Một Họa Sĩ Phù Thế

Lượt đọc: 28 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
THÁNG MƯỜI MỘT NĂM 1949 (3)

❊ ❊ ❊

Dù lý do phẫn nộ của cậu ta là gì, tôi biết rằng sau buổi sáng hôm đó, tôi không còn có thể che giấu những ý tưởng đang hình thành nhanh chóng của mình khỏi những người chung quanh, và sự việc này đến tai thầy chỉ là vấn đề thời gian mà thôi. Do vậy, cho đến thời điểm tôi có cuộc trò chuyện với thầy Mori tại điếm nghỉ trong công viên Takami, tôi đã lật đi lật lại trong đầu mình nhiều lần những điều tôi sẽ nói với thầy, và quyết tâm không nhượng bộ.

Chuyện xảy ra khoảng một tuần sau buổi sáng ở căn bếp. Thầy Mori và tôi dành cả buổi chiều vào thành phố có chút việc – có lẽ để chọn và đặt nguyên liệu cho việc vẽ, tôi không nhớ rõ. Tôi chỉ nhớ là khi chúng tôi đi công chuyện, cách cư xử của thầy Mori với tôi không có gì khác thường. Rồi khi màn đêm buông xuống, còn dư chút thời gian trước lúc tàu đến, chúng tôi bước qua những bậc thang dốc sau nhà ga Yotsugawa để lên công viên Takami.

Thời bấy giờ, trong công viên Takami có một điếm nghỉ rất dễ chịu, nằm ngay ở mép đồi nhìn xuống khu vực bao quanh – thực ra không cách xa đài tưởng niệm hòa bình ngày nay. Nét hấp dẫn dễ nhận thấy nhất của điếm nghỉ này là mái chìa tinh tế của nó treo đèn lồng khắp chung quanh – dù vào đêm hôm ấy, như tôi nhớ, đèn lồng đều chưa thắp khi chúng tôi đến. Bước vào dưới mái che, điếm nghỉ thênh thang như một căn phòng lớn, nhưng vì nó không có mặt vách nào, chỉ có những cột kèo đỡ mái là chen vào tầm nhìn của ta xuống phố phường bên dưới.

Có lẽ, đêm hôm đó đi cùng thầy Mori là lần đầu tiên tôi phát hiện ra điếm nghỉ kia. Đó vẫn là địa điểm tôi yêu thích suốt nhiều năm, cho đến khi nó bị phá hủy trong chiến tranh, và mỗi khi tình cờ qua con đường này, tôi thường dẫn học trò của mình đến đấy. Quả thực, tôi tin chính là tại cái điếm nghỉ ấy, ngay trước bắt đầu chiến tranh, tôi đã có cuộc trò chuyện cuối cùng với Kuroda, học trò tài năng nhất của tôi.

Dù sao đi nữa, buổi tối đầu tiên ấy khi tôi theo thầy Mori vào trong điếm nghỉ, tôi nhớ bầu trời mang màu đỏ sậm, và trong cảnh tối ảm đạm, vẫn có thể nhìn thấy ánh đèn từ những mái nhà xa xa dưới kia. Thầy Mori bước thêm vài bước nữa về phía cảnh tượng ấy, nghiêng vai dựa vào cột, ngước lên bầu trời với một vẻ thỏa mãn, rồi thầy nói mà không quay lại nhìn tôi:

“Ono này, có diêm và nến con trong khăn bọc đấy. Hãy thắp mấy ngọn đèn này đi. Ta đồ rằng, ấn tượng nó tạo nên sẽ thú vị lắm.”

Khi tôi đi vòng quanh điếm nghỉ để thắp hết đèn này sang đèn khác, khu vườn đã trở nên tĩnh lặng chung quanh chúng tôi dần chìm vào bóng tối. Trong lúc đó, tôi tiếp tục liếc nhìn về hình dáng của thầy Mori trên nền trời, đang trầm tư ngắm cảnh. Tôi đã thắp được phân nửa số đèn thì tôi nghe thầy nói:

“Ono này, chuyện gì đang làm con phiền lòng quá vậy?”

“Con xin lỗi, thưa thầy?”

“Hôm nay con đã nhắc đến, rằng có điều gì đó khiến con bận lòng.”

Tôi khẽ cười khi với tay lên một chiếc đèn.

“Chỉ là chuyện nhỏ nhặt thôi, thưa thầy. Con không muốn làm phiền thầy vì chuyện này, nhưng con không biết phải hiểu thế nào. Thực ra, cách đây hai ngày, con phát hiện ra một số tranh của con đã bị chuyển đi khỏi nơi mà con luôn cất giữ trong căn bếp cũ.”

Thầy Mori vẫn im lặng một lát. Đoạn ông nói:

“Thế những người khác nói thế nào về chuyện này?”

“Con đã hỏi họ, nhưng không ai biết gì cả. Hoặc ít nhất, dường như không ai muốn nói với con cả.”

“Vậy con kết luận ra sao, Ono? Có âm mưu nào chống lại con ư?”

“Ồ, thực tế là, thưa thầy, những người khác tỏ vẻ lo lắng, họ tránh đi chung với con. Thực ra, mấy ngày qua con không thể trò chuyện gì với bất kỳ ai. Khi con vào phòng, mọi người sẽ im lặng, hoặc cùng rời đi.”

Ông không bình luận gì chuyện này, và khi tôi liếc nhìn ông, ông dường như vẫn bị hút vào bầu trời hoàng hôn. Trong lúc tôi đang thắp một ngọn đèn khác thì ông nói:

“Những bức tranh của con hiện ta đang giữ. Ta xin lỗi nếu việc lấy những bức tranh kia làm con lo lắng. Tình cờ hôm trước ta có chút thời gian rảnh, và nghĩ đó là cơ hội tốt để xem dạo này con vẽ thế nào. Lúc đấy hình như con đi ra ngoài. Lẽ ra ta nên cho con biết khi con quay về, Ono à. Ta xin lỗi.”

“Chao ôi, không hề gì, thưa thầy. Con rất biết ơn vì thầy đã quan tâm đến tác phẩm của con.”

“Hiển nhiên là ta quan tâm. Con là học trò hoàn hảo nhất của ta. Ta đã dành nhiều năm nuôi dưỡng tài năng cho con.”

“Dĩ nhiên, thưa thầy. Ơn nợ thầy con không biết kể sao cho vừa.”

Cả hai chúng tôi không nói gì trong chốc lát, trong khi tôi tiếp tục thắp đèn. Rồi tôi ngừng lại và nói:

“Con thấy nhẹ lòng vì tranh của con không bị tổn hại gì. Lẽ ra con phải biết lời giải thích chỉ đơn giản là thế. Giờ con có thể yên tâm được rồi.”

