Nghề Buôn Mồ Hôi Nước Mắt Nụ Cười

Lượt đọc: 60 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Người trong đường dây buôn thuốc phiện Vân Nam – Hà Nội

❊ ❊ ❊

I. Hảo hán một thời

Nhà ông nhìn ra hồ bơi Quảng Bá. Căn nhà ba buồng xinh xắn, quét ve xanh. Cây hồng xiêm lớn, tàn lá che rợp cả mảnh sân nhỏ. – Chưa bao giờ được một quả nào – ông nói với tôi về cây hồng – Nhiều người khuyên tôi chặt đi nhưng tôi không chặt. Bóng mát cũng quý, phải không cậu?

Giọng ông to, vang. Tiếng cười của ông hào sảng, rung mãi.

Da ông màu nâu sẫm. Ngực ông nở căng vuông vức như tạc bằng đá đỏ. Ngay lúc này, nếu ông thích, ông vẫn có thể lao xuống nước như con cá kình, bơi một hơi sang bờ hồ bên kia rồi lại bơi trở về mà nhịp thở, nhịp tim vẫn không hề đổi. Vậy mà năm nay, ông đã tám mươi sáu tuổi đầu. Mái tóc đã trắng như tuyết.

Ông mang ra chiếc bình cổ màu hồng ngọc, rót rượu ra hai chiếc cốc pha lê to, thứ rượu màu ngà, thơm và sánh.

- Làm một cốc đi cậu. Rượu nếp ngâm ấu trùng ong chúa và dái dê rừng. Cậu uống thứ này đêm nay chắc chắn sẽ được vợ cậu biểu dương.

Và ông cười rất to. Ngỡ như tiếng cười của ông có thể làm rung tất cả lá của cái cây ngoài sân.

Như đã hẹn trước, hôm nay ông sẽ kể với tôi quãng đời oanh liệt của ông, những năm tháng kiêu hùng nhất, dữ dội nhất và cũng đau khổ nhất. “Tôi chẳng muốn để mãi những chuyện ấy trong bụng làm gì. Phải kể hết ra để chết cho nhẹ người. Sang năm nay, tôi thấy trong người hơi khang khác. Chắc là sắp có chuyện rồi. Cũng đúng thôi, tôi đã sống quá mức cần thiết”.

Tôi ngước nhìn ông, kính nể. Để nói về cái chết dễ như thế, nhẹ như thế chẳng dễ dàng gì.

- Tôi quê ở chợ Rã (Cao Bằng), nhà tôi chín anh em, trai tất. Nhà tôi ít ruộng, mấy mảnh ruộng bậc thang nhỏ như cái chiếu, như cái lưng con trâu. Chín thằng con trai ăn như hùm như beo mà chỉ mấy mảnh ruộng bé tí thì lấy gì ăn? Vì thế bố tôi cho cả chín anh em tôi đi buôn tất. Anh cả, anh thứ ba và thứ tư của tôi buôn thuốc phiện. Anh thứ hai buôn trâu. Anh thứ năm buôn lim, lát. Ba anh nữa buôn ngà voi, xương hổ, da thú. Tôi là con út. Tôi thích buôn thuốc phiện, nhưng muốn buôn to chứ không buôn bán kiểu cò con như các anh tôi.

Nghề nào cũng phải học. Nghề buôn thuốc phiện lại càng phải học kỹ. Trước hết phải học võ. Buôn thuốc phiện, nếu không biết võ sẽ mất vốn, toi mạng như chơi. Học võ để đi buôn “cơm nâu” chủ yếu học tránh đòn, đỡ đòn, trọng thủ, không trọng công. Làm sao để người ta đánh mình như đấm vào khoảng không, đánh mãi thì kiệt sức, gục xuống. Trong võ có cương và nhu. Tôi học cách lấy nhu chế cương. Cứng chỉ là tạm thời, mềm mới là vô địch. Cây lim cứng đấy mà bão quật đổ, cây cỏ mềm đấy mà gió cấp mười hai không hề hấn gì. Nước mềm mà vặn đường ray xe lửa quăn như vỏ đỗ, ngọn lửa mềm mà làm cho thép cứng cũng phải chảy thành nước. Đàn bà mềm mà đàn ông sợ. Học võ phải hiểu được cái lẽ ấy.

Tất cả triết lý của võ nghệ nằm ngay trong động tác chào. Bàn tay trái khum lại, bàn tay phải ấp lên trên, người cúi một chút, mắt nhìn thẳng như kẻ chỉ. Thế thôi. Vậy mà có đủ âm, dương, thượng, hạ, có tung hoành, công thủ. Bàn tay khum là để vồ, nắm lại là để đấm, mở ra để chém. Tư thế chào kia là để che vùng ngực, hạ xuống chắn được hạ bộ, nâng lên đỡ vùng mặt và chuyển sang thế công. Nó lợi hại lắm mà cũng rất lễ nghĩa, nhường nhịn.

