Truyện Cổ Nhật Bản

Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những cuộn kinh linh ứng

❊ ❊ ❊

Ngày xưa, có một người nông dân nghèo có sáu đứa con. Sào ruộng nhỏ của gia đình họ, sau này sẽ thuộc về Taro, cậu con trai cả, chật vật lắm cũng không nuôi nổi từng ấy miệng ăn; bố mẹ bèn quyết định cho cậu con trai thứ hai, Djiro, vừa mới lên mười, đi tu. Như thế, cậu sẽ được nuôi, mà gia đình cũng đỡ một miệng ăn. Họ tìm được vị sư thầy, trụ trì ngôi chùa nhỏ ở rìa làng bên, bằng lòng thu nhận Djiro làm đồ đệ.

Đó quả là một ngôi chùa nhỏ, nghèo y như mọi nhà trong vùng, và hòa thượng đáng kính sống cũng chẳng sung túc gì; tuy nhiên, ngài muốn giúp đỡ cha mẹ Djiro, vả lại, ngài cũng già rồi, cần một người phụ việc vặt và quán xuyến chùa, chưa nói đến việc ngài cũng phải dần tính đến chuyện tìm người kế tục.

Vậy là, một ngày nọ, chú bé Djiro cạo đầu, mặc áo chùng và bái sư học đạo.

Ngôi chùa nhỏ bằng gỗ nằm tách biệt với làng xóm, ngay cạnh cái ao ở bìa rừng, muốn vào đấy người ta phải men theo một con đường mòn băng qua cánh đồng. Ngôi chùa đã cổ lắm rồi, gió mưa đã làm lở hết các bức tường và xóa dần xóa mòn những hình thù khắc trên cổng. Djiro thích nơi này lắm, nhưng chú còn thích cánh rừng ngoài kia hơn. Sểnh ra là chú lại tót vào rừng, hái hoa hay ngả lưng trên cỏ, dõi mắt nhìn mặt trời qua những tán lá dày rậm.

Vì vị hòa thượng đáng kính sống rất giản dị, nên Djiro chẳng có mấy việc phải làm. Chú kiếm củi, gánh nước, quét dọn chùa, phủi bụi những bức tượng Phật bằng gỗ trong chính điện và những cuốn kinh trong thư phòng, và thảng hoặc mới phụ giúp việc trong bếp. Việc nặng nhọc nhất, ấy là học kinh. Djiro chẳng những thấy rằng viết chữ là việc quá khó, và dù đã rất thành tâm, chú cũng chẳng thể thuộc nổi những bài kinh khó hiểu, mà nói chung, cứ động đến học là chú thấy phiền lòng. Lúc hòa thượng ngồi đọc kinh với chú hay muốn dạy chú đọc, thì chú chẳng nghe, còn khi phải học một mình, thì chú lại thích vào rừng chơi hơn.

Hòa thượng có khuyên giải hay mắng mỏ, thì chú vẫn chứng nào tật nấy. Với Djiro, hễ cầm sách lên là chú thấy cây cối ngoài kia đang vẫy gọi, là chú cảm thấy hương gỗ mời mọc và chú nghe thấy tiếng chim hót líu lo. Vậy là, chẳng học hành gì nữa, chú chỉ mắt trước mắt sau là lỉnh ra ngoài.

Cả mùa hè chú cứ thế, đến lúc cuối cùng, hòa thượng cũng hết kiên nhẫn. Một ngày nọ, Djiro lại bỏ kinh lên cỏ, trốn học và chạy vào rừng chơi.

Hòa thượng mới gọi chú lên và kinh hãi nhận ra rằng Djiro vẫn chẳng thể đọc hết dù chỉ một bài kinh, trong khi ngày lễ “cầu phúc” đã tới gần, ngài mới bảo: “Ta rất tiếc, chú bé ạ, nhưng con chẳng bao giờ có thể trở thành hòa thượng tốt. Bởi một hòa thượng không trọng sự học, và không thuộc kinh kệ thì chẳng thể giúp người mà chỉ là gánh nặng với họ mà thôi. Dù rất đau lòng, nhưng ta chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài gửi con về lại cho cha mẹ con. Con hãy đi ngay, kẻo mất thì giờ!”

Djiro nghe như sét đánh ngang tai liền nước mắt lưng tròng. Chú thực lòng muốn trở thành hòa thượng nếu như không có những buổi học kinh chán ngắt kia.

