Một Họa Sĩ Phù Thế

Một Họa Sĩ Phù Thế

Lượt đọc: 24 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
THÁNG MƯỜI NĂM 1948

❊ ❊ ❊

Nếu một ngày nắng đẹp, bạn bước trên con đường dốc nối với chiếc cầu gỗ nho nhỏ mà ở đây người ta vẫn gọi là “Cầu Dùng Dằng”, chỉ bước một quãng ngắn thôi là bạn sẽ trông thấy mái nhà tôi hiện ra giữa những rặng cây bạch quả. Dầu không chiếm vị trí bắt mắt trên đồi, ngôi nhà tôi vẫn nổi bật lên giữa những ngôi nhà khác, thế nên khi đi trên lối ấy, bạn sẽ băn khoăn không biết người giàu cỡ nào mới sở hữu cả căn nhà thế kia.

Nhưng tôi chẳng phải và cũng chưa từng là một người hào phú. Có lẽ bạn sẽ hiểu ngay do đâu mà ngôi nhà có được vẻ đường bệ ấy, nếu tôi cho bạn hay rằng nó được người chủ trước đây xây cất, và ông ấy không ai khác chính là Akira Sugimura. Dĩ nhiên, có thể bạn chỉ mới đến thành phố này, mà như vậy bạn sẽ chẳng quen thuộc gì với cái tên Akira Sugimura. Nhưng hễ nhắc cái tên ấy với bất kỳ ai đã sống ở đây từ trước chiến tranh, bạn sẽ được biết rằng độ ba mươi năm về trước, Sugimura dứt khoát là một trong những người có ảnh hưởng và được kính trọng nhất thành phố này.

Nếu tôi cho bạn biết như vậy rồi, và khi đến đỉnh đồi bạn đứng ngắm nhìn cổng vào bằng gỗ tuyết tùng đẹp đẽ, khu đất thênh thang bên trong tường vườn, mái nhà lợp ngói tinh tế và xà nóc được chạm khắc kiểu cách nhô ra trên nền cảnh ấy, bạn hẳn sẽ băn khoăn làm sao tôi có thể sở hữu một gia sản như thế, khi mà tôi tự nhận là người khiêm tốn về của cải. Sự thật là tôi đã mua căn nhà này với một số tiền danh nghĩa – một con số hẳn chưa đến nửa trị giá thực của căn nhà thời bấy giờ. Việc mua bán ấy được thành là nhờ một thủ tục kỳ dị – một số người có thể bảo là ngớ ngẩn – do gia tộc Sugimura đặt ra khi bán ngôi nhà.

Đấy đã là câu chuyện của mười lăm năm trước. Hồi bấy giờ, khi gia cảnh của tôi dường như mỗi tháng một khấm khá, vợ tôi đã thúc giục tôi tìm một căn nhà mới. Với sự lo xa thường thấy, bà ấy lý lẽ về tầm quan trọng của việc có một căn nhà xứng đáng với địa vị của chúng tôi – chẳng phải vì thói phù phiếm, mà là để lo cho triển vọng hôn nhân của các con. Tôi hiểu được lý lẽ ấy, nhưng vì Setsuko, con gái lớn nhà tôi, mới mười bốn mười lăm, tôi thấy chuyện này cũng chưa đến mức cấp thiết. Tuy nhiên, trong độ một năm sau đó, mỗi khi hay tin có căn nhà phù hợp rao bán, tôi lại để ý tìm hiểu. Chính một học trò đã giúp tôi hay tin ngôi nhà của Akira Sugimura được rao bán rẻ một năm sau khi ông ấy mất. Bảo tôi nên mua một ngôi nhà như thế nghe thật là ngớ ngẩn, và tôi coi gợi ý đó xuất phát từ sự kính trọng thái quá mà đám học trò vẫn luôn dành cho tôi. Dẫu vậy, tôi cũng đã cất công tìm hiểu và nhận được phản hồi bất ngờ.

Một chiều nọ, tôi được đón tiếp hai quý bà kiêu kỳ, tóc điểm bạc mà hóa ra là con gái của Akira Sugimura. Khi tôi tỏ vẻ ngạc nhiên vì nhận được sự quan tâm ân cần từ một gia tộc danh giá như vậy, người chị lạnh lùng bảo tôi rằng họ đến đây không đơn thuần theo phép xã giao. Những tháng vừa qua, có rất nhiều người tìm hiểu căn nhà của người cha quá cố của họ, nhưng rốt cuộc gia tộc họ quyết định từ chối tất cả, ngoại trừ bốn trường hợp. Bốn ứng viên này được các thành viên gia tộc cẩn trọng chọn lựa, thuần túy dựa vào nhân phẩm tốt và thành tựu.

“Điều quan trọng nhất với chúng tôi,” bà ta nói tiếp, “đấy là ngôi nhà của cha tôi gây dựng nên phải được truyền lại cho người mà ông ấy hẳn sẽ chấp thuận và cho là xứng đáng với nó. Dĩ nhiên, hoàn cảnh buộc chúng tôi phải cân nhắc khía cạnh tài chính, nhưng đây hoàn toàn là vấn đề thứ yếu. Vì vậy chúng tôi đã đưa ra một mức giá.”

Người em trước đó hầu như không nói gì, đến lúc này đã đưa cho tôi một phong thư, và họ nghiêm nghị xem tôi mở thư. Trong đó duy mỗi tờ giấy trắng, trên đó chỉ có một con số được viết tay rất tinh tế bằng bút lông. Tôi toan tỏ vẻ sửng sốt vì mức giá bèo bọt, nhưng hai khuôn mặt trước tôi như đang ngầm ý rằng bàn bạc thêm nữa chuyện tiền nong sẽ bị coi là xúc phạm. Người chị chỉ nói: “Đây không phải là để khích cho người này cố trả giá cao hơn người kia. Chúng tôi không quan tâm đến việc nhận được nhiều hơn mức giá đã định. Điều chúng tôi muốn là tiến hành một cuộc đấu giá về uy tín.”

Họ đích thân đến đây, bà giải thích, để thay mặt gia tộc Sugimura chính thức đề nghị rằng tôi chấp nhận – dĩ nhiên cùng ba ứng viên khác – một cuộc điều tra nghiên cứu kỹ hơn gia thế và tư cách của tôi. Nhờ thế họ có thể chọn được một người mua phù hợp.

Một thủ tục quái dị, nhưng tôi thấy chẳng có lý do gì để phản đối; suy cho cùng thì việc này có khác nào tham gia vào một cuộc đàm phán hôn nhân đâu. Kỳ thực, tôi còn cảm thấy có phần hãnh diện vì được gia tộc thủ cựu và lâu đời này coi là một ứng cử viên xứng đáng. Khi tôi đồng ý với việc điều tra nghiên cứu, và bày tỏ lòng cảm kích với họ, người em mới lần đầu tiên mở lời với tôi: “Anh Ono ạ, cha tôi là người có học thức. Ông rất tôn trọng những họa sĩ. Kỳ thực, ông ấy biết về công việc của anh.”

Những ngày sau đó, tôi tự đi tìm hiểu và phát hiện ra sự thực trong lời nói của người em; Akira Sugimura quả thực là một người đam mê nghệ thuật, ông đã nhiều dịp ủng hộ tiền cho các cuộc triển lãm. Tôi cũng biết được nhiều tin đồn thú vị: một bộ phận không nhỏ trong gia tộc Sugimura, dường như phản đối việc bán căn nhà bằng mọi giá, và đã có những tranh cãi gay gắt. Cuối cùng, áp lực tài chính khiến cho việc bán nhà là không thể tránh khỏi, và những thủ tục kỳ dị xung quanh giao dịch này thể hiện sự thỏa hiệp với những người không muốn chuyển nhượng ngôi nhà cho người ngoài. Không thể phủ nhận rằng những yêu cầu này có gì đó thật là trịch thượng; nhưng về phần mình, tôi đã đả thông tư tưởng mà cảm thông với những tình cảm của gia tộc có một lịch sử danh giá như vậy. Tuy nhiên, vợ tôi không vui vẻ gì đối với cuộc điều tra.

“Họ nghĩ họ là ai chứ?” bà phản đối. “Ta nên bảo là chúng ta không muốn dính líu gì với họ nữa.”

“Nhưng có hại gì đâu?” tôi phản bác. “Chúng ta không có gì đáng phải giấu giếm. Thực vậy, gia cảnh ta đâu có giàu có gì, mà chắc chắn nhà Sugimura đã biết cái đó rồi, vậy mà họ vẫn coi ta là ứng cử viên xứng đáng. Cứ để họ điều tra, họ chỉ có thể tìm được những điểm có lợi cho chúng ta mà thôi.” Và tôi thêm một ý nữa: “Dù sao thì, giả như chúng ta có đàm phán hôn nhân với nhà họ, thì họ cũng chỉ làm đến thế là cùng. Chúng ta sẽ phải quen với những chuyện như thế này.”

Ngoài ra, “cuộc đấu giá uy tín”, như cách gọi của người chị gái, nhất định là một ý tưởng đáng ngưỡng mộ. Ta tự thắc mắc sao mọi chuyện không được giải quyết thường xuyên hơn theo cách ấy. Một cuộc đua tranh như thế quả vinh dự hơn nhiều, ở đó đạo đức và thành tựu của một người được mang ra làm bằng chứng thay cho độ dày ví tiền. Tôi vẫn còn nhớ niềm thỏa mãn sâu sắc mình cảm thấy khi biết được rằng gia tộc Sugimura – sau một cuộc điều tra cực kỳ kỹ lưỡng – đã đánh giá tôi là người xứng đáng nhất với căn nhà mà họ vô cùng trân quý. Và chắc chắn, căn nhà ấy xứng đáng để một người phải chịu chút ít phiền toái với nó; bởi đối lập với vẻ bề ngoài uy nghi và bề thế, nội thất bên trong được người ta chọn loại gỗ mềm tự nhiên, vân đẹp, mà hễ ai sống ở đó sẽ thấy nó dễ mang lại cảm giác thư thái và tĩnh tại nhất.

Dẫu cho sự trịch thượng của gia tộc Sugimura hiển hiện khắp mọi khâu giao dịch, một số thành viên gia tộc còn không buồn che giấu thái độ thù nghịch của họ với chúng tôi, và một người mua kém cảm thông hơn sẽ lấy làm phật lòng và bỏ cuộc. Thậm chí những năm sau này, khi thỉnh thoảng tôi tình cờ gặp lại một vài thành viên gia tộc họ, thay vì trao đổi những lời xã giao thông thường, họ cứ đứng đó ngoài phố mà tra khảo tôi về tình trạng căn nhà và liệu tôi có sửa sang gì không.

Độ gần đây, tôi hiếm khi nghe nói đến gia tộc Sugimura. Tuy nhiên, người em gái, từng đến gặp tôi khi họ bán nhà, đã tới thăm tôi không lâu sau khi nước Nhật đầu hàng. Những năm chiến tranh đã biến bà ấy thành bà cụ già gầy gò ốm yếu. Đúng theo cái lối đặc trưng của gia tộc, bà chẳng cất công giấu giếm mối bận tâm của bà là căn nhà – chứ không phải người cư ngụ trong đó – đã chống chọi thế nào trong chiến tranh; khi hay tin về vợ tôi và Kenji, bà chỉ thoáng bày tỏ ái ngại, rồi lại lao vào những câu hỏi về tổn hại mà bom đạn gây ra cho ngôi nhà. Ban đầu, điều này khiến tôi có chút gay gắt với bà; nhưng tôi bắt đầu chú ý cặp mắt bà ta vô thức nhìn lướt khắp phòng, thỉnh thoảng bất đồ dừng lại giữa những câu nói nghiêm trang, thận trọng, và tôi nhận ra trong lòng bà đang dâng những làn sóng cảm xúc khi thấy mình lại ở trong căn nhà này. Lúc ấy, khi tôi ngờ ngợ rằng từ lúc bán nhà đến nay, hầu hết mọi người trong gia tộc bà đều đã mất, tôi bắt đầu thấy thương xót cho bà, và mời bà đi xem nhà một vòng.

Căn nhà cũng chịu phần thiệt hại chiến tranh. Akira Sugimura đã xây một chái nhà phía Đông, gồm ba phòng lớn nối với nhà chính bằng một hành lang dài chạy dọc một bề khu vườn. Hành lang này dài thái quá đến mức mọi người đồn đoán rằng Sugimura đã xây nó – cùng với chái nhà phía Đông – cho cha mẹ ông ở, vì ông ta muốn biệt lập với họ. Dầu sao thì hành lang này là một trong những nét quyến rũ nhất của ngôi nhà; về chiều, ánh nắng và bóng của những tán lá cây ngoài kia vắt ngang cả đoạn đường này, khiến người ta cảm thấy như đang đi qua đường hầm của khu vườn. Bom đạn chủ yếu phá hoại phần này của ngôi nhà, và khi chúng tôi đứng ở vườn quan sát, tôi có thể thấy bà Sugimura suýt trào lệ. Lúc này, những cảm xúc bực bội của tôi với bà đã biến mất, và tôi đảm bảo với bà rằng sẽ cố gắng sửa chữa phần thiệt hại kia ngay khi có thể, để ngôi nhà trở về nguyên trạng như khi cha bà đã xây nó.

Khi hứa với bà như vậy, tôi không ngờ rằng nguyên vật liệu thời bấy giờ lại khan hiếm đến thế. Suốt một thời gian dài sau khi Nhật đầu hàng, người ta phải đợi hàng tuần mới mua được một tấm gỗ hay được một lô đinh ốc. Trong hoàn cảnh đó, điều tôi có thể làm được là sửa chữa phần chính của ngôi nhà – vốn cũng không hoàn toàn tránh được thiệt hại – tiến độ sửa chữa hành lang ngoài vườn và chái nhà phía Đông rất chậm chạp. Tôi đã làm hết sức để căn nhà khỏi bị xuống cấp nghiêm trọng, nhưng còn lâu nữa chúng tôi mới có thể mở lại phần ấy của căn nhà. Hơn nữa, giờ chỉ còn Noriko và tôi sống ở đây, nhu cầu mở rộng không gian sống của chúng tôi cũng không lấy làm cấp bách.

Ngày nay, nếu tôi dẫn bạn tới phần hậu nhà và kéo khung cửa nặng nề ra đặng giúp bạn thả mắt xuống phần còn lại của lối đi cạnh vườn, hẳn bạn vẫn có ấn tượng trước đây nó từng đẹp đẽ thế nào. Nhưng chắc chắn bạn sẽ nhận thấy những mạng nhện hay vệt mốc mà tôi không thể dọn dẹp; và những kẽ nứt lớn trên trần, phải nhờ đến những tấm vải bạt để che mưa che nắng. Đôi khi, trong buổi sáng sớm, tôi lại kéo khung cửa ra để thấy ánh dương xuyên qua những tấm vải bạt thành những vạt sáng đục, làm hiện lên những đám mây bụi lơ lửng trong không khí như thể trần hành lang chỉ mới vừa sập xuống ngay lúc ấy.

Ngoài phần hành lang và chái nhà phía Đông, nơi bị hủy hoại nghiêm trọng nhất là hiên nhà. Những thành viên trong gia đình tôi, nhất là hai cô con gái, luôn thích thú ngồi đây giết thì giờ, chuyện trò và ngắm khu vườn; và vì vậy, khi Setsuko – đứa con gái đã thành thân – về thăm chúng tôi lần đầu tiên sau sự kiện đầu hàng, tôi không ngạc nhiên khi thấy con bé buồn rầu biết bao trước tình cảnh ấy. Lúc ấy tôi đã sửa sang được phần hư hại nặng nhất, nhưng một đầu hiên vẫn bị vênh và nứt toác – do sức ép bom nổ đã đẩy những tấm ván sàn bật lên. Mái hiên cũng bị ảnh hưởng, và vào những ngày mưa, chúng tôi vẫn phải dùng đồ đựng xếp dài trên sàn để hứng nước rỏ xuống.

Tuy nhiên, năm ngoái tôi cũng tạo được tiến triển nhất định, và vào thời điểm Setsuko về thăm vào tháng trước, hiên nhà ít nhiều được khôi phục hoàn toàn. Noriko xin nghỉ phép để đón chị gái về chơi, và nhờ trời đẹp, hai cô con gái nhà tôi dành phần nhiều thời gian ngoài hiên nhà như thuở xưa. Tôi thường tham gia cùng, và đôi lúc cảm giác dường như giống hệt nhiều năm về trước, vào một ngày nắng đẹp, gia đình quây quần ngồi bên hiên nhà thảnh thơi trò chuyện, thường là những câu chuyện phiếm. Một lúc nào đó vào tháng trước – hẳn là buổi sáng đầu tiên khi Setsuko về thăm – chúng tôi lại ra hiên ngồi sau bữa sáng, Noriko nói:

“Em thấy nhẹ cả đầu vì cuối cùng chị cũng về, Setsuko ạ. Chị sẽ chăm lo cho cha, để em nghỉ tay một chút.”

“Noriko, thực là...” Chị gái nó gượng gạo trở mình trên gối.

“Từ hồi cha nghỉ hưu, việc chăm lo cho cha tốn nhiều thì giờ lắm.” Noriko nói tiếp, miệng cười tinh nghịch. “Chị phải sát sao cha đấy, không thì ông sẽ ủ rũ mất.”

“Thực là...” Setsuko mỉm cười lo lắng, đoạn quay ra vườn cất tiếng thở dài. “Cây phong dường như đã bình phục hoàn toàn. Trông nó thật rạng rỡ.”

“Setsuko có lẽ không biết dạo gần đây cha thế nào, cha ạ. Chị ấy chỉ nhớ cha khi cha còn là một ông bạo chúa và suốt ngày quát tháo sai bảo bọn con. Dạo này cha hòa nhã hơn nhiều, chẳng phải thế sao?”

Tôi cười lớn để tỏ cho Setsuko thấy đấy chỉ là chuyện đùa vui thôi, nhưng con gái lớn của tôi tiếp tục tỏ ra không thoải mái. Noriko lại quay sang chị gái nói. “Nhưng chăm sóc cha mất nhiều thì giờ hơn đấy, ông ủ rũ quanh nhà suốt ngày.”

“Con bé lại nói nhảm nữa rồi,” tôi xen vào. “Nếu cha ủ rũ cả ngày thì mấy việc sửa sang này sao mà thành được?”

“Quả vậy,” Setsuko nói, quay sang tôi mỉm cười. “Ngôi nhà lúc này trông tuyệt lắm rồi. Cha hẳn đã làm việc rất vất vả.”

“Cha thuê người đến giúp làm những phần việc khó nhất,” Noriko nói. “Hình như chị chẳng tin em, Setsuko. Giờ cha rất khác rồi. Không cần phải sợ cha nữa đâu. Cha nhẹ nhàng hơn và thuần hơn nhiều rồi.”

“Noriko, thực là...”

“Cha thậm chí thỉnh thoảng còn nấu ăn nữa. Chị không tin nổi đúng không? Nhưng dạo này cha nấu ăn ngon phết rồi đấy.”

“Noriko, chị nghĩ chuyện này bàn đến đây là đủ rồi,” Setsuko nói khẽ.

“Chẳng phải thế sao, cha nhỉ? Cha đã tiến bộ lắm lắm luôn ý.”

Tôi lại mỉm cười và ngán ngẩm lắc đầu. Lúc ấy, như tôi nhớ, Noriko quay mặt ra vườn, nheo mắt lại vì nắng, đoạn nói:

“Ồ, cha không phải trông chờ em về nhà nấu cơm sau khi em lấy chồng nữa. Không phải chăm sóc cha thì em cũng có đủ việc để làm rồi.”

Khi Noriko nói vậy, chị gái nó – cho đến lúc ấy vẫn bẽn lẽn nhìn lảng đi – liền thoáng nhìn tôi dò hỏi. Con bé lại lập tức quay mặt đi, vì còn phải đáp lại nụ cười của Noriko. Nhưng một nỗi bứt rứt mới, ghê gớm hơn đã thấm vào điệu bộ của Setsuko và con bé có vẻ mừng rỡ khi con trai nó chạy vụt qua chúng tôi, tạo cơ hội để nó đổi chủ đề.

“Ichiro, yên nào!” con bé gọi với theo.

Chắc chắn, sau khi phải ở trong căn hộ hiện đại của cha mẹ thằng bé, Ichiro cảm thấy phấn khích bởi không gian rộng rãi trong ngôi nhà chúng tôi. Dù sao thì nó dường như không chia sẻ với chúng tôi niềm vui thú ngồi bên hiên, mà cứ thích chạy hộc tốc từ đầu đến cuối hiên, đôi khi còn trượt trên nền gỗ sạch bóng. Đã hơn một lần nó suýt làm lật khay trà, nhưng lời mẹ yêu cầu nó ngồi xuống đến giờ vẫn chẳng nhằm nhò gì. Cả lần này nữa, khi Setsuko gọi nó lấy gối ra ngồi với chúng tôi, nó vẫn ở cuối hiên, làm mặt hờn dỗi.

“Nào, Ichiro,” tôi gọi to, “ông thấy mệt vì nói chuyện với phụ nữ suốt từ đầu đến giờ. Cháu đến ngồi cạnh ông, chúng ta nói chuyện đàn ông đi.”

Nghe thế nó chạy đến ngay. Nó đặt gối cạnh tôi, rồi ngồi xuống tư thế đĩnh đạc nhất, tay chống nạnh, ngực ưỡn ra.

“Ông này,” nó nói với tôi vẻ nghiêm nghị, “cháu hỏi một câu nhé.”

“Được, Ichiro, câu hỏi gì vậy?”

“Cháu muốn biết quái vật đó.”

“Quái vật đó ư?”

“Nó có từ thời tiền sử phải không?”

“Tiền sử ư? Cháu đã biết những từ như thế rồi cơ à? Cháu đúng là cậu bé thông minh.”

Đến đấy, lòng tự trọng dường như đã rời bỏ Ichiro. Nó thôi làm dáng, mà lăn đùng ra, khua chân lên trời.

“Ichiro!” Setsuko gọi, giọng thì thầm nài nỉ. “Trước mặt ông mà xử sự thế là hư. Ngồi dậy ngay!”

Ichiro chỉ buông thõng chân xuống sàn, không ngọ nguậy. Rồi nó khoanh tay trước ngực, mắt nhắm lại.

“Ông,” nó nói, giọng uể oải, “con quái vật ấy ở thời tiền sử phải không?”

“Quái vật nào nhỉ, Ichiro?”

“Cha thứ lỗi cho cháu nó,” Setsuko nói, mỉm cười bồn chồn. “Hôm qua lúc bọn con đến đây, ngoài ga tàu có một tấm áp phích phim. Cháu nó làm phiền tài xế bằng rất nhiều câu hỏi. Không may là con lại không thấy tấm áp phích đó.”

“Ông! Con quái vật đó ở thời tiền sử phải không? Cháu muốn câu trả lời!”

“Ichiro!” Mẹ thằng bé hoảng sợ nhìn.

“Ông không chắc, Ichiro à. Ông nghĩ là chúng ta phải xem phim mới biết được.”

“Vậy bao giờ chúng ta mới xem phim?”

“Hừm. Tốt nhất cháu nên bàn với mẹ. Biết đâu phim này ghê quá, trẻ em không xem được.”

Tôi không có ý khiêu khích trong nhận xét đó, nhưng lại tác động đến cháu tôi thật bất ngờ. Nó ngồi chồm dậy, nhìn trừng tôi, lớn tiếng: “Sao ông dám! Ông nói gì thế!”

“Ichiro!” Setsuko thốt lên hoảng sợ. Nhưng Ichiro tiếp tục nhìn tôi bằng ánh mắt tỏ ra rất đáng sợ, và mẹ nó buộc phải rời khỏi gối để đến chỗ chúng tôi. “Ichiro!” mẹ thằng bé thì thầm vào tai nó, vừa lắc tay nó. “Đừng nhìn chằm chằm vào ông như thế.”

Ichiro đáp lại bằng cách nằm vật ra, chân giãy giụa lên trời. Mẹ nó lại mỉm cười bồn chồn với tôi.

“Thật hư quá,” Setsuko nói. Rồi dường như không biết nói gì nữa, mẹ nó lại cười.

“Cậu Ichiro,” Noriko đứng lên, nói, “sao cháu không đến giúp dì cất đồ ăn sáng?”

“Việc phụ nữ,” Ichiro nói, chân nó vẫn khua.

“Vậy Ichiro không giúp dì ư? Thế thì có vấn đề rồi đấy. Cái bàn này nặng quá, mà một mình dì không đủ sức cất đi được. Không biết ai sẽ giúp dì đây?”

Câu nói khiến Ichiro đứng bật dậy, và nó sải bước vào trong nhà mà không thèm quay lại nhìn chúng tôi. Noriko cười phá lên và đi theo.

Setsuko liếc nhìn theo, đoạn nâng ấm trà, bắt đầu rót cho tôi. “Con không nghĩ chuyện đã tiến xa đến thế,” con bé nói, hạ giọng. “Ý con là chuyện mai mối hôn nhân của Noriko.”

“Chuyện chưa đi đến đâu cả,” tôi lắc đầu nói. “Thực tế là chưa có gì chắc chắn hết. Chúng ta vẫn ở giai đoạn đầu.”

“Xin cha thứ lỗi, nhưng như những gì Noriko nói lúc nãy, hẳn nhiên con cho là mọi chuyện ít nhiều...” Giọng con bé chuội đi, rồi nó nói tiếp. “Xin cha thứ lỗi.” Nhưng con bé nói theo kiểu đang bỏ ngỏ một câu hỏi.

“Cha e là đây không phải lần đầu Noriko nói như thế,” tôi nói. “Thực ra, con bé cư xử rất lạ kể từ khi vụ mai mối này bắt đầu. Tuần trước, ông Mori đến thăm nhà ta – con nhớ ông ấy không?”

“Hẳn rồi ạ. Ông ấy có khỏe không ạ?”

“Cũng khỏe. Ông ấy chỉ đi qua rồi tiện ghé thăm thôi. Vấn đề là, Noriko bắt đầu nói về cuộc mai mối hôn nhân trước mặt ông ấy. Con bé có thái độ y như lúc nãy, rằng mọi chuyện đã xong xuôi cả rồi. Thật là mất mặt. Lúc ra về ông Mori còn chúc mừng cha, rồi hỏi cha chú rể làm nghề gì nữa.”

“Quả vậy.” Setsuko nói, vẻ suy tư. “Hẳn là mất mặt lắm.”

“Nhưng đấy đâu phải lỗi của ông Mori. Lúc nãy chính con nghe con bé nói đấy mà. Thế thì người ngoài còn nghĩ thế nào được chứ?”

Con gái tôi không đáp, và chúng tôi ngồi đó im lặng một lúc. Một lần, khi tôi liếc nhìn con gái, Setsuko đang nhìn ra khu vườn, hai tay đỡ ly trà như thể đã quên mất sự tồn tại của nó. Trong lần Setsuko về thăm nhà tháng trước, đấy chính là một trong những dịp – có lẽ do một góc nắng chiếu vào hoặc điều gì đó tương tự – mà tôi thấy mình lặng ngắm diện mạo con bé. Bởi có thể chắc chắn một điều là càng lớn tuổi trông Setsuko càng mặn mà hơn. Hồi Setsuko còn nhỏ, mẹ con bé và tôi lo rằng con bé thô xấu quá, khó mà kiếm được tấm chồng tử tế. Ngay từ tấm bé, Setsuko có nét mặt khá nam tính, và đến tuổi dậy thì điều này chỉ càng rõ rệt hơn thôi; sự thể đến nỗi mà mỗi khi các con tôi cãi nhau, Noriko luôn giành phần thắng bằng cách gọi chị gái là “Đồ con trai! Đồ con trai!” Ai mà biết được những chuyện như thế sẽ tác động đến tính cách thế nào? Chắc chắn không phải ngẫu nhiên khi Noriko càng lớn càng cứng đầu, còn Setsuko lại quá ngại ngùng và nhút nhát. Nhưng giờ khi bước vào tuổi ba mươi, diện mạo của Setsuko lại mang một phẩm cách mới không hề khiêm nhường chút nào. Tôi vẫn nhớ mẹ con bé đã dự đoán điều này – “Setsuko nhà mình sẽ nở rộ vào mùa hè,” bà ấy thường nói thế. Tôi cứ nghĩ đấy chỉ là cách vợ tôi tự an ủi bản thân, nhưng rồi tháng trước, tôi vài lần thấy bất ngờ vì lời bà ấy mới chuẩn xác làm sao.

Setsuko thoát khỏi trạng thái mơ màng, và lại liếc vào trong nhà. Rồi con bé nói: “Con nghĩ là chuyện năm ngoái đã làm Noriko xáo trộn ghê gớm. Có lẽ nhiều hơn ta tưởng.”

Tôi thở dài gật đầu. “Có lẽ lúc ấy cha không quan tâm con bé đúng mức.”

“Con chắc chắn là cha đã làm hết sức mình rồi. Nhưng dĩ nhiên, chuyện như vậy quả là giáng một đòn khủng khiếp lên người phụ nữ.”

“Cha phải thừa nhận là cha đã nghĩ em con hơi đóng kịch, như nó thỉnh thoảng vẫn làm. Con bé cứ khăng khăng đó là ‘hôn nhân vì tình yêu’, nên khi hỏng chuyện, con bé đành đâm lao phải theo lao thôi. Nhưng có lẽ nó không hề đóng kịch.”

“Lúc ấy chúng ta đã cười cợt,” Setsuko nói, “nhưng có lẽ đó thực sự là một cuộc hôn nhân vì tình yêu.”