Lại nói chuyện học võ để đi buôn thuốc phiện. Mục đích của mình là giữ cho được hàng chứ không cốt đánh gục đối phương nên phải chú trọng tránh, đỡ. Riêng cái chào, thầy bắt học suốt ba tháng trời. Ngẫm lại thấy hay tuyệt. Nhiều khi chỉ vì mình biết chào mà qua được mọi sự. Gặp sự rắc rối thì khum tay chào xin: “Tiểu đệ xin đại ca tha tội”. Nếu họ không cho thì cúi nữa, quỳ lạy. Vẫn tư thế ấy mà quỳ. Con nhà võ chỉ quỳ một chân thôi, để còn kịp bật dậy như con hổ vồ mồi. Thường như thế, nếu gặp bậc quân tử là được tha ngay. Còn nếu gặp kẻ tiểu nhân cũng không sợ. Nếu hắn xông vào thì mình chơi bài “thiền sư sát hổ”, hai tay chắp lại, đấm thẳng lên, phách ra, xé xác hắn thành hai mảnh.

Ông quỳ trước mặt tôi, biểu diễn bài “thiền sư sát hổ”. Da thịt ông bừng bừng như bốc lửa, bắp thịt cuồn cuộn. Gân tay nổi chằng như dây chão. Rồi “vụt”, “há a” nghe khét lẹt. Đang hăng máu ông đi tiếp bài “Lão hầu ly sơn”. Ông lấy tôi làm mô hình, gượng nhẹ thôi, rất gượng nhẹ nhưng mặt tôi bị xây xát nhiều chỗ, máu chảy ròng ròng.

Ông nhìn tôi vẻ thương hại:

- Tội nghiệp. Tôi có mật gấu đây. Bóp một chút là tan hết.

Rồi ông lấy mật gấu xoa bóp cho tôi. Tôi nhìn bóng ông trong chiếc gương lớn – giống hệt như một con gấu đang vầy vò bỡn cợt một chú cừu con.

- Cậu uống nữa đi. Một cốc nữa. Rượu này sức uống được bao nhiêu cứ uống đừng sợ – Tôi kể đến đoạn nào rồi nhỉ?

- Dạ ông đang kể chuyện học võ.

- Ừ học võ. Mất hẳn bốn năm. Sau đó, tôi xuống Hà Nội, xin vào học trường Bưởi, rồi năm 1937, tôi thi vào trường Bách Nghệ. Khi ra đi, bố tôi cho sáu mươi đồng, tám ông anh mỗi người cho ba chục đồng, vị chi là ba trăm đồng. Ba trăm đồng lúc đó bằng một trăm tạ gạo. Chẳng biết bây giờ có cậu sinh viên nào về Hà Nội học phải mang theo một trăm tạ gạo như tôi không?

Ở trường Bách Nghệ, tôi học lái xe lửa và đỗ ưu. Mục đích của mình là buôn thuốc phiện, học nghề ngỗng gì cũng chỉ để buôn thuốc phiện. Nghề lái xe lửa hợp với nghề buôn món “cơm nâu” kia. Song, học xong, mấy thằng xếp Tây bắt tôi lái tàu tuyến Hà Nội – Hải Phòng. Thế là hỏng. Chạy tuyến ấy thì buôn bán được cái gì. Đành phải tính bài lo lót cho bọn Tây vậy.

- Lương lái tàu hỏa lúc ấy 75 đồng/tháng (trong khi lương tri huyện có 40 đồng/tháng) nên sau một năm, tôi đã dành dụm được một khoản kha khá, đủ để đấm mõm bọn chủ Tây.

Tiền đi trước, đơn từ đi sau, qua cửa nào cũng lọt. Tôi được lái tàu Hà Nội – Vân Nam. Xưa cũng như nay, ai muốn buôn thuốc phiện cho bền đều phải có một nghề thật nghiêm chỉnh. Nghề ấy vừa là phương tiện vừa là vỏ bọc cho nghề buôn của mình. Nếu chỉ trần sì mỗi nghề buôn thuốc phiện, sẽ chết không kịp ngáp.

Người buôn thuốc phiện phải kiêng bốn thứ – không cờ bạc, không nát rượu, không mê gái, không nghiện hút. Cờ bạc thế nào cũng có lúc thua, khi không còn tiền thì mang thuốc phiện ra để đánh gỡ, thế là lộ bem. Tệ nát rượu cũng dễ chết. Tửu nhập, ngôn xuất, nói năng lung tung, thế là chết. Đàn bà là nguồn gốc của mọi tai họa, vì đàn bà mà có chiến tranh, vì đàn bà mà các vĩ nhân chết sớm hơn, vì đàn bà mà khối kẻ sạt nghiệp. Nhưng tệ nhất đàn bà hay làm lộ bí mật. Một điều bí mật, nếu để một người thứ hai biết, sẽ mất 50% bí mật. Nếu kẻ thứ hai ấy là đàn bà thì mất cả 100% bí mật. Còn nghiện hút đối với người buôn thuốc phiện là tự sát. Lạy ông tôi ở bụi này. Mùi thuốc phiện không tài nào giấu được. Tôi có anh bạn ở Lào Cai, cứ tám giờ tối là ngả bàn đèn ra, hút thuốc phiện. Đúng giờ ấy, gián bò ra đỏ cả bốn vách nhà – chúng cũng nghiện như người. Lại nữa, có con hổ vằn to như con bò tót, đúng giờ ấy ra ngồi đầu chái nhà, hỉnh mũi, chờ ngửi khói thuốc phiện.

