Ba đến bốn đêm mỗi tuần, tôi vẫn thả bộ dọc theo con đường dẫn xuống dòng sông và chiếc cầu gỗ nhỏ mà những người sống ở đây dạo trước chiến tranh vẫn gọi là “Cầu Dùng Dằng”. Chúng tôi gọi nó như thế bởi mãi cho đến cách đây không lâu, khi bước qua đó, bạn sẽ vào khu phố hoan lạc của chúng tôi, và những người bị dằn vặt lương tâm – người ta gọi như vậy – sẽ do dự ở chốn ấy, bị mắc kẹt giữa việc tìm kiếm một đêm vui thú hay trở về nhà với các bà vợ. Nhưng nếu đôi khi người ta trông thấy tôi trên cầu, đang trầm ngâm dựa vào thành cầu, ấy không phải bởi tôi đang dùng dằng. Đơn giản chỉ là tôi đang tận hưởng cái thú đứng đó khi hoàng hôn buông xuống, chiêm ngắm cảnh vật và những thay đổi diễn ra quanh tôi.
Những cụm nhà mới đã xuất hiện lác đác về phía chân đồi mà tôi vừa đến. Và xa hơn, dọc bờ sông, nơi một năm trước chỉ có bùn và cỏ, giờ đây một công ty phát triển đô thị đang xây dựng các tòa chung cư cho những người lao động tương lai. Nhưng những tòa nhà này còn lâu mới hoàn thiện, và khi mặt trời là là trên mặt sông, người ta thậm chí có thể nhầm những tòa chung cư kia thành những đống đổ nát do bom tàn phá nằm ở nhiều nơi trong thành phố.
Nhưng mỗi tuần trôi qua, những đống đổ nát như vậy ngày càng ít thấy hơn; quả thực, có lẽ phải đi tít lên mạn Bắc đến quận Wakamiya, hoặc không thì đến khu vực bị oanh tạc tan hoang giữa Honcho và Kasugamachi mới bắt gặp nhiều những đống đổ nát như vậy. Song tôi dám chắc, chỉ mới một năm trước những đống đổ nát do bị đánh bom vẫn là cảnh thường thấy khắp thành phố này. Đơn cử, khu vực phía bên kia Cầu Dùng Dằng – nơi ấy trước đây là khu phố hoan lạc của chúng tôi – vào tầm này năm trước vẫn là một bãi gạch vụn mênh mông. Nhưng giờ đây, công việc ở đó tiến triển đều đặn từng ngày. Bên ngoài quán cô Kawakami, nơi trước đây những đám đông tìm vui từng chen chúc, giờ thì một con đường bê tông rộng đang được xây dựng, và dọc theo hai bên đường là những móng cho các tòa nhà văn phòng lớn.
Tôi cho rằng khi cô Kawakami báo cho tôi biết vào một buổi tối cách đây không lâu, việc một công ty đề nghị mua đứt quán của cô bằng một số tiền hậu hĩnh, thì từ lâu rồi tôi đã chấp nhận rằng sớm muộn gì cô cũng đóng cửa và chuyển đi.
“Tôi không biết nên làm gì đây,” cô nói với tôi. “Sau chừng ấy thời gian mà phải rời bỏ nơi đây thì thật là khủng khiếp. Đêm qua tôi thức trắng nghĩ về chuyện này. Nhưng mà thầy ạ, khi tôi nghĩ về nó, tôi tự nhủ, ôi, giờ Shintaro đã đi rồi, tôi còn lại mỗi thầy là khách hàng mà tôi có thể nương nhờ. Tôi thực sự không biết mình nên làm gì.”
Quả thực tôi là khách hàng duy nhất của cô dạo gần đây; Shintaro không xuất hiện ở quán cô Kawakami kể từ biến cố nho nhỏ hồi mùa đông năm ngoái – chắc chắn là bởi cậu ta không đủ can đảm đối diện với tôi. Tôi cho rằng điều này quả là không may cho cô Kawakami, vì cô hoàn toàn bị vạ lây vì vụ việc ấy.
Một tối mùa đông năm ngoái, trong lúc chúng tôi uống rượu với nhau như mọi khi, Shintaro lần đầu tiên đề cập với tôi rằng cậu ta mong mỏi có một chân giáo viên ở một trong những trường trung học mới mở. Sau đó cậu ta mới tiết lộ rằng thực ra cậu ta đã gửi vài bộ hồ sơ ứng tuyển vào các vị trí tương tự. Dĩ nhiên, Shintaro đã là học trò của tôi từ lâu lắm rồi, và chẳng có lý do gì để cậu ta phải thỉnh ý tôi trước khi làm những việc ấy; tôi hoàn toàn hiểu rằng giờ đây còn có những người khác – chẳng hạn ông chủ cậu ta – phù hợp hơn nhiều để làm người bảo lãnh trong những vấn đề như vậy. Tuy thế, tôi thú nhận với cậu ta là tôi hơi ngạc nhiên khi cậu ta không chia sẻ gì với tôi về những chuyện xin việc ấy. Và vì vậy, khi Shintaro xuất hiện ở nhà tôi vào cái ngày mùa đông ấy, không lâu sau lễ Tân niên, khi tôi thấy cậu ta cười lúng túng đứng ngoài cổng và nói, “Thưa thầy, con thật bất kính khi đến nhà thầy thế này.” Tôi cảm thấy điều gì như cảm giác nhẹ nhõm, như thể mọi thứ đã trở về một tình thế quen thuộc hơn.
Trong phòng khách, tôi đốt lò than, và cả hai chúng tôi ngồi hơ tay sưởi ấm bên lò. Tôi nhận thấy vài bông tuyết đang tan trên chiếc áo khoác mà Shintaro vẫn mặc, và hỏi cậu ta:
“Trời lại đổ tuyết à?”
“Chỉ một chút thôi, thưa thầy. Không như sáng nay.”
“Ta xin lỗi vì ở đây lạnh quá. Ta e đây là phòng lạnh nhất trong nhà.”