Chúng tôi lại chìm vào im lặng. Từ trong nhà, chúng tôi có thể nghe giọng Ichiro gào đi gào lại gì đó.

“Xin cha thứ lỗi,” Setsuko đổi giọng. “Nhưng chúng ta không biết được gì hơn lý do cuộc cầu hôn năm ngoái đổ vỡ sao? Chuyện thật bất ngờ.”

“Cha cũng không biết. Giờ chuyện còn quan trọng gì nữa đâu, phải không?”

“Dĩ nhiên là không, xin cha thứ lỗi.” Setsuko dường như đang cân nhắc gì đó, rồi lại nói: “Chỉ là Suichi cứ nằng nặc tra hỏi con suốt về chuyện năm ngoái, về việc tại sao nhà Miyake lại hủy hôn như thế.” Con bé cười khẽ, như thể tự cười với chính mình. “Dường như anh ấy tin rằng con biết bí mật gì đó và rằng chúng ta đều giấu anh ấy. Con phải liên tục cam đoan với anh ấy rằng chính con cũng không biết gì cả.”

“Cha đảm bảo với con,” tôi nói, có chút lạnh lùng, “cha cũng thấy chuyện đó bí ẩn không kém. Nếu cha biết, cha sẽ chẳng giấu con và Suichi.”

“Dĩ nhiên. Con xin lỗi, con không có ý ám chỉ...” Một lần nữa, giọng con bé lại chuội đi.

Có lẽ tôi đã tỏ ra hơi cộc lốc với con gái tôi buổi sáng hôm ấy, nhưng đấy không phải lần đầu tiên Setsuko tra hỏi tôi như vậy về chuyện năm ngoái việc nhà Miyake hủy hôn. Sao con bé lại tin tôi giấu nó chuyện gì chứ, tôi thật không hiểu. Nếu nhà Miyake có lý do đặc biệt để rút lui như vậy, thì đó hẳn cũng là lý do họ không thể chia sẻ điều đó với tôi.

Theo suy đoán của tôi thì chuyện đó chẳng có gì đáng kể cả. Đúng thế, việc họ thoái hôn vào phút chót là vô cùng bất ngờ, nhưng tại sao từ đó ta lại suy rằng chuyện có gì khác thường? Theo cảm nhận của tôi đó chỉ là vấn đề địa vị. Như tôi thấy, gia đình Miyake quá kiêu hãnh, quá chân chất nên họ sẽ không thấy thoải mái khi nghĩ con trai họ kết hôn với một người có địa vị cao hơn. Quả vậy, nếu là vài năm trước, họ hẳn đã thoái hôn mau lẹ hơn, nhưng khi đôi trẻ bảo đó là “hôn nhân vì tình yêu”, và ngày nay người ta cứ nói về lối sống mới lối nghĩ mới, gia đình Miyake trở nên bối rối không biết làm như nào cho phải. Chắc chắn lời giải thích chỉ phức tạp đến thế là cùng.

Cũng có thể họ bối rối vì tôi tỏ rõ thái độ chấp thuận với đôi trẻ. Bởi tôi rất xuê xoa vấn đề địa vị, tôi đơn giản là không có xu hướng coi trọng những chuyện như vậy. Quả vậy, trong đời mình tôi chưa bao giờ ý thức được rõ ràng về địa vị xã hội của bản thân, và thậm chí lúc này đây, tôi vẫn thường ngạc nhiên khi một số sự kiện, hoặc một số điều người ta nói, nhắc tôi nhớ người khác kính trọng tôi ra sao. Ví như đêm hôm nọ, tôi đến phố lạc thú xưa, khi đang uống ở quán cô Kawakami, nơi Shintaro và tôi là khách hàng duy nhất, mà cảnh tượng này ngày càng thêm thường xuyên. Như thường lệ chúng tôi ngồi trên ghế đẩu cao ở quầy bar, trò chuyện với cô Kawakami, và khi hàng giờ trôi qua mà vẫn không có thêm vị khách nào đến, câu chuyện của chúng tôi càng trở nên thân mật. Lúc nào đấy, cô Kawakami đang nói về một người họ hàng của cô, than phiền rằng chàng thanh niên không tìm được công việc xứng đáng với năng lực của cậu, thì Shintaro bỗng thốt lên:

“Cô phải nhắn cậu ấy đến gặp thầy đây, cô à! Một lời giới thiệu của thầy được gửi tới đúng chỗ, người thân của cô sẽ sớm tìm được một vị trí tử tế ngay thôi.”

“Cậu nói linh tinh gì thế Shintaro?” tôi phản đối. “Giờ tôi đã nghỉ hưu rồi. Tôi làm gì còn mối quan hệ nào nữa chứ.”

“Một lời giới thiệu từ một người như thầy sẽ khiến bất kỳ ai cũng phải kính nể,” Shintaro khăng khăng. “Cứ bảo cậu ấy đến gặp thầy, cô à.”

Ban đầu tôi cũng hơi sững sờ vì thái độ chắc nịch trong nhận định của Shintaro. Nhưng rồi tôi nhận ra anh ta lại đang nhớ đến nghĩa cử nho nhỏ mà tôi đã làm cho em trai anh ta nhiều năm trước.

Hẳn là năm 1935 hay 1936 gì đó, tôi nhớ đó chỉ là một chuyện bình thường thôi – một bức thư giới thiệu gửi đến một người quen trong Bộ Ngoại giao, đại thể như vậy. Tôi hẳn đã không để tâm nhiều đến chuyện đó, nhưng rồi một buổi chiều trong khi tôi đang nghỉ ngơi ở nhà, vợ tôi báo có khách đến thăm tôi đang chờ ngoài cổng.

“Bà đưa họ vào đi,” tôi nói.

“Nhưng họ nhất quyết không chịu vào, sợ làm phiền ông.”

Tôi ra cổng, và đứng đó là Shintaro và cậu em trai – hồi đó chỉ là một thanh niên không hơn. Ngay khi thấy tôi, họ cúi chào và cười bối rối.

“Làm ơn đứng lên nào,” tôi nói, nhưng họ tiếp tục cúi đầu và cười bối rối.

“Nào Shintaro. Vào nhà đi.”

“Không, thưa thầy,” Shintaro nói, vẫn tiếp tục cười và cúi đầu. “Chúng con đến tận nhà thầy như thế này là hỗn xược lắm rồi. Cực kỳ hỗn xược. Nhưng chúng con không thể cứ ở nhà mà không cảm ơn thầy.”

“Vào nhà đi. Chắc Setsuko vừa mới pha trà đấy!”

“Không, thưa thầy, thế thật là hỗn xược lắm.” Đoạn Shintaro quay sang em trai, thì thầm: “Yoshio! Yoshio!”

Lần đầu tiên, cậu thanh niên thôi cúi đầu và ngước lên nhìn tôi lo lắng. Đoạn cậu ta nói: “Con sẽ biết ơn thầy suốt đời. Con sẽ toàn tâm toàn ý nỗ lực để xứng đáng với sự tiến cử của thầy. Con cam đoan với thầy, con sẽ không làm thầy thất vọng. Con sẽ làm việc chăm chỉ, sẽ cố gắng làm hài lòng cấp trên. Và dù sau này có được thăng tiến đến đâu, con cũng không bao giờ quên người đã giúp con khởi đầu sự nghiệp.”

“Thực là không có gì đâu. Anh hoàn toàn xứng đáng được như thế.”

Lời này khiến hai anh em họ phản đối quyết liệt, rồi Shintaro nói với em trai: “Yoshio, chúng ta làm phiền thầy như thế đủ rồi. Nhưng trước khi về, hãy nhìn kỹ một lần nữa người đã giúp em. Chúng ta phúc đức lắm mới có được một ân nhân uy thế và rộng lượng nhường này.”

“Quả vậy,” cậu thanh nhiên lí nhí và ngước lên nhìn tôi.

“Thôi nào, Shintaro, thế này ngại quá. Vào nhà đi, chúng ta sẽ uống sake ăn mừng.”

“Không, thưa thầy, chúng con phải chào thầy thôi. Chúng con đến tận nhà quấy nhiễu buổi chiều của thầy như vậy là hỗn xược tột độ rồi. Nhưng chúng con không thể trì hoãn lời cảm ơn thầy thêm một phút nào nữa.”

Cuộc viếng thăm này – tôi phải thừa nhận – khiến tôi cũng có cảm giác thành tựu nhất định. Giữa sự nghiệp bộn bề, ấy là một trong những khoảnh khắc cho ta cơ hội nhỏ nhoi để dừng lại và ngẫm nghĩ, đột nhiên giúp ta nhận ra mình đã tiến xa đến đâu. Bởi đúng thế, tôi đã hoàn toàn vô tư khi giúp chàng thanh niên kia khởi đầu sự nghiệp. Vài năm trước, điều như vậy thật khó mà hình dung nổi, và tôi đã vươn lên một địa vị như thế mà không hề nhận ra.

“Nhiều chuyện đã thay đổi kể từ hồi đó rồi, Shintaro ạ,” tôi phản bác vào đêm hôm đó ở quán cô Kawakami. “Tôi đã giải nghệ rồi, tôi không còn nhiều mối quan hệ nữa.”

Nhưng, tôi biết, những giả định của Shintaro có lẽ cũng không hẳn là sai. Có lẽ nếu tôi quyết định kiểm thử, tôi sẽ một lần nữa ngạc nhiên trước mức độ ảnh hưởng của mình. Như tôi nói, tôi không bao giờ nhận thức rõ được địa vị của mình.

Dẫu sao, ngay cả khi Shintaro nhiều lần biểu hiện sự ngây thơ trong một số vấn đề nhất định, điều chẳng có gì đáng chê bai, thì ngày nay chẳng dễ gì tìm được một ai không bị tiêm nhiễm thứ chủ nghĩa yếm thế và nỗi cay đắng của thời chúng ta. Có một cảm giác yên tâm khi ta đến quán cô Kawakami và thấy Shintaro ngồi đó ở quầy, như người ta vẫn thấy cậu ta như vậy vào bất kỳ buổi tối nào suốt chừng mười bảy năm qua, lơ đãng xoay tròn chiếc mũ trên quầy, đúng kiểu cách xưa của cậu ta. Thật sự ta cảm thấy như thể Shintaro chẳng hề thay đổi chút nào. Cậu ta sẽ chào tôi rất lễ độ, như thể cậu ta vẫn còn là học trò của tôi, và suốt buổi tối, dù có say đến thế nào, cậu ta vẫn gọi tôi là “thầy” và giữ thái độ cung kính với tôi. Đôi khi cậu ta còn hỏi tôi những câu liên quan đến kỹ thuật hay phong cách với sự hăm hở của một cậu học việc trẻ – dù dĩ nhiên sự thực là Shintaro từ lâu đã không còn quan tâm đến bất kỳ loại hình nghệ thuật đích thực nào nữa. Mấy năm qua, cậu ta dành thời gian cho những hình minh họa sách, và chuyên môn hiện tại của cậu ta, tôi đồ, là xe cứu hỏa. Cậu ta sẽ làm việc hết ngày này qua ngày khác trong căn phòng gác mái, phác họa hết xe cứu hỏa này đến xe cứu hỏa khác. Nhưng tôi đồ rằng vào buổi tối, sau vài ly, Shintaro muốn tin rằng cậu ta vẫn là một họa sĩ trẻ mộng mơ mà tôi đã nhận chỉ dạy.

Khía cạnh ngây ngô này của Shintaro thường là nguồn tiêu khiển cho cô Kawakami, con người vốn cũng có chút tinh quái. Chẳng hạn, một tối mới gần đây, trong cơn mưa bão, Shintaro đã chạy vào quán rồi vắt mũ trên thảm trước cửa.

“Thật tình, cậu Shintaro!” cô Kawakami quát lên. “Sao lại cư xử tệ hại như vậy chứ!”

Lúc này, Shintaro ngước lên, vẻ mặt khốn khổ lắm, như thể cậu ta đã phạm một tội tày trời. Sau đó cậu ta bắt đầu xin lỗi rối rít, như thế lại làm cô Kawakami càng đùa tợn.

“Tôi chưa thấy thái độ nào tệ hại như vậy, cậu Shintaro ạ. Cậu hình như chả tôn trọng gì tôi cả.”

“Thôi dừng lại đi, cô Kawakami,” tôi nài cô sau một lúc. “Đủ rồi đấy, hãy nói với cậu ta rằng cô chỉ đùa thôi.”

“Đùa ư? Tôi mấy khi đùa đâu. Đấy đúng là cực kỳ thất lễ.”

Và cô được thể dấn tới, cho đến khi Shintaro bắt đầu trông rất đáng tội. Nhưng có những lần khác, Shintaro lại tin rằng mình đang bị chọc ghẹo trong khi thực tế người ta đang quở mắng cậu rất nghiêm khắc. Đấy là lúc cậu ta đã đẩy cô Kawakami vào thế khó khi hớn hở phát biểu về vị tướng vừa mới bị tuyên là tội phạm chiến tranh và bị xử tử: “Từ bé tôi luôn ngưỡng mộ ông ấy. Tôi không biết giờ ông ấy sao rồi. Nghỉ hưu, chắc chắn như vậy.”

Vài khách lạ có mặt vào đêm hôm đó đã nhìn cậu ta với vẻ khó chịu. Cô Kawakami, vì lo lắng cho việc làm ăn của quán, đã đến chỗ cậu ta và nhắc khẽ về số phận của vị tướng kia, thì Shintaro đã cười ầm lên.

“Thật tình, cô à,” cậu ta nói lớn. “Lắm khi cô đùa quá quắt lắm.”

Mức độ thiếu hiểu biết của Shintaro về những chuyện như vậy đôi khi cũng thật kinh ngạc, nhưng như tôi nói, đấy không phải điều đáng chê bai. Ta nên thấy vui vì vẫn còn có những người không bị tiêm nhiễm thói bi quan thời thế. Thực ra, có lẽ chính bởi phẩm chất này của Shintaro – theo nghĩa cậu ta dường như vô nhiễm trước sự đời – đã khiến tôi ngày càng thấy thích thú được bầu bạn với cậu ta những năm qua.

Về phần cô Kawakami, dù cô sẽ gắng hết sức không để tâm thế hiện tại ảnh hưởng đến mình, thì có một điều không thể chối cãi ấy là những năm tháng chiến tranh đã làm cô già sọm đi. Trước chiến tranh, cũng có thể coi cô là một “thiếu phụ”, nhưng kể từ cuộc chiến ấy, có gì đó bên trong cô đã tan nát, lụi bại. Và khi nhớ đến những gì cô đã mất trong chiến tranh, ta sẽ không còn ngạc nhiên nữa. Công việc kinh doanh cũng ngày càng khó khăn; chắc chắn, cô khó mà tin nổi đây chính là khu phố nơi cô lần đầu mở cái quán nhỏ bé này cách đây mười sáu, mười bảy năm về trước. Vì cái phố hoan lạc xưa của chúng tôi giờ chẳng còn lại gì; gần như tất cả những chủ hiệu khác đã đóng cửa và bỏ đi, và cô Kawakami hẳn phải hơn một lần cân nhắc làm điều tương tự.

Nhưng khi quán cô mới khai trương, nó đã bị kẹp giữa bao nhiêu là quán rượu và nhà hàng, tôi nhớ một số người đã ngờ vực không biết quán có tồn tại được bao năm. Thực vậy, ta khó lòng thả bộ dọc những con phố nhỏ mà không quệt phải hằng hà sa số các biển hiệu vải bủa vây tứ bề, từ các mặt tiền hàng quán ngả về phía ta, mỗi bảng hiệu đều trình bày những nét hấp dẫn của quán mình bằng những con chữ sinh động. Nhưng vào lúc bấy giờ, lượng khách khứa lui tới ở phố này đủ để quán nào cũng làm ăn khấm khá. Đặc biệt vào những buổi tối ấm áp, khu vực này đầy những người thảnh thơi đi hết quán rượu này sang quán khác, hoặc cứ thế đứng trò chuyện giữa phố. Xe cộ từ lâu đã thôi chạy qua đây, và đến cả xe đạp cũng khó khăn lắm mới nhích được giữa dòng người nhẩn nha tản bộ.

Tôi nói “khu phố hoan lạc của chúng tôi”, nhưng tôi cho đây thực ra chỉ là một nơi để ta uống, ăn và trò chuyện, không hơn. Muốn tìm khoái lạc thật sự, hẳn bạn phải vào trung tâm thành phố – nơi có những quán geisha hay nhà hát. Tuy nhiên với tôi, khu phố của chúng tôi luôn là dễ ưa hơn. Nó thu hút một đám đông náo nhiệt nhưng đáng kính, trong số đó có nhiều người như chúng tôi – những họa sĩ và nhà văn bị dẫn dụ bởi hứa hẹn về những cuộc trò chuyện sôi nổi thâu đêm. Quán nhóm chúng tôi hay lui tới tên là “Migi-Hadari”, và nằm ngay ở điểm giao nhau của ba con phố nhỏ tạo thành một khoảng sân lát đá. Không như những quán cạnh đó, Migi-Hidari là một nơi rộng rãi, có tầng hai, cùng nhiều nữ phục vụ mặc cả trang phục Tây phương lẫn truyền thống. Tôi đã góp một phần nhỏ giúp cho Migi-Hidari lấn át các đối thủ cạnh tranh của quán, và để ghi nhận đóng góp ấy, nhóm của chúng tôi được dành riêng một bàn ở trong góc quán chỉ để cho chúng tôi sử dụng. Những người từng uống rượu cùng tôi ở đó, thực tế toàn là học trò ưu tú của tôi: Kuroda, Murasaki, Tanaka – những thanh niên tài giỏi, mà danh tiếng ngày càng gia tăng. Tất cả bọn họ say sưa với những cuộc bàn luận, và tôi nhớ nhiều cuộc tranh luận sôi nổi diễn ra quanh chiếc bàn ấy.

Tôi phải nói rằng Shintaro chưa bao giờ nằm trong nhóm tinh tuyển đó. Bản thân tôi hẳn sẽ không phản đối việc cậu ta gia nhập nhóm, nhưng các học trò của tôi luôn có một ý thức mãnh liệt về thứ bậc, và Shintaro chắc chắn không được xếp vào hàng đầu. Thực tế, tôi nhớ vào một đêm, không lâu sau khi Shintaro và em trai cậu ta đến nhà tôi, tôi đã bàn về chuyện này bên bàn rượu. Tôi nhớ những người như Kuroda đã cười cợt chuyện anh em nhà họ thấy biết ơn thế nào với “việc bổ nhiệm một chân văn phòng thuần túy”; nhưng lúc ấy tất cả nghiêm nghị lắng nghe khi tôi thuật lại quan điểm của mình về việc tầm ảnh hưởng và địa vị có thể len lỏi tìm đến những người chỉ biết đắm đuối với công việc, không phải vì theo đuổi những mục đích ấy, mà chỉ cốt tìm niềm thỏa mãn được mang hết năng lực của mình ra khi hoàn thành công việc. Nói đến đó, một trong số họ – chắc chắn là Kuroda – đã nghiêng người về trước và nói:

“Đôi lúc con trộm nghĩ thầy cũng không nhận ra mình có địa vị cao thế nào trong mắt của người dân thành phố. Quả thực, trường hợp mà thầy vừa nhắc đến đã thừa đủ để minh chứng, danh tiếng của thầy giờ đã vượt ra ngoài thế giới hội họa mà chạm đến mọi tầng lớp trong xã hội. Nhưng hẳn là thế rồi, bản chất khiêm nhường của thầy khiến thầy không hề nhận ra điều ấy. Hẳn là thế rồi, chính thầy sẽ là người ngạc nhiên nhất về lòng tôn kính người ta dành cho thầy. Nhưng với tất cả chúng con ở đây, điều đó lại chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả. Kỳ thực, có thể nói rằng dù thầy nhận sự tôn trọng lớn lao của đại đa số công chúng, chỉ chúng ta ở đây, tại bàn này, mới biết nó còn thua kém nhường nào so với mức độ xứng đáng với thầy. Nhưng cá nhân con thì không nghi ngờ gì cả. Danh tiếng của thầy sẽ còn lớn hơn nữa, và trong những năm tới, niềm vinh dự hãnh diện nhất của chúng con sẽ là nói với mọi người rằng mình từng là học trò của Masuji Ono.”

Lúc bấy giờ chuyện này chẳng có gì khác thường; nó đã trở thành một thói quen, đến một thời điểm nào đó vào buổi tối, khi tất cả chúng tôi đã biêng biêng chút đỉnh, thì những người được tôi dìu dắt sẽ thay nhau phát biểu về lòng trung thành với tôi. Và đặc biệt Kuroda, được coi như là người phát ngôn cho họ, chiếm một phần đáng kể trong những phát biểu đó. Dĩ nhiên, tôi thường lờ đi những lời ấy, nhưng riêng lần ấy, như khi Shintaro và em trai cậu ta đứng cúi đầu và cười ngượng nghịu trước cổng nhà tôi, tôi thấy ấm áp một niềm mãn nguyện.

Nhưng sẽ là không chính xác nếu bảo tôi chỉ giao du với những học trò giỏi nhất của mình. Thực vậy, lần đầu tiên tôi bước vào quán cô Kawakami, tôi tin mình làm vậy vì muốn dành buổi tối bàn luận chuyện gì đó với Shintaro. Hôm nay, khi nhớ lại buổi tối ấy, tôi thấy ký ức về nó hòa lẫn với những âm thanh và hình ảnh từ những bữa tối khác; những ngọn đèn lồng treo ngoài cửa, tiếng cười của những người tụ tập bên ngoài quán Migi-Hidari, mùi của thức ăn chiên ngập dầu, một nữ nhân viên phục vụ quán rượu đang thuyết phục ai đó quay về nhà với vợ – và vọng từ mọi phía là tiếng lách cách của những đôi guốc gỗ lên sàn xi măng. Tôi nhớ đó là một tối mùa hè ấm áp, và khi không tìm thấy Shintaro ở những nơi cậu ta thường lai vãng, tôi lững thững đi quanh những quán nhỏ ấy một hồi. Dù giữa các quán ắt hẳn có cạnh tranh với nhau, ở nơi đây một tinh thần hữu hảo vẫn ngự trị, và chẳng có gì lạ khi hỏi tìm Shintaro ở một trong những quán rượu như vậy vào đêm hôm đó, tôi được nữ chủ quán khuyên, không một chút phật ý, là hãy thử tìm cậu ta ở “chỗ mới”.

Tất nhiên cô Kawakami có thể chỉ ra nhiều thay đổi – những “sửa sang nho nhỏ” – mà cô đã thực hiện suốt những năm qua. Nhưng ấn tượng của tôi là cái quán nhỏ bé ngày hôm nay trông vẫn y hệt như cái đêm đầu tiên tôi đến. Khi bước vào quán, cái đập ngay vào mắt khách là sự tương phản giữa quầy bar, được thắp sáng bởi những ngọn đèn ấm áp, treo thấp, và phần còn lại của căn phòng chìm trong bóng tối. Hầu hết khách khứa thích ngồi ở quầy bar trong quầng ánh sáng đó, điều này tạo một cảm giác ấm áp và gần gũi cho quán. Tôi nhớ đã nhìn chung quanh đầy ưng ý vào cái đêm đầu tiên ấy, và hôm nay, dẫu thế giới bên ngoài có trải qua bao dâu bể, quán của cô Kawakami vẫn tạo được cảm giác hài lòng như xưa.

Nhưng ngoài điều ấy ra, chẳng mấy thứ còn được như xưa. Giờ đây, bước ra khỏi quán cô Kawakami, bạn có thể đứng ở cửa quán và tin rằng bạn vừa uống ở một chốn hẻo lánh ngoài rìa nền văn minh. Khắp chung quanh, không còn gì ngoài một hoang mạc những tàn tích đổ nát. Chỉ có phần hậu của những tòa nhà xa xa nhắc bạn nhớ rằng mình không cách quá xa trung tâm thành phố. “Thiệt hại chiến tranh,” cô Kawakami gọi như vậy. Nhưng tôi nhớ mình đã dạo bộ quanh khu phố này không lâu sau khi đầu hàng, và nhiều tòa nhà vẫn còn nguyên vẹn. Quán Migi-Hidari vẫn ở đó, cửa sổ vỡ hết, một phần mái sụt xuống. Và khi đi qua những ngôi nhà tàn tạ đó tôi nhớ mình đã tự hỏi rằng liệu chúng có thể nào sống lại nữa không. Rồi một sáng tôi đi qua, những chiếc máy ủi đã kéo sập tất cả.

Nên giờ phía bên kia đường chẳng còn gì ngoài đống gạch vụn. Chắc chắn chính quyền đã có kế hoạch, nhưng nó đã ở trong tình trạng ấy ba năm rồi. Mưa đã tạo thành những vũng nhỏ dần dà tù đọng giữa đống gạch vụn. Hệ quả là, cô Kawakami buộc phải lắp lưới chống muỗi lên cửa sổ – không phải một thứ cô nghĩ sẽ thu hút khách hàng.

Những tòa nhà cùng một bên đường với quán cô Kawakami vẫn còn đó, nhưng nhiều nơi không có người ở; tỉ dụ, hai căn nhà ở hai bên quán cô, đã bị bỏ không một thời gian, một tình trạng khiến cô lo lắng. Nếu bỗng nhiên cô giàu có, cô thường bảo chúng tôi, cô sẽ mua những căn nhà đó mà mở rộng quán. Trong lúc đó, cô sẽ đợi người chuyển vào ở; cô sẽ không phiền nếu chúng trở thành quán rượu như quán của cô, miễn là cô không còn phải sống giữa một cái nghĩa trang nữa.

Nếu bạn bước ra khỏi quán của cô Kawakami khi màn đêm buông xuống, bạn có thể buộc phải dừng lại một lúc để nhìn cái vùng đất hoang mênh mông trước mắt. Bạn có thể nhìn ra, giữa những đống gạch gỗ vụn nát, và có lẽ rải rác đây đó, những mẩu đường ống nhô ra trên mặt đất như cỏ dại. Rồi khi bạn bước qua những đống gạch vụn, nhiều vũng nước nhỏ sẽ thoáng lóa lên khi chúng bắt ánh đèn.

Và trên đường tới chân đồi dẫn lên nhà tôi, nếu bạn dừng lại ở Cầu Dùng Dằng, rồi nhìn về phía tàn tích của khu phố hoan lạc xưa, nếu ánh chiều tà vẫn chưa tắt hẳn, bạn có thể thấy dãy cột điện tín cũ – vẫn không chăng dây – đang chìm vào bóng tối u uẩn trên con đường bạn vừa qua. Và bạn có thể nhận ra những đàn chim đậu chen chúc trên đỉnh cột, như thể đợi chờ những đường dây mà trước đây chúng từng đậu men theo xếp hàng trên nền trời.

Một tối cách đây không lâu, tôi đang đứng trên chiếc cầu gỗ nhỏ nhắn đó, và thấy từ xa hai cột khói bốc lên từ đống đổ nát. Có lẽ đấy là những công nhân nhà nước đang tiếp tục chương trình chậm chạp không bao giờ kết đó; hay có lẽ là lũ trẻ đang sa vào một trò chơi phá phách nào đó. Nhưng cảnh tượng những cột khói ấy in trên nền trời khiến tôi rơi vào tâm trạng sầu muộn. Chúng như những giàn thiêu tại một tang lễ vắng bóng người. Một nghĩa trang, cô Kawakami nói, và khi ta nhớ đến tất cả những người từng thường xuyên tới đó, ta không khỏi thấy như vậy.

Nhưng tôi lại lạc đề rồi. Tôi đang cố nhớ lại những chi tiết trong lần Setsuko về thăm chúng tôi tháng trước.

Như tôi có lẽ đã nói, Setsuko dành gần hết ngày thăm đầu tiên để ngồi ngoài hiên nhà chuyện trò với em gái. Một lúc nào đó vào buổi chiều, khi các con tôi đang đặc biệt mải mê trong những câu chuyện phụ nữ, tôi nhớ mình đã rời chỗ chúng để đi tìm cháu tôi mới chạy vào trong nhà vài phút trước.

Tôi đang đi dọc hành lang thì nghe một tiếng sầm làm rung chuyển cả căn nhà. Tôi hoảng hồn chạy vội vào phòng ăn. Tầm giờ này, phần lớn phòng ăn vẫn chìm trong bóng tối, và từ ngoài hiên sáng sủa đi vào, mắt tôi phải mất một lúc mới chắc chắn rằng Ichiro không có trong phòng ấy. Rồi một tiếng sầm khác, tiếp sau đó là nhiều tiếng nữa, cùng với giọng cháu tôi gào lên: “Yah! Yah!” Tiếng ồn phát ra từ phòng đàn dương cầm bên cạnh. Tôi đến trước cửa, lắng nghe một lúc, rồi khẽ kéo vách.

Trái với phòng ăn, phòng đàn dương cầm bắt nắng suốt cả ngày. Căn phòng ngập tràn ánh sáng trắng rực, gắt, và nếu nó rộng hơn, thì sẽ là nơi lý tưởng để chúng tôi dùng làm phòng ăn. Có lần, tôi đã sử dụng phòng này để chứa tranh và đồ vẽ, nhưng bây giờ, ngoài chiếc đàn đứng kiểu Đức, căn phòng gần như trống không. Chẳng trách, căn phòng trống trải đã gợi niềm thích thú cho cháu tôi hệt như cái hiên nhà trước đó; vì tôi thấy nó đi lại giữa sàn nhà với cử động sầm sầm khó hiểu, mà tôi đồ là đang thủ vai một người cưỡi trên lưng ngựa chạy qua vùng đất thênh thang. Vì lưng nó quay về phía cửa, phải một lúc nó mới nhận ra mình đang bị quan sát.