Vị hòa thượng, trông chú bé khổ não nhường ấy, thì động lòng thương hại. Ngài mở tráp sơn son, lấy ra bốn cuộn kinh, đưa cho Djiro và bảo: “Ta buộc phải làm thế, nhưng để cho con thấy là ta không giận gì con, ta cho con bốn cuộn kinh này. Trên mỗi cuộn kinh con sẽ thấy dấu hiệu của chùa ta và một đoạn kinh linh nghiệm. Đó là lời của Phật; chúng sẽ giúp con khi con gặp chuyện hiểm nghèo. Hãy giữ cho kỹ và đi đi!”

Djiro không dám cãi lời. Chú cho những cuộn kinh vào áo chùng, cúi người cảm tạ sư thầy rồi, nước mắt đầm đìa, chú quay người và xỏ đôi dép cỏ trước cửa.

Djiro khổ tâm nghĩ: “Mình biết nói gì với cha mẹ khi họ trông thấy mình bất ngờ trở về như thế này?” Nghĩ thế, chú lại không cầm được nước mắt.

Nhưng mới đi được vài bước, rừng đã hiện ra và tỏa hương thơm như thôi thúc chú, khiến chú tức thì quên sạch mọi sầu muộn. Và lẽ ra phải đi về nhà thì chú lại chạy vào khu rừng yêu quý. Bởi giờ đây chú được thỏa thích ở lại bao lâu thì ở, nên cuối cùng chú cũng có thể tiến sâu vào rừng, tới những nơi chú chưa đặt chân đến bao giờ.

Djiro rượt theo những cánh bướm, náu mình sau bụi rậm ngắm con thằn lằn đang sưởi nắng trên một tảng đá, và nghe tiếng chim ríu rít. Đến lúc chú sực nhớ ra hẳn là trưa rồi, và đã đến lúc tìm đường ra khỏi khu rừng, thì đột nhiên trời đất tối sầm lại, cứ như thể có cơn dông nổi lên từ phía chân trời. Chim chóc bỗng ngưng bặt, cảnh tượng này khiến chú hãi hùng.

Chú nhìn trước ngó sau, và khó khăn lắm mới trông thấy khoảng rừng trống. “Đã muộn thế rồi sao? Ôi, giá như có người sống gần đây!” chú nhủ thầm.

Đột nhiên, chú nhận ra bên kia khoảng rừng trống, có một bà cụ già đang tập tễnh lại gần. Bà phải già lắm rồi, bởi lưng bà còng gập. Bà đội một cái mũ to sụ và mặc bộ quần áo vá chằng vá đụp được buộc ngang lưng bằng một sợi dây nhỏ.

Bà cụ móm mém cười với chú và bảo: “Quý hóa quá lại gặp chú ở đây! Cứ trông bộ áo chùng với cái đầu trọc của chú là bà biết chú trước sau gì cũng sẽ là hòa thượng đây; gặp chú thực may quá. Quả là, đôi chân già khốn khổ của bà chẳng thể đưa bà đến chỗ vị hòa thượng đáng kính. Hôm nay là ngày giỗ đầu chồng bà và bà muốn mời hòa thượng khả kính tới cầu kinh cho ông lão. Nhưng gặp được chú tiểu ở đây rồi, nhờ chú tới đọc kinh trước bàn thờ nhà bà là được. Chú sẽ không từ chối lời nhờ vả của bà lão già nghèo khổ này chứ?”

Djiro không biết phải làm sao. Chú mừng vì không phải cô độc trong cánh rừng tối tăm này, nhưng làm sao có thể thú nhận là chú không biết cầu kinh? Chưa kể chú có nói ra thì bà cũng chẳng tin, khéo khi lại còn nghĩ chú không muốn chấp thuận lời thỉnh cầu của bà. Vậy là chú đồng ý và đi cùng bà qua chỗ rừng trống, lại gần một túp lều, lạ làm sao, chú chẳng nhớ đã từng thấy túp lều ấy trước đây. Túp lều này bé đến nỗi chỉ vừa đủ cho hai người; một góc kê một tấm ván, trên tường có bàn thờ người xấu số còn một góc khác có bếp lò. Djiro quỳ trước bàn thờ và khó nhọc đọc một bài kinh cầu siêu được chắp nhặt từ mỗi bài một ít. Chú toát mồ hôi và đỏ mặt tía tai, nhưng bà lão đang lắng nghe chăm chú thì chẳng có vẻ gì là nhận ra bài kinh không đúng như phải thế.

