Hãy làm một con người
Hắn lê bước về nhà, đói lả, mệt rũ. Cả ngày hôm nay hắn không có một tí gì bỏ vào mồm. Không một đồng xu dính túi và không có gì để bán; hắn đang trong cảnh vô phương kiếm sống. Trước cửa nhà hắn, cả hai bên hè phố, đầy rẫy những thứ có thể nhậu được: phở bún, thịt chó, trứng vịt lộn, bia hơi và cả bánh mỳ pa-tê nữa. Hôm qua, hắn còn ăn chịu được một cái bánh mỳ. Nhưng đấy là chiếc bánh cuối cùng bà chủ quán thí cho hắn. “Ăn chịu một bữa này nữa thôi nhé. Tôi không có nhiều vốn để cho anh cắm mãi được đâu”. Hắn cúi gầm mặt, ăn hối hả cho qua bữa. Lúc ấy trong quán có một cô gái đẹp cũng đang ngồi nhấm nháp bánh mỳ với bơ. Cô gái mỉm cười, nói với bà chủ:
- Bà cứ bán cho anh ấy đi. Ngày mai, anh ấy sẽ có tiền.
- Làm sao cô biết?
- Thì cháu đang bói bài Tây cho anh ấy đây. Tuần tới anh ấy đỏ. Cô xóc mấy con bài tú lơ khơ trong bàn tay trắng hồng và liếc mắt nhìn hắn – có tiền, nhớ khao em nhé!
Thế đấy. Nhưng tiền đâu? Trò bói toán cái con khỉ. Nghĩ tới cô em xinh đẹp hôm qua, hắn văng một câu rất tục.
Bỗng như có phép tiên, cô gái gọi hắn từ cái quán bên kia đường:
- Anh ơi! Sang đây!
Hắn im lặng vì cứ nghĩ rằng mình nghe nhầm.
- Sang đây uống bia với em. Gì mà sầu thế?
Hắn lê bước sang cố nặn ra nụ cười méo mó.
- Nào, cho một đĩa bò xào và vài lon bia! – Cô gái gọi và quay về phía hắn. Đáng lẽ hôm nay anh phải khao em, vì anh có tiền. Nhưng thôi, để khi khác. Hôm nay em khao anh.
- Hôm nay, em bị phạt – Hắn bắt đầu liến thoắng – Quẻ bói của em hôm qua sai bét.
- Chưa bao giờ sai.
Cô gái mỉm cười bí hiểm.
Vì còn phải chờ đĩa xào nên chủ quán chưa mang bia tới. Mùi thịt bò xào gọi đói vô cùng. Hắn quay mặt, nuốt từng ngụm nước bọt lớn. Mẹ kiếp! Sao mà nhiều nước bọt thế. Hắn vốn là kẻ ít nước bọt. Một lần đi dự đám cưới thằng bạn ở Đình Bảng, hắn được mời ăn xôi vò. Chưa bao giờ hắn được ăn một loại xôi tuyệt vời đến thế. Làng ấy vẫn giữ được giống nếp cái hoa vàng để làm món xôi vò trứ danh, rền, thơm và tơi. Hôm đó, hắn bị nghẹn. Cô gái Đình Bảng ngồi cùng mâm với hắn cứ tủm tỉm cười. Hồi đó, hắn thừa mứa tiền thì lại thiếu nước bọt. Giờ hắn thừa nước bọt lại thiếu tiền. Đời thật oái oăm lắm thay!
Hắn người nhà quê. Bố hắn tính nghiêm khắc và chu đáo. Ngày đưa hắn ra Hà Nội để ôn thi vào đại học, bố hắn đã giao hẹn:
- Con phải học cho đến nơi đến chốn. Bố sẽ lo cho con học đến khi nào con bảo không học thêm được nữa mới thôi. Song, hễ con ra trường nhận công tác là con phải tự kiếm lấy mà sống. Lúc đó, một xu bố cũng không cho nữa đâu.
Bố hắn đã giữ đúng lời hứa. suốt năm năm trời, ông chu đáo cấp cho hắn khá đầy đủ. Tốt nghiệp đại học giao thông (khoa kinh tế vận tải) với điểm số cao, hắn được phân công công tác ở Hà Nội. Ông già từ quê lên, ở chơi với hắn nửa tháng và mua cho hắn một căn hộ không rộng lắm nhưng là nhà mặt phố.
Giao chìa khóa căn nhà mới mua cho con trai. Ông già bắt tay con, thẳng thắn, dứt khoát như với mọi người đàn ông khác:
- Anh lớn rồi. Từ nay, bắt đầu cuộc sống độc lập.
Với căn hộ 24m2 mặt phố, chỉ cần cho người ta thuê để mở cửa hàng, hắn cũng tha hồ sống dư dật. Nhưng không, hắn muốn phất. Hắn treo biển nhận ký gửi và mua bán các loại xe gắn máy. Nhà hắn bỗng trở nên chật chội đi một bước cũng đụng phải cub. Rồi hắn dùng xe của khách hàng ký gửi làm tài sản thế chấp để vay tiền ngân hàng. Có mười sáu cái xe và một căn nhà, nhưng hắn đã thế chấp tới bốn lần, vay tiền ở bốn ngân hàng. Quả lừa này, hắn có trong tay hơn 500 triệu đồng. Chao ôi! Hắn sướng đến mê mẩn. Bỗng chốc hắn trở thành triệu phú. Hắn trích ra năm chục triệu đồng để mua một chiếc Dream đời chót và để ăn chơi. Bốn trăm năm mươi triệu còn lại, hắn cho vay lãi, hưởng lời 12%. Hắn sống như đế vương, bia lon xếp đầy trong tủ lạnh, ăn toàn những thứ bổ béo. Đêm đêm, hắn phóng xe đi tìm gái trinh. Hắn bắt đầu biết giữ những chiếc mùi xoa dính máu như lưu trữ những chiến tích.
Song, cái vận của hắn quá ngắn ngủi. Các con nợ của hắn bỗng biến mất tăm tích (Chúng đã vượt biên sang Mỹ, Canada, Hồng Kông). Thế là toàn bộ tài sản của hắn bị niêm phong. Hắn vào trại giam, ăn no đòn của bọn đầu gấu. Ông già đã huy động gần như tất cả tài sản của một đại gia đình ra thành phố cứu hắn. Ông thanh toán hết thảy các khoản nợ nần kéo hắn ra khỏi nhà tù.
- Bây giờ mày muốn gì? Ông già hỏi hắn.
- Con chỉ muốn chết.
Câu trả lời này, hắn đã nghiền ngẫm sẵn từ trong tù. Bố mẹ hắn sinh bảy đứa con nhưng chỉ hắn là trai. Hắn là cái đấu vàng của bố hắn. Chả thế mà ông cụ đặt tên cho hắn là Hoàng Kim Đấu. Vì thế, hắn có thể đánh đòn cân não ông già bằng việc đòi chết.