“Ông!” nó nói, quay lại giận dữ. “Ông không thấy cháu đang bận à?”

“Ông xin lỗi, Ichiro, ông không nhận ra.”

“Giờ cháu không chơi với ông được đâu.”

“Ông xin lỗi. Nhưng ở ngoài này ông nghe thấy tò mò quá, nên ông mới tự hỏi có thể vào trong xem được không.”

Một lúc, cháu tôi tiếp tục nhìn tôi với vẻ cáu kỉnh. Đoạn nó nói, chẳng mấy hào hứng. “Thôi cũng được. Nhưng ông phải ngồi yên đấy. Cháu đang bận.”

“Ừ tốt lắm,” tôi bật cười nói. “Cảm ơn cháu nhiều, Ichiro.”

Cháu tôi tiếp tục chằm chằm nhìn khi tôi đi vào phòng và ngồi xuống bên cửa sổ. Đêm hôm trước khi hai mẹ con nó về đây, tôi đã tặng nó một món quà là tập giấy vẽ và một bộ sáp màu. Lúc này tôi nhận ra tập giấy nằm trên tấm chiếu tatami cạnh đó, ba bốn cây sáp màu nằm vương vãi. Tôi có thể thấy vài tờ giấy bắt đầu có hình vẽ và toan với tay lấy lên xem, thì Ichiro đột nhiên diễn tiếp vở kịch mà tôi đã xen ngang.

“Yah! Yah!”

Tôi quan sát một lúc, nhưng không hiểu mấy cảnh nó đang diễn. Có những lúc, nó sẽ lặp lại động tác cưỡi ngựa; những lúc khác, nó ra vẻ như đang chiến đấu với vô số kẻ thù vô hình. Trong suốt thời gian đó, nó cứ liên tục lẩm bẩm lời thoại trong miệng. Tôi cố đoán, nhưng dường như tôi thấy nó không nói thành từ ngữ, chỉ là dùng lưỡi tạo ra những âm thanh.

Rõ ràng, dù cố gắng hết sức để lờ tôi đi, nó vẫn cảm thấy ức chế bởi sự hiện diện của tôi. Nhiều lần, khi đang diễn nó khựng lại giữa chừng như thể đột ngột mất hứng, trước khi lại lao vào diễn tiếp. Rồi chẳng mấy chốc nó bỏ cuộc, ngồi đánh sầm xuống sàn nhà. Tôi không biết có nên vỗ tay không, nhưng rồi nghĩ tốt hơn hết là không.

“Rất ấn tượng, Ichiro. Nói xem nào, cháu đang đóng vai gì đấy?”

“Ông đoán xem, ông.”

“Hừm. Có lẽ là tướng Yoshitsune chăng? Không ư? Vậy thì một chiến binh samurai ư? Hừm. Hay là một ninja? Ninja hệ Phong.”

“Ông nhầm hoàn toàn rồi.”

“Vậy cháu nói xem. Cháu đóng vai gì đấy?”

“Tay Súng Độc Hành!”

“Cái gì cơ?”

“Tay Súng Độc Hành! Hi yo Silver![1]”

“Tay Súng Độc Hành à? Có phải cao bồi không?”

“Hi yo Silver!” Ichiro lại bắt đầu phi nước đại, và lần này giả tiếng ngựa hí.

Tôi quan sát cháu mình một lúc. “Làm sao cháu biết đóng vai cao bồi hả Ichiro?” Cuối cùng tôi hỏi, nhưng nó vẫn tiếp tục phi và làm tiếng ngựa hí.

“Ichiro,” tôi nói, cương quyết hơn, “ngừng một lát nghe ông nói đã. Sẽ thú vị hơn, thú vị hơn nhiều, nếu cháu đóng một nhân vật như tướng Yoshitsune. Để ông giải thích lý do cho cháu nhé? Ichiro, nghe này, Ông sẽ giải thích cho cháu. Ichiro, nghe ông này. Ichiro!”

Có lẽ tôi đã cao giọng hơn chủ định, vì nó dừng lại và nhìn tôi với vẻ sững sờ. Tôi tiếp tục nhìn nó một lát, đoạn thở dài.

“Ông xin lỗi, Ichiro, lẽ ra ông không nên xen vào. Dĩ nhiên cháu có thể diễn bất kỳ vai nào cháu thích. Cả vai cao bồi cũng được. Cháu thứ lỗi cho ông nhé. Ông lại quên mất điều đó.”

Cháu tôi tiếp tục nhìn tôi trân trân, và tôi nghĩ nó sắp bật khóc hoặc là chạy ra khỏi phòng.

“Thôi nào, Ichiro, cứ làm những gì cháu đang làm đi.”

Một lúc lâu, Ichiro vẫn nhìn tôi chằm chằm. Rồi nó đột nhiên la lên: “Tay Súng Độc Hành! Hi yo Silver!” và bắt đầu phi nước đại tiếp. Nó giẫm chân dữ dội hơn bao giờ hết, khiến cả căn phòng quanh chúng tôi rung chuyển. Tôi tiếp tục nhìn nó một lát, rồi bước đến cầm tập giấy vẽ lên.

Ichiro đã dùng đến bốn năm tờ giấy vẽ một cách lãng phí. Kỹ thuật vẽ không hề tồi, nhưng những hình phác họa – của tàu điện và tàu hỏa – mỗi hình đều chỉ vẽ được vài đường cơ bản rồi bỏ dở. Ichiro thấy tôi đang xem tập giấy vẽ của nó bèn vội vã chạy đến.

“Ông! Ai cho ông nhìn tranh đó?” Nó cố giật tập giấy vẽ khỏi tay tôi, nhưng tôi giơ cao quá tầm với của nó.

“Nào, Ichiro, đừng xấu tính thế. Ông muốn xem cháu làm gì với những bút màu ông tặng cháu. Thế cũng công bằng mà.” Tôi hạ tập giấy vẽ xuống và lật bức đầu tiên. “Rất ấn tượng, Ichiro. Hừm. Nhưng cháu biết đấy, nếu muốn thì cháu có thể vẽ tốt hơn.”

“Ông không được xem !”

Cháu tôi định giật tập giấy vẽ lần nữa, buộc tôi phải đưa tay cản lại.

“Ông! Trả sách cho cháu!”

“Nào, Ichiro, thôi đi. Cho ông xem nào. Này, Ichiro, mang bút màu đằng kia lại cho ông. Mang lại đây ta cùng vẽ. Ông sẽ chỉ cho cháu.”

Những lời đó hiệu quả đến đáng ngạc nhiên. Cháu tôi ngay lập tức thôi giành giật, rồi đi gom sáp màu bị vứt tung tóe trên sàn nhà. Khi nó quay lại, một điều gì đó mới mẻ – một dạng phấn khích – đã nhập vào thái độ của nó. Nó ngồi cạnh tôi và đưa sáp màu ra, quan sát cẩn thận nhưng không nói gì.

Tôi lật sang tờ mới trên tập giấy vẽ và đặt trên sàn trước mặt nó. “Cháu vẽ trước cho ông xem nào, Ichiro. Rồi ông sẽ xem có thể giúp cháu vẽ đẹp hơn không. Cháu muốn vẽ gì nào?”

Cháu tôi trở nên rất im lặng. Nó nhìn xuống tờ giấy trắng, vẻ suy tư, nhưng không vẽ.

“Sao cháu không thử vẽ cái cháu thấy hôm qua nhỉ?” Tôi gợi ý. “Cái cháu thấy lúc vừa vào thành phố ấy.”

Ichiro tiếp tục nhìn tập giấy vẽ. Rồi nó ngước lên hỏi: “Ông từng là họa sĩ nổi tiếng à?”

“Họa sĩ nổi tiếng ư?” Tôi bật cười. “Ông nghĩ là cháu có thể nói vậy. Có phải mẹ cháu bảo vậy không?”

“Cha bảo ông từng là họa sĩ nổi tiếng. Nhưng ông phải ngừng vẽ.”

“Ông nghỉ hưu, Ichiro ạ. Ai đến tuổi rồi cũng nghỉ hưu thôi. Cái đó chẳng có gì sai, người ta xứng đáng được nghỉ ngơi.”

“Cha bảo ông phải ngừng vẽ. Vì nước Nhật thua chiến tranh.”

Tôi lại cười, rồi với tay cầm lấy tập giấy vẽ. Tôi lật lại những tờ giấy, xem qua những hình vẽ tàu điện của cháu mình, rồi giơ ra xa hết cỡ để nhìn cho rõ hơn. “Khi đến độ tuổi nào đó, Ichiro ạ, cháu cũng sẽ muốn nghỉ ngơi thôi. Cha cháu cũng sẽ không làm việc khi đến tầm tuổi của ông. Và một ngày nào đó, cháu sẽ đến độ tuổi như ông, và cháu cũng muốn nghỉ ngơi. Nào,” – tôi quay lại trang giấy trắng và đặt tập giấy vẽ trước mặt nó – “cháu muốn vẽ gì cho ông nào, Ichiro?”

“Bức tranh trong phòng ăn là do ông vẽ à?”

“Không, đó là tranh của họa sĩ tên là Urayama. Sao, cháu thích bức đấy à?”

“Ông vẽ bức trong hành lang à?”

“Đó là tranh của một họa sĩ tài giỏi khác, một bạn cũ của ông.”

“Vậy tranh của ông ở đâu?”

“Chúng tạm thời được cất đi rồi. Nào, Ichiro, chúng ta quay lại vấn đề chính nào. Cháu định vẽ gì cho ông đây? Cháu nhớ được gì từ ngày hôm qua nào? Có chuyện gì thế, Ichiro? Bỗng dưng yên lặng quá.”

“Cháu muốn xem tranh của ông.”

“Ông chắc một cậu bé sáng dạ như cháu có thể nhớ đủ thứ trong đầu. Áp phích phim hôm qua thì sao? Áp phích có quái vật tiền sử ấy. Ông chắc cháu có thể vẽ rất đẹp. Thậm chí đẹp hơn áp phích thật.”

Ichiro dường như cân nhắc một lát. Rồi nó xoay người lại, mặt áp sát vào giấy, bắt đầu vẽ.

Dùng sáp màu nâu đậm, nó vẽ ở phần dưới của tờ giấy một dãy những chiếc hộp – những chiếc hộp ấy mau chóng trở thành đường chân trời của một thành phố. Rồi từ đó hiện ra, lù lù bên trên thành phố, là một sinh vật như loài bò sát khổng lồ đang đứng bằng hai chân sau. Lúc này cháu tôi chuyển sáp nâu sang sáp đỏ, và bắt đầu vẽ những vạch sáng chung quanh con bò sát.

“Cái gì thế, Ichiro? Lửa à?”

Ichiro không trả lời mà tiếp tục những nét màu đỏ. “Sao lại có lửa, Ichiro? Có phải nó liên quan đến việc con quái vật xuất hiện không?”

“Dây cáp điện,” Ichiro nói, với tiếng thở dài sốt ruột.

“Cáp điện à? Thú vị đấy. Ông không biết sao cáp điện lại gây cháy. Cháu có biết không?”

Ichiro lại thở dài, đoạn tiếp tục vẽ. Nó lấy sáp màu xám và bắt đầu vẽ dưới chân tờ giấy người dân trong cơn hoảng hốt đang chạy tán loạn.

“Cháu vẽ rất tốt đấy, Ichiro,” tôi nhận xét. “Có lẽ để thưởng cho cháu, mai ông sẽ đưa cháu đi xem phim. Cháu có thích không?”

Cháu tôi dừng vẽ ngước lên. “Phim kinh lắm, ông không xem nổi đâu,” nó nói.

“Ông không tin,” tôi nói, cười ồ lên. “Nhưng nó có thể làm mẹ và dì cháu khiếp sợ đấy.”

Nghe như thế, Ichiro cười phá lên. Nó lăn ngửa ra rồi lại cười tiếp. “Mẹ và dì Noriko sẽ sợ đứng tim luôn!” nó hét lên trần nhà.

“Nhưng đàn ông chúng ta sẽ khoái, phải không Ichiro? Ngày mai chúng ta sẽ đi xem. Cháu có thích thế không? Chúng ta sẽ rủ mẹ và dì cháu đi cùng và xem họ sợ thế nào.”

Ichiro tiếp tục cười vang. “Dì Noriko sẽ sợ ngay lập tức!”

“Chắc rồi,” tôi nói, rồi cười tiếp. “Tốt lắm, ngày mai cả nhà chúng ta sẽ đi. Nào, Ichiro, giờ cháu nên vẽ tiếp đi.”

“Dì Noriko sẽ sợ! Dì ấy sẽ muốn về!”

“Nào, Ichiro, vẽ tiếp nào. Cháu vẽ rất đẹp đấy.” Ichiro lại nằm úp xuống và quay lại với bức tranh. Tuy nhiên, nó dường như không còn tập trung được như trước; nó bắt đầu thêm nhiều người chạy trốn nữa ở chân bức vẽ cho đến khi các hình thù lẫn vào nhau và trở nên vô nghĩa. Cuối cùng chẳng buồn cẩn thận nữa, nó bắt đầu nguệch ngoạc lung tung ở phần dưới tờ giấy.

“Ichiro, cháu làm gì vậy? Cháu cứ vẽ như thế thì chúng ta sẽ không đi xem phim đâu. Ichiro, dừng lại đi!”

Cháu tôi đứng bật dậy và hét lên: “Hi yo Silver!”

“Ichiro, ngồi xuống. Cháu đã xong đâu.”

“Dì Noriko đâu rồi?”

“Dì đang nói chuyện với mẹ cháu. Nào, Ichiro, cháu chưa vẽ xong mà. Ichiro!”

Nhưng cháu tôi chạy ra khỏi phòng, hét lên: “Tay Súng Độc Hành! Hi yo Silver!”

Tôi không thể nhớ chính xác mình đã làm gì trong vài phút tiếp theo. Rất có thể là tôi vẫn ngồi trong phòng đàn, nhìn vào các bức vẽ của Ichiro, đầu óc nghĩ mông lung như dạo gần đây tôi càng ngày càng hay thế. Cuối cùng, tôi đứng lên và đi tìm gia đình mình.

Tôi thấy Setsuko đang ngồi một mình ngoài hiên nhìn ra vườn. Ánh nắng vẫn rực, nhưng tiết trời đã dịu đi nhiều, và khi tôi xuất hiện, Setsuko quay lại và đẩy một chiếc nệm vào khoảnh nắng cho tôi.

“Chúng con mới pha trà,” nó nói. “Cha có muốn uống không?”

Tôi cảm ơn, và khi con bé rót cho tôi, tôi đưa mắt nhìn ra vườn.

Xét những tổn hại nó phải hứng chịu trong chiến tranh, khu vườn đã phục hồi được khá nhiều, và ta vẫn có thể nhận ra đấy là khu vườn Akira Sugimura đã xây bốn mươi năm trước. Ở phía cuối vườn, gần tường sau, tôi có thể thấy Noriko và Ichiro đang ngó nghiêng một bụi trúc. Bụi trúc ấy, giống như hầu hết mọi cây và bụi khác trong vườn, đã được Sugimura bứng nguyên cả cây trưởng thành từ nơi khác về đây trồng. Kỳ thực, người ta đồn rằng Sugimura đã đích thân đi khắp thành phố, dòm ngó qua hàng rào các khu vườn, đề nghị trả những món tiền lớn cho chủ những cây hoặc bụi cây mà ông muốn bứng về. Nếu đúng là như vậy, thì cái tài chọn cây của ông quả đáng ngưỡng mộ; kết quả là – và vẫn còn đến ngày nay – một sự hài hòa lộng lẫy. Khu vườn tạo một cảm giác tự nhiên và liền mạch, không có vẻ gì là có bàn tay con người thiết kế.

“Noriko luôn rất hợp với trẻ con,” Setsuko nhận xét, mắt con bé vẫn nhìn chúng. “Ichiro rất quý dì nó.”

“Ichiro là một cậu bé ngoan,” tôi nói. “Không hề hay xấu hổ như hầu hết lũ trẻ ở độ tuổi đó.”

“Con hy vọng cháu nó không gây rắc rối gì cho cha lúc này. Nhiều lúc cháu nó rất cứng đầu. Nên cha đừng ngại quở trách nếu cháu nó làm cha thấy phiền toái.”

“Không hề gì. Ông cháu tôi hợp nhau lắm. Thực ra, chúng ta vừa mới vẽ cùng nhau.”

“Thật ư? Con chắc thằng bé thích lắm.”

“Nó cũng diễn một đoạn kịch nào đó cho cha xem,” tôi nói. “Nó bắt chước các động tác rất cừ.”

“Ồ đúng vậy. Nó thường chơi như thế một lúc lâu.”

“Cháu nó có tự chế ra từ ngữ không? Cha đã cố nghe, nhưng không thể hiểu thằng bé nói gì.”

Con gái tôi đưa tay che miệng cười. “Hẳn là cháu nó đang đóng vai cao bồi. Mỗi khi đóng vai cao bồi, thằng bé lại nói tiếng Anh.”

“Tiếng Anh à? Thật đặc biệt. Hóa ra là vậy.”

“Bọn con có lần đưa cháu đi xem một bộ phim cao bồi Mỹ ngoài rạp. Từ đó cháu rất thích mấy nhân vật cao bồi. Chúng con thậm chí mua cho cháu một cái mũ cao bồi. Thằng bé tin rằng các cao bồi cũng tạo ra những âm thanh buồn cười như nó. Hẳn cha thấy kỳ lạ lắm.”

“Té ra là vậy,” tôi bật cười nói. “Cháu ngoại cha sẽ trở thành một anh chàng cao bồi.”

Trong vườn, một cơn gió nhẹ đang khiến tán lá đung đưa. Noriko đang cúi bên một cây đèn đá cổ gần bức tường sau, đang chỉ gì đó cho Ichiro thấy.

“Nhưng mà,” tôi nói, cùng tiếng thở dài, “chỉ mới vài năm trước, Ichiro hẳn không được phép xem những thứ như là phim cao bồi.”

Setsuko, vẫn nhìn ra vườn, nói: “Suichi tin rằng thà cháu nó thích cao bồi còn hơn là thần tượng những người như Miyamoto Musashi. Suichi nghĩ các anh hùng người Mỹ là hình mẫu tốt hơn cho trẻ em ngày nay.”

“Vậy ư? Vậy ra đó là quan điểm của Suichi.”

Ichiro dường như không ấn tượng lắm với đèn đá, vì chúng tôi có thể thấy thằng bé giật mạnh tay dì nó. Bên cạnh tôi, Setsuko cười bẽn lẽn.

“Thằng bé thật ngỗ ngược. Nó cứ kéo người khác như vậy. Thật là hư.”

“Mà này,” tôi nói, “Ichiro và cha quyết định mai chúng ta sẽ đi xem phim.”

“Thật ư?” Tôi có thể thấy ngay nét hồ nghi trong thái độ của Setsuko.

“Đúng,” tôi nói, “thằng bé dường như rất ham mê quái vật tiền sử. Đừng lo, cha đã tìm hiểu trên báo rồi. Bộ phim hoàn toàn phù hợp với độ tuổi của cháu.”

“Vâng, con cũng nghĩ vậy.”

“Thực ra, cha nghĩ cả nhà ta nên đi xem. Cả nhà đi chơi, có thể nói như vậy.”

Setsuko hắng giọng lo lắng. “Thế thì tuyệt quá. Nhưng biết đâu Noriko có kế hoạch cho ngày mai rồi.”

“Ô thế ư? Kế hoạch gì vậy?”

“Con tin là em muốn cả nhà đi công viên xem hươu. Nhưng con chắc ta có thể đi công viên dịp khác.”

“Cha không hề biết Noriko có kế hoạch ấy. Chắc chắn con bé không hề hỏi ý kiến cha. Hơn nữa, cha đã bảo Ichiro là ngày mai chúng ta đi xem phim rồi. Giờ cháu nó chỉ nghĩ đến chuyện đó thôi.”

“Quả vậy,” Setsuko nói. “Con tin thằng bé thích đi xem phim.”

Noriko đang từ trong vườn đi về phía chúng tôi, Ichiro cầm tay dì kéo đi. Chắc chắn tôi sẽ phải đề cập ngay dự định ngày hôm sau với con bé, nhưng con bé và Ichiro không dừng ở ngoài hiên, mà đi luôn vào trong nhà rửa tay. Vì vậy, tôi không thể nhắc đến chuyện đó mãi cho tới bữa ăn tối.

Ban ngày phòng ăn là một nơi khá u ám vì ánh mặt trời hiếm khi chiếu được vào, nhưng sau khi trời tối, nhờ cái chụp đèn ở thấp gần mặt bàn, căn phòng bỗng có một bầu không khí ấm cúng. Chúng tôi ngồi quanh bàn được một lúc, đang đọc báo và tạp chí, thì tôi nói với cháu mình:

“Ichiro này, cháu đã bảo với dì chuyện ngày mai chưa?”

Ichiro ngừng đọc sách, ngước lên vẻ không hiểu.

“Chúng ta có cho phụ nữ đi cùng không?” tôi nói. “Có nhớ ông cháu ta đã nói gì không? Có thể họ sẽ thấy sợ đấy.”

Lúc này cháu tôi hiểu ý và nhe răng cười. “Dì Noriko sẽ không xem nổi đâu,” nó nói. “Dì có muốn đi không, dì Noriko?”

“Đi đâu cơ, Ichiro?” Noriko hỏi.

“Phim quái vật.”

“Cha nghĩ ngày mai chúng ta sẽ đi xem phim,” tôi giải thích. “Đại khái là đi chơi cả gia đình.”

“Ngày mai ư?” Noriko nhìn tôi, rồi quay sang cháu tôi. “Ồ, mai chúng ta không đi được, phải không Ichiro? Chúng ta sẽ đi công viên hươu, cháu nhớ không?”

“Đi công viên để dịp khác cũng được,” tôi nói. “Lúc này thằng bé mong được xem phim.”

“Vậy đâu có được,” Noriko nói. “Mọi việc sắp đặt hết rồi. Trên đường về nhà chúng ta sẽ thăm bà Watanabe. Bà ấy đang mong gặp Ichiro. Dù sao thì chúng ta đã quyết định lâu rồi mà. Phải không Ichiro?”

“Cha thực ra là có ý tốt,” Setsuko xen vào. “Nhưng con hiểu là bà Watanabe đang mong chúng ta. Có lẽ chúng ta nên đi xem phim vào ngày kia.”

“Nhưng Ichiro mong được xem phim,” tôi phản đối. “Chẳng phải thế sao, Ichiro? Mấy phụ nữ nhà ta thật phiền phức, nhỉ?”

Ichiro không nhìn tôi, dường như nó đang mải mê với cuốn sách.

“Cháu bảo họ đi, Ichiro,” tôi nói.

Cháu tôi tiếp tục chăm chú vào cuốn sách.

“Ichiro.”

Bỗng nhiên, nó bỏ sách xuống bàn, rồi đứng dậy chạy ra khỏi phòng, chạy vào phòng đàn dương cầm.

Tôi khẽ cười. “Kìa,” tôi nói với Noriko. “Con làm cháu nó buồn rồi đấy. Con cứ theo ý nó có phải là yên chuyện không?”

“Cha đừng buồn cười thế chứ. Chúng ta đã hẹn với bà Watanabe từ rất lâu rồi. Hơn nữa, thật buồn cười khi đưa Ichiro đi xem bộ phim như thế. Nó sẽ không thích phim như thế đâu, phải không Setsuko?”

Con gái lớn của tôi mỉm cười không thoải mái. “Thực ra cha có ý tốt,” nó nói khẽ. “Có lẽ ngày kia...”

Tôi cất tiếng thở dài, lắc đầu, rồi quay lại đọc báo. Nhưng vài phút sau, khi rõ là các con tôi không có ý dẫn Ichiro quay lại, tôi đành đứng lên và đi vào phòng đàn.

Vì không thể với tới sợi dây trên chụp đèn trần, Ichiro đã bật cái đèn trên mặt đàn. Tôi thấy nó đang ngồi trên ghế đàn, một bên đầu tựa lên nắp đàn. Nét mặt nó, ép lên mặt gỗ đen, mang một vẻ cáu kỉnh.

“Ông xin lỗi vì chuyện này, Ichiro,” tôi nói. “Nhưng cháu đừng thất vọng. Ngày kia chúng ta sẽ đi xem phim.”

Ichiro không phản ứng gì, tôi bèn nói. “Nào, Ichiro, chuyện này có gì đáng phải thất vọng đâu.”

Tôi bước đến cửa sổ. Trời bên ngoài kia khá tối, và tôi chỉ có thể nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của mình và của căn phòng phía sau tôi. Tôi có thể nghe thấy tiếng phụ nữ đang thì thầm trò chuyện từ phòng kia vọng lại.

“Vui lên nào, Ichiro,” tôi nói. “Chuyện này có gì mà phải buồn. Ngày kia chúng ta sẽ đi xem, ông hứa với cháu.”

Khi tôi quay lại phía Ichiro, đầu nó vẫn tựa trên nắp đàn như trước; nhưng bây giờ, nó vân vê những ngón tay trên mặt nắp đàn, như thể đang chơi những phím đàn.

Tôi cười khẽ. “Này, Ichiro, ngày kia chúng ta sẽ đi xem. Chúng ta không thể để phụ nữ lấn lướt chúng ta được, phải vậy không?” Tôi lại cười tiếp. “Ông chắc họ nghĩ bộ phim đáng sợ quá. Này, Ichiro?”

Cháu tôi vẫn không phản ứng gì, dù nó tiếp tục vê ngón tay trên nắp đàn. Quyết định rằng tốt nhất cứ để nó ở một mình một lát, tôi cười lần nữa rồi quay lại phòng ăn.

Tôi thấy hai con gái tôi đang ngồi im lặng đọc tạp chí. Khi ngồi xuống, tôi cất một tiếng thở dài thật nặng nề, nhưng không ai phản ứng gì cả. Tôi đeo kính và chuẩn bị đọc báo thì Noriko nói khẽ: “Cha này, chúng con pha trà nhé?”

“Con chu đáo quá, Noriko. Nhưng lúc này cha không uống đâu.”

“Còn chị thì sao Setsuko?”

“Cảm ơn em, Noriko. Nhưng chị nghĩ chị cũng không uống đâu.”

Chúng tôi tiếp tục đọc trong im lặng một lúc nữa. Rồi Setsuko nói: “Ngày mai cha có đi cùng chúng con không? Như vậy vẫn sẽ là đi chơi cả gia đình.”

“Cha cũng muốn lắm. Nhưng cha e là ngày mai còn vài việc cha phải làm.”

“Ý cha là sao?” Noriko xen vào. “Việc gì vậy?” Đoạn quay sang Setsuko, con bé bảo: “Đừng nghe cha nói. Dạo này cha chẳng có việc gì đâu. Cha sẽ chỉ ủ rũ trong nhà như cha thường làm dạo gần đây.”

“Cha có thể đi cùng chúng con thì tốt quá.” Setsuko nói với tôi.

“Tiếc quá,” tôi nói, lại nhìn xuống tờ báo của mình. “Nhưng cha có một đôi việc phải lo.”

“Vậy là ngày mai cha ở nhà một mình ư?” Noriko hỏi.

“Nếu các con đi chơi cả thì cha phải ở nhà thôi.”

Setsuko cất tiếng ho khẽ. Đoạn nói: “Vậy thì có lẽ con cũng sẽ ở nhà. Cha và con chẳng mấy khi có dịp nói chuyện với nhau.”

Noriko nhìn chằm chằm chị gái đối diện qua bàn. “Chị không cần phải bỏ chuyến đi như vậy. Chị đường sá xa xôi đến đây, chị không nên ngồi nhà cả ngày làm gì.”

“Nhưng chị rất thích ở nhà hầu chuyện cha. Chị nghĩ hai cha con sẽ có nhiều chuyện để nói.”

“Cha, xem cha đã làm gì kìa,” Noriko nói. Rồi quay sang chị gái, nó nói: “Vậy giờ chỉ còn em với Ichiro.”

“Ichiro sẽ thích được ở cả ngày với em, Noriko,” Setsuko mỉm cười nói. “Em là người cháu nó quý nhất lúc này đấy.”

Tôi rất vui vì Setsuko đã quyết định ở nhà, vì quả thực chúng tôi ít có cơ hội trò chuyện mà không bị ngắt quãng; và dĩ nhiên, có nhiều điều một người cha muốn biết về cuộc sống của đứa con gái đã thành thân mà ông không thể hỏi công khai được. Nhưng điều tôi không bao giờ nghĩ tới đêm hôm đó là Setsuko có lý do riêng để muốn ở lại với tôi.

***

Tôi dần hình thành thói quen đi vẩn vơ khắp các phòng chẳng mục đích gì, có lẽ là dấu hiệu của tuổi già. Khi Setsuko mở cửa phòng khách chiều hôm đó, vào ngày thứ hai sau khi con bé về thăm nhà – hẳn tôi đã đứng trầm tư được một lúc lâu.

“Con xin lỗi,” con bé nói. “Con sẽ quay lại sau.”

Tôi quay lại, thoáng giật mình, thấy con gái tôi đang quỳ ở ngưỡng cửa, tay cầm một cái bình đầy hoa và lộc.

“Không, con cứ vào đi,” tôi nói với con bé. “Cha có làm gì đâu.”