Khi Djiro đọc xong, bà cụ mới cúi đầu bảo: “Chú thật là cậu bé hào hiệp; bà rất cảm ơn chú. Ông chồng xấu số của bà hẳn sẽ mừng vì vẫn được nhớ tới. Nhưng trời tối rồi, mà làng còn xa lắm; chú sẽ lạc mất thôi. Tốt nhất là cứ ở lại đây đêm nay. Bà chẳng có gì mời chú ngoài chút cháo yến mạch, nhưng bà nghĩ chú sẽ thích.”

Djiro đói lắm rồi và được một bát cháo yến mạch thì còn gì bằng. Ăn xong, bà lão trải chăn ra đất - vừa đủ hai người nằm - và chẳng mấy Djiro đã thiếp đi. Nhưng chú ngủ chập chờn, có khi tại chú đã ăn nhiều cháo yến mạch quá, mà cũng có khi tại trong lều ngột ngạt quá, chú hết lăn bên này, lại lăn bên nọ, lúc tỉnh, lúc thức, cho đến khi đột nhiên chú choàng tỉnh hẳn. Vừa nãy khi trở mình, chú đã chạm tay vào bàn chân của một con thú; chú cảm giác rõ ràng rằng đó là móng vuốt và da thú. Nhưng khi cố nhìn xem bàn chân ấy là của ai, nhờ ánh sáng lờ mờ từ bếp lò, chú nhận ra đó là bàn chân của bà cụ.

Djiro sững người kinh hãi, bởi chú thầm nhủ bà lão đây hẳn chẳng phải là một bà lão thực, mà có khi lại là một con lửng, con cáo nào đó đã dụ chú vào hang để ăn thịt. Chú phải chạy trốn cho mau.

Chú khẽ khàng đứng dậy, nhưng vừa định bước qua bà cụ thì bà ta tỉnh giấc và hỏi: “Chú đi đâu thế, chú bé, muộn thế này rồi?”

“Bà ơi, cháu muốn ra ngoài,” Djiro nhanh trí đáp.

“Nhưng ngoài kia tối lắm, chú dễ bị lạc đấy, khéo lại ngã xuống thung sâu, quanh nhà bà nhiều thung lắm. Để bà buộc cháu vào sợi dây thì sẽ không sợ lạc nữa!”

Bà cụ buộc Djiro vào một đầu dây và để chú đi. Djiro vừa mới tới trảng rừng trống, thì bà lão đã giật một đầu dây và hét lên: “Chú đừng đi lâu đấy!”

“Không, không đâu bà ạ, cháu sẽ trở lại ngay,” Djiro đáp, cuống cuồng suy nghĩ xem nên làm gì. Đột nhiên, chú nhớ ra những cuộn kinh mà hòa thượng đã đưa cho mình. Biết đâu chúng giúp chú thoát khỏi cảnh nguy khốn này.

Giữa lúc đó, bà lão lại giật sợi dây và gọi chú.

“Cháu về đây bà ạ,” Djiro vừa đáp vừa tháo sợi dây ra. Thế rồi chú buộc đầu dây vào một trong mấy cuộn kinh và ba chấn bốn cẳng chạy vào rừng.

Chú chạy chưa xa thì bà lão lại giật đầu dây gọi. Và kỳ diệu thay, cuộn kinh cứ trì lại, như thể Djiro vẫn còn bị buộc ở đó và còn giả giọng chú bé đáp: “Cháu về đây bà ạ!” Djiro mừng quá, cắm cổ chạy miết.

Thấy mãi một lúc lâu Djiro vẫn chưa trở vào, mỗi lần gọi cũng chỉ đáp: “Cháu về đây, bà ạ!”, bà già sinh nghi. Bà ta thức dậy để xem chú bé làm gì bên ngoài mà lâu thế.

Thấy chú bé đã đi mất, bà ta giận dữ giẫm nát cuộn giấy, rồi đánh hơi xung quanh để xem nạn nhân của mình chạy về phía nào; ngửi ra rồi, bà ta tức tốc đuổi theo chú bé, nhanh đến nỗi cả rừng cây chỉ nghe tiếng rào rào lướt đi.

