Sau khi hay tin về cái chết của Matsuda vào cuối buổi sáng hôm qua, tôi làm cho mình một bữa ăn trưa nhẹ, rồi đi ra ngoài vận động một chút.
Ngày hôm ấy thật ấm áp dễ chịu khi tôi đi xuống đồi. Đến sông, tôi bước lên Cầu Dùng Dằng và nhìn chung quanh. Bầu trời xanh trong, và xa về phía bờ sông một chút, dọc theo đó là những tòa nhà chung cư mới, tôi có thể thấy hai cậu bé đang nghịch cần câu bên mép nước. Tôi ngắm nhìn chúng một lúc, trong đầu nghĩ đến cái tin Matsuda qua đời.
Tôi vẫn luôn có ý định tới thăm Matsuda kể từ khi nối lại quan hệ với ông ấy trong thời gian mai mối hôn nhân cho Noriko, nhưng thực tế là tôi không thể rời khỏi Arakawa mãi cho đến cách đây chừng một tháng. Tôi đã đi thuần túy vì ý muốn bất chợt, hoàn toàn không biết ông ấy sắp lìa đời. Có lẽ Matsuda hẳn đã nhắm mắt thanh thản hơn đôi chút sau khi chia sẻ những suy nghĩ của ông với tôi vào chiều hôm ấy.
Lúc tôi đến nhà ông, cô Suzuki nhận ra tôi ngay lập tức và hồ hởi dẫn tôi vào nhà. Cách xử sự của cô dường như cho thấy Matsuda không có nhiều khách đến thăm kể từ chuyến viếng thăm của tôi cách đây mười tám tháng.
“Ông ấy đã khỏe hơn nhiều kể từ lần trước ông tới thăm,” cô vui vẻ nói.
Tôi được dẫn vào phòng khách và một lát sau, Matsuda đi vào không cần người đỡ, mặc bộ kimono rộng. Rõ ràng ông rất hân hoan được gặp lại tôi, và trong một lát chúng tôi nói về những chuyện vặt vãnh, về những người quen chung của cả hai. Tôi tin là mãi cho đến khi cô Suzuki mang trà lên rồi rút đi, tôi mới nhớ ra cần cảm ơn Matsuda vì bức thư động viên ông gửi vào đợt tôi ốm gần đây.
“Hình như ông bình phục hẳn rồi, Ono,” ông nhận xét. “Nhìn ông, tôi không tin nổi là mới đây ông bị ốm.”
“Tôi khỏe hơn nhiều rồi,” tôi nói. “Tôi phải cẩn thận không được để bản thân quá sức. Và tôi buộc phải mang cái gậy này đi cùng. Ngoài cái đó ra thì tôi cảm thấy khỏe mạnh chẳng khác gì lúc trước.”
“Ông làm tôi thất vọng đấy, Ono. Tôi cứ tưởng chúng ta có thể là hai ông già ca cẩm với nhau về sức khỏe sa sút. Nhưng giờ ông ở đây, chẳng khác gì lần viếng thăm trước. Tôi thì phải ngồi đây và ghen tị với sức khỏe của ông.”
“Vớ vẩn nào, Matsuda. Trông ông rất khỏe mà.”
“Ông không thuyết phục được tôi đâu, Ono,” ông vừa cười vừa nói, “dù đúng là tôi có tăng cân nhẹ năm vừa qua. Nhưng mà này, Noriko có hạnh phúc không? Tôi nghe bảo đám cưới của con bé diễn ra suôn sẻ lắm. Lần trước đến đây, ông rất lo lắng cho tương lai con bé.”
“Mọi chuyện hóa ra lại rất thuận lợi. Mùa thu này nó sẽ sinh cháu. Sau chừng ấy lo lắng, tôi chẳng dám mong mọi chuyện với Noriko có thể nào tốt đẹp hơn được nữa.”