II. Ông Ký, ông Ké

Xóm giềng gọi ông là ông Ké. Tên thật của ông là Bảo. Ông không cải chính. Ké là tên gọi chung của ông già ở vùng Việt Bắc. “Kể gọi thế cũng được” Ông nói với tôi như vậy, và lại cười rất to.

- Nhờ biết kiềm chế bốn thứ – rượu, cờ bạc, gái và thuốc phiện mà đến giờ tôi còn được như thế này. Nếu không tôi đã chết từ lâu rồi.

- Nhưng mà buồn, ông ạ!

- Ừ, buồn. Song mất cơ nghiệp còn buồn hơn. Mỗi nghề đòi hỏi một sự gắng gỏi, hy sinh. Muốn được cái này phải mất cái khác. Không muốn mất mà muốn được chỉ là chuyện trong mơ.

Cũng nhờ tôi biết giữ gìn như thế nên ông Ký Sinh mới tin tôi. Ai đã gặp ông Ký Sinh một lần đều không dám coi thường ông ấy. Ông này thấp bé, đầu to, mắt rất tinh nhanh. Phàm những người như thế là ghê gớm lắm. Làm đảo lộn thế giới xưa nay thường là những người thấp bé.

Ngày đầu buôn thuốc phiện, tôi chỉ dám đi mỗi chuyến một vài ký. Thuốc phiện gói rong mo cau, gói thêm một lần vải mưa nữa rồi cho vào túi chàm, vùi trong toa than. (Hồi đó tàu hỏa chạy bằng than đá). Chuyến đầu tiên, sợ hết vía. Tàu về đến Hà Nội, tôi xách cái túi chàm lem luốc bụi than, đi ra cửa ga. Mới đi được mấy bước đã thấy một thằng đội mũ phớt, đeo kính đen hai tay đút trong túi áo măng tô, đi kè kè bên cạnh. “Chuyến này chắc chết”. Nghĩ thế tôi ngoặt sang phải, theo đường ray, đi về hướng Khâm Thiên, tính nước liều. “Mày mà theo ông quãng nữa là ông khả (giết). Chỉ một cú đá là mày đã đi chầu ông bà ông vải”. Không ngờ thằng kia vỗ vỗ vào cái túi của tôi rồi đặt một ngón tay trỏ lên miệng (ý nói: “Đây biết tất cả, không hở cho ai biết đâu”) và nó đi. Tôi thở đánh phào một tiếng.

Tôi thoát cú ấy, nhưng sự thực là không thoát. Tôi như con cá trong chậu. Người ta muốn bắt lúc nào chết lúc ấy. Cái nghề buôn thuốc phiện, nếu đã bị theo dõi thì không được tiếp tục nữa, phải tạm nghỉ một thời gian. Mấy chuyến sau đó, tôi không mang lạng phiện nào. Nhưng lại chính cái thằng mật thám ấy vỗ vai tôi ở Vân Nam “Ông chủ bảo anh cứ tiếp tục đi. Đừng sợ”, tôi hỏi: “Ông chủ nào?” hắn lại đặt một ngón trỏ lên môi. Lần này thì tôi nhận ra hắn. Hắn chính là một đứa trong đội áp tải hàng của sở mật thám Bắc Kỳ. Một tháng đôi lần, tàu tôi có chở hàng cho bọn này. Lô hàng của chúng gồm vài ba cái thùng bằng sắt tây, có cặp chì cẩn thận, vì mỗi thùng nặng tới hai trăm cân. Ai dám buôn một chuyến dăm sáu trăm cân thuốc phiện? Vốn liếng đâu? Tiêu thụ cách nào cho khỏi lộ? Khi biết chuyện này tôi sợ đến tháo mồ hôi hột. Quả là tôi đã vuốt phải râu hùm. Vô tình tôi chạm vào lãnh địa của một ông vua, ông chúa nào đấy. Ông chủ nào dám buôn mỗi chuyến chừng ấy thuốc phiện tức là ông ấy có quyền muốn ai chết, phải chết. Ấy chính là ông Ký Sinh.

