống được vì nó là tờ báo của những người yêu nước, và nhờ nó mà Nguyễn An Ninh trở thành thần tượng của giới trẻ thời đó.

Một điểm khác đáng chú ý về sinh hoạt báo chí trong giai đoạn này là chính những tờ báo Pháp ngữ đã mở đường cho cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại người Pháp và để cho các báo Việt ngữ noi theo. Đây là một nghịch lý theo một nhà quan sát, nhưng trên thực tế, báo chí Việt ngữ, đáng lẽ mở màn cuộc chiến chống Pháp bằng ngòi bút thì lại ngồi chờ cho đến khi các báo Pháp ngữ khai chiến đã đời rồi mới tà tà nhập cuộc. Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sự dấn thân của các báo Việt ngữ vào cuộc đấu tranh chống Pháp thực sự không phải do sự dẫn đường của báo chí Pháp ngữ mà chỉ là do những biến cố lịch sử trọng đại khích động dư luận đương thời.

Thực vậy, mọi người Việt trong thời gian này đều mang một tâm tư chung hướng về đất nước, và một khi có biến cố quan trọng xảy ra, mọi người cùng chia xẻ với nhau nỗi buồn vui tập thể hay bất mãn với nhà cầm quyền Pháp. Với một tâm tư như thế, tin Cụ Phan Bội Châu bị bắt ở Thượng Hải và giải về Hà Nội để đem ra xử tại Hội Đồng Đề Hình vào ngày 23-11-1925 đã làm cho dư luận giao động tột độ. Ngàn người như một người đều phẫn uất về vụ án này sau đó, lại người như một người cùng đau buồn vì cái tang chung là cụ Phan Chu Trinh vĩnh viễn ra đi vào năm 1926 tại Saigon. Nỗi phẫn uất và sự buồn đau của cả nước lúc đó đã được báo chí biểu lộ một cách trung thực và sôi nổi trong cả hai biến cố.

Trở lại với sinh hoạt báo chí, sau tờ La Cloche Felée, một tờ báo mới đã xuất hiện mang tên Đông Pháp Thời Báo do hai nhà tân học có tâm huyết chủ trương là Diệp Văn Kỳ và Nguyễn Văn Bá, với sự hợp tác của hai nhà văn miền Bắc là Tản Đà và Ngô Tất Tố. Hai ông Kỳ và Bá trông coi phần thời sự chính trị, còn Tản Đà và Ngô Tất Tố phụ trách các mục văn chương. Tờ báo này cũng chủ trương nuôi dưỡng tinh thần ái quốc chống Pháp nhưng không mấy hữu hiệu.

Cho tới một thời gian sau, vào năm 1929, Tản Đà và Ngô Tất Tố tách rời khỏi tờ Đông Pháp Thời Báo để xuất bản một tờ báo riêng mang tên là Thần Chung, dư luận khắp nước mới thấy rõ cường độ đấu tranh của hai người chủ trương tờ báo. Bài viết nào cũng mang sự nhiệt thành đối với quốc gia dân tộc, và bài nào cũng là một mũi dùi nhằm vào chính quyền thực dân. Chỉ tiếc rằng tờ báo này không thọ được lâu dài, đình bản vào năm 1930, dù có sự góp mặt của nhiều cây viết tên tuổi và ái quốc như Phan Khôi, Phan Văn Hùm, Đào Trinh Nhất và Bùi Thế Ni.

Một tờ báo khác cũng từng được dư luận nhắc nhở tới nhiều là tờ An Nam Tạp Chí xuất bản vào năm 1926 do Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chủ trương với mục tiêu hun đúc lòng ái quốc và tình đoàn kết trong quần chúng. Song song với tờ An Nam Tạp Chí là tờ Hà Thành Ngọ Báo (1927) của Hoàng tích Chu. Cùng với sự hợp tác của những khuôn mặt lớn trong làng báo lúc đó là Tạ Đình Bính, Phùng Bảo Thạch và Tam Lang Vũ Đình Chí. Tất cả những nhân vật này hợp lại với nhau thành một « équipe » hoạt động dưới quyền điều khiển của Bùi Xuân Học. Cùng hoạt động với nhau như vậy, mỗi người đóng góp một ít công lao và cải tiến tờ Ngọ Báo rất nhiều, khiến cho tờ này nổi bật hẳn lên về hình thức cũng như về nội dung, với nhiều thay đổi lạ khác hẳn với lề lối thường của những tờ báo ra trước. Nhưng có lẽ vì mới lạ quá trở thành lập dị, tờ báo bị dư luận chỉ trích nặng nề và giảm sút sự hoạt động để rồi phải ngưng hoạt động.

- Báo Đông Tây (1929 tới 1932)

Hoàng Tích Chu, sau ngày thất bại với Hà Thành Ngọ Báo, vẫn cố gắng đeo đuổi nghề làm báo để thực hiện lý tưởng của mình. Hợp với một số các nhà báo tên tuổi trong nhóm cũ như Tạ Đình Bích, Phùng Bảo Thạch, Tam Lang, và thêm Á Nam Trần Tuấn Khải, Hoàng Tích Chu cho xuất bản tờ Đông Tây và vẫn muốn cải tổ làng báo để thoát ly khuôn mẫu cũ. Ngoài những người đã kể trên, Hoàng Tích Chu còn có sự cộng tác của Nguyễn Nam Sơn, Tô Ngọc Vân, Trần Quang Trân, Lê Phổ và Đỗ Mộng Ngọc. Ê kíp này được coi là hoàn hảo về việc cải tiến cả hai phương diện nội dung và mỹ thuật của tờ báo.

Trong thời gian đầu, Đông Tây xuất bản hàng tuần, nhưng sau đó, nhờ đã tổ chức tương đối quy củ, đổi sang 1 tuần 2 kỳ, và chính tới lúc này mới là lúc mà Hoàng Tích Chu và Đỗ Vân có dịp phô trương tài nghệ làm báo, đưa ra nhiều sáng kiến độc đáo đổi hẳn bộ mặt báo chí. Về hình thức, Đông Tây rất sáng sủa, mang sắc thái một tờ báo ngoại quốc, áp dụng đúng các kỹ thuật trình bầy và ấn loát của báo chí Âu Châu. Thêm vào đó, ngay trang ngoài, tờ báo thường xuyên cho đi những tranh hí họa khiến độc giả chú ý và tờ báo có vẻ nhẹ nhàng. Về nội dung, nhóm viết bài đã sử dụng 1 lối hành văn giản dị, trong sáng và không kém xúc tích. Đặc biệt lối văn này thiên về văn nôm, ít chữ Hán, và ít chú trọng tới âm điệu, chỉ cần làm sao cho diễn đạt được ý tưởng một cách chính xác mà thôi. Điều này trái ngược hoàn toàn với nhiều tờ báo do nhóm cựu học chủ trương, văn chương nặng nề, tràn đầy Hán Tự, lại bị gò bó vào những điển tích xa xưa.

Trong khung cảnh sinh hoạt của báo chí thời đó, tờ Đông Tây được coi như thành công vượt bực. Nó là một luồng gió mới thổi vào căn nhà cổ kính, đưa lại rất nhiều thoải mái cho người đọc. Không phải tự dưng tờ Đông Tây đạt được thành quả đó. Đây là công lao của Hoàng Tích Chu, sau rất nhiều ngày nghiên cứu và qui tụ được một số những cây viết tân học, có óc thực tế, muốn dùng báo chí để mang những kiến thức mới tới cho người đọc chứ không nhằm cổ võ sự duy trì nền văn học cũ xuất phát từ « cửa Khổng sân Trình ».

Muốn nhận thấy rõ luồng gió mới mà tờ Đông Tây đã thổi vào làng báo, chúng ta hãy đọc qua bài xã thuyết sau đây do Hoàng Tích Chu viết : « Làm báo ở nước nhà chưa thể gọi là một nghề được. Vì ta chưa có trường dạy chuyên khoa, lại chỉ coi như một ngón trò chơi. Con cóc nhẩy ra, con cóc nằm đấy, thơ. Cho ngay đến hồi người làm báo cũng như mọi người lao động khác, ăn lương tháng hay tính tiền dòng, ta vẫn coi như một món phụ trong đời kiếm miếng : bần cùng mới đi viết báo. Viết báo là thế nào ? Cũng như thảo bài luận nhật khắc trong làng Nho ? Cũng như viết bài văn đầu ghế nhà trường. Một số người đều tưởng vậy ».

Ngoài lối văn xã thuyết như bài trên đây, Hoàng Tích Chu còn có biệt tài viết lối văn hài hước châm chọc người đời một cách nhẹ nhàng hoặc ca tụng các nhân vật thời sự một cách tế nhị. Nhờ lối văn này mà tờ Đông Tây lôi cuốn được độc giả và tạo nhiều nguồn dư luận sôi nổi.

Trong khi tại miền Bắc và miền Nam, phong trào báo chí phát triển khá rầm rộ thì tại miền Trung, dư luận vẫn chìm lắng gần như yên lặng. Có lẽ những người viết báo gốc miền Trung đều dồn tới hai miền Bắc và Nam để hoạt động vì chính tại quê họ không tìm được môi trường thích hợp để ra báo. Mãi cho tới khoảng cuối năm 1927, dân miền Trung mới bắt đầu nhập theo hai miền anh em để cho ra tiếng nói đầu tiên của họ là tờ báo Tiếng Dân, xuất bản vào ngày thứ tư và thứ bảy mỗi tuần. Trong lời phi lộ, người chủ trương tờ Tiếng Dân cho thấy khuynh hướng và xuất xứ của tờ báo như sau : « Theo tâm lý chân chính của quốc dân mà phô bầy trên mặt giấy, công lý là hướng đường đi, công lợi là nơi qui túc, không thiên vị về đảng phái nào, không cổ động về ảnh hưởng trống. Đối với đồng bào, xin làm vị thuốc đắng, đối với chính phủ, xin làm người bạn ngay ».

Tờ Tiếng Dân mang một sắc thái rất độc đáo ; nó không phải là tờ báo của một người, nó cũng không phải là tờ báo của một nhóm chủ trương. Nó là tờ báo của tất cả mọi người, vì nó là một tổ hợp trong đó có rất nhiều cổ phần ai muốn mua cũng được. Dân miền Trung đã tự nguyện đóng góp bằng cách mua các cổ phần này để tài trợ cho các hoạt động của một chí sĩ cách mạng là Huỳnh Thúc Kháng. Ở hai miền Bắc và Nam, nhiều người vẫn lầm tưởng rằng Tiếng Dân là tờ báo của riêng Huỳnh Thúc Kháng. Cũng có người cho rằng đó là tờ báo của « Công Ty » Huỳnh Thúc Kháng. Nhưng thực ra, các phần hùn của dân chúng trong tờ báo này là sự biểu lộ lòng ái quốc cũng như sự ngưỡng mộ đối với nhà cách mạng Huỳnh thúc Kháng.

Suốt mười mấy năm góp mặt với các đồng nghiệp trong làng báo, tờ Tiếng Dân lúc nào cũng làm cho nhà cầm quyền nể nang, và được dân chúng quí trọng. Nhưng rồi tình thế mỗi ngày một bất lợi, không cho phép nó thực hiện được nhiệm vụ đối với đồng bào mà phải đăng toàn những bài của Phòng Thông Tin Tuyên Truyền và những bài do Tòa kiểm duyệt sửa lại thì tờ báo này đành đóng cửa vào năm 1943. Cùng xuất hiện và cũng cùng chết với tờ Tiếng Dân hồi đó có tờ Thần Kinh Tạp Chí, xuất bản hàng tháng cũng tại miền Trung, chủ trương phổ biến tin tức, có kèm phụ trương bằng tiếng Pháp.