Ông già cũng chẳng vừa. “Mày muốn chết hả? Được. Đợi đấy!”. Ông già gọi xích lô ra chợ trời và mang về một khẩu K59.
- Súng đây! Mày chết đi. Tự sát bằng súng mới đáng mặt nam nhi.
- Bố đừng dọa con. Súng không có đạn.
- Không đạn hả? – Ông già nháy cò hai lần. Ô cửa kính vỡ loảng xoảng.
- Trong lòng còn bốn viên nữa. Cầm lấy!
Đấu tái mét mặt, run như cầy sấy.
- Mày không dám hử! Vậy, để tao giúp. Loại như mày sống nữa làm gì cho bẩn mắt thiên hạ.
Ông già dí nòng súng vào tai Đấu. Thằng Đấu co rúm lại, mềm nhũn như con sứa. Hắn chắp tay, vái bố lia lịa.
Ông già khóa chốt an toàn khẩu súng rồi túm ngực áo thằng con, kéo hắn dậy.
- Mày là đồ giẻ rách. Phải là một người đàn ông gan dạ lắm mới dám chết mày hiểu chưa? Để chết được, trước hết phải là con người cơ. Còn mày là đồ dòi bọ; chui rúc trong đống thối rữa, béo, trắng, ngọ ngoạy mà không có xương sống. Giờ thì tao không giết mày nữa. Nhưng tao không thí cho mày chinh nào sất. Để cho mày đói rã họng ra. Rồi mày phải bò lê mà kiếm miếng ăn. Lúc đó, may ra mày sẽ hiểu được trong mỗi hào bạc có bao nhiêu máu và mồ hôi – Ông hất thằng con vào góc phòng – hãy gắng làm một con người!
Và ông bỏ đi thẳng, không một lần ngoái lại, chỉ đôi vai nổi đầy u của ông rung giật từng chặp liên hồi.
Sau cái buổi trưa kinh hoàng ấy. Đấu mò đi ăn chực cơm chín của bạn bè. Song, không nhà nào nuôi hắn qua ba bữa. Bạn bè tránh mặt hắn như tránh hủi.
Hôm nay, hắn đến nhà bạn bè lần thứ hai. Tất cả các cánh cửa đều đóng im ỉm trước mũi hắn. Thậm chí, hắn tận mắt trông thấy những cánh cửa khép rất vội khi hắn đến gần. Vậy mà hắn gõ đến mỏi tay vẫn chẳng nghe tiếng người đáp lại. Nếu không gặp người đẹp tốt bụng chiều nay, chắc chắn hắn sẽ bị lả.
Bữa nhậu thỏa thuê làm hắn tỉnh người. Bây giờ, hắn mới nhận rõ hết vẻ kiều diễm của cô gái ngồi trước mặt hắn, đôi mắt màu hồng, cặp đùi vũ nữ, đôi môi cong mềm như nét bút lông. Lâu lắm hắn chưa được vầy vò một thân thể đàn bà. Giờ hắn lại thèm. Hắn ước ao. Nếu như… Nếu như…
- Nếu như em không vội lắm, xin mời quá bộ sang nhà anh – Hắn hót líu lo, điệu đà, mồm dẻo quẹo.
- Cám ơn! Em rất bận. Để khi khác.
Trả nợ
Cái mà hắn nhìn thấy đầu tiên trên giường của hắn là một gói nhỏ và một lá thư. Cái gói bé bằng lòng bàn tay, bọc bằng một chiếc khăn mùi xoa ngoại, buộc rất kỹ bằng dây ni lon. Lá thư bỏ ngỏ, đặt trên một cái gói, ngoài bì đề:
“Kính gửi anh Hoàng Kim Đấu”.
Cảm giác đầu tiên của hắn là sợ. Hắn sợ đến toát mồ hôi. Ai đã đột nhập vào nhà hắn và đột nhập bằng cách nào? Không còn tin ở mắt mình nữa, hắn rón rén đi đẩy thử các cánh cửa – tất cả vẫn chốt nguyên xi, chật cứng, trừ cửa trước do chính hắn vừa mở. Hắn đứng im một lúc lâu cạnh giường rồi thò tay khẽ nhón lấy bức thư, cố không động đậy gì tới cái gói phía dưới.
“Anh Đấu kính mến!
Trước hết mong anh hãy tha lỗi cho em về mọi sự đường đột.
Tác giả lá thư này là một người con gái từng xa quê suốt mười ba năm đằng đẵng. Thời gian có thể đẩy lùi, xóa nhòa nhiều thứ nhưng nỗi nhớ quê hương thì ngược lại, sâu đậm hơn, da diết hơn.
Giờ đang là tháng ba, hẳn cây gạo đàu làng ta đã đỏ bừng những tầng hoa và chiều chiều, lũ trẻ chăn trâu đánh trâu từ ngoài đồng về ùa xuống bến sông trong xanh tắm mát, bơi lội ào ào như đàn vịt.
Đêm, đom đóm bay đầy ngõ xóm. Chẳng hiểu bọn trẻ bây giờ còn bắt đom đóm bỏ vào ống đu đủ chơi như anh em mình ngày xưa?
Giờ thì anh nhận ra em là ai rồi chứ? Em là Huyền đây, con bé Huyền ngày xưa của anh đây.
Em bỏ làng ra đi mười ba năm rồi. Ngày ấy khổ quá anh ạ. Em nhớ mẹ em khôn nguôi. Bà dì ghẻ cay nghiệt, vì thế em sinh ra ngang bướng, ngày ngày ăn no đòn, mỗi lần bố em đánh em, anh lại chạy sang, dắt em chạy trốn (Có đúng thế không nào) Ôi! Tuổi thơ của em lắm tủi hờn mà cũng nhiều kỷ niệm.
Em muốn về làng lắm lắm, về để thăm bố em cho trọn đạo làm con, về để tạ lỗi với làng xóm, về cho bõ nhớ.
Nhưng nghĩ đến làng ta, em lại xấu hổ. Cái đêm em bỏ làng ra đi ấy, em đã ăn trộm của bố anh hai cái nậm rượu cổ, trộm của bà Vượng một đôi khuyên vàng hai chỉ và của chị Thuyên một cái nhẫn một chỉ. (Hai cái nậm rượu của bố anh trị giá một cây).
Trong cái gói nhỏ này có 65 chỉ vàng và một triệu đồng. Trước em trộm một giờ em xin đền năm lần. Anh hãy mang số vàng này về làng, đưa tận tay mọi người hộ em.
Bố anh năm cây, bà Vượng một cây, chị Thuyên năm chỉ, còn một triệu kia anh cầm để đi đường và sinh sống những ngày khó khăn của anh. Anh hãy hết lòng vì em, che chở cho em như ngày xưa. Anh hãy xin làng xóm tha tội cho em. Nếu mẹ em còn sống và nếu em không sống cảnh dì ghẻ con chồng hẳn em không phải bỏ làng ra đi và không phải mang tội với làng.