Nghỉ hưu cho ta nhiều thời gian hơn. Thực vậy, một trong những thú vui hưu trí ấy là ta có thể thơ thẩn hết ngày tùy ý riêng mình, thảnh thơi khi biết rằng mọi lao động vất vả và những thành tựu đã ở lại sau lưng. Tuy nhiên, hẳn tôi đã lơ đễnh lắm thì mới lang thang vu vơ vào phòng khách chứ không phải bất kỳ phòng nào khác. Bởi suốt bao nhiêu năm qua, tôi vẫn giữ cái cảm nhận do cha tôi gieo vào, rằng phòng khách của ngôi nhà là nơi ta cần tôn kính, nơi ta phải giữ gìn không để bị lấm vết bởi những vụn vặt thường ngày, nơi dành để tiếp những vị khách quan trọng, hoặc không thì là nơi để bày tỏ lòng thành kính trước bàn thờ Phật. Thế nên, phòng khách nhà tôi luôn mang một vẻ trang nghiêm hơn phòng khách thường thấy ở những nhà khác; và dù tôi chưa bao giờ định ra những quy tắc như cha tôi đã từng đặt ra, thì tôi cũng không khuyến khích con cái mình, khi chúng còn bé, vào phòng khách trừ phi buộc phải như vậy.

Sự tôn trọng của tôi dành cho phòng khách có vẻ hơi cường điệu, nhưng bạn phải hiểu là trong căn nhà nơi tôi lớn lên – ở làng Tsuruoka, cách nơi đây nửa ngày đi tàu – tôi còn bị cấm bước chân vào phòng khách mãi cho đến năm tôi mười hai tuổi. Căn phòng ấy, theo nhiều nghĩa, là trung tâm của ngôi nhà, trí tò mò đã buộc tôi tưởng tượng ra hình ảnh bên trong căn phòng đó dựa vào đôi lần liếc trộm. Về sau này, tôi thường gây ngạc nhiên cho các đồng nghiệp bằng khả năng họa một khung cảnh lên toan vẽ chỉ nhờ vào một cái liếc nhìn trong tích tắc; có lẽ tôi phải cảm ơn cha tôi vì kỹ năng này, và sự rèn luyện vô tình mà ông mang lại cho con mắt họa sĩ của tôi trong những năm tháng đầu đời đó. Dù gì đi nữa, khi tôi sang tuổi mười hai, “những cuộc trao đổi công việc” bắt đầu, và tôi bắt đầu được vào trong căn phòng ấy mỗi tuần một lần.

“Tối nay Masuji và tôi sẽ trao đổi công việc,” cha tôi thông báo trong bữa ăn tối. Lời ấy vừa là lệnh triệu tập tôi trình diện cha sau bữa ăn tối, cũng là lời cảnh báo những người khác trong nhà đừng có gây ồn ào gần phòng khách tối hôm ấy.

Cha tôi biến mất vào phòng sau bữa ăn và gọi tôi đến sau đó mười lăm phút. Chiếu sáng cho căn phòng tôi bước vào là một ngọn nến cao duy nhất án giữa sàn nhà. Trong quầng sáng ngọn nến tỏa ra, cha tôi ngồi bắt tréo chân trên thảm trước “hòm công việc” làm bằng gỗ. Ông ra hiệu cho tôi ngồi đối diện trước ánh nến, và khi tôi ngồi xuống, ánh sáng ngọn nến sẽ khiến phần còn lại của căn phòng chìm vào bóng tối. Tôi chỉ lờ mờ nhận ra được sau lưng cha tôi là bàn thờ Phật ở sát tường, hoặc vài đồ vật trang trí ở những hốc tường.

Cha tôi lúc ấy sẽ bắt đầu nói. Ông lấy trong “hòm công việc” ra những cuốn sổ nhỏ, dày, và ông sẽ mở một vài cuốn để chỉ cho tôi thấy những con số sít sịt vào nhau. Trong lúc đó, ông sẽ tiếp tục nói với giọng đều đặn và nghiêm nghị, chỉ thỉnh thoảng mới dừng lại khi ông ngước lên như muốn chờ một sự xác nhận. Vào những lúc ấy, tôi vội vã thốt lên: “Vâng, quả là như vậy.”

Dĩ nhiên, theo hết được những gì cha tôi nói là điều bất khả. Ông sử dụng các thuật ngữ, tự mình tính lại những phép tính dài dằng dặc, không chút nhượng bộ trước thực tế rằng ông đang giảng giải cho một cậu bé. Nhưng một điều cũng không kém phần bất khả, ấy là đề nghị ông dừng lại giải thích. Vì như tôi hiểu, tôi được phép vào phòng khách chỉ bởi tôi được cho là đủ khôn lớn để hiểu được những cuộc trò chuyện như vậy. Càng sợ hãi khủng khiếp bao nhiêu thì tôi càng cảm thấy nhục nhã bấy nhiêu khi ý thức được rằng bất cứ lúc nào tôi cũng có thể bị yêu cầu phải nói gì đó ngoài câu “Vâng, quả là như vậy”, và thế là tôi lộ tẩy. Dù hết tháng này đến tháng khác trôi qua, tôi cũng không bao giờ bị bắt phải nói gì hơn, thì tôi vẫn sống trong nỗi khiếp đảm về “cuộc trao đổi công việc” tiếp theo.

Dĩ nhiên, lúc này tôi đã rõ rằng cha tôi chẳng bao giờ trông đợi tôi theo được lời ông nói, nhưng tôi không bao giờ dám chắc tại sao ông lại thử thách tôi như thế. Có lẽ ông muốn in hằn vào tâm trí tôi từ bé những kỳ vọng của ông, để rồi sau này tôi sẽ tiếp quản công việc gia đình. Hoặc có lẽ ông cảm thấy rằng vì trong tương lai tôi sẽ là người đứng đầu gia đình, thế nên việc cho tôi biết về tất cả những quyết định mà hệ quả của chúng nhiều khả năng sẽ chạm đến tuổi trưởng thành của tôi, cũng là điều tất yếu mà thôi; hẳn cha tôi đã nghĩ, nếu làm theo cách ấy, tôi sẽ chẳng có lý do gì mà than phiền nếu như tôi có thừa kế một doanh nghiệp làm ăn chẳng lấy gì khấm khá.

Rồi khi tôi mới mười lăm, tôi nhớ bị gọi vào phòng khách để tham dự một buổi họp kiểu khác. Như mọi lần, thắp sáng phòng là một ngọn nến cao, cha tôi ngồi giữa quầng sáng. Nhưng đêm hôm đó, thay vì hòm công việc, ông để trước mặt một cái khay đốt giấy bằng đất nung nặng trịch. Chuyện này làm tôi bối rối, vì cái khay đốt này – cái lớn nhất trong nhà – thường chỉ được đem ra cho khách khứa dùng.

“Con đã mang cả ra à?” ông hỏi.

“Con đã làm như cha bảo.” Tôi đặt cạnh cha một chồng tranh và những bức phác họa mà tôi ôm trong lòng. Một chồng lộn xộn với những tờ giấy đủ mọi kích cỡ và chất lượng khác nhau, hầu hết bị cong hoặc nhăn nhúm vì sơn vẽ.

Tôi ngồi im lặng trong khi cha tôi xem qua những tác phẩm của tôi. Ông xem mỗi bức một chút, rồi để sang bên cạnh. Khi ông xem gần hết một nửa số tranh của tôi, ông nói mà không nhìn lên:

“Masuji, con có chắc là tất cả tác phẩm của con đều ở đây? Có một vài bức nào mà con chưa mang ra không?”

Tôi không trả lời ngay. Ông ngước lên hỏi: “Nào?”

“Có thể còn một vài bức con chưa mang ra.”

“Quả vậy. Và Masuji này, chắc chắn những bức còn thiếu là những bức con thấy tự hào nhất. Phải vậy không?”

Ông lại đưa mắt xuống tiếp tục xem tranh, nên tôi không trả lời. Suốt một lúc lâu, tôi quan sát ông xem hết tập tranh. Có lúc, ông giơ một bức tranh lên sát ánh nến, đoạn nói: “Đây là con đường từ đồi Nishiyama xuống phải không? Phải nói là con vẽ rất giống. Đúng là khi đi từ trên đồi xuống con đường trông như thế này. Rất khéo.”

“Cảm ơn cha.”

“Con biết đấy, Masuji,” – mắt cha tôi vẫn nhìn chằm chằm bức tranh – “cha nghe mẹ con nói một điều rất lạ lùng. Dường như mẹ đang nghĩ rằng con muốn đi theo nghiệp vẽ.”

Ông không nói câu đó thành câu hỏi, nên lúc đầu tôi không trả lời. Nhưng rồi ông ngước lên và nhắc lại: “Masuji à, mẹ con dường như nghĩ rằng con muốn đi theo nghiệp vẽ. Chắc chắn mẹ con đã sai khi nghĩ thế.”

“Chắc chắn rồi,” tôi nói khẽ.

“Ý cha là, chắc hẳn có hiểu nhầm nào đó từ phía mẹ.”

“Chắc chắn rồi.”

“Cha hiểu rồi.”

Trong vài phút tiếp theo, cha tôi tiếp tục xem xét những bức tranh, còn tôi ngồi im quan sát ông. Rồi ông nói mà không ngước lên: “Thực ra, cha nghĩ mẹ con đang đi ngoài kia. Con nghe thấy không?”

“Con e là mình không nghe thấy ai cả.”

“Cha nghĩ là mẹ con đấy. Bảo mẹ vào đây đi, vì mẹ sắp đi qua đấy.”

Tôi đứng lên và ra chỗ cửa. Hành lang tối và không có ai, đúng như tôi nghĩ. Tôi nghe tiếng cha nói sau lưng: “Trong khi con đi tìm mẹ, Masuji, thì con cũng nhớ lấy hết những bức tranh còn lại đưa cha xem nhé.”

Có lẽ đấy chỉ đơn giản là tôi tưởng tượng ra, nhưng khi tôi quay lại phòng vài phút sau, có mẹ đi cùng, tôi có cảm tưởng cái khay đất nung đã bị dịch một chút gần hơn vào ngọn nến. Tôi cũng nghĩ có mùi cái gì cháy, nhưng khi liếc vào khay, không có dấu hiệu gì là nó vừa được dùng.

Cha tôi lơ đãng gật đầu với tôi khi tôi đặt những bức tranh còn lại bên chồng tranh lúc trước. Ông dường như đang còn bận trí với những bức tranh của tôi, và có lúc, ông quên mất cả tôi và mẹ đang ngồi im trước mặt ông. Rồi cuối cùng, ông thở dài, ngước lên nói với tôi: “Cha không nghĩ, Masuji à, con quan tâm đến những nhà sư khất thực, phải không?”

“Sư khất thực ư? Con nghĩ là không.”

“Họ biết rất nhiều điều về thế giới này. Thường thì cha không để ý đến họ làm gì. Nhưng tỏ ra nhã nhặn với kẻ tu hành cũng là phép lịch sự, dù cho đôi khi ta có ấn tượng rằng họ chẳng khác nào đám ăn xin.”

Ông dừng lại, nên tôi nói: “Vâng, quả là như vậy.”

Rồi cha tôi quay sang mẹ nói: “Sachiko này, mình có nhớ những nhà sư khất thực từng đến làng không? Có một người đến nhà ta ngay khi con trai ta chào đời. Một ông lão gầy gò, chỉ có một tay. Nhưng vẫn là một người khỏe mạnh. Mình nhớ ông ấy không?”

“Vâng, dĩ nhiên,” mẹ tôi nói. “Nhưng có lẽ ta không quá xem trọng những gì mà các nhà sư khất thực này nói.”

“Nhưng mình nhớ,” cha tôi nói, “nhà sư này đã nhìn thấu Masuji. Ông ấy để lại lời cảnh báo cho chúng ta, mình nhớ chứ, Sachiko?”

“Nhưng con chúng ta lúc đấy chỉ là đứa trẻ sơ sinh,” mẹ tôi nói. Giọng bà hạ xuống, như thể bà hy vọng tôi không nghe thấy. Ngược lại, giọng cha tôi to một cách không cần thiết, như thể đang nói trước một đám đông:

“Ông ấy để lại cho chúng ta một lời cảnh báo. Chân tay Masuji lành lặn, ông ta bảo thế, nhưng con có một khiếm khuyết trong bản tính. Một điểm yếu khiến con có xu hướng lười biếng và gian dối. Mình có nhớ không, Sachiko?”

“Nhưng em tin nhà sư đó đã nói nhiều điều tích cực về con trai mình.”

“Điều này thì đúng. Con mình có nhiều phẩm chất tốt, nhà sư đã nói như vậy. Nhưng mình nhớ lời cảnh báo của ông ấy, đúng không Sachiko? Ông ấy nói nếu muốn các phẩm chất tốt thắng vượt, chúng ta, người nuôi dưỡng nó, sẽ phải cẩn trọng và canh chừng điểm yếu này mỗi khi nó cố tìm cách biểu hiện ra. Nếu không thì, như nhà sư già nói với chúng ta, Masuji đây lớn lên sẽ thành một kẻ bất tài.”

“Nhưng có lẽ,” mẹ tôi thận trọng nói, “thật thiếu khôn ngoan khi quá xem trọng những điều các nhà sư này nói.”

Cha tôi hơi bất ngờ bởi nhận định này. Rồi một lúc sau, ông gật đầu trầm ngâm, như thể mẹ tôi đã nói ra một ý khiến ông rối trí. “Chính tôi lúc bấy giờ cũng dè dặt có nên coi trọng lời ông ấy hay không,” ông nói tiếp. “Nhưng ở mọi giai đoạn phát triển của Masuji, tôi buộc phải thừa nhận những lời ông ấy nói. Không thể chối cãi rằng có một điểm yếu trong tính cách của con trai mình. Con mình không có tính ác. Nhưng chúng ta liên tục phải đấu tranh với sự lười biếng của con, với chuyện con không thích những công việc hữu ích, với cái ý chí yếu nhược của con.”

Rồi, bằng vẻ khoan thai, cha tôi cầm lên ba hay bốn bức tranh và cầm cả hai tay như lượng chừng sức nặng của chúng. Ông hướng ánh mắt sang tôi, đoạn nói: “Masuji này, mẹ con đây nghĩ rằng con muốn theo đuổi nghề họa sĩ. Có lẽ mẹ con đã hiểu nhầm gì chăng?”

Tôi nhìn xuống và vẫn im lặng. Rồi tôi nghe giọng mẹ bên cạnh, gần như thì thầm, bà nói: “Con nó còn nhỏ. Tôi chắc đấy chỉ là ý thích bồng bột trẻ con thôi.”

Rồi một thoáng im lặng, và cha tôi nói: “Nói cha nghe nào, Masuji, con có biết họa sĩ sống trong một kiểu thế giới như thế nào không?”

Tôi vẫn im lặng, chỉ nhìn vào sàn nhà trước mặt.

“Họa sĩ,” giọng cha tôi tiếp tục, “sống trong cảnh nghèo khổ và nhếch nhác. Họ sống trong một thế giới cho họ mọi cám dỗ để trở thành những kẻ yếu đuối và suy đồi. Tôi nói đúng không, Sachiko?”

“Hiển nhiên. Nhưng có lẽ có một vài người có thể theo đuổi nghiệp họa sĩ mà vẫn tránh được những cạm bẫy như vậy.”

“Dĩ nhiên, có những ngoại lệ,” cha tôi nói. Mắt tôi vẫn hướng xuống, nhưng qua giọng ông, tôi biết ông lại gật gù như mỗi khi ông rối trí. “Chỉ ít ỏi họa sĩ có quyết tâm và tính cách phi thường. Nhưng tôi e là con trai mình đây còn lâu mới được như vậy. Kỳ thực, ngược lại là đằng khác. Trách nhiệm của chúng ta là bảo vệ nó trước những mối nguy hiểm như thế. Dù gì thì chúng ta cũng muốn con trở thành người khiến chúng ta tự hào, đúng không?”

“Dĩ nhiên,” mẹ tôi nói.

Tôi vụt nhìn lên. Nến đã cháy được một nửa và ngọn lửa chiếu rõ một bên khuôn mặt cha tôi. Lúc này ông đặt những bức tranh vào lòng, và tôi nhận ra những ngón tay ông đang di chuyển một cách sốt ruột trên mép tranh.

“Masuji này,” ông nói, “con ra ngoài được rồi. Cha muốn nói chuyện với mẹ con.”

Tôi còn nhớ một lát sau đêm hôm đó, tôi đã gặp mẹ tôi trong bóng tối. Rất có thể tôi đã gặp bà nơi hành lang, dù tôi không nhớ điều này. Tôi cũng không nhớ tại sao tôi lại lang thang khắp căn nhà trong bóng tối, nhưng chắc chắn không phải để nghe trộm cha mẹ – vì tôi nhớ mình đã quyết tâm không đoái hoài gì đến chuyện xảy ra trong phòng khách sau khi tôi rời khỏi đó. Thời bấy giờ, dĩ nhiên, đèn đóm thắp sáng trong nhà còn rất kém, nên chuyện chúng tôi đứng trò chuyện trong bóng tối không có gì bất thường. Tôi có thể nhận ra hình dáng mẹ tôi đứng trước mặt, nhưng không thể thấy khuôn mặt bà.

“Có mùi cháy đâu đây,” tôi nhận xét.

“Cháy à?” Mẹ tôi im lặng một lúc, đoạn nói: “Không. Mẹ không nghĩ vậy. Chắc là con tưởng tượng thôi, Masuji à.”

“Con ngửi thấy mùi cháy,” tôi nói. “Kìa, con lại vừa ngửi thấy. Cha vẫn ở phòng khách hả mẹ?”

“Ừ. Cha con vẫn đang bận làm gì đó.”

“Dù cha đang làm gì,” tôi nói, “con cũng chẳng bận tâm.”

Mẹ tôi không nói gì, nên tôi nói thêm: “Điều duy nhất cha làm được là đốt lên ngọn lửa tham vọng của con.”

“Nghe như vậy mẹ rất mừng, Masuji.”

“Mẹ đừng hiểu nhầm con, thưa mẹ. Con không muốn thấy mình những năm sau này vẫn ngồi ở chỗ cha đang ngồi, và nói với con trai mình về sổ sách và tiền bạc. Mẹ có tự hào nếu con lớn lên trở thành như vậy không?”

“Thực sự là có đấy, Masuji. Ở tuổi này con chưa thể thấy được mọi thứ nơi cuộc đời của cha con đâu.”

“Con sẽ không bao giờ tự hào về bản thân. Khi con bảo con có tham vọng, ý con là con muốn vượt lên một cuộc đời như vậy.”

Mẹ tôi im lặng một lúc. Đoạn bà nói: “Khi con còn trẻ, có nhiều điều dường như tẻ nhạt và vô hồn. Nhưng khi con lớn hơn, con sẽ thấy chính những điều ấy mới là quan trọng nhất với con.”

Tôi không đáp lại câu nói đó. Thay vì vậy, tôi nghĩ mình đã trả lời: “Có thời, con đã kinh sợ những cuộc bàn luận công việc của cha. Nhưng giờ đây con chỉ thấy nó nhàm chán. Thực ra, con chán ghét những chuyện đó. Những cuộc họp mà con được đặc quyền tham gia ấy là gì cơ chứ? Tính toán mấy đồng tiền lẻ. Lần sờ mấy đồng xu, hết giờ này qua giờ khác. Con sẽ không bao giờ tha thứ cho bản thân nếu đời con trở thành như vậy!” Tôi dừng lại đợi xem mẹ sẽ nói gì. Trong một lúc, tôi có cảm giác kỳ lạ rằng bà đã lặng lẽ đi khỏi trong khi tôi đang nói và giờ tôi đứng đó một mình. Nhưng rồi tôi nghe mẹ cử động trước mặt tôi, nên tôi nhắc lại: “Những gì cha làm trong phòng khách chẳng khiến con bận lòng chút nào. Cha chỉ đốt lên ngọn lửa tham vọng của con mà thôi.”

Tuy nhiên, tôi thấy mình đang lạc đề mất rồi. Tôi đang muốn ghi lại cuộc trò chuyện của tôi với Setsuko tháng trước khi con bé đến phòng khách để thay hoa.

Như tôi nhớ, Setsuko đã ngồi xuống trước bàn thờ Phật và bắt đầu hạ những bông hoa héo xuống. Tôi đã ngồi xuống phía sau con bé, quan sát cách nó cẩn thận vẩy từng cành trước khi đặt vào lòng, và tôi tin rằng chúng tôi đang dở câu chuyện về một chủ đề nhẹ nhàng nào đó. Nhưng rồi con bé nói, mặt vẫn hướng về những bông hoa:

“Xin cha thứ lỗi vì con nhắc đến chuyện này, thưa cha. Chắc chắn cha hẳn đã nghĩ đến rồi.”

“Chuyện gì thế, Setsuko?”

“Đơn thuần con nhắc đến nó bởi vì con nghĩ việc mai mối hôn nhân của Noriko sẽ tiến triển thuận lợi.”

Setsuko đã bắt đầu chuyển lần lượt từng nhành hoa mới cắt từ bình hoa trong tay sang những bình quanh bàn thờ. Con bé thực hiện nhiệm vụ này với sự cẩn thận hết mực, sau khi cắm mỗi cành hoa xuống là dừng lại để ngắm. “Con chỉ muốn nói,” con bé tiếp tục, “khi việc mai mối bắt đầu vào giai đoạn nghiêm túc, liệu cha có nên có vài tác động phòng xa không.”

“Tác động phòng xa ư? Hiển nhiên, chúng ta sẽ tiến hành thận trọng. Nhưng chính xác là con đang muốn nói gì?”

“Xin cha thứ lỗi, con đang nói cụ thể đến việc tìm hiểu gia đình hai bên.”

“Ồ, dĩ nhiên, chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ càng đúng mức. Chúng ta sẽ vẫn thuê thám tử như năm ngoái. Chắc con vẫn nhớ, ông ta là người đáng tin cậy.”

Setsuko cẩn thận chỉnh một cành hoa. “Xin cha thứ lỗi, chắc là con đang diễn đạt không rõ. Thực ra, con đang nói đến việc tìm hiểu của họ.”

“Xin lỗi con, cha không chắc là có hiểu ý con. Cha không nghĩ nhà mình có điều gì phải che giấu.”

Setsuko cất tiếng cười lo lắng. “Cha phải thứ lỗi con. Như cha biết đấy, con không có tài ăn nói. Suichi luôn trêu chọc con vì nghĩ một đằng nói một nẻo. Anh ấy biết cách diễn đạt ý mình rất hùng hồn. Chắc chắn, con phải cố gắng học tập nhà con.”

“Cha dám chắc là khả năng ăn nói của con hoàn toàn ổn, nhưng cha e là cha vẫn không hiểu con muốn nói gì.”

Bỗng nhiên, Setsuko giơ hai tay lên vẻ tuyệt vọng. “Cơn gió,” con bé nói cùng tiếng thở dài, và với tay về phía những cánh hoa lần nữa. “Con thích chúng thế này, nhưng dường như gió không chịu như thế.” Con bé lại mê mẩn thêm một lúc. Rồi nó nói: “Cha phải tha lỗi cho con, thưa cha. Ở địa vị của con, Suichi hẳn sẽ diễn đạt mọi chuyện tốt hơn. Nhưng dĩ nhiên, nhà con không ở đây. Con chỉ muốn nói rằng có lẽ sẽ khôn ngoan hơn nếu cha có những tác động phòng ngừa. Để đảm bảo không làm phát sinh hiểu nhầm gì. Dù gì, Noriko cũng gần hai sáu rồi. Chúng ta không thể chịu đựng thêm những thất vọng như năm ngoái.”

“Hiểu nhầm về chuyện gì cơ, Setsuko?”

“Về quá khứ. Nhưng chắc con nói thế này là thừa rồi. Cha chắc chắn đã tính đến tất cả những chuyện này và sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết.”

Con bé ngồi lại, trầm tư ngắm hoa, rồi quay sang tôi mỉm cười. “Con thật vụng mấy chuyện này quá,” con bé nói, chỉ những bông hoa.

“Trông chúng thật tuyệt vời.”

Con bé liếc ánh mắt do dự về phía bàn thờ và cười lúng túng.

Hôm qua, khi tôi đang tận hưởng chuyến tàu điện xuống vùng ngoại ô Arakawa yên tĩnh, ký ức về cuộc trò chuyện trong phòng khách lại dội về, khiến tôi cảm thấy cáu kỉnh. Tôi nhìn ra cửa sổ, cảnh vật bên ngoài mỗi lúc một thêm thưa thớt khi tàu đi về phía Nam, trong tâm trí tôi lại hiện lên hình ảnh con gái tôi ngồi trước bàn thờ, khuyên tôi có những “tác động phòng xa”. Tôi lại nhớ cách con bé quay mặt về phía tôi nhẹ nhàng nói: “Dù gì, chúng ta không thể chịu đựng thêm những thất vọng như năm ngoái.” Và tôi lại nhớ cái thái độ biết tỏng của con bé lúc ở ngoài hiên vào sáng hôm đầu tiên khi về nhà, khi con bé ám chỉ rằng tôi biết bí mật đặc biệt nào đó liên quan đến sự rút lui của nhà Miyake năm ngoái. Những ký ức đó đã đẩy tôi vào cơn phiền muộn suốt tháng vừa qua; nhưng chính hôm qua, trong cảm giác thanh thản khi được một mình đi đến nơi tĩnh lặng hơn của thành phố, tôi có thể xem xét lại những cảm xúc của mình một cách sáng suốt hơn, và tôi nhận ra cảm xúc cáu kỉnh đó không hoàn toàn nhằm vào Setsuko, mà là vào con rể tôi.

Tôi nghĩ chuyện một người vợ chịu ảnh hưởng từ quan điểm của chồng cũng là điều khá bình thường – ngay cả khi, như trong trường hợp của Suichi, những quan điểm đó khá là vô lý. Nhưng một người đàn ông xui khiến vợ mình có những suy nghĩ hoài nghi về cha nó, thì điều đó chắc chắn đủ khiến người cha vợ phải phật ý rồi. Vì những khổ sở con rể tôi phải chịu đựng ở Mãn Châu, trong quá khứ tôi từng cố tỏ thái độ khoan dung với một số khía cạnh ứng xử của nó; ví dụ, tôi không lấy làm phật ý trước thái độ cay nghiệt mà nó thường xuyên biểu hiện với thế hệ tôi. Nhưng hồi ấy tôi luôn cho rằng cảm xúc như vậy sẽ phai mờ theo thời gian. Tuy nhiên, trong trường hợp Suichi, chúng dường như đang thực sự trở nên gay gắt và quá đáng hơn.

Tất cả những chuyện này hẳn sẽ không khiến tôi phiền muộn – dù gì, Setsuko và Suichi sống ở xa, và tôi cũng chỉ gặp vợ chồng nó không quá một lần mỗi năm – nếu không phải gần đây, kể từ chuyến thăm của Setsuko tháng trước, những ý tưởng phi lý này dường như tiêm nhiễm vào tâm trí Noriko. Đấy chính là điều khiến tôi bực mình và đã đôi lần thúc giục tôi những ngày qua phải viết cho Setsuko một bức thư bày tỏ giận dữ. Vợ chồng làm bận trí nhau bằng những phỏng đoán lố bịch thì cũng chẳng sao, nhưng chúng chỉ nên biết với nhau như thế. Chắc chắn một người cha nghiêm khắc hơn hẳn đã làm gì đó từ lâu rồi.

Trong tháng qua, hơn một lần tôi đã bắt gặp các con tôi say mê bàn luận và nhận thấy chúng đã im bặt đầy vẻ tội lỗi trước khi bắt đầu một cuộc trò chuyện mới khá là gượng gạo. Thực ra, tôi có thể nhớ chuyện này xảy ra ít nhất ba lần trong năm ngày Setsuko chơi nhà. Và chỉ mới vài ngày trước, Noriko và tôi đang ăn nốt bữa sáng thì con bé bảo tôi:

“Hôm qua, lúc con đang đi bộ qua cửa hàng bách hóa Shimizu, cha biết con nhìn thấy ai đứng ở trạm tàu điện không? Là Jiro Miyake!”

“Miyake à?” Tôi ngước lên từ bát ăn, kinh ngạc nghe Noriko nhắc đến cái tên đó một cách thản nhiên như vậy. “Chà, thật là không may.”

“Không may ư? Thực ra, cha à, con khá vui khi gặp anh ấy. Dù vậy anh ấy có vẻ xấu hổ, nên con không nói chuyện lâu. Dù sao đi nữa, con cũng phải quay lại văn phòng. Lúc ấy con ra ngoài có chút việc, cha biết đấy. Nhưng cha có biết anh ấy đã đính hôn rồi không?”

“Nó bảo con thế à? Thật trơ trẽn.”

“Dĩ nhiên không phải là anh ấy tự nói ra. Con đã hỏi anh ấy. Con bảo anh ấy con đang sắp có một cuộc mai mối khác và hỏi anh ấy tình hình hôn nhân của anh ấy thế nào. Con chỉ hỏi anh ấy thế thôi. Mặt anh ấy đỏ bừng lên! Nhưng rồi anh ấy đột ngột nói ra điều đó, và bảo anh ấy đã đính hôn. Hầu như đã xong xuôi hết rồi.”

“Thực ra, Noriko ạ, con không nên ăn nói hớ hênh như vậy. Sao con cứ phải nhắc đến chuyện hôn nhân như thế.”

“Con tò mò. Con không thất vọng về chuyện đó nữa. Và với việc mai mối hiện nay diễn ra tốt đẹp, hôm trước con đã nghĩ, thật đáng thương nếu Jiro Miyake vẫn ủ ê về chuyện năm ngoái. Nên cha có thể tưởng tượng con thấy vui như nào khi anh ấy thực sự đã đính hôn.”

“Cha hiểu.”

“Con hy vọng sớm gặp cô dâu của anh ấy. Con chắc cô ấy rất tử tế, cha có nghĩ thế không?”

“Chắc chắn rồi.”

