Một Họa Sĩ Phù Thế

Lượt đọc: 19 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
THÁNG MƯỜI MỘT NĂM 1949 (2)

❊ ❊ ❊

“Con không thể đồng ý, thưa thầy,” tôi nói. “Con nghĩ những bản in kia là những mẫu mực phi thường về cách mà tài năng của một họa sĩ có thể vượt qua những giới hạn của một phong cách nhất định. Con thường nghĩ quả là tột cùng đáng tiếc khi những tác phẩm đầu tay của thầy lại bị cầm giữ trong những căn phòng như thế này. Chắc chắn chúng phải được trưng bày cùng với những bức tranh khác của thầy.”

Thầy Mori vẫn chìm đắm vào những bức tranh của ông. “Hỏng chí tử,” ông nhắc lại. “Nhưng ta cho rằng lúc ấy ta còn rất trẻ.” Ông lại xê dịch ngọn đèn, khiến một bức tranh nhòa vào bóng tối và bức tranh khác hiện ra. Đoạn ông nói: “Mấy tranh này đều là cảnh một kỹ viện nào đó ở Honcho. Một nơi rất được ưa chuộng thời ta còn trẻ. Gisaburo và ta thường cùng nhau đến những nơi như vậy.” Ngừng lại một khắc, rồi ông nói tiếp: “Đây là những bức tranh hỏng chí tử, Ono ạ.”

“Nhưng thưa thầy, con không thể nhận ra khiếm khuyết nào trong những bản in này, dù một con mắt tinh tường hơn hẳn có thể.”

Ông tiếp tục xem những bức tranh một lúc nữa, rồi bắt đầu băng qua căn phòng đi tới cửa. Tôi cảm tưởng như ông phải mất một lượng thời gian quá nhiều để xoay xở băng qua những đồ vật trên sàn; đôi khi, tôi nghe ông lẩm nhẩm gì đó một mình và tiếng chân ông gạt một cái bình hoặc chiếc hộp ra xa. Quả thật, một vài lần tôi nghĩ thầy Mori thực ra đang tìm kiếm gì đó – có lẽ những bản tranh in thuở đầu của ông – giữa những chồng hỗn độn này, nhưng cuối cùng ông ngồi xuống cái rương gỗ cũ rồi cất tiếng thở dài. Sau một lát yên lặng nữa, ông mới nói:

“Gisaburo là một người bất hạnh. Cuộc đời ông ấy thật buồn. Tài năng của ông ấy đã tàn lụi. Những người ông ấy từng yêu đã chết hoặc bỏ rơi ông ấy. Ngay thời chúng ta còn trẻ, ông ấy đã mang một tính cách đơn độc, buồn bã.” Thầy Mori ngừng một lát. Rồi ông tiếp tục nói: “Nhưng thỉnh thoảng chúng ta cùng uống rượu và vui thú với đàn bà ở khu phố hoan lạc, và Gisaburo sẽ trở nên hạnh phúc. Những phụ nữ ấy sẽ nói những điều ông ta muốn nghe, và trong cái đêm đó, ông ấy có thể tin lời họ. Dĩ nhiên, khi ngày đến, ông ấy là một người quá lịch duyệt nên không tin vào những điều như vậy nữa. Nhưng cũng không vì thế mà Gisaburo bớt trân trọng những buổi tối như vậy. Điều tuyệt vời nhất, ông ấy từng hay nói, là hợp trong một đêm rồi tan biến vào sớm mai. Cái người ta gọi là phù thế, Ono ạ, thì với Gisaburo lại là một cõi mà ông trân trọng.”

Thầy Mori lại ngừng lời. Vẫn như trước, tôi chỉ có thể nhìn thấy viền thân hình ông, nhưng tôi cảm thấy như ông đang lắng nghe những âm thanh huyên náo từ bên kia sân vọng lại. Đoạn ông nói: “Bây giờ ông ấy già hơn và buồn hơn, nhưng ở nhiều khía cạnh thì ông ấy chẳng thay đổi mấy. Đêm nay ông ấy hạnh phúc, giống như ông ấy đã từng hạnh phúc trong những thanh lâu kia.” Ông hít một hơi dài, như thể ông đang hút thuốc lá. Rồi ông nói tiếp: “Cái đẹp tinh tế nhất, mong manh nhất mà một họa sĩ có thể hy vọng nắm bắt được, nó bồng bềnh trong những thanh lâu ấy khi màn đêm buông xuống. Và trong những đêm như vậy, Ono à, một chút cái đẹp ấy dạt vào trú sở của chúng ta đây. Nhưng những bức tranh kia, chúng không hề gợi được những phẩm chất nhất thời và hư ảo ấy. Chúng hỏng từ trong sâu xa, Ono à.”

“Nhưng thưa thầy, trong mắt con, những tranh ấy gợi ra một cách chẳng thể ấn tượng hơn, chính những điều ấy.”

“Ta còn rất trẻ lúc thực hiện những bức tranh đó. Ta ngờ rằng lý do ta không thể tôn vinh cõi phù thế ấy là vì ta không thể bắt mình tin vào giá trị của nó. Những thanh niên thường mang nặng cảm giác tội lỗi khi nghĩ về khoái lạc, và ta cho là ta cũng không phải ngoại lệ. Ta cho rằng mình đã nghĩ như thế để cho mau hết thì giờ ở những nơi như vậy, để dùng tài khéo của mình vinh danh những điều mơ hồ và phù du đến thế, ta cho rằng ta đã nghĩ tất cả những điều đó là phí phạm, là suy đồi. Thật khó mà trân trọng vẻ đẹp của một thế giới khi người ta còn nghi hoặc về giá trị của nó.”

Tôi suy nghĩ về điều thầy nói, đoạn đáp: “Quả vậy, thưa thầy, con thừa nhận điều thầy nói cũng rất đúng với tác phẩm của con. Con sẽ làm tất cả những gì có thể để khắc phục vấn đề này.”

Thầy Mori dường như không nghe tôi nói. “Nhưng từ lâu ta đã đánh mất tất cả những ngờ vực đó, Ono à,” ông tiếp tục. “Khi là một ông già, khi ta nhìn lại đời mình và thấy ta đã dâng hiến cả đời mình cho nhiệm vụ nắm bắt cái đẹp độc nhất vô nhị của thế giới ấy, ta tin ta sẽ mãn nguyện. Và không kẻ nào có thể thuyết phục ta rằng ta đã lãng phí đời mình.”

Dĩ nhiên, cũng có thể thầy Mori không dùng chính xác những từ ấy. Quả thực, khi nghĩ lại, những lời đó phần nhiều giống điều mà tôi sẽ tuyên bố với học trò của mình sau khi chúng tôi đã ngấm chút men ở Migi-Hidari. “Là thế hệ họa sĩ mới của Nhật Bản, các con có một trách nhiệm lớn lao đối với văn hóa của dân tộc này. Ta tự hào vì có những học trò như các con đây. Và dù có thể ta chỉ xứng đáng với những lời ca ngợi khiêm nhường nhất, thì khi nhìn lại cuộc đời mình và nhớ rằng ta đã nuôi dưỡng và nâng đỡ sự nghiệp cho tất các trò ở đây, chao ôi, sẽ không một ai có thể thuyết phục ta rằng ta đã lãng phí đời mình.” Và mỗi khi tôi nói như vậy, tất cả những thanh niên tụ hội quanh bàn sẽ nhao nhao phản đối cách tôi xem nhẹ những bức tranh của mình – thứ họ ồn ào nhắc nhở tôi, chắc chắn là những tác phẩm vĩ đại sẽ còn lưu truyền cho hậu thế. Nhưng lần nữa, như tôi đã nói, nhiều câu từ và diễn đạt đã trở thành đặc trưng của tôi thực ra là được tôi thừa kế từ thầy Mori, và rất có thể rằng đó đích xác là những lời của thầy tôi đêm hôm đó, đã thấm nhuần trong tôi bởi ấn tượng mạnh mẽ chúng gây ra cho tôi lúc bấy giờ.

Nhưng tôi lại lạc đề rồi. Tôi đang cố nhớ lại bữa ăn trưa của tôi ở bách hóa cùng đứa cháu trai hồi tháng trước sau cuộc trò chuyện phiền lòng với Setsuko trong công viên Kawabe. Thực ra, tôi tin tôi đang nhớ đến lời ca tụng của Ichiro dành cho rau chân vịt.

Tôi nhớ khi bữa trưa được mang ra, Ichiro ngồi đó chăm chú vào món rau chân vịt trên đĩa, lúc lúc lại thọc thìa vào. Rồi nó ngước lên nói: “Ông ơi, xem này!”

Cháu tôi chất rau chân vịt vào thìa nhiều hết mức có thể, rồi đưa thìa lên cao và bắt đầu đổ vào miệng. Phương pháp của nó giống như người ta đang uống những giọt cặn cuối cùng trong chai.

“Ichiro,” tôi nói, “ông không nghĩ như vậy là lịch sự đâu.”