Chỉ sau khi anh đã làm đúng như em dặn, em mới dám về quê. Vai trò sứ giả của anh thật vô cùng quan trọng. Em không bao giờ dám quên ơn anh.
Anh nên đi ngay ngày mai hoặc ngày kia. Ở ngoài này, em đợi anh từng giờ”.
Hắn thổi sáo miệng la hét, lăn lộn trên giường như một thằng điên. Giờ thì hắn thấy sung sướng nhất đời. Chỉ một giây ngắn ngủi, hắn đã phác ngay được kế hoạch về làng, hắn chỉ phải đưa cho bà Vượng một cây. Chị Thuyên đã theo chồng về Bến Tre từ lâu. Còn 5 cây của ông già, hắn sẽ ỉm. Bà Vượng sẽ phải tự viết giấy biên nhận. Giấy biên nhận của chị Thuyên hắn sẽ viết bằng tay trái. Còn giấy của ông già, hắn hoàn toàn có quyền viết thay. Bỗng dưng hắn có 55 chỉ vàng và một triệu bạc. Triệu phú lại hoàn triệu phú. Từ nay, hắn lại mặc sức uống nhậu. Đêm nay hắn có quyền tìm con gái, đập hộp.
Huyền bỏ làng đi trong đêm cuối tháng hai ta. Đêm không trăng sao. Trời mưa lất phất, lạnh buốt. Hành trang của cô gái côi cút là những thứ vừa trộm được. Ra tới đường lớn, Huyền đứng sững một lúc lâu, quay mặt về phía làng, nhìn quê hương lần cuối cùng. Cây gạo cổ thụ dựng một mảng đen thẫm, cao hơn nóc các ngôi nhà. Hình như cái cây cũng quay mặt về phía Huyền. Hình như những mắt lá đang nhìn, những cành nhánh xương xẩu đang buồn bã vẫy chào ly biệt cô. Huyền lại dụi đôi mắt đỏ hoe, cắn chặt răng, cắm cúi bước.
Đi về đâu? Cô gái chưa biết. Nhưng cô cứ đi, vừa đi vừa chạy gằn.
Một chiếc xe tải sầm sầm lao đến. Huyền vẫy hú họa. Chiếc xe phanh kít.
- Đi đâu?
- Cho cháu ra Hà Nội.
- Sao cháu đi một mình?
- Nhà không còn ai. Bố cháu nằm viện ở ngoài đó. Mẹ cháu cũng đang ở ngoài đó.
- Nhưng bác không ra Hà Nội.
- Thế bác về đâu?
- Bác về Hải Phòng.
- Thế cũng được. Nhờ bác được quãng nào hay quãng ấy.
Trên xe Huyền đã thú thật với bác lái xe. Huyền kể hết hoàn cảnh của mình, cảnh tủi hờn dì ghẻ con chồng, những trận đòn của ông bố sợ vợ.
Bác lái xe đã bán hộ Huyền hai cái nậm rượu rồi đưa Huyền đến gửi bà Lý – chủ một tiệm ăn lớn ở Hải Phòng.
- Con hãy ở đây với mẹ – Bà Lý nói – Mẹ sẽ truyền nghề cho con. Làm người tử tế phải có nghề. Địa vị, chức tước không bền bằng nghề. Người có địa vị, chức tước sống nhờ bổng lộc và bổng lộc thì nay còn, mai mất. Còn người có nghề thì sống bằng mồ hôi của mình, mà mồ hôi thì không có giọt cuối cùng.
Ngày đó, Huyền chẳng hiểu gì những điều bà Lý nói. Nhưng Huyền ham học hỏi – học một cách tò mò và hiếu kỳ.
Bây giờ khi bà Lý đã về Trung Quốc, giao toàn bộ cơ ngơi của bà cho Huyền cô mới hiểu đúng giá trị của chứ NGHỀ. Ở đời ai có nghề là nắm trong tay một niềm hạnh phúc – một hạnh phúc vô bờ.
Bà Lý kinh doanh theo phương châm một nhiều, một ít, cộng ít thành nhiều (Bán nhiều thu lãi từng khách hàng ít, cộng nhiều cái sẽ ra lãi nhiều).
Bà thắng nhờ phương châm ấy. Các món ăn của bà nấu khéo, chế biến tinh xảo lại bán rẻ, tiệm ăn của bà luôn luôn đông nghịt khách. Bà Lý không có con. Được cô con nuôi đẹp người, ngoan nết, bà xem như báu vật. Con gái mười ba tuổi dám bỏ nhà ra đi để lập thân là chí lớn lắm. Người Trung Quốc thường quý người có chí. Bà đặt tên cô là Dạ Lý, coi như con đẻ.
Từ ngày Huyền đứng tên chủ tiệm, khách ăn ngày một đông hơn. Tiệm ăn vắng bà Lý chẳng những vẫn ngon rẻ như xưa lại còn có thêm cô chủ quán đẹp như tiên giáng thế, khách hàng gọi tiệm của cô Huyền là QUÁN TIÊN.
Huyền giàu lên từng ngày. Trong những đêm thanh vắng, Huyền bỗng thấy nhớ làng quê cồn cào. Nỗi nhớ gắn liền với bao kỷ niệm. Món nợ đêm ly quê cứ nhức nhối mãi trong tim gan cô. Chừng nào chưa trả sòng phẳng món nợ kia thì chừng ấy cô vẫn còn là một con ăn cắp. “Khi con làm một việc xấu, đừng nghĩ là không ai biết. Trước hết là con biết, sau nữa là trời đất biết”. Bà Lý đã từng dạy Huyền như vậy.
Đêm không bình yên
Ông già không ngủ, không sao ngủ được. Thằng Đấu vừa mang về cho bà Vượng một cây vàng. Cả làng xôn xao bàn tán. Đi đâu, ngồi đâu, cũng nghe người ta nhắc tới cô Huyền. Ai cũng khen người con gái ấy. Khen là đúng. Có lỗi biết nhận lỗi, lại nhận một cách cao thượng, đàng hoàng sao chẳng khen. Ở đời khối kẻ có tội như quả núi mà cấm có mở mồm nhận lỗi với dân làng được một câu.
Song, trong chuyện này, ông biết rất rõ sự hèn mạt của con ông. Ông mất hai cái nậm rượu cổ đúng cái đêm cô Huyền bỏ đi, cùng một đêm với bà Vượng mất đôi hoa tai. Vậy mà thằng Đấu không hề mở miệng nói gì về việc này.
Ban chiều, ông đã bắt nọn thằng Đấu:
- Thế cái Huyền nó không gửi trả tao hai cái nậm rượu à?
Thằng Đấu cúi gầm mặt, lảng tránh cái nhìn chiếu tướng của ông, lúng búng:
- Con… con biết đâu đấy. Bố mất bao giờ?