“Không hề, thưa thầy. Phòng nhà con còn lạnh hơn nhiều.” Cậu ta mỉm cười vui vẻ và xoa tay vào nhau trên bếp than. “Thầy thật độ lượng khi tiếp đón con thế này. Thầy luôn đối xử rất tốt với con suốt những năm qua. Con không thể đong đếm hết được những gì thầy đã làm cho con.”
“Có gì đâu, Shintaro. Thực ra, đôi khi ta nghĩ ngày xưa ta đã không quan tâm đúng mức đến con. Nên nếu có cách nào bù đắp được sự lơ là của mình, dù là khi đã muộn, ta sẽ sẵn sàng lắng nghe.”
Shintaro cười và tiếp tục xoa tay. “Thật là, thưa thầy, thầy cứ nói quá đấy thôi. Con không bao giờ có thể đong đếm hết những điều thầy đã làm cho con.”
Tôi nhìn cậu ta một lúc, đoạn nói: “Vậy con nói xem, Shintaro, ta có thể làm gì giúp con đây?”
Cậu ta ngước lên, vẻ ngạc nhiên, rồi bật cười. “Con xin lỗi thầy. Con thấy ở đây dễ chịu quá, con gần như quên khuấy mình đến đây quấy quả thầy việc gì rồi.”
Cậu ta bảo tôi cậu ta rất lạc quan về vấn đề xin việc vào trường trung học Higashimachi; những nguồn tin cậy khiến cậu ta tin rằng mình được trường ưu ái.
“Tuy nhiên, thầy ạ, dường như có một hai điểm nho nhỏ ban tuyển dụng chưa hoàn toàn thỏa mãn.”
“Vậy ư?”
“Quả vậy, thưa thầy. Có lẽ con nên nói thực. Những điểm nho nhỏ ấy liên quan đến quá khứ.”
“Quá khứ ư?”
“Quả vậy, thưa thầy.” Lúc này, Shintaro bật cười lo lắng. Rồi cậu ta cố sức nói tiếp: “Thầy hẳn biết, thưa thầy, rằng thầy là người con tôn kính nhất. Con đã học hỏi ở thầy được rất rất nhiều, và con sẽ tiếp tục thấy tự hào về mối giao hảo của chúng ta.”
Tôi gật đầu chờ cậu ta nói tiếp.
“Chuyện là, thầy ạ, con hết sức biết ơn nếu thầy có thể tự tay viết cho ban tuyển dụng để xác nhận một số điều con đã nói.”
“Điều gì vậy, Shintaro?”
Shintaro lại lúng búng cười, rồi chìa tay ra hơ trên lò.
“Chỉ là để làm ban tuyển dụng hài lòng thôi, thưa thầy. Ngoài ra chẳng có gì hết. Hẳn thầy còn nhớ, thưa thầy, rằng chúng ta từng một lần bất đồng. Về tác phẩm của con trong thời khủng hoảng Trung Hoa.”
“Khủng hoảng Trung Hoa ư? Ta e là mình không nhớ chúng ta từng tranh cãi gì với nhau, Shintaro ạ.”
“Xin thầy thứ lỗi, thưa thầy, có lẽ con cường điệu. Quả không bao giờ có thể coi đó là một cuộc tranh cãi. Nhưng con thực sự đã vô ý bày tỏ sự bất đồng của mình. Nghĩa là con cự lại lời khuyên của thầy về tác phẩm của con.”
“Thứ lỗi cho ta, Shintaro, ta không nhớ con đang nói chuyện gì.”
“Hiển nhiên chuyện vặt vãnh như vậy thầy không còn lưu trong đầu nữa. Nhưng thực tình nó lại rất quan trọng với con ở thời điểm này. Có thể thầy sẽ nhớ rõ hơn nếu con nhắc lại bữa tiệc chúng ta dự tối hôm đó, lễ đính hôn của Ogawa. Chính vào đêm hôm đó – con tin chúng ta trú ở khách sạn Hamabara – có lẽ con hơi quá chén và đã lỗ mãng thể hiện quan điểm của con với thầy.”
“Ta cũng nhớ mang máng về đêm hôm đó, nhưng không thể nói là ta nhớ rõ. Dẫu thế, Shintaro à, sự bất đồng nhỏ đó thì có can hệ gì lúc này?”
“Xin thầy thứ lỗi, thưa thầy, nhưng thực tình vấn đề này có ý nghĩa nhất định. Ban tuyển dụng buộc phải chắc chắn về một số điều. Dù gì cũng phải làm vừa lòng các nhà đương chức Hoa Kỳ...” Shintaro giọng chuội đi đầy lo lắng. Rồi cậu ta nói: “Con xin thầy, thưa thầy, hãy cố nhớ lại sự bất đồng nho nhỏ đó. Con đã rất biết ơn – và sẽ như vậy – vì vô vàn những điều con học được dưới sự chỉ bảo của thầy, thực ra thì không phải bao giờ con cũng chống lại quan điểm của thầy. Quả thật, con không hề cường điệu khi nói rằng con đã rất hồ nghi về đường lối mà trường phái chúng ta theo đuổi vào thời bấy giờ. Ví dụ, có thể thầy còn nhớ dù rốt cuộc con đã tuân theo chỉ dẫn của thầy về những áp phích khủng hoảng Trung Hoa, nhưng con đã có những nghi ngại và quả thật con đã cả gan bày tỏ quan điểm của mình với thầy.”
“Những áp phích khủng hoảng Trung Hoa,” tôi nói vẻ suy tư. “Đúng, giờ ta nhớ những áp phích của con rồi. Đó là một thời khắc quan trọng của quốc gia. Thời điểm để thôi chần chừ mà quyết định điều ta muốn. Theo ta nhớ, con đã làm rất tốt và chúng ta tự hào về tác phẩm của con.”
“Nhưng thầy sẽ nhớ, thưa thầy, con đã có những nghi ngại nghiêm túc về công việc thầy muốn con làm. Nếu thầy nhớ, con đã công khai bày tỏ sự bất đồng của mình vào tối hôm đó ở khách sạn Hamabara. Xin thầy thứ lỗi vì con đã làm thầy bận tâm bởi chuyện vặt vãnh như vậy.”