Tên ông ấy là Sinh. Còn “Ký” là một chức danh, một đẳng cấp ở các bãi vàng. Ký là gửi gắm, là phó thác. Mỗi bãi vàng chỉ có một ông Ký thôi. Hàng vạn người cứ ngày đêm cong lưng lên mà đào, mà đãi. Ông Ký cứ ngồi co chân trong quán uống rượu, hút thuốc phiện. Tối ngày mọi người mang vàng đến cống nạp. Người được nhiều, nộp nhiều. Kẻ được ít, nộp ít. Ai rủi ro không được mà hết tiền, có thể xin ông Ký một vài chỉ xài tạm. Người ta nộp vàng cho ông Ký như một thứ thuế bảo hiểm để không ai chèn ép trấn lột được. Đến bãi vàng, chỉ sau khi nộp thuế bảo hiểm cho ông Ký, người ta mới yên tâm làm ăn. Nếu không, một vẩy vàng cũng không có để mang về, cả mạng sống cũng nghìn cân treo sợi tóc. Ông Sinh trước làm Ký ở bãi vàng Na Rì. Bãi vàng này, người ta phát hiện được từ thời Pháp thuộc. Dân khai thác được một dạo thì bị Tây ra lệnh cấm. Ông Sinh hết đất làm Ký đành phải đi buôn thuốc phiện. Vốn của ông ấy lớn là phải lắm. Bây giờ, ở Na Rì luôn luôn có hàng vạn người đến đây đào vàng. Và cũng như ngày xưa, cũng lại có một ông Ký, gọi là Ký Châu. Tay này nghe nói võ nghệ gớm lắm. Vợ hắn có một vườn chuối hơn một nghìn cây. Hắn luyện võ, đá gục bằng hết. Ngón đá của hắn hiểm lắm, người ta đồn thế. Nghe cậu nói chưa biết bãi vàng là gì, hôm nay, tôi đưa cậu lên Na Rì để biết thế nào là cái “xã hội vàng” và cũng hiểu thêm một chút về ông Ký Sinh.

- Cháu vô cùng cám ơn ông. Nhưng ông lãng phí quá. Chẳng cần phải thuê một chiếc Toyota như thế này. Tốn kém lắm. Hai ông cháu mình chỉ cần một cái com-măng-ca là được.

- Loại xe ấy xóc và nóng lắm. Vả lại, cũng chẳng đáng là bao. Tiền xe bao nhiêu chú tài nhỉ?

- Dạ, cháu xin bác năm trăm cả đi lẫn về.

- Cả ăn uống nữa là một triệu. Một chục triệu cũng không là cái đinh. Hết bao nhiêu, bắt Ký Châu trả. Cậu nhà báo khỏi lo.

Cuộc sống ở bãi vàng Na Rì dữ dội, gấp gáp và hỗn loạn. Hàng vạn người ùn ùn dồn về đây, tranh nhau đào bới, rút ra từ đất những vẩy vàng bé nhỏ nhất. Dân làng vàng chia làm hai loại, chủ (gọi là bưởng) và phu (gọi là cửu vạn). Chủ nhỏ, có từ bảy tới mười cửu vạn. Bưởng lớn có hàng trăm, vài trăm phu. Phục vụ cho đội quân lao lực này là một mạng lưới dịch vụ đồ sộ, tiệm ăn và tiệm uống, cả tiệm hút và tiệm gái. Đã có những tiệm này, ắt phải có tiệm thuốc chữa bệnh lậu, bệnh giang mai…

Ký Châu ngồi trong một quán rượu. cái quán này khá bề thế so với cuộc sống tạm bợ ở đây, mái ngói, tường toóc xi, bàn ghế tươm tất.

Khi chúng tôi đến, Ký Châu đang vừa gặm đùi gà, vừa ngất ngư hát:

“Miệng em – cửa nhà tù

Mắt em – dao găm nhọn

Ngực em – giá treo cổ

Anh muốn làm người khổ

Được hôn cửa nhà tù

Hai mắt sáng được mù

Bằng đôi dao găm nhọn

Và yên giấc nghìn thu

Đầu trên giá treo cổ”

Mỗi một câu hát, Ký Châu lại gõ ngón tay trỏ xuống miệng cái bát sứ trước mặt. Và mỗi cái gõ khẽ của hắn, miệng bát lại bị mẻ đi một vài miếng bằng đốt ngón tay.

Tôi liếc nhìn ông Ké, lo lắng.

Ông Ké lên tiếng:

- Ký Châu say rồi.

Ký Châu nhếch một bên mép lên cười rồi cầm cái bát lên, úp sấp xuống, gõ ngón tay trỏ vào trôn bát. Cái bát vỡ đôi. Đoạn hắn hỏi ông già:

- Đi đâu?

- Đi kiếm ăn.

- Già rồi còn tham làm giàu gì? Sức đâu mà làm cửu vạn.

- Đây không làm cửu vạn. Đây làm Ký.

Ký Châu dằn mạnh chai rượu xuống bàn:

- Đứa nào muốn chết, ta xin chiều. Đi ra đằng sau.