- Phụ nữ Tân Văn (1929-1934)

Tờ Phụ Nữ Tân Văn vừa xuất hiện tại miền Nam đã được độc giả tại cả ba miền đón tiếp niềm nở, vượt xa cả uy tín của tờ Nam Phong Tạp Chí trước đây. Tuy Nam Phong cũng đạt được thành tích khá cao, nhưng tờ này gồm những bài viết quá cao và nặng nề, nó là tờ báo dành cho giới trí thức và bóng thực dân đứng đằng sau lưng nó khiến cho nhiều người đọc cuối cùng mất cảm tình. Đến khi Phụ Nữ Tân Văn xuất hiện, mối cảm tình đó đã được độc giả khắp nơi dành cho nó, vì nó chứa đựng toàn những bài viết giản dị, dễ hiểu, nhẹ nhàng và bổ ích. Nhằm vào đối tượng rộng lớn là giới trung lưu, tờ Phụ Nữ Tân Văn đã vượt khỏi tầm mức địa phương và trở thành tờ báo có tầm vóc quốc gia, lan tràn khắp cả ba miền.

Bài viết của một độc giả dưới đây sẽ cho chúng ta hiểu lý do tại sao tờ Phụ Nữ Tân Văn được tiếp đón nồng hậu tại cả hai xứ bảo hộ Bắc và Trung :

« Danh nghĩa thì vẫn là tờ báo của phụ nữ, nhưng ai đọc nó cũng thấy có cái hạp ý mình và không có một vấn đề thời cuộc nào mà nó không nói đến.

So sánh với những tờ báo trong Nam như Đông Pháp Thời Báo hay Thần Chung thì nó ôn hòa hơn. Nhưng so sánh với những báo ngoài Bắc lúc bấy giờ thì nó lại dám ăn, dám nói nhiều hơn. Bởi thế nên Phụ Nữ Tân Văn có rất nhiều độc giả ở Trung và Bắc.

Hồi đó có cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái và vụ xử án những nhà cách mạng Việt Nam Quốc Dân Đảng, chính độc giả ngoài Bắc lại trông đứng trông ngồi những số báo Phụ Nữ Tân Văn từ trong Nam gởi ra để được nghe những lời nói can đảm binh vực cho những kẻ đã hi sinh cho giống nòi và đất nước. Những lời nói như thế không thể có được ở báo giới miền Bắc hồi bấy giờ ».

Phụ Nữ Tân Văn xuất hiện vào ngày 2-5-1929, với mục đích ghi ra trên mặt báo là « chuyên khảo cứu những vấn đề quan hệ tới đàn bà, tức là quan hệ tới quốc gia xã hội, nó không đảng phái, chỉ thờ chân lý làm thần minh, tổ quốc làm tôn giáo ». Trên thực tế, tờ báo này bàn đủ các vấn đề, trên từ xã hội, chánh trị, dưới tới những chuyện thường thức, gia đình.

Người làm chủ bút tờ Phụ Nữ Tân Văn là Đào Trinh Nhất, nhưng người làm cho tờ báo nổi bật với uy thế đặc biệt là Phan Khôi, người từng được mệnh danh là « Ông Tú xứ Quảng với một thứ lý luận độc đáo » và đã từng mở nhiều cuộc bút chiến dữ dội đả kích đạo Nho, tấn công trường phái Nho học thời đó vốn gồm nhiều tay cự phách cỡ Phạm Quỳnh.

Phụ Nữ Tân Văn, tuy mang danh nghĩa là « tờ báo của đàn bà » nhưng nặng về chính trị và văn học. Về mặt chính trị, tờ báo đăng nhiều bài viết cũng như tiểu thuyết gợi ý thức dân tộc và nuôi dưỡng tinh thần cách mạng, đặc biệt thiên tiểu thuyết « Mảnh Trăng Thu » do một người tù chính trị từ Côn Đảo bí mật gửi về. Về mặt văn học, tờ báo cổ võ cho thơ mới, tích cực phổ biến lối thơ này trên mặt báo cũng như đề cử một nữ sĩ (thường ký tên là Manh Manh) đi diễn thuyết ở nhiều nơi để châm ngòi cho phong trào thơ mới có cơ hội bùng lên. Chẳng những vậy, tờ Phụ Nữ Tân Văn còn đạt được nhiều thành quả về xã hội chẳng hạn như lập học bổng giúp các học sinh nghèo sang Pháp du học, xướng lập hội Dục Anh, tổ chức các cuộc đấu xảo về nữ công, đặt ra « bữa cơm bình dân » để tài trợ những người thiếu thốn.

Với nhiều kết quả như thế mà cuối cùng tờ Phụ Nữ Tân Văn vẫn phải đình bản vào ngày 20-12-1934, mặc dù người chủ trương tờ báo là Ông Bà Nguyễn Đức Nhuận đã mất rất nhiều công lao khó nhọc, biết kính hiền đãi sĩ, biết đối xử đẹp đẽ và trả thù lao xứng đáng đối với những người hợp tác, có nhiều sáng kiến, và biết tán thành sáng kiến của người khác.

Cuộc sống của tờ Phụ Nữ Tân Văn tính ra chỉ có 5 năm, nhưng những gì mà tờ báo này đạt được quả thật vượt cao hơn nhiều tờ báo khác sống lâu hơn nó. Và tuy đã đình bản rồi, tờ Phụ Nữ Tân Văn vẫn còn để lại nhiều cảm tình cho độc giả.

*

Làng báo Việt Nam trong thời kỳ phôi thai lệ thuộc vào thực dân Pháp, tính từ Gia Định Báo tới Phụ Nữ Tân Văn, tuy còn non yếu nhưng cũng đã mang nhiều sắc thái độc đáo và hứa hẹn nhiều triển vọng về mọi mặt. Những nhà khảo sát báo chí sau này đều nhận thấy rằng trong giai đoạn khai sinh mà báo chí Việt Nam đã tiến mau với những thành quả như vậy là điều khả quan hơn cả sự ước mong của những người làm báo thời đó.

Về phương diện chính trị, báo chí nước ta trong suốt tiến trình đầu đã thành công trong việc gióng lên những nguồn tư tưởng khơi động dư luận, làm ý thức dân tộc có cơ bùng dậy. Mặc dầu có một vài tờ báo đi ngược lại chiều hướng này, đa số các báo còn lại đã đóng được vai trò của mình tuy không trọn vẹn nhưng cũng khá tốt đẹp. Sự hoàn hảo trong vai trò của báo chí mang tính chất tương đối xét vì hoàn cảnh lúc đó đã không thuận lợi lại còn gây nên nhiều trở ngại. Thế mà báo chí đã can đảm chấp nhận thử thách, bền chí bước đi qua chông gai nguy hiểm để đi tới mục đích thì đó là một điều đáng thán phục. Trong một bối cảnh chính trị và lịch sử bất lợi của thời lệ thuộc, những người làm báo bất cứ xứ nào dù có tài giỏi đến đâu cũng không thể làm hay hơn được.

Bỏ qua phương diện chính trị, mọi người khảo sát báo chí đều có đồng quan điểm rằng báo chí Việt Nam đã thành công vượt bực về phương diện văn học. Trong phong trào cải tiến nền văn học quốc ngữ, báo chí đã đi tiên phong với vai trò khai phá, nuôi dưỡng, tăng cường và củng cố cuộc cách mạng văn chương, đưa tiếng Việt lên địa vị ngày nay. Công lao đó của báo chí cần phải được mọi giới của thế hệ sau tuyên dương và ghi nhớ. Ngoài ra, báo chí cũng còn đạt được thành quả lớn là du nhập những tư tưởng mới của Tây Phương vào nền văn học cổ kính của người Việt.

3. MỘT MÙA TRĂM HOA ĐUA NỞ (1930-1945)

BÁO CHÍ ĐI VÀO GIAI ĐOẠN TRƯỞNG THÀNH ĐỂ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA VÀ CÔNG CUỘC ĐẤU TRANH XÃ HỘI.

Cùng với thời gian kể từ ngày khai của báo chí vào 1865, số độc giả tăng lên mạnh mẽ đồng thời theo đà phát triển của báo chí. Cùng theo tỉ lệ thuận với hai yếu tố này, tiếng Việt đã cải tiến qua môi trường báo chí để tới khoảng 1930 thì đã trở thành một khí cụ sắc bén của cuộc chiến tranh tư tưởng. Sau Gia Định Báo, Đông Dương Tạp Chí, Nam Phong Tạp Chí, và Phụ Nữ Tân Văn, Tiếng Việt đã vượt hết đoạn đường non yếu chập chững để đi vào giai đoạn trưởng thành vững mạnh. Ta có thể phân tích con đường đi của tiếng Việt theo sự lượng giá rằng với Gia Định Báo, tiếng Việt ở vào giai đoạn ấu trĩ, sang tới Đông Dương và Nam Phong Tạp Chí, nó bước sang giai đoạn thiếu thời, và cho tới Phụ Nữ Tân Văn, Việt ngữ mới trở thành già dặn.

Tới năm 1930, một biến cố chính trị trọng đại đã đưa báo chí đi vào một khúc quanh mới. Đó là năm mà cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng xảy ra và thất bại, các nhà cách mạng bị đàn áp dữ dội, và nhà cầm quyền Pháp tung ra nhiều cuộc khủng bố ráo riết nhắm vào các đảng phái chính trị Việt Nam. Bị áp lực quá nặng, báo chí Việt Nam đành phải tạm rời môi trường chính trị để bước sang môi trường văn hóa và xã hội.

Thêm vào biến cố chính trị Yên Bái, năm 1930 cũng là năm mở đầu cho cuộc khủng hoảng kinh tế trên toàn quốc. Tình hình kinh tế chung đã khiến mọi người lo âu, nhất là giới thương mại, chán nản vì công cuộc làm ăn và sự biến chuyển của tình hình. Do đó, báo chí ít thu hút được độc giả so với những năm trước, nhất là những tờ báo vừa nặng nề, vừa đạo mạo như kiểu Nam Phong Tạp Chí, đầy những công trình khảo cứu tuy tỉ mỉ nhưng quá khô khan. Tâm hồn con người lúc này không còn thích hợp cho lối văn chương cổ kính, mà chỉ chờ đợi những bài viết nhẹ nhàng mang nhiều tính chất giải trí.

Đúng vào lúc mà người đọc khắp nơi mong đợi một tờ báo như thế thì Nguyễn Tường Tam, từ Pháp hồi hương, xin xuất bản tờ « Tiếng Cười » vào năm 1930 với mục đích cống hiến người đọc một món ăn mới vừa vui vừa lạ. Nhưng không hiểu sao khi nhà cầm quyền Pháp cấp giấy phép thì Nguyễn Tường Tam vẫn chưa xuất bản. Sau này lý do được tiết lộ là vì khó khăn tài chánh. Thế là « Tiếng Cười » không xuất hiện, và để thay thế nó, một tờ báo chọc cười khác lấy tên là « Duy Tân » đã được Nguyễn Đình Thâu cho ra đời vào năm 1931. Cột trụ của tờ này là Trần Khánh Giư, tức Khái Hưng.