Tôi cho là tôi đã im lặng một lúc. Hẳn quanh thời điểm đó tôi đã đứng dậy, bởi khi nói lời tiếp theo, tôi nhớ tôi đã đứng sát vách mở ra hiên, đối diện với cậu ta ở đầu kia căn phòng.
“Con muốn ta viết một bức thư đến ban tuyển dụng,” cuối cùng tôi nói, “để xác nhận con không hề chịu ảnh hưởng của ta. Đây là điều mà con nhắm tới.”
“Không phải như vậy, thưa thầy. Thầy đã hiểu nhầm rồi. Con luôn tự hào vì tên của con được gắn với tên thầy. Chỉ đơn giản là trong chuyện chiến dịch áp phích Trung Hoa, nếu ủy ban có thể được bảo đảm...”
Cậu ta ngừng nói giữa chừng. Tôi kéo cửa trượt ra vừa đủ để tạo một khe nhỏ. Không khí lạnh ùa vào phòng nhưng vì lý do nào đó mà tôi chẳng bận tâm. Tôi nhìn đăm đăm qua khe cửa, qua hiên nhà, nhìn xuống vườn. Tuyết đang rơi, những bông tuyết trôi lững lờ.
“Shintaro,” tôi nói, “sao con không đối diện với quá khứ? Thời đó con nhận được nhiều uy tín nhờ chiến dịch áp phích của con. Rất nhiều uy tín và khen ngợi. Thời nay người ta có thể có quan niệm khác về công việc của con, nhưng con không cần phải tự dối mình như thế.”
“Quả vậy, thưa thầy.” Shintaro nói. “Con xin lĩnh ý thầy. Nhưng quay lại vấn đề đang bàn, con sẽ rất biết ơn nếu thầy viết cho ban tuyển dụng về vấn đề áp phích khủng hoảng Trung Hoa. Thực ra, con có mang theo tên và địa chỉ của trưởng ban.”
“Shintaro, hãy nghe ta này.”
“Thưa thầy, con luôn rất biết ơn thầy về những gì thầy dạy dỗ và khuyên bảo với tất cả lòng kính trọng. Nhưng lúc này, con lại đang ở lưng chừng sự nghiệp. Khi về hưu rồi, người ta có thể suy ngẫm và trăn trở thì cũng chẳng sao. Nhưng thực tế là con sống trong một thế giới xô bồ, và có một vài điều con cần đảm bảo nếu muốn nhận công việc này, xét những yếu tố khác thì công việc đó đã là của con rồi. Thưa thầy, con xin thầy, làm ơn xét đến tình cảnh của con.”
Tôi không đáp mà vẫn tiếp tục nhìn tuyết rơi ngoài vườn. Tôi có thể nghe Shintaro đứng lên sau lưng mình.
“Đây là tên và địa chỉ, thưa thầy. Nếu có thể, con muốn để lại đây. Con sẽ rất biết ơn nếu thầy có thể bỏ chút thì giờ cân nhắc thấu đáo việc này.”
Tôi cho là cậu ta đã đợi một lúc xem tôi có quay lại và cho phép cậu ta ra về với chút tự trọng hay không. Tôi vẫn tiếp tục nhìn ra vườn. Dù đổ xuống đều đều, tuyết chỉ nằm rất nhẹ lên những ngọn cỏ cành cây. Quả thật, khi tôi đương ngắm nhìn, một cơn gió nhẹ rung cành cây phong, giũ tuyết xuống gần hết. Chỉ cây đèn đá phía cuối vườn là có một nón tuyết to ở bên trên. Tôi nghe tiếng Shintaro cáo lỗi và rời căn phòng.
Có vẻ như tôi đã tỏ ra khắc nghiệt một cách không cần thiết với Shintaro vào ngày hôm ấy. Nhưng nếu nhớ đến chuyện xảy ra vài tuần ngay trước cuộc viếng thăm đó của cậu ta, chắc hẳn người ta sẽ hiểu tại sao tôi lại không có chút cảm thông với những nỗ lực của cậu ta nhằm trốn tránh trách nhiệm. Bởi kỳ thực, chuyến viếng thăm của Shintaro chỉ xảy ra vài ngày sau lễ miai[1] của Noriko.
Cuộc mai mối hôn nhân của Noriko với Taro Saito đã tiến triển tốt đẹp qua mùa thu năm ngoái; vào tháng Mười hai bên đã trao đổi ảnh, và sau đó qua ông Kyo, người mai mối, chúng tôi hay tin rằng chàng trai trẻ tha thiết muốn gặp Noriko. Dĩ nhiên, Noriko làm bộ suy đi tính lại, nhưng đến lúc đó, rành rành là con gái tôi – đã hai mươi sáu – khó có thể xem nhẹ một mối triển vọng như Taro Saito.
Do vậy tôi báo cho ông Kyo rằng chúng tôi đồng ý tổ chức lễ miai, và rốt cuộc chúng tôi thống nhất chọn một ngày tháng Mười một, và địa điểm là khách sạn Công viên Kasuga. Có thể bạn cũng đồng ý rằng ngày nay khách sạn Công viên Kasuga có vẻ gì đó thô lậu, và tôi không mấy hài lòng với lựa chọn này. Nhưng khi ông Kyo cam đoan với tôi rằng sẽ đặt một phòng riêng, và gợi ý rằng nhà Saito cũng rất thích đồ ăn ở đó thì cuối cùng tôi đồng thuận, dù không mấy hào hứng.