“Một đứa cháu ngoại vào mùa thu. Chà, dứt khoát là một điều đáng trông đợi rồi.”
“Thực ra là,” tôi nói, “con gái lớn nhà tôi sẽ sinh đứa thứ hai vào tháng tới. Nó rất mong có thêm con, nên đây là tin đặc biệt đáng mừng.”
“Quả vậy, quả vậy. Hai đứa cháu sắp sửa ra đời.” Trong một lát, ông ngồi đó mỉm cười gật gù. Đoạn ông nói: “Ono này, chắc chắn ông còn nhớ, tôi đã luôn bận rộn làm thế giới này tốt đẹp hơn, đến nỗi chẳng kịp nghĩ đến hôn nhân. Ông còn nhớ những cuộc tranh cãi trước kia của chúng ta không, ngay trước khi ông và Michiko kết hôn ấy?”
Chúng tôi cùng cười.
“Hai cháu ngoại,” Matsuda lại nói. “Chà, thế là có thứ để trông đợi rồi.”
“Quả vậy. Tôi là người may mắn nhất nếu nói đến hai đứa con gái.”
“Ono này, dạo gần đây ông còn vẽ không?”
“Vài bức màu nước để giết thì giờ thôi. Chủ yếu là cỏ cây hoa lá, để tự làm vui là chính.”
“Dù sao tôi cũng rất vui khi biết ông đang vẽ lại. Lần trước ông đến thăm tôi, dường như ông định bỏ vẽ hẳn. Lúc đó ông đã vỡ mộng ghê gớm.”
“Đúng là vậy. Tôi đã không động vào màu vẽ một thời gian dài.”
“Đúng, Ono, dường như ông đã vỡ mộng ghê gớm.” Rồi ông mỉm cười nhìn tôi, đoạn nói: “Nhưng dĩ nhiên, ông đã tha thiết muốn có một đóng góp lớn lao.”
Tôi mỉm cười đáp lại: “Nhưng ông cũng vậy, Matsuda. Mục tiêu của ông cũng lớn lao không kém đâu. Dù gì, chính ông là người đã soạn bản tuyên ngôn cho chiến dịch khủng hoảng Trung Hoa của chúng ta. Khó mà gọi đấy chỉ là thứ khát vọng khiêm nhường được.”
Chúng tôi lại cười. Đoạn ông nói:
“Chắc chắn ông còn nhớ, Ono, tôi từng nói ông là kẻ ngây thơ. Rằng tôi từng châm chọc cái nhãn quan nghệ sĩ chật hẹp của ông. Ông từng nổi giận với tôi. Ồ, dường như rốt cuộc thì cả hai ta chẳng người nào có được cái nhìn bao quát cả.”
“Tôi cho là vậy. Nhưng nếu chúng ta nhìn mọi chuyện rõ ràng hơn một chút, thì những người như ông và tôi, Matsuda – ai mà biết được? – chúng ta có thể đã làm được điều gì đó thực sự tốt đẹp. Chúng ta từng có nhiều năng lượng và can đảm. Quả thực, chúng ta hẳn phải có rất nhiều hai thứ ấy thì mới đi đến được một thứ như chiến dịch Nhật Bản Mới, ông có nhớ không?”
“Quả vậy. Có những thế lực hùng mạnh chống lại chúng ta lúc bấy giờ. Chúng ta hẳn dễ dàng trở nên khiếp đảm. Tôi cho là lúc ấy chúng ta hẳn đã rất quyết tâm, Ono.”
“Nhưng tôi lại chưa bao giờ nhìn nhận mọi chuyện được sáng tỏ. Một nhãn quan nghệ sĩ chật hẹp, như ông nói. Chao ôi, ngay cả bây giờ, tôi thấy thật khó mà nghĩ đến cái thế giới rộng mở bên ngoài phạm vi thành phố này.”