Thế là ông già đã nắm được thóp thằng con. Nó đã lòi cái đuôi dối trá ra. Lúc đó, ông chỉ muốn nện cho nó mấy cái tát. Song ông nén lại được. Làm ầm ĩ lên, vạch áo cho người xem lưng chẳng hay ho gì. Vài lạng vàng đối với ông chỉ như cầu vồng trong mưa, có đấy mà không có đấy. Ông chỉ đau khổ vì cái tính giả dối của thằng con. Tính độc ác làm người ta ghét, còn tính dối trá làm người ta khinh bỉ, kinh tởm. Lại nữa, ông đã thề không thí cho nó thêm một chinh nào. Thằng con ông đã quen thói ăn sẵn mất rồi. Chung quy chỉ tại mẹ nó cưng nó quá. Một lần về phép, trong bữa liên hoan gia đình, ông gắp miếng thịt gà ngon nhất cho vợ. Vợ ông chưa kịp ăn, thằng con đã chọc đũa vào bát mẹ gắp miếng thịt gà vào bát của nó. Vợ ông cười trừ, còn ông thì giận tím mặt.
Thế là hỏng rồi. Thằng con ông đã tự xem nó to bằng giời, muốn làm gì thì làm. Người ta bộc lộ trước hết ở miếng ăn, sống vì miếng ăn và chết cũng vì miếng ăn. Miếng ăn tự nó là việc nuôi sống, cũng tự nó là văn hóa và tự nó cũng có thể là một hành động tàn phá. Con ông thuộc về trường hợp thứ ba, nó thuộc loại ăn tàn phá hại. Chẳng phải ngẫu nhiên mà các hoàng đế xưa, khi muốn tuyển dụng người, thường mời họ một bữa ăn. Ăn kêu như lợn là kẻ thô lỗ, Ăn cúi đầu, vục mặt xuống bát là kẻ bần tiện, thấp hèn. Ăn từ tốn, vừa ăn vừa thưởng thức ấy là bậc trí giả.
Dù hiểu rất rõ những điều đó mà ông không sao dạy nổi thằng Đấu, vì vợ ông cứ bênh con chằm chặp. Hơi động một tý là mẹ mếu, con khóc.
Mấy năm gần đây, lợi dụng thằng Đấu phải sống xa mẹ, ông quyết tâm rèn cặp nó. Vừa rồi, với khẩu súng K59, ông đã vạch rõ sự hèn nhát của nó. Và, hôm nay, bằng việc cô Huyền gửi vàng đền bà Vượng, ông sẽ vạch rõ cái tính giả trá của nó.
Thằng Đấu đã đi chơi về đang rửa chân ì oạp ngoài bể nước.
Ông bật đèn pha ấm trà đặc, gọi thằng con trai đến ngồi trước bàn của ông:
- Bao giờ mày đi?
- Ngày kia.
- Lâu lắm mày mới về hãy ở chơi thêm ít ngày. Còn tao, sáng mai tao sẽ ra ngoài ấy.
- Bố đi có việc gì?
- Tao tìm cô Huyền, có việc cần hỏi cô ấy.
Đấu lấm lét nhìn ông già rồi nói giọng lí nhí.
- Con biết bố đi tìm cô Huyền vì việc gì rồi. Bố đừng đòi hai cái nậm rượu ấy nữa. Con và Huyền yêu nhau. Con xin bố.
- Anh đừng bịp tôi. Người như cô Huyền không bao giờ thèm để mắt đến loại đàn ông như anh. Yê…u…i nhau! Có mà đến mùa quýt. Mày hãy nói cho thật – cô Huyền có gửi vàng cho tao không?
- Dạ, có.
- Bao nhiêu?
- Năm cây.
- Đưa đây.
- Con xin bố.
Ông già sẵng giọng:
- Đưa đây!
Vợ ông từ buồng trong chạy ra:
- Ông không cho nó nhiều thì cũng phải cho nó một cây hoặc dăm bảy chỉ.
- Bà đi ngủ đi.
- Tôi không ngủ. Của chồng công vợ. Tôi có quyền bàn.
- Không bàn chuyện công, của ở đây.
- Thế bàn ở đâu? Hay là ông giữ lấy mà ăn một mình cho sướng rồi bỏ mặc con chết đói – Bà nức nở – Ông chuyên quyền, độc đoán, ông lấn át cả nhà.
Ông già bực bội:
- Bà lại nhắt nước mắt ra rồi – và ông chỉ mặt Đấu:
- Còn mày, đến rúc vào nách mẹ mày cho ấm áp.
Ông cầm năm cây vàng, bỏ vào két sắt, khóa lại.
Đấu quỳ mọp dưới chân ông, van vỉ:
- Con lạy bố. Con xin bố. Bố hãy thương lấy con trai của bố. Bố lấy hết tất cả, con sẽ sống như thế nào?
Ông già hẩy thằng Đấu khỏi chân mình. Thế là hết.
Giá như nó biết im lặng chịu đựng, lát nữa ông sẽ thương hại hắn và sẽ cho hắn vài ba cây. Nhưng hắn đã làm ông phải khinh ghét bằng cái kiểu van lạy ấy.
Ông lên giường, buông màn, cánh tay đè ngang vừng trán. Đêm đã khuya. Nhà bên đang mài dao sẵn để bốn giờ sáng dậy giết lợn đi chợ. Nghe tiếng dao sào sạo trên đá, biết lưỡi dao đã bén ngọt lắm. Tiếng một hội xóc đĩa ở đâu đó đang tranh cãi nhau chuyện xấp ngửa. Có tiếng chó cắn dồn ở một góc làng… Ông dậy, vơ cây gậy đi về hướng tiếng chó sủa. Chợt ông bắt gặp một đốm sáng lung linh trên đỉnh núi Mạo. Không biết bao lần ông đã nhìn thấy đốm sáng kia và bao giờ ông cũng nghĩ đấy chỉ là một vì sao bay lạc xuống đỉnh núi.
Nhưng, ở làng này, các cụ già kể một câu chuyện khác:
“Đấy là ánh sáng của Thành Hoàng làng ta đó con ạ!
Xưa, ông Thành Hoàng làng ta và ông Thành Hoàng làng Trúc chơi thân với nhau, Hai ông, ngày nào cũng ra câu cá ngoài sông. Ông Thành Hoàng làng ta hôm nào cũng chỉ ngồi một chỗ mà cá cứ đầy cả giỏ. Còn ông Thành Hoàng làng Trúc thì chạy khắp bờ sông mà chẳng được con cá nào. Hôm nào cũng thế, cứ chiều về ông Thành Hoàng làng ta lại san cho ông Thành Hoàng làng Trúc một phần giỏ cá của mình. Ông kia nhận cá, nghĩ bụng: “Cá dưới sông có hạn mà sao hôm nào nó cũng bắt được nhiều thế này hèn chi mình chẳng được con nào. Lẽ ra hắn phải chia cho mình một nửa mới đúng”.