Nhưng cháu tôi tiếp tục vừa cho thêm rau chân vịt vào miệng vừa nhai ngấu nghiến. Nó chỉ đặt thìa xuống khi trên đó không còn gì, còn má nó phồng lên như sắp vỡ tung. Rồi, vẫn nhai, nó làm vẻ mặt nghiêm nghị, phồng ngực lên và bắt đầu đấm không khí tứ tung.

“Cháu đang làm gì thế, Ichiro? Bảo ông xem cháu định làm gì.”

“Ông đoán xem!” nó nói, miệng vẫn nhai rau chân vịt.

“Hừm. Ông không biết, Ichiro à. Một người uống rượu sake và đánh nhau hở. Không phải ư? Vậy nói ông nghe nào. Ông không đoán được.”

“Thủy thủ Pa-pai!”

“Là gì thế, Ichiro? Một người hùng khác của cháu à?”

“Thủy thủ Pa-pai ăn rau chân vịt. Rau chân vịt làm chú ấy mạnh mẽ hơn.” Nó lại phồng ngực lên và đấm vào không khí.

“Ông hiểu rồi, Ichiro,” tôi cười nói. “Rau chân vịt đúng là món ăn kỳ diệu.”

“Sake có làm cho ông mạnh mẽ không?”

Tôi mỉm cười và lắc đầu. “Sake có thể làm cho cháu tin là cháu mạnh mẽ. Nhưng thực tế, Ichiro à, cháu không mạnh hơn so với trước khi uống đâu.”

“Vậy sao người ta lại uống sake hả ông?”

“Ông không biết, Ichiro à. Có lẽ vì trong một thoáng, họ có thể tin là họ mạnh mẽ hơn. Nhưng sake không thực sự làm người ta mạnh mẽ hơn.”

“Rau chân vịt khiến ông mạnh thật đấy.”

“Vậy rau chân vịt tốt hơn sake nhiều. Cháu cứ ăn rau chân vịt nữa đi Ichiro. Nhưng kìa, còn những thứ khác trên đĩa cháu thì sao?”

“Cháu cũng thích uống sake. Và whisky. Ở nhà, có một quầy bar cháu vẫn vào luôn luôn.”

“Vậy ư, Ichiro. Ông nghĩ tốt hơn là cháu cứ ăn rau chân vịt đi. Như cháu nói đấy, nó khiến cháu mạnh mẽ hơn.”

“Cháu thích sake nhất. Mỗi đêm cháu uống mười chai. Rồi cháu uống mười chai whisky.”

“Vậy ư, Ichiro. Giờ thế quả là uống thật rồi đấy. Thế thì mẹ cháu phải đau đầu lắm.”

“Phụ nữ không bao giờ hiểu tại sao đàn ông chúng ta uống rượu đâu,” Ichiro nói, và hướng sự chú ý vào suất ăn trưa trước mặt. Nhưng nó lại ngước lên nói: “Hôm nay ông đến ăn tối.”

“Đúng rồi, Ichiro. Ông mong là dì Noriko sẽ chuẩn bị món gì đó thật ngon.”

“Dì Noriko đã mua rượu sake. Dì bảo ông và chú Taro sẽ uống hết.”

“Ồ, quả là chúng ta sẽ uống hết đấy. Ta chắc là phụ nữ cũng sẽ muốn uống một chút. Nhưng dì cháu đúng đấy, Ichiro. Sake chủ yếu dành cho đàn ông thôi.”

“Ông ơi, nếu phụ nữ uống rượu thì chuyện gì xảy ra?”

“Hừm. Không biết thế nào nữa. Phụ nữ không mạnh mẽ như đàn ông chúng ta, Ichiro à. Nên có lẽ họ sẽ chóng say.”

“Dì Noriko sẽ say! Có lẽ dì sẽ uống một ly nhỏ rồi say ngất ngư luôn!”

Tôi bật cười. “Đúng rồi, rất có thể.”

“Dì Noriko có thể sẽ say ngất ngư luôn! Dì sẽ hát ê a rồi ngủ gục ngay tại bàn!”

“Ồ, Ichiro,” tôi nói, vẫn cười, “đàn ông chúng ta nên uống sake một mình thôi, phải không?”

“Đàn ông mạnh mẽ hơn, nên chúng ta có thể uống nhiều hơn.”

“Đúng rồi, Ichiro. Chúng ta nên uống sake một mình thôi.” Rồi sau khi nghĩ một lúc, tôi nói thêm: “Ông nghĩ là giờ cháu được tám tuổi rồi nhỉ, Ichiro. Cháu sẽ lớn lên thành một người đàn ông cao lớn. Ai biết được nhỉ? Có lẽ ông sẽ xin phép mẹ cho cháu uống chút sake đêm nay.”

Cháu tôi nhìn tôi với vẻ mặt thoáng sợ hãi, và không nói gì. Tôi mỉm cười với cháu, rồi liếc ra bầu trời xám xịt qua cửa sổ lớn phía sau chúng tôi.

“Cháu chưa gặp cậu Kenji bao giờ, Ichiro. Khi ở tuổi cháu, cậu ấy cũng cao lớn và khỏe mạnh như cháu bây giờ. Ông nhớ cậu cháu lần đầu tiên nếm sake cũng ở tầm tuổi cháu thôi. Ông sẽ lo chuyện này, Ichiro, tối nay cháu sẽ nếm một ngụm nhỏ.”

Ichiro dường như cân nhắc chuyện này một lúc. Đoạn nó nói:

“Mẹ sẽ không thích.”

“Đừng lo mẹ cháu, Ichiro. Mẹ cháu thì cứ để ông xử lý cho.”

Ichiro lắc đầu uể oải. “Phụ nữ không bao giờ hiểu tại sao đàn ông uống rượu,” nó nhận xét.

“Ồ, đã đến lúc người đàn ông như cháu nếm chút sake rồi. Cháu đừng lo, Ichiro, để ông lo mẹ cháu cho. Chúng ta không thể để phụ nữ bảo làm gì thì làm được, phải không?”

Cháu tôi mải mê suy nghĩ một lúc. Rồi bỗng nhiên nó nói lớn:

“Dì Noriko sẽ say!”

Tôi bật cười. “Để rồi xem, Ichiro,” tôi nói.

“Dì Noriko sẽ say ngất ngư!”

Có lẽ độ mười lăm phút sau, khi chúng tôi đang đợi kem mang đến, Ichiro hỏi bằng giọng quan tâm.

“Ông ơi, ông có biết Yujiro Naguchi không?”

“Chắc ý cháu là Yukio Naguchi, Ichiro ạ. Không, ông không quen biết ông ấy.” Cháu tôi không đáp, dường như đang mải xem bóng mình trong gương bên cạnh.

“Mẹ cháu,” tôi nói tiếp, “dường như cũng nghĩ đến ông Naguchi khi ông nói chuyện với mẹ cháu ở công viên sáng nay. Ông đoán là bố mẹ cháu đã bàn về ông ấy vào bữa tối hôm qua, phải không?”

Trong một lát, Ichiro vẫn nhìn bóng mình trong gương. Rồi nó quay sang tôi hỏi:

“Ông Naguchi có giống ông không ạ?”

“Ông Naguchi có giống ông không à? Ồ, mẹ cháu dường như không nghĩ vậy. Đó là điều có lần ông đã nói với chú Taro, Ichiro à, không có gì nghiêm trọng đâu. Mẹ cháu dường như tiếp nhận chuyện này một cách sốt sắng thái quá. Ông gần như không nhớ đã nói gì với chú Taro lúc đó, nhưng ông chỉ tình cờ chỉ ra rằng chú ấy có một vài điểm chung với ông Naguchi. Giờ cháu nói ông nghe xem nào, Ichiro, những người lớn đã nói gì tối qua?”

“Ông à, sao ông Naguchi tự tử vậy?”

“Thật khó mà biết chắc được, Ichiro à. Ông chưa từng quen thân ông Naguchi.”

“Nhưng ông ấy là người xấu ư?”

“Không. Ông ấy không phải người xấu. Ông ấy chỉ là người gắng hết sức làm điều ông ấy cho là tốt nhất. Nhưng cháu thấy đấy, Ichiro, khi chiến tranh kết thúc, mọi chuyện đã thay đổi. Những bài hát ông Naguchi sáng tác từng trở nên nổi tiếng, không chỉ trong thành phố này, mà toàn Nhật Bản. Chúng được hát trên đài phát thanh và trong quán bar. Và những người như cậu Kenji hát những bài hát đó khi hành quân hoặc trước mỗi trận đánh. Và sau chiến tranh, ông Naguchi nghĩ những bài hát của ông là – chà – một sai lầm. Ông ấy nghĩ về những người bị giết, những cậu bé ở độ tuổi như cháu, Ichiro à, những cậu bé không còn cha mẹ, ông ấy nghĩ đến tất cả những điều ấy và có lẽ ông ấy nghĩ những bài hát của ông ấy là một sai lầm. Và ông ấy cảm thấy nên gửi lời xin lỗi. Tới tất cả những người bị bỏ lại. Tới những cậu bé không còn cha mẹ. Tới những người cha người mẹ đã mất đi những cậu con trai như cháu. Ông ấy muốn xin lỗi tất cả những người ấy. Ông nghĩ đó là lý do ông ấy tự tử. Ông Naguchi không hề là người xấu, Ichiro à. Ông ấy can đảm thừa nhận những sai lầm ông ấy gây ra. Ông ấy rất can đảm và đáng trọng.”