“Dạo này,” Matsuda nói, “tôi thấy thật khó mà nghĩ đến thế giới mênh mông bên ngoài khu vườn nhà tôi. Nên có lẽ bây giờ ông là người có tầm nhìn rộng hơn rồi, Ono.”
Chúng tôi lại cùng cười, rồi Matsuda chiêu một ngụm trà.
“Nhưng không cần phải tự trách mình thái quá như vậy đâu,” ông nói. “Ít nhất chúng ta đã hành động theo đức tin của mình, và đã cố gắng hết sức. Chỉ là, rốt cuộc chúng ta hóa ra cũng chỉ là những người bình thường. Những người bình thường không được phú cho sự thấu suốt. Chúng ta chỉ đơn giản là không may khi làm những người bình thường trong những thời đại như thế.”
Matsuda trước đó nhắc đến khu vườn của ông khiến tôi hướng chú ý ra vườn. Đấy là một buổi chiều xuân ấm áp, và cô Suzuki đã kéo vách cửa mở một phần, thế nên từ chỗ tôi ngồi, tôi có thể thấy mặt trời phản chiếu rực rỡ trên những tấm ván sàn sáng bóng ngoài hiên nhà. Một cơn gió nhẹ dịu dàng lùa vào phòng, và cùng với nó là một mùi khói thoang thoảng. Tôi đứng lên bước đến chỗ vách cửa.
“Mùi cháy vẫn làm tôi bồn chồn,” tôi nhận xét. “Cách đây không lâu, đấy vẫn là mùi của bom rơi và lửa cháy.” Tôi tiếp tục nhìn ra vườn một lát nữa, đoạn nói thêm: “Tháng sau, sẽ là tròn năm năm ngày Michiko mất.”
Matsuda vẫn im lặng một lúc. Rồi tôi nghe ông ấy nói sau lưng tôi.
“Ngày nay, mùi cháy thường có nghĩa là hàng xóm đang dọn vườn.”
Đâu đó trong căn nhà, đồng hồ bắt đầu đổ chuông.
“Đến giờ cho cá ăn rồi,” Matsuda nói. “Ông biết đấy, tôi phải đấu tranh mãi với cô Suzuki một thời gian dài thì cô ấy mới cho phép tôi tiếp tục cho cá ăn. Trước đây tôi vẫn đều đặn làm thế, nhưng vài tháng trước, tôi bị vấp vào một viên đá kia. Tôi phải đấu tranh với cô ấy mãi sau sự việc đó.”
Matsuda đứng lên và xỏ dép rơm để ngoài hiên, chúng tôi bước xuống vườn. Cái hồ nằm giữa khoảng nắng cuối vườn, và chúng tôi thận trọng bước đi trên những bậc thang đá chạy giữa những ụ rêu mềm mượt.
Chính vào lúc chúng tôi đứng bên mép hồ, đang nhìn vào mặt nước xanh rêu, thì một âm thanh khiến cả hai chúng tôi ngước lên. Cách không xa chỗ chúng tôi, một thằng bé chừng bốn hay năm tuổi đang ngó nghiêng trên hàng rào, hai tay đu lên một cành cây. Matsuda mỉm cười gọi to:
“À, xin chào cậu ấm!”
Thằng bé tiếp tục nhìn chằm chằm chúng tôi một lúc, rồi biến mất. Matsuda mỉm cười và bắt đầu ném thức ăn xuống nước. “Thằng bé hàng xóm,” ông nói. “Hằng ngày vào giờ này, nó trèo lên cành cây kia xem tôi đi ra cho cá ăn. Nhưng nó dễ thẹn lắm, và nếu tôi thử bắt chuyện với nó, nó sẽ trốn luôn.” Ông khẽ cười một mình. “Tôi thường tự hỏi sao ngày nào nó cũng mất công như thế. Chẳng có gì để xem. Chỉ là một ông già chống gậy, đứng bên hồ cho cá ăn. Tôi tự hỏi nó thấy cảnh đó có gì thú vị.”