Một hôm lên núi Mạo kiếm củi, ông Thành Hoàng làng Trúc gặp một con rết to. Ông bê một tảng đá đè lên đầu con rết, định bụng sẽ đánh chết rồi đem về ngâm rượu. Bỗng con rết cất tiếng nói:
- Ông ơi! Tôi là thần núi Mạo đây. Ông hãy thả tôi ra, tôi sẽ cho ông một điều ước.
- Ước cái gì được cái đó chứ?
- Vâng. Nhưng ông đượt một thì bạn ông phải được hai vì ông ấy tốt với ông lắm. Ông Thành Hoàng làng Trúc hiểu rằng con rết thần vừa nhắc tới ông Thành Hoàng làng ta. Ông kia ngồi bên con rết, nghĩ suốt một ngày rồi ước được mù một mắt. Thế là ông Thành Hoàng làng ta phải mù cả hai mắt.
Khi ông Thành Hoàng làng ta chết, làng xây mộ ông trên đỉnh núi Mạo. Con rết thần thương ông tốt bụng mà bị thiệt thòi, đêm đêm ngậm một viên ngọc đến đặt dưới chân ông, soi sáng cho ông. Ấy chính là cái đốm sáng mà đêm nào cả làng ta cũng nhìn thấy”.
Chao! Chẳng lẽ từ xa xưa con người ta đã ích kỷ và nhỏ nhen đến thế? – ông già thở dài.
Ông chợt nghĩ đến con trai ông và cô Huyền… Sự liên tưởng làm ông đau đớn. Cô Huyền, ông còn nhớ mồn một những lần bị bố đánh đòn, chỉ quằn quại chứ không gào thét, cũng không một giọt nước mắt. Không phải người con gái nào cũng biết nuốt nước mắt vào bụng. Người ấy dám làm nên cơ nghiệp lớn. Hôm nay, khi ông nói: “Người như cô Huyền không bao giờ thèm để mắt đến hạng đàn ông như mày” trong thâm tâm ông mong thằng con ông cáu kỉnh cãi lại ông nhưng nó im lặng thừa nhận. Nếu con trai ông lấy được cô gái ấy, thì cả nhà ông thật mát mặt. Song, ông mong con ông không xứng đáng với cô ấy chứ không phải là quỳ xin cô ấy ban cho chút tình thương hại. Lại nữa, ông lo cho Huyền. Ông sợ trái tim người con gái yếu đuối dễ mềm lòng bởi lời đường mật rồi dây vào con ông. Con gái, nếu vớ phải thằng chồng đốn mạt, sẽ hoài phí cả một đời.
Kế hoạch trái tim
“Học người Trung Hoa không dễ đâu anh. Khó học nhất là văn hóa tư tưởng của họ, thể hiện nhuần nhuyễn qua tác phong sinh hoạt. Họ cao thủ ở chỗ là họ làm cái gì cũng tưởng như giống hết thảy mọi người nhưng thực chất lại khác hẳn hết thảy mội người. Buổi sáng dậy, họ rửa mặt, họ cũng vò khăn, vắt nhẹ cho bớt nước như hết thảy mọi người nhưng khi rửa thì tay họ xoa khắp mặt mà cái đầu họ đứng im, không hề lắc theo, ấy là cái đầu chỉ huy cái tay. (Trong khi những người khác rửa mặt thì tay xoa, đầu cũng lắc tít cả lên). Họ ăn cháo hoa vào mỗi buổi sáng, cũng múc từng thìa nhỏ và húp như mọi người, nhưng họ ăn chậm rãi và nghiêm trang như người hành đạo, vừa ăn vừa ngẫm về cái sự nghèo và những người nghèo. Họ viết cũng giống mọi người, nghĩa là tay đè lên giấy, nhưng họ cầm bút thẳng đứng, vừa viết, vừa ngẩng nhìn về phía trước chứ không cắm mặt xuống trang giấy như mọi người… Mẹ em đã dạy rất kỹ những điều đó và cả những điều không bao giờ được nói ra với người ngoài gia đình”…
Đấu tắt máy ghi âm. Cuộn băng này hắn đã ghi trộm được trong những lần trò chuyện với Dạ Lý. Ngày nào hắn cũng nghe đi nghe lại cuộn băng này tới hàng chục lần. Hắn vừa nghe vừa nhớ lại dáng điệu của cô khi nói, sắc mặt, âm điệu, cách khoát tay…. Chẳng phải hắn yêu quý gì cô. Hắn chưa từng yêu ai bao giờ, đối với hắn, đàn bà chỉ là cái để giải trí.
Hắn thèm khát Dạ Lý – cả thân thể lẫn gia tài của cô. Hắn lọc trong giọng nói, trong câu chuyện của cô để tìm những đặc điểm riêng, những nét cá tính và vạch một kế hoạch chiếm đoạt. Hắn tân trang cái đầu bằng việc đọc ngốn ngấu tất cả các tác phẩm cổ điển Trung Quốc, những pho sách dày cộp làm hắn phát ngán, nhất là thơ Đường, hắn chẳng hiểu mô tê gì hết. Hắn nhìn trang thơ như nhìn vào bức vách và học thuộc lòng như vẹt. Đôi khi, hắn cáu kỉnh vứt cuốn sách xuống đất và văng tục: “Đ. mẹ con đĩ! Ông mất quá nhiều thời gian vì mày” nhưng rồi hắn lại phải nhặt lên.
Hắn quyết định sẽ khai thác triệt để tình cảm đồng hương cùng mối quan hệ của Dạ Lý với những người thân thích ở quê. Hắn sẽ viết nhiều thư, ban đầu gợi tình cảm quê hương, sau khi thư đi thư lại đã thành thân mật, tin cậy, hắn sẽ gợi dần tình cảm riêng tư, cố gắng cho đến khi cả hai rủ nhau về làng, đạt được những bước tiến quan trọng nhất. “Phải tận dụng cái hôn đầu tiên làm cơ hội kích dục. Khi cơn hứng của nàng lên tới đỉnh điểm, sẽ hành động ngay và cố gắng làm cho có chửa”. Hắn vạch sẵn trong óc như vậy. Thậm chí, hắn còn tính tới khả năng bỏ thuốc kích thích vào nước mát hoặc bia hơi.
Kế hoạch sẽ được kết thúc bằng một lễ cưới linh đình. Đến bước này, việc chiếm đoạt toàn bộ tài sản dễ như trở bàn tay. “Tạo ra một vụ đột tử chẳng khó khăn gì” – Hắn nghĩ như vậy.
Hắn tưởng tượng ra cái thân thể ngọc ngà của Dạ Lý, làn da trắng mịn, đôi vú tròn căng, cặp đùi vũ nữ, cái giây phút hắn ghì riết cả tòa thiên nhiên ấy… Hắn nuốt nước bọt ừng ực. Khi túi tiền đã cạn, câu hỏi mà hắn không thể không quan tâm là “Tuần sau sống bằng gì?” Và, hắn nghĩ ngay đến Dạ Lý. Hắn lấy giấy bút, viết cho một lá thư ngắn:
“Thân gửi Dạ Lý!