Hai người kéo nhau ra phía sau chái nhà. Đám khách nhậu bỏ dở bàn rượu, đi ra xem cuộc đấu. Ký Châu ra đòn liên tục, còn ông Ké thì vừa tránh, vừa đỡ, vừa đi giật lùi. Ký Châu dồn ông già vào sát chân tường. Tôi lo đến thót tim lại, chưa biết can bằng cách nào thì Ký Châu đã hét to một tiếng, bay người lên đá. Loáng một cái đã thấy ông Ké bước ra đứng trước mặt tôi, còn Ký Châu thì ngã úp mặt xuống đất, máu đang trào ra sủi bọt ở mũi và miệng hắn. Cú đá trượt của Ký Châu làm bức tường thủng một lỗ như cái đấu và chân hắn kẹt luôn ở đấy. Trong khi hắn đổ úp xuống vừa gặp cú đấm của ông Ké thoi lên. Rất may là ông Ké còn biết nghĩ đến vợ con hắn, thoi rất nhẹ nhàng.

Chính ông Ké kéo chân Ký Châu ra khỏi tường. Hắn quỳ xuống, lạy đúng tư thế con nhà võ. Hắn muốn nói câu gì đó nhưng không nói được, chỉ thấy môi hắn mấp máy và máu trong miệng hắn cứ ộc ra.

- Ta tha tội chết – Ông Ké nói với Ký Châu – Ngươi bị mất tiếng rồi. Nhớ phải thuốc men cẩn thận, nếu không sẽ bị cấm khẩu hẳn.

III. Chiều tà yên tĩnh

Sáng hôm sau, trước khi chúng tôi về Hà Nội, Ký Châu làm lễ cống nạp.

Trước sự chứng kiến của các bưởng, hắn quỳ trước mặt ông Ké, hai tay giơ quá đầu, dâng một cái đĩa sứ cổ cùng rất nhiều các khong vàng (khâu là một chỉ, khong là một cây). Ông Ké nhón lấy một khong. Ký Châu vẫn cúi mặt, dâng cái đĩa như thế mãi cho tới lúc ông Ké cầm tay hắn, nâng hắn dậy. Nghi thức này đơn giản nhưng vừa là sự cống nạp, thuần phục vừa là sự thoái vị của Ký Châu.

Trên đường về, anh lái xe phàn nàn ông Ké.

- Bác lấy ít quá, chẳng bõ công. Lẽ ra phải bưng cả đĩa.

- Chỉ nên lấy thế thôi. Để nó còn lo thuốc thang chữa cái chứng cấm khẩu. Cái chính là từ nay nó sẽ biết điều hơn, bớt hống hách đi.

- Nhưng bác cũng nên biết rằng anh Hoàng Nhật Linh là nhà văn. Chị ấy bị bệnh tim, mỗi ngày hàng chục nghìn tiền thuốc. Anh ấy rất nghèo.

- Tôi biết chứ. Nhưng đã là nhà văn thì phải nghèo. Trong hoàn cảnh đất nước ta mà nhà văn lại giàu thì tôi không thể nào tin được.

Ông Ké quay về phía tôi, nối lại câu chuyện đang dở từ hôm trước:

- Tôi gặp ông Ký Sinh lần đầu ở ga Lao Kai. Tàu tôi sắp xuôi Hà Nội thì thấy một thằng mật thám trèo lên tàu (cái thằng tôi đã kể với cậu lần trước ấy). Hắn bảo “ông Ký Sinh đang đợi anh dưới ga”. Không hiểu vì sao khi gặp ông Ký Sinh, tôi không chào theo cách con nhà võ mà lại chắp tay vái ông ấy. Ông ấy cười nom rất hiền và đưa cho tôi một túi chàm căng phồng. “Anh cho cô, chú nhân ngày cưới”. Chả là tôi sắp cưới vợ. Xuôi Hà Nội lần này chúng tôi tổ chức. Cái túi của ông Ký Sinh cho tôi có bốn cân thuốc phiện. Chỗ thuốc phiện ấy bán đi, đủ tổ chức hai cái đám cưới linh đình. À quên, còn phải kể thêm về con chó của ông Ký Sinh nữa. Ông ấy luôn đi cùng một thằng mật thám và một con chó. Nó là chó ta chứ không phải chó tây. Nhưng mà hiếm, rất hiếm, huyền đề cả bốn chân, đen toàn thân nhưng cái đầu lại vàng. Tên nó là Sác. Bố ông Ký Sinh là một điền chủ lớn. Ông chủ này rất giàu và quý con Sác. Trong cơ ngơi của ông chủ, con Sác cũng có một căn hộ riêng, gồm phòng ngủ, phòng ăn, buồng tắm, nhà vệ sinh (có hố đái và toa lét tự hủy). Một đêm nọ có hai tên cướp đột nhập vào nhà, giết vợ chồng ông điền chủ, cướp sạch vàng bạc và gô cổ ông Ký Sinh lại (lúc này ông Ký Sinh mới mười lăm tuổi).