Tôi nhìn qua hàng rào lần nữa, chỗ lúc nãy có khuôn mặt bé nhỏ, đoạn nói: “Chà, hôm nay thằng bé bị bất ngờ đấy. Hôm nay, nó đã thấy hai ông già chống gậy đứng bên hồ.”
Matsuda bật cười vẻ hạnh phúc và tiếp tục ném thức ăn xuống nước. Vài ba con cá tuyệt đẹp nhô lên trên mặt nước, vảy cá sáng loáng dưới ánh mặt trời.
“Sĩ quan, chính trị gia, doanh nhân,” Matsuda nói. “Người ta đổ lỗi cho họ vì những gì xảy ra với đất nước này. Nhưng với những người như chúng ta, Ono ạ, đóng góp của chúng ta luôn chỉ là nhỏ nhặt thôi. Giờ chẳng ai quan tâm đến điều những người như ông và tôi từng làm. Họ nhìn chúng ta và chỉ thấy hai ông già chống gậy thôi.” Ông lại mỉm cười với tôi, rồi tiếp tục cho cá ăn. “Bây giờ chúng ta là những kẻ duy nhất quan tâm. Những người như ông và tôi, Ono ạ, khi chúng ta nhìn lại cuộc đời mình, và thấy cuộc đời ấy đầy những lỗi lầm, chúng ta là những kẻ duy nhất bận tâm.”
Nhưng dù ông thốt ra những lời ấy, thì trong phong thái của Matsuda buổi chiều hôm đó vẫn có gì đó gợi ý rằng ông dứt khoát không phải là con người vỡ mộng. Và chắc chắn ông chẳng có lý do gì để chết trong sự vỡ mộng. Ông quả có nhìn lại cuộc đời mình và thấy những khiếm khuyết nhất định, nhưng chắc chắn ông cũng nhận ra có những khía cạnh ông có thể cảm thấy tự hào. Bởi, như ông đã chỉ ra, những người như ông ấy và tôi, chúng tôi có thể hài lòng với những gì mình đã làm, bởi lúc đó chúng tôi đã làm với thiện ý. Dĩ nhiên, chúng tôi đã đi những bước liều lĩnh và thường hành động với một thái độ chỉ quan tâm đến mục tiêu của mình; nhưng chắc chắn như thế vẫn tốt hơn là không bao giờ thử thách niềm tin của mình, xuất phát từ sự thiếu ý chí hay can đảm. Khi một người giữ niềm tin đủ sâu sắc, thì chắc chắn đến một điểm nào đó, thái độ quanh co thêm nữa sẽ là đê tiện. Tôi tin rằng Matsuda hẳn đã nghĩ như thế khi nhìn lại cuộc đời ông.
Có một thời khắc cụ thể thường trở lại trong tâm trí tôi – đó là tháng Năm năm 1938, ngay sau khi tôi được trao giải thưởng của Quỹ Shigeta. Ở thời điểm đó trong sự nghiệp, tôi đã nhận được nhiều giải thưởng và huy chương, nhưng giải thưởng của Quỹ Shigeta, trong mắt đại đa số, là một cột mốc lớn. Thêm nữa, như tôi nhớ, cũng trong tuần đó chúng tôi đã hoàn thành chiến dịch Nhật Bản Mới, một chiến dịch thành công vang dội. Đêm sau hôm nhận giải là đêm liên hoan ăn mừng. Tôi nhớ mình ngồi ở Migi-Hidari, bao quanh tôi là những học trò và nhiều đồng nghiệp, bị chuốc cho say sưa, trong khi vẫn nghe hàng tràng diễn văn chúc tụng tôi. Đủ mọi người quen đều được mời đến Migi-Hidari đêm hôm đó để chúc mừng; tôi thậm chí còn nhớ một cảnh sát trưởng mà tôi chưa bao giờ gặp trước đó đã đến bày tỏ lòng kính trọng. Nhưng dù đêm đó tôi cảm thấy hạnh phúc, tôi lại thấy thiếu, một cách khó hiểu, cái cảm giác chiến thắng sâu sắc và trọn vẹn mà giải thưởng lẽ ra phải mang đến. Quả thật, tôi không trải nghiệm một cảm giác như thế mãi cho đến vài ngày sau, khi tôi đi về miền trung du thuộc tỉnh Wakaba.