Trong bóng tối, Djiro chưa chạy được bao xa đã nghe thấy phía sau mình tiếng hổn hển và gầm gừ đáng sợ. Chú quay lại và suýt chút nữa thì lăn ra vì kinh hãi. Ngay phía sau, chú trông rõ thứ gì đang đuổi theo mình; nhưng đó chẳng phải là bà cụ già tập tễnh, mà là con quỷ đáng sợ của khu rừng, Quỷ Dạ Xoa. Bên dưới cái mũi khủng khiếp với hai lỗ mũi nở to, đôi mắt vằn tia máu long lên như hai bánh xe lửa, là cái miệng gớm ghiếc, cái lưỡi đỏ rực lủng lẳng đến tận thắt lưng và mái tóc xám phất phơ trong gió như cỗ bờm. Cánh tay xương xẩu dài lòng thòng những móng với vuốt, còn chân thì lông lá, đích xác như Djiro đã cảm thấy ở trong lều, đang nện xuống đất thình thịch. Djiro chạy được một bước, thì Quỷ Dạ Xoa đã sải đến hai bước khổng lồ; chả mấy mụ đã ở ngay sát chú và giương nanh giơ vuốt, nhưng đúng lúc hiểm nghèo đó, chú nắm lấy cuộn kinh thứ hai và ném nó lại ngay trước chân Quỷ Dạ Xoa.

Tức thì, một dòng sông cuồn cuộn sóng hiện ra chắn ngang giữa Djiro và mụ Quỷ Dạ Xoa. Djiro thở phào, nhưng chẳng chút chậm trễ, chú lao ra khỏi khu rừng, và vì trời lúc này đã hửng sáng, chú chạy tiếp trên những bờ ruộng.

Thấy dòng sông cuồn cuộn khó có thể vượt qua, còn Djiro ở bờ bên kia đang chạy trối chết, mụ Quỷ Dạ Xoa hét lên giận dữ và giậm chân bình bịch. Nhưng mụ trấn tĩnh lại ngay, mụ vén tay áo, cúi xuống dòng sông và bắt đầu uống òm ọp. Nước vào bụng mụ bao nhiêu thì sông cạn dần đi bấy nhiêu. Sau một hồi, Djiro quay lại nhìn thì thấy con sông đã hẹp lại một nửa và cạn đi thấy rõ, và loáng sau, chỉ còn là một cái lạch nhỏ, rồi sau nữa, thì hoàn toàn chui hết vào bụng Quỷ Dạ Xoa.

Quỷ Dạ Xoa lại tiếp tục đuổi theo, nhưng không còn nhanh như trước, bởi mụ đã ướt nhẹp, đã thế còn phải bê theo cả một bụng lặc lè nước. Nhưng chạy thêm một bước, mụ lại nhanh hơn một chút, nước từ trong cái miệng khủng khiếp của mụ nhiễu ra thành dòng. Nhưng có chậm thì mụ vẫn nhanh hơn Djiro nên chẳng mấy chốc mà đã sắp bắt kịp.

Djiro cố tình chạy ngoắt ngoéo trên đồng lúa để mụ Quỷ Dạ Xoa phải mất thời gian dừng lại mỗi khi muốn đổi hướng, bởi cái bụng anh ách nước thế kia khiến mụ xoay xở có bề khó khăn hơn. Nhưng có thế, cũng chẳng giúp ích cho Djiro mấy, và chẳng mấy chốc, hơi thở và tiếng gầm gừ của mụ lại ngay sát sạt. Vậy là chú lại rút ra cuộn kinh thứ ba ném về phía mụ. Loáng cái, nơi đây trở thành một biển lửa. Những ngọn lửa nổ lét đét rồi đồm độp và bùng lên, che lấp cả Quỷ Dạ Xoa.

Djiro thở phào và co cẳng chạy nhanh hơn, bởi dường như chú đã thấy những mái nhà trong làng thấp thoáng phía xa. Chú lấy hết sức mà chạy, nhưng lên đến đỉnh đồi, chú nghe thấy có tiếng xì xì đáng nghi phía sau. Chú quay lại và thấy phía trên biển lửa có một đám hơi nước còn ngọn lửa thì đang lụi dần. Quỷ Dạ Xoa đứng bên cạnh đám lửa và ép chặt bụng lại; vậy là, hai dòng nước phun ra như suối từ hai lỗ mũi, còn từ miệng là một dòng thác trút xuống đám lửa và dập tắt nó tức thì.

Nhưng Djiro không mất thì giờ chờ xem lửa tắt; chú mau chóng lao xuống đồi; nhưng chẳng mấy mà Quỷ Dạ Xoa đã ở ngay sau lưng chú, thở phì phò và toàn thân đen sì ám khói. Mụ đã chực giơ móng vuốt ra tóm lấy con mồi thì Djiro rút ra cuộn kinh cuối cùng và ném lại phía sau.