Thầy Mori không nói gì, và nhìn hình bóng ông, tôi nhận thấy mắt ông không rời khỏi phong cảnh. Tôi chợt nghĩ, ông không nghe tôi nói, nên tôi nói lớn hơn một chút:

“Con mừng có thể yên tâm rằng những bức tranh được an toàn.”

“Đúng vậy, Ono,” thầy Mori nói, như thể giật mình bứt khỏi những suy nghĩ xa xăm. “Lúc đấy ta không có nhiều thời gian. Nên ta đã cử người đến lấy những tác phẩm con vẽ gần đây.”

“Con thật ngốc đã lo lắng đến thế. Con mừng vì những bức tranh được an toàn.”

Ông không nói gì một lúc, nên tôi lại nghĩ ông không nghe thấy tôi. Nhưng ông nói: “Những gì ta thấy làm ta hơi ngạc nhiên. Dường như con đang khám phá những con đường kỳ lạ.”

Dĩ nhiên, có thể ông đã không sử dụng chính xác cụm từ đó, “khám phá những con đường kỳ lạ”. Vì tôi chợt nhận ra đấy chính là lối diễn đạt tôi sử dụng thường xuyên những năm sau này, và có thể là tôi đang nhớ đến những lời chính tôi đã nói với Kuroda vào một dịp sau này cũng tại cái điếm nghỉ đó. Nhưng lúc ấy, tôi tin thầy Mori đôi lần nhắc đến việc “khám phá những con đường”; thực ra, đây có thể coi là một ví dụ nữa cho việc tôi thừa hưởng một đặc điểm của người thầy cũ. Dù thế nào đi nữa, tôi nhớ tôi đã không phản ứng gì ngoài việc cười lúng túng, và với tay thắp một chiếc đèn nữa. Rồi tôi nghe ông nói:

“Họa sĩ trẻ thử nghiệm một chút không phải điều xấu. Ngoài những cái lợi khác, anh ta có thể giải tỏa những bận tâm hời hợt của mình. Sau đấy, anh ta có thể quay về công việc nghiêm túc với lòng trung thành hơn bao giờ hết.” Sau một quãng dừng, ông lẩm nhẩm như thể tự nói với chính mình: “Không, thử nghiệm không phải điều xấu. Đó là một phần của tuổi trẻ. Không hề xấu chút nào.”

“Thưa thầy,” tôi nói, “con có cảm nhận rất mãnh liệt rằng tác phẩm mới đây của con là tác phẩm tuyệt vời nhất con từng vẽ.”

“Không phải tồi, không hề tồi chút nào cả. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, người ta không nên dành quá nhiều thời gian cho những thử nghiệm như vậy. Người ta có thể trở nên giống một kẻ chu du quá nhiều. Tốt nhất nên quay về với lao động nghiêm túc trước khi đi quá xa.”

Tôi đợi xem ông nói gì nữa không. Sau một lát, tôi nói: “Dứt khoát là con đã thật ngốc nghếch vì đã lo lắng quá nhiều cho sự an toàn của những bức tranh ấy. Nhưng thầy thấy đấy, thưa thầy, con thấy tự hào về chúng hơn hết thảy những thứ khác mà con đã vẽ. Dẫu sao, lẽ ra con phải đoán được lời giải thích chỉ đơn giản là như vậy.”

Thầy Mori vẫn im lặng. Khi tôi lén nhìn ông qua chiếc đèn tôi đang thắp, thật khó đoán định ông đang suy tư về những lời tôi nói hay nghĩ về điều gì khác lúc ấy. Có một thứ hỗn hợp ánh sáng kỳ lạ trong điếm nghỉ khi mặt trời lặn dần, và tôi thắp thêm đèn. Nhưng trước mắt tôi thầy Mori vẫn chỉ là một hình bóng, dựa vào một cái cột, lưng quay về phía tôi.

“Tiện đây, Ono ạ,” cuối cùng ông nói, “ta nghe bảo có một vài bức tranh khác của con hoàn thiện gần đây không nằm trong số những bức ta đang giữ.”

“Có thể lắm, có một hai bức con không cất cùng với những bức kia.”

“À. Và hiển nhiên đấy chính những bức tranh con trìu mến nhất.”

Tôi không đáp lại câu này. Rồi thầy Mori tiếp tục:

“Có lẽ khi chúng ta quay về, Ono à, con sẽ mang những bức tranh ấy đến cho ta. Ta rất hứng thú muốn được xem chúng.”

Tôi nghĩ một lát, đoạn nói: “Dĩ nhiên, con sẽ rất trân trọng ý kiến của thầy về những bức tranh ấy. Tuy nhiên, con không nhớ rõ mình để chúng ở đâu.”

“Nhưng con sẽ cố gắng tìm ra chúng, ta tin vậy.”

“Con sẽ tìm, thưa thầy. Trong lúc ấy, có lẽ con muốn giúp thầy giải phóng bớt những bức tranh mà thầy đã có lòng để mắt đến. Chắc chắn chúng đang để bừa bộn làm chật chỗ của thầy, nên con sẽ lấy lại chúng đi khi chúng ta quay về.”

“Không cần phải bận tâm tới những bức tranh kia đâu, Ono. Con chỉ cần tìm những bức còn lại mang đến cho ta là được rồi.”

“Thưa thầy, thật tiếc là con sẽ không thể tìm được những bức tranh còn lại.”

“Ta hiểu, Ono.” Ông cất tiếng thở dài mệt mỏi, và tôi có thể thấy ông một lần nữa ngước nhìn lên bầu trời. “Vậy con không cho là con có thể mang những bức tranh còn lại đến cho ta.”

“Không, thưa thầy. Con e là không.”

“Ta hiểu. Dĩ nhiên, con đã tính đến tương lai của mình trong trường hợp con rời khỏi sự bảo trợ của ta.”

“Con hy vọng thầy sẽ hiểu cho hoàn cảnh của con, và tiếp tục ủng hộ con theo đuổi sự nghiệp của mình.”

Ông vẫn im lặng, nên cuối cùng tôi nói tiếp:

“Thưa thầy, phải rời dinh thự sẽ là nỗi đau đớn tột cùng với con. Những năm tháng qua là quãng thời gian hạnh phúc nhất và giá trị nhất trong đời con. Con coi những đồng nghiệp như anh em ruột thịt. Và đối với thầy, chao ôi, con khó có thể kể hết ơn nghĩa. Con chỉ xin thầy hãy xem những bức tranh mới của con lần nữa và cân nhắc lại. Thực ra, con mong khi chúng ta quay về thầy sẽ cho phép con lý giải ý đồ trong mỗi bức tranh.”