Bọn cướp quàng dây thừng vào cổ ông Ký Sinh, nói:

- Mày cũng chết luôn cho nhẹ nợ. Bố, mẹ chết, của cải hết, sống nữa làm gì.

- Vâng – Ký Sinh bình thản đáp.

- Mày có xin gì không?

- Xin các ông mở cửa chuồng con chó nhà tôi ra. Nó sẽ tự về bên ông ngoại tôi để sống. Nếu không nó sẽ chết đói mất.

Bọn cướp nghe lời mở cửa con Sác ra.

- Sác ơi! Hai ông này sẽ giết tao đấy. Bây giờ, mày phải về bên ông ngoại mà sống – Ký Sinh bảo con Sác.

- Còn điều gì nữa không? – Một tên cướp hỏi.

- Ngoài vườn này tôi có một cây đu đủ chín. Các ông làm ơn cho tôi một quả. Tôi ăn xong rồi chết.

Một thằng cướp cầm cây sào ra vườn, chọc đu đủ. Trong khi hắn đang mải việc, con Sác xộc ra nhảy đớp phăng hạ bộ của hắn. Thằng ở trong nhà thấy động chạy ra cũng liền bị con Sác cắn đứt cả cụm. Hai thằng cướp chết, con Sác vào nhà, cắn đứt dây trói, cứu chủ. Vì thủa bé đã gặp chuyện đau khổ như thế nên ông Sinh hận đời ghê lắm. Ông quyết học võ cho thật giỏi để trả thù cho bố mẹ. Nghe nói sau này, ông Ký Sinh tìm được bố mẹ của hai tên cướp kia, nhưng họ đang ốm đau và sắp chết đói. Ông Ký Sinh nói cho họ biết ông là ai, định đến đây làm gì rồi cho họ một ít vàng.

Cậu bảo một con người như thế làm sao tôi không nể phục. Tôi tự nguyện nhập vào đường dây của ông Ký Sinh, phục vụ ông ấy. Ở đời những người đủ tài cán làm chủ ít thôi, rất ít. Số đông còn lại là người phục vụ. Song, có một ông chủ đáng mặt để mình phục vụ đã là phúc lắm rồi. Khổ nhất là cái cảnh thằng giỏi phải hầu thằng ngu. Cảnh ấy lại rất nhiều. Lạ thế!

Không phải chỉ tôi, mà cả Sở mật thám Bắc Kỳ cũng phục vụ ông Ký Sinh. Phàm những vụ buôn bán ma túy lớn xưa nay đều dính líu tới mật thám và cảnh sát. Vì thằng nào chả muốn giàu. Tôi cũng rất giàu. Tất nhiên. Ngoài hai dinh cơ lớn ở Hà Nội, tôi còn mua sáu mươi mẫu ruộng ở Hải Dương cho phát canh thu tô và để phòng xa. Bọn mật thám cũng được chia chác bẫm hơn. Thằng nào cũng giàu nứt đố đổ vách. Vì thế, chúng nó mới bày ra cái trò thi… chơi gái. Chúng đón gái về nhà (loại đẹp chứ không phải gái rẻ tiền) và tổ chức chơi thi xem đứa nào dai sức. Cậu nên biết rằng: hút vào một điếu thuốc phiện mà “lên ngựa” thì “phi” mãi không biết mệt. Vì thế, các bà ngày xưa rất hay chửi chồng về tội nghiện hút mà vẫn cứ thích mua cho chồng xài. Tôi nghe chúng nó kháo nhau rằng vô địch trong cái cuộc thi kia là thằng Dô (cái thằng đã có lần tôi định giết ấy). Hắn đạt kỷ lục 180 phút không kể thời gian “chép đề” – Ông cười đến rung cả xe.

Anh tài nheo mắt hỏi ông:

- Bây giờ, bác còn “phi” được nữa không?

- Của đáng tội. Vẫn.

- Nhưng không có thuốc phiện để tăng phông – Tôi nói.

- Cậu thật ngây thơ. Nếu cậu thích, tôi sẽ biếu cậu một ít.

- Ở đâu ra thế hở bác?

- Bạn bè tôi. Một đường dây lâu như ông Ký Sinh, không dễ chết đâu. Đời vẫn cần thuốc phiện và đường dây kia vẫn hoạt động. Tất nhiên, không ai dám buôn lớn như ông Ký Sinh nhưng lại nhiều người buôn. Góp lại số thuốc phiện buôn về Hà Nội vẫn lớn.

Lại nói chuyện bọn mật thám. Ăn chơi như thế mà tháng nào chúng cũng còn mua được đồ cổ gửi về Pari cho vợ con. Vì thế mà bọn Tây Đoan ghen, “trâu buộc ghét trâu ăn”. Ông Ký Sinh bị bắt là vì thế.