Ông Kyo cũng nói luôn rằng lễ miai có vẻ phía gia đình chú rể tương lai sẽ áp đảo – em trai anh ta, cũng như cha mẹ anh ta, cũng muốn có mặt. Điều đó hoàn toàn có thể chấp nhận được, ông ta nói cho tôi hay, nếu chúng tôi cũng đưa người nhà hoặc bạn thân đến để gây thêm khí thế cho Noriko. Nhưng dĩ nhiên, Setsuko thì ở xa, ngoài ra không có ai phù hợp để chúng tôi nhờ vả cho một sự kiện như thế. Có lẽ chính cảm giác rằng chúng tôi sẽ bị bất lợi thế nào đó ở lễ miai, cộng với nỗi khó chịu về địa điểm, đã khiến Noriko càng thêm căng thẳng về chuyện này hơn bình thường. Dẫu thế nào đi nữa, những tuần trước lễ miai quả là vất vả.
Thường thì con bé rời sở về nhà và ngay lập tức đưa ra nhận xét như: “Cả ngày nay cha làm gì hả cha? Chắc là cứ thẫn thờ như mọi khi rồi.” Thực tế là, hoàn toàn không hề thẫn thờ, tôi bận rộn bỏ công sức để đảm bảo việc mai mối hôn nhân đạt kết quả tốt. Bởi lúc bấy giờ tôi tin điều quan trọng là không làm con gái lo lắng bằng các chi tiết về diễn biến mọi chuyện, tôi chỉ kể qua loa chuyện trong ngày, và mặc cho con bé tiếp tục nói bóng nói gió. Nghĩ lại, tôi thấy rằng việc chúng tôi không trò chuyện cởi mở về một số vấn đề nhất định hẳn đã khiến Noriko càng căng thẳng hơn, và một cách xử sự thẳng thắn hơn về phần tôi đáng lý đã giúp tránh được nhiều những lời qua tiếng lại không thoải mái giữa chúng tôi vào khoảng thời gian ấy.
Ví dụ, tôi nhớ một buổi chiều, Noriko về nhà lúc tôi đang xén tỉa cây trong vườn. Con bé đứng ở hiên chào tôi một cách hoàn toàn lễ độ trước khi biến mất vào nhà. Rồi vài phút sau tôi đang ngồi ở hiên, nhìn ra vườn để đánh giá kết quả công việc vừa xong thì Noriko, lúc này đã mặc kimono, lại mang trà ra. Con bé đặt khay trà giữa chúng tôi rồi ngồi xuống. Tôi còn nhớ đó là một trong những buổi chiều thu rực rỡ cuối cùng của năm ngoái, và ánh nắng dịu dàng xuyên qua tầng lá. Theo ánh nhìn của tôi, con bé nói:
“Cha ơi, sao cha xén bụi trúc như vậy? Giờ trông nó lại bị lệch rồi.”
“Bị lệch ư? Con nghĩ vậy à? Cha nghĩ trông nó khá cân đấy chứ. Con xem, còn phải tính đến chỗ những búp măng nhô ra nữa.”
“Cha cứ kiểu can thiệp quá nhiều ấy. Con nghĩ cha sẽ làm hỏng nốt cái bụi cây kia luôn.”
“Làm hỏng bụi cây kia nữa ư?” Tôi quay sang con gái. “Ý con là sao? Con đang bảo cha làm hỏng cây khác à?”
“Những cây đỗ quyên không bao giờ lấy lại được dáng vẻ của chúng nữa. Đấy là hệ quả của việc cha có quá nhiều thì giờ đấy. Cuối cùng cha sẽ can thiệp cả vào những chỗ không cần thiết.”
“Xin lỗi con, Noriko, cha không hiểu rõ ý con lắm. Con đang bảo là những cây đỗ quyên cũng bị lệch à?”
Noriko lại nhìn ra vườn rồi cất tiếng thở dài. “Cha lẽ ra nên để mặc mọi thứ như vậy.”
“Cha xin lỗi, Noriko, nhưng trong mắt cha, cả khóm trúc và mấy bụi đỗ quyên trông đều đẹp hơn hẳn. Cha e là mình không hề thấy cái chỗ ‘lệch’ như con bảo ở đâu.”
“Ồ, vậy thì hẳn cha đang bị lòa rồi. Hoặc có lẽ chỉ là do khiếu thẩm mỹ kém.”
“Khiếu thẩm mỹ kém ư? Nghe lạ thật đấy. Noriko ạ, con biết là người đời không ai gắn cái tên cha với từ thẩm mỹ kém cả.”
“Ồ, trong mắt con, cha à,” con bé mệt mỏi nói, “bụi trúc bị lệch. Và cha cũng làm hỏng cái dáng nghiêng mình của nó nữa.”
Trong chốc lát, tôi ngồi đó lặng ngắm khu vườn. “Đúng,” cuối cùng tôi nói và gật đầu. “Cha nghĩ con có thể thấy nó theo cách ấy, Noriko. Con không bao giờ có thiên tính nghệ thuật. Con và cả Setsuko nữa. Kenji thì khác, nhưng con và chị con thì giống mẹ. Thực ra, cha nhớ mẹ con từng đưa ra những nhận định sai lệch như vậy.”
“Cha là người có thẩm quyền như vậy trong nghề tỉa xén cây sao? Con không nhận ra cơ đấy. Con xin lỗi.”
“Cha không nói là cha có thẩm quyền. Chỉ đơn giản là cha hơi ngạc nhiên vì bị nói là thẩm mỹ kém. Thật là một cáo buộc khác thường đối với một người như cha, vậy thôi.”
“Được thôi, thưa cha, con tin chắc tất cả chỉ là vấn đề quan điểm thôi.”
“Con cũng giống mẹ con, Noriko. Bà ấy chẳng ngại gì mà không nói toạc những suy nghĩ trong đầu. Khá thành thực đấy, cha cho là vậy.”
“Con tin chắc là về những điều đó thì cha là người rõ hơn ai hết. Dứt khoát là thế, khỏi phải bàn cãi chi nữa.”
“Cha nhớ, Noriko ạ, thỉnh thoảng mẹ con còn bình phẩm cả trong lúc cha đang vẽ tranh. Mẹ con sẽ cố đưa ra một ý kiến nào đó và làm cha phải bật cười. Rồi bà ấy cũng cười và thừa nhận là bà chẳng biết mấy về hội họa.”