Ông không tỏ dấu hiệu nghe tôi nói. Nên tôi tiếp tục:

“Con đã học được nhiều điều những năm vừa qua. Con đã học được nhiều trong sự thưởng ngoạn cõi phù thế, và nhận ra vẻ đẹp mong manh của nó. Nhưng giờ con cảm thấy đã đến lúc con tiến sang những chủ đề khác. Thưa thầy, con tin rằng trong thời buổi nhiễu nhương thế này, họa sĩ phải học cách trân trọng điều gì đó hữu hình hơn những thứ khoái cảm sẽ biến mất cùng ánh sáng ban mai. Họa sĩ không nhất thiết chỉ được quan tâm tới một thế giới suy đồi và khép kín. Thưa thầy, lương tâm mách bảo con rằng con không nên cứ mãi là một họa sĩ của phù thế.”

Nói đoạn, tôi quay lại chú tâm vào những chiếc đèn lồng. Sau một lát, thầy Mori nói:

“Suốt một thời gian, con đã là học trò hoàn hảo nhất của ta. Ta sẽ thấy đau đớn phải chứng kiến con ra đi. Thế này nhé, con có ba ngày để mang những bức tranh còn lại đến. Con sẽ mang những bức tranh đó cho ta, rồi quay về tập trung vào những chủ đề thích đáng.”

“Như con đã nói, thưa thầy, con rất lấy làm tiếc không thể mang cho thầy những bức tranh đó.”

Thầy Mori phát ra một âm thanh như thể ông đang tự cười với bản thân. Đoạn ông nói: “Như chính con đã chỉ ra, Ono, đây đúng là thời buổi nhiễu nhương. Càng nhiễu nhương hơn với một họa sĩ trẻ, thực tế là chưa có tiếng tăm, không có tài lực. Nếu con kém tài hơn, ta sẽ lo ngại cho tương lai của con sau khi rời bỏ ta. Nhưng con là người thông minh. Chắc chắn con đã có những toan tính rồi.”

“Thực ra là con chưa hề có toan tính gì cả. Từ rất lâu rồi dinh thự đã trở thành nhà của con, con chưa bao giờ suy nghĩ nghiêm túc về việc rời bỏ nó.”

“Vậy ư. Ồ, như ta nói đấy, Ono, nếu con kém tài hơn thì có lý do phải lo lắng đấy. Nhưng con là một thanh niên thông minh.” Tôi thấy hình bóng thầy Mori quay về phía tôi. “Con chắc chắn sẽ tìm được một chân minh họa cho tạp chí và sách tranh. Có lẽ con sẽ làm cho một công ty như cái chỗ hồi con mới đến với ta. Dĩ nhiên, điều đó sẽ chấm dứt sự nghiệp một họa sĩ nghiêm túc, nhưng chắc chắn con đã tính toán tất cả những chuyện này rồi.”

Đấy có vẻ là những lời thù hằn không cần thiết để một người thầy dùng với kẻ học trò mà ông biết vẫn một lòng tôn kính mình. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, khi một đại danh họa dành quá nhiều thời gian và công sức cho một học trò nào đó, khi ông ta thậm chí còn cho phép tên người học trò ấy gắn với tên mình trước công chúng, thì có lẽ cũng dễ hiểu, nếu không nói là hoàn toàn có thể dung thứ được, rằng người thầy ấy trong giây lát đã quên mất sự chừng mực, và phản ứng theo những cách mà sau này ông sẽ hối tiếc. Dù thủ đoạn chiếm đoạt những bức tranh ấy dứt khoát là ti tiện, thì hoàn toàn dễ hiểu nếu một người thầy, kẻ đã cung cấp hầu hết màu vẽ và họa liệu, trong khoảnh khắc như thế đã quên mất rằng người học trò có mọi quyền hạn đối với tác phẩm của anh ta.

Vì thế, rõ ràng sự ngạo mạn và thái độ chiếm hữu như thế từ phía người thầy – dù ông có nổi tiếng nhường nào – sẽ khiến ông ta phải hối tiếc. Đôi lần, tôi vẫn hồi tưởng lại trong tâm trí cái buổi sáng mùa đông lạnh lẽo ấy, và mùi cháy khét mỗi lúc một nồng hơn trong mũi mình. Đó là mùa đông trước khi chiến tranh nổ ra, và tôi đang đứng bồn chồn ở cửa nhà Kuroda – một căn nhà nhỏ tồi tàn anh ta từng thuê ở khu Nakamachi. Tôi có thể nhận ra mùi cháy khét phát ra từ đâu đó trong nhà, và cũng từ đó phát ra tiếng phụ nữ khóc thổn thức. Tôi kéo dây chuông liên tục và gọi người ra mở cửa cho tôi, nhưng chẳng ai ra. Cuối cùng, tôi quyết định tự ý vào, nhưng khi tôi kéo cánh cửa ngoài, một cảnh sát mặc đồng phục xuất hiện ở lối vào.

“Ông muốn gì?” anh ta hỏi.

“Tôi đến tìm anh Kuroda. Anh ta có nhà không?”

“Người cư ngụ ở đây đã bị đưa đến đồn cảnh sát để tra hỏi.”

“Tra hỏi ư?”

“Tôi khuyên ông nên về nhà,” viên cảnh sát nói. “Nếu không, chúng tôi sẽ khám xét cả ông nữa đấy. Giờ chúng tôi cần quan tâm đến tất cả những người kết giao với người cư ngụ ở nhà này.”

“Nhưng tại sao? Anh Kuroda đã phạm tội gì ư?”

“Không ai muốn hạng người như anh ta ở đây. Nếu ông không đi, chúng tôi sẽ bắt ông để xét hỏi.”

Trong nhà, người phụ nữ – mẹ của Kuroda, tôi cho là vậy – vẫn tiếp tục nức nở. Tôi có thể nghe ai đó đang quát bà.

“Cảnh sát chịu trách nhiệm ở đây là ai?” tôi hỏi.

“Đi đi. Ông muốn bị bắt hả?”