Cuộn kinh vừa chạm đất thì một tia chớp bạc lóe lên, rồi một ngọn núi gươm sắc bén hiện ra.

“Chướng ngại vật như thế này thì Quỷ Dạ Xoa tài cách mấy cũng không vượt qua được,” Djiro thầm nghĩ, nhưng để cho chắc, chú không giảm tốc độ và chẳng mấy chốc, ngay trước mắt chú, trong màn sương sớm bảng lảng, chú đã trông thấy ngôi chùa xám ngay cạnh cái ao. Chú chỉ còn cách nửa đoạn đường thì nghe thấy tiếng lách cách khủng khiếp phía sau, kèm theo đó là tiếng gầm gừ gào thét. Quỷ Dạ Xoa chỉ chăm chăm nuốt chửng chú bé, mụ không ngại ngần đạp lên cả núi gươm. Mụ tay trần vạch ra, bứt lên, nhổ đi từng lưỡi gươm cứ như thể nhổ cỏ. Mụ bao phen đứt tay, nhưng cuối cùng cũng mở được đường qua ngọn núi.

Trong lúc ấy, Djiro đã tới gần ngôi chùa vẫn đang im lìm say giấc mà chú đã tạm biệt ngày hôm qua và tuyệt vọng đập cửa gian nhà nơi vị hòa thượng ở. Nhưng hòa thượng có vẻ vẫn đang ngủ rất say, bởi chẳng có động tĩnh gì cả. Thế mà, xa xa, người ta đã có thể nghe thấy tiếng thở hổn hển và tiếng gầm gừ của Quỷ Dạ Xoa.

Djiro lấy hết sức đập cửa và tuyệt vọng hét lên: “Thưa thầy, thưa thầy!”

Cuối cùng bên trong cũng nghe tiếng động và giọng ngái ngủ phát ra: “Chuyện gì thế?”

“Thưa thầy, mau mở cửa cho con vào với!” Djiro khẩn nài, mắt dáo dác nhìn quanh. Xa xa, lẫn trong màn sương, chú nhìn thấy Quỷ Dạ Xoa đang bừng bừng thịnh nộ càng lúc càng tiến lại gần, áo quần tả tơi, tóc tai cháy sém, chỉ cặp mắt đỏ ngầu là càng dữ tợn hơn và cái lưỡi háu đói như càng đỏ lên thêm.

Từ trong chùa, vị hòa thượng ngáp và nói vọng ra: “Là con đấy ư Djiro? Con muốn gì? Không phải ta đã gửi con lại nhà hôm qua rồi sao? Con biết rõ là con sẽ không bao giờ trở thành một hòa thượng tốt được rồi mà!”

“Con xin thầy, xin thầy hãy độ lượng với con và hãy mau cho con vào, Quỷ Dạ Xoa đang ở ngay sau con,” Djiro hoảng loạn hét lên.

“Rõ ngớ ngẩn, vùng này làm gì có Quỷ Dạ Xoa? Thôi ngoan ngoãn về nhà đi, ta thực là không cần con nữa!”

“Thưa thầy! Thưa thầy! Nó tới ngay sau con rồi, thầy mau cho con vào với!” Djiro khẩn nài và chú nép sát vào cánh cửa bởi đôi mắt đỏ rực của Quỷ Dạ Xoa đã long lên ngay phía bờ ao còn móng vuốt sắc nhọn của nó đã cào lên mặt sỏi trong sân.

Những lời khẩn nài của chú bé đã làm hòa thượng động lòng, và đúng lúc con quỷ suýt tóm được Djiro, ngài rút then và mở cửa. Djiro nhào vào trong, theo ngay sau là cái lưỡi lòng thòng của Quỷ Dạ Xoa quyết không để sổng mất con mồi. Nhưng hòa thượng đã kịp sập cửa. Vậy là chỉ còn nghe thấy một tiếng thét khủng khiếp vang động không trung và con quỷ biến mất.

Tất cả lại giống như trước kia. Mặt trời từ từ nhô lên từ phía chân trời, rọi nắng vào trong nhà, và nhà sư khả kính xoa đầu Djiro, nói với chú rằng ngài muốn thử chú. Và ngài đã không phải thất vọng vì làm thế. Từ đó, Djiro trở nên chăm chỉ nhất trong các cậu bé chăm chỉ và không gì trên đời lại có thể kéo chú vào trong khu rừng được, kể cả có là hương thơm mời gọi của cỏ cây.

Dịch giả: AY
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.