Anh lại mới trở về làng. Tận hôm nay người làng ta vẫn trầm trồ về em. Bà Vượng có gửi quà cho em, song anh không biết chuyển đến cho em bằng cách nào (vì nó hơi cồng kềnh). Em bớt chút thời gian lên chỗ anh nhé!”
Trên đường ra bưu điện bỏ thư, hắn tạt qua chợ, mua một con gà và hai cân gạo nếp. Đấy là món quà “bà Vượng gửi”. Hôm sau, hắn quét sạch nhà cửa, mua hoa tươi, ngồi nhà chờ đón Dạ Lý. Chẳng biết có ma quỷ nào xui khiến mà trước khi Dạ Lý đến nửa giờ, hắn chợt nhớ tới một tấm ảnh của cô in trên một tờ báo nọ. Hắn cuống cuồng lục lọi tìm tờ báo. Cuối cùng hắn moi được tờ báo dưới gậm giường. Hắn cắt tấm ảnh từ tờ báo ra, lau sạch bụi bậm rồi dán lên một mảnh bìa cứng và để ngay ngắn trên bàn, bên cạnh lọ hoa tươi. Hắn ngồi, ngắm công trình của mình, mỉm cười mãn nguyện.
Đàn bà vẫn hay xúc động vì những việc nhỏ, một câu thăm hỏi đúng lúc, một chút quà vặt, một sự cảm thông khi yếu lòng… Món “quà của bà Vượng” khiến Dạ Lý rơm rớm nước mắt vì cảm động. Là một người có lỗi, cô chỉ mong được bà con làng xóm tha thứ. Vậy mà cô còn được nhiều hơn thế, được ngợi khen, được yêu quý. Cô dành cả buổi thổi xôi và làm món gà rút xương đãi Đấu. Vì vui nên cô chẳng thiết ăn uống gì, chỉ nhấp một chút bia. Đấu nài cô uống một chén rượu. Cô kiên quyết từ chối. Tính kỷ luật của cô khiến hắn phải e ngại. Mặc dù vậy, hắn vẫn nốc rất nhiều rượu. Vừa uống, hắn vừa bùi ngùi kể về những kỷ niệm ở làng quê, giọng tỉnh như sáo:
- Hình ảnh cuối cùng anh nhớ được về mẹ em là một chiều mưa tầm tã, anh đánh trâu từ ngoài đồng về, thấy mẹ em đứng như chôn chân giữa ngã ba đường làng, gánh cỏ nặng vẫn đè trên vai. Anh hỏi: “Bác ơi! Sao bác không gánh cỏ về nhà đi?”. “Nghe tiếng cối xay thóc quay ù ù, bác thèm quá cháu ạ! Ước gì có một thúng thóc bây giờ, bác sẽ gánh ngay gánh cỏ về cho trâu ăn rồi không cần nghỉ ngơi, bác sẽ xay một hơi hết thúng thóc kia và giã thật trắng nấu một nồi cơm đầy cho chồng con ăn. Nhưng nhà bác không còn một hột thóc nào. Vì thế, bác phải gánh cỏ xuống chợ để đổi lấy một bơ gạo đây”. Và mẹ em gánh cỏ đi. Cỏ đẫm nước mưa rất nặng. Đường lại trơn. Mấy lần bà trượt ngã. Sau đận ấy, bà ốm rồi mất.
Đấu ngẩng lên, thấy Dạ Lý đang gục đầu khóc nức nở. Hắn úp mặt vào hai bàn tay và bôi nước bọt vào hai mi mắt cho ướt nhèm đi.
Mãi rất lâu sau, Dạ Lý mới ngẩng lên. Cô nhìn đôi mắt ướt nhèm của Đấu, lòng bồi hồi:
- Bây giờ anh sống ra sao? – Dạ Lý hỏi.
- Chán vô cùng. Anh không thiết sống nữa. Chưa bao giờ con người lại dễ phản trắc như bây giờ. Khi anh đang ăn nên làm ra, nhà này lúc nào cũng đầy khách. Họ đến đây, uống nhậu, lạy lục, vay một lúc hàng chục, hàng trăm triệu đồng rồi tếch thẳng ra nước ngoài, để mình anh phải tù tội và bán sạch cơ nghiệp trả nợ.
- Đừng nghĩ dại anh ạ! Sống được mới khó. Chết dễ nhưng mà hèn. Với căn nhà mặt phố này, chắc chắn là sống được. Hãy mở một quầy hàng đồ điện hoặc điện tử gì đó. Thiếu vốn thì em sẽ cho người mang lên.
- Thôi. Ai lại làm thế. Em cũng cần vốn để kinh doanh cơ mà.
- Anh yên tâm. Em có dư dả mới cho anh vay được chứ.
- Nhưng biết khi nào anh mới trả em được.
- Lúc nào có thì trả, một năm, mười năm, trăm năm.
- Em ở lại, mai hãy về!
- Không. Em phải về ngay bây giờ. Em không được bỏ cửa hàng quá một ngày.
- Trời ơi! Thế thì anh buồn lắm.
- Nên biết nuôi dưỡng cả nỗi buồn, vì đôi khi nó có ích.
Hắn tiễn Dạ Lý một quãng đường khá xa. Miệng hắn liến thoắng nói về sắc đẹp tiên sa của Dạ Lý, về nỗi cô đơn vô cùng tận của hắn, về kế hoạch kinh doanh lớn trong tương lai. Cuối cùng, hắn xì ra cái câu quan trọng nhất:
- Em định cho anh vay bao nhiêu?
- Anh cần bao nhiêu?
- Năm cây. Có nhiều quá không?
- Được. Em sẽ cho mang lên.
Hắn về nhà, mở lại cuộn băng vừa ghi được. Hắn nhận thấy giọng nói của nàng hôm nay dịu hơn, đầy rung cảm. Hắn cười ha hả, mơ tới một tương lai gần, thân thể ngọc ngà của Dạ Lý và gia tài kếch sù của cô.
Quá phởn chí, hắn quên mất một điều rất căn bản – cô hẹn “sẽ cho người mang lên” nhưng “sẽ” là bao giờ? Ngày mai hay tháng sau?
Ngày rời Việt Nam để về nước, bà Lý đã tự tay ghi vào nhật ký của Dạ Lý chín điều không, khi quan hệ, tiếp xúc với mọi người:
1- Hãy tin mình, không vội tin người
2- Kẻ lắm lời – không tin
3- Kẻ hay thề – không tin
4- Người nhận quà dễ dàng – không tin
5- Kẻ nát rượu – không tin
6- Người hay khen mình quá lời – không tin
7- Văn nghệ sĩ có thể yêu nhưng không tin
8- Một lần bội ước, cả đời không tin
9- Không làm mất lòng ai, cũng không đánh mất mình.