“Trước khi có chuyện gì xảy ra giữa chúng ta,” tôi nói, “để tôi giải thích, tên tôi là Ono.” Viên cảnh sát không có vẻ gì là nhận ra, nên tôi tiếp tục nói, dù có chút ngập ngừng: “Tôi là người cung cấp thông tin theo đó các anh được điều đến đây. Tôi là Masuji Ono, họa sĩ và là Ủy viên Ban Văn hóa thuộc Bộ Nội vụ. Thực ra, tôi là cố vấn chính thức của Ủy ban Chống Hoạt động Phản quốc. Tôi tin có hiểu nhầm ở đây, và tôi muốn nói chuyện với người có trách nhiệm.”

Viên cảnh sát nhìn tôi một lúc với vẻ nghi hoặc, đoạn quay người và biến mất vào trong nhà. Chẳng bao lâu sau, anh ta quay lại và ra hiệu cho tôi bước tới.

Khi tôi theo anh ta vào nhà Kuroda, tôi thấy khắp nơi la liệt những đồ đạc trong tủ bếp và tủ quần áo bị dốc tung ra khắp sàn. Tôi nhận thấy một số sách vở được chất lên và buộc lại thành bó, trong khi ở phòng khách, tấm chiếu bị lật lên và một cảnh sát đang dùng đèn pin lục lọi dưới sàn. Đằng sau một tấm liếp ngăn đóng lại, tôi có thể nghe rõ ràng hơn tiếng nức nở của mẹ Kuroda, và một cảnh sát đang quát hỏi bà.

Tôi được dẫn ra hiên sau nhà. Giữa khoảng sân nhỏ, một cảnh sát khác mặc cảnh phục và một người đàn ông mặc thường phục đang đứng cạnh một đống lửa. Người mặc thường phục quay lại và tiến vài bước về phía tôi.

“Ông Ono phải không?” ông ta hỏi, giọng khá tôn trọng.

Viên cảnh sát dẫn tôi vào dường như cảm thấy sự khiếm nhã trước đó của mình là không phù hợp, bèn vội vã quay vào trong nhà.

“Có chuyện gì với anh Kuroda vậy?”

“Bị giải đi thẩm vấn thôi, ông Ono. Chúng tôi sẽ lo chuyện anh ta, ông đừng bận tâm.”

Qua ông ta, tôi nhìn chằm chằm đống lửa, giờ gần như đã cháy tàn. Viên cảnh sát mặc cảnh phục đang lấy cời xới đống tro.

“Các anh có được ủy quyền đốt những bức tranh đó không?” tôi hỏi.

“Chính sách của chúng tôi là tiêu hủy bất cứ tài liệu sai trái nào không cần dùng làm bằng chứng. Chúng tôi đã chọn được bằng chứng phù hợp rồi. Phần còn lại của mớ rác rưởi ấy thì chỉ có đốt thôi.”

“Tôi không biết,” tôi nói, “là sẽ có chuyện như thế này xảy ra. Tôi chỉ đề nghị với ủy ban rằng nên có ai đó đến đây và nói chuyện với Kuroda vì lợi ích của chính anh ta.” Tôi lại nhìn chằm chằm vào đống tro cháy âm ỉ giữa sân. “Đốt những bức tranh kia là việc không cần thiết. Trong đó có nhiều tác phẩm tốt.”

“Ông Ono này, chúng tôi biết ơn sự giúp đỡ của ông. Nhưng giờ vụ việc đã được khởi tố điều tra, ông phải để những người có thẩm quyền xử lý công việc. Chúng tôi sẽ đảm bảo anh Kuroda của ông sẽ được đối xử công bằng.”

Ông ta mỉm cười, rồi quay về phía đống lửa, nói gì đó với cảnh sát mặc đồng phục. Viên cảnh sát này cời lửa, và nói gì đó thì thầm, nghe như: “Thứ rác rưởi phản quốc.”

Tôi vẫn đứng ở hiên, nhìn mà không tin nổi vào mắt mình. Cuối cùng, cảnh sát mặc thường phục quay về phía tôi đoạn nói: “Ông Ono này, tôi khuyên ông nên về nhà ngay đi.”

“Mọi chuyện đã đi quá xa rồi,” tôi nói. “Và tại sao các anh thẩm vấn bà Kuroda? Bà ấy thì có liên quan gì?”

“Giờ thì đấy là việc của cảnh sát, ông Ono. Chuyện này không liên quan đến ông nữa.”

“Mọi chuyện đã đi quá xa rồi. Tôi sẽ nói chuyện này với ông Ubukata. Quả thực, tôi sẽ đem chuyện này lên thẳng chỗ ông Saburi.”

Cảnh sát mặc thường phục gọi ai đó trong nhà, và viên cảnh sát đã mở cửa cho tôi đã xuất hiện cạnh tôi.

“Cảm ơn ông Ono đã giúp đỡ rồi tiễn ông ta về đi,” cảnh sát mặc thường phục nói. Nói đoạn, ông ta quay về đống lửa, rồi đột ngột ho một tiếng. “Tranh độc thì chỉ ra khói độc,” ông ta nói, nhếch mép cười, lấy tay phẩy không khí trước mặt.

Nhưng chuyện này chẳng mấy liên hệ đến những gì tôi đang nhắc đến ở đây. Tôi tin mình đang nhớ lại những sự kiện của ngày hôm đó vào tháng trước khi Setsuko về nhà trong chuyến thăm ngắn; kỳ thực, tôi đang thuật lại việc Taro khiến chúng tôi bật cười lúc ăn tối bằng những giai thoại về đồng nghiệp của nó.

Như tôi nhớ, bữa ăn tối tiếp tục diễn ra rất tốt đẹp. Tuy nhiên, tôi không tránh khỏi chút khó chịu khi quan sát Ichiro mỗi lần Noriko rót sake. Mấy lần đầu, thằng bé liếc sang bàn nhìn tôi với nụ cười mưu mô, mà tôi đã cố hết sức đáp lại theo cách trung tính nhất có thể. Nhưng khi bữa ăn tiếp diễn, và sake tiếp tục được rót ra, thằng bé thôi nhìn tôi mà cứ nhìn đầy cáu kỉnh khi dì nó rót đầy cốc của chúng tôi.

Sau khi Taro kể cho chúng tôi thêm nhiều câu chuyện tiêu khiển nữa về các đồng nghiệp, thì Setsuko bảo:

“Chú thật biết pha trò quá, Taro. Nhưng tôi nghe Noriko bảo giờ công ty của chú nhuệ khí làm việc cao lắm mà. Chắc chắn được làm trong một môi trường như vậy sẽ khích lệ ta rất nhiều.”