- Phong Hóa và Ngày Nay (1932-1940)

Tới năm sau nữa, Nguyễn Tường Tam mới vượt qua được các trở ngại tài chánh để cho ra đời tờ Phong Hóa cũng vẫn với mục đích chọc cười thiên hạ. Đây là tờ báo trào phúng rất tế nhị, nhẹ nhàng và sâu sắc. Nhưng mục đích chọc cười này, theo Nguyễn Tường Tam, không phải chỉ để mua vui cho người đọc mà nhằm một chủ trương cao xa hơn, đó là chủ trương « dùng cười cợt để sửa đổi phong hóa, trước vui thích sau ích lợi, lấy thiết thực làm căn bản, và lấy khôi hài trào phúng làm phương pháp ».

Tờ Phong Hóa quả xứng đáng là một cơ quan ngôn luận dẫn đầu « phong trào cười ». Nó tự hào là có « số in nhiều nhất so với các báo ở trong nước, nhờ đó mà ảnh hưởng của nó rất sâu rộng. Nguyễn Tường Tam đạt được thành tích này không phải cho riêng mình mà cho cả nhóm « cách mạng văn hóa » của ông là Nhóm Tự Lực Văn Đoàn.

Dù ảnh hưởng của tờ Phong Hóa sâu rộng như vậy, Nguyễn Tường Tam vẫn chưa hài lòng. Năm 1935, ông cho ra đời tờ báo mới mang tên « Ngày Nay » mang ít tính chất trào phúng hơn tờ Phong Hóa, và chú trọng nhiều vào việc diễn tả cho mọi người dân thấy rõ sinh hoạt xã hội trong buổi bấy giờ về mọi phương diện, cả hình thức lẫn tinh thần. Lời giới thiệu dưới đây là do chính Nguyễn tường Tam viết trên tờ Ngày Nay vào số đầu ra mắt :

« Ngày Nay, là tờ báo hiến cho các bạn ngày nay.

Phong Hóa ra đời, chú trọng về trào phúng và văn chương, được các bạn hoan nghênh, đã xô báo giới đi một bước tiến khá dài, và đã từng phá tan bớt những hủ kiến nó làm mờ mịt khối óc người ta, ta phải biết nhận việc đời bằng con mắt sáng suốt, rồi vui vẻ mà phấn đấu.

Ngày Nay là tờ báo thứ hai của Tự Lực Văn Đoàn cũng cố đạt mục đích ấy, song theo phương thức khác. Chúng tôi sẽ đưa các bạn đi từ rừng đến bể, từ thành thị đến thôn quê, xem các trạng thái hiện có ở xã hội. Hiện trạng đó, các bạn cần biết và muốn biết hơn hết. Chúng tôi sẽ đi nhận xét lấy mọi sự thực, nói lại để các bạn hay và sẽ chụp nhiều ảnh xen vào bài để cho bài ấy được rõ rệt hơn. Như thế các bạn chỉ đọc qua cũng như đã đi đến nơi.

Ngày Nay chẳng phải là cơ quan tiến thủ giật lùi, mà cũng tự liệu sức mình, không dám nhận là tờ báo của tương lai. Ngày Nay chỉ mong và chỉ muốn được là – theo nghĩa đầy đủ – tờ báo của ngày nay.

Chúng tôi muốn cho tờ Ngày Nay thành một tờ báo vừa vui vừa có ích, ai cũng cần đọc, ai cũng muốn đọc, tờ báo lan rộng, nhiều người xem, sức mạnh của tờ báo là ở đó. Dựa vào sức mạnh ấy dần dần sẽ mưu tính những công cuộc về xã hội, những việc cải cách khẩn yếu mà các bạn và chúng tôi lúc nào cũng tha thiết ».

Ngày Nay ra mắt vào ngày 30-1-1935 và được tiếp đón rầm rộ. Người đứng giám đốc là Nguyễn Tường Cẩm, chủ bút là Nguyễn Tường Lân, hai người này là anh và em của Nguyễn Tường Tam. Nhưng kể từ số 6 trở đi thì chính Nguyễn Tường Tam đứng làm giám đốc.

Với nội dung bổ ích, hay lạ, Ngày Nay là tờ báo bán mắc nhất trong nước, cũng một phần nhờ in đẹp, hình ảnh nhiều. Bài vở thì quả là phong phú, với đầy đủ các mục điều tra, phóng sự, giáo dục, tìm hiểu, văn chương. Nhưng rồi vì không chịu nổi chi phí trình bày cũng như bài vở, tờ báo này phải tạm đình bản một thời gian khoảng 1 năm mới hồi sinh được. Lúc này, tờ Ngày Nay không còn giống hình thức ban đầu của nó mà chỉ gồm hai phần : một phần tiểu thuyết và một phần tìm hiểu, sống được cho tới năm 1940 thì bị nhà cầm quyền rút giấy phép vì lý do chính trị.

Ba năm sau, vào ngày 5-5-1943, tờ Ngày Nay lại hồi sinh lần thứ hai với một giám đốc mới : Nguyễn Tường Bách, em của Nguyễn Tường Tam. Chủ trương của tờ Ngày Nay vào lần này là hoàn toàn nhắm vào chính trị, như lời của người viết bài tái ngộ : « Tuy tình thế có đổi thay, mà chí hướng vẫn nguyên một, như một sức mạnh vô hình, có lúc co giãn, được dịp thì nổi bùng lên, mãnh liệt, không gặp thời lại ẩn tàng trong im lặng. Ngày Nay đã tùy thời cơ mà xoay chiến lược, nhưng bao giờ cũng hoài bảo một lý tưởng, theo đuổi một nhiệm vụ ».

Nhưng rồi cuối cùng vì cuộc cướp chính quyền của Việt Minh, nhóm Tự Lực Văn Đoàn đành phải bỏ dở nhiệm vụ đó, sau khi xuất bản số báo Ngày Nay cuối cùng số 16 ra ngày 18-8-1945. Dù tờ báo Ngày Nay sống không được bao lâu, ai cũng phải nhận rằng trong vòng 100 năm hoạt động của báo chí nước nhà, thật không có nhóm người nào làm báo có ảnh hưởng sâu rộng đối với xã hội, đối với văn chương nghệ thuật như nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Nhờ có uy tín của Nhóm này, báo chí được coi là dẫn đường cho công cuộc khai thông dân trí và xây dựng xã hội.

Trong tiến trình báo chí nước ta, không phải chỉ có Nhóm Tự Lực Văn Đoàn mới chủ trương dùng tiếng cười để cải tạo xã hội. Ngoài tờ Phong Hóa, độc giả, trong khoảng thời gian tiền chiến, còn được một tờ báo khác chọc cười. Đó là tờ Loa, xuất hiện vào ngày 8-2-1932 do Bùi Xuân Học đứng làm Chủ Nhiệm. Bùi Xuân Học tuy điều khiển tờ báo này, lại phải nhờ đến tài chọc cười của Côn Sinh, một họa sĩ nổi tiếng không kém Cát Tường (Le Mur) của Nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Bằng những nét vẽ độc đáo và sâu sắc, Côn Sinh đã tô điểm cho tờ Loa nhiều tác phẩm hí họa mà cả nước thưởng thức một cách say mê nhưng cũng có dư luận cho là thiếu đứng đắn. Về phần văn học, Loa không sánh được với Phong Hóa nhưng vẫn được độc giả ba miền chuộng đãi, một phần lớn là nhờ tranh hí họa của Côn Sinh và bài vở nhẹ nhàng, vui ích. Mặc dầu vậy, tới tháng 2 năm 1936 thì Loa chết vì bàn tay của nhà cầm quyền Pháp.

Loa chết được hai năm thì đàn em của nó ra đời. Tờ « Vịt Đực » của nhóm Tam Lang, Vũ Bằng, Thượng Sĩ, Thiết Can, ra số đầu vào 1938, sống được 1 năm rồi cũng theo Loa tạ từ làng báo. Làng trào phúng thấy Vịt Đực tự dưng lăn ra chết bèn cho « Con Ong » ra châm chọc thiên hạ được 34 số rồi cũng chết theo các báo đàn anh.

Trở lại với khuynh hướng văn chương, làng báo Việt Nam vào thời kỳ Tự Lực Văn Đoàn còn có sự góp mặt của một tờ báo nặng tinh thần quốc gia dân tộc, do Lê Tràng Kiều chủ trương, mang tên Tân Thiếu Niên, chú trọng hướng vào giới trẻ. Cây viết nồng cốt của tờ báo này là Vũ Trọng Phụng, một nhà văn tả chân từng làm dư luận sôi nổi với lối hành văn táo bạo và thực tế của ông. Tờ Tân Thiếu Niên sống không được bao lâu dù Lê Tràng Kiều là một nhà báo lão luyện đầy kinh nghiệm lại được tiếp tay bởi những cây viết cừ khôi của đất Bắc như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Nhược Pháp, và Huy Thông.

Trước khi tờ Tân Thiếu Niên ra mắt, giới phụ nữ ở Bắc cũng đã từng có một tờ báo riêng cho phái mình vào năm 1930. Đó là tờ Phụ Nữ Thời Đàm do một hoa khôi Hà Nội đứng chủ trương là cô Nguyễn Thị Xuyên tự Xuyên Đắc Mặc. Dù hướng vào phụ nữ, Phụ Nữ Thời Đàm không đạt được tầm ảnh hưởng quan trọng như tờ Phụ Nữ Tân Văn ở trong Nam, và dù được sự tiếp tay đắc lực của nhà văn lớn Phan Khôi. Sau Phụ Nữ Thời Đàm, nữ giới miền Bắc lại tìm cách lập một cơ quan ngôn luận khác để truyền bá tư tưởng và nếp sống nữ giới. Bà Thụy An cùng chồng là nhà văn Băng Dương lập ra tuần báo Đàn Bà Mới vào năm 1934 ở trong Nam, rồi lại ra Bắc lập một tờ khác lấy tên là Đàn Bà, số đầu tiên ra mắt vào năm 1939. Cả hai tờ tuần báo này chẳng gặt hái được bao nhiêu thành công dù có sự góp mặt của hầu hết các nhà nữ sĩ danh tiếng như Ngân Giang, Vân Đài. Trong khi đó, tại Miền Trung, vì muốn đuổi theo nữ giới hai miền chị em Nam, Bắc, cũng lập được tờ tuần báo Phụ Nữ Tân Tiến vào năm 1932, duy trì được một thời gian mấy số rồi cũng đình bản.

Có lẽ lần đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam, năm 1932 có xuất hiện một tờ báo dạy tiếng Anh cho độc giả, mang tên tờ Văn Học Tạp Chí do hai nhà cựu học Dương Tụ Quán và Dương Bá Trạc chủ trương. Ngoài tiếng Anh, tờ báo này còn dạy cả tiếng Quảng Đông nữa.

Và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử báo chí, độc giả khắp nước được thưởng thức một tờ báo chuyên về tiểu thuyết. Đó là tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy, ra mắt năm 1934, đăng toàn truyện ngắn, truyện dài, và phát đi cả Nam, Trung, Bắc. Nhóm chủ trương tờ báo này là Thanh Châu, Ngọc Giao, Lê Văn Trương, Nguyễn Công Hoan, Lan Khai, Vũ Bằng, Tô Hoài, Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, toàn những cây viết tiểu thuyết cự phách hoạt động chung thành ê kíp yểm trợ cho người sáng lập là Vũ Đình Long. Nhóm này đều có quan niệm rằng tiểu thuyết không phải chỉ có công dụng giải trí mà còn có công dụng giáo dục, có thể sử dụng tiểu thuyết làm môi trường thuận lợi cho việc giáo dục quần chúng. Mà thật vậy, Tiểu Thuyết Thứ Bảy đạt được thành tích sáng chói. Ở khắp nơi, độc giả đón đọc một cách say mê những tiểu thuyết do nhóm này viết. Chẳng những vậy, độc giả còn gửi về những truyện ngắn, truyện dài để đóng góp vào kho tàng tiểu thuyết của tờ báo.