Ichiro quan sát tôi với vẻ mặt trầm ngâm. Tôi bật cười nói: “Có chuyện gì vậy, Ichiro?”

Cháu tôi dường như toan nói gì, nhưng lại quay sang ngắm nhìn khuôn mặt nó trong gương.

“Ông không có ý gì khi nói rằng chú Taro giống ông Naguchi đâu,” tôi nói. “Lúc đấy ông chỉ nói đùa thôi. Lần sau khi nghe mẹ cháu nói về ông Naguchi cháu hãy bảo mẹ cháu như vậy. Bởi vì từ những gì mẹ cháu nói sáng nay, mẹ cháu hiểu toàn bộ câu chuyện này một cách khá sai lầm. Có chuyện gì vậy, Ichiro? Sao bỗng nhiên im lặng thế.”

Sau bữa trưa, chúng tôi dành chút thì giờ dạo qua những cửa hàng trong trung tâm thành phố, ngắm những đồ chơi và sách vở. Sau đó, đến cuối chiều, tôi đãi Ichiro một chầu kem nữa tại một trong những tiệm lịch sự trên phố Sakurabashi, trước khi quay về căn hộ mới của Taro và Noriko ở Izumimachi.

Khu Izumimachi, như bạn hẳn đã biết, giờ đã trở thành một nơi rất được ưa chuộng bởi những cặp vợ chồng trẻ tuổi có xuất thân tốt, và bầu không khí ở đó chắc chắn là tươm tất và đứng đắn. Nhưng đối với tôi, hầu hết những tòa chung cư mới xây đã thu hút những cặp vợ chồng trẻ này, chúng tù túng và thiếu sáng tạo. Chẳng hạn, căn hộ của Taro và Noriko có hai phòng, nằm ở tầng ba: trần phòng thấp, âm thanh từ những căn hộ hàng xóm tràn vào, và khung cảnh từ cửa sổ nhìn ra chủ yếu là tòa nhà đối diện với những ô cửa sổ. Tôi chắc chắn việc mình nhanh chóng cảm thấy nỗi sợ không gian kín ở đây không chỉ thuần túy là bởi tôi đã quen với không gian rộng rãi trong căn nhà truyền thống của mình. Tuy nhiên, Noriko dường như tự hào về căn hộ của mình, và cứ tán tụng suốt về những phẩm chất “hiện đại” của căn hộ. Bề ngoài, căn hộ rất dễ lau dọn, và hệ thống thông gió khá hiệu quả; đặc biệt, tất cả nhà bếp và phòng tắm trong tòa nhà này đều làm theo thiết kế phương Tây, và như con gái tôi cam đoan, thực tiễn hơn vô kể so với những bố trí trong căn nhà của tôi.

Dù nhà bếp có tiện lợi như thế nào, nó vẫn rất nhỏ, và khi tôi bước vào tối hôm đó để xem các con tôi nấu nướng ra sao, thì dường như không còn chỗ cho tôi đứng nữa. Bởi vậy, và bởi các con tôi dường như đang bận rộn, tôi không tán gẫu lâu với chúng. Nhưng có một lúc tôi đã nhận xét:

“Con biết không, lúc chiều Ichiro bảo cha rằng cháu thích nếm một chút sake.”

Setsuko và Noriko, đang đứng sát nhau thái rau, đều dừng lại và ngước nhìn tôi. “Cha đã nghĩ và quyết định chúng ta có thể cho nó nếm một chút,” tôi nói tiếp. “Nhưng có lẽ con nên pha một chút nước vào.”

“Con rất tiếc, thưa cha,” Setsuko nói, “nhưng cha đang gợi ý cho Ichiro uống sake tối nay ư?”

“Chỉ một chút thôi. Dù gì thằng bé cũng lớn rồi. Nhưng như cha nói đấy, tốt hơn nên pha nước vào.”

Các con tôi liếc nhìn nhau. Đoạn Noriko nói: “Cha à, cháu nó mới tám tuổi thôi.”

“Con cứ pha nước vào thì chẳng hại gì đâu. Phụ nữ các con không hiểu đâu, nhưng chuyện này có ý nghĩa lớn với một đứa bé như Ichiro. Đấy là vấn đề danh dự. Thằng bé sẽ nhớ chuyện này suốt đời.”

“Cha à, thật vớ vẩn.” Noriko nói. “Ichiro sẽ chỉ ọe ra thôi.”

“Vô lý hay không thì cha cũng nghĩ kỹ rồi. Phụ nữ các con đôi khi không hiểu nổi danh dự của một cậu bé.” Tôi chỉ chai sake đặt trên giá trên đầu các con tôi. “Chỉ một hớp nhỏ thôi cũng được.”

Nói xong, tôi toan bước đi. Nhưng rồi tôi nghe Noriko nói: “Setsuko, chuyện này không thể được. Em không biết cha đang nghĩ kiểu gì nữa.”

“Có gì mà phải làm quá lên?” tôi nói, quay lưng lại ở cửa. Phía sau tôi, từ phòng chính, tôi có thể nghe Taro và cháu tôi đang cười gì đó. Tôi hạ giọng nói tiếp:

“Dù sao thì cha đã hứa với cháu nó rồi, giờ nó đang trông mong đấy. Phụ nữ các con đôi khi không hiểu gì về danh dự cả.”

Tôi toan bước đi nữa thì lần này Setsuko cất lời.

“Cha thật tốt đã quan tâm đến cảm xúc của Ichiro đến thế. Tuy nhiên, con băn khoăn, chẳng phải sẽ tốt hơn nếu đợi cho Ichiro lớn thêm chút nữa sao.”

Tôi khẽ cười. “Con biết đấy, cha nhớ mẹ con đã phản đối y hệt khi cha quyết định cho Kenji thử một chút rượu ở độ tuổi này. Ồ, chắc chắn chuyện đó không gây hại gì cho em trai con cả.”

Tôi thấy hối tiếc tức thì vì đã đưa Kenji vào vụ tranh cãi vặt vãnh này. Kỳ thực, tôi tin mình đã bực bội với bản thân trong thoáng chốc, và có lẽ tôi đã không chú ý nhiều đến điều Setsuko nói sau đó. Dầu sao đi nữa, dường như con bé nói gì đó đại thể:

“Chắc chắn cha đã suy nghĩ hết sức cẩn trọng cho việc nuôi nấng em con. Tuy nhiên, xét những gì đã xảy ra, chúng ta có thể thấy rằng ít nhất ở một vài điểm, mẹ thực sự đã có ý kiến đúng đắn hơn.”

Nói cho công bằng, có thể con bé đã không hề nói điều gì quá khó chịu. Quả thật, có lẽ tôi diễn giải hoàn toàn sai ý con tôi, vì tôi nhớ rõ ràng Noriko không phản ứng gì với những lời của chị gái, mà chán chường quay lại thái rau tiếp. Bên cạnh đó, tôi không nghĩ là Setsuko có thể nào đưa ra, một cách vu vơ, một nhận định như vậy trong cuộc trò chuyện. Rồi, khi cân nhắc lại những lời bóng gió mà Setsuko nói ở công viên Kawabe vào hôm ấy, tôi cho rằng tôi phải thừa nhận có khả năng con bé đã nói đại khái một ý như vậy. Dù sao đi nữa, tôi nhớ Setsuko đã kết luận bằng câu:

“Hơn nữa, con sợ Suichi sẽ không muốn Ichiro uống sake cho tới khi cháu nó lớn thêm chút nữa. Nhưng cha thật tốt đã quan tâm đến cảm xúc của Ichiro.”

Biết rằng Ichiro có thể nghe lỏm cuộc trò chuyện của chúng tôi, và không muốn làm u ám cuộc đoàn tụ hiếm hoi của gia đình, tôi dừng cuộc tranh luận ở đó và rời bếp. Một lúc lâu sau, như tôi nhớ, tôi ngồi trong phòng khách cùng Taro và Ichiro, nói chuyện vui vẻ trong khi đợi bữa tối.

Cuối cùng chúng tôi cũng ngồi ăn tối chừng một tiếng sau đó. Khi chúng tôi đang ăn, Ichiro với tay ra chai sake trên bàn, và ngón tay gõ lên chai, nhìn tôi đầy ngụ ý. Tôi mỉm cười với nó, nhưng chẳng nói gì.

Các con tôi đã chuẩn bị một bữa ăn thịnh soạn và cuộc trò chuyện sớm diễn ra rôm rả tự nhiên. Có lúc, Taro khiến tất cả chúng tôi bật cười bằng câu chuyện về một đồng nghiệp tại nơi làm việc, người này vừa kém may mắn cộng với sự ngốc nghếch khôi hài của bản thân, đã trở nên nổi tiếng là không bao giờ làm gì đúng hạn. Một lần, trong khi thuật lại câu chuyện này, Taro nói:

“Quả thực, tình trạng căng đến độ cấp trên bắt đầu quen gọi anh ta là Rùa. Trong một cuộc họp gần đây, ông Hayasaka không kiềm chế được và đã nói ra miệng: ‘Chúng ta sẽ nghe Rùa báo cáo, rồi sau đó nghỉ ăn trưa’.”