Dạ Lý thuộc chín điều này còn hơn cả các con chiên thuộc bài kinh cầu buổi sớm. Với một người vừa xinh đẹp vừa giàu có như cô, nó là vị thần hộ mệnh.
Đấu không hề biết những điều này. Hắn tin ở kế hoạch của hắn. Những kết quả bước đầu làm hắn càng tin hơn. Hắn ung dung ngồi chờ người ta mang vàng đến cho hắn.
Song, một tuần, rồi hai tuần đã trôi qua mà hắn chưa thấy vàng đâu. Không đủ kiên nhẫn để chờ đợi nữa, hắn phải mò xuống nhà Dạ Lý. Ngồi trên ô tô, hắn biên tập sẵn câu chuyện sẽ nói với Dạ Lý. “Bố em dạo này yếu, gầy và mắc chứng ho. Mỗi sáng thức dậy, anh nghe rõ tiếng ho của cụ rắc từ nhà ra giếng nước, rồi lại rắc ngược từ giếng vào nhà. Quê ta mấy năm nay mất mùa liên tiếp. Cả làng ăn cháo trừ bữa”… Hắn bịa và bịa. Câu chuyện càng về cuối càng lắm chi tiết xúc động. Hắn cũng vạch sẵn cả kế hoạch của chuyến đi này: Sẩm tối, hắn mới đến nhà Dạ Lý (nói là ô tô bị hỏng dọc đường) buộc cô phải giữ hắn qua đêm. Hắn sẽ nói chuyện dài, khuya, sẽ đánh đòn tình cảm. Nếu cần, hắn sẽ dùng cả thuốc kích thích.
Giấc mơ ban ngày
Hắn mơ, giấc mơ tục tằn, đầy nhục dục. Cô Dạ Lý nuột nà như một đóa hoa quỳnh và hắn mặc sức vày vò tàn phá. Hắn nuốt khan trong cổ, khe khẽ huýt sáo, thầm nguyền rủa bác tài xế cho xe chạy quá chậm.
Quán Tiên sục sôi trong tiếng nhạc Lambada. Những cốc bia sủi bọt trong tay khách nhậu. Có ai đó gào như hóa rồ:
- Dạ Lý, Dạ Lý! Lại đây nào! Ban thưởng cho anh một nụ cười nào.
Dạ Lý rời cái chảo đang bốc khói nghi ngút, lau tay cẩn thận rồi lách qua những dãy bàn ghế kín đặc người ngồi, đến bên chàng trai kia:
- Nào! Một cốc vì sức khỏe anh trai của em!
- Trời ơi! Sao lại anh trai! – Chàng trai gào lên, cười như mếu và uống một hơi cạn sạch cả vại bia.
Các chàng trai ở những bàn bên cạnh nằn nì:
- Sao lại phân biệt đối xử thế?
- Em ơi! Anh ghen đấy!
- Với anh một cốc nào! Em!
Dạ Lý đặt một ngón tay lên môi, mỉm cười rồi nhảy Lambada một mình về phía bếp, cầm con dao thái thịt nhanh như múa. Quán Tiên đầy tiếng cười và những thân hình nhún nhảy.
Đấu len lách qua đám người nhộn nhạo ấy, đến trước mặt Dạ Lý. Sự xuất hiện đột ngột của Đấu khiến Dạ Lý ngạc nhiên và vui mừng.
Bên ba lô, Đấu rửa mặt còn Dạ Lý cầm một chiếc khăn ướt lau cổ, gáy và lưng cho hắn.
- Đường bụi lắm hở anh?
- Cũng tương đối.
- Anh mệt lắm phải không?
- Đến với em, dù phải băng qua miệng núi lửa cũng không mệt.
Đột ngột Đấu chụp bàn tay Dạ Lý, áp lên môi, hôn. Dạ Lý rụt tay lại.
- Thôi. Không ai hôn tay phụ nữ lâu quá như thế đâu nhé! Anh đi nghỉ đi. Em phải ra bán hàng đây. Phòng khách ở trên lầu. Chìa khóa đây. Buồng giữa nhé. Anh cứ tự nhiên như ở nhà.
Đêm. Quán Tiên vẫn đông khách.
Dạ Lý gọi một người phụ việc:
- Lan ơi! Em trông quán cho chị nhé! – Cô chỉ tay lên lầu – Bảo người mang lên bia, thức nhắm và một đĩa phở xào.
Trên lầu, Đấu ngồi ngáp vặt. Hắn đói và hắn cáu. Hóa ra sự xuất hiện của hắn cũng chẳng quan trọng mấy, không gây một xáo động, một sự chú ý nào. Người đẹp vẫn làm công việc của mình như không hề có hắn. Mẹ kiếp! Loại người không mê đắm, nhiều tính đàn bà hơn tính phụ nữ. Hắn lẩm bẩm rủa thầm rồi chán ngán lên giường nằm khoèo.
Dạ Lý đẩy nhẹ cánh cửa phòng khách:
- Anh thông cảm nhé. Đang giờ ăn chiều của khách, quán bận quá.
- Việc làm ăn của em dạo này thế nào?
- Vẫn được anh ạ. Trong điều kiện hiện nay, kinh doanh hàng ăn uống vẫn là yên tâm nhất. Trong khi các ngành khác đang phấn đấu để quay vòng một phẩy năm, hoặc hai vòng tháng thì ngành ăn uống vốn quay ba mươi vòng tháng. Mọi sự biến động về giá cả, kể cả sự mất giá rất nhanh của đồng tiền cũng không hề tạo nên những cú sốc lớn cho các tiệm ăn. Nhưng, phải chú ý hai điều – phục vụ khách thật tốt và cương quyết không bán chịu. Làm nghề này bán chịu là cụt vốn ngay. Hai việc này nghe qua tưởng dễ nhưng thực ra lại rất khó, vì tính chất của chúng trái ngược hẳn nhau. Để không bán chịu buộc phải cứng rắn, nhưng muốn phục vụ khách thật tốt thì phải mềm mỏng, tính chất khác nhau, cách ứng xử cũng khác hẳn nhau. Bán hàng là cả một nghệ thuật. Sau này, nếu anh có mở cửa hiệu cần hết sức chú ý đến khâu này. Nghệ thuật bán hàng đòi hỏi phải thực hiện thật hoàn hảo mọi động tác từ nụ cười mời chào khi khách đến tới câu cám ơn lúc khách đi. Nếu anh thường xuyên đi chợ và chịu khó quan sát, anh sẽ thấy có rất nhiều người bán hàng không biết cách thu tiền. Thu tiền là động tác cuối cùng của một công đoạn trong thương nghiệp – Công đoạn bán hàng có hai yêu cầu ở công tác này, thu hồi được tài chính và giữ được thiện cảm của khách. Động tác thu tiền gồm hai phần, tính tiền và nhận tiền. Về mặt tâm lý, khi khách ăn uống bao giờ cũng vui vẻ hơn khi họ đứng dậy trả tiền. Nói cách khác, trả tiền là việc khó chịu nhất của khách ở cửa hàng của mình. Người bán hàng có kinh nghiệm thường loại bỏ một vài con số lẻ cho khách khi tính tiền. Thí dụ “Của anh hai vại bia, ba nghìn hai, hai bìa đậu bốn trăm là ba ngàn sáu, đĩa thịt kho một nghìn là bốn nghìn sáu, cộng với 5 trăm cơm là năm nghìn mốt. Thôi, anh cho em xin năm nghìn”. Đấy, người biết bán hàng sẽ tính tiền với khách như vậy. Một trăm lẻ bỏ đi ấy không phải chỉ có khách được mà quán cũng được. Dạ Lý rót thêm bia cho Đấu rồi tiếp: Động tác cuối cùng là việc cầm tiền, không phải người bán hàng nào cũng biết cầm tiền. Rất nhiều cô không đón nhận đồng tiền của khách mà rút đánh phật một cái. Đấy là một động tác thô bỉ, người như thế không bao giờ biết nói với khách câu “cám ơn”, dù có dạy bao nhiêu cũng hoài công. P|hải loại ngay khỏi quầy những người bán hàng lấy tiền của khách kiểu như thế. Tiền ở đâu ra? Ngành ngân hàng có thể trả lời: “Tiền ở nhà in ra”. Ngư dân có thể nói: “Tiền kéo dưới biển lên”. Với nhà địa chất thì “tiền moi được từ lòng đất”. Nhưng với nhà kinh doanh thì chỉ có thể trả lời: tiền ở trong túi mọi người. Nếu ta làm cho mọi người không hài lòng có nghĩa là ta không có tiền.