Khi nhận ra rằng « thị trường » tiểu thuyết có cơ ăn khách, một nhóm khác bèn lật đật cho ra đời một tờ báo khác, mang tên Phổ Thông Bán Nguyệt San, mỗi kỳ đăng trọn một tiểu thuyết, hoặc một truyện ngắn của nhà văn nổi tiếng lúc đó là Nguyễn Công Hoan. Sự xuất hiện của tờ Phổ Thông Bán Nguyệt San gây ảnh hưởng lớn tại miền Nam, khi các đoàn ca kịch cải lương đều dựa theo truyện của Nguyễn Công Hoan đăng trên tờ báo nầy để diễn lại.

Cuối cùng trong lãnh vực này, tờ Tao Đàn xuất hiện, đóng vai trò của một tạp chí văn học, số đầu ra ngày 1-3-1939 với sự cộng tác của nhiều nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Triệu Luật, Nguyễn Trọng Thuật, Phan Khôi, Hoài Thanh, Trương Tửu, Lan Khai, Nguyễn Tuân và nhà thơ Lưu Trọng Lư. Đặt nặng vấn đề văn học, tờ Tao Đàn đã chú trọng đặc biệt vào cuộc đời sự nghiệp của các nhà văn, nhà thơ lớn đã khuất. Nhân cái chết của nhà văn V.T. Phụng và nhà thơ Tản Đà, tờ Tao Đàn đã xuất bản hai số đặc biệt để tưởng nhớ hai nhân vật này, mở đầu cho thông lệ mỗi khi một khuôn mặt lớn trong văn học mất đi, các báo đều ra số kỷ niệm.

Tờ Hà Nội Báo, xuất hiện vào năm 1936, do Lê Cường chủ trương và Lê Tràng Kiều trông nom, cũng là một biến cố lớn đối với lịch sử báo chí. Biển cốc này thực ra không phải là thành tích của tờ báo mà là do một tiểu thuyết đăng trên đó, tựa đề « Thị Mịch » của nhà văn tả chân Vũ Trọng Phụng. Về sau, « Thị Mịch » đổi tựa đề là « Giông Tố », kể từ khi tờ Hà Nội Báo giảm bớt phần văn học để thiên hẳn về chính trị. Cũng vì lý do này mà tờ báo bị nhà cầm quyền đình bản. Liền sau đó, tờ Tinh Hoa ra mắt do Đoàn Phú Tứ và Vũ Đình Liên điều khiển. Nặng về văn chương mỹ thuật, tờ Tinh Hoa chỉ sống được 13 số. Rồi tới 1940 tờ Hà Nội Tân Văn của Vũ Đình Di và Vũ Ngọc Phan chào đời, tiếp nối con đường của tờ Tinh Hoa nhưng quá nặng nề và gò bó nên không sống được lâu.

Phải chờ cho mãi tới năm 1940 thì độc giả cả ba miền mới lại tìm được một tờ báo có uy tín không kém tờ Ngày Nay và tờ Phong Hóa. Trung Bắc Chủ Nhựt, tên tờ báo mới xuất hiện, hội đủ các điều kiện làm cho tờ báo thành công là có nhiều tin tức, tranh ảnh thời sự, những bài nghiên cứu công phu, và những bài viết liên quan đến một chủ đề do tờ báo chọn lựa. Điểm đặc biệt nữa là tờ báo này biết dung hòa nền văn hóa Đông và Tây bằng cách giới thiệu các tư tưởng mới của Tây Phương song song với các bài giới thiệu những nét đặc điểm của nền văn minh Trung quốc. Tờ Trung Bắc Chủ Nhật được Nguyễn Doãn Vượng chủ trương, với sự cộng tác của Vũ Bằng và Đào Trinh Nhất.

Riêng về kỹ thuật ấn loát thì phải kể đến tờ báo hàng ngày Tin Mới của Bác Sĩ Nguyễn Văn Luyện là tờ báo đầu tiên sử dụng hệ thống in rotative Buplex mỗi giờ chạy được 50.000 số báo.

Tại miền Trung, Kim Lai Tạp Chí do Viễn Đệ làm Giám đốc ra mắt vào 1931, và tờ Sông Hương ra mắt vào 1936 do nhà báo lão thành Phan Khôi chủ trương. Phan Khôi, một khuôn mặt lớn trong làng báo Việt Nam, lần đầu tiên đứng làm chủ báo. Tờ Sông Hương, nhờ tên tuổi của Phan Khôi cùng với truyện của Vũ Trọng Phụng, đã thu hút được một số độc giả đáng kể tại địa phương nhưng không lan tràn được sang hai miền Nam và Bắc, cho đến khi Vũ Trọng Phụng tung ra một « đòn » quyết liệt là tiểu thuyết « Làm Đĩ » gây xôn xao dư luận.

Cũng tại miền Trung, lần đầu tiên một tờ báo trào phúng ra mắt độc giả. Tờ báo này lấy tên là Cười, nhưng có lẽ dân miền Trung ít chịu cười nên tờ báo Cười chỉ ra được mấy số thì chết không gây được tiếng cười nào cả.

Tại miền Nam, tờ Đồng Nai xuất hiện năm 1932, do Đoàn Quan Tấn làm giám đốc, chủ trương tách rời khỏi các vấn đề chính trị và chỉ chú trọng vào việc truyền bá các môn học. Lúc đầu, Đồng Nai xuất bản mỗi tháng 2 kỳ, sau đó trở thành tuần báo, nơi thiên về các đề tài xã hội. Tuần báo này thường xuyên mở các cuộc thi văn chương cho độc giả khắp nơi tham dự, nhằm biểu lộ quan điểm của nhiều người khác nhau về một vấn đề xã hội nào đó.

Tới năm 1934, một nhóm nhà văn tại miền Nam mệnh danh Trí Đức Học Xá do Đông Hồ Lâm Tấn Phác đứng đầu lập ra tờ báo Sống và nhà xuất bản Sống. Nhóm này, có cả Trúc Hà, Trúc Phong, Mộng Tuyết, Băng Hải, Trùng Ngâm cộng tác, chủ trương tiến lên địa vị của Tự Lực Văn Đoàn bằng cách đăng tải những tài liệu biên khảo công phu, sâu rộng, và đặc biệt chú trọng vào hình thức của tờ báo làm sao cho sáng sủa và hấp dẫn độc giả. Nhưng Sống chỉ kéo dài được tới năm sau thì chết.

Tới năm 1939, tờ Văn Lang được một nhóm thanh niên cấp tiến chủ trương cho ra mắt chuyên về phổ biến các phát minh khoa học, kỹ thuật. Người đứng điều khiển tờ này là Nguyễn Ngọc Bích, một kỹ sư trẻ cùng với sự hợp tác của một số y sĩ, chuyên viên. Năm 1940, tờ này nổi bật trong giới trí thức, khi có đăng những bài viết giá trị của các nhà chí sĩ cách mạng. Cũng vì lẽ đó tờ báo bị đình bản. Kế tiếp nó là tờ Mai của Đào Trinh Nhất và Vân Trình, cũng được nhiều giới ham chuộng, nhất là giới tiểu tư sản. Tờ Mai chứa đựng nhiều tiết mục hay, vừa hấp dẫn vừa bổ ích cho người đọc. Về hình thức, tờ Mai được trình bầy khá đẹp, thu hút được sự chú ý của độc giả bằng màu sắc và tranh hí họa ngoài bìa. Về nội dung, Mai rất phong phú, và mới lạ như tờ Ngày Nay của Nhóm Tự Lực Văn Đoàn.

Đó là những tờ báo tiêu biểu và khá nổi bật trong giai đoạn tiền chiến. Hầu hết những tờ báo này đã cho ta thấy một biến chuyển rõ rệt trong chiều hướng của báo chí : hầu hết đều nhắm vào cuộc đấu tranh xây dựng xã hội, ít còn chú trọng tới việc hô hào đấu tranh dành độc lập như trong thời gian trước đây. Vào những năm của thập niên 20, báo chí đóng vai trò tiền phong trong công cuộc chiến đấu chống nhà cầm quyền, còn trong thập niên 30, đối tượng của báo chí là mọi giai cấp quần chúng và xã hội Việt Nam trên đà lột xác.

Ngoài những tờ kể trên cũng còn một số báo khác đóng góp vào sinh hoạt làng báo trong thời kỳ này [1]. Nhưng hầu hết đều có chung một mục tiêu là nhắm vào xã hội hơn là chính trị. Tuy vậy, không phải là không có những tờ báo tách rời khỏi mục tiêu này và thiên hẳn về mục đích đấu tranh hoặc theo dõi, thông tin thời sự mà thôi. Ngoài ra, cũng có những tờ báo đi vào khuynh hướng riêng rẽ như tờ Thể Thao Đông Dương, ra mắt năm 1941 chỉ chuyên vào việc phụng sự phong trào khỏe.

Tới năm 1940, tình hình chính trị quốc tế sôi nổi với việc Pháp đầu hàng Đức lại có ảnh hưởng tới báo chí Việt Nam. Quốc Gia Pháp chọn Thống Chế Pétain làm Quốc Trưởng. Nhật lúc bấy giờ đã tràn lên Đông Dương và sự kiện này cũng có liên hệ tới làng báo xứ ta. Bán nguyện san Tân Á ra đời, đề cao mọi nỗ lực nhằm đạt tới sự thịnh vượng của toàn vùng Đông Nam Á. Trong khi đó, chính phủ Pháp cũng tỏ ra dễ dãi đôi chút, bớt xiết chặt báo chí hơn trước, và riêng đối với Nam Kỳ, nhà cầm quyền còn bảo trợ cho nhiều nhân vật tên tuổi đứng ra xuất bản báo.

Nhờ không khí thuận lợi đó, nhiều tờ báo mới đã ra mắt phụng sự độc giả, một số đi theo chiều hướng văn học, còn một số vẫn duy trì chủ trương xã hội ban đầu. Trong những năm cuối cùng trước chiến tranh, có một số tờ báo đáng gọi là tiêu biểu cho khuynh hướng chung của những người cầm bút :

- Thứ nhất là tờ Tri Tân, xuất bản năm 1941, của Nguyễn Tường Phượng, đặc biệt chủ trương phát triển văn hóa mà thôi.

- Thứ hai là tờ Khoa Học chuyên về mặt kỹ thuật và các phát minh mới.

- Sau đó là tờ Thanh Nghị chủ trương truyền bá kiến thức tổng quát

- và cuối cùng là tờ Thanh Niên chủ trương dẫn đường tuổi trẻ hướng về tương lai và lập sự nghiệp.

Một khía cạnh đặc biệt khác của báo chí trong thời kỳ này là một số báo đã tự ý đồng hóa « xã hội » với « lao động ». Trong khi khuynh hướng chung của báo chí là đóng góp vào công cuộc xây dựng xã hội và xóa bỏ những thành kiến xã hội cũ thì một số báo khác chủ trương đi vào một đường hướng riêng là phục vụ giai cấp lao động. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là tờ La Lutte xuất hiện năm 1933, tạm đình bản rồi hồi sinh vào năm 1934 để mở đường cho cuộc tranh đấu chống thực dân và trở thành cơ quan ngôn luận của giới lao động. Tờ Lao Động, tuy mang danh nghĩa là tờ báo của thợ thuyền, nhưng cũng phong phú về văn chương. Độc giả theo dõi La Lutte có thể thưởng thức văn, thơ, truyện ngắn, truyện dài, các mục trào phúng, hí họa khá đặc sắc.