“Thật thế sao?” Tôi kêu lên ngạc nhiên. “Thật kỳ lạ. Cha cũng từng có một đồng nghiệp có biệt danh như vậy. Cũng vì lý do tương tự, có vẻ như thế.”

Nhưng Taro dường như không đặc biệt ấn tượng bởi sự trùng hợp này. Nó gật đầu nhã nhặn, đoạn nói: “Con nhớ hồi đi học, có một học sinh chúng con gọi là ‘Rùa’. Thực ra, cũng như mỗi một nhóm đều tất yếu có một thủ lĩnh, con đồ rằng nhóm nào cũng có một tên ‘Rùa’.”

Nói xong, Taro quay lại kể tiếp giai thoại của mình. Dĩ nhiên, giờ nghĩ lại, tôi cho rằng con rể mình nói không sai; hầu hết các nhóm bạn bè đều có một kẻ làm “Rùa”, dù không phải bao giờ người ta cũng dùng cái tên này. Chẳng hạn, trong số học trò của tôi, Shintaro chính là người sắm cái vai ấy. Thế không có nghĩa là phủ nhận năng lực cơ bản của Shintaro; nhưng khi đặt bên cạnh những người như Kuroda, thì như thể cái tài của cậu ta khuyết mất hẳn một bình diện.

Tôi nghĩ xét tổng thể thì tôi không quá ngưỡng mộ những kẻ Rùa trên đời này. Dù người ta có thể ghi nhận sự cần cù kiên định và khả năng sinh tồn của họ, người ta vẫn ngờ họ thiếu bộc trực, ngờ họ phản bội. Và tôi cho rằng, rốt cuộc thì, người ta coi thường thái độ ngần ngừ của họ, không chớp lấy cơ hội nhân danh tham vọng hoặc vì một nguyên tắc họ tuyên bố là tin vào. Những người như họ không bao giờ là nạn nhân của những tai ương ghê gớm như Akira Sugimura đã phải chịu trong dự án công viên Kawabe chẳng hạn; nhưng cũng chính bởi lý do đó, dù đôi khi họ đạt được chút kính trọng nhỏ nhoi khi làm giáo viên hay bất cứ nghề gì, họ không bao giờ hoàn thiện được gì trên mức tầm thường.

Đúng là tôi đã trở nên quý mến Rùa trong những năm chúng tôi học cùng nhau tại dinh thự của thầy Mori, nhưng tôi không tin mình từng tôn trọng cậu ta như một người ngang hàng. Điều này liên quan đến bản chất tình bạn của chúng tôi, thứ tình bạn được rèn đúc trong những tháng ngày Rùa bị ngược đãi ở công ty của thầy Takeda, rồi sau đó là qua những khó khăn trong những tháng đầu tiên ở dinh thự rồi vì sao đó, sau một thời gian, nó được cố kết thành kiểu tình bạn mà trong đó cậu ta vĩnh viễn thấy mắc nợ tôi vì sự “ủng hộ” mơ hồ nào đó tôi dành cho cậu ta. Một thời gian dài sau khi cậu ta hiểu được phải vẽ thế nào để không khích động thù nghịch từ những người khác trong dinh thự, lâu sau khi cậu ta được tất cả quý mến vì bản tính dễ chịu, nhu mì, cậu ta vẫn nói với tôi những điều như:

“Tôi rất biết ơn anh, Ono à. Nhờ anh mà tôi được đối đãi rất tốt ở đây.”

Dĩ nhiên, theo một nghĩa nào đó Rùa có mang ơn tôi; vì rõ ràng là, nếu không có đề nghị của tôi, cậu ta sẽ không bao giờ tính đến việc rời thầy Takeda để thành học trò của thầy Mori. Cậu ta đã hết sức lưỡng lự khi đặt bước chân phiêu lưu ấy, nhưng một khi đã quyết phải làm vậy, cậu ta không bao giờ hoài nghi quyết định của mình. Quả thực, Rùa giữ lòng sùng kính với thầy Mori suốt một thời gian dài – ít nhất trong hai năm đầu – tôi không thể nhớ nổi cậu ta có thể nói gì khác với thầy của chúng tôi, ngoài mấy câu lầm bầm: “Vâng, thưa thầy,” hoặc “Không, thưa thầy”.

Suốt những năm ấy, Rùa tiếp tục vẽ chậm chạp như trước, nhưng không một ai vì thế mà có ác cảm với cậu ta. Kỳ thực, có một số người làm việc chậm chạp chẳng kém, và bộ phận này có xu hướng móc máy chúng tôi những người có thói quen làm việc nhanh hơn. Tôi nhớ họ gọi chúng tôi “những thợ máy”, so sánh lối làm việc căng thẳng và điên cuồng của chúng tôi lúc nảy ra được ý tưởng, với cái lối thợ đầu máy xúc than sợ rằng hơi nước có thể hết bất cứ lúc nào. Ngược lại, chúng tôi gọi thành phần đó là đám “giật lùi”. Ban đầu cụm từ “giật lùi” được dùng trong dinh thự để chỉ người mà, trong một căn phòng đầy những người làm việc ở giá vẽ, cứ đều đặn vài phút lại lùi lại để coi toan – hệ quả là anh ta liên tục va phải đồng nghiệp khác đang làm việc sau lưng. Dĩ nhiên thật bất công khi cho rằng chỉ vì họa sĩ muốn dành nhiều thời gian cho một bức vẽ – bước lùi lại, nói một cách ẩn dụ – thì anh ta sẽ bị cáo buộc cái thói quen phản xã hội này, nhưng chúng tôi khoái chí với sự khiêu khích của cái biệt hiệu đó. Thực ra, tôi nhớ có rất nhiều câu đùa hoàn toàn vui vẻ về đám “thợ máy” và đám “giật lùi”.

Dầu vậy, thực tế là gần như tất cả chúng tôi có xu hướng mắc cái tội “giật lùi”, và bởi thế, chúng tôi tránh hết sức cảnh chen chúc khi làm việc. Trong những tháng hè, nhiều đồng nghiệp của tôi sẽ đặt giá vẽ cách xa nhau dọc theo hiên nhà hoặc không thì trong sân, trong khi những người khác lại thích giữ trước thật nhiều phòng bởi họ thích chuyển từ phòng này sang phòng khác tùy theo ánh sáng. Rùa và tôi luôn làm việc trong khu bếp bỏ không – một gian nhà phụ rộng rãi, giống nhà kho, nằm sau một chái nhà.

Sàn nhà ngay cửa vào là nền đất dằn phẳng, nhưng tới tường hậu là một bục gỗ cao hơn, đủ rộng cho hai giá vẽ. Những thanh xà ngang treo thấp, có móc – trên đó người ta treo những nồi niêu và các dụng cụ nhà bếp khác – và giỏ tre móc trên tường, tỏ ra hữu ích cho những chổi vẽ, vải và tranh của chúng tôi. Và tôi còn nhớ Rùa và tôi đã đổ đầy nước vào một cái chum cũ đã đen sì, rồi mang nó đến chỗ mặt sàn và treo lên ròng rọc để nó cao ngang vai ở giữa chúng tôi khi cả hai vẽ.

Tôi nhớ một buổi chiều, chúng tôi đang vẽ trong bếp cũ như thường lệ, thì Rùa bảo tôi:

“Tôi rất tò mò, Ono à, về bức tranh anh đang vẽ. Đó hẳn là một thứ rất đặc biệt.”

Tôi mỉm cười không rời mắt khỏi tác phẩm của mình. “Sao anh bảo thế? Đó chỉ là một thử nghiệm nhỏ của tôi, vậy thôi.”

“Nhưng Ono này, lâu rồi tôi mới thấy anh làm việc tập trung như vậy. Và anh còn đòi được bí mật. Đã hai năm rồi anh không yêu cầu làm việc bí mật. Kể từ khi anh chuẩn bị bức ‘Múa lân sư’ cho triển lãm đầu tay của anh.”

Có lẽ tôi nên giải thích, đấy là thi thoảng khi một họa sĩ cảm thấy một tác phẩm đặc biệt có thể bị cản trở bởi những nhận xét trước khi nó được hoàn thành, anh ta sẽ “yêu cầu được bí mật” cho tác phẩm đó, và thế tức là không ai được nhìn vào bức tranh cho tới khi nghệ sĩ rút lại yêu cầu này. Đây là một dàn xếp hợp lý, xét việc chúng tôi sống và làm việc gần gũi nhau như vậy, đồng thời tạo cơ hội cho một người mạo hiểm thử sai mà không sợ mình bị biến thành trò hề.

“Thật sự dễ nhận ra nó đến thế sao?” tôi nói. “Tôi nghĩ mình đang che giấu niềm phấn khích khá tốt đấy chứ.”