Chúng tôi tiếp tục ăn một lúc nữa. Đoạn Noriko nói: “Còn một chuyện nữa con suýt hỏi anh ấy. Nhưng rồi lại thôi.” Con bé nghiêng người về phía trước thì thầm: “Con suýt nữa thì hỏi chuyện năm ngoái. Về việc sao anh ấy rút lui.”

“May mà con không hỏi. Hơn nữa, họ đưa lý do lúc ấy cũng rất rõ ràng rồi mà. Họ cảm thấy cậu ta không đủ môn đăng hộ đối với con.”

“Nhưng con biết đó chỉ là phép lịch sự thôi, cha à. Chúng ta không bao giờ biết được nguyên nhân thực sự. Ít nhất là con chưa bao giờ nghe đến nó.” Chính lúc này, có gì đó trong giọng nói con bé làm tôi ngước mắt nhìn lên. Noriko đang quay đũa hướng lên trên, như thể đợi tôi nói gì đó. Rồi, khi tôi tiếp tục ăn, con bé nói: “Cha nghĩ vì sao họ lại rút? Cha có khi nào phát hiện ra điều gì không?”

“Cha chẳng phát hiện được gì hết. Như cha nói, họ bảo họ cảm thấy cậu ta không được môn đăng hộ đối với con. Một câu trả lời hoàn toàn hợp lý.”

“Con cứ băn khoăn, cha à, liệu có phải chuyện chỉ đơn giản là con không đáp ứng được yêu cầu của họ. Có lẽ con không đủ xinh đẹp. Cha có nghĩ đấy là lý do không?”

“Chẳng liên quan gì tới con cả, con biết như vậy mà. Có đủ loại lý do để một gia đình rút khỏi cuộc mai mối hôn nhân.”

“Ồ, cha à, nếu không liên quan tới con, thì con băn khoăn có điều gì đã khiến họ rút lui như thế.”

Tôi thấy dường như có vẻ gì đó thong thả một cách bất thường trong cách con gái tôi thốt ra những từ ấy. Có lẽ tôi chỉ tưởng tượng, nhưng một người cha sẽ nhận ra ngay bất cứ thay đổi nào trong giọng điệu con gái mình.

Dù sao đi nữa, cuộc trao đổi với Noriko khiến tôi hồi tưởng lại dịp chính tôi gặp Jiro Miyake và rốt cuộc đứng trò chuyện với anh ta ở trạm tàu điện. Đấy là hơn một năm về trước – cuộc mai mối hôn nhân với gia đình Miyake thời điểm đó vẫn đang diễn ra – vào chiều muộn khi thành phố đông đúc người về nhà sau giờ làm việc. Vì lý do nào đó, tôi dạo bộ qua khu Yokote và đang tiến đến trạm tàu điện ngoài tòa nhà công ty Kimura. Nếu bạn thông thạo khu Yokote, bạn sẽ biết rất nhiều những văn phòng nhỏ, khá nhếch nhác ở trên tầng gác của các cửa hiệu nơi đây. Khi tôi gặp Jiro Miyake hôm đó, cậu ta vừa mới từ một văn phòng như thế đi ra, đang bước xuống một cầu thang hẹp giữa hai mặt tiền cửa hàng.

Trước ngày hôm đó, tôi đã gặp cậu ta hai lần, nhưng là cuộc gặp gia đình mang tính nghi thức, khi cậu ta xuất hiện trong bộ đồ đẹp nhất. Lúc này, trông cậu ta rất khác, mặc chiếc áo mưa nhàu nhĩ hơi quá khổ, cặp táp kẹp dưới cánh tay. Cậu ta mang diện mạo của một chàng trai quá quen với việc bị ra lệnh; quả thực, tư thế của cậu ta dường như luôn chực cúi người. Khi tôi hỏi chỗ cậu ta vừa mới đi ra có phải là nơi làm việc không, cậu ta bắt đầu cười lo lắng, như thể tôi bắt quả tang cậu ta vừa mới bước ra từ một căn nhà tai tiếng nào đó.

Tôi đã nghĩ sự bối rối của cậu ta có lẽ do việc chúng tôi gặp nhau tình cờ, dù nói vậy có vẻ thái quá; nhưng lúc bấy giờ tôi đã lý giải rằng đấy là cậu ta xấu hổ về diện mạo tồi tàn của tòa nhà văn phòng và khung cảnh xung quanh. Phải một tuần sau đó, khi bất ngờ hay tin nhà Miyake rút lui, tôi mới nhớ lại cuộc gặp hôm ấy, và cố gắng lý giải nó.

“Cha tự hỏi,” tôi nói với Setsuko, vì tình cờ lúc ấy nó lại đang về thăm nhà, “liệu có phải lúc cha trò chuyện với cậu ta, họ đã quyết định rút lui rồi không.”

“Chuyện đó chắc chắn giải thích được thái độ lo lắng ở cậu ta lúc ấy,” Setsuko nói. “Cậu ấy không bóng gió gì về ý định của họ ư?”

Nhưng ngay cả lúc đó, chỉ một tuần sau khi cuộc gặp diễn ra, tôi hầu như không thể nhớ hết được nội dung cuộc trò chuyện với cậu Miyake. Dĩ nhiên chiều hôm đó tôi vẫn giả định rằng cuộc đính hôn của cậu ta với Noriko sẽ được loan báo bất cứ lúc nào, và tôi đang đối diện với một thành viên tương lai của gia đình. Thế nên lúc đó tôi chỉ tập trung làm sao giúp anh chàng Miyake được thoải mái trước sự hiện diện của tôi, và không nghĩ nhiều đến những gì chúng tôi đã nói khi đi bộ cùng nhau một quãng ngắn đến trạm tàu điện, hay trong vài phút chúng tôi cùng đứng đó.

Tuy nhiên, những ngày tiếp theo, khi tôi đang mải nghĩ ngợi về toàn bộ chuyện này thì một ý tưởng mới nảy ra trong đầu tôi: có lẽ chính cuộc gặp gỡ đó đã dẫn đến hành động thoái hôn này.

“Cũng có thể lắm,” tôi nói với Setsuko. “Miyake rất ngại vì cha đã nhìn thấy nơi cậu ta làm việc. Có lẽ điều đó khiến cậu ta nghĩ rằng khoảng cách giữa hai gia đình là một trời một vực. Dù gì, đó là lý do người ta thường xuyên đưa ra, cho đúng phép tắc.”

Nhưng Setsuko dường như không tin giả thiết đó. Và dường như con bé hẳn đã về nhà kể với chồng rồi phỏng đoán về cuộc hứa hôn đứt gánh của em gái. Trong năm nay, con bé dường như quay lại với giả thiết của riêng nó – hoặc ít nhất, giả thiết của Suichi. Vậy là tôi buộc phải nghĩ lại cuộc gặp hôm ấy với Miyake, lật lại nó từ một khía cạnh khác. Nhưng như tôi đã nói, chỉ một tuần sau tôi đã không nhớ nổi những gì đã xảy ra, nói chi giờ hơn một năm đã trôi qua.

Nhưng rồi tôi bỗng nhớ được một chi tiết trao đổi cụ thể, mà trước đây tôi cho là không mấy ý nghĩa. Miyake và tôi đã đến phố chính và đang đứng trước tòa nhà công ty Kimura đợi chuyến xe của mỗi người. Và tôi nhớ Miyake đã nói:

“Hôm nay ở nơi làm việc chúng cháu có tin buồn. Chủ tịch của tổng công ty qua đời.”

“Ta rất tiếc khi nghe tin đó. Ông ấy đã nhiều tuổi chưa?”

“Ông ấy mới ngoài sáu mươi. Cháu chưa bao giờ có dịp gặp trực tiếp ông ấy, dù dĩ nhiên cháu thấy ảnh trên nội san công ty. Ông ấy là người vĩ đại, và tất cả mọi người đều cảm thấy như thể bị mất đi một người cha.”

“Hẳn là mọi người hết sức choáng váng.”

“Quả là vậy,” Miyake nói, và dừng lại một lúc. Đoạn cậu ta tiếp tục: “Tuy nhiên, mọi người ở văn phòng không biết phải tìm cách nào phù hợp nhất để bày tỏ lòng kính trọng. Bác thấy đấy, nói thẳng ra, chủ tịch đã tự tử.”

“Thật ư?”

“Quả vậy. Ông ấy chết vì ngạt khí ga. Dường như ông ấy đã mổ bụng[2] trước đó, vì có những vết rạch ở vùng bụng.” Miyake nhìn xuống đất kính cẩn. “Ông ấy thay mặt các công ty thuộc quyền nói lời xin lỗi.”

“Lời xin lỗi ư?”

“Chủ tịch rõ ràng cảm thấy có trách nhiệm đối với những công việc kinh doanh mà chúng cháu có liên quan trong chiến tranh. Hai nhân viên kỳ cựu đã bị người Mỹ đuổi việc, nhưng chủ tịch cảm thấy như vậy chưa đủ. Hành động của ông như để thay mặt tất cả chúng cháu xin lỗi gia đình của những người đã thiệt mạng trong chiến tranh.”

“Trời, thật là,” tôi nói, “thế có vẻ cực đoan quá. Thế giới dường như phát điên cả rồi. Hình như ngày nào cũng có một ai đó tự tử để xin lỗi. Cậu nói xem, Miyake cậu không thấy đó là sự lãng phí ghê gớm à? Dù gì, nếu đất nước chúng ta lâm vào chiến tranh, ta phải làm tất cả những gì có thể để ủng hộ, không có gì phải xấu hổ về điều đó cả. Sao lại cần phải xin lỗi bằng cái chết cơ chứ?”

“Chắc chắn là bác đúng, thưa bác. Nhưng cháu phải nói thật, trong công ty không khí nhẹ nhõm đi rất nhiều. Giờ chúng cháu cảm thấy có thể quên được những tội lỗi trong quá khứ và nhìn về tương lai. Chủ tịch đã làm được một điều lớn lao.”

“Nhưng cũng là một sự lãng phí ghê gớm. Một số người xuất chúng nhất trong chúng ta đã từ bỏ cuộc sống mình theo cách này.”

“Quả vậy, thưa bác, thật đáng tiếc. Đôi khi cháu nghĩ có rất nhiều người đáng phải lấy tính mạng mình ra để mà xin lỗi, những người đó lại quá hèn nhát, không dám đối diện với trách nhiệm của mình. Điều đó khiến những người như chủ tịch của chúng cháu phải thực hiện cái hành động cao thượng. Có nhiều người đã kịp quay lại địa vị cũ của họ trong chiến tranh. Một số họ chẳng hơn gì bọn tội phạm chiến tranh. Họ mới là những kẻ nên xin lỗi.”

“Ta hiểu ý cháu,” tôi nói. “Nhưng những người đã trung thành chiến đấu và phục vụ tổ quốc họ trong chiến tranh, ta không thể gọi họ là tội phạm chiến tranh được. Ta e rằng cụm từ này được sử dụng quá bừa bãi thời buổi này.”

“Nhưng có những người đã khiến đất nước này lầm đường lạc lối, thưa bác. Chắc chắn, việc họ thừa nhận trách nhiệm của mình cũng là điều đúng đắn mà thôi. Họ thật hèn nhát khi chối bỏ sai lầm của mình. Và khi những sai lầm đó được thực hiện nhân danh đất nước, thì đấy chính là sự hèn nhát hơn hết thảy.”

Phải chăng buổi chiều hôm ấy Miyake thực sự đã nói những lời này với tôi? Có lẽ tôi nhầm lẫn lời cậu ta với những lời Suichi sẽ thốt ra. Điều này có thể lắm; tôi dù gì cũng đã xem Miyake là con rể tương lai của tôi, và có thể đã liên hệ anh ta với con rể hiện tại. Chắc chắn, những cụm từ như “sự hèn nhát hơn hết thảy” nghe giống như Suichi nói hơn là anh chàng Miyake yếu đuối. Dù vậy, tôi khá chắc là cuộc trò chuyện kiểu đó đã diễn ra ở trạm xe buýt ngày hôm ấy, và tôi thấy thật là kỳ lạ chuyện anh ta lại đem chủ đề này ra trao đổi như vậy. Nhưng về câu nói “sự hèn nhát hơn hết thảy”, tôi chắc là của Suichi. Kỳ thực, giờ nghĩ lại, tôi chắc Suichi đã sử dụng cụm từ này vào buổi tối sau lễ chôn tro cốt của Kenji.

Phải mất hơn một năm tro cốt của con trai tôi mới từ Mãn Châu quy tập về. Người ta nói với chúng tôi luôn luôn, rằng mấy người ở đó gây khó dễ. Khi tro cốt con tôi được mang về, cùng với cốt của hai mươi ba thanh niên khác, những người đã hy sinh khi thực hiện một cuộc đột kích vô vọng giữa bãi mìn, chúng tôi không có gì đảm bảo rằng tro cốt đấy là của Kenji, và chỉ mình Kenji thôi. “Nhưng nếu tro của em con bị lẫn,” Setsuko đã viết cho tôi lúc ấy, “chúng sẽ chỉ bị lẫn với tro cốt của đồng đội của em thôi. Chúng ta không thể than phiền chuyện đó.” Vậy nên chúng tôi chấp nhận tro cốt đó là của Kenji, và tiến hành lễ truy điệu muộn màng cho con trai tôi, cách nay một tháng là tròn hai năm.

Chính giữa buổi lễ tại nghĩa trang, tôi đã thấy Suichi hầm hầm bỏ đi. Khi tôi hỏi Setsuko có chuyện gì với chồng con bé, con tôi vội thầm thì: “Xin cha thứ lỗi cho anh ấy, anh ấy không khỏe. Chứng suy nhược cứ lay lắt mãi mấy tháng qua không dứt.”

Nhưng sau đó, khi khách khứa đang tề tựu trong nhà tôi, Setsuko nói với tôi: “Xin cha hãy hiểu cho. Những buổi lễ như vậy khiến Suichi xúc động sâu sắc.”

“Thật xúc động,” tôi nói. “Cha không biết chồng con lại thân thiết với em trai con thế.”

“Họ rất hợp chuyện mỗi khi gặp nhau,” Setsuko nói. “Hơn nữa, Suichi rất đồng cảm với những người như Kenji. Anh ấy bảo biết đâu người nằm xuống đã là anh ấy.”

“Nhưng chẳng phải đấy càng là lý do không được vắng mặt ở buổi lễ à?”

“Con xin lỗi, thưa cha, Suichi chưa bao giờ có ý định bất nhã. Nhưng chúng con phải tham dự quá nhiều tang lễ trong năm qua, của bạn bè và đồng đội Suichi, và cái tang nào cũng khiến anh ấy giận dữ.”

“Giận dữ ư? Giận dữ về chuyện gì?”

Nhưng lúc ấy có nhiều khách đang đến, tôi buộc phải bỏ dở cuộc trò chuyện. Mãi đến tối hôm ấy tôi mới có dịp nói chuyện với chính Suichi. Nhiều khách viếng vẫn ở lại với chúng tôi, họ tụ tập với nhau trong phòng khách. Tôi nhận ra dáng người cao cao của con rể mình ở đằng kia phòng, đang đứng một mình; nó đã mở cửa hướng ra phía vườn, quay lưng về phía tiếng rì rầm trò chuyện mà nhìn vào bóng tối bên ngoài. Tôi đến chỗ nó và nói:

“Suichi này, Setsuko bảo cha rằng những buổi tang lễ khiến con giận dữ.”

Nó quay lại mỉm cười. “Con cho là vậy. Cứ nghĩ đến mọi chuyện là con lại bực dọc. Về sự phí hoài.”

“Ừ. Thật khủng khiếp khi nghĩ đến sự phí hoài. Nhưng cũng như nhiều người khác, Kenji, đã hy sinh anh dũng.”

Trong chốc lát, con rể tôi nhìn tôi với vẻ mặt lặng thinh, vô cảm; thỉnh thoảng nó lại như vậy và tôi không thể nào quen được. Chắc chắn ánh nhìn ấy chẳng có ý gì cả, nhưng có lẽ bởi Suichi là một người thể chất mạnh khỏe và nét mặt khá đáng sợ, nên ta dễ dàng đọc thấy ở đó một vẻ hăm dọa hay cáo buộc.

“Dường như những cái chết anh dũng không bao giờ hết,” cuối cùng nó nói. “Phân nửa bạn học cùng khóa trường con đã anh dũng hy sinh. Họ chiến đấu vì những lý tưởng ngu xuẩn, dù họ không bao giờ biết điều đó. Cha có biết điều gì thực sự khiến con tức giận không, thưa cha?”

“Điều gì vậy, Suichi?”

“Những kẻ đã đẩy những người như Kenji đến những cái chết anh dũng này, giờ bọn chúng đang ở đâu? Bọn chúng vẫn sống nhăn, vẫn như chẳng có chuyện gì xảy ra. Nhiều kẻ còn thành đạt hơn trước, chúng cư xử khúm núm trước mặt người Mỹ, những kẻ đã dẫn chúng ta vào thảm họa. Vậy mà chúng ta lại phải khóc thương cho những người như Kenji. Đấy là điều khiến con tức giận. Những thanh niên dũng cảm chết vì những lý tưởng ngu ngốc, còn thủ phạm thực sự thì vẫn sống cùng chúng ta. Sợ lộ diện bản chất của chúng, sợ thừa nhận trách nhiệm.” Tôi khá chắc là đúng lúc ấy, khi nó quay lưng về phía bóng tối bên ngoài, nó đã nói: “Trong suy nghĩ của con, đó là sự hèn nhát hơn hết thảy.”

Tôi đã mệt mỏi vì tang lễ, nếu không tôi hẳn đã phản bác một số quan điểm của nó. Nhưng tôi nghĩ sẽ có những cơ hội khác để trao đổi về chuyện này, nên chuyển sang bàn về đề tài khác. Tôi nhớ đã đứng đó với nó, nhìn vào đêm, hỏi han về công việc của nó và về Ichiro. Hồi ấy, tôi rất ít gặp Suichi kể từ khi nó trở về sau chiến tranh, và đó là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với đứa con rể đã thay đổi, phần nào nghiệt ngã, mà giờ tôi đã thành quen. Tối hôm ấy tôi đã ngạc nhiên khi thấy nó nói năng như vậy, không còn dấu vết gì của cái cung cách cứng nhắc mà nó vẫn thể hiện trước khi tham gia chiến tranh; nhưng tôi quy cái đó vào việc tang lễ làm ảnh hưởng tới cảm xúc, và nói chung hơn, là tác động ghê gớm của trải nghiệm chiến tranh, mà như Setsuko đã ám chỉ, mang một bản chất khủng khiếp.

Nhưng thực tế, tâm trạng mà tôi nhận thấy ở nó tối hôm đó lại tỏ ra là tâm trạng đặc trưng của con rể tôi bây giờ; sự chuyển biến từ anh chàng nhã nhặn, khiêm tốn đã kết hôn với Setsuko hai năm trước chiến tranh quả là ghê gớm. Dĩ nhiên, thật bi thảm khi nhiều người cùng thế hệ nó đã chết, nhưng tại sao nó cứ phải nuôi dưỡng thái độ cay nghiệt đó với những người lớn tuổi hơn mình? Trong quan điểm của Suichi hiện nay có một sự hà khắc, gần như ác tâm khiến tôi thấy đáng lo ngại – còn đáng ngại hơn bởi chúng có vẻ như đang ảnh hưởng đến Setsuko.

Nhưng sự chuyển biến đó không chỉ xảy ra với con rể tôi. Giờ đây, tôi thấy nó xuất hiện đầy rẫy quanh tôi; trong tính cách của thế hệ trẻ có điều gì đó đã thay đổi theo một cách mà tôi không hiểu hết được, và sự thay đổi ấy có những khía cạnh nhất định dứt khoát là đáng ngại. Chẳng hạn, như hôm trước ở quán cô Kawakami, tôi nghe được một người ngồi đằng kia quầy nói:

“Tôi nghe bảo người ta đưa gã ngốc kia vào viện rồi. Bị chấn động não và gãy mấy xương sườn.”

“Ý ông là cậu Hirayama ư?” cô Kawakami hỏi, tỏ vẻ quan tâm.

“Tên anh ta đấy à? Cái anh chàng lúc nào cũng đi lang thang hò hét đủ thứ. Phải có ai ngăn anh ta lại mới được. Hình như tối qua anh ta lại bị đánh. Thật xấu hổ, ai lại đi chấp một gã ngốc như thế, dù anh ta có kêu gào cái gì đi chăng nữa.”

Lúc này, tôi quay sang người đàn ông kia hỏi: “Tôi xin lỗi, ông bảo cậu Hirayama bị hành hung ư? Vì lý do gì chứ?”

“Hình như anh ta cứ hát những khúc quân ca ngày xưa và hô những khẩu hiệu lỗi thời.”

“Nhưng cậu Hirayama luôn làm thế mà,” tôi phản bác. “Cậu ta chỉ hát được đôi ba bài thôi. Cậu ta được dạy thế.”

Người đàn ông nhún vai. “Tôi đồng ý, đánh một kẻ ngốc thế thì được gì chứ? Chỉ là người ta nhẫn tâm thôi. Nhưng anh ta đi qua cầu Kayabashi, và ông biết ở đó mỗi khi trời tối là lại toàn đám đầu gấu rồi đấy. Anh ta ngồi trên trụ cầu, hát và hô khẩu hiệu hàng giờ. Từ quán rượu bên kia đường người ta cũng nghe thấy, và có vẻ như vài người thấy ngứa tai.”

“Thế nghĩa là sao?” cô Kawakami nói. “Cậu Hirayama chẳng có ý hại ai cả.”

“Ồ, ai đó nên dạy anh ta hát bài mới đi,” người đàn ông nói, vừa uống rượu trong ly. “Nếu cứ tiếp tục đi lang thang hát mấy bài hát cũ rích kia, anh ta sẽ lại bị đánh thôi.”

Chúng tôi vẫn gọi anh ta là “cậu Hirayama” dù hẳn anh ta lúc ấy ít nhất đã năm mươi rồi. Nhưng cái tên đó không phải là không phù hợp, vì đầu óc anh ta chỉ như một đứa trẻ con. Như tôi còn nhớ được, anh ta được các bà sơ Công giáo ở hội truyền giáo nuôi dưỡng, nhưng có lẽ anh ta sinh ra trong một gia đình họ Hirayama. Ngày xưa, khi khu phố hoan lạc của chúng tôi đang phát đạt, người ta luôn thấy cậu Hirayama ngồi bệt dưới đất gần cửa quán Migi-Hidari hoặc một trong những quán gần đó. Anh ta, như cô Kawakami từng nói, khá vô hại, và thực vậy, trong những năm trước và trong chiến tranh, anh ta đã trở thành một nhân vật nổi tiếng ở phố hoan lạc với những bài quân ca và tài bắt chước những diễn văn ái quốc.

Tôi không biết ai đã dạy anh ta những bài hát ấy. Anh ta chỉ hát được đâu độ hai ba bài, và mỗi bài chỉ biết nhõn một đoạn. Nhưng anh ta hát bằng một giọng sang sảng, và trong lúc hát, anh ta làm khán giả thích thú bằng cách đứng đó ngẩng mặt lên trời, tay chống hai bên hông, và quát: “Ngôi làng này phải đóng góp phần mình vào những hy sinh cho Nhật Hoàng! Một vài người phải nằm xuống! Một vài người sẽ chiến thắng trở về và đón chào bình minh mới!” – hay những lời tương tự vậy. Và người ta sẽ nói, “Cậu Hirayama dù không hiểu gì, nhưng anh ta có thái độ đúng đắn. Anh ta đúng là người Nhật.” Tôi thường thấy mọi người dừng lại cho anh ta tiền, hoặc mua đồ ăn cho anh ta, và trong những dịp như thế, khuôn mặt anh chàng khờ khạo kia lại bừng sáng một nụ cười. Chắc chắn, cậu Hirayama không nghĩ đến gì khác ngoài những bài ca ái quốc kia chính là bởi chúng khiến anh ta được chú ý và nổi tiếng.

Không ai bận tâm đến những gã ngốc vào thời bấy giờ. Những người kia nghĩ gì mà lại đi đánh đập anh chàng kia? Họ có thể không thích những bài hát và những khẩu hiệu đó, nhưng nhiều khả năng họ chính là những người đã xoa đầu anh ta, khuyến khích anh ta cho đến khi những khúc nhạc kia in hằn vào óc gã khờ đó.

Nhưng như tôi đã nói, ngày nay đất nước mang một tâm thế khác, và thái độ của Suichi có lẽ cũng không phải ngoại lệ. Có lẽ tôi đã bất công khi cho rằng thái độ cay nghiệt đó chỉ riêng Miyake mới có, nhưng tình hình hiện tại chính là thế, nếu ta xem xét kỹ bất cứ điều gì mà bất cứ ai nói với mình, hẳn ta sẽ thấy một mạch cảm xúc cay đắng xuyên suốt. Biết đâu Miyake đã thực sự nói những lời ấy; có lẽ tất cả những người thuộc thế hệ Miyake và Suichi đã nghĩ và nói như thế.

Tôi tin tôi đã đề cập chuyện ngày hôm qua tôi bắt tàu xuôi về phía Nam thành phố, đến khu Arakawa. Arakawa là bến cuối cùng của tuyến tàu điện thành phố về phía Nam, và nhiều người thấy ngạc nhiên vì tuyến này chạy xa đến thế, đến tận vùng ngoại ô. Quả thực, thật khó có thể coi Arakawa lại là một phần của thành phố khi mà ở đây có những con phố trong khu dân cư được quét dọn sạch sẽ, những hàng cây phong trên vỉa hè, những ngôi nhà trang nghiêm đứng cách xa nhau, cảm nhận chung cảnh sắc thôn quê phủ khắp nơi này. Nhưng theo tôi, các nhà chức trách đã đúng khi mở tuyến tàu điện đến tận Arakawa; điều này chỉ có lợi cho cư dân thành phố, vì họ dễ dàng tìm đến những nơi tĩnh lặng hơn và bớt xô bồ hơn. Chúng tôi không phải lúc nào cũng cảm thấy thoải mái, và tôi có thể nhớ cái cảm giác ngột ngạt ở thành phố, nhất là vào những tuần hè nóng nực, còn ghê gớm hơn nhiều hồi tuyến tàu điện hiện nay chưa được xây dựng.

Tôi tin là tuyến tàu hiện nay bắt đầu hoạt động vào năm 1931, thay thế cho tuyến tàu cũ dặt dẹo, đã làm hành khách bực bội trong suốt ba mươi năm trước đó. Nếu bạn không sống ở đây, có lẽ khó mà tưởng tượng được ảnh hưởng của những tuyến tàu mới này lên nhiều mặt của đời sống thành phố. Các khu phố dường như thay đổi hoàn toàn chỉ qua một đêm; các công viên luôn tấp nập người đã trở nên vắng vẻ; những công ty lâu đời đã chịu tổn thất nghiêm trọng.

Dĩ nhiên có những khu phố lại được hưởng lợi một cách bất ngờ, và trong số đó là khu vực bên kia Cầu Dùng Dằng đã sớm trở thành khu phố hoan lạc của chúng tôi. Trước khi có tuyến tàu mới, bạn hẳn chỉ thấy vài con phố nhỏ buồn tẻ với những dãy nhà mái lợp. Thời bấy giờ không ai coi đó là một khu phố đúng nghĩa, và người ta chỉ có thể xác định bằng cách gọi nó là “Đông Furukawa”. Tuy nhiên, tuyến tàu mới đồng nghĩa với việc hành khách xuống tàu ở trạm Furukawa có thể đi bộ vào trung tâm thành phố nhanh hơn là bắt một chuyến tàu thứ hai vốn rất quanh co, và kết quả là dòng người qua khu ấy đột ngột tăng lên. Một nhúm quán rượu kinh doanh ở đó từ trước, sau nhiều năm buôn bán ế ẩm, bỗng phất lên nhanh chóng, trong khi những quán mới đua nhau mở ra.

Cái cơ sở sau này trở thành Migi-Hidari lúc ấy người ta chỉ gọi đơn giản là “Quán Yamagata” – theo tên chủ quán, một cựu binh già – và là quán rượu lâu đời nhất trong khu này. Lúc bấy giờ, nó là một nơi khá nhàm tẻ, nhưng tôi đã thường xuyên đến đó trong nhiều năm kể từ khi chuyển đến thành phố. Như tôi còn nhớ, phải đến vài tháng sau khi có đường tàu mới, Yamagata mới nhận thấy chuyện gì đang xảy ra, và ông bắt đầu hình thành những ý đồ của mình. Nếu mà khu vực này được sắp thành một khu phố chuyên các tửu điếm, thì cơ sở của ông – là nơi lâu đời nhất, lại nằm ở ngay nơi ngã ba phố – hiển nhiên trở thành bậc trưởng thượng giữa những quán sở tại. Nhắm như thế, ông nhận thấy mình có trách nhiệm mở rộng và thiết kế lại quán theo một lối hoành tráng hơn. Chủ cửa hàng ở tầng trên đã đồng ý sang nhượng, số vốn cần thiết có thể huy động không mấy khó khăn. Cản trở chính đối với cả quán của ông lẫn khu phố nói chung là thái độ của chính quyền thành phố.

Ở điểm này, Yamagata nghĩ hoàn toàn chính xác. Vì hồi đấy là năm 1933 hay 1934 – một thời điểm rất là không thích hợp để trù tính sự ra đời của một khu phố hoan lạc mới. Chính quyền đang áp dụng chính sách nghiêm ngặt để kiểm soát khía cạnh phù phiếm trong đời sống thành phố, và quả thực, trong trung tâm thành phố, nhiều chốn đàng điếm đang trong quá trình đóng cửa. Ban đầu, tôi không mấy đồng tình khi nghe ý tưởng của Yamagata. Chỉ mãi tới khi ông ấy nói cho tôi biết địa điểm ông đang nghĩ đến, tôi mới được thuyết phục hoàn toàn, và hứa tôi sẽ làm hết sức để giúp ông.