“Con nghĩ thế tức là cha luôn đúng khi nói về tranh của cha.”
“Noriko, cuộc thảo luận này thật vô nghĩa. Hơn nữa, nếu con không ưa những gì cha đã làm trong vườn, thì con cứ tùy nghi ra đó làm gì tùy thích mà sửa lại cho đúng.”
“Cha thật là tử tế quá. Nhưng cha bảo con làm vào lúc nào đây? Con không rảnh cả ngày như cha.”
“Ý con là sao, Noriko? Cha đã bận rộn cả ngày đấy chứ.” Tôi trừng mắt nhìn con bé một lúc, nhưng con bé vẫn cứ nhìn ra vườn, một nét mệt mỏi hiện trên gương mặt. Tôi quay đi thở dài. “Nhưng tranh cãi thế này thật vô nghĩa. Mẹ con ít nhất cũng có thể nói những điều như vậy và bọn ta sẽ cùng cười với nhau.”
Vào những lúc như thế, quả thật là tôi tha thiết muốn chỉ cho con bé thấy phần công sức mà tôi trút ra vì nó thực tế lớn lao đến nhường nào. Nếu tôi làm vậy, con gái tôi hẳn là sẽ bất ngờ – và tôi dám cá, sẽ xấu hổ vì cách nó cư xử với tôi. Chẳng hạn như ngay ngày hôm đó, tôi đã đến quận Yanagawa, nơi Kuroda đang sống.
Hóa ra, việc tìm nơi ở của Kuroda không phải chuyện gì khó khăn cho lắm. Giáo sư nghệ thuật ở trường Cao đẳng Uemachi, sau khi được tôi cam đoan về thiện ý của mình, đã cho tôi không những địa chỉ mà còn thuật lại những chuyện đã xảy ra với học trò cũ của tôi những năm vừa qua. Dường như Kuroda xoay xở không đến nỗi nào từ khi anh ta được phóng thích hồi chiến tranh kết thúc. Theo lẽ thường ở cuộc đời này, những năm ở tù đã giúp anh ta có được tín nhiệm cao, và một số nhóm đã chào đón và đỡ đầu cho anh ta. Do vậy, anh ta không gặp khó khăn mấy khi tìm việc – chủ yếu là những công việc gia sư lặt vặt – hoặc tìm họa liệu để trở lại nghiệp vẽ tranh. Rồi, đến đầu mùa hè năm ngoái, anh ta được nhận một chân làm giáo viên mỹ thuật ở trường Cao đẳng Uemachi.
Có thể tôi đang tỏ ra ương gàn khi nói điều này, nhưng tôi thấy hài lòng – và thực ra còn khá tự hào – khi nghe nói sự nghiệp của Kuroda đang tiến triển tốt. Nhưng rốt cuộc đấy cũng là bình thường khi người thầy cũ của anh ta lấy làm tự hào về những điều ấy, ngay cả khi hoàn cảnh đã khiến người thầy và học trò trở nên lạnh nhạt với nhau.
Kuroda không sống ở một khu tươm tất. Tôi phải cuốc bộ một lúc qua những ngõ nhỏ đầy những căn nhà gỗ dột nát trước khi đến một khoảng sân bê tông giống như sân trước của một nhà máy. Quả thực, qua khoảng sân đó, tôi có thể thấy một vài chiếc xe tải đang đỗ, và xa hơn nữa, sau hàng rào mắt cáo, có một chiếc máy ủi đang ủi đất. Tôi nhớ mình đứng đó xem chiếc máy ủi một lát, rồi mới nhận ra tòa nhà mới trước mặt tôi chính là tòa chung cư nơi Kuroda sống.
Tôi lên tầng hai, ở đó hai bé trai đang đi một chiếc xe ba bánh dọc hành lang, rồi tôi tìm cửa nhà Kuroda. Lần nhấn chuông đầu tiên không có ai ra, nhưng lúc ấy tôi quyết tâm gặp cho được, và nhấn chuông lần nữa.
Một cậu chàng trẻ măng, độ hai mươi tuổi ra mở của.
“Tôi rất tiếc,” – cậu ta nói vẻ sốt sắng – “nhưng hiện thầy Kuroda không có nhà. Thưa ông, xin hỏi, ông có phải đồng nghiệp không ạ?”
“Theo một cách nào đó thì đúng là như vậy. Có đôi chuyện tôi muốn bàn với ông Kuroda.”
“Trong trường hợp đó thì xin ông vui lòng vào đợi. Tôi chắc thầy Kuroda không đi lâu đâu, và thầy ấy sẽ rất lấy làm tiếc nếu không gặp được ông.”
“Nhưng tôi không muốn làm phiền cậu.”
“Không hề, thưa ông. Xin mời ông vào.”
Căn hộ nhỏ, và như nhiều căn nhà hiện đại khác, nó không có lối hành lang vào nhà, tấm thảm cói chỉ cách cửa trước một đoạn ngắn và một bậc thấp. Nơi này trông ngăn nắp, và một số bức tranh và rèm tô điểm những bức tường. Căn hộ có khá nhiều ánh sáng nhờ những ô cửa sổ lớn mà tôi thấy là mở ra một ban công hẹp. Từ đây có thể nghe tiếng ồn của máy xúc bên ngoài.
“Tôi hy vọng ông không vội, thưa ông,” chàng thanh niên nói, đưa đệm ngồi cho tôi. “Nhưng thầy Kuroda sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi nếu thầy ấy về và biết rằng tôi đã để ông đi. Tôi xin phép đi pha trà.”
“Cậu thật tử tế quá,” tôi nói lúc ngồi xuống. “Cậu là học trò của Kuroda à?”
Chàng thanh niên khẽ cười. “Thầy Kuroda đã rất tử tế vì coi tôi là môn đồ, dù tôi còn ngờ liệu mình có xứng đáng với danh xưng ấy. Tôi là Enchi. Thầy Kuroda từng hướng dẫn tôi, và giờ, dẫu bận rộn công việc ở trường, thầy ấy vẫn rộng lượng quan tâm đến tác phẩm của tôi.”