“Hẳn anh quên, anh Ono à. Chúng ta vẽ cạnh nhau tám năm rồi. Ồ đúng, tôi có thể nói rằng bức tranh này là một thứ rất đặc biệt đối với anh.”

“Tám năm,” tôi nhắc lại. “Tôi cho là anh nói đúng.”

“Quả vậy, Ono à. Thật là một đặc ân khi được làm việc kề cận một tài năng như anh. Thỉnh thoảng tôi cảm thấy mình thật kém cỏi, nhưng dẫu sao đấy vẫn là một đặc ân lớn.”

“Anh cứ nói quá,” tôi nói, mỉm cười và tiếp tục vẽ.

“Không hề đâu, Ono. Quả thực, tôi cảm thấy mấy năm qua tôi hẳn đã không bao giờ tiến bộ được thế này nếu không liên tục được truyền cảm hứng khi thấy tác phẩm của anh hiện ra trước mắt tôi. Chắc chắn anh phải nhận ra mức độ mà bức tranh khiêm nhường ‘Thiếu nữ mùa thu’ của tôi chịu ảnh hưởng từ tác phẩm ‘Thiếu nữ hoàng hôn’ của anh. Một trong những nỗ lực của tôi, Ono à, là noi gương tài năng lỗi lạc của anh. Tôi biết đấy chỉ là một nỗ lực yếu ớt, nhưng thầy Mori thật tử tế khi khen ngợi đó là một bước tiến đáng kể đối với tôi.”

“Giờ tôi tự hỏi.” Tôi dừng cọ vẽ một lát và nhìn vào tác phẩm của mình. “Tôi tự hỏi liệu bức tranh này có truyền cảm hứng cho anh nữa không.”

Tôi tiếp tục nhìn bức tranh chưa hoàn thiện của mình một lúc nữa, rồi liếc sang bạn mình qua cái bình cổ treo giữa chúng tôi. Rùa đang vui vẻ vẽ, không nhận thấy ánh nhìn của tôi. Cậu ta trông có da có thịt hơn một chút kể từ ngày đầu tiên tôi gặp cậu ta ở xưởng của thầy Takeda, và cái vẻ sợ hãi, bối rối của những ngày ấy hầu hết đã được thay thế bằng một vẻ thỏa mãn trẻ thơ. Thực ra, tôi nhớ hồi ấy có người đã so sánh Rùa với một chú cún con vừa mới được vuốt ve, và quả thật, ví von này không phải là không phù hợp với ấn tượng tôi có khi quan sát cậu ta chiều hôm đó trong căn bếp cũ.

“Rùa này, anh nói xem,” tôi bảo cậu ta. “Anh khá hài lòng với tác phẩm hiện tại của mình, đúng không?”

“Cực kỳ hài lòng, cảm ơn anh, Ono,” cậu ta đáp lại ngay. Rồi ngước lên, cậu ta nhe răng cười và vội nói thêm: “Dĩ nhiên, còn xa mới có thể sánh bằng tác phẩm của anh, Ono ạ.”

Đôi mắt cậu ta quay lại bức tranh, và tôi quan sát cậu ta vẽ một lát nữa. Đoạn tôi hỏi:

“Chẳng lẽ anh không có lúc nào tính thử một... một vài cách tiếp cận mới ư?”

“Cách tiếp cận mới ư, Ono?” cậu ta nói, không nhìn lên.

“Anh nói xem, Rùa à, chẳng lẽ anh không có tham vọng ngày nào đó sẽ tạo được những bức tranh thực sự quan trọng? Ý tôi là không phải những tác phẩm mà chúng ta ngưỡng mộ và tán tụng với nhau ở đây trong dinh thự. Tôi nói đến tác phẩm có tầm vóc đích thực. Tác phẩm sẽ là một đóng góp đáng kể cho đồng bào chúng ta. Tôi nói tới sự cần thiết của một phương pháp mới chính là bởi mục đích này, Rùa ạ.”

Tôi thận trọng quan sát cậu ta khi tôi nói, nhưng Rùa không ngừng vẽ.

“Nói thật với anh nhé, Ono,” cậu ta nói, “những người ở vị thế khiêm nhường như tôi luôn thử nghiệm những phương pháp mới. Nhưng trong năm vừa qua, tôi tin là tôi bắt đầu tìm ra hướng đi đúng. Anh thấy đấy, Ono, tôi đã nhận thấy thầy Mori nhìn đến tác phẩm của tôi nhiều hơn và kỹ lưỡng hơn trong năm vừa qua. Tôi biết thầy hài lòng với tôi. Ai mà biết được, lúc nào đó trong tương lai, tôi sẽ có thể được phép triển lãm cùng với anh và thầy Mori.” Cuối cùng cậu ta nhìn tôi, rồi cười ngại ngùng. “Xin anh thứ lỗi nhé, Ono. Tôi cứ phải tự huyễn hoặc vậy mới kiên trì được.”

Tôi quyết định bỏ qua chủ đề này. Tôi đã có ý một ngày nào đó sau này sẽ lần nữa tìm cách chia sẻ nỗi niềm riêng với bạn tôi, nhưng hóa ra, các sự kiện xảy ra đã khiến tôi không thể làm thế.

Đó là một buổi sáng rạng nắng vài ngày sau cuộc trò chuyện tôi vừa thuật lại ở trên, khi tôi bước vào căn bếp cũ thì phát hiện ra Rùa đang đứng trên bục ở cuối căn nhà như nhà kho đó, và nhìn tôi chằm chằm. Phải mất vài giây tôi mới quen với bóng tối sau khi từ chỗ sáng bên ngoài vào, nhưng tôi sớm nhận thấy vẻ dè chừng, gần như hoảng hốt mà cậu ta đang tỏ ra; kỳ thực, có điều gì đó trong cách cậu ta vụng về giơ cánh tay lên ngực trước khi buông thõng xuống, như thể cậu ta nghĩ tôi sẽ tấn công. Cậu ta không định dựng giá vẽ, cũng không chuẩn bị làm việc ngày hôm ấy, và khi tôi chào cậu ta vẫn im lặng. Tôi đến gần hơn và hỏi:

“Có chuyện gì không ổn sao?”

“Ono...” cậu ta lẩm bẩm, nhưng không nói gì nữa. Khi tôi bước lên bục, cậu ta lo lắng nhìn sang trái. Tôi theo ánh nhìn của cậu ta hướng vào bức tranh dang dở của mình, đã được che kín và dựa vào tường. Rùa lo lắng ra hiệu về phía bức tranh và nói:

“Ono, đây có phải trò đùa của anh không?”

“Không, Rùa à,” tôi nói, leo lên bục. “Hoàn toàn không phải trò đùa.”

Tôi bước đến bức tranh, kéo tấm vải che ra rồi xoay bức tranh về phía chúng tôi. Rùa ngay lập tức đánh mắt đi chỗ khác.

“Bạn ơi,” tôi nói, “anh đã từng đủ can đảm để lắng nghe tôi và chúng ta đã cùng nhau tiến một bước quan trọng trong sự nghiệp của mình. Giờ tôi muốn đề nghị anh cân nhắc bước tiếp một bước nữa cùng tôi.”

Rùa vẫn quay mặt đi. Cậu ta nói:

“Ono này, thầy của chúng ta có biết bức tranh này không?”

“Không, chưa đâu. Nhưng tôi nghĩ là tôi có thể cho thầy xem. Từ giờ trở đi, tôi định chuyên tâm vẽ theo hướng này. Rùa này, nhìn tranh của tôi đi. Để tôi giải thích cho anh tôi định làm gì. Lúc ấy có lẽ chúng ta có thể lại cùng nhau tiến thêm một bước quan trọng nữa.”

Cuối cùng cậu ta quay sang nhìn tôi.

“Ono này,” cậu ta nói, gần như thì thầm, “anh là kẻ phản bội. Giờ xin thứ lỗi cho tôi.”

Nói xong, cậu ta vội vã ra khỏi căn bếp.

Bức tranh đã gây bối rối cho Rùa ấy được đặt tên là “Tự mãn”, và dù từ lâu nó không còn thuộc sở hữu của tôi, lúc bấy giờ tôi đã trút tâm sức cho nó nhiều đến mức những chi tiết trong tranh vẫn in hằn trong ký ức tôi; quả thực, nếu muốn, giờ đây tôi cảm thấy mình có thể vẽ lại khá chính xác bức tranh ấy. Cảm hứng đằng sau bức tranh này là một cảnh tượng nhỏ tôi chứng kiến vài tuần trước đó, thứ tôi đã thấy khi đang dạo bộ cùng Matsuda.

Như tôi nhớ, chúng tôi đang trên đường đi gặp một đồng nghiệp của Matsuda ở Hội Okada-Shingen, người mà anh ta muốn giới thiệu với tôi. Lúc ấy trời đã về cuối hè, những ngày nóng nực nhất đã qua, nhưng tôi còn nhớ mình đã đi sau bước chân đều đều của Matsuda qua chiếc cầu sắt ở Nishizuru, lau mồ hôi trên mặt và ước gì bạn đồng hành của mình bước chậm hơn đôi chút. Hôm ấy, Matsuda mặc một chiếc áo khoác hè lịch lãm, và như mọi khi, đội mũ chếch xuống rất phong cách. Dù bước nhanh đến thế, sải bước của anh ta có một vẻ thoải mái, không chút vội vàng. Và khi anh ta dừng lại ở giữa cầu, tôi thấy thậm chí anh ta cũng chẳng hề hấn gì trước cái nóng.