Đã mười sáu năm tôi chưa quay lại Wakaba – mười sáu năm kể từ khi tôi rời dinh thự của Mori, lòng quyết tâm, nhưng dẫu vậy vẫn sợ hãi về tương lai chông chênh phía trước. Trong những năm ấy, mặc dù tôi đã cắt mọi liên lạc chính thức với thầy Mori, tôi vẫn tò mò về bất kỳ tin tức nào liên quan đến thầy cũ của tôi, và tôi biết rất rõ chuyện danh tiếng của thầy liên tục sụt giảm ở thành phố. Những nỗ lực của thầy nhằm mang ảnh hưởng của châu Âu vào truyền thống tranh Utamaro bị cho là không yêu nước, và thỉnh thoảng tôi lại nghe tin ông tổ chức những cuộc triển lãm chật vật ở các địa điểm ngày càng kém danh tiếng hơn. Kỳ thực, tôi đã nghe từ hơn một nguồn tin rằng ông đã bắt đầu vẽ minh họa cho các tạp chí phổ thông để duy trì nguồn thu nhập. Đồng thời, tôi khá tin rằng thầy Mori đã theo dõi con đường sự nghiệp của tôi và hoàn toàn có khả năng ông đã nghe tin tôi nhận được giải thưởng Quỹ Shigeta. Thế nên, với một nhận thức thấm thía về những thay đổi mà thời gian mang lại cho cả hai, tôi đã bước xuống tàu ở ga làng ngày hôm ấy.
Đó là một buổi chiều xuân rực nắng khi tôi tiến về dinh thự của thầy Mori, dọc theo những con đường đồi xuyên qua rừng. Tôi đi thật chậm, nhấm nháp cảm giác bước đi trên con đường mà tôi biết quá rõ ấy. Và lúc đó tôi dự đoán trong tâm trí điều gì có thể xảy ra lúc tôi đối diện với thầy Mori một lần nữa. Có lẽ ông sẽ tiếp đón tôi như một vị khách danh giá; hoặc có lẽ ông sẽ lạnh lùng và xa cách như trong những ngày cuối cùng tôi ở dinh thự; nhưng cũng có thể, ông sẽ cư xử với tôi theo cách ông luôn xử sự khi tôi còn là học trò cưng của ông – nghĩa là, như thể những thay đổi lớn lao trong quan hệ địa vị giữa chúng tôi chưa hề xảy ra. Tôi cho là khả năng sau cùng dễ xảy ra nhất, và tôi nhớ mình đã đắn đo nên phản ứng thế nào. Tôi quả quyết mình sẽ không trở về những thói quen xưa và gọi ông là “thầy”; thay vào đó, tôi chỉ đơn giản gọi ông như thể chúng tôi là đồng nghiệp. Và nếu ông cứ nhất quyết không thừa nhận địa vị mà tôi đã đạt được, tôi sẽ nói, với một tiếng cười thân thiện, điều gì đó đại ý: “Ông thấy đó, ông Mori, tôi đã không buộc phải làm cái nghề vẽ minh họa truyện tranh như ông từng lo sợ.”