Dạ Lý say sưa nói còn Đấu cứ say sưa uống và ăn. Cô hết sức ngạc nhiên khi nhận ra Đấu không hề mảy may để ý đến câu chuyện của cô. “Lạ quá. Anh ta đến đây vay tiền mở cửa hiệu cơ mà. Sao lại ăn hùng hục như thế? Có lẽ anh ta chỉ biết có “lao động ăn” chứ không có “văn hóa ăn””.
Mãi tới khi đã nốc hết năm vại bia và chén sạch đĩa phở xào. Đấu mới ngẩng lên nhìn cô gái ngồi đối diện:
- Em không ăn uống gì à?
- Em không có cảm giác đói. Suốt ngày xào nấu bên bếp, chỉ những ngửi mùi cũng đã no rồi.
Một cô gái chạy bàn đột ngột xuất hiện trước cửa phòng:
- Thưa! Một thủy thủ tàu Vốt Kô cứ nằng nặc đòi uống với chị một hộp bia.
Đấu sẵng giọng:
- Mặc mẹ nó!
- Không. Em phải xuống đấy. Anh chờ em một lát nhé. Dạ Lý mỉm cười đến mê hồn – Dẫu sao anh cũng là người nhà, còn người ta là khách.
Hai tiếng “người nhà” khiến Đấu hởi lòng, hởi dạ. Hắn nhìn từng bước chân của Dạ Lý đang khuất dần cuối cầu thang rồi hắn móc túi lấy ra một gói nhỏ bột trắng đổ vào cốc thủy tinh và bật một hộp bia Heineken đổ vào tràn cốc. Cốc bia này sẽ biến Dạ Lý thành cơn lốc lửa và hắn sẽ hưởng đủ sự nồng cháy của cơn lốc ấy. “Khi người con gái đã hiến thân cho anh có nghĩa là cô ta có thể cho anh tất cả”. Hắn nhớ có ai đó đã nói với hắn như vậy. Hắn đi vòng quanh phòng, nôn nóng, hồi hộp. Dưới quán vẳng lên tiếng nhạc vũ điệu Lambada, tiếng chạm cốc, tiếng cười.
Dạ Lý đã trở lại:
- Các thủy thủ thường rất vui nhộn và hào phóng.
- Họ si mê em.
- Điều đó không quan trọng.
- Em phải uống với anh một cốc. Chả lẽ anh không được như các thủy thủ của em.
Hắn đưa cho Dạ Lý cốc bia có pha thuốc kích thích:
- Nào! Chúc em hạnh phúc!
Trong khoảnh khắc bốn mắt gặp nhau. Dạ Lý chợt nhận ra mắt hắn giống một con quỷ, vừa gian, vừa ác lại vừa dâm đãng.
- Sao em chạm cốc mà không uống?
- Em uống nhiều dưới kia rồi. Khách hàng lúc nào cũng có thể say, còn chủ quán thì không bao giờ được say.
Dạ Lý rót nốt cốc bia của cô sang cốc của Đấu. Đang chuếnh choáng, hắn nốc một hơi cạn sạch.
Khoảng nửa đêm, hắn tỉnh dậy. Hắn thấy nóng kinh khủng. Người như bốc lửa, rậm rật. Hắn chạy sang buồng Dạ Lý, đập cửa. Tịnh không có ai ra mở cửa. Hắn điên cuồng xoay, giật khóa cửa. Vô ích. Hắn chạy về buồng mình, cuộn tròn chiếc nệm mút, ôm ghì lấy, đè nghiền xuống, nhún dập, quằn quại. Ngọn lửa dục tình không hạ bớt mà bốc mạnh hơn. Chợt hắn nhận ra trần nhà có một ô vuông trống. Hắn dựng đứng chiếc bàn nhỏ làm thang, đu lên trần nhà. Lần trong bóng tối, hắn bò về phía buồng Dạ Lý. Đây rồi, trần nhà lại có một ô trống nữa. Hắn đu người xuống. Qua ánh đèn ngủ, hắn thấy Dạ Lý nằm trắng nuột nà như một đóa cẩm thạch. Vừa tiến về phía giường của Dạ Lý, hắn vừa cởi bỏ quần áo vội vã. Hắn thở hồng hộc. Mọi đường gân trong cơ thể hắn đều căng lên như sợi dây đang căng hết mức.
Bỗng có tiếng kẹt cửa ở đâu đó. Và, hắn bị đánh rất mạnh vào cả hai bên sườn. Toàn thân tê dại, hắn đổ ụp xuống. Lại một cú đá rất mạnh nữa vào mặt. Hắn gục hẳn, máu trào ra miệng.
- Nhẹ thôi kẻo hắn chết mất.
Tiếng Dạ Lý – hắn chợt nhận ra điều đó. Nghĩa là hắn chưa chết.
Khi đèn bật sáng, hắn nhận ra người đánh hắn chính là cô gái vừa nãy mời Dạ Lý xuống uống bia tiếp các thủy thủ. Cô đã nhìn thấu tâm địa hắn ngay từ khi hắn mới bước vào quán và mọi hành vi của hắn không lọt qua được mắt cô. Cô mời Dạ Lý đi uống bia chính là để tạo điều kiện cho hắn làm cái trò pha thuốc kích thích vào bia và Dạ Lý đã bắt hắn uống chính vại bia ấy.