“Ở đây nhìn ra thật đẹp,” anh nhận xét. “Anh đồng ý vậy không, Ono?”

Cảnh phía dưới được khuôn lại bởi hai nhà máy lừng lững một ở bên trái, một ở bên phải chúng tôi. Chêm vào giữa là một đám dày đặc những mái nhà, một số nhà ván lợp rẻ tiền, một số khác khá hơn thì dùng thêm tôn múi. Quận Nishizuru ngày nay vẫn giữ cái tiếng là một khu nghèo, nhưng hồi ấy, khu này còn thê thảm hơn nhiều. Nhìn từ trên cầu, một người mới đến hẳn sẽ cho rằng cộng đồng ấy là một khu vực vô chủ chỉ chờ đến ngày bị phá sạch, nếu như không có những hình dáng nhỏ bé, mà phải nhìn kỹ mới thấy, đang rộn rịp đi quanh những ngôi nhà như những con kiến đang bu quanh những hòn sỏi.

“Nhìn xuống kia đi, Ono,” Matsuda nói. “Trong thành phố của chúng ta, ngày càng có nhiều nơi như thế này. Chỉ mới vài ba năm trước, nơi này không tệ đến vậy. Nhưng giờ nó đang trở thành một khu ổ chuột. Ngày càng nhiều người nghèo, Ono à, và họ buộc phải rời bỏ nhà cửa ở nông thôn để gia nhập đội quân khố rách áo ôm ở những nơi như thế này.”

“Thật kinh khủng,” tôi nói. “Tôi chỉ muốn làm được gì đó cho họ.”

Matsuda mỉm cười với tôi – một trong những nụ cười bề trên luôn khiến tôi cảm thấy khó chịu, thấy mình thật ngốc nghếch. “Những tình cảm đầy thiện chí,” anh ta nói, lưng quay về phía cảnh vật. “Ai cũng thốt lên như vậy. Những người thuộc mọi tầng lớp. Trong khi đó, những nơi như thế này mọc lên nhan nhản như một đám nấm da. Hít một hơi thật sâu nào, Ono. Thậm chí từ đây, anh có thể ngửi thấy mùi cống rãnh.”

“Tôi thấy có mùi hôi. Thực sự mùi từ dưới kia bốc lên à?”

Matsuda không đáp, nhưng tiếp tục nhìn xuống khu ổ chuột kia với nụ cười lạ kỳ trên khuôn mặt. Đoạn anh ta nói:

“Các chính trị gia và doanh nhân hiếm khi nhìn tới những nơi như thế này. Nếu họ có làm thế, thì ít nhất họ cũng sẽ đứng ở một khoảng cách an toàn, như chúng ta lúc này đây. Tôi ngờ rằng chẳng có nhiều chính trị gia hay doanh nhân dạo bộ dưới kia đâu. Mà này, tôi cũng đồ rằng chẳng có nhiều họa sĩ đặt chân xuống đấy.”

Nhận thấy vẻ thách thức trong giọng anh ta, tôi nói:

“Tôi không phản đối nếu làm như thế không khiến chúng ta trễ hẹn.”

“Ngược lại mới đúng, chúng ta sẽ bớt được một hai cây số bằng cách đi tắt qua đó.”

Matsuda đã đúng khi cho rằng mùi hôi bốc ra từ cống rãnh của khu dân cư đó. Khi chúng tôi đi xuống chân cầu sắt và bắt đầu băng qua hàng loạt những ngõ hẹp, mùi hôi thối càng nồng hơn, cho đến khi khiến ta phát nôn. Không còn chút gió nào để chống lại cái nóng, chuyển động duy nhất trong không khí chung quanh chúng tôi chỉ còn là tiếng ruồi muỗi vo ve triền miên không dứt. Một lần nữa, tôi thấy mình đang vật lộn để theo kịp bước chân Matsuda, nhưng lần này tôi không mong anh ta chậm bước.

Cả hai bên chúng tôi là những thứ hẳn sẽ là những quầy hàng ở khu chợ nào đó, ban ngày thì đóng, nhưng kỳ thực ra mỗi chỗ đấy là nơi cư ngụ của một gia đình, nhiều cái chỉ được ngăn với con hẻm nhỏ bằng một tấm rèm vải. Những người già ngồi nơi ngưỡng cửa, và khi chúng tôi bước qua, họ tỏ ra thích thú, họ nhìn chằm chặp, dù không hề thù địch; những đứa trẻ dường như chạy tới chạy lui mọi ngả, trong khi những con mèo dường như cũng hối hả chạy trốn khỏi bước chân chúng tôi. Chúng tôi đi mãi, luồn lách giữa những chăn màn và quần áo treo trên những dây phơi thô ráp; đi qua những đứa bé đang khóc, chó đang sủa và những người hàng xóm trò chuyện thân thiện qua ngõ nhỏ với nhau, dường như là qua những tấm rèm khép kín. Sau một hồi, tôi dần nhận ra cống rãnh lộ thiên ở hai bên con đường hẹp chúng tôi đang đi. Có ruồi nhặng bay dọc theo chiều dài rãnh, và khi tôi tiếp tục đi theo Matsuda, tôi có cảm giác rõ rệt rằng khoảng cách giữa hai đường rãnh ngày càng hẹp lại, cho tới khi chúng tôi như thể đang đi thăng bằng trên một thân cây đổ.

Cuối cùng chúng tôi đến một khoảng sân nơi một đám những căn lều tồi tàn chắn con đường phía trước. Nhưng Matsuda chỉ một khoảng trống giữa hai căn lều, qua đó có thể nhìn được một bãi rác.

“Nếu chúng ta đi tắt qua đó,” anh ta nói, “chúng ta sẽ đến mặt sau phố Kogane.”

Gần đầu lối đi mà Matsuda đã chỉ, tôi nhận thấy ba cậu bé đang cúi đầu trước cái gì đó trên mặt đất, dùng gậy chọc vào đó. Khi chúng tôi tiến đến, chúng quay lại, quắc mắt, và dù tôi chẳng thấy gì, điều gì đó trong cung cách của chúng bảo tôi rằng chúng đang hành hạ một con vật. Matsuda hẳn cũng kết luận như vậy, vì anh ta bảo tôi khi chúng tôi bước qua: “Ồ, ở chỗ này thì còn biết làm gì khác để giải trí nữa đây?”

Lúc đấy tôi không nghĩ nhiều về lũ trẻ kia. Rồi vài ngày sau, hình ảnh ba đứa trẻ, quay lại quắc mắt với chúng tôi, khua gậy, đứng đó giữa cảnh dơ dáy, hình ảnh đó trở lại trong tôi đầy sinh động, và tôi dùng nó như là trung tâm của bức “Tự mãn”. Nhưng tôi cũng cần nói rõ, rằng khi Rùa nhìn trộm bức tranh chưa hoàn thành của tôi sáng hôm ấy, ba cậu bé cậu ta thấy hẳn khác với hình mẫu ở một vài khía cạnh quan trọng. Vì dù chúng vẫn đứng trước một căn lều dơ dáy tồi tàn, và quần áo chúng rách rưới như quần áo của những cậu bé trong đời thực, thì cái quắc mắt trên mặt chúng không hẳn là cái quắc mắt tội lỗi, phòng vệ của những thằng nhóc phạm tội bị bắt quả tang; đúng hơn chúng hẳn đã mang cái quắc mắt đầy nam nhi của những chiến binh samurai sẵn sàng chiến đấu. Hơn nữa, không phải ngẫu nhiên mà những cậu bé trong tranh của tôi lại giơ gậy theo các thế kiếm đạo kinh điển.

Trên đầu ba cậu bé này, Rùa hẳn đã thấy bức tranh mờ đi thành hình ảnh thứ hai – là hình ảnh ba người đàn ông béo tròn, ăn diện chỉn chu, đang ngồi ở quán rượu tiện nghi và cười đùa với nhau. Khuôn mặt họ có một vẻ suy đồi; có lẽ họ đang cợt nhả về những cô bồ nhí hoặc chuyện gì đó tương tự. Hai hình ảnh tương phản được khuôn vào nhau trong khung là đường bờ biển của các đảo Nhật Bản. Ngay lề dưới bên phải, bằng những chữ đậm màu đỏ, là từ “Tự mãn”; ngay dưới bên trái, viết bằng những chữ nhỏ hơn, là tuyên bố: “Nhưng thế hệ trẻ sẵn sàng chiến đấu vì phẩm cách của mình.”