Tôi tin tôi đã nhắc đến việc tôi đóng một phần nho nhỏ trong sự ra đời của quán Migi-Hidari. Dĩ nhiên, bởi chẳng phải giàu có gì, tôi chỉ giúp được rất ít về tài chính. Nhưng lúc bấy giờ, danh tiếng của tôi trong thành phố đã vươn tới một mức độ nhất định; như tôi nhớ, dù không tham gia ủy ban nghệ thuật nào thuộc Bộ Ngoại giao, nhưng tôi có nhiều quan hệ cá nhân ở đó, và người ta thường xuyên tham khảo ý kiến của tôi về những vấn đề chính sách. Do vậy, kiến nghị của tôi, thay mặt cho Yamagata, không phải không có sức nặng.

“Ý định của chủ quán,” tôi giải thích, “là quán rượu tương lai này sẽ là nơi tôn vinh tinh thần yêu nước mới đang dâng lên ở Nhật Bản ngày nay. Cách bài trí sẽ phản ánh tinh thần mới ấy, và bất cứ khách hàng nào xung khắc với tinh thần đó thì chắc chắn sẽ được mời rời khỏi quán. Hơn nữa, chủ quán cũng có ý muốn rằng quán sẽ là nơi tụ họp và đối ẩm của các họa sĩ, văn sĩ trong thành phố có tác phẩm phản ánh tinh thần mới ấy. Về điểm này, cá nhân tôi đảm bảo sự hậu thuẫn của nhiều đồng nghiệp, trong số đó có họa sĩ Masayuki Harada; nhà biên kịch Misumi; các nhà báo Shigeo Otsuji và Eiji Nastuki – tất cả họ, như quý vị biết, là những người làm nên những tác phẩm chứa đựng lòng trung thành không lay chuyển với Thiên Hoàng.”

Tôi tiếp tục chỉ ra rằng một cơ sở như vậy, nhờ địa vị vượt trội của nó trong địa bàn, có thể là phương tiện lý tưởng để đảm bảo rằng cái phong thái mà ta mong muốn sẽ lan tỏa khắp khu phố này.

“Nếu không,” tôi cảnh báo, “tôi e là chúng ta sẽ đối mặt với sự xuất hiện của một khu phố nữa chứa đựng chính sự suy đồi mà chúng ta đang cố gắng hết sức để đấu tranh, một sự suy đồi mà ta đều biết là sẽ làm suy yếu sợi dây cố kết nền văn hóa của chúng ta.”

Nhà chức trách không chỉ chấp thuận, mà còn với một sự nhiệt thành khiến tôi ngạc nhiên. Tôi cho rằng đây lại là một ví dụ nữa cho việc con người ta thấy bất ngờ khi nhận ra mình được trọng vọng hơn mình những tưởng. Nhưng, tôi chưa bao giờ quan tâm đến danh vọng, và đấy không phải lý do sự ra đời của Migi-Hidari mang lại cho tôi một niềm thỏa mãn riêng tư lớn lao đến thế đúng hơn, tôi lấy làm tự hào được chứng kiến điều tôi ấp ủ bấy lâu đã thành hình – ấy là tinh thần mới của Nhật Bản không hề xung khắc với lạc thú; nghĩa là, cuộc mưu cầu khoái lạc không cứ phải song hành với sự suy đồi.

Vậy là, khoảng hai năm rưỡi sau khi tuyến tàu điện mới được vận hành, quán Migi-Hidari khai trương. Việc sửa sang được thực hiện khéo léo và toàn diện, để khi trời đêm buông xuống bất kỳ ai tản bộ qua con phố ấy cũng không thể không nhận thấy cái mặt tiền được chiếu sáng rực rỡ bằng vô số những đèn lồng, đủ loại lớn nhỏ, chăng dọc các đầu hồi, dưới mái chìa, theo những hàng thẳng tắp dọc các gờ cửa sổ và bên trên lối vào chính; rồi cũng có cả tấm biển khổng lồ được chiếu sáng rực treo trên xà nóc, trưng cái tên mới của quán trên nền là những ủng lính đang hành quân.

Một buổi tối, không lâu sau khi quán khai trương, Yamagata dẫn tôi vào trong, bảo tôi chọn một bàn tùy thích, rồi tuyên bố rằng từ nay về sau bàn ấy chỉ dành riêng cho tôi mà thôi. Tôi cho đó trước hết là để ghi nhận cái ơn nhỏ nhặt mà tôi đã làm cho ông ta. Nhưng dĩ nhiên lúc ấy tôi luôn là một trong những khách hàng thân thiết nhất của Yamagata.

Quả thực, tôi đã đến quán của Yamagata suốt hơn hai mươi năm trước khi nó chuyển thành Migi-Hidari. Thực ra ấy chẳng phải do tôi kén chọn gì – như tôi nói, quán ấy từ xưa cũng xoàng thôi – nhưng hồi thanh niên, lúc mới chuyển đến thành phố, tôi sống ở Furukawa và quán của Yamagata lại gần nhà.

Hẳn bạn khó mà hình dung được cái hồi ấy Furukawa xấu xí nhường nào. Quả thực, nếu bạn mới đến thành phố này, lời tôi kể về khu Furukawa hẳn sẽ khiến người ta nghĩ đến cái công viên ngày nay ở cạnh đó cùng những rặng cây đào đã làm cho nơi đây nổi tiếng. Nhưng khi tôi mới đến thành phố này – năm 1913 – nơi đây đầy các nhà máy và kho xưởng thuộc về những công ty nhỏ, nhiều cái bị bỏ hoang hoặc hỏng nát. Những ngôi nhà ở đó cũ kỹ và tồi tàn, và sống ở Furukawa là những người chỉ có thể trả mức tiền thuê nhà thấp nhất mà thôi.

Tôi thuê căn phòng gác mái nhỏ phía trên căn hộ của một bà cụ sống cùng đứa con trai còn độc thân, và căn phòng không phù hợp lắm với nhu cầu của tôi. Nhà không có điện nên tôi buộc phải vẽ bên ánh đèn dầu; chỉ vừa vặn đủ chỗ để dựng giá vẽ, nên việc màu vẽ bắn lên tường và chiếu là không thể tránh khỏi; những hôm làm việc thâu đêm tôi thường khiến bà cụ hoặc người con trai thức giấc; khó chịu hơn cả là trần của tầng gác mái quá thấp làm tôi không tài nào đứng thẳng được, nên tôi thường phải làm việc hàng giờ trong tư thế khom lưng, đầu liên tục va vào rui kèo. Nhưng vào thời ấy, tôi rất vui sướng vì được công ty Takeda nhận vào làm, và có thể kiếm sống nhờ nghề vẽ, nên tôi không quá bận tâm đến những điều kiện khó khăn ấy.

Dĩ nhiên, ban ngày tôi không làm việc trong phòng mình mà ở “xưởng” của thầy Takeda. Xưởng này cũng ở Furukawa, một căn phòng dài trên một nhà hàng – thực ra là khá dài, đủ cho mười lăm người chúng tôi dựng giá vẽ xếp thành một hàng. Trần nhà, dù cao hơn trần căn phòng gác mái của tôi, lại bị võng xuống ở giữa, nên mỗi khi vào phòng, chúng tôi lại đùa rằng nó võng xuống thêm vài xen ti mét so với ngày hôm trước. Dọc theo chiều dài phòng có các ô cửa sổ, và lẽ ra chúng phải cung cấp ánh sáng phù hợp cho chúng tôi làm việc; nhưng chẳng hiểu sao những luồng sáng hắt vào luôn quá gắt, khiến căn phòng trông như thể khoang tàu. Một vấn đề nữa của nơi này là chủ nhà hàng bên dưới không cho chúng tôi ở lại sau sáu giờ tối, khi nhà hàng bắt đầu đón khách. “Trên đó các anh nghe cứ như bầy gia súc thế kia,” ông ta nói. Vì vậy, chúng tôi không có lựa chọn nào khác ngoài tiếp tục công việc ở nơi trọ của mình.

Có lẽ tôi cũng nên giải thích rằng chúng tôi không thể hoàn thành tiến độ nếu không làm việc ban đêm. Công ty Takeda tự hào về khả năng cung cấp tranh với số lượng lớn trong thời hạn rất ngắn; quả thực, thầy Takeda khiến chúng tôi hiểu rằng, nếu chúng tôi không hoàn thành đúng hạn để tàu kịp rời cảng, thì các đơn hàng sau sẽ nhanh chóng rơi vào tay công ty đối thủ. Hệ quả là chúng tôi làm việc miệt mài, thức đêm thức hôm, và ngày hôm sau vẫn cảm thấy tội lỗi bởi chúng tôi chậm tiến độ. Thường thì khi sắp đến hạn, việc tất cả chúng tôi cày cục vẽ ngày vẽ đêm, mỗi ngày chỉ ngủ vài ba tiếng không phải điều chỉ lạ lùng. Lắm bận đơn hàng dồn dập, chúng tôi sẽ ở trong tình trạng chóng mặt, mệt mỏi ngày này qua ngày khác. Nhưng dẫu thế chăng nữa, tôi không thể nhớ mình đã từng trễ một đơn hàng nào, và tôi cho rằng, đó là dấu hiệu cho sự thao túng của thầy Takeda đối với chúng tôi.

Khoảng một năm sau khi tôi làm cho thầy Takeda thì có một họa sĩ mới đến làm trong công ty. Đó là Yasunari Nakahara, cái tên mà tôi đồ là chẳng ý nghĩa gì ráo với bạn đâu. Quả thực, bạn chẳng thể nào từng nghe đến cái tên ấy cả, vì cậu ta có bao giờ đạt danh tiếng gì đâu. Thành tựu lớn nhất cậu ta đạt được là có một chân giáo viên mỹ thuật ở trường trung học tại quận Yuyama vài năm trước chiến tranh – một vị trí, mà tôi nghe nói, cậu ta vẫn làm đến hôm nay, chính quyền thấy không có lý do gì phải thay thế cậu ta như họ đã làm thế với nhiều đồng nghiệp khác của cậu. Về phần mình, tôi luôn nhớ cậu ta với cái tên “Rùa”, cái biệt danh mọi người đặt cho cậu ta hồi còn ở công ty Takeda, và cái tên này tôi đã dùng một cách trìu mến trong tình bạn của chúng tôi.

Tôi vẫn giữ một bức tranh của Rùa – bức chân dung tự họa cậu ta vẽ không lâu sau quãng thời gian làm cho thầy Takeda. Bức tranh vẽ một thanh niên gầy gò, đeo kính, mặc áo cộc tay, ngồi trong căn phòng tối tăm, chật chội, bao quanh là những giá vẽ và những đồ đạc xô lệch, một bên khuôn mặt bắt ánh nắng từ cửa sổ chiếu vào. Sự sốt sắng và rụt rè hiện rõ trên nét mặt chắc chắn đúng với con người tôi còn nhớ, và ở khía cạnh này, Rùa tỏ ra hết sức thành thực; nhìn vào bức chân dung, bạn hẳn sẽ coi cậu ta là hạng người mà bạn có thể tự tin hích cùi chỏ để chiếm một ghế trống trên xe điện. Nhưng dường như hồi ấy mỗi chúng tôi đều có niềm kiêu hãnh đặc biệt riêng. Nếu sự khiêm nhường của Rùa không giúp cậu ta che đậy được bản tính rụt rè, thì nó cũng không thể ngăn cậu ta tự tạo cho mình một vẻ trí thức kiêu kỳ – thứ tôi không tài nào lục lại được trong ký ức. Nhưng công bằng mà nói, tôi không nhớ nổi có đồng nghiệp nào có thể vẽ một bức chân dung tự họa nào với một sự thành thực tuyệt đối cả; bất kể người ta có thể điền vào những chi tiết bề mặt của hình ảnh phản chiếu chính mình trong gương chính xác cỡ nào đi nữa, thì cá tính trong tranh hiếm khi tiệm cận sự thật như người ta hằng thấy.

Rùa có biệt danh đó là bởi, khi gia nhập công ty đúng vào dịp có một đơn đặt hàng bận tối tăm mặt mũi, cậu ta chỉ vẽ được vài ba bức trong khi cùng thời gian ấy đám còn lại chúng tôi phải vẽ xong sáu bảy bức. Lúc đầu, sự chậm chạp của cậu ta được lý giải do thiếu kinh nghiệm, và biệt danh đó chỉ dùng sau lưng cậu ta. Nhưng nhiều tuần trôi qua, tiến độ vẫn không cải thiện chút nào, thế là sự gay gắt với cậu ta cứ tăng dần. Chẳng bao lâu sau, chuyện mọi người gọi thẳng tên “Rùa” trước mặt cậu ta đã trở nên điều bình thường, và dù cậu ta hoàn toàn biết cái tên ấy dứt khoát không phải một cái tên trìu mến, thì tôi nhớ cậu ta cố gắng hết sức để coi đó là như vậy. Ví dụ, nếu ai đó trong phòng gọi: “Này Rùa ơi, cậu vẫn vẽ cái cánh hoa từ tuần trước đấy à?”, cậu ta sẽ ra sức cười to như thể chia sẻ câu đùa đó. Tôi nhớ các đồng nghiệp của tôi hồi ấy thường cho cái sự kém cỏi không biết bảo vệ phẩm giá này là do Rùa xuất thân từ khu Negishi; bởi vào thời bấy giờ, cũng như ngày nay, có một chuyện đồn hoang đường độc địa rằng những người xuất thân từ khu đó khi lớn lên thể nào cũng thành kẻ yếu đuối và nhu nhược.

Tôi nhớ một buổi sáng, khi thầy Takeda rời căn phòng dài đã được một lúc, thì hai đồng nghiệp của tôi đến chỗ giá vẽ của Rùa và quở trách cậu ta về sự chậm chạp. Giá vẽ của tôi đặt không xa chỗ cậu ta, nên tôi có thể thấy rõ nét mặt lo lắng khi cậu ta đáp:

“Tôi xin các anh, hãy kiên nhẫn với tôi. Ước vọng lớn nhất của tôi là được học hỏi các anh, những đồng nghiệp giỏi giang hơn, cách để tạo ra những tác phẩm có chất lượng nhanh đến thế. Những tuần qua, tôi đã cố gắng hết sức để vẽ nhanh hơn, nhưng đáng buồn là tôi buộc phải bỏ dở nhiều bức bởi nếu cứ vẽ vội làm sút giảm chất lượng tranh, thì tôi sẽ bôi xấu những chuẩn mực tót vời của công ty mất. Nhưng tôi sẽ làm hết sức để cải thiện vị thế kém cỏi của mình trong mắt các anh. Tôi mong các anh bỏ quá cho, và xin hãy kiên nhẫn thêm một thời gian nữa.”

Rùa lặp lại lời khẩn cầu hai hay ba lần nữa, trong khi những kẻ hành hạ cậu ta một mực chì chiết, kết tội cậu ta lười biếng và dựa dẫm vào chúng tôi làm thay phần việc của cậu ta. Lúc này, hầu hết chúng tôi đã ngừng vẽ và đứng quây lại. Tôi tin rằng chính là sau khi những kẻ cáo buộc bắt đầu nhục mạ Rùa bằng những lời lẽ đặc biệt cay nghiệt, và khi thấy rằng những đồng nghiệp khác không làm gì mà chỉ thích thú đứng xem, tôi đã bước ra nói:

“Đủ rồi đấy, các anh không thấy các anh đang nói chuyện với một nghệ sĩ chính trực ư? Nếu một họa sĩ từ chối hy sinh chất lượng cho tốc độ, thì đấy là điều tất cả chúng ta nên tôn trọng mới đúng. Nếu không nhận ra điều đó thì các anh chỉ là kẻ ngốc thôi.”

Dĩ nhiên, đấy hoàn toàn là chuyện của nhiều năm về trước và giờ tôi không thể cam đoan buổi sáng hôm ấy tôi đã nói chính xác như thế. Nhưng việc tôi nói gay gắt như thế vì Rùa thì là điều chắc chắn; vì tôi có thể nhớ rõ sự biết ơn và nhẹ nhõm trên khuôn mặt Rùa khi cậu ta quay sang tôi, và ánh mắt kinh ngạc của những người khác đang hiện diện ở đó. Bản thân tôi được các bạn đồng nghiệp rất nể trọng – kết quả công việc của tôi thì không thể chê trách gì được cả về chất lượng và số lượng – và tôi tin sự can thiệp của tôi đặt dấu chấm hết cho cuộc hành hạ Rùa, ít nhất là trong buổi sáng hôm đó.

Hẳn bạn sẽ nghĩ tôi tự đề cao bản thân thái quá khi thuật lại mẩu chuyện vặt này; dầu sao chăng nữa, ý tôi đưa ra khi bảo vệ Rùa dường như rất rõ ràng – bất kỳ ai có chút lòng tôn trọng nghệ thuật nghiêm túc sẽ nghĩ ngay đến ý ấy. Nhưng cũng cần phải nhắc lại không khí thời bấy giờ tại xưởng của thầy Takeda – cái cảm nhận chung là tất cả chúng tôi đều đang chạy đua với thời gian để bảo toàn cái danh tiếng mà công ty phải khó khăn lắm mới đạt được. Chúng tôi cũng nhận thức rõ rằng điểm cốt lõi nơi những gì chúng tôi được thuê vẽ – những geisha, cây anh đào, cá chép bơi, những ngôi đền – là chúng phải ra “chất Nhật Bản” trong mắt của người nước ngoài, những người sẽ mua tranh này, còn tất tật những điểm tinh tế hơn về phong cách thì hầu như bị bỏ qua. Nên tôi không nghĩ mình đề cao thái quá bản thân tôi thời trẻ, nếu tôi cho rằng những hành động của tôi ngày ấy là biểu lộ cho một phẩm chất mà nhờ nó tôi rất được kính trọng những năm sau này – ấy là khả năng độc lập trong tư duy và xét đoán, ngay cả khi làm thế tức là đi ngược lại những người xung quanh tôi. Chắc chắn một điều, ấy là tôi là người duy nhất đứng ra bảo vệ Rùa sáng hôm ấy.

Dù Rùa đã cảm ơn tôi vì sự can thiệp vặt vãnh ấy, và những hành động hỗ trợ sau đó, thì hồi bấy giờ công việc dồn dập bận bịu đến nỗi phải mất một thời gian tôi mới có thể nói chuyện lâu và có chút thân tình với cậu ta. Quả thực, tôi tin là hai tháng đã trôi qua sau biến cố mà tôi vừa kể, khi cuối cùng lịch làm việc điên cuồng của chúng tôi cũng có khoảng tạm lắng. Tôi đang tản bộ ở đền Tamagawa, một việc tôi vẫn thường làm mỗi khi có chút thì giờ rảnh, thì phát hiện ra Rùa đang ngồi trên một ghế dài dưới nắng, dường như đang gà gật.

Tôi vẫn là một người say mê khu đền Tamagawa, và tôi đồng ý rằng bờ giậu và những hàng cây ở đền ngày nay quả thực giúp tạo ra một không khí phù hợp hơn đối với một chốn thờ cúng. Nhưng mỗi khi tới đó, tôi thấy mình trở nên hoài niệm về khu đất đền Tamagawa thời trước. Vào những ngày ấy, trước khi có bờ giậu và những hàng cây, khu đất dường như mênh mông hơn nhiều và đầy sự sống; rải rác giữa những khoảng xanh rộng, bạn sẽ thấy những quầy bán kẹo và bóng bay, những người biểu diễn tung hứng và ảo thuật; tôi nhớ khu đất đền Tamagawa cũng là điểm đến phù hợp nếu bạn muốn chụp một bức ảnh, vì bạn chỉ cần đi một đoạn là sẽ bắt gặp một thợ ảnh dựng chân máy cùng màn trùm đen. Buổi chiều tôi nhìn thấy Rùa ở đó là một ngày Chủ nhật đầu xuân, và khắp nơi tấp nập những phụ huynh và trẻ nhỏ. Cậu ta bất đồ tỉnh giấc khi tôi bước đến ngồi cạnh.

“A, anh Ono!” cậu ta thốt lên, khuôn mặt bừng sáng. “Gặp anh ở đây thật là may quá. Trời, mới chỉ vài phút trước, tôi đang tự nhủ, giá để dư được chút tiền, tôi sẽ mua gì đó tặng anh Ono, để tỏ lòng biết ơn anh đã tử tế với tôi. Nhưng lúc này tôi chỉ có thể mua được thứ rẻ mạt, mà như vậy sẽ thật xúc phạm. Thôi thì bây giờ, anh Ono ơi, hãy để tôi cảm ơn anh từ tận đáy lòng vì tất cả những gì anh đã làm cho tôi.”

“Tôi có làm được gì to tát đâu,” tôi nói. “Tôi chỉ thỉnh thoảng nói ra những gì mình nghĩ, thế thôi.”

“Nhưng thực lòng, anh Ono ơi, những người như anh thật hiếm có. Được làm đồng nghiệp với người như anh quả là một vinh dự. Dù sau này con đường chúng ta đi có khác thế nào, tôi sẽ luôn nhớ đến lòng tốt của anh.”

Tôi nhớ còn phải nghe một lúc nữa những lời ca ngợi về sự can đảm và chính trực của tôi. Đoạn tôi nói: “Từ lâu tôi đã muốn nói chuyện với anh. Anh thấy đấy, tôi đã nghĩ kỹ rồi, và tôi cân nhắc sắp tới sẽ rời khỏi chỗ thầy Takeda.”

Rùa sửng sốt nhìn tôi chằm chằm. Sau đó cậu ta nhìn chung quanh như sợ có người nghe trộm tôi, trông đến là buồn cười.

“Tôi đã rất may mắn,” tôi nói tiếp. “Tác phẩm của tôi được họa sĩ, nghệ sĩ in khắc Seiji Moriyama để ý. Hẳn anh đã nghe nói đến ông ấy rồi nhỉ?”

Rùa vẫn chằm chằm nhìn tôi, lắc đầu.

“Ông Moriyama,” tôi nói, “là một họa sĩ đích thực. Rất có thể, ông còn là một họa sĩ vĩ đại nữa. Tôi cảm thấy cực kỳ may mắn vì được ông ấy để mắt và chỉ bảo. Kỳ thực, theo ý ông ấy thì việc tôi ở lại với thầy Takeda sẽ gây tổn hại vô phương cứu chữa cho tài năng của tôi, và ông ấy có ý nhận tôi làm đồ đệ.”

“Vậy ư?” bạn tôi nhận xét đầy đề phòng.

“Và anh biết đấy, khi tôi dạo bộ qua đây, tôi tự nhủ: ‘Dĩ nhiên rồi, ông Moriyama nói hoàn toàn chính xác. Với những con ngựa thồ cày cuốc cho thầy Takeda để kiếm sống, họ sẽ thấy chẳng có vấn đề gì hết. Nhưng những người có tham vọng thực sự thì phải nhìn hướng khác.’”

Lúc ấy, tôi liếc nhìn Rùa đầy ý nhị. Cậu ta tiếp tục nhìn tôi, một vẻ bối rối hiện trên nét mặt.

“Tôi e là mình đã tự tiện nhắc tên anh với ông Moriyama,” tôi nói. “Thực ra, tôi bày tỏ ý kiến rằng trong số các đồng nghiệp hiện tại của tôi, anh là một ngoại lệ. Trong số đó, anh là người duy nhất có tài năng thực sự, và có khát vọng nghiêm túc.”

“Thế ư, anh Ono,” – cậu ta bật cười – “sao anh có thể nói một điều như vậy? Tôi biết anh có ý tốt với tôi, nhưng thế này thì thật hơi quá.”

“Tôi đã quyết định đáp lại lời đề nghị ân cần của ông Moriyama,” tôi nói tiếp. “Và tôi mong anh hãy để tôi cho ông ấy xem tác phẩm của anh. Nếu may mắn, cả anh cũng được nhận làm học trò của ông ấy.”

Rùa nhìn tôi với nét mặt sầu não.

“Nhưng Ono này, anh đang nói gì vậy?” cậu ta nói, hạ giọng xuống. “Thầy Takeda đã nhận tôi qua giới thiệu của một người quen đáng kính nhất của cha tôi. Và thực ra, ông ấy đã tỏ ra độ lượng vô cùng với tôi, mặc tôi có đầy khiếm khuyết. Mới làm việc được vài tháng mà đã phất áo ra đi, sao tôi có thể là kẻ bội phản như thế được?” Rồi bỗng nhiên, dường như nhận ra hàm ý trong những lời mình nói, Rùa bèn vội vã nói thêm: “Nhưng dĩ nhiên, Ono ạ, tôi không hề có ý ám chỉ anh là kẻ phản bội. Hoàn cảnh của anh khác. Tôi trộm nghĩ...” Lời cậu ta chuội đi thành tiếng cười ngượng nghịu. Rồi cậu ta nỗ lực thu hết can đảm mà hỏi: “Anh nghiêm túc chuyện bỏ thầy Takeda chứ, Ono?”

“Theo ý tôi,” tôi nói, “thầy Takeda không xứng với sự trung thành của những người như tôi và anh. Sự trung thành phải dành cho ai xứng đáng. Người ta coi trọng lòng trung thành thái quá. Và thường người ta nói về lòng trung thành rồi mù quáng tuân theo. Tôi không muốn sống một cuộc đời như thế.”

Dĩ nhiên, có thể đó không phải chính xác những lời tôi đã nói vào chiều hôm ấy ở đền Tamagawa; vì trước đây tôi đã nhiều lần có cớ để kể lại cái cảnh ấy, và cứ kể đi kể lại như vậy, câu chuyện kiểu gì cũng sẽ có cuộc đời riêng nó. Nhưng dù tôi không bộc bạch một cách súc tích như vậy vào hôm đó với Rùa, tôi nghĩ có thể cho rằng những lời mà tôi vừa gán cho chính mình ấy đã thể hiện chính xác thái độ và quyết tâm của tôi vào thời điểm đó trong đời.

Một nơi mà tôi cứ bị bắt phải kể đi kể lại câu chuyện về những ngày tháng tại công ty Takeda, ngẫu nhiên thay, lại là quanh chiếc bàn trong quán Migi-Hidari; những học trò của tôi dường như cùng chung một niềm say mê được nghe quãng đầu sự nghiệp của tôi – có lẽ bởi họ hiển nhiên quan tâm đến việc thầy của họ làm gì vào tầm tuổi họ. Dầu sao chăng nữa, chủ đề những ngày tôi học việc ở chỗ thầy Takeda sẽ thường xuyên được khơi lên trong những buổi tối như vậy.

“Trải nghiệm hồi đó cũng không quá tệ hại,” tôi nhớ có lần đã nói với họ. “Nó dạy cho thầy một vài điều quan trọng.”

“Xin thầy thứ lỗi,” – tôi tin chính Kuroda đã rướn người qua bàn mà nói thế này – “nhưng con thấy khó mà tin được một nơi như thầy mô tả lại có thể dạy được cái gì hữu ích cho một họa sĩ.”

“Vâng, thưa thầy,” một giọng khác cất lên, “xin thầy nói xem, một nơi như thế thì có thể dạy thầy được điều gì chứ? Nghe giống một công ty sản xuất hộp các tông hơn.”

Chuyện diễn ra ở quán Migi-Hidari thường xảy ra như thế. Tôi đang trò chuyện với ai đó, còn những người khác thì nói chuyện với nhau, và ngay khi một câu hỏi thú vị được đặt ra cho tôi, họ sẽ dừng cuộc trò chuyện của mình lại và hết thảy châu đầu quanh tôi chờ câu trả lời. Cứ như thể trong lúc nói chuyện với nhau, bao giờ họ cũng dỏng một bên tai đón bất cứ mẩu kiến thức nào mà tôi chia sẻ. Điều này không có nghĩa họ không có óc phê phán; ngược lại đằng khác, họ là những chàng trai sáng láng, những người không bao giờ dám nói bất cứ điều gì mà chưa suy nghĩ kỹ càng.

“Làm ở xưởng Takeda,” tôi bảo họ, “dạy cho ta một bài học quan trọng ở bước đầu sự nghiệp. Đấy là mặc dù tôn kính thầy mình là đúng, nhưng quan trọng là phải luôn chất vấn thẩm quyền của họ. Quãng thời gian ở chỗ Takeda dạy ta không bao giờ được mù quáng chạy theo đám đông, mà phải thận trọng xem xét mình đang bị đẩy theo chiều hướng nào. Và nếu có điều gì ta đã cố gắng khích lệ tất cả các con nên làm, thì ấy là vượt lên trên dòng đời xô đẩy. Vượt lên trên những ảnh hưởng xấu xa và tha hóa, những thứ làm chúng ta sa lầy, đã làm suy yếu ghê gớm sức mạnh dân tộc chúng ta trong mươi, mười lăm năm qua.” Chắc chắn tôi hơi say và nói nghe giống một kẻ vĩ cuồng, nhưng những cuộc trò chuyện quanh góc bàn ấy luôn diễn ra theo cách như vậy.

“Quả vậy, thưa thầy,” ai đó nói, “tất cả chúng con phải ghi nhớ điều đó. Chúng con phải cố gắng vượt lên trên dòng đời xô đẩy.”