“Vậy ư?”
Từ bên ngoài, tiếng ồn của máy xúc vọng vào. Trong một khắc, chàng thanh niên thần người ra bối rối, rồi lại cáo lỗi và nói: “Tôi xin phép đi pha trà.”
Vài phút sau, khi cậu ta trở lại, tôi chỉ một bức tranh trên tường và nói: “Phong cách của Kuroda thật không lẫn vào đâu được.”
Lúc ấy, chàng thanh niên bật cười và bối rối nhìn bức tranh, khay đựng trà vẫn nâng trên tay. Đoạn cậu ta nói: “Tôi e là bức tranh đó còn xa mới đạt đến tiêu chuẩn của thầy Kuroda, thưa ông.”
“Không phải tác phẩm của Kuroda ư?”
“Thưa ông, đó là một trong những sản phẩm của tôi. Thầy tôi đã rất tử tế khi cho rằng nó xứng đáng được trưng bày.”
“Thật ư? Chà chà.”
Tôi tiếp tục ngắm bức tranh. Chàng thanh niên đặt khay xuống chiếc bàn thấp cạnh tôi rồi ngồi xuống.
“Thật ư, đó là tác phẩm của cậu ư? Chà, tôi phải nói là cậu có tài năng đấy. Rất tài năng.”
Cậu ta lại cười ngượng nghịu. “Tôi thật may mắn vì được người như thầy Kuroda chỉ dạy. Nhưng tôi e là còn phải học tập nhiều.”
“Còn tôi thì cứ tưởng đấy là tác phẩm điển hình của Kuroda. Nét cọ rất xuất chúng.”
Chàng trai lóng ngóng với ấm trà như thể không biết phải làm gì tiếp. Tôi nhìn cậu ta mở nắp ấm nhìn vào trong.
“Thầy Kuroda luôn bảo tôi,” cậu ta nói, “tôi phải cố vẽ theo một phong cách rõ là của tôi hơn. Nhưng tôi thấy quá ngưỡng mộ phong cách của thầy Kuroda, tôi không thể cưỡng lại việc bắt chước ông ấy.”
“Bắt chước thầy của mình một thời gian chẳng có gì là xấu. Nhờ thế mà người ta học được rất nhiều điều. Nhưng sớm muộn rồi cậu sẽ phát triển ý tưởng và kỹ thuật riêng của mình, vì cậu chắc chắn là một chàng trai rất tài năng. Đúng, tôi dám chắc cậu có một tương lai hứa hẹn nhất. Chẳng trách Kuroda lại quan tâm đến cậu.”
“Thưa ông, tôi không tài nào kể được tôi mang nợ ân tình với thầy Kuroda đến nhường nào. Chao ôi, ông có thể thấy đấy, giờ tôi còn phải trọ ở đây ngay trong căn hộ của thầy ấy. Tôi đã ở đây được hai tuần. Tôi bị tống ra khỏi những chỗ trọ trước đó, và thầy Kuroda đến cứu tôi. Thật không thể nói hết được về tất cả những gì thầy ấy làm cho tôi.”
“Cậu bảo cậu bị đuổi ra khỏi nhà trọ à?”
“Tôi cam đoan với ông,” cậu nói, cười khẽ, “tôi đã trả tiền thuê nhà. Nhưng ông thấy đấy, dù cố thế nào, tôi không tránh khỏi làm sơn rớt lên thảm, và cuối cùng chủ nhà tống cổ tôi.”
Cả hai chúng tôi đến đấy đều bật cười. Rồi tôi nói:
“Tôi xin lỗi, tôi không có ý lãnh đạm đâu. Chuyện này làm tôi nhớ những rắc rối của bản thân khi mới vào nghề. Nhưng cậu sẽ sớm có điều kiện phù hợp để làm việc nếu cậu kiên trì, tôi cam đoan với cậu.”
Cả hai chúng tôi lại cười.
“Ông thật giỏi động viên, thưa ông,” chàng thanh niên nói và bắt đầu rót trà. “Tôi không nghĩ thầy Kuroda sẽ đi lâu đâu. Mong ông chớ vội đi. Thầy Kuroda sẽ rất vui được có cơ hội cảm ơn ông vì tất cả những gì ông làm.”
Tôi ngạc nhiên nhìn cậu ta. “Cậu nghĩ Kuroda muốn cảm ơn tôi ư?”
“Xin lỗi ông, nhưng tôi trộm nghĩ ông ở Hiệp hội Cordon.”
“Hiệp hội Cordon ư? Tôi xin lỗi, nó là cái gì thế?”
Chàng thanh niên liếc nhìn tôi, vẻ bối rối lúc nãy lại hiện ra. “Tôi xin lỗi thưa ông, là tôi hiểu nhầm. Tôi cứ nghĩ là ông ở Hiệp hội Cordon.”
“Tôi e là không phải. Tôi chỉ là người quen cũ của Kuroda thôi.”
“Tôi hiểu rồi. Một đồng nghiệp cũ?”
“Quả vậy. Tôi cho là cậu có thể nói thế.” Tôi lại ngước lên nhìn bức tranh của chàng thanh niên treo trên tường. “Đúng, quả vậy,” tôi nói. “Rất tài năng. Quả là rất tài năng.” Tôi bắt đầu nhận ra chàng thanh niên giờ nhìn tôi đầy thận trọng. Cuối cùng, cậu ta nói:
“Xin lỗi, tôi có thể biết quý danh của ông được không?”
“Xin lỗi, thật là khiếm nhã quá khi chưa xưng danh. Tên tôi là Ono.”
“Tôi hiểu.”
Chàng thang niên đứng lên và bước đến cửa sổ. Trong chốc lát, tôi nhìn hơi bốc lên từ hai cái chén trên bàn.
“Kuroda sắp về chưa nhỉ?” cuối cùng tôi hỏi.