Theo gót La Lutte, tờ Le Travail ra đời vào năm 1936, cũng nhằm phục vụ giai cấp lao động. Nó sống mạnh cho tới 1938 thì bỏ tên Le Travail để đổi thành tờ Tranh Đấu viết hoàn toàn bằng tiếng Việt. Ngoài hai tờ này, còn nhiều báo khác hướng vào giai cấp lao động, như tờ Tháng Mười, và tờ Tia Sáng (1939) ra đời đúng lúc nhà cầm quyền bãi bỏ chế độ kiểm duyệt và tạo một bầu không khí thoải mái cho báo chí phát triển. Đây là thời vàng son của những tờ báo tự mệnh danh là cơ quan ngôn luận của những người nghèo, những người vô sản, giai cấp đem cần lao đi xây dựng xã hội. Hàng loạt báo mới xuất hiện, nhưng đáng tiếc rằng hầu hết những tờ báo này, trong khi hăng say đi xây dựng xã hội lao động, đã bị lợi dụng một cách rất khôn khéo. Những tờ Nhành Lúa năm 1937, tờ Hồn Trẻ năm 1935, tờ Tiến Bộ năm 1936 và tờ Cấp Tiến năm 1938 đều làm công cụ tuyên truyền cho chủ nghĩa Mác-xít.

Suốt trong thời gian này, về phương diện văn hóa và giáo dục quần chúng, có lẽ công lao của tờ Khoa Học là lớn hơn cả. Tách rời khỏi sự ràng buộc của dư luận, đứng cách xa khung cảnh chính trị, tờ báo này chuyên về công cuộc khảo cứu, truyền bá những sáng kiến mới, và đưa những phát minh mới về nền khoa học tiến bộ của Âu Châu đến gần với cuộc sống thường ngày của người Việt. Không viển vong, không nặng nề, cũng không cần hình thức, tờ Khoa Học trình bầy rất giản dị, thô sơ ; nhưng nhờ khuynh hướng giáo dục của nó mà được độc giả bốn phương theo dõi và ca ngợi. Chủ trương của tờ Khoa Học được biểu lộ trong lời giới thiệu dưới đây : « Chúng tôi nghĩ rằng một dân tộc mà chưa có một phần lớn người chuyên môn khoa học thì dân tộc ấy hèn về phương diện vật chất. Nếu chưa có một phần lớn người hiểu chữ khoa học một cách thâm thúy thì dân tộc ấy còn non về phương diện tinh thần. Hèn vật chất, non tinh thần, dân tộc ắt bị diệt vong. Dân tộc ta dễ che mắt đi đến bờ vực thẳm ấy. Ước mong rằng báo Khoa học là một đơn thuốc « giải mê ».

Có nhiều người cho rằng quan điểm của người viết lời giới thiệu trên đây, ông Hoàng Xuân Hãn, người chủ trương nhóm Khoa Học, nhưng ai cũng phải nhận rằng công lao mà nhóm này đóng góp cho việc mở mang trí tuệ dân Việt ta không phải là nhỏ. Tờ Khoa Học, trong suốt thời gian nó xuất hiện, đã được nhiều người coi như một ngôi trường mở cửa giúp cho mọi tầng lớp mở mang trí tuệ và có một khái niệm rõ rệt về đà tiến bộ mà những quốc gia tân tiến đã đạt được trong khi nước ta vẫn khư khư sống trong nếp sống lạc hậu triền miên.

Cũng trong chiều hướng làm báo để mở mang trí tuệ dân tộc, chúng ta phải kể đến tờ Thanh Nghị do một nhóm thanh niên xuất thân từ trường Luật chủ trương. Nổi nhất trong nhóm này là Đặng Thái Mai và Nguyễn Thiệu Lâu, một người viết về văn học và một người viết về Sử địa trên tờ này.

Khi bước chân quân đội Nhật đặt lên giải đất Đông Dương, không khí báo chí đã thay đổi nhiều so với thời gian trước, vì những biến chuyển và nhu cầu chính trị trong thời gian này. Có thể nói rằng thái độ chung của làng báo lúc này là dè dặt, chờ đợi trong khắc khoải xem những dấu hiện trong hiện tại có ý nghĩa thế nào trong tương lai, dễ dàng hơn hay khó khăn hơn đối với báo chí, và đối với đất nước.

Đến khi quân đội Nhật lật Pháp tại Đông Dương thì báo chí đã thực sự giảm hoạt động để chờ đợi thời cơ mới. Tại miền Bắc lúc này chỉ còn hai tờ nhật báo là tờ Đông Pháp và tờ Tin Mới, trong khi ở trong Nam cũng vỏn vẹn có 3 tờ : Tin Điển, Saigon và Dân Báo. Riêng tờ Đông Pháp ngoài Bắc, vì tình hình chính trị, đã tự đổi tên ra là tờ Đông Phát. Bầu không khí chính trị quanh năm ngột ngạt và khó tiên đoán. Báo chí thu mình vào cuộc sống èo uột, bấp bênh. Nói đúng ra không riêng gì báo chí giảm sút hoạt động mà hầu như mọi ngành đều bị tình hình chi phối chung. Những biến cố dồn dập xảy ra, với nhiều hậu quả, đã khiến cho mọi người lo âu và chỉ còn biết chờ đợi.

Mãi lâu lắm bầu không khí mới giảm bớt đôi chút ngột ngạt, và báo chí mới tạm hồi phục. Những tờ báo cũ thì tăng cường hoạt động, trong khi một số báo mới ra đời, khi người Nhật đã chính thức cầm quyền và tạm ổn định chính trị. Tờ báo ra đời đầu tiên trong thời gian Nhật thuộc là tờ Ngày Nay, rồi tới tờ Kỷ Nguyên Mới do Nhóm Tự Lực Văn Đoàn chủ trương, rồi đến tờ Tiến xuất hiện vào tháng 8-1945 tại Saigon, được dùng làm cơ quan ngôn luận cho lực lượng thanh tiên tiền phong nhưng chỉ ra được mấy số thì chết.

Báo chí chưa kịp hồi sinh trọn vẹn thì biến cố 19-8-1945 diễn ra. Việt Minh lên cướp chính quyền, và tình hình lại đầy bất trắc. Báo chí lúc này gần như ngưng hoạt động hoàn toàn chờ xem động tĩnh. Riêng có một số báo bí mật do các lực lượng Việt Minh trước đây từng phát hành lén trong dân chúng thì bây giờ in công khai bán đầy đường. Tờ đầu tiên xuất hiện là tờ Cứu Quốc, tiếp theo nó là một lô những báo khác hoặc là cơ quan ngôn luận chính thức, hoặc do các tổ chức Mác Xít chủ trương. Báo loại này tung hoành khắp mọi nơi, còn những tờ báo thời trước thì im hơi lặng tiếng. Nhưng không phải báo chí Mác Xít không có đối thủ. Việt Nam Quốc Dân Đảng lúc đó nhanh tay cho ra hai tờ báo đối lập với Việt Minh, đó là tờ Chính Nghĩa xuất bản hàng ngày, và tờ Việt Nam xuất bản hàng tuần.

Tại miền Nam, báo chí cũng nhất loạt bị ngưng hoạt động. Lệnh cấm này là do Tướng Anh Gracey ban ra, người được giao phó nhiệm vụ giải giới quân đội Nhật. Ngày 20-9-1945, ngay khi nhậm chức đại diện quân đội Đồng Minh tại Việt Nam, Tướng Gracey cho ngưng mọi hình thức thông tin tại Saigon. Thế là mọi người làm báo phải tạm giải nghệ cho đến ngày cuối tháng 11 năm 1945, báo chí mới được phép hoạt động trở lại và chuyển ngay sang một giai đoạn mới với những khuynh hướng mới vì cuộc chiến đã mở màn.

4. BÁO CHÍ KHÁNG CHIẾN (1945-1954) VÀ THỜI KỲ THƯƠNG MẠI HÓA CỦA BÁO CHÍ (1945-1965)

Ngay trong thời gian đầu của cuộc chiến, báo chí đã mạnh dạn nêu gương trong việc đóng góp vào nổ lực chung yểm trợ kháng chiến và chống thực dân. Mặc dầu gặp nhiều thử thách và đe dọa, báo chí vẫn hiên giang làm tròn thiên chức của mình mà dân giao phó. Bất cứ điều gì dân chúng trông chờ, báo chí sẵn sàng nói lên một cách thật vô tư. Chính thái độ tích cực này làm cho nhà cầm quyền nổi giận và tìm cách khóa miệng báo chí.

Khi nhà cầm quyền bắt đầu gây áp lực với báo chí, sự đoàn kết trong làng báo lại bền chặt hơn bao giờ hết. Để chống lại sự đe dọa của nhà cầm quyền, báo chí cũng áp dụng một thái độ quyết liệt « ăn thua đủ ». Có lẽ một phần nhờ tinh thần ái quốc có sẵn trong người, một phần nhờ hậu thuẫn sốt sắng của dân chúng, báo chí Việt Nam sẵn sàng gánh vác mọi nhiệm vụ mặc dù nguy hiểm đang chờ. Chưa có thời gian nào trong quá khứ mà báo chí đạt được một thái độ đồng đều và cứng rắn như vậy.

Tới năm 1947 thì nhà cầm quyền buộc lòng phải áp dụng biện pháp mạnh đối với báo chí. Biện pháp mạnh đó là việc bắt buộc mọi tờ báo Tết phải có sự kiểm nhận của Bộ Thông Tin mới được phát hành. Làng báo lúc đó bắt đầu chấp nhận thái độ dè dặt để tránh né chứ không còn buông thả như trước đồng thời cùng hợp nhau lại mong tìm một đường lối dung hòa để thích ứng với tình thế nhưng cuối cùng vẫn không đạt được kết quả nào. Trong khi đó nhà cầm quyền vẫn không thay đổi quyết định cũ là bắt buộc mọi tờ báo phải tự ghép mình vào một định chế do nhà cầm quyền đặt ra để tránh những trường hợp tự do ngôn luận bị lợi dụng gây xáo trộn xã hội.

Làng báo không còn cách phản ứng nào khác hơn là công khai lên tiếng. Báo chí lúc đó có tất cả 17 tờ, đều hợp nhau thành một « mặt trận báo chí » để yểm trợ lẫn nhau và chịu áp lực chung của chính quyền. Trong khi nhà cầm quyền cứ đe dọa áp dụng biện pháp mạnh hơn, báo chí cứ đoàn kết, lợi dụng thời cơ để tranh đấu dành độc lập tự do, chống cường quyền, và bảo vệ đất nước. Với những mục tiêu đó, báo chí đã trở thành một khối mang tên là Lực lượng Báo chí Thống Nhất Nam Bộ, và tạo được một sức mạnh vô song, đủ sức đối chọi với những miếng đòn mà nhà cầm quyền sắp sửa tung ra để dành quyền ưu thế.