Nghe thấy thế, thái độ của Taro đột nhiên trở nên sốt sắng. “Quả vậy, chị Setsuko,” nó gật đầu nói. “Những thay đổi chúng em tạo ra sau chiến tranh giờ bắt đầu đơm hoa kết trái ở mọi cấp độ trong công ty. Chúng em cảm thấy rất lạc quan về tương lai. Trong vòng mười năm tới, với điều kiện chúng em cố gắng hết sức, KNC sẽ là cái tên được công nhận không chỉ ở Nhật, mà cả toàn thế giới.”

“Thật tuyệt quá. Và Noriko cũng bảo chị là giám đốc chi nhánh của chú là một người rất tử tế. Điều đó chắc hẳn cũng tạo nên một khác biệt lớn lên nhuệ khí của mọi người.”

“Chị nói quả không sai. Nhưng ông Hayasaka không chỉ là người tử tế, ông ấy có năng lực và tầm nhìn tuyệt vời nhất. Em có thể cam đoan với chị, chị Setsuko à, làm việc với một cấp trên thiếu năng lực, thì dù ông ta có tốt bụng cỡ nào, đấy vẫn có thể là một trải nghiệm làm ta thối chí. Chúng em thật may mắn vì có người như ông Hayasaka lãnh đạo.”

“Quả vậy, Suichi cũng rất may mắn vì cấp trên của anh ấy rất năng lực.”

“Vậy ư, chị Setsuko? Ồ nhưng điều đó cũng không có gì lạ đối với một công ty như Nippon Electrics. Chỉ có những người giỏi giang nhất mới có thể đảm đương trách nhiệm ở một công ty như vậy.”

“Thật may mắn là thực tế đúng như vậy. Nhưng tôi chắc điều đó cũng đúng không kém ở KNC, chú Taro à. Suichi luôn đánh giá cao KNC.”

“Xin lỗi con, Taro,” đến đây tôi góp lời. “Dĩ nhiên, cha chắc chắn con có lý do để lạc quan ở KNC. Nhưng cha định hỏi con, theo ý con thì việc có nhiều thay đổi toàn triệt đến thế được thực hiện ở công ty con sau chiến tranh có phải hoàn toàn là điều tốt không? Cha nghe nói hầu như không còn một giám đốc cũ nào còn tại vị.”

Con rể tôi mỉm cười suy tư, đoạn nói: “Con rất cảm kích sự quan tâm của cha. Tuổi trẻ và khí lực thôi thì không phải lúc nào cũng tạo ra kết quả tốt nhất. Nhưng nói một cách hết sức thẳng thắn, thưa cha, người ta đang kêu gọi cải tổ toàn diện. Chúng con cần những lãnh đạo mới có đường hướng mới phù hợp hơn với thế giới ngày nay.”

“Dĩ nhiên, dĩ nhiên. Và cha tin chắc những lãnh đạo mới của con là những người có năng lực nhất. Nhưng nói xem, Taro, chẳng lẽ con không có đôi lúc lo lắng rằng chúng ta hơi quá vội vã chạy theo người Mỹ ư? Cha sẽ là người đầu tiên đồng ý rằng nhiều lề lối lạc hậu giờ phải xóa bỏ vĩnh viễn, nhưng con không nghĩ rằng đôi khi những điều tốt đẹp cũng bị vứt bỏ cùng điều xấu xa ư? Quả thực, đôi khi Nhật Bản trông như đứa trẻ đang học từ một người lớn xa lạ.”

“Cha rất đúng. Con tin là đôi khi chúng ta hơi vội vã. Nhưng xét toàn diện, người Mỹ có vô số điều mà chúng ta cần học hỏi. Chẳng hạn, chỉ trong vài năm vừa qua, người Nhật chúng ta đã tiến một bước dài ở khía cạnh nhận thức được những điều như dân chủ và quyền cá nhân. Thưa cha, quả thực con có cảm tưởng Nhật Bản cuối cùng đã thiết lập được nền móng để dựng xây một tương lai rực rỡ. Đó là lý do các công ty như công ty của chúng con có thể nhìn về phía trước với niềm tin lớn lao nhất.”

“Quả vậy, Taro à,” Setsuko nói. “Suichi cũng có cảm giác tương tự. Nhiều dịp gần đây anh ấy đã bày tỏ ý kiến rằng sau bốn năm bối rối, đất nước chúng ta cuối cùng đã có quyết tâm hướng tới tương lai.”

Dù con gái tôi đã đưa ra nhận định này với Taro, tôi có ấn tượng không thể sai được, rằng lời đó là dành cho tôi. Taro dường như cũng nghĩ theo hướng đó, nên thay vì đáp lời Setsuko, nó nói tiếp:

“Cha à, thực ra chỉ mới tuần trước con dự một bữa tối họp mặt cùng các bạn học cùng khóa, và lần đầu tiên kể từ khi đầu hàng, tất cả những người có mặt, thuộc mọi tầng lớp khác nhau, đều bày tỏ niềm lạc quan về tương lai. Thế có nghĩa không chỉ ở KNC bọn con mới có cảm nhận rằng mọi thứ đang dần đi đúng hướng. Và dù con hoàn toàn hiểu những lo lắng của cha, thì con vẫn tin rằng xét tổng thể, những bài học của những năm vừa qua là những bài học tốt, và chúng sẽ dẫn dắt chúng ta vào một tương lai rạng rỡ. Nhưng cũng có thể suy đoán của con là chưa chính xác, thưa cha.”

“Không hề, không hề,” tôi nói và cười với nó. “Đúng như con nói, chắc chắn thế hệ của con sẽ có một tương lai rạng rỡ. Và tất cả các con đều rất tự tin. Cha chỉ có thể chúc con những điều tốt đẹp nhất.”

Con rể tôi dường như định đáp lời, nhưng ngay lúc ấy, Ichiro với tay qua bàn và chạm ngón tay vào chai rượu sake, như nó từng làm một lần trước đấy. Taro quay sang nói với nó: “À, Ichiro. Đúng là người mà chúng ta đang bàn đến. Cháu bảo xem nào, cháu sẽ trở thành người thế nào khi trưởng thành?”

Cháu tôi tiếp tục nhìn chai sake một lúc, đoạn liếc về phía tôi, vẻ mặt sưng sỉa. Mẹ thằng bé chạm vai nó, thì thầm: “Ichiro này, chú Taro đang hỏi con đấy. Con nói con muốn thành người thế nào đi.”

“Chủ tịch Nippon Electrics!” Ichiro tuyên bố dõng dạc.

Chúng tôi tất cả cười ồ.

“Cháu có chắc như thế không, Ichiro?” Taro hỏi. “Cháu không định dẫn dắt bọn chú ở KNC ư?”

“Nippon Electrics là công ty tốt nhất!”