Ban đầu, tôi không nghĩ chàng thanh niên định trả lời. Nhưng rồi cậu ta nói, mặt vẫn hướng ra ngoài cửa sổ: “Có lẽ ông ấy còn lâu mới về, ông không nên chờ đợi ở đây kẻo bị nhỡ việc.”
“Nếu cậu không phiền, tôi sẽ đợi một lát nữa, dù sao tôi cũng đi một chặng dài đến đây.”
“Tôi sẽ báo thầy Kuroda là ông đã ghé thăm. Có lẽ thầy ấy sẽ viết thư cho ông.”
Ngoài hành lang, lũ trẻ dường như đâm sầm xe đạp vào tường phía xa chúng tôi, và chúng quát lác lẫn nhau. Lúc ấy tôi mới nhận ra chàng trai đứng bên cửa sổ kia trông giống đứa trẻ đang hờn dỗi làm sao.
“Thứ lỗi cho tôi khi nói thế này, cậu Enchi,” tôi nói. “Nhưng cậu còn rất trẻ. Quả thực, lúc tôi và Kuroda lần đầu gặp nhau có thể cậu chỉ mới là một cậu bé. Tôi yêu cầu cậu đừng vội kết luận về những chuyện mà cậu không biết tường tận.”
“Tường tận ư?” cậu ta nói, quay sang tôi. “Xin lỗi ông, nhưng liệu chính ông có biết được tường tận không? Ông có biết thầy ấy đã đau khổ như thế nào không?”
“Mọi việc đều phức tạp hơn vẻ bề ngoài của chúng, cậu Enchi ạ. Người trẻ thế hệ cậu thường nhìn nhận mọi việc quá đơn giản. Dù sao đi nữa, lúc này hai chúng ta tranh luận những chuyện ấy phỏng có ích gì. Nếu cậu không phiền, tôi sẽ đợi Kuroda.”
“Thưa ông, tôi sẽ khuyên ông đừng nên bận lòng mà nhỡ việc. Tôi sẽ báo cho thầy Kuroda khi ông ấy về.” Cho đến lúc này, chàng thanh niên vẫn giữ vẻ lịch sự trong giọng nói, nhưng giờ cậu ta dường như mất tự chủ. “Nói thẳng ra, thưa ông, tôi kinh ngạc vì ông táo tợn như thế. Ông đến đây như thể ông chỉ là một vị khách thân thiện.”
“Nhưng tôi đến đây hoàn toàn thân thiện. Và xin mạn phép nói thế này, tôi nghĩ chính Kuroda mới là người quyết định có muốn đón tiếp tôi như vậy hay không.”
“Thưa ông, tôi biết rõ thầy Kuroda, và theo nhận định của tôi, tốt hơn ông nên về đi. Thầy ấy không muốn gặp ông đâu.”
Tôi thở dài và đứng lên. Chàng thanh niên lại nhìn ra cửa sổ. Nhưng khi tôi đang lấy mũ trên cọc treo, cậu ta quay sang tôi lần nữa. “Tường tận, thưa ông Ono,” cậu ta nói và giọng cậu ta có một vẻ điềm tĩnh rất lạ. “Rõ ràng ông mới là người chẳng biết tường tận. Nếu không, làm sao ông dám đến đây như thế này? Ví dụ, thưa ông, tôi cho là ông chưa từng biết về cái vai của thầy Kuroda. Thầy ấy đau đớn kinh khủng, nhưng cai ngục, để cho tiện, đã không báo cáo về vết thương đó và vai thầy cứ bị để như vậy mãi cho đến khi chiến tranh kết thúc. Nhưng dĩ nhiên, cứ lúc nào bọn họ định đánh đập ông ấy, họ đều nhớ rất rõ cái vai đau. Đồ phản bội. Bọn họ gọi ông ấy như thế đấy. Đồ phản bội. Cái tiếng đó vang lên không ngớt. Nhưng giờ chúng ta đều biết kẻ phản bội thực sự là ai.”
Tôi buộc xong dây giày và đứng lên đi tới cửa. “Cậu còn quá trẻ, cậu Enchi, cậu không hiểu thế giới này và những điều phức tạp của nó.”
“Chúng ta đều biết kẻ phản bội thực sự là ai. Và nhiều kẻ trong số đó vẫn nhởn nhơ.”
“Cậu sẽ bảo với Kuroda là tôi đến đây chứ? Có lẽ ông ấy sẽ còn viết cho tôi không chừng. Chúc một ngày lành, cậu Enchi.”
Hiển nhiên, tôi không cho phép lời của cậu thanh niên kia làm tôi buồn quá độ, nhưng xét chuyện mai mối hôn nhân của Noriko, khả năng Kuroda có thái độ thù nghịch với ký ức về tôi, nếu đúng như lời Enchi nói, quả thực đáng phiền lòng. Dù sao thì, là một người cha tôi có trách nhiệm theo đuổi việc này đến cùng, dù nó khó chịu, và khi về nhà chiều hôm ấy, tôi thảo một bức thư cho Kuroda, bày tỏ mong muốn rằng chúng tôi nên gặp lại nhau, đặc biệt là vì tôi có một vấn đề tế nhị và quan trọng cần bàn bạc với anh ta. Giọng điệu trong thư thân thiện và hòa hoãn, thế nên tôi rất thất vọng khi vài ngày sau đó nhận được bức thư trả lời lạnh lùng và cộc lốc đầy thô lỗ.
“Tôi không có lý do để tin rằng cuộc gặp giữa chúng ta sẽ có kết quả gì giá trị,” học trò cũ của tôi đã viết. “Cảm ơn ông hôm trước đã có nhã ý đến thăm, nhưng tôi cảm thấy không nên phiền ông phải bận bịu những thứ nghĩa vụ như vậy làm gì.”
Tôi phải thừa nhận là chuyện với Kuroda đã phủ bóng đen lên tâm trạng tôi; nó chắc chắn làm tiêu tan thái độ lạc quan của tôi về cuộc mai mối của Noriko. Và dù, như tôi đã nói, tôi giấu kín những chi tiết việc tôi cố công gặp mặt Kuroda, con gái tôi dứt khoát nhận ra vấn đề đã không được giải quyết thỏa đáng, và điều đó chắc chắn góp phần vào nỗi âu lo của nó.