Chịu không nổi sự khiêu khích của báo chí, Thủ Tướng Nam Bộ Lê văn Hoạch tung miếng đòn mạnh nhất mong quật ngã địch thủ : Ông ra lệnh đàn áp báo chí thẳng tay bằng cách đóng cửa tất cả các báo, niêm phong tất cả các nhà in, và bắt nhốt hàng loạt ký giả truy lùng được. Chẳng những thế, ông tung lính đi ruồng xét khắp mọi nơi, bắt được nhà in nào in báo lậu thì cho phá luôn máy in, xé giấy báo, đồng thời đưa mọi người liên hệ đem giam giữ hết.

Miếng đòn quá mạnh làm báo chí ngất ngư, sửng sốt. Nhưng cũng chỉ một thời gian ngắn, giới cầm bút đã hoàn hồn và tiếp tục cuộc tranh đấu. Những báo chết có báo khác ra thay thế ngay, rồi lại tiếp tục chỉ trích khiêu khích nhà cầm quyền. Tình trạng giằng co giữa nhà cầm quyền và báo chí kéo dài bất phân thắng bại.

Tới 1949, Ông Bảo Đại từ Pháp trở về VN nhậm chức Quốc Trưởng. Không biết ông có nhìn thấy rõ tình hình báo chí lúc đó hay không, nhưng vừa lập xong chính phủ thì ông ban hành chế độ kiểm duyệt báo chí, cho áp dụng thật gắt gao khiến báo chí tạm thời phải khép mình vào luật pháp.

Trên khắp lãnh thổ Nam Bộ trong thời gian này, cuộc kháng chiến diễn ra thật ác liệt. Tại các vùng quê, khẩu hiệu toàn dân kháng chiến được áp dụng triệt để trong khi tại thành thị, báo chí tự nguyện làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh chung. Khẩu hiệu của báo chí lúc đó là chống thực dân xâm lược, và mọi người cầm bút đều tỏ ra tích cực trong sứ mạng sát cánh cùng những người kháng chiến để đánh đuổi quân thù. Trong giai đoạn này, báo chí cũng ở trong thế đoàn kết với nhau để tồn tại. Trong số những tờ báo nổi bật, chúng ta phải kể đến tờ tuần báo Việt Tiến của Lê Thọ Xuân, tờ Thế Giới của Dương Tử Giang, cũng là một tuần báo nặng về văn chương và văn hóa mới, có sự góp mặt của những cây viết nhà nghề như Bình Nguyên Lộc và Hồ Hữu Tường.

Tới khoảng 1959, mặc dù cuộc chiến vẫn kéo dài, và tinh thần kháng chiến vẫn còn trong đầu óc người cầm bút, báo chí lúc đó lại rẽ qua một chiều hướng khác vì nhiều lý do :

- Thứ Nhất, vì thiếu tự do ngôn luận, người cầm bút không viết được hết những gì mình muốn viết.

- Thứ hai, cuộc kháng chiến kéo dài đã mấy năm, tính chất thiêng liêng của nó đã giảm sút và những huyền thoại về nó đã phai mờ dần.

- Cuối cùng, lý do làm cho báo chí đổi hướng là trình độ kỹ thuật tân tiến giúp cho báo chí đi vào kỷ nguyên « tự động hóa » để thỏa mãn nhu cầu mỗi ngày một gia tăng mạnh.

Tất cả những lý do trên đưa báo chí vào giai đoạn thương mại hóa, phục vụ nhu cầu của độc giả. Ngoài ra, lý do chính trị cũng góp phần cho sự chuyển hướng này. Tại miền Bắc, Việt Minh sau mấy năm giành chính quyền, báo chí đã nhanh lẹ tách rời ngay và hướng về chủ nghĩa quốc gia. Những tờ báo nào không đi theo đường lối đó thì chỉ còn cách tự coi mình như một cơ sở kinh doanh sản xuất món hàng nào mà độc giả ưa thích. Chính khía cạnh này đã khiến cho báo chí đạt được nhiều điều hay, mà cũng mắc phải nhiều điều dở, vì lẽ nhu cầu của độc giả không phải cái nào cũng hoàn toàn tốt đẹp.

Tiêu biểu cho báo chí trong thời gian này tại miền Bắc là tờ Thời Sự của Nghiêm Xuân Thiện, xuất hiện vào năm 1947. Còn ở miền Nam, tờ Thần Chung của Nam Đình là một trường hợp đáng chú ý. Tờ này mở đường cho khuynh hướng thương mại hóa của báo chí, dành mọi phương tiện để phục vụ độc giả. Để thành công, Thần Chung áp dụng một kỹ thuật báo chí mới, đó là cung cấp tin tức thật nhanh, thật nhiều và thật đầy đủ. Về kỹ thuật ấn loát, tờ Thần Chung dẫn đầu bằng loại máy rotative in nhanh và đẹp. Ngoài ra, phải kể đến tờ Thế Kỷ xuất hiện tại Hà Nội vào 1950, tờ Đời Mới xuất hiện năm 1952, và tờ Mới cũng ra đời cùng một năm với Đời Mới.

Nhận xét chung về sinh hoạt báo chí trong giai đoạn thương mại hóa, đặc điểm nổi bật là sự vắng bóng của ý thức quốc gia, cũng như sự xao lãng của người cầm bút xứ này đối với công cuộc cải tiến xã hội. Trong thời gian trước, báo chí là công cụ chính của cuộc đấu tranh chống thực dân và làm phương tiện thiết yếu cho việc xây dựng xã hội mới. Bây giờ những tính chất đó đã lùi vào dĩ vãng để báo chí chỉ còn là một món hàng cung cấp cho thị trường như mọi món hàng khác. Vì lý do này, người sản xuất hàng đã phải tự nguyện chiều theo ý muốn của khách hàng để món hàng mình bán được chạy.

Định luật cung cầu của ngành thương mại đã đòi hỏi như vậy, làng báo bắt buộc phải noi theo nếu không muốn bị đào thải. Hầu hết mọi tờ báo, dù là theo khuynh hướng nào, dù là mệnh danh bằng chiêu bài tốt đẹp, hoa mỹ nào đi nữa cũng đã bắt đầu nhập cuộc chạy đua tìm kiếm, thuyết phục và chiều lòng độc giả. Và để thắng trong cuộc chạy đua đó, mỗi báo tung ra những đòn độc đáo nhất của mình hòng dành ưu thế.

Về hình thức, các báo cố cải tiến sự trình bầy cho hấp dẫn hơn. Đây chính là lúc mà các báo áp dụng các kỹ thuật tân tiến để lối ấn loát làm cho tờ báo sáng sủa, dùng mầu sắc để thu hút sự chú ý, trưng các tranh hí họa ra bìa hoặc trang ngoài, đúng vào phần báo nằm phơi trên xạp báo để người qua đường dễ nhìn thấy, và hơn tất cả, dùng một « manchette » chạy mầu sặc sỡ để đánh át những báo đồng nghiệp. Những người làm báo trong thời kỳ này cũng chịu khó nghiên cứu mọi lối trình bầy mới lạ, độc đáo, nhưng bớt phần cầu kỳ, để mặt mũi tờ báo vừa gọn gàng, bóng bẩy, vừa duyên dáng mà không có vẻ nặng nề cục mịch. Tất cả những cố gắng đó đưa tới tình trạng báo chí thay hình đổi dạng, gần như biến thể hoàn toàn để nhằm mục đích duy nhất là làm vừa lòng người đọc.

Nếu tờ báo chỉ đẹp về hình thức không vẫn chưa phải là món hàng mà độc giả trông chờ. Phong trào thương mại hóa báo chí không những « sửa sang sắc đẹp » của tờ báo mà còn gắng làm sao cho tờ báo có nội dung phong phú, xúc tích, hấp dẫn hơn, và nói một cách thực tế, nội dung đó chiều đúng ý độc giả. Tất cả những món ăn ngon, thơm, mát, trong lành được những người cầm bút khó nhọc dọn lên để khách hàng là độc giả thưởng thức. Thôi thì đủ mọi thứ, tin tức thời sự, nghị luận chính trị, chuyện phiếm hàng ngày, chuyện vui đô thị, chuyện lạ đồng quê, tin tức kịch trường, màn ảnh, giải đáp y học, giải đáp thắc mắc luật phát, gỡ rối tơ lòng, văn nghệ giáo dục, các kiểu thời trang v.v… Tất cả những gì mà người làm báo tưởng rằng độc giả ưa thích đều được xếp lên trang báo, mục thì trang ngoài, mục thì trang trong, cố định một chỗ và xuất hiện thường xuyên vào một số ngày trong tuần để độc giả khỏi mất công tìm kiếm. Chiều ý độc giả đến như thế, báo chí vẫn cảm thấy chưa ổn, nhiều tờ bèn rao trên mặt báo rằng cần độc giả góp ý để cải tiến tờ báo. Thế là thư tờ tới tấp gửi về, người xin thêm mục này, kẻ xin lập thêm mục khác. Cứ như thế, trong tiến trình thương mại hóa, người làm báo nai lưng ra chiều ý khách hàng, và theo đà này, các báo mỗi ngày một thêm nhiều mục, với dụng ý thỏa mãn càng nhiều độc giả càng tốt.

Những người khảo sát báo chí trong giai đoạn này cũng nên ghi nhận một điểm : đây là lần đầu tiên các báo Việt Nam sáng chế ra mốt câu khách mới. Tại Saigon, tờ Thần Chung đã vượt lên trên các báo đồng nghiệp bằng cách tung ra kiểu phụ trang đầy màu sắc sặc sỡ rồi quảng cáo trên trang nhất về những gì chứa trong phụ trang đó. Các độc giả thấy lạ bèn tìm mua, số bán nhờ đó tăng vọt. Nhưng rồi phụ trang không còn là độc quyền của tờ Thần Chung, các báo khác thấy kiểu bán báo này ăn khách cũng đồng loạt cho ra phụ trang, dần dần trở thành nhàm chán không còn lôi kéo được độc giả nữa.

Ngoài những cải tiến vượt bực về hình thức và nội dung, làng báo Việt Nam trong giai đoạn thương mại hóa còn cải tiến cả hệ thống phát hành, làm cho tờ báo tới tay nhiều độc giả hơn và tới mau hơn. Khẩu hiệu bây giờ là « tất cả cho độc giả, vì độc giả và hướng về độc giả ». Với khẩu hiệu đó, làng báo đã phải huy động đủ mọi phương tiện để phân phối báo. Đầu tiên là hệ thống cổ động nội ô thành phố được tăng cường nhân số nhờ mức hoa hồng gia tăng. Làng báo chiêu mộ cả học sinh đi bán báo kiếm tiền theo học hoặc những người muốn kiếm sống thêm trong giờ báo phát hành. Trước đây, vì tình hình làng báo bấp bênh, mức độc giả thấp nên mức hoa hồng cũng không lấy gì làm hấp dẫn. Bây giờ, vốn đã thương mại hóa, mức lời cao hơn đã gây được sự tham gia đáng kể. Cùng với hệ thống cổ động gia tăng, các phương tiện phân phối và chuyên chở cũng được tăng cường đúng mức. Hệ thống xe đò các tỉnh xa đã được sử dụng để giao báo, trong khi các đường hàng không quốc nội cũng nhận việc chuyên chở báo đi đủ các miền. Tất cả mọi phương tiện được phối hợp một cách qui mô để tờ báo mau tới tay độc giả.