Chẳng mấy chốc tôi nhận ra mình đã đến cái điểm trên con đường dốc núi, nơi tôi có thể nhìn rõ tòa dinh thự mọc lên giữa những rặng cây trong cái thung lòng chảo dưới kia. Tôi dừng lại một lát để chiêm ngưỡng khung cảnh ấy, như tôi vẫn thường làm nhiều năm về trước. Có một cơn gió sảng khoái, và dưới thung lũng, tôi có thể thấy những rặng cây khẽ đung đưa. Tôi tự hỏi có phải tòa dinh thự đã được sửa sang không, nhưng từ khoảng cách xa như vậy thì không thể biết chắc được.
Sau một lát, tôi ngồi xuống giữa đám cỏ dại mọc trên đỉnh đồi và tiếp tục nhìn tòa dinh thự của thầy Mori. Tôi đã mua ít cam ở một quầy hàng gần nhà ga, và lấy cam từ trong khăn bọc, tôi bắt đầu ăn từng trái một. Chính lúc tôi ngồi đó, nhìn xuống tòa dinh thự, đồng thời thưởng thức hương vị những trái cam tươi, đó là lúc cảm giác chiến thắng và thỏa mãn thật mãnh liệt bắt đầu dâng lên trong tôi. Thật khó mô tả cảm giác ấy, vì nó khác với niềm hân hoan người ta cảm thấy từ những chiến thắng nhỏ hơn – và, như tôi nói, khác với bất kỳ điều gì tôi từng cảm thấy trong những buổi ăn mừng ở Migi-Hidari. Đó là một cảm nhận thấm thía về hạnh phúc xuất phát từ niềm tin rằng nỗ lực của mình được đền đáp; rằng mình đã bỏ công vất vả, vượt qua những nghi hoặc, và không để lãng phí bất cứ điều gì; rằng ta đạt được gì đó thực sự giá trị và xuất chúng. Ngày hôm đó, tôi không đi tiếp về phía dinh thự – dường như khá vô nghĩa khi làm thế. Tôi chỉ ngồi đó chừng một giờ, với lòng khoan khoái sâu đậm, và ăn những trái cam của mình.
Tôi cho đấy không phải là thứ cảm xúc ai cũng được trải nghiệm. Những người như Rùa – những người như Shintaro – họ có thể cần cù bước tiếp, có thể thạo nghề và không làm mếch lòng ai, nhưng những người như họ sẽ không bao giờ biết đến niềm hạnh phúc tôi cảm thấy vào ngày hôm đó. Vì hạng người như họ không biết mạo hiểm mọi thứ cho khao khát vượt lên sự tầm thường là như thế nào.
Tuy nhiên, Matsuda thì khác. Dù ông ấy và tôi thường tranh cãi, cách tiếp cận của chúng tôi với cuộc sống lại hoàn toàn giống nhau, và tôi tin rằng khi nhìn lại đời mình ông hẳn cũng sẽ có một hai khoảnh khắc như vậy. Quả vậy, tôi dám chắc ông ấy cũng có những ý nghĩ giống của tôi khi ông nói với tôi vào lần cuối chúng tôi trò chuyện, với một nụ cười dịu dàng trên khuôn mặt: “Ít nhất chúng ta đã hành động theo đức tin của mình, và đã cố gắng hết sức.” Bởi, dù trong tương lai người ta có đánh giá lại thành tựu của mình, thì đấy vẫn luôn là một niềm an ủi khi biết rằng cuộc đời ta có một vài khoảnh khắc mãn nguyện thực sự như khoảnh khắc tôi đã trải qua vào ngày hôm ấy trên con đường lên núi cao.