Tất cả chúng tôi lại cười.

“Tiếc ơi là tiếc,” Taro nhận xét. “Ichiro đúng là người bọn chú cần ở KNC trong vài năm tới.”

Cuộc trao đổi này dường như khiến tâm trí Ichiro thôi hướng về bình rượu, và từ lúc đó, thằng bé dường như thích thú, lớn tiếng tham gia mỗi khi người lớn bật cười về chuyện gì đó. Chỉ đến khi cuối bữa ăn, thằng bé mới hỏi, giọng khá hờ hững:

“Rượu sake đã hết chưa ạ?”

“Hết cả rồi,” Noriko nói. “Ichiro có muốn uống thêm nước cam không?”

Ichiro từ chối một cách lễ độ, và quay sang Taro, con rể tôi lúc này đang giải thích gì đó với nó. Dù là thế, tôi vẫn có thể hình dung ra nỗi thất vọng của nó, và cảm thấy một cơn cáu kỉnh với Setsuko vì không thấu hiểu hơn những cảm xúc của thằng bé.

Tôi có cơ hội nói chuyện riêng với Ichiro một tiếng sau đó, khi tôi vào phòng khách riêng để chúc nó ngủ ngon. Đèn vẫn bật, nhưng Ichiro chui dưới chăn, nằm úp, một bên má áp vào gối. Khi tắt đèn, tôi phát hiện ra tấm mành không ngăn được ánh sáng từ tòa nhà đối diện chiếu vào phòng, nên tường và trần nhà có những bóng song cửa. Từ phòng bên cạnh phát ra tiếng các con gái tôi đang cười về chuyện gì đó, và khi tôi quỳ xuống cạnh chăn của Ichiro, nó thì thầm:

“Ông này, dì Noriko say à?”

“Ông không nghĩ vậy đâu, Ichiro. Dì ấy chỉ đang cười chuyện gì đó thôi.”

“Dì ấy hơi say đấy. Ông không nghĩ vậy sao?”

“Ồ, có lẽ. Chỉ hơi say thôi. Cái đấy chẳng hại gì cả.”

“Phụ nữ không uống được sake đâu, đúng không ông?” nó nói, và cười khúc khích vào gối.

Tôi bật cười, đoạn nói với nó: “Cháu biết đấy, Ichiro, không cần phải thất vọng về chuyện sake đêm nay đâu. Chuyện đó thực sự không quan trọng. Rồi cháu sẽ lớn, và cháu sẽ có thể uống sake bao nhiêu cũng được.”

Tôi đứng dậy và bước đến cửa sổ xem mấy tấm mành có thể kéo kín hơn được nữa không. Tôi kéo lại mành vài lần, nhưng những lá mành mỏng vẫn hở đủ để tôi có thể thấy những ô cửa sổ sáng đèn của tòa nhà đối diện.

“Không, Ichiro, thực sự chẳng có gì phải thất vọng cả.”

Trong một lát, cháu tôi không trả lời. Rồi tôi nghe giọng nó phía sau: “Ông đừng lo.”

“Ồ? Cháu nói vậy nghĩa là sao, Ichiro?”

“Ông đừng lo. Bởi vì nếu ông lo lắng, ông sẽ không ngủ được. Và nếu người già không ngủ được, họ sẽ ốm.”

“Ông hiểu rồi. Được rồi, Ichiro. Ông hứa sẽ không lo lắng. Nhưng cháu cũng không được buồn đấy. Bởi vì thực sự là chẳng có gì đáng để ta phải buồn cả.”

Ichiro vẫn im lìm. Tôi kéo mành lần nữa.

“Nhưng mà, dĩ nhiên,” tôi nói, “nếu Ichiro thực sự vẫn muốn uống sake tối nay, ông sẽ đi xem có kiếm được chút nào không. Nhưng mà, ông nghĩ chúng ta không sai khi nghe lời cánh phụ nữ lần này. Để họ cáu kỉnh vì những chuyện vặt vãnh như vậy thật chẳng đáng.”

“Đôi lúc ở nhà,” Ichiro nói, “cha muốn làm gì đó, còn mẹ thì bảo không được phép làm như vậy. Đôi khi, đến cả cha cũng không phải đối thủ của mẹ.”

“Vậy ư,” tôi nói, bật cười.

“Nên ông đừng lo lắng.”

“Cả hai chúng ta chẳng việc gì phải lo cả, Ichiro.” Tôi rời cửa sổ, và quỳ xuống cạnh chăn. “Giờ cháu cố ngủ đi nhé.”

“Ông sẽ ở đây tối nay à?”

“Không, ông về nhà của ông thôi.”

“Sao ông không ở đây?”

“Ở đây không đủ chỗ, Ichiro à. Nên nhớ là ông có cả ngôi nhà lớn cho riêng mình.”

“Mai ông sẽ tiễn cháu ra ga chứ?”

“Dĩ nhiên rồi, Ichiro. Ông sẽ ra. Và chắc chắn, cháu sẽ sớm về thăm ông nhé.”

“Ông đừng lo chuyện ông không bắt mẹ cho cháu uống sake được.”

“Cháu trưởng thành nhanh quá, Ichiro,” tôi nói, bật cười. “Lớn lên cháu sẽ là một chàng trai tuyệt vời. Có lẽ cháu thực sự sẽ là người đứng đầu Nippon Electrics. Hoặc công ty khác cũng lớn như vậy. Giờ, hãy im lặng một lát xem cháu có ngủ được không.”

Tôi tiếp tục ngồi cạnh cháu thêm một lát nữa, nhỏ nhẹ đáp lại mỗi khi nó nói gì. Và tôi tin là trong những khoảnh khắc ấy, khi tôi ở trong căn phòng tối đợi cháu tôi ngủ, lắng nghe tràng cười thỉnh thoảng bật ra từ phòng kế bên, tôi bắt đầu điểm lại trong đầu cuộc trò chuyện của tôi vào sáng hôm ấy với Setsuko ở công viên Kawabe. Đó hẳn là cơ hội đầu tiên để tôi làm thế, và cho đến thời điểm đó, tôi thực sự không nghĩ mình lại bực bội như thế vì những lời của Setsuko. Nhưng đến lúc tôi để đứa cháu ngủ say lại mà sang tham gia cuộc trò chuyện với những người còn lại trong phòng chính, tôi tin mình đã thấy khá bực bội với con gái lớn của tôi, và điều này chắc chắn là nguyên do tôi nói với Taro, không lâu sau khi ngồi xuống:

“Con biết đấy, nghĩ lại mới thấy lạ lùng sao. Cha con và ta phải quen biết nhau mười sáu năm rồi, ấy thế mà chỉ mới năm vừa qua chúng ta mới trở thành bạn tốt như vậy.”