Làng báo Việt Nam chưa bao giờ lại được kỹ nghệ hóa một cách cao độ như vậy. Công cuộc thương mại hóa tiến nhanh bao nhiêu thì cuộc kỹ nghệ hóa đuổi nhanh bấy nhiêu. Hướng về độc giả, báo chí chỉ muốn sản xuất cho mau, cho đẹp, cho hay để độc giả hài lòng. Tại các tòa báo, sự làm việc không còn lẻ tẻ mang tính chất thủ công nữa mà đã được tổ chức theo đường lối mới vừa hữu hiệu hơn, vừa giảm bớt chi phí. Với những máy móc mới, làng báo đi dần vào kỷ nguyên tự động nhờ kỹ thuật tinh vi để giảm bớt sức người. Phạm vi tin tức cũng nhờ kỹ thuật mà mở rộng, vượt qua làn mức địa phương để bao gồm một phạm vi rộng lớn hơn trước. Tất cả đều phát triển, về hình thức, về nội dung và về kết quả. Con đường thương mại hóa vào những năm 1952, 1953 cho thấy báo chí đã lột xác thoát ly được tình trạng chậm tiến lúc đầu.

Giữa lúc cuộc thương mại hóa báo chí diễn ra tốt đẹp thì tình hình chính trị đột biến, tiếp theo những ngày giao động bất ngờ vì tình hình quân sự khắp mọi chiến trường. Vào đầu năm 1954, những trận đánh ác liệt tại miền Bắc đã báo trước một màn đổi mới nào đó. Mặt trận Na San bùng nổ dữ dội, mặt trận Ninh Bình cũng gia tăng cường độ, trong khi tại Điện Biên Phủ, vùng lòng chảo chứa đựng « những lực lượng thiện chiến nhất của quân đội viễn chinh Pháp » bị hàng loạt đại đơn vị Việt Minh bao vây. Báo chí trên toàn quốc đều đua nhau theo dõi tình hình chiến sự tại khắp các mặt trận để tiên đoán tình hình chính trị. Trên khắp các mặt báo, tin chiến sự chạy dài đủ cỡ, và số độc giả cũng tăng vượt bực. Ai ai cũng nóng lòng muốn tìm biết xem cuộc chiến đã tới đâu và màn kết cục sẽ ra sao. Chính tình hình sôi động này đã tạo môi trường cho báo chí đi nốt thêm quãng đường thương mại hóa.

Rồi cái gì phải đến đã đến. Điện Biên Phủ thất thủ cùng với sự đầu hàng của những lực lượng viễn chinh Pháp dưới quyền điều khiển của Tướng De Castries. Tại Genève, cuộc chiến tranh nước bọt giữa Pháp và Việt Minh đã diễn ra và những cây bút sắp được hạ xuống để ký kết bản hiệp định chia đôi đất nước. Báo chí từ giã tin chiến sự để xoay qua tình hình chính trị. Cả làng báo xôn xao, tin 8 cột chạy khắp các báo. Ngày 20 tháng 7 năm 54, Hiệp Định Genève ra đời, đưa dân tộc ta vào một khúc quanh mới của lịch sử. Trên khúc quanh đó, có làng báo Việt Nam.

NHỮNG TỜ BÁO NỔI BẬT TRONG THỜI GIAN TIỀN VÀ HẬU GENÈVE :

- Thời gian 1950-1954 : Thần Chung, Dân Ta, Dân Đen.

- Thời gian 1954-1963 : Lẽ Sống, Tiếng Chuông, Tin Điển, Saigon Mới, Trời Nam, Dân Chúng, Tiếng Dội, Cách Mạng Quốc Gia, Thời Cuộc (Chuông Mai), Buổi Sáng, Thời Luận, Thời Đại.

5. BÁO CHÍ THỜI KỲ HẬU GENÈVE (1954-1963)

Ngày 5-4-1954, nghĩa là ngay từ trước khi Hiệp Định Genève được ký kết, nhà cầm quyền Ngô Đình Diệm đã tiên liệu được những trường hợp báo chí bị lạm dụng để thực hiện các mưu đồ chính trị cũng như làm xáo trộn an ninh xã hội nên đã ban hành một nghị định ràng buộc các cơ quan ngôn luận vào một định chế hợp lý đối với cả phía chính quyền lẫn báo chí. Đó là Nghị Định 275/PTT/TTK ngày 5-4-1954 ấn định một chế độ chi phối sự sử dụng các cơ quan ngôn luận trong việc thông tin và hướng dẫn dư luận.

Lý do mà Nghị Định 275 ra đời được giải thích bằng sự phát triển của chính làng báo vào những ngày mà tình hình chính trị giao động tột độ. Thời gian mấy tháng trước ngày Hiệp Định Genève, làng báo xứ ta ở cả mọi miền đều đi theo một chủ trương chung là gợi ý thức dân tộc chống lại sự chia cắt đất nước. Không một tờ báo nào mà không kêu gào đoàn kết và bảo toàn sự thống nhất quốc gia trước nguy cơ phân tán. Vốn thừa hưởng tinh thần đấu tranh từ cuộc chiến chống Pháp, báo chí cố đóng vai trò của mình là nuôi dưỡng cuộc đấu tranh, và dù cho tiếng súng có ngừng nổ thì cuộc đấu tranh đó vẫn phải tiếp tục để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ cũng như tình ruột thịt. Vào thời gian này, tính tổng cộng có tất cả 196 tờ báo đủ loại góp mặt trên đường ngôn luận.

Nghị định 275 thực ra là một định chế cần thiết đối với các nhu cầu của giai đoạn đương thời. Đến ngày 15-4-1954, nhà cầm quyền lại cho ra đời một nghị định khác, số 269/NĐ/BTT ấn định rằng những người đã được cấp giấy phép mà không xuất bản báo thì không được quyền cho người khác mướn « manchette » tờ báo đã được cấp. Mục đích của Nghị Định 269 là để chấn chỉnh tình trạng làng báo lúc đó, khi nạn cho mướn « manchette » đã thực sự diễn ra. Lý do là vì sau ngày Hiệp Định Genève được ký kết, báo chí tích cực đi vào chính trường, nấp sau những phe phái để gây xáo trộn. Nhà cầm quyền thấy rằng cần phải hạn chế sự tích cực đó nên từ chối không cấp thêm giấy phép ra báo. Lợi dụng một số báo đã đình bản, những nhân vật chính trị mới xuất hiện trên chính trường bèn thương lượng để sử dụng những giấy phép đã có sẵn để ra báo yểm trợ cho sự nghiệp chính trị của mình.

Báo chí trong thời gian này đã mang một mầu sắc mới với tổng số 212 tờ. Mầu sắc mới này, theo sự khảo sát của Linh Mục Thanh Lãng, là việc báo chí tích cực góp phần xây dựng chế độ Cộng Hòa Nhân Vị, theo đường lối mà nhà cầm quyền vạch ra. Trong một thời gian mấy năm liên tiếp, hầu như ít có biến cố nào lớn ảnh hưởng tới các sinh hoạt bình thường của làng báo, vốn đã tự ghép mình vào kỹ luật chung của quốc gia.

Tới năm 1956, nhà cầm quyền ban hành sắc lệnh số 23/TTP đình chỉ việc kiểm duyệt báo chí. Không khí đổi mới hoàn toàn và trở thành thuận lợi cho sự phát triển của báo chí. Một số giấy phép được cấp phát thêm và báo ngày, báo tuần mới nối gót nhau xuất hiện giúp cho đường dư luận được phong phú thêm. Thời kỳ này được coi là thuở vàng son của báo chí dưới chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, trong đó, chủ nghĩa Cộng Hòa Nhân Vị vẫn được phát triển mạnh mẽ.

Một điểm đáng lưu ý trong gian đoạn này là báo chí đã phải cạnh tranh ráo riết để tồn tại. Sự cạnh tranh đó đã xảy ra theo hai chiều :

- Bên trong, báo chí cạnh tranh với nhau trong làng, tự cải tiến về nội dung cũng như hình thức để đạt được sự hữu hiệu hơn.

- Bên ngoài, báo chí phải cạnh tranh với hệ thống truyền thanh đang hồi tung ra những chương trình mới hấp dẫn hơn, và nếu báo chí không vươn lên thì số độc giả sẽ giảm dần để chỉ theo dõi thời sự bằng cách nghe chương trình phát thanh mà thôi.

Tình trạng tốt đẹp đó kéo dài cho tới năm 1959, khi nhiều biến cố chính trị xảy ra, và nhà cầm quyền nhận thấy rằng báo chí đã khai thác ý nghĩa của những biến cố này vào những mục đích phe phái. Để chận đứng sự lạm dụng đó, dụ số 13 đã được khai sinh, ấn định hình phạt tù và tiền đối với những trường hợp báo chí dùng diễn đàn ngôn luận xúi giục các hành động xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tạo những dư luận hoang mang trong quần chúng. Mặc dầu vậy, nhiều vụ vi phạm luật lệ báo chí vẫn xảy ra và nhà cầm quyền đã phải ban hành thêm Nghị Định 151/BTT/NĐ ấn định trách nhiệm của người làm báo đối với an ninh chung của đất nước.

Sau đó chưa được bao lâu, chính quyền Ngô Đình Diệm bàng hoàng về cả hai vụ Dinh Độc Lập bị ném bom và cuộc đảo chánh của Tướng Nguyễn Chánh Thi lại buộc lòng phải xiết chặt báo chí thêm nữa. Trong khi tình hình chính trị sôi động trở lại, chiến tranh cũng tái phát ở nhiều nơi, và cả hai mặt đều tăng cường độ một cách mau chóng. Báo chí lúc này phải đối phó với hai thử thách nặng nề : nạn độc tài trên bình diện chính trị, và chiến tranh. Tuy vậy, những người cầm bút vẫn ngang nhiên tiến tới để làm tròn sứ mệnh thông tin, với ý thức cách mạng đã manh nha và mỗi ngày một thêm rõ rệt.

Tình trạng này kéo dài cho tới khoảng 1962 thì thời cơ đã chín mùi. Chính quyền Ngô Đình Diệm, với đường lối độc tài sẵn có, đã thẳng tay đàn áp các cơ quan ngôn luận một cách tàn bạo y như đàn áp các nhà chính trị đối lập đang dương mũi dùi vào chế độ. Sang tới 1963 thì báo chí công khai tạo dựng môi trường cho cuộc cách mạng cuối năm.

Nhìn chung vào tình trạng báo chí thời kỳ từ Hiệp Định Genève 1954 tới cuộc cách mạng 1963, chúng ta thấy ngay địa bàn hoạt động của nó trải ra qua hai lãnh vực chính : chính trị và xã hội. Còn một lãnh vực nữa, lãnh vực văn hóa, báo chí có góp phần sinh hoạt nhưng không mấy nổi bật. Về phương diện chính trị, báo chí làm tròn sứ mạng tùy theo nhu cầu đòi hỏi. Người làm báo trong thời gian này cũng có thể là nhà chính trị, dùng báo chí làm phương tiện hoạt động song song với những hoạt động trên chính trường. Nhưng cũng có những lúc báo chí tự dấn thân vào môi trường chính trị khi xét thấy cần thiết. Còn về phương diện xã hội, báo chí tiếp nối truyền thống cũ là góp phần nâng cao dân trí, đả phá những thành kiến sai lầm đồng thời giới thiệu những nếp sống mới lạ và tiến bộ để xã hội có thể tiến tới một khuôn mẫu tốt đẹp hơn. Hai vai trò chính trị và xã hội trên đây báo chí không đóng cùng một lúc mà thường xen kẽ nhau một cách linh động tùy theo nhu cầu giai đoạn của từng lãnh vực.