Lần ấy, chúng tôi chuyển thuốc phiện bằng đường sông. Thuốc phiện nén chặt trong các thùng sắt tây, hàn kín mít rồi buộc xuống dưới đáy các bè gỗ. Tất cả là ba mươi thùng, mỗi thùng hai mươi cân. Về đến gần Hà Nội, bọn Tây Đoan mới dám bắt chúng tôi. Chúng dùng ca nô đuổi theo, nhảy lên bè lục soát. Ông Ký Sinh đánh chết sáu thằng Tây Đoan và cho chặt dây, thả tất cả thuốc phiện xuống sông Hồng. Về đến Phà Đen thì tất cả chúng tôi bị bắt. Ông Ký Sinh bị bắn chết ở Quần Ngựa. Tôi lĩnh án tù chung thân. Nhưng tôi cũng chỉ phải ngồi tù có ba năm thôi. Năm bốn lăm, cách mạng tháng Tám thành công, tôi thoát tù.

Tôi ra tù, bơ vơ một mình, vợ tôi đã phản bội tôi, bán sạch cơ nghiệp, chạy sang Pari cùng với hai thằng con trai của tôi. Nhiều đêm lang thang trên đường phố, tôi chán sống kinh khủng, chỉ muốn chết.

- Sau đó, bác sống bằng nghề gì?

- Nghề buôn thuốc phiện. Lại nối đường dây Vân Nam – Hà Nội, nhưng cò con thôi.

- Giờ bác vẫn tiếp tục?

- Không. Thôi sáu năm nay rồi. giàu nữa cũng chẳng để làm gì. “Vua Ngô ba mươi sáu tàn vàng. Chết xuống âm phủ chẳng mang được gì”. Với lại, càng về già, người ta càng hay nghĩ đến cái chết. Và càng hay nghĩ về cái chết. Người ta càng sợ những việc ác. Giờ tôi nghỉ ngơi là chính. Cũng có thêm một vườn hoa, vừa đẹp lại cũng vừa có thêm tiền mua sách, báo đọc.

- Và bồ bịch nữa chứ.

- Ừ! Lão đây già tóc già râu. Còn như chuyện ấy… Ông đấm vai tôi, cười nghiêng ngả.

IV. Cái chết của kẻ cô độc

Tôi lại đến căn nhà xinh nhỏ ấy ở hồ bơi Quảng Bá.

Con chó Lài rất tinh khôn của ông Ké giờ thấy tôi không cắn nữa mà rối rít vẫy đuôi mừng và hít hít bàn chân tôi.

Có mùi trầm nhang phảng phất trong gió chiều. Tôi sực nhớ ra hôm nay là ngày rằm.

Ông Ké đang đứng trước bàn thờ Phật. Đấy là một ông Ké khác, thành kính, nghiêm trang và gần như trong suốt. Tay ông chắp trước ngực. Miệng ông lẩm nhẩm tụng kinh. Trên bàn thờ, có một đĩa xôi, nải chuối và một đĩa hoa tươi.

Sự xuất hiện của tôi không làm ông bận tâm. Mắt ông đang dõi về một cõi nào đó, rất xa.

Phải cháy hết ba tuần nhang, ông Ké mới hạ các thứ trên ban thờ xuống.

Mời cậu dùng bữa ăn tối với tôi. Hôm nay tôi ăn chay.

Tôi không thể ngờ rằng ông Ké cũng ăn chay. Một người từng khao khát đồng tiền đến điên cuồng và tội lỗi giờ bỗng một tháng hai kỳ chay tịnh và niệm kinh phật.

- Một đời người, sống trúng hay trật, đến tuổi kề miệng lỗ người ta mới biết. Vào quãng những năm bốn mươi, bốn mốt ai có thể nói là tôi không sống trật? Họa chăng chỉ có đức phật. Hồi đó, nhà tôi ngày nào chẳng có mươi ông khách, các bạn hàng, những đồng nghiệp trong ngành hỏa xa và cả các nhà báo của mấy tờ nhật trình lui tới để đàm đạo về thời cuộc. Giờ thì cậu thấy đấy, tôi trở thành một lão già trắng tay và cô độc. Hóa ra trời có mắt cậu ạ. Tôi phản đời thì đời cũng phản lại tôi. Hình như ông trời cho tôi sống đến bây giờ là để tôi thấm thía cái lẽ được, mất ở đời, ăn cho hết quả đắng mà mình gieo trồng lên. Bây giờ, ở bên Pari, nếu có lúc nào đó, các con tôi, các cháu tôi có nghĩ đến tôi, hẳn chúng sẽ rùng mình xếp tôi vào cùng một hạng với bọn Maphia, với các “bố già”. Chứ còn gì nữa, tôi đã buôn bán, chuyên chở ma túy, đã giết người, đã làm cho bao gia đình tan nát vì nghiện hút, đã tiếp tay cho bọn thực dân hủy hoại bao lớp thanh niên. Chừng ấy tội chưa đủ để đày xuống địa ngục ư?