“Và ta nghĩ chúng ta ở đây, bên bàn này,” tôi nói tiếp, “có quyền kiêu hãnh về bản thân. Khắp chung quanh chúng ta đang lan tràn những sự quái gở và phù phiếm. Nhưng giờ đây, cuối cùng thì một tinh thần tinh tế hơn, nam nhi hơn đang xuất hiện ở Nhật Bản và các con ở đây đều dự phần trong đó. Thực lòng, mong mỏi của ta là các con sẽ tiếp tục theo đuổi để được thừa nhận là đội xung kích của tinh thần mới ấy. Quả vậy,” – và đến lúc này, tôi không chỉ nói với những người ngồi quanh bàn, mà cho tất cả những người nghe gần đó – “tụ điểm này nơi mọi người tề tựu, là lời chứng thực cho tinh thần mới đang lên ấy, và tất cả chúng ta ở đây có quyền hãnh diện.”

Thường thường, khi cuộc rượu ngày càng xôm hơn, những người ngoài sẽ tụ tập quanh bàn chúng tôi để tham gia tranh luận và diễn thuyết, hoặc đơn giản là lắng nghe và tắm mình trong bầu không khí ấy. Nhìn chung, những học trò của tôi sẵn sàng lắng nghe những người lạ mặt lên tiếng, dù dĩ nhiên, nếu chúng tôi bị phiền nhiễu bởi một kẻ nhạt nhẽo hoặc bởi ai đó có quan điểm trái ngược, họ sẽ nhanh chóng tống khứ anh ta. Nhưng dù đầy những reo hò và diễn thuyết kéo dài đến đêm như vậy, những cuộc ẩu đả thật sự hiếm khi xảy ra ở Migi-Hidari, bởi tất cả những khách quen chúng tôi đến nơi đó đều được thống nhất với nhau bởi tinh thần căn cốt ấy; nghĩa là, quán này đại diện cho tất cả những gì Yamagata mong muốn; nó đại diện cho một điều gì đó tinh tế và ở đây người ta có thể say sưa mà vẫn cảm thấy kiêu hãnh và tự trọng.

Trong nhà tôi có treo một bức tranh của Kuroda, học trò tài năng nhất của tôi, bức tranh mô tả một buổi tối như vậy ở Migi-Hidari. Bức tranh có tựa đề: “Tinh thần Ái quốc”, một cái tựa hẳn khiến bạn nghĩ tới một tác phẩm mô tả những người lính đang hành quân hoặc gì đó tương tự. Dĩ nhiên, ý của Kuroda chính là tinh thần ái quốc bắt đầu từ đâu đó cách xa tiền tuyến, trong lối sống thường ngày, trong những điều như chúng ta uống ở đâu và giao du với ai. Đấy là một sự tôn vinh – vì hồi ấy cậu ta tin vào những điều như vậy – với tinh thần của Migi-Hidari. Bức tranh sơn dầu vẽ vài chiếc bàn và đưa vào hầu hết màu sắc cùng cách bài trí của quán – đáng chú ý nhất, là những biểu ngữ và khẩu hiệu ái quốc treo rủ trên lan can ban công tầng trên. Dưới những biểu ngữ, khách khứa tụ tập quanh các bàn, họ đang trò chuyện, kế bên là một cô phục vụ bận kimono đang tất tả với những khay rượu. Đó là một bức tranh đẹp, nắm bắt rất chính xác bầu không khí náo nhiệt, nhưng không hiểu sao vẫn đầy nét kiêu hãnh và đáng kính của quán Migi-Hidari. Và ngày nay mỗi khi tôi tình cờ nhìn bức tranh, nó vẫn mang lại cho tôi cảm giác thỏa lòng nhất định khi nhớ lại rằng tôi – với chút ảnh hưởng có được nhờ danh tiếng của mình ở thành phố này – đã có thể góp một phần nho nhỏ vào sự khai sinh của nơi ấy.

Dạo gần đây, trong những buổi tối ở quán cô Kawakami, tôi rất hay hồi tưởng về Migi-Hidari và những ngày xưa cũ. Bởi những khi chỉ có tôi và Shintaro là khách ở đây, quán của cô Kawakami toát lên một vẻ gì đó khi ta cùng ngồi gần quầy bar dưới những ánh đèn treo thấp, và nó đẩy chúng tôi vào tâm trạng hoài niệm. Ban đầu, chúng tôi trò chuyện về một người nào đó trong quá khứ, về tửu lượng của người ấy, hoặc về cái cung cách hài hước của anh ta. Rồi chẳng bao lâu, chúng tôi sẽ cố bắt cô Kawakami nhớ lại người đó là ai, và trong nỗ lực nhắc cô nhớ lại, chúng tôi sẽ lại nhớ ra thêm những điều thú vị khác về anh ta. Đêm hôm nọ, sau khi đã cười vui về những hồi ức như thế, cô Kawakami nói, như cô vẫn thường nói trong những dịp như vậy: “Ồ, tôi không nhớ tên, nhưng tôi chắc sẽ nhận ra khuôn mặt anh ta.”

“Ồ thực ra bà chủ ơi,” tôi nói, nhớ lại, “anh ta chưa bao giờ là khách thực sự ở đây. Anh ta hay uống ở quán đối diện.”

“Ồ vâng, ở quán lớn. Nhưng mà nếu tôi gặp anh ta, tôi vẫn có thể nhận ra. Mà cũng chẳng biết được? Mọi người thay đổi nhiều quá. Thỉnh thoảng tôi gặp ai đó ngoài đường, rồi tôi nghĩ mình biết họ và nên chào họ. Thế mà khi tôi nhìn họ lần nữa, tôi lại không dám chắc.”

“Ôi chao bà chủ ơi,” Shintaro xen vào, “mới hôm nọ, tôi chào một người trên đường, vì tưởng đó là người quen. Nhưng người kia rõ ràng nghĩ tôi là kẻ điên. Anh ta bước đi không thèm đáp lại!”

Shintaro dường như coi đây là một câu chuyện vui và cười ồ lên. Cô Kawakami chỉ mỉm miệng chứ không cười lớn theo cậu ta. Đoạn cô quay sang nói với tôi:

“Thầy ơi, thầy phải cố thuyết phục bạn bè thầy quay lại nơi này đi. Thực ra, mỗi lần chúng ta bắt gặp gương mặt quen thuộc nào, chúng ta hãy chặn người ấy lại và bảo họ quay lại chốn nhỏ bé này. Bằng cách đó, chúng ta có thể gầy dựng lại thuở vàng son.”

“Ôi, quả là ý tưởng tuyệt vời đấy, bà chủ ạ,” tôi nói. “Tôi sẽ cố nhớ làm như thế. Tôi sẽ chặn người ta trên phố và bảo: ‘Tôi nhớ ngày xưa đã từng gặp anh. Anh từng là khách quen ở khu chúng tôi. Ồ, chắc anh tưởng chỗ đó bị giải tán rồi, nhưng anh nhầm đấy. Cô Kawakami vẫn ở đó, như ngày xưa, và mọi thứ đang dần dà được khôi phục.’”

“Đúng vậy, thầy à,” cô Kawakami nói. “Thầy cứ bảo là họ sẽ bị lỡ đấy. Việc làm ăn rồi sẽ dần khấm khá lại. Dù gì, việc của thầy là đưa đám đông khách khứa ngày xưa trở lại. Ai ai cũng luôn kính trọng thầy, coi thầy là lãnh tụ đương nhiên ở chốn này.”

“Đúng rồi đấy bà chủ ơi,” Shintaro nói. “Vào thời xưa, nếu một vị lãnh chúa bị tan tác quân binh sau một trận đánh, ông ấy sẽ nhanh chóng tập hợp họ lại. Vị thế của thầy giờ cũng chính là như vậy.”

“Thật vớ vẩn nào,” tôi nói, bật cười.

“Đúng vậy đấy, thưa thầy,” cô Kawakami nói tiếp, “thầy hãy đi gặp những người xưa và bảo họ quay lại. Rồi chẳng bao lâu, tôi sẽ mua quán bên cạnh và chúng ta sẽ mở một quán bề thế như ngày xưa. Lớn như quán lớn trước đây.”

“Quả vậy thưa thầy,” Shintaro vẫn đang nói. “Một lãnh chúa phải tập hợp quân lính của mình.”

“Ý tưởng thú vị đấy, bà chủ ạ,” tôi vừa nói vừa gật đầu. “Và các vị biết đấy, Migi-Hidari cũng từng là một quán nhỏ. Không lớn hơn quán này đâu. Nhưng rồi chúng tôi đã biến nó thành một quán lớn như ta thấy đấy. Ồ, có lẽ chúng ta chỉ phải làm điều tương tự với quán của cô. Giờ mọi thứ đang dần lắng xuống, khách hàng phải quay lại thôi.”

“Thầy có thể đưa tất cả bạn bè họa sĩ của thầy quay về, thầy à,” cô Kawakami nói. “Rồi chẳng mấy chốc, cánh nhà báo sẽ đến theo.”

“Một ý tưởng thú vị. Chúng ta có thể làm được đấy. Ngoại trừ một điều làm tôi băn khoăn, bà chủ à. Cô hẳn không thể quán xuyến một quán lớn như vậy được. Chúng tôi không muốn cô làm gì quá sức đâu.”

“Vớ vẩn nào,” cô Kawakami nói, trưng một vẻ mặt tự ái. “Nếu thầy khẩn trương làm phần việc của mình, thì thầy sẽ thấy mọi việc ở đây được vận hành mượt mà trơn tru đến nhường nào.”

Gần đây chúng tôi nói đi nói lại suốt những chuyện như vậy. Và ai dám bảo khu phố xưa sẽ không bao giờ trở lại nữa. Những người như cô Kawakami và tôi, chúng tôi có thể pha trò về chuyện đó, nhưng đằng sau những lời đùa cợt ấy ẩn chứa một tia lạc quan thật sự. “Lãnh chúa phải tập hợp binh lính của mình.” Và có lẽ đúng là ông ta nên làm như vậy. Có lẽ, khi chuyện tương lai của Noriko hoàn toàn ổn thỏa, tôi sẽ cân nhắc nghiêm túc về kế hoạch của cô Kawakami.

***

Tôi cho rằng tiện đây cũng nên nhắc lại chuyện tôi đã gặp môn đồ cũ của mình, Kuroda, đúng một lần kể từ khi chiến tranh kết thúc. Tình cờ sao cuộc gặp ấy xảy đến vào một buổi sáng mưa dầm trong năm chiếm đóng thứ nhất – trước khi Migi-Hidari và tất cả những tòa nhà kia bị kéo sập. Tôi đang tản bộ đâu đó, đi qua những tàn tích của khu phố hoan lạc xưa, từ dưới ô nhìn những khung nhà trơ trọi sót lại. Tôi nhớ hôm ấy có những người công nhân đang đi thơ thẩn, thế nên ban đầu tôi không chú ý đến cái người đang đứng nhìn một trong những tòa nhà bị cháy trụi. Chỉ tới khi bước qua, tôi mới nhận ra người kia đã quay lại và đang nhìn tôi. Tôi dừng chân, ngoảnh lại, và qua những giọt mưa trên ô rỏ xuống, tôi choáng váng lạ lùng khi thấy Kuroda đang nhìn tôi đầy vô cảm.

Dưới tán ô, cậu ta không đội mũ và khoác chiếc áo mưa tối màu. Những tòa nhà cháy đen phía sau cậu ta đang nhỏ nước, và tàn tích của máng nước đang khiến nước trút xuống tung tóe không xa chỗ cậu ta đứng. Tôi nhớ một chiếc xe tải chạy qua giữa chúng tôi, chở đám đông những công nhân xây dựng. Và tôi để ý một chiếc nan ô của cậu ta đã bị hỏng, khiến cho thêm nhiều nước đổ xuống ngay sau chân cậu ta.

Khuôn mặt Kuroda, vốn khá tròn trĩnh trước chiến tranh, đã hõm xuống quanh gò má, và trông như nếp nhăn rất sâu xuất hiện nơi cằm và cổ họng. Và tôi tự nhủ khi đang đứng đó: “Nó không còn trẻ nữa.”

Cậu ta khe khẽ nhích đầu. Và tôi không chắc có phải cậu ta định cúi chào, hay cậu ta chỉ nghiêng đầu tránh nước mưa trên chiếc ô hỏng nhỏ vào. Rồi cậu ta quay lưng và bắt đầu bước theo chiều ngược lại.

Nhưng tôi không có ý tản mạn dông dài về Kuroda ở đây. Kỳ thực, chắc tôi sẽ chẳng hề nghĩ đến cậu ta nếu tên cậu ta không xuất hiện đầy bất ngờ vào tháng trước, khi tôi tình cờ gặp tiến sĩ Saito trên tàu điện.

Đó là buổi chiều khi rốt cuộc tôi cũng đưa được Ichiro đi xem bộ phim quái vật – một chuyến đi thằng bé không thực hiện được vào ngày hôm trước bởi tính cố chấp của Noriko. Thực ra, ông cháu tôi tự đi, Noriko không chịu đến và Setsuko một lần nữa tình nguyện ở nhà. Dĩ nhiên, đấy chỉ đơn thuần là tính cách trẻ nít của Noriko, nhưng Ichiro có cách lý giải riêng của nó về lối hành xử của phụ nữ. Khi chúng tôi ăn trưa hôm đó, thằng bé tiếp tục nói:

“Dì Noriko và mẹ không đi. Phụ nữ họ sợ phim này lắm. Có lẽ họ khiếp vía ấy ông nhỉ?”

“Ừ, ông đồ là cháu nói đúng, Ichiro à.”

“Họ quá sợ. Dì Noriko, dì sợ quá chẳng dám xem phim đúng không?”

“Ồ đúng rồi đấy.” Noriko nói, làm bộ sợ hãi.

“Cả ông cũng sợ. Xem kìa, dì cứ nhìn là biết ông cũng sợ. Mà ông là đàn ông đấy.”

Chiều hôm đó, khi đang đứng ngoài cổng chờ đi rạp chiếu phim, tôi chứng kiến một cảnh kỳ khôi giữa Ichiro và mẹ thằng bé. Trong khi Setsuko đang cài quai dép cho thằng bé, tôi thấy cháu tôi cứ cố nói gì đó với mẹ. Nhưng mỗi khi Setsuko nói: “Gì cơ Ichiro, mẹ không nghe rõ,” nó sẽ trừng mắt giận dữ, rồi liếc nhìn tôi như thể muốn biết tôi có nghe được không. Cuối cùng, khi đã đi được xong xuôi đôi dép, Setsuko cúi xuống để Ichiro có thể nói thầm vào tai mẹ nó. Rồi Setsuko gật đầu, biến mất vào nhà, và lát sau quay lại cầm theo chiếc áo mưa rồi gấp gọn và đưa cho thằng bé.

“Trời mưa sao được?” tôi nhận xét, nhìn ra ngoài cổng. Quả thực, hôm ấy trời rất đẹp.

“Con biết thế.” Setsuko nói, “nhưng Ichiro vẫn muốn mang nó theo.”

Tôi chẳng hiểu sao nó cứ nằng nặc đòi mang áo mưa như vậy. Rồi khi chúng tôi ra ngoài trời nắng, và lúc đang xuống đồi tới trạm tàu điện, tôi nhận ra vẻ nghênh ngang trong bước đi của Ichiro – như thể chiếc áo mưa kẹp trong cánh tay đã biến nó thành một người giống như Humphrey Bogart[3] – tôi bèn kết luận rằng đấy chẳng qua thằng bé đang bắt chước nhân vật nào đó trong truyện tranh.

Hình như chính lúc chúng tôi sắp đến chân đồi thì Ichiro dõng dạc tuyên bố: “Ông ơi, ông từng là một họa sĩ nổi tiếng.”

“Ông nghĩ là đúng đấy, Ichiro.”

“Cháu bảo dì Noriko cho cháu xem tranh của ông. Nhưng dì không cho cháu xem.”

“Hừm. Các tranh tạm thời được dì cất đi cho gọn rồi.”

“Như vậy là dì Noriko không nghe lời, ông nhỉ? Cháu đã bảo dì cho cháu xem tranh. Sao dì không cho cháu xem?”

Tôi cười nói: “Ông không biết Ichiro à. Có lẽ dì đang bận làm việc khác.”

“Dì không nghe lời.”

Tôi lại cười, nói: “Ông cũng cho là thế, Ichiro à.”

Từ nhà đến trạm tàu điện hết mười phút đi bộ; xuống đồi đến sông, rồi men theo bờ kè bê tông mới làm, và con đường vành đai đi về hướng Bắc giao với đường chính ngay gần khu đất có các dự án nhà ở mới. Buổi chiều nắng ấm hôm ấy, ông cháu tôi lên tàu vào trung tâm thành phố, và chính trên hành trình đó chúng tôi đã gặp tiến sĩ Saito.

Tôi nhận ra đến giờ này tôi đã nói rất ít về gia đình Saito, mà người con cả nhà họ hiện đang có cuộc mai mối với Noriko. Nhà Saito, về đại thể, ở một tầm mức khác hẳn với nhà Miyake năm ngoái. Nhà Miyake dĩ nhiên là những người đường hoàng, nhưng nói một cách công tâm nhất thì không thể gọi họ là gia đình danh giá, trong khi đó gia đình Saito, không hề cường điệu, thì đúng là như vậy. Thực ra, dù tiến sĩ Saito và tôi không hẳn là thân quen từ trước, tôi vẫn luôn biết đến các hoạt động của ông ấy trong giới hội họa, và suốt nhiều năm, mỗi khi chúng tôi gặp nhau trên phố, chúng tôi vẫn lịch sự chào nhau để tỏ ý rằng bên này biết rõ danh tiếng bên kia. Nhưng dĩ nhiên, vào dịp chúng tôi gặp nhau tháng trước, mọi việc đã trở nên rất khác.

Tàu điện thưa thớt mãi cho đến khi nó chạy qua sông ở cầu sắt đối diện ga Tanibashi, và do vậy, khi tiến sĩ Saito lên tàu sau chúng tôi một chặng, ông có thể ngồi ghế trống cạnh tôi. Lẽ tất yếu là cuộc trò chuyện của chúng tôi bắt đầu không được thoải mái lắm; vì cuộc mai mối mới ở giai đoạn đầu, còn tế nhị, và dường như thật không phù hợp nếu đằng thằng thảo luận chuyện này; nhưng cũng sẽ thật ngớ ngẩn nếu cứ giả vờ như không có gì xảy ra. Cuối cùng, cả hai chúng tôi đều ca ngợi công của “người bạn chung, ông Kyo” – người trung gian trong cuộc mai mối này – và tiến sĩ Saito nhận xét kèm theo nụ cười: “Chúng ta hãy hy vọng công sức của ông ấy sẽ sớm nối kết hai gia đình.” Và vấn đề này chỉ được chúng tôi thảo luận đến như thế mà thôi. Tôi không thể không nhận ra sự tương phản rõ nét giữa lối tự tin mà tiến sĩ Saito đã ứng biến với tình huống hơi khó xử này, với thái độ lo lắng, khúm núm trong cách gia đình Miyake xử lý mọi việc từ đầu đến cuối hồi năm ngoái. Dù kết quả cuối cùng ra sao, người ta vẫn cảm thấy yên tâm khi đi lại với gia đình như nhà Saito.

Ngoài đó ra, chúng tôi chủ yếu trò chuyện phiếm. Tiến sĩ Saito có một phong thái ân cần, ấm áp, và mỗi khi ông cúi người để hỏi Ichiro có thích về thăm ông ngoại không, về bộ phim chúng tôi chuẩn bị xem, cháu tôi không tỏ ra chút ngại ngùng khi trò chuyện với ông ấy.

“Cậu bé ngoan quá,” tiến sĩ Saito nói với tôi, giọng khen ngợi.

Chính lúc sắp đến bến ông phải xuống – ông ấy đã đội mũ lên rồi – tiến sĩ Saito bỗng nói: “Chúng ta có một người quen chung nữa. Một anh Kuroda nào đó.”

Tôi nhìn ông ta, hơi giật mình. “Anh Kuroda,” tôi nhắc lại. “À, chắc hẳn đó chính là người tôi từng chỉ dạy.”

“Đúng vậy. Tôi gặp anh ta gần đây, tình cờ anh ta lại nhắc tên ông.”

“Vậy ư? Tôi lâu rồi không gặp anh ta. Kể từ trước chiến tranh kìa, chắc là vậy. Anh Kuroda dạo này thế nào? Giờ anh ta làm gì?”

“Tôi tin là anh ta sắp nhận một công việc ở một trường mới là Cao đẳng Uemachi, anh ta sẽ dạy mỹ thuật ở đó. Vì thế mà tôi gặp anh ta. Tôi được trường đề nghị làm cố vấn cho ban tuyển dụng.”

“À, vậy là ông không biết rõ anh Kuroda.”

“Quả là không. Nhưng tôi hy vọng trong tương lai sẽ gặp anh ta nhiều hơn.”

“Vậy ư?” tôi nói. “Vậy là anh Kuroda vẫn còn nhớ tôi. Anh ta thật tử tế.”

“Vâng, quả vậy. Anh ta nhắc đến tên ông khi chúng tôi thảo luận chuyện gì đó. Tôi không có cơ hội nói chuyện lâu với anh ta. Nhưng nếu gặp lại anh ta, tôi sẽ nhắc là tôi đã gặp ông.”

“À, quả vậy.”

Xe điện đang chạy qua cầu sắt và bánh xe gây ra tiếng ồn inh tai. Ichiro lúc này đang quỳ trên ghế nhìn ra cửa sổ bèn chỉ cái gì đó dưới nước. Tiến sĩ Saito quay sang nhìn, nói thêm vài lời với Ichiro, rồi đứng lên khi tàu tới trạm dừng. Ông đưa ra lời bóng gió cuối về “công sức của ông Kyo” trước khi cúi chào và ra khỏi tàu.

Như mọi khi, nhiều người chen chúc ở trạm ngay sau khi qua cầu, và hành trình từ đây trở đi không mấy thoải mái. Khi chúng tôi xuống tàu ngay trước rạp chiếu phim, tôi có thể thấy tấm áp phích được trưng bày nổi bật ở cổng. Trong bản phác họa hai hôm trước, cháu tôi đã vẽ rất giống áp phích thật, dù trong tranh không có lửa; cái Ichiro nhớ được là những đường kẻ thể hiện chấn động – giống những tia chớp – mà các họa sĩ đã vẽ vào để nhấn mạnh sự hung tợn của con bò sát khổng lồ.

Ichiro bước đến chỗ tấm áp phích và cười ồ lên.

“Nhìn là biết con quái vật này do người ta bịa ra,” nó vừa nói vừa chỉ trỏ. “Ai cũng biết. Toàn là phịa cả.” Và nó lại cười phá lên.

“Ichiro này, cháu đừng cười to như vậy. Mọi người đang nhìn cháu đấy.”

“Nhưng cháu không nín được. Con quái vật kia trông giả quá. Nó thì dọa được ai cơ chứ?”

Mãi tới khi chúng tôi ngồi trong rạp, và bộ phim bắt đầu chiếu, tôi mới phát hiện ra mục đích thực sự của chiếc áo mưa. Phim chiếu được mười phút thì chúng tôi nghe tiếng nhạc ghê rợn và trên màn hình hiện ra một cái hang tối, làn sương cuồn cuộn bao phủ. Ichiro thì thầm: “Chán quá. Khi nào có gì hay thì ông bảo cháu nhé?” Nói xong, nó trùm áo mưa lên đầu. Một lát sau, có tiếng gầm rú, và con thằn lằn khổng lồ từ trong hang chui ra. Tay Ichiro bấu chặt vào cánh tay tôi, và khi tôi nhìn thì tay kia của thằng bé đang siết chiếc áo mưa chặt hết mức có thể.

Thằng bé chụp cái áo mưa kín đầu gần như suốt cả bộ phim. Thỉnh thoảng, cánh tay tôi lại bị giật nhẹ và một giọng khe khẽ từ bên dưới hỏi tôi: “Có gì hay chưa ông?” Thế là tôi buộc phải thì thầm mô tả những gì xuất hiện trên màn ảnh cho đến khi trên áo mưa hé ra một khe nhỏ. Nhưng chỉ được vài phút – khi có dấu hiệu nhỏ nhất rằng quái vật lại xuất hiện – thì khe hở đó khép lại, và thằng bé sẽ nói: “Chán quá. Ông nhớ nhắc cháu khi có gì hay nhé.”

Tuy nhiên, khi chúng tôi về nhà, Ichiro tỏ ra đầy phấn khích về bộ phim. “Bộ phim hay nhất cháu từng xem,” nó nói, và nó tiếp tục kể lại phim theo phiên bản riêng của nó khi chúng tôi ăn tối.

“Dì Noriko ơi, hay là cháu kể tiếp đoạn sau nhỉ? Đáng sợ lắm. Cháu kể dì nghe nhé?”

“Dì đang sợ chết khiếp đây, Ichiro, đến mức dì không ăn nổi đây này.” Noriko nói.

“Cháu báo trước, còn hơn cả sợ chết khiếp. Hay là cháu kể tiếp nhỉ?”

“Ồ, dì xin, Ichiro à. Cháu đã làm dì sợ lắm rồi.”

Tôi không có ý định bàn chuyện hệ trọng bên bàn ăn bằng cách nhắc đến ông Saito, nhưng sẽ thật không tự nhiên nếu thuật lại chuyện trong ngày mà không nhắc đến cuộc gặp của chúng tôi. Nên khi Ichiro ngừng chuyện một lúc thì tôi bảo: “Tình cờ là hai ông cháu gặp ông Saito trên tàu điện. Ông ấy đang đi gặp ai đó.”

Khi tôi nói ra, hai con tôi ngừng ăn và nhìn tôi vẻ ngạc nhiên.

“Nhưng cha không nói chuyện gì quan trọng đâu,” tôi nói, khẽ cười. “Thật đấy. Cha chỉ nói chuyện vãn, thế thôi.”

Các con tôi có vẻ không tin, nhưng chúng bắt đầu ăn tiếp. Noriko liếc nhìn chị gái, rồi Setsuko nói: “Ông Saito có khỏe không ạ?”

“Có vẻ là khỏe.”

Chúng tôi lại lặng lẽ ăn một lúc. Có lẽ Ichiro bắt đầu nói tiếp về bộ phim. Dẫu sao thì, một lúc sau, vẫn trong bữa ăn, tôi lại nói.

“Thật kỳ khôi làm sao. Hóa ra ông Saito đã gặp một học trò cũ của cha. Là Kuroda. Dường như Kuroda sắp công tác tại một trường cao đẳng mới mở.”

Tôi ngước lên khỏi bát mình và thấy hai con gái tôi ngừng ăn. Rõ ràng chúng vừa liếc nhìn nhau, và đấy là một trong những khoảnh khắc vào tháng trước mà tôi có ấn tượng dứt khoát rằng thỉnh thoảng chúng lại thảo luận những chuyện nào đó liên quan đến tôi.

Đêm hôm ấy, khi ba cha con tôi ngồi quanh bàn đọc báo và tạp chí, tiếng thình thịch đều đều thành nhịp từ đâu đó trong căn nhà phát ra làm chúng tôi không thể tập trung đọc được. Noriko ngước mắt lo ngại, nhưng Setsuko nói:

“Ichiro đấy. Nó cứ vậy mỗi khi không ngủ được.”

“Tội nghiệp Ichiro,” Noriko nói. “Em đồ rằng thằng bé vẫn mơ thấy quái vật. Cha thật tệ quá, lại đưa thằng bé đi xem bộ phim như vậy.”

“Vớ vẩn,” tôi nói. “Thằng bé thích thế mà.”

“Em nghĩ chẳng qua chính cha muốn xem thôi.” Noriko nhếch miệng cười nói với chị gái. “Tội nghiệp Ichiro. Bị kéo đi xem một bộ phim phát gớm như vậy.”

Setsuko quay sang nhìn tôi bối rối. “Cha thật tử tế đã đưa Ichiro đi xem,” con bé lí nhí.

“Nhưng giờ nó chẳng ngủ được kìa.” Noriko nói. “Thật ngớ ngẩn khi đưa nó đi xem một bộ phim như thế. Không, Setsuko, chị cứ ngồi đây. Để em lên xem.”

Setsuko nhìn em gái rời phòng, đoạn nói:

“Noriko rất hợp với trẻ con. Chúng con về nhà rồi thì Ichiro sẽ nhớ dì nó lắm.”

“Quả là vậy.”

“Con bé luôn biết cách chơi với trẻ con. Cha có nhớ em nó từng chơi với lũ trẻ nhà Kinoshita như nào không?”

“Có chứ,” tôi bật cười nói. Đoạn nói thêm: “Mấy cậu nhóc nhà Kinoshita giờ lớn rồi, chúng không muốn qua đây chơi nữa.”

“Dì ấy rất hợp với trẻ con,” Setsuko nhắc lại. “Đến tuổi này mà dì ấy chưa thành hôn thì thật buồn.”

“Quả vậy. Chiến tranh xảy ra thật chẳng đúng lúc.”

Chúng tôi tiếp tục đọc một lát nữa. Đoạn Setsuko nói:

“Tình cờ sao cha lại gặp tiến sĩ Saito trên tàu điện chiều nay. Ông ấy có vẻ là một người lịch lãm khả kính.”

“Quả là như vậy. Và theo những gì người ta nói, cậu con trai rất xứng đáng với người cha như vậy.”

“Vậy ư?” Setsuko nói, vẻ suy tư.

Chúng tôi quay lại đọc tiếp một lúc nữa. Sau đó con tôi lại phá vỡ sự im lặng.

“Và tiến sĩ Saito quen anh Kuroda ư?”

“Chỉ hơi biết thôi,” tôi nói, mắt không rời tờ báo. “Hình như họ gặp nhau đâu đó.”

“Không rõ anh Kuroda dạo này ra sao. Con vẫn nhớ anh ấy thường đến đây, và hai người nói chuyện hàng giờ trong phòng khách.”