“Quả vậy,” con rể tôi nói, “nhưng con cho là chuyện thường sẽ xảy ra như thế. Người ta luôn có quá nhiều hàng xóm đến mức họ không thể trò chuyện gì hơn ngoài vài câu chào buổi sáng. Thật là đáng tiếc thay.”

“Nhưng dĩ nhiên,” tôi nói, “giữa tiến sĩ Saito và ta, đấy không đơn giản chỉ là chuyện chúng ta là hàng xóm. Cả hai chúng ta có liên quan tới nhau vì đều ở trong giới hội họa, và chúng ta biết danh tiếng của nhau. Thế mà cha con và ta không bỏ thêm chút công sức để làm bạn ngay từ đầu, thật là càng đáng tiếc hơn. Con có nghĩ vậy không, Taro?”

Khi tôi nói thế, tôi liếc nhanh Setsuko để đảm bảo con bé đang lắng nghe.

“Quả là rất đáng tiếc,” Taro nói. “Nhưng ít nhất cuối cùng hai người cũng có cơ hội thành bạn bè.”

“Nhưng ý cha là, Taro ạ, việc chúng ta đã biết danh tiếng nhau trong thế giới nghệ thuật suốt bao lâu khiến chuyện này càng thêm đáng tiếc.”

“Vâng, quả là rất đáng tiếc. Người ta những tưởng việc biết một người hàng xóm cũng là một đồng nghiệp ưu tú sẽ dẫn đến những mối quan hệ thân thiết hơn. Nhưng con cho rằng, vì những lịch trình bận rộn và những chuyện bất ngờ, điều đó thường ít khi xảy ra.”

Tôi liếc nhìn Setsuko với vẻ hả hê, nhưng con gái tôi không tỏ dấu hiệu gì là nó hiểu được ý nghĩa trong những lời của Taro. Dĩ nhiên, cũng có thể con bé không thực sự chú ý; tuy nhiên, tôi đoán là Setsuko quả thực có hiểu, nhưng nó quá kiêu hãnh không muốn đáp trả cái liếc nhìn của tôi, khi nó bị đối chất với bằng chứng rằng con bé đã sai lầm khi đưa ra những lời bóng gió vào buổi sáng ở công viên Kawabe.

Chúng tôi lúc ấy đang dạo bộ dọc con đường rộng xuyên giữa công viên, với tốc độ chậm rãi, chiêm ngưỡng những hàng cây trong sắc thu hai bên đường. Chúng tôi đã so sánh những ấn tượng của mình, về cách Noriko đón nhận cuộc sống gia đình và đồng ý rằng nhìn bề ngoài, con bé quả là có hạnh phúc.

“Thật là mãn nguyện,” tôi nói. “Tương lai của em con từng là nỗi lo lắng ghê gớm cho cha. Nhưng giờ mọi chuyện có vẻ rất thuận lợi với con bé. Taro là một chàng trai tuyệt vời. Hầu như chẳng thể mơ đến một ai khác môn đăng hộ đối hơn.”

“Nghĩ mới thấy lạ lùng sao,” Setsuko mỉm cười nói, “chỉ mới một năm trước chúng ta tất cả đều lo lắng cho em con.”

“Mọi chuyện rất mãn nguyện. Và con biết đấy, Setsuko, cha cảm ơn con vì đã dự phần vào chuyện này. Con là chỗ nương tựa vững chắc cho em gái con khi mọi việc không diễn ra êm xuôi.”

“Ngược lại mới đúng, vì ở xa xôi nên con chẳng làm được gì nhiều nhặn.”

“Và dĩ nhiên,” tôi nói, bật cười, “chính con là người năm ngoái cảnh báo cha. Những bước đi thận trọng – con nhớ không, Setsuko? Con thấy đấy, cha không hề bỏ qua lời khuyên của con.”

“Con xin lỗi, thưa cha, lời khuyên nào cơ?”

“Này Setsuko, không cần phải xử khéo vậy đâu. Giờ cha sẵn sàng thừa nhận rằng sự nghiệp cha có những khía cạnh chẳng có lý do gì mà tự hào. Quả thực, cha đã công nhận như thế trong giai đoạn mai mối, đúng như con đã nói.”

“Con xin lỗi, con hoàn toàn không hiểu cha đang ám chỉ gì.”

“Noriko không kể cho con nghe về lễ miai ư? Chà, tối hôm đó cha đã quyết tâm sẽ không để sự nghiệp của cha gây cản trở gì đến hạnh phúc của em con. Cha dám nói rằng bất kể có thế nào thì cha hẳn cũng sẽ làm vậy thôi, nhưng tuy vậy cha cảm ơn con đã khuyên cha năm ngoái.”

“Xin cha tha lỗi, nhưng con không nhớ đã khuyên gì cha vào năm ngoái. Tuy vậy, về lễ miai, Noriko quả có nhắc đến đôi lần với con. Thực ra, em con đã viết cho con ngay sau khi buổi ra mắt, bảo nó rất ngạc nhiên về những… những lời cha tự nói về bản thân.”

“Cha dám nói rằng con bé bị ngạc nhiên. Noriko luôn đánh giá thấp người cha già của nó. Nhưng cha không phải hạng người để cho con gái mình chịu thiệt chỉ vì cha quá kiêu hãnh không dám đối mặt với thực tế.”

“Noriko bảo con rằng dì ấy cực kỳ bối rối vì cư xử của cha tối hôm đó. Dường như nhà Saito cũng bối rối không kém. Không ai biết chắc ý của cha là gì. Quả thực, Suichi cũng tỏ ra bối rối khi con đọc thư Noriko cho anh ấy nghe.”

“Nhưng chuyện này thật kỳ quặc,” tôi nói, bật cười. “Trời ơi, Setsuko, chính năm ngoái con hối thúc cha làm vậy mà. Chính con đã gợi ý cha phải có những bước đi thận trọng để chúng ta không mắc sai lầm với nhà Saito như chúng ta đã từng với nhà Miyake. Con không nhớ ư?”

“Con quả là người hay quên, nhưng con e là con không nhớ gì về chuyện cha nói.”

“Này, Setsuko, chuyện này thật kỳ quặc.”

Setsuko đột nhiên dừng bước và thốt lên: “Ôi, năm nay những cây phong mới đẹp làm sao.”

“Quả vậy,” tôi nói. “Chắc chắn càng vào thu chúng sẽ càng đẹp hơn nữa.”