Vào đúng ngày lễ miai, con gái tôi dường như rất căng thẳng, tôi bắt đầu lo lắng về ấn tượng mà con bé sẽ tạo ra tối hôm đó với gia đình Saito – họ nhất định sẽ thể hiện thái độ tự tin một cách trơn tru và thoải mái. Đến cuối buổi chiều hôm đó, tôi cảm thấy cũng hợp lý khi muốn làm dịu đi tâm trạng của Noriko, và đây là chính là nguyên cớ đằng sau nhận xét của tôi khi con bé đi qua phòng ăn nơi tôi đang ngồi đọc:
“Thật kinh ngạc, Noriko, sao con có thể mất cả ngày chẳng làm gì ngoài việc điểm trang thế. Con làm như đây là lễ cưới không bằng.”
“Thì cũng giống như cha cứ ngồi chê bôi trong khi chính mình cũng chưa đâu vào đâu,” con bé bật lại.
“Cha chỉ một loáng là sẵn sàng thôi,” tôi nói, bật cười. “Mất đến cả ngày như con mới thật là lạ lùng sao.”
“Vấn đề của cha nằm ở chính chỗ đó. Cha quá tự đắc, không chịu chuẩn bị tử tế cho những dịp như này.”
Tôi ngước nhìn nó, kinh ngạc. “Con nói quá tự đắc là sao? Con ám chỉ điều gì, Noriko?”
Con gái tôi quay lưng đi, sửa trâm cài.
“Noriko, ý con là sao, quá tự đắc là sao? Con có ý gì?”
“Nếu cha không muốn bận tâm thái quá với những thứ tầm thường như là tương lai của con, thì điều đó đâu có gì là khó hiểu? Rốt cuộc cha thậm chí còn chưa đọc báo xong cơ mà.”
“Nhưng con đang đánh trống lảng đấy. Con vừa nói gì đó về việc cha quá ‘tự đắc’. Sao con không nói rõ hơn?”
“Con chỉ mong cha chỉnh tề khi đến thời điểm quan trọng,” con bé nói, và quả quyết bước ra khỏi phòng.
Trong dịp đó, như vẫn thường xảy ra trong những ngày khó khăn đó, tôi buộc phải nghĩ ngợi về sự tương phản rõ rệt ở thái độ của Noriko so với những gì con bé thể hiện trong năm trước, khi mai mối hôn nhân với gia đình Miyake đang diễn ra. Lúc ấy, con bé thoải mái đến mức tự mãn; nhưng dĩ nhiên, con bé biết rõ Jiro Miyake; tôi dám nói rằng con bé tự tin cả hai đứa sẽ kết hôn, và đã coi những bàn bạc giữa hai gia đình chẳng khác gì mấy thủ tục phiền hà, không hơn. Hiển nhiên, cú sốc con bé nhận được sau đó quả là cay đắng, nhưng tôi thấy con bé không cần thiết phải đưa ra những lời bóng gió như vào chiều hôm nay. Dù sao đi nữa, cuộc cãi cọ vặt vãnh chẳng giúp chúng tôi có được tâm thế phù hợp cho lễ miai, và có khi còn góp phần đưa tới những gì diễn ra vào đêm hôm đó ở khách sạn Công viên Kasuga.
***
Trong nhiều năm trước, khách sạn Công viên Kasuga từng là một trong những khách sạn theo phong cách phương Tây dễ chịu nhất trong thành phố; tuy nhiên, ngày nay, quản lý khách sạn đã trang trí phòng theo một kiểu cách dung tục – chắc hẳn là với ý định gây ấn tượng với nhóm khách người Mỹ, những người ưa thích nơi này và cho rằng nó có phong cách “Nhật Bản” quyến rũ. Dẫu vậy, căn phòng ông Kyo đã đặt khá dễ chịu, điểm đặc biệt của nó là khung cảnh từ những cửa sổ nhô ra thênh thang nhìn xuống sườn Tây đồi Kasuga, những ánh đèn thành phố hiện lên xa xa bên dưới chúng tôi. Ngoài điểm ấy ra, căn phòng bị choán gần hết bởi một chiếc bàn tròn lớn và những chiếc ghế lưng cao, và một bức tranh trên tường mà tôi nhận ra là của Matsumoto, một họa sĩ tôi có chút quen biết trước chiến tranh.
Có lẽ rằng sự căng thẳng của cuộc gặp đó khiến tôi uống nhanh hơn một chút so với dự tính, vì ký ức của tôi về tối hôm ấy không được sáng rõ cho lắm. Tôi nhớ đã có ngay được ấn tượng tích cực về Taro Saito, chàng thanh niên đang có cơ trở thành con rể tôi. Không chỉ tỏ ra là người có học vấn, có trách nhiệm, anh ta còn sở hữu tất cả vẻ tinh tế và phong thái tự tin mà tôi ngưỡng mộ ở cha anh ta. Quả thực, quan sát cách Taro Saito thoải mái nhưng lại vẫn hết sức nhã nhặn đón tiếp tôi và Noriko khi chúng tôi vừa đến, tôi lại nhớ đến một thanh niên khác đã gây ấn tượng với tôi trong một hoàn cảnh tương tự mấy năm trước – nghĩa là, tôi muốn nói đến Suichi ở buổi miai của Setsuko ở cái nơi hồi đó còn là khách sạn Hoàng đế. Và trong giây lát, tôi nghĩ có khả năng vẻ lịch thiệp và tử tế của Taro Saito sẽ phai nhòa theo thời gian như Suichi đã từng vậy. Nhưng lúc ấy, dĩ nhiên, tôi hy vọng là Taro Saito sẽ không bao giờ phải chịu những trải nghiệm cay đắng mà Suichi được cho là đã phải chịu.
Về phần tiến sĩ