“Cha không biết dạo này Kuroda ra sao.”

“Xin cha thứ lỗi, nhưng con tự hỏi nếu cha sắp xếp sớm đến thăm anh Kuroda thì có gì là không khôn ngoan không.”

“Thăm anh ta ư?”

“Anh Kuroda. Và có lẽ một vài người quen cũ ngày trước nữa.”

“Cha không chắc có hiểu lời con nói không, Setsuko.”

“Xin cha thứ lỗi, chỉ là con nghĩ biết đâu cha nên nói chuyện với những người quen cũ ngày trước. Nghĩa là trước khi thám tử bên nhà Saito gặp họ. Dù gì, chúng ta cũng không muốn nảy sinh những hiểu nhầm không cần thiết.”

“Ừ, cha cũng nghĩ ta không muốn điều đó,” tôi nói rồi quay lại đọc báo.

Tôi tin sau đó chúng tôi không thảo luận thêm chuyện này nữa. Và Setsuko cũng không nhắc lại chuyện này trong khoảng thời gian còn lại của đợt thăm nhà tháng trước.

***

Hôm qua, khi tôi đi tàu điện xuống Arakawa, toa tàu ngập tràn nắng thu rực rỡ. Cũng lâu rồi tôi chưa đến Arakawa – thực ra là kể từ khi chiến tranh kết thúc – và khi nhìn ra ngoài cửa sổ, tôi nhận thấy bao nhiêu là đổi thay trong cái khung cảnh đã từng quen thuộc. Đi qua Tozaka-cho và Sakaemachi, tôi có thể thấy những tòa chung cư xây bằng gạch lù lù bên trên những ngôi nhà gỗ nhỏ nhắn mà tôi còn nhớ. Rồi khi chúng tôi đi qua mặt sau các nhà máy ở Minamimachi, tôi thấy nhiều nhà máy bị bỏ hoang; những khoảng sân nhà máy nối tiếp nhau, bừa bãi những đống gỗ hỏng, những tấm tôn cũ, và rất thường là những đống gạch vụn.

Nhưng khi tuyến tàu điện vượt qua sông trên cầu THK[4], bầu không khí thay đổi hoàn toàn. Ta đi giữa những cánh đồng và rặng cây, và chẳng bao lâu, khu ngoại ô Arakawa sẽ hiện ra ở chân một ngọn đồi dốc, chính là ga cuối tuyến. Tàu điện sẽ chạy rất chậm xuống đồi, rồi phanh dừng lại, và khi bước lên vỉa hè được quét sạch sẽ, bạn sẽ ngập tràn cảm giác mình đã bỏ lại thành phố sau lưng.

Tôi nghe bảo Arakawa tránh được hoàn toàn những trận bom; quả vậy, hôm qua trông nơi này vẫn hệt như xưa. Đi bộ lên đồi một đoạn dưới rặng anh đào che bóng mát dễ chịu, tôi đến căn nhà của Chishu Matsuda và cả nó cũng không hề thay đổi.

Không rộng và cũng không đầy những nét khác thường như nhà tôi, nhà của Matsuda là điển hình của một căn nhà kiên cố, tươm tất, có thể bắt gặp ở vùng Arakawa. Nhà dựng trên nền đất, có hàng rào rộng bao quanh, cách những khu đất hàng xóm một khoảng tương đối: ở cổng, có một khóm cây đỗ quyên và một cọc lớn đóng xuống đất, trên đó có biển tên họ của gia chủ. Tôi kéo chuông và ra chào tôi là một phụ nữ độ tứ tuần mà tôi không nhận ra. Cô ta dẫn tôi vào phòng khách, rồi kéo cửa mở ra hiên nhà, để ánh nắng lùa vào và cho tôi nhìn được khu vườn ngoài kia. Rồi cô để tôi lại, bảo rằng: “Lát nữa ông Matsuda sẽ ra.”

Tôi gặp Matsuda lần đầu hồi còn sống ở dinh thự của Seiji Moriyama, nơi tôi và Rùa đã đến sau khi rời công ty của Takeda. Thực ra, cái hôm Matsuda lần đầu đến dinh thự, tôi hẳn đã sống ở đó được tầm sáu năm. Trời mưa suốt buổi sáng, và một nhóm chúng tôi đã giết thì giờ bằng cách uống rượu và chơi bài trong một căn phòng. Rồi không lâu sau bữa ăn trưa, ngay khi chúng tôi đã mở một chai lớn khác, chúng tôi nghe giọng người lạ gọi ngoài sân.

Giọng đó mạnh và quả quyết, thế là tất cả chúng tôi im lặng và lo sợ nhìn nhau. Bởi chúng tôi đều chung một ý nghĩ – rằng cảnh sát đến chỉnh huấn chúng tôi. Đây dĩ nhiên là ý tưởng ngớ ngẩn tột bậc, bởi chúng tôi không phạm tội gì cả. Và giả như, trong một cuộc trò chuyện nơi quán rượu, có ai đó phê phán lối sống của chúng tôi, thì bất kỳ ai trong bọn hẳn cũng sẽ xăng xái biện hộ cho nhóm. Nhưng giọng nói quả quyết đang gọi “Có ai trong nhà không?” đó đã khiến chúng tôi bất ngờ quá, buộc chúng tôi lộ ra cảm giác tội lỗi về những đêm muộn bù khú, về thói ngủ trương mắt suốt sáng, về lối sống không nề nếp trong dinh thự tàn tạ kia.

Phải mất một lúc thì một người đứng gần cửa nhất kéo cửa ra, trao đổi vài lời với người khách, đoạn quay lại nói: “Ono, có một quý ông muốn nói chuyện với anh.”

Tôi bước ra hiên nhà thấy một chàng thanh niên hơi gầy, trạc tuổi tôi, đang đứng giữa khoảng sân rộng. Tôi vẫn giữ một hình ảnh sống động về buổi gặp gỡ đầu tiên với Matsuda. Mưa đã thôi rơi và mặt trời ló dạng. Quanh anh ta là những vũng nước và những chiếc lá ướt sũng rụng xuống từ đám cây tuyết tùng trông xuống dinh thự. Anh ta vận đồ quá bảnh bao, khó mà là cảnh sát được; chiếc áo khoác được may khéo léo, cổ áo cao bẻ xuống, và anh ta đội chiếc mũ nghiêng che mắt, trông hơi khinh mạn. Rồi khi tôi bước ra, anh ta đang liếc nhìn chung quanh với vẻ thích thú, và điều gì đó trong cách anh ta quan sát mách bảo tôi, ngay lần tiên gặp mặt, về bản tính ngạo mạn của Matsuda. Thấy tôi anh ta chậm rãi bước đến hiên.

“Anh Ono phải không?”

Tôi hỏi có thể giúp gì được anh ta. Anh ta quay lại, mắt liếc nhìn xung quanh lần nữa, đoạn mỉm cười với tôi.

“Một nơi thú vị. Đây hẳn từng là một tòa nhà lớn. Chắc phải của một ông lớn.”

“Quả là vậy.”

“Anh Ono, tên tôi là Chishu Matsuda. Thực ra chúng ta đã từng trao đổi thư từ với nhau. Tôi làm việc cho Hội Okada-Shingen[5].”

Hội Okada-Shingen giờ không tồn tại nữa – một trong nhiều nạn nhân của quân chiếm đóng – nhưng rất có thể bạn nghe đến nó, hoặc ít nhất cũng là cuộc triển lãm do hội tổ chức hằng năm trước chiến tranh. Triển lãm Okada-Shingen có thời là con đường chủ yếu trong thành phố này để các họa sĩ mới nổi trong lĩnh vực hội họa và in khắc được công chúng để tâm. Quả thực, danh tiếng của hội lớn đến nỗi những năm sau này, hầu hết những họa sĩ hàng đầu của thành phố đã trưng bày các tác phẩm mới nhất của họ cùng với tác phẩm của những tài năng trẻ hơn. Chính liên quan đến triển lãm này mà vài tuần trước khi Matsuda ghé thăm, Hội Okada-Shingen đã viết thư cho tôi.

“Thư trả lời của anh khiến tôi có chút hiếu kỳ, anh Ono à,” Matsuda nói. “Nên tôi nghĩ mình nên ghé qua và tìm hiểu xem sự thể ra sao.”

Tôi lạnh lùng nhìn anh ta đoạn nói: “Tôi tin là trong thư phúc đáp mình đã đưa ra đầy đủ lý do rồi. Tuy nhiên, anh thật tử tế vì đã đến đây gặp tôi.”

Một nét cười khẽ xuất hiện trên khóe mắt anh ta. “Anh Ono này,” anh ta nói, “tôi thấy dường như anh đang bỏ phí một cơ hội quan trọng để khuếch trương danh tiếng bản thân đấy. Nên xin anh vui lòng cho biết, khi anh cứ một mực rằng anh không muốn dính líu đến chúng tôi, đó có phải là ý kiến cá nhân của anh không? Hay đấy là điều mà thầy của anh chỉ định?”

“Hiển nhiên, tôi đã tìm lời khuyên của thầy tôi. Tôi hoàn toàn tự tin rằng quyết định được truyền tải trong lá thư gần đây nhất là chính xác. Anh thật tử tế vì đã quá bộ đến đây, nhưng đáng tiếc là tôi lúc này đang bận và không thể mời anh vào. Vì vậy tôi chúc anh một ngày tốt lành.”

“Xin đợi một lát đã, anh Ono,” Matsuda nói, nụ cười mỉa mai hơn bao giờ hết. Anh ta tiến lên vài bước, lên thẳng hiên nhà, và ngước nhìn tôi. “Nói thẳng ra, tôi không quan tâm đến cuộc triển lãm này. Có nhiều họa sĩ khác xứng đáng với nó. Tôi đến đây, anh Ono ạ, vì tôi muốn gặp anh.”

“Thật ư? Anh thật tử tế quá.”

“Quả vậy. Tôi muốn nói tôi rất ấn tượng bởi những gì tôi thấy trong tác phẩm của anh. Tôi tin anh là người có tài năng lớn.”

“Anh quả rất tử tế. Chắc chắn nhờ sự chỉ dẫn xuất chúng của thầy nên tôi mới được như vậy.”

“Chắc chắn là vậy. Anh Ono này, chúng ta hãy quên cuộc triển lãm này đi. Anh phải hiểu tôi không đơn thuần làm cho Hội Okada-Shingen như một nhân viên. Tôi là một kẻ yêu hội họa chân chính. Tôi có niềm tin và đam mê. Và khi thỉnh thoảng tôi bắt gặp một tài năng thực sự làm tôi phấn khích, thì tôi cảm thấy mình phải làm gì đó. Tôi rất muốn thảo luận với anh về một vài ý tưởng, anh Ono ạ. Những ý tưởng hẳn trước đó chưa bao giờ anh nghĩ đến, nhưng khiêm tốn mà nói, tôi nghĩ chúng sẽ mang lợi cho sự nghiệp họa sĩ của anh. Nhưng lúc này tôi sẽ không làm phiền anh nữa. Ít nhất hãy cho tôi để lại danh thiếp.”

Anh ta lấy danh thiếp trong ví ra, đặt trên mép hiên, đoạn khẽ cúi chào, rồi ra về. Nhưng ra đến giữa sân, anh ta quay lại nói với tôi: “Hãy cân nhắc đề nghị của tôi một cách kỹ lưỡng, anh Ono. Tôi chỉ muốn thảo luận với anh những ý tưởng, vậy thôi.”

Chuyện xảy ra gần ba mươi năm trước, khi cả hai chúng tôi còn trẻ và tham vọng. Hôm qua, Matsuda là một người rất khác. Cơ thể ông ta đã suy nhược do bệnh hoạn, khuôn mặt điển trai và kiêu ngạo trước đây đã trở nên méo mó vì cái hàm dưới trễ xuống, dường như không còn nối vào hàm trên nữa. Người phụ nữ ra mở cửa cho tôi đã dìu ông ta vào phòng, và đỡ ông ngồi xuống. Khi chỉ còn hai chúng tôi, Matsuda nhìn tôi nói:

“Có vẻ ông vẫn giữ được sức khỏe rất tốt. Về phần tôi, ông có thể thấy tôi đã tàn tạ hơn nữa kể từ lần gần đây nhất chúng ta gặp nhau.”

Tôi bày tỏ cảm thông, nhưng nói rằng trông ông ta không tệ đến thế.

“Đừng phỉnh tôi, Ono ạ,” ông ta mỉm cười nói. “Tôi biết chính xác mình đang trở nên mong manh thế nào. Có vẻ như chẳng thể làm được gì nữa. Tôi chỉ còn cách đợi xem cơ thể mình có hồi phục không hay ngày càng tệ hơn. Nhưng nói những chuyện không vui thế đủ rồi. Thật ngạc nhiên vì lại được ông ghé thăm. Tôi cho là lần trước chúng ta chia tay không được vui vẻ cho lắm.”

“Thật ư? Nhưng tôi không biết là chúng ta đã tranh cãi đấy.”

“Dĩ nhiên là không. Tại sao chúng ta phải tranh cãi chứ? Tôi mừng là ông lại đến gặp tôi. Phải đến ba năm rồi kể từ lần cuối chúng ta gặp nhau.”

“Tôi tin là vậy. Tôi không có chủ ý tránh mặt ông. Tôi đôi lúc cũng định đi thăm ông một chuyến. Nhưng vì việc này việc nọ...”

“Hiển nhiên,” ông ta nói. “Ông có nhiều thứ phải quan tâm. Dĩ nhiên, ông phải thứ lỗi cho tôi vì đã không dự tang lễ bà Michiko. Tôi đã tính viết thư cáo lỗi. Vấn đề là, mãi đến mấy ngày sau đó tôi mới hay tin. Và lúc ấy, dĩ nhiên, sức khỏe của tôi...”

“Hiển nhiên, hiển nhiên rồi. Quả thực, tôi chắc một cái tang lễ đình đám quá sẽ làm bà ấy ngại lắm. Dù sao đi nữa, bà ấy hẳn đã biết ông vẫn quan tâm đến bà ấy.”

“Tôi vẫn nhớ khi ông và bà Michiko đến với nhau.” Ông ta bật cười và gật gù. “Tôi rất mừng cho ông ngày hôm đó, ông Ono ạ.”

“Quả vậy,” tôi nói, cũng bật cười. “Ông là người toàn tâm tác thành cho chúng tôi. Người chú của ông không đảm đương nổi công việc ấy.”

“Đúng vậy,” Matsuda nói, mỉm cười, “ông đẩy hết mọi việc cho tôi. Chú ấy quá ngượng, không thể nói hay làm gì mà mặt không đỏ bừng lên. Ông còn nhớ buổi gặp mặt ở khách sạn Yanagimachi không?”

Cả hai chúng tôi đều cười. Rồi tôi nói:

“Ông đã làm nhiều thứ vì chúng tôi. Tôi ngờ rằng chuyện sẽ không thể tác thành nếu không có ông. Michiko luôn cảm thấy biết ơn khi nghĩ đến ông.”

“Thật là tàn nhẫn,” Matsuda thở dài nói. “Khi chiến tranh gần kết thúc. Tôi nghe nói đấy là một vụ cướp bóc bất ngờ.”

“Quả vậy. Hầu như không có ai không bị thương. Đúng như ông nói, thật là tàn nhẫn.”

“Nhưng tôi lại khơi lại những chuyện khủng khiếp rồi, tôi xin lỗi.”

“Không hề gì. Tôi thấy an ủi khi cùng ông nhớ về bà ấy. Tôi nhớ bà ấy vào thời xưa.”

“Quả vậy.”

Người phụ nữ mang trà vào. Khi cô ta đặt khay xuống, Matsuda nói với cô ta: “Cô Suzuki này, đây là đồng nghiệp cũ của tôi. Chúng tôi từng rất thân thiết.”

Cô ta quay sang tôi, cúi đầu chào.

“Cô Suzuki vừa là giúp việc vừa là y tá cho tôi.” Matsuda nói. “Nhờ cô ấy mà giờ tôi vẫn còn thở được.”

Cô Suzuki bật cười, cúi chào lần nữa rồi cáo lui.

Một lúc sau khi cô rời khỏi phòng, Matsuda và tôi ngồi im lặng, cả hai đều nhìn ra khoảng không giữa hai cửa trượt mà cô Suzuki đã mở ra trước đó. Từ chỗ tôi ngồi, có thể nhìn thấy một đôi dép rơm để ngoài hiên dưới nắng. Nhưng tôi không thấy được nhiều phần của khu vườn cho lắm, và trong giây lát, tôi cảm thấy thôi thúc muốn đứng lên bước ra ngoài hiên. Nhưng nhận ra Matsuda sẽ muốn đi cùng tôi song khó mà làm thế được, nên tôi ngồi yên, và tự hỏi liệu khu vườn có còn như trước đây. Như tôi nhớ, khu vườn của Matsuda, dẫu nhỏ, được bài trí rất có gu: nền thảm rêu mềm, vài cây nhỏ được tạo thế đẹp mắt, và một cái hồ sâu. Khi ngồi cùng Matsuda, tôi thỉnh thoảng nghe thấy tiếng quẫy nước ở ngoài kia và tôi toan hỏi liệu ông ta có vẫn nuôi cá chép, thì ông nói:

“Tôi không hề cường điệu khi bảo ông rằng cô Suzuki có ơn về tính mạng của tôi. Đã hơn một lần cô ấy chứng tỏ mình là người cần thiết thế nào. Ông thấy đấy, Ono ạ, bất chấp tất cả những chuyện đã xảy ra, tôi cũng đã xoay xở giữ được chút tiết kiệm và tài sản. Kết quả là, tôi có thể thuê cô ấy. Những người khác không may mắn được như vậy. Tôi không hẳn là giàu có, nhưng nếu biết một đồng nghiệp cũ gặp khó khăn, tôi sẽ làm mọi việc trong khả năng để giúp đỡ. Dù sao, tôi cũng có con cái đâu để mà thừa kế.”

Tôi cười ồ. “Đúng là Matsuda ngày xưa. Rất thẳng thắn. Ông thật tử tế, nhưng đấy không phải lý do tôi đến đây. Tôi cũng giữ được cho mình chút tài sản.”

“À, tôi rất vui khi nghe vậy. Ông nhớ Nakane không, vị hiệu trưởng ở trường Cao đẳng Hoàng gia Minami ấy? Tôi thỉnh thoảng vẫn gặp ông ta. Độ này trông ông ta chỉ hơn kẻ ăn mày tí chút. Dĩ nhiên, ông ta vẫn cố giữ thể diện, nhưng ông ta sống hoàn toàn nhờ tiền vay mượn.”

“Thật khủng khiếp.”

“Có những chuyện bất công đã xảy ra,” Matsuda nói. “Nhưng mà, cả hai chúng ta đều giữ lại được tài sản của mình. Và ông có thêm một lý do để biết ơn, Ono ạ. Ông dường như vẫn giữ được sức khỏe của mình.”

“Quả vậy,” tôi nói. “Tôi có nhiều điều phải trân trọng.”

Một lần nữa, tiếng quẫy nước từ bên ngoài hồ vọng vào, và tôi chợt nghĩ đó có thể là tiếng chim đang rỉa lông ở mép nước.

“Vườn nhà ông nghe tiếng khác hẳn vườn nhà tôi,” tôi nhận xét. “Chỉ nghe tiếng trong vườn nhà ông, tôi có thể nói chúng ta đã không còn trong thành phố.”

“Vậy ư? Tôi hầu như không nhớ tiếng thành phố như thế nào nữa. Đây là phạm vi thế giới của tôi vài năm qua. Căn nhà này và khu vườn này.”

“Thực ra là tôi đến đây để nhờ ông giúp một việc. Nhưng không phải theo cách ông ám chỉ lúc nãy.”

“Tôi thấy ông đã mếch lòng rồi,” ông ta gật đầu nói. “Chẳng khác gì ngày xưa.”

Cả hai chúng tôi cùng cười. Đoạn ông ấy nói: “Vậy tôi có thể làm gì giúp được ông đây?”

“Thực ra là,” tôi nói, “Noriko, con gái út nhà tôi, hiện đang trong cuộc mai mối hôn nhân.”

“Vậy ư?”

“Nói thật, tôi hơi lo cho con bé. Con bé đã hai sáu rồi. Chiến tranh làm mọi chuyện trở nên khó khăn với nó. Nếu không thì chắc chắn lúc này con bé đã yên bề gia thất.”

“Tôi tin là tôi còn nhớ cô Noriko. Nhưng chỉ nhớ là một cô bé con thôi. Đã hai sáu rồi đấy. Như ông nói, chiến tranh làm mọi chuyện trở nên khó khăn, ngay cả với những người có triển vọng tốt đẹp nhất.”

“Con bé suýt nữa thì kết hôn năm ngoái,” tôi nói, “nhưng cuộc tìm hiểu đổ vỡ vào phút chót. Tôi chỉ băn khoăn, trong khi chúng tôi đang xúc tiến việc đó, thì liệu vào năm ngoái có ai tìm đến ông hỏi về chuyện Noriko không? Tôi không có ý bất nhã, nhưng…”

“Không bất nhã gì đâu, tôi rất hiểu. Nhưng không, tôi chưa bao giờ nói chuyện với ai. Tầm này năm ngoái tôi ốm yếu lắm rồi. Nếu có thám tử nào tìm đến, chắc chắn cô Suzuki sẽ đuổi hắn đi.”

Tôi gật đầu, đoạn nói: “Chỉ là có khả năng năm nay sẽ có người tìm đến thăm ông.”

“Ồ? Vậy thì tôi sẽ chỉ nói những điều tốt đẹp về ông. Dù gì, chúng ta từng là đồng nghiệp tốt.”

“Đa tạ.”

“Ông thật tốt vì đã ghé thăm thế này,” ông ấy nói. “Nhưng liên quan đến việc kết hôn của cô Noriko thì không cần thiết phải làm vậy. Chúng ta có thể bất đồng với nhau về những vấn đề đơn giản nhất, nhưng những chuyện như thế này không nên xen vào giữa hai chúng ta. Hiển nhiên, tôi sẽ chỉ nói những điều tốt đẹp nhất về ông.”

“Tôi không nghi ngờ gì điều đó,” tôi nói. “Ông luôn là người rộng lượng.”

“Dẫu vậy, nếu vì điều này mà chúng ta được gặp nhau thì tôi rất vui mừng.”

Matsuda gắng gượng rướn người tới và bắt đầu rót thêm trà. “Xin thứ lỗi cho tôi, ông Ono,” cuối cùng ông ấy nói, “dường như ông vẫn còn điều gì bất an.”

“Vậy ư?”

“Xin thứ lỗi vì đề cập sỗ sàng như vậy, nhưng thực sự là lát nữa thôi cô Suzuki sẽ vào nhắc nhở tôi phải nghỉ ngơi. Tôi e là sẽ không thể tiếp khách lâu được, dù đó là đồng nghiệp cũ.”

“Dĩ nhiên, tôi rất xin lỗi. Tôi thật khinh suất.”

“Đừng buồn cười như vậy, ông Ono. Ông chưa về ngay được đâu. Tôi nói thế bởi vì nếu ông đến đây có chuyện cụ thể gì để nói, thì tốt nhất ông nên nói sớm đi.” Bỗng nhiên, ông ấy bật cười, nói: “Thực ra, trông ông có vẻ thất kinh vì lối cư xử tệ bạc của tôi.”

“Hoàn toàn không. Tôi thật khinh suất quá. Nhưng sự thật là tôi đến đây đơn giản chỉ vì tiền đồ hôn nhân của con gái tôi thôi.”

“Tôi hiểu rồi.”

“Nhưng tôi đồ rằng,” tôi nói tiếp, “tôi cũng có ý định nhắc đến một vài tình huống nhất định. Ông thấy đấy, cuộc mai mối hiện tại có thể rất mong manh. Tôi sẽ chịu ơn ông rất nhiều nếu ông trả lời một cách tế nhị bất kỳ câu hỏi nào có thể người ta đặt ra cho ông.”

“Dĩ nhiên rồi.” Ông ta nhìn tôi, và có một vẻ thích thú hiện lên trong ánh mắt. “Tôi sẽ tuyệt đối tế nhị.”

“Đặc biệt là, nghĩa là, những chuyện trong quá khứ.”

“Nhưng như tôi đã nói rồi đấy.” Matsuda nói, và giọng ông ta lạnh lùng hơn một chút, “tôi chỉ có những điều tốt đẹp nhất để nói về ông trong quá khứ.”

“Dĩ nhiên rồi.”

Matsuda tiếp tục nhìn tôi một lát, đoạn thở dài.

“Ba năm rồi tôi gần như không ra khỏi ngôi nhà này,” ông nói. “Nhưng tôi vẫn nghe ngóng chuyện xảy ra trên đất nước chúng ta. Tôi nhận ra hiện nay có những kẻ kết án những người như ông và tôi về chính những điều mà chúng ta từng tự hào đã đạt được. Và tôi cho rằng đó là lý do ông lo lắng, ông Ono. Có lẽ ông sợ tôi sẽ ca ngợi ông vì những điều có lẽ tốt nhất nên quên đi thì hơn.”

“Không phải những chuyện như vậy,” tôi vội nói. “Ông và tôi có rất nhiều điều đáng tự hào. Chỉ là liên quan đến chuyện mai mối hôn nhân, ta phải hiểu được sự tế nhị của hoàn cảnh. Nhưng ông làm tôi thấy yên tâm rồi. Tôi biết ông vẫn sẽ xét đoán khéo léo như xưa.”

“Tôi sẽ làm hết sức mình.” Matsuda nói. “Nhưng, Ono này, có những điều hai chúng ta nên thấy tự hào. Đừng để tâm đến ngày nay người ta nói gì. Chẳng bao lâu nữa, vài ba năm nữa thôi, những người như chúng ta sẽ có thể ngẩng cao đầu về những gì mình đã cố gắng làm. Tôi chỉ hy vọng mình sống được đến ngày đó. Tôi ao ước được thấy những nỗ lực của đời mình được chiêu tuyết.”

“Dĩ nhiên rồi. Tôi cũng cảm thấy y như vậy. Nhưng về chuyện đàm phán hôn nhân...”

“Hiển nhiên,” Matsuda ngắt lời, “tôi sẽ cố gắng tế nhị hết mực.”

Tôi cúi đầu, và chúng tôi rơi vào im lặng một lúc. Đoạn ông ấy nói:

“Nhưng nói xem, Ono, nếu đúng là ông lo lắng về quá khứ, tôi cho rằng ông đã ghé thăm vài người quen cũ?”

“Thực ra ông là người đầu tiên tôi tìm đến. Tôi không biết những người bạn cũ của chúng ta giờ ở đâu.”

“Còn Kuroda thì sao? Tôi nghe nói cậu ta sống đâu đó trong thành phố.”

“Vậy ư? Tôi đã không liên lạc với cậu ta kể từ... kể từ chiến tranh.”

“Nếu chúng ta lo lắng cho tương lai của cô Noriko, có lẽ tốt nhất ông nên tìm cậu ta, dù chuyện đó có thể đau đớn.”

“Quả vậy. Chỉ là tôi không biết cậu ta ở đâu.”

“Tôi hiểu. Hy vọng thám tử của họ sẽ cũng mất dấu như vậy khi tìm kiếm cậu ta. Nhưng đôi khi những tay thám tử đó cũng khéo xoay xở lắm.”

“Quả vậy.”

“Ono này, trông ông tái xanh tái ngắt ấy. Lúc mới đến ông còn khỏe lắm mà. Ở chung phòng với người bệnh tật thì bị thế đấy.”

Tôi bật cười, nói: “Không phải vậy đâu. Chỉ là chuyện con cái bỗng trở thành một mối lo lớn.”

Matsuda lại thở dài và nói: “Đôi khi người ta bảo tôi đã lỡ dở vì không kết hôn và sinh con. Nhưng khi tôi nhìn quanh, con trẻ dường như chẳng là gì hết ngoài những lo toan.”

“Điều đó cũng không hẳn là sai đâu.”

“Nhưng mà,” ông nói, “ta sẽ cảm thấy an ủi khi nghĩ rằng con cái sẽ thừa kế tài sản của mình.”

“Quả vậy.”

Vài phút sau, như Matsuda dự đoán, cô Suzuki vào phòng và nói gì đó với ông. Matsuda mỉm cười và nói với vẻ cam chịu:

“Y tá đến đón tôi rồi. Dĩ nhiên, ông cứ ở lại đây chừng nào tùy ý. Nhưng tôi phải xin cáo lỗi ông, Ono.”

Sau đó, khi tôi đứng ở bến đợi chuyến tàu điện đưa tôi lên đồi dốc quay về thành phố, tôi cảm thấy được an ủi khi nhớ lại lời cam đoan của Matsuda rằng ông ấy sẽ “chỉ kể lại những điều tốt đẹp nhất trong quá khứ”. Dĩ nhiên, tôi có lý do để tin tưởng điều này mà không cần đến thăm ông ấy. Nhưng mà, nối lại liên hệ với đồng nghiệp cũ luôn là điều tốt. Tựu trung lại, chuyến đi hôm qua đến Arakawa hoàn toàn bõ công.

[1] Nhân vật cao bồi Lone Ranger có chú ngựa tên là Silver. “Hi yo Silver” là câu nói khi Lone Ranger thúc ngựa phi nước đại.

[2] Harakiri: một nghi thức tự sát của người Nhật.

[3] Diễn viên Mỹ nổi tiếng vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20.

[4] Một công ty lớn của Nhật Bản, thành lập vào năm 1971.

[5] Tiếng Nhật, nghĩa là Đời sống mới.

Người dịch: Triều Dương
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.