Nhưng trong khi thực hiện những nhiệm vụ mà thời cuộc giao phó, báo chí cũng đã không tránh được những lỗi lầm và sơ sót, chẳng hạn tình trạng lạm dụng quyền ngôn luận để mưu đồ những mục đích riêng tư, hay trường hợp báo chí đã từ bỏ sứ mạng hướng dẫn dư luận của mình để chạy theo những thị hiếu thấp kém của độc giả. Có lẽ vì lý do cạnh tranh mang tính thương mại quá ráo riết nên một số báo không còn xứng đáng là những cơ quan ngôn luận mà chỉ còn là phương tiện giải trí rẻ tiền.

Nói tóm lại, báo chí trong thời kỳ hậu Genève (và tiền Cách Mạng) được chia ra làm hai giai đoạn : giai đoạn đầu báo chí sống thư thái dễ dàng nhưng ít hiệu quả, còn giai đoạn sau, báo chí đã lập công lớn bên cuộc đấu tranh chung của dân tộc.

6. BÁO CHÍ THỜI KỲ HẬU CÁCH MẠNG

Linh Mục Thanh Lãng, trong một bài viết trên tờ Văn Bút mang tựa đề « Báo Chí Việt Nam và 100 năm xây dựng văn hóa » đã gọi thời kỳ hậu cách mạng 1963 là « thế hệ thác loạn của báo chí ».

Thật vậy, năm 1964 mở đầu cho một giai đoạn mới đối với sinh hoạt báo chí. Ngày 19-2-1964, nhà cầm quyền ban hành Sắc luật số 2/64 công nhận quyền tự do ngôn luận và ấn định thể thức truy tố các tội trạng do báo chí gây ra. Sắc luật này được coi là một biện pháp biểu lộ thiện chí của chính quyền, muốn coi báo chí là một sinh hoạt cần thiết của xã hội, đồng thời để cho người làm báo nhận thức được vai trò cao quý của mình và đừng dùng vai trò đó vào mục đích tư lợi.

Hai tháng sau, cũng vẫn trong chiều hướng đầy thiện chí đó, chính quyền lại cho ra đời Sắc luật số 10/64 ấn định quy chế xuất bản báo chí và đồng thời tổ chức nền báo chí Việt Nam. Đây là một bước tiến mới đưa tới một không khí mới trong đó báo chí có một chỗ đứng dễ thở hơn mọi thời gian trước. Chưa hết, tới ngày 20-7-1964, chính quyền tăng cường thiện chí của mình bằng một sắc luật mới đình chỉ sự kiểm duyệt đối với các nhật báo và tạp chí có giấy phép xuất bản của Bộ Thông Tin trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Bằng sắc luật này, sự cố gắng của chính quyền trong chiều hướng nâng đỡ báo chí và người cầm bút được coi là trọn vẹn. Cuối cùng, bằng Nghị Định số 908 ngày 19-12-1964, nhà cầm quyền dành mọi dễ dãi cho việc xuất bản báo của các đảng phái chính trị.

Tất cả những văn kiện pháp lý trên đây đều nhằm quy tụ vào một điều : Chế độ đệ nhị Cộng Hòa muốn xóa bỏ mấy đòn mà chế độ trước đã từng đăng lên để đè nén báo chí. Trong một giai đoạn lịch sử nào đó, chế độ cũ đã từng coi báo chí là kẻ thù nghịch với mình. Chế độ mới muốn phá tan sự ám ảnh đó và làm đủ mọi thứ có thể làm được để coi báo chí, hay tất cả những người cầm bút, là những người cùng đứng trên một chiến tuyến. Người biểu lộ quan điểm này một cách rõ rệt và thành thật nhất là ông Nguyễn Khánh, người một thời cầm đầu Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, khi ông tuyên bố rằng « sức mạnh của mỗi ngòi bút tương đương với một sư đoàn ». Tự do báo chí trong thời kỳ ông Nguyễn Khánh nắm quyền cũng được coi là gần hoàn hảo, ai muốn viết gì thì viết, kể cả viết những bài chống lại Ông Nguyễn Khánh.

Nhưng trong môi trường thuận lợi đó, báo chí đã phát triển như thế nào ? Vẫn theo Linh Mục Thanh Lãng, báo chí đã đi vào một cơn lốc. Vào cuối năm 1963, tổng số có 25 tờ báo. Tới năm 1964, con số này vọt lên 91. Hàng loạt tờ nhật báo ra đời và hàng loạt tờ đóng cửa. Có tờ chỉ ra được 1 số ra mắt rồi tạ từ ngay. Sang tới 1965, rút xuống còn 47 tờ hoạt động trong hỗn loạn. Báo chí lúc đó như một khu rừng hoang, cây cối mọc lên và đổ xuống không ngừng, trong khi mặt đất đã được làm cho tốt đẹp chuẩn bị cho nhiều cây khác mọc tiếp, nhưng kết quả thu được thật chẳng có là bao. Hầu hết các báo ít nhắm vào mục đích thông tin nghị luận như trước mà chỉ chú tâm phổ biến loại văn chương sa đọa, hậu quả của một thời đại nhiễu nhương hỗn tạp không ngừng.

Về phương diện chính trị, các biến cố quan trọng vẫn liên tiếp xảy ra trong thời kỳ hậu cách mạng. Phe phái xung đột nhau, tôn giáo kình chống nhau đã là những đề tài ngon cho báo chí khai thác. Mỗi phe, mỗi tôn giáo đều có báo riêng, và những tờ báo này cứ việc lãng quên nhiệm vụ thông tin trung thực để phục vụ quyền lợi phe nhóm.

Đứng trên một phương diện khác, thời kỳ hậu cách mạng cũng còn được coi là thế hệ báo chí thương mại hóa. Tất cả đều hướng về việc kinh doanh nhằm thu hút lời, và để đạt được mục đích này, báo chí được kỹ nghệ hóa tới mức tối đa. Những kỹ thuật ấn loát mới được đem ra áp dụng để tăng số phát hành, cùng với những máy móc tối tân nhằm giảm nhân lực. Từ tình trạng này, báo chí lột xác với hai thay đổi lớn : hình thức mới lạ hơn, còn về nội dung thì báo chí đánh mất gần như hầu hết giá trị của mình vì chứa đựng quá nhiều những mục vô bổ chỉ nhằm chiều theo thị hiếu thấp hèn của độc giả.

Cơn hỗn loạn của báo chí vào thời hậu cách mạng đưa lại rất nhiều hiện tượng « quái đản » chưa từng thấy xảy ra trong những thời kỳ trước hay tại bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới. Để tranh sống, báo chí đua nhau khai thác những chuyện hoang đường, hoặc theo đám ăn tàn bằng cách hùa nhau yểm trợ, cổ võ cho những phong trào xã hội vừa bất hợp pháp vừa phi luân lý. Ngoài trừ một số quá ít những tờ báo tương đối đứng đắn, số còn lại trở thành công cụ khai thác chỉ để trục lợi, không thèm đếm xỉa tới thiên chức của người cầm bút phụng sự dư luận.

Để kềm bớt sự phá sản tinh thần làng báo, và cũng để một phần nào cứu vãn đà tuột dốc của làng báo, chính quyền thời đó đã phải áp dụng một môn « thuốc đắng » : đặt ra chế độ phân phối « quota » giấy để dẹp bớt những tờ báo thiếu đứng đắn. Theo chế độ này, giấy in nhật báo sẽ được phân phối theo sự định lượng của Hội Đồng Báo Chí. Nhưng chính từ « môn thuốc đắng » này một hiện tượng « quái thai » đã khai sinh. Có những tờ báo gian manh, sau khi được cấp giấy phép, chỉ xuất bản một số cho có mặt và được phân phối giấy rồi không tiếp tục hoạt động nhưng vẫn được chia phần giấy cũ. Ngoài ra, có trường hợp hai tờ báo cùng in bài vở giống nhau, dưới hai tên báo khác nhau, để giảm bớt chi phí biên tập. Những hiện tượng này tuy hiếm nhưng đã xảy ra và được coi như là một thứ ung nhọt của làng báo.

Về phương diện văn hóa, báo chí trong thời kỳ này cũng không đạt được một kết quả nào. Trong cơn hỗn loạn sẵn có, báo chí không hề góp công lao làm cho nền văn hóa thêm phong phú. Chẳng những vậy, nhiều tờ báo còn mở đường cho phong trào đầu độc quần chúng, nhất là độc giả giới trẻ. Về phía báo ngày, các mục thông tin giáo dục càng ngày càng ít đi, trong khi các mục giải trí dơ bẩn càng ngày càng tăng, nhất là những truyện dài nhảm nhí ô uế. Phong trào này được báo chí mệnh danh là « những cải tiến mới » của báo chí nhằm phục vụ bạn đọc. Trong khi đó, tình trạng ở các báo định kỳ cũng không khá gì hơn. Hàng loạt tuần báo ra đời chỉ nhằm kích động óc tò mò để cung cấp những kiến thức thấp hèn không cần cho trí tuệ, nhưng vẫn được mệnh danh là những tờ báo xây dựng xã hội. Dưới những chiêu bài thật đẹp thật mới, báo chí đưa ra những món ăn độc địa và tai hại cho dân tộc. Dĩ nhiên trong cơn hỗn loạn đó còn có một vài tờ báo giữ đúng cương vị và trách nhiệm của mình là khai sáng dân trí và giáo dục quần chúng nhưng số này quả là hiếm, đã thế lại không sống lâu dài.

Mãi cho tới một ngày, ngày 30-12-1969, nhà cầm quyền nhận thấy báo chí đang trên đà xụp đổ vì kiệt quệ về vật chất và băng hoại về tinh thần, bèn cho ra một sắc luật mới nhằm chấn chỉnh lại làng báo. Đó là Sắc luật 19/69 ấn định quy chế báo chí. Rồi 3 năm sau, vì tình hình đặc biệt của quốc gia, nền Đệ Nhị Cộng Hòa cho ban hành Sắc luật 007, sửa đổi một số điều khoản của Luật 19/69 và ấn định lại việc xuất bản cũng như hoạt động báo chí. Một bầu không khí mới đã mở màn.

❀ ❀ ❀

[1] Các báo không mấy nổi tiếng : 1930 La Revue Caodaisto1930 Khoa Học Tạp Chí1932 Chớp Bóng1932 Từ Bi Âm1932 Hoàn Cầu Tân Văn1933 Dân Báo1933 Niết Bàn Tạp Chí1935 Kịch Bóng1935 Điển Tín1936 Đại Đạo1936 Nữ Công Tạp Chí1936 Vì Chúa1937 Nay1937 Thế Giới Tân Văn1937 Y Học Tạp Chí1938 Lao Động1938 Người Mới1938 Tự Do1938 Đuốc Công Lý1938 Phóng Sự1939 Ảo Thuật Tạp Chí1941 Bạn Đường1941 Đồng Thinh1941 Nghệ Thuật Việt Nam1941 Ngòi Bút1941 Tri Tân1942 Khoa Học1943 Thanh Niên1945 Kỷ Nguyên Mới1945 Phục Hưng

NGUYỄN VIỆT CHƯỚC (Hồng Hà) LƯỢC SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM Soạn theo chương trình của Bộ Giáo Dục để áp dụng vào việc giảng dạy môn Quốc Văn Lớp 12 và dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các Phân Khoa Truyền Thông Báo Chí IN LẦN THỨ NHỨT 1974 NHÀ XUẤT BẢN NAM-SƠN 36, Nguyễn an Ninh Saigon – Đ.T : 21.026 (cửa Tây chợ Bến Thành)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.