Khi tôi mô tả tác phẩm sơ khởi và chắc chắn là còn ngây thơ này, một số chi tiết của nó có lẽ khiến bạn cảm thấy quen thuộc. Vì rất có thể bạn đã từng biết bức tranh của tôi, “Mắt dõi chân trời”, mà, hồi nó được in thành ảnh những năm ba mươi, nó đã có được tiếng tăm và tầm ảnh hưởng nhất định ở thành phố này. “Mắt dõi chân trời” thực ra là tác phẩm vẽ lại bức “Tự mãn”, dù với những khác biệt có thể hiểu được sau khoảng cách chừng ấy năm giữa hai bức tranh. Bức tranh sau, chắc bạn còn nhớ, cũng sử dụng hai hình ảnh tương phản nhập vào nhau, ràng buộc nhau bởi đường bờ biển Nhật Bản; hình ảnh trên một lần nữa là ba người đàn ông ăn mặc sang trọng đang hội ý, nhưng lần này họ mang vẻ mặt lo lắng, nhìn nhau chờ một người lên tiếng trước. Và chẳng cần nhắc chắc bạn cũng nhớ, những khuôn mặt này tái hiện khuôn mặt của ba chính trị gia lớn. Bên dưới, chiếm phần nổi bật hơn, ba cậu bé nghèo cầm gậy đã trở thành những người lính nghiêm nghị; hai người cầm súng lưỡi lê, bên cạnh là một sĩ quan giương kiếm, chỉ về phía trước, phía Tây, hướng về châu Á. Đằng sau họ, không còn khung cảnh nghèo đói; đơn giản là Húc Nhật Kỳ[1]. Từ “Tự mãn” ở lề dưới bên phải đã được thay bằng “Mắt dõi chân trời!” và bên tay trái, là thông điệp “Không còn thì giờ mà hèn nhát nữa rồi. Nước Nhật phải tiến lên.”

Dĩ nhiên, nếu bạn là người mới đến thành phố này, rất có thể bạn chưa từng thấy qua tác phẩm này. Nhưng tôi không cho là cường điệu khi nói rằng rất nhiều người sống ở đây trước chiến tranh hẳn quen với nó, vì nó nhận được nhiều lời tán dương lúc bấy giờ cho nét vẽ đầy khí lực và, đặc biệt là, kỹ thuật sử dụng màu sắc mạnh mẽ. Nhưng dĩ nhiên, tôi hoàn toàn hiểu rằng “Mắt dõi chân trời”, dù giá trị nghệ thuật cao thế nào đi nữa, cũng là một bức tranh hàm chứa thứ cảm xúc đã lỗi thời. Kỳ thực, tôi sẽ là người đầu tiên thừa nhận những tình cảm đó có lẽ đáng bị lên án. Tôi không phải hạng người e sợ thừa nhận khiếm khuyết của những thành tựu trong quá khứ.

Nhưng tôi không muốn bàn về “Mắt dõi chân trời”. Tôi nhắc đến nó ở đây chỉ bởi mối liên hệ rành rành của nó với bức tranh trước và, tôi cho rằng, cũng là để công nhận ảnh hưởng từ việc gặp gỡ Matsuda đến sự nghiệp của tôi về sau. Tôi đã bắt đầu gặp Matsuda thường xuyên vài tuần trước buổi sáng hôm đó trong căn nhà bếp khi Rùa phát hiện ra bức tranh. Tôi cho những ý tưởng của anh ta có một sức quyến rũ ghê gớm với tôi, khiến tôi tiếp tục gặp anh ta, vì như tôi nhớ, ban đầu tôi không có nhiều thiện ý với anh ta. Kỳ thực, hầu hết những cuộc gặp trước đó kết thúc với việc chúng tôi trở nên đối lập nhau một cách cực đoan. Chẳng hạn, tôi nhớ một buổi tối, không lâu sau cái lần tôi theo anh ta băng qua khu ổ chuột Nishizuru, tôi đi cùng anh ta đến một quán rượu đâu đó ở trung tâm thành phố. Tôi không nhớ tên quán rượu hay địa chỉ chính xác, nhưng tôi nhớ rất rõ đó là nơi tối tăm, bẩn thỉu, chỉ có tầng lớp hạ lưu trong thành phố là thường lai vãng tới. Tôi cảm thấy e ngại ngay khi bước vào, nhưng Matsuda dường như quen với nơi này, anh ta chào một số người đang chơi bài quanh một chiếc bàn, trước khi dẫn tôi đến một góc thụt có chiếc bàn nhỏ còn trống.

Nỗi e ngại của tôi chưa vơi chút nào thì chẳng bao lâu sau khi chúng tôi ngồi xuống, hai người đàn ông thô lỗ, đều khá say, ngật ngưỡng đến góc thụt, muốn bắt chuyện cùng chúng tôi. Matsuda bảo họ đi đi, giọng khá thẳng thừng, và tôi đã ngờ sẽ có rắc rối, nhưng ở bạn tôi dường như có điều gì khiến những gã kia sợ hãi, và họ bỏ đi không nói một lời.

Sau đó, chúng tôi ngồi uống rượu và trò chuyện một lúc, và tôi nhớ, chẳng mấy chốc cuộc trao đổi đã trở nên gay gắt. Có một lúc, tôi nhớ đã nói với anh ta:

“Tất nhiên, đám họa sĩ chúng tôi nhiều lúc xứng đáng bị những người như anh nhạo báng. Nhưng tôi e là anh nhầm khi cho rằng tất cả chúng tôi ngây thơ đến thế về thế giới.”

Matsuda bật cười, đoạn nói:

“Nhưng anh phải nhớ, Ono à, tôi đã gặp nhiều họa sĩ. Họa sĩ các anh là một đám suy đồi đến kinh ngạc. Các anh hiểu về thế giới này không hơn gì một đứa trẻ.”

Tôi định phản đối, nhưng Matsuda tiếp tục: “Chẳng hạn nhé, Ono, kế hoạch này của anh. Kế hoạch anh đang thiết tha đề nghị này. Nó rất xúc động, nhưng nếu phải nói thật, tôi cho là nó thể hiện bản chất ngây thơ đặc trưng của họa sĩ các anh.”

“Tôi không hiểu tại sao ý tưởng của tôi lại đáng bị chế giễu đến thế. Nhưng rõ ràng tôi đã sai lầm khi cho rằng anh quan tâm đến những người nghèo khổ ở thành phố này.”

“Không cần đánh đồng ấu trĩ như thế đâu. Anh biết rõ tôi quan tâm đến cái gì. Nhưng hãy xem xét kế hoạch nhỏ của anh một chút. Hãy giả định điều không thể sẽ xảy ra, và thầy giáo của anh đồng cảm với anh. Vậy sau đó tất cả mọi người trong dinh thự sẽ dành một tuần, hoặc hai, để sản xuất ra – bao nhiêu? – hai mươi bức tranh ư? Nhiều nhất là ba mươi. Dường như chẳng có lý do để vẽ thêm, đằng nào thì các anh sẽ không bán được quá mười, mười một bức. Lúc đấy anh sẽ làm gì, Ono? Đi vơ vẩn trong những khu ổ chuột của thành phố với cái ví nhỏ đựng mớ tiền lẻ mà anh đã gom được, đổi lại từ từng ấy công sức nhọc nhằn ư? Cho mỗi người nghèo anh gặp một xu ư?”

“Xin lỗi anh, Matsuda, nhưng tôi phải nhắc lại – anh rất sai lầm khi cho rằng tôi ngây thơ. Tôi không hề có ý rằng triển lãm chỉ bó hẹp trong nhóm của thầy Mori. Tôi ý thức đầy đủ cái quy mô của sự nghèo đói mà chúng ta đang tìm cách giảm thiểu, và đó là lý do tôi tìm đến anh với đề nghị này. Hội Okada-Shingen có thể xúc tiến kế hoạch đó. Những cuộc triển lãm lớn được tổ chức thường xuyên khắp thành phố, thu hút nhiều họa sĩ hơn, sẽ đem lại sự giúp đỡ đáng kể cho những người này.”

“Rất tiếc, anh Ono,” Matsuda nói, mỉm cười và lắc đầu, “nhưng tôi e là rốt cuộc giả định của tôi hoàn toàn đúng. Họa sĩ các anh là một cái giống ngây thơ đến tuyệt vọng.” Anh ta ngả người ra ghế và thở dài. Mặt bàn của chúng tôi đầy tàn thuốc, và Matsuda cẩn thận gạt chúng thành những dải bằng mép một bao diêm rỗng do người khách trước bỏ lại. “Ngày nay có một hạng họa sĩ,” anh ta nói, “mà tài năng lớn nhất của hắn ta là chạy trốn khỏi thế giới thực. Thật không may, những họa sĩ như vậy dường như bây giờ đang chiếm áp đảo, và anh, Ono ạ, lại chịu ảnh hưởng của một trong những kẻ như thế. Đừng tỏ ra tức giận như vậy, đó là sự thật. Anh biết về thế giới chẳng hơn gì một đứa trẻ. Chẳng hạn, tôi chẳng tin anh có thể cho tôi biết Karl Marx là ai.”