Một lần đi bơi, tôi bỗng thèm ốc. Tôi mò quanh bờ hồ một vòng. Cái hồ này nhiều ốc lắm, nhiều mà ngon. Hôm đó tôi mò được một chậu ốc đầy và một cái đầu lâu. Trong cái miệng há hốc – là bùn. Trong hộp sọ, nơi chứa bộ não cũng là bùn. Cái đầu lâu há hốc miệng cười giễu tôi: “Cuối cùng mày còn cái gì? Được cái gì?” Bắt đầu từ bữa đó, tôi thường hay mơ thấy những người đã bị ông Ký Sinh và tôi giết hiện về. Lúc đầu, tôi thấy họ nổi lềnh bềnh trên mặt hồ. Rồi họ vùng dậy, kéo vào nhà tôi, người vít chặt đầu tôi, người giữ cứng lấy chân tôi, cho một số người hút máu từ tim tôi, hòa vào rượu uống. Tôi tỉnh giấc, mồ hôi đầm đìa trên trán và đau nhức nhối một vùng ngực. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy sợ. Tôi run lên. Con Lài nhảy phốc lên giường, nằm bên tôi, ra dáng che chở.

Cậu biết không, hôm đi bãi vàng, tôi đã phạm một sai lầm nghiêm trọng là không cho con Lài đi theo. Hôm đó trở về, cậu có biết thế nào không? – Con Lài nó dỗi tôi. Tôi tưởng là khi mình về, mở cửa nó sẽ nhảy cẫng lên vì mừng rỡ. Nhưng không, nó uể oải đứng dậy, nhìn tôi một cái rồi ngoảnh mặt đi ngay. Cả chậu cơm đầy tôi để sẵn cho nó vẫn nguyên xi. Tôi chạy ra quán, mua hai cái bánh giò mang về, bóc ra, nhưng nó cũng không thèm ăn.

Tôi nói với nó:

- Tao xin lỗi mày! Lài ạ! Đừng giận tao nữa. Ăn một miếng cho tao yên tâm.

Thế là nó ăn. Nó vừa ăn vừa khóc, nước mắt chảy đầy cả lòng bàn tay tôi. Thế đấy cậu ạ! Đến chó cũng còn biết đòi lẽ công bằng, có lỗi phải nhận lỗi. Với người đời, tôi có tội lớn, giờ có ăn năn mấy cũng chưa đủ.

Sau một lúc lâu im lặng, giọng ông Ké bỗng nhỏ hẳn lại và buồn – rất buồn. – Mấy bữa nay tôi thấy trong người khác lắm. Nếu tôi có việc gì, nhờ cậu nuôi con Lài hộ tôi nhé. Đừng bỏ nó bơ vơ, tội nghiệp.

Lời dặn dò của ông làm tôi sởn da gà. “Ông đã linh cảm điều đó ư? Lẽ nào như thế?”

- Cháu sẽ chăm sóc con Lài đúng như ông đã chăm sóc nó – Tôi nói. Nhưng ông đừng nghĩ quá sớm về việc đó. Ông sẽ sống hơn trăm tuổi. Trông ông còn khỏe lắm.

- Việc sống chết không lường được đâu cậu ạ.

Chiều hôm sau, tôi xuống thăm ông Ké, không ngờ ông đã chết từ đêm hôm qua.

Giờ dân xóm đang chuẩn bị đưa ông ra nghĩa trang.

Thật là đau lòng trước đám tang của một kẻ cô độc. Vài chục người xúm tay đẩy chiếc xe tang chầm chậm ra nghĩa địa. Không một vành khăn trắng nào. Không một tiếng khóc, chỉ có nước mắt của tôi và con Lài lặng lẽ chảy.

Khi nấm đất đã được đắp đầy, mọi người kéo nhau ra về. Tôi nán lại vái ông Ké ba vái rồi ôm lấy con Lài: “Ta cùng về thôi, Lài ơi”. Con Lài dụi dụi đôi mắt ướt nhòe vào ngực tôi rồi nhảy khỏi tay tôi. Tôi gọi, nó không đến. Tôi muốn bế nó, nó không cho. Nó buồn bã nằm dài bên mộ ông Ké và tỏ ra không muốn tôi đến gần.

Ba ngày sau, tôi xuống thăm mộ ông Ké, thấy con Lài vẫn nằm nguyên chỗ cũ. Bộ lông mượt của nó giờ bạc phếch. Cái bụng đói hóp lại, làm trơ những dẻ xương sườn lô nhô. Tôi thắp hương cho ông Ké rồi chạy đi mua một bát cơm đầy, cùng ba miếng thịt mang lại cho con Lài. Nhưng nó không ăn. Nó ngửi bát cơm rồi liếm bàn tay tôi rồi lại gục đầu lên hai chân trước, nằm im lặng.

Và, con Lài nằm như thế mãi cho đến lúc chết.

Nguồn ebook: tve-4u.org Nguồn text: facebook.com/nghebuon.H.N.LINH Sửa chính tả và tạo ebook: Caruri
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.