“Thật đẹp quá,” con gái tôi nói, mỉm cười, chúng tôi lại bước tiếp. Đoạn con tôi nói: “Thực ra là thế này, cha ạ, tối qua bọn con đang trò chuyện về chủ đề nào đó thì Taro tình cờ nhắc đến một cuộc trò chuyện giữa cậu ấy với cha tuần trước. Một cuộc trò chuyện về người nhạc sĩ tự sát mới đây.”

“Yukio Naguchi? À đúng rồi, cha nhớ cuộc trò chuyện đó. Để xem nào, cha tin Taro đã có ý nói việc người ấy tự sát là vô ích.”

“Taro hơi lo rằng cha bận tâm quá mức đến cái chết của Naguchi. Quả vậy, dường như cha đang so sánh giữa sự nghiệp của ông Naguchi và của cha. Chúng con cảm thấy lo lắng trước tin này. Thực ra, gần đây chúng con đều có chút quan ngại vì tinh thần cha hơi sa sút sau khi nghỉ hưu.”

Tôi cười nói: “Con có thể yên tâm, Setsuko. Cha không một giây nào nghĩ đến hành động tương tự như những gì ông Naguchi đã làm.”

“Theo như con hiểu,” con bé nói tiếp, “những bài hát của ông Naguchi cực kỳ thịnh hành trong mọi tầng lớp ở hậu phương. Vì vậy dường như việc ông ấy muốn cùng gánh chịu trách nhiệm với các chính trị gia và tướng lĩnh cũng có cái lý riêng. Nhưng sẽ thật sai lầm nếu cha cũng bắt đầu nghĩ về bản thân như vậy. Dù gì, cha cũng là một người làm nghề vẽ.”

“Cha cam đoan với con, Setsuko à, cha không hề một khắc nào nghĩ đến cái hành động mà Naguchi đã làm. Nhưng cha cũng không quá kiêu ngạo khi cho rằng cha cũng là một người có sức ảnh hưởng, và đã dùng ảnh hưởng đó mà đi đến một kết cục tai họa.”

Con gái tôi cân nhắc câu này một lúc. Đoạn nó nói:

“Xin cha thứ lỗi, nhưng có lẽ điều quan trọng là nên nhìn mọi chuyện ở góc độ đúng đắn. Cha đã vẽ những bức tranh tuyệt vời, và chắc chắn là người có ảnh hưởng nhất trong số những người làm nghề vẽ. Nhưng khó mà nói những tác phẩm của cha có liên can đến những vấn đề rộng lớn hơn mà chúng ta đang nói. Cha chỉ đơn thuần là một người làm nghề vẽ. Cha đừng nghĩ mình đã mắc sai lầm nào đó ghê gớm.”

“Này này Setsuko, cái này rất khác với lời khuyên năm ngoái. Lúc ấy dường như sự nghiệp của cha là một trở ngại rất lớn.”

“Xin cha thứ lỗi, nhưng con chỉ có thể lặp lại là con không hiểu những ám chỉ của cha đến cuộc mai mối hôn nhân năm ngoái. Quả thực, con hoàn toàn không hiểu tại sao sự nghiệp của cha lại có liên quan gì đặc biệt đến chuyện mai mối. Có vẻ gia đình Saito hoàn toàn không bận tâm, và như bọn con đã nói, họ rất bối rối về cách xử sự của cha ở lễ miai.”

“Chuyện này thật lạ lùng, Setsuko. Thực tế là tiến sĩ Saito và cha đã biết nhau được một thời gian dài. Là một trong những nhà phê bình nghệ thuật xuất sắc nhất của thành phố, ông ấy hẳn đã dõi theo sự nghiệp của cha trong nhiều năm, và nhận thức đầy đủ về những bình diện đáng tiếc của sự nghiệp ấy. Do vậy, cha thấy hoàn toàn đúng đắn và phù hợp khi tỏ rõ thái độ của cha tại thời điểm đó trong cuộc mai mối. Quả thực, cha khá tự tin rằng tiến sĩ Saito rất trân trọng hành động ấy của cha.”

“Xin cha thứ lỗi, nhưng từ những gì Taro kể lại thì tiến sĩ Saito không hề biết rõ về sự nghiệp của cha. Dĩ nhiên, ông ấy luôn biết cha là hàng xóm. Nhưng dường như ông ấy hoàn toàn không biết cha có liên quan đến giới nghệ thuật, mãi cho đến năm ngoái khi cuộc mai mối hôn nhân bắt đầu.”

“Con rất sai, Setsuko à,” tôi bật cười nói. “Tiến sĩ Saito và cha quen biết nhau đã nhiều năm. Chúng ta từng gặp nhau ngoài đường và trao đổi tin tức về giới nghệ thuật.”

“Vậy thì chắc chắn là con đã nhầm. Xin cha thứ lỗi. Dẫu vậy, vẫn cần nhấn mạnh là không một ai từng cho quá khứ của cha là thứ cần đấu tố. Thế nên chúng con chỉ hy vọng rằng cha sẽ đừng nghĩ về bản thân giống như người nhạc sĩ không may mắn kia.”

Tôi không muốn cố chấp tranh luận với Setsuko, và dường như tôi nhớ chúng tôi mau chóng chuyển sang trò chuyện về những chủ đề nhẹ nhàng hơn. Tuy vậy, chắc chắn con gái tôi đã sai lầm về hầu hết những điều con bé quả quyết sáng hôm ấy. Vì một nhẽ, không thể nào tiến sĩ Saito lại không biết danh tiếng của tôi với tư cách một họa sĩ trong chừng ấy năm. Và đêm hôm ấy, sau bữa tối, khi tôi bày kế để buộc Taro xác nhận điều trên, tôi làm vậy đơn thuần là muốn làm rõ quan điểm của mình với Setsuko; vì trong thâm tâm tôi chẳng ngờ vực điều đó. Chẳng hạn, tôi vẫn còn ký ức sống động về cái ngày rực nắng, cách đây mười sáu năm, khi tiến sĩ Saito lần đầu tiên bắt chuyện với tôi lúc tôi đứng sửa hàng giậu ngoài ngôi nhà mới. “Thật là một vinh dự lớn được có một họa sĩ tầm cỡ như ông ở khu này,” ông ta nói khi nhận ra tên tôi ở cột cổng. Tôi nhớ cuộc gặp đó rất rõ ràng, và dứt khoát là Setsuko đã nhầm.

[1] Quân kỳ của phát xít Nhật trong Thế chiến II.

Người dịch: Triều Dương
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.