Tôi hẳn đã ném cho anh ta một cái nhìn sưng sỉa, nhưng chẳng nói gì. Anh ta cười lớn và nói: “Anh thấy chưa? Nhưng đừng quá thất vọng. Hầu hết đồng nghiệp của anh cũng chẳng khá hơn đâu.”

“Đừng lố bịch thế. Dĩ nhiên tôi biết Karl Marx.”

“Ôi chao, tôi xin lỗi, Ono. Có lẽ tôi đánh giá thấp anh. Vậy hãy nói cho tôi nghe về Marx.”

Tôi nhún vai và nói: “Tôi tin ông ta đã lãnh đạo cuộc cách mạng Nga.”

“Vậy Lenin thì sao, Ono? Có lẽ là cấp phó của Marx sao?”

“Một đồng nghiệp gì đó.” Tôi thấy Matsuda lại toét miệng cười, bèn nói nhanh trước khi anh ta kịp mở miệng: “Dù sao thì anh cũng đang tỏ ra lố bịch đấy. Đấy là mối quan tâm của những quốc gia xa xôi. Tôi đang nói về những người nghèo ở thành phố chúng ta.”

“Quả vậy, Ono, quả vậy. Nhưng một lần nữa, anh thấy đấy, cái gì anh cũng chẳng biết được mấy tí. Anh khá đúng khi cho rằng Hội Okada-Shingen quan tâm đến việc thức tỉnh các họa sĩ, và đưa họ về với thế giới thực. Nhưng tôi đã làm anh hiểu nhầm nếu tôi từng khiến anh nghĩ hiệp hội của chúng tôi muốn tự biến mình thành cái bát ăn mày khổng lồ. Chúng tôi không quan tâm đến từ thiện.”

“Tôi không hiểu, một chút từ thiện thì có gì phải phản đối? Và nếu việc này đồng thời mở mắt cho đám họa sĩ suy đồi chúng tôi, thế thì lại càng tốt hơn chứ.”

“Mắt của anh còn lâu mới mở, Ono ạ, nếu anh vẫn tin rằng một chút từ thiện thành tâm có thể giúp được người nghèo của đất nước chúng ta. Sự thật là Nhật Bản sắp sửa gặp khủng hoảng. Chúng ta nằm trong tay của những doanh nhân tham lam và những chính trị gia yếu đuối. Những người như vậy sẽ giữ cho tình trạng nghèo đói gia tăng từng ngày. Trừ phi, thế hệ đang lên, tức chúng ta, hành động. Nhưng tôi không phải là kẻ kích động chính trị, Ono ạ. Mối quan tâm của tôi là nghệ thuật. Và những họa sĩ như anh. Những họa sĩ trẻ tài năng, chưa bị bịt mắt vô phương cứu chữa bởi thế giới nhỏ hẹp đóng kín nơi tất cả các anh đang sống. Hội Okada-Shingen tồn tại để giúp những người như anh mở mắt và tạo ra tác phẩm có giá trị thực sự đối với những thời khắc khó khăn này.”

“Xin lỗi anh, Matsuda, nhưng tôi nhận ra anh thực tế mới là người ngây thơ. Mối quan tâm của một họa sĩ là bắt lấy vẻ đẹp ở bất cứ đâu anh ta tìm thấy nó. Nhưng dù làm thiên chức ấy khéo léo thế nào, anh ta sẽ chịu chút ảnh hưởng từ những vấn đề anh bàn đến. Quả thực, nếu Hội Okada-Shingen đúng như anh nói, thì với tôi dường như nó đi sai đường rồi. Dường như nó được dựng lên trên một lầm lẫn ngây ngô về những gì nghệ thuật có thể và không thể làm được.”

“Anh biết rất rõ, Ono à, chúng tôi không nhìn nhận mọi việc đơn giản như vậy. Thực tế là, Hội Okada-Shingen không tồn tại tách biệt. Có những người trẻ như chúng tôi, từ đủ các tầng lớp xã hội – trong chính trị, trong quân đội – họ cũng cùng chung suy nghĩ. Chúng tôi là thế hệ đang lên. Khi đoàn kết lại, chúng tôi đủ khả năng đạt được điều gì đó thực sự giá trị. Chỉ tình cờ là một số người chúng tôi quan tâm sâu sắc đến nghệ thuật, và mong muốn thấy nó đáp lời thế giới hiện tại. Sự thật là, Ono ạ, trong những thời đại như thế này, khi con người ta đang nghèo đi, và trẻ con quanh ta ngày càng đói kém và bệnh tật hơn, thì việc một họa sĩ trốn đến nơi nào đó và hoàn thiện những bức tranh gái điếm cao cấp, việc đó là không đủ. Tôi có thể thấy anh đang tức giận với tôi, và thậm chí giờ anh đang tìm cách để chơi lại tôi. Nhưng tôi có ý tốt, Ono. Tôi hy vọng về sau anh sẽ suy nghĩ thấu đáo những vấn đề này. Vì sau cùng anh vẫn là người có tài năng xuất chúng.”

“Ồ, vậy thì nói đi, Matsuda. Làm sao đám họa sĩ suy đồi ngu xuẩn chúng tôi có thể giúp đem lại cuộc cách mạng chính trị của anh được?”

Trước vẻ khó chịu của tôi, Matsuda một lần nữa mỉm cười miệt thị từ đầu kia bàn. “Cách mạng ư? Thật tình, Ono! Những người cộng sản muốn một cuộc cách mạng. Chúng tôi không muốn thứ đó. Ngược lại là đằng khác. Chúng tôi muốn một cuộc trung hưng. Chúng tôi chỉ đơn giản yêu cầu Nhật Hoàng được khôi phục về địa vị hợp pháp là nguyên thủ quốc gia.”

“Nhưng Nhật Hoàng vẫn ở đúng địa vị đó rồi mà.”

“Thật tình, Ono à. Thật ngây thơ và lẫn lộn làm sao.” Giọng anh ta, dù vẫn giữ vẻ bình tĩnh một cách hoàn hảo như mọi khi, dường như đến chỗ này bỗng gay gắt hơn. “Nhật Hoàng của chúng ta là lãnh tụ chân chính, nhưng thực tế thì sao? Quyền lực của ngài đã bị các doanh nhân và chính trị gia cướp đoạt. Nghe này, Ono, Nhật Bản không còn là quốc gia lạc hậu của những nông dân nữa. Chúng ta là một đế quốc cường thịnh, có thể sánh ngang với bất kỳ quốc gia phương Tây nào. Ở lãnh thổ châu Á, Nhật Bản đứng như một người khổng lồ giữa những kẻ thấp lùn và què quặt. Ấy thế mà chúng ta lại để cho dân chúng ngày càng vô vọng, còn trẻ em phải chết vì suy dinh dưỡng. Trong khi đó, đám doanh nhân ngày càng giàu lên, và lũ chính trị gia suốt ngày tranh công chối tội đổ lỗi thanh minh. Anh có thể tưởng tượng được có cường quốc phương Tây nào cho phép một tình cảnh như vậy xảy ra không? Họ chắc chắn đã hành động từ lâu rồi.”

“Hành động ư? Anh nói hành động kiểu gì, Matsuda?”

“Đã đến lúc chúng ta phải hun đúc một đế chế cường thịnh như Anh và Pháp rồi. Chúng ta phải dùng sức mạnh để mở mang bờ cõi. Thời điểm này là chín muồi để Nhật Bản chiếm vị thế xứng đáng của mình giữa các cường quốc thế giới. Tin tôi đi, Ono à, chúng ta có phương tiện để làm vậy, nhưng vẫn chưa tìm ra được ý chí. Và chúng ta phải vứt bỏ lũ doanh nhân và chính trị gia. Lúc ấy quân đội sẽ chỉ tuân lệnh duy nhất Đức Nhật Hoàng.” Đoạn anh ta cười khẽ, và đưa mắt nhìn xuống những đường nguệch ngoạc được tạo ra từ đám tàn thuốc. “Nhưng vấn đề này chủ yếu là của những người khác,” anh ta nói. “Những người như chúng ta, Ono à, chúng ta phải quan tâm đến nghệ thuật.”

Dẫu vậy, tôi tin rằng lý do Rùa thất vọng trong căn bếp bỏ không hai, ba tuần sau đó không liên quan đến những vấn đề tôi thảo luận với Matsuda đêm hôm ấy, Rùa hẳn không đủ khả năng nhận thức để nhìn xa đến vậy vào bức tranh chưa hoàn thiện của tôi. Tất cả những gì cậu ta nhận ra được hẳn chỉ là nó thể hiện một sự bất kính rành rành đối với những ưu tiên của thầy Mori; nỗ lực chung của trường phái hòng bắt lại ánh sáng đèn lồng mong manh của thế giới hoan lạc đã bị vứt bỏ; bút pháp táo bạo đã được đưa vào để bổ sung cho tác động thị giác; và trên hết, chắc chắn, Rùa hẳn choáng váng khi thấy tôi sử dụng chủ yếu những nét viền đậm – một phương pháp khá truyền thống, hẳn bạn đã biết, nhưng loại bỏ kỹ thuật này là nguyên tắc cơ bản trong lời dạy của thầy Mori.

Người dịch: Triều Dương
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.