Sáng hôm qua, sau khi đứng trên Cầu Dùng Dằng một lát để nghĩ về Matsuda, tôi đã bước đến nơi trước đây từng là khu phố hoan lạc của chúng tôi. Khu vực ấy bây giờ đã được xây dựng lại và không thể nhận ra được nữa. Những con phố hẹp từng chạy qua trung tâm khu phố, tấp nập người qua với những cờ biển bằng vải của các quán xá, giờ được thay thế bằng con đường bê tông rộng rãi với những xe tải hạng nặng qua lại suốt ngày đêm. Nơi trước đây là quán của cô Kawakami, giờ là một tòa nhà văn phòng mặt kính, cao bốn tầng. Kế đó là những tòa nhà cũng lớn như thế, và ban ngày, người ta có thể nhìn thấy nhân viên văn phòng, người giao hàng, người đưa thư, tất cả bận rộn ra vào. Không có quán rượu nào cho tới tận mạn Furukawa, nhưng đây đó, người ta có thể nhận ra một mẩu hàng rào hoặc một cái cây, sót lại từ ngày cũ, trông chúng lạc lõng kỳ khôi giữa khung cảnh mới.
Nơi trước đây là Migi-Hidari, giờ là sân trước của một tổ hợp văn phòng được xây lùi sâu khỏi mặt đường. Một số nhân viên cấp cao để xe trong bãi này, nhưng phần lớn vẫn là một khoảng sân rộng thảm nhựa, với những cây non được trồng đây đó. Trước sân, đối diện mặt đường, có một chiếc ghế dài, loại ghế người ta có thể bắt gặp trong công viên. Cái ghế được đặt ở đó cho ai, tôi không biết, vì tôi không bao giờ thấy những con người bận rộn này dừng lại thư giãn trên đó. Nhưng tôi thích tưởng tượng rằng chiếc ghế đó nằm ngay chỗ rất gần nơi đặt chiếc bàn cũ của chúng tôi trong quán Migi-Hidari, và tôi đã nhiều lần ngồi vào đó. Có thể đây không phải là một cái ghế công cộng, nhưng nó sát vỉa hè, và chưa từng ai cấm tôi ngồi ở đây. Sáng hôm qua, khi mặt trời chiếu sáng dễ chịu, tôi đã ngồi xuống ghế và ở đó một lúc lâu, quan sát chung quanh.
Lúc đấy hẳn sắp đến giờ ăn trưa, vì nhìn sang bên kia đường tôi có thể thấy những nhóm nhân viên mặc áo sơ mi trắng dài tay bước ra từ tòa nhà mặt kính nơi trước đây từng là quán của cô Kawakami. Khi quan sát, tôi ngạc nhiên bởi những con người trẻ tuổi ấy mới tràn đầy lạc quan và nhiệt huyết làm sao. Có một lúc, có hai thanh niên đang rời tòa nhà dừng lại để trò chuyện với một người thứ ba đang đi vào. Họ đứng ở bậc thềm trước cửa tòa nhà mặt kính, cười đùa với nhau trong ánh nắng. Một thanh niên, mà tôi có thể nhìn rõ mặt nhất, đang cười với một vẻ đặc biệt vui tươi, có gì đó giống sự ngây thơ cởi mở của một đứa trẻ. Rồi với một cử chỉ mau lẹ, cả ba người đồng nghiệp chia tay nhau và ai đi đường nấy.
Tôi mỉm cười một mình khi ngồi trên ghế quan sát những nhân viên văn phòng trẻ tuổi này. Dĩ nhiên, nhiều lúc, khi tôi nhớ lại các quán rượu thắp đèn sáng trưng xưa cùng tất cả những người đã tề tựu dưới ánh đèn, nói cười náo nhiệt hơn đôi chút so với những chàng thanh niên hôm qua, nhưng vẫn cùng chung một vẻ tử tế chân thành, tôi cảm thấy một niềm hoài nhớ quá khứ và khu phố trước đây. Nhưng thấy thành phố của chúng tôi được tái thiết, thấy đời sống được phục hồi nhanh chóng những năm vừa qua, điều đó đã mang lại cho tôi niềm vui sướng thật sự. Dường như dân tộc chúng tôi, dù đã phạm lỗi lầm nào trong quá khứ, thì giờ đang có một cơ hội khác để làm mọi thứ tốt đẹp hơn. Người ta chỉ có thể thành tâm chúc phúc cho những con người trẻ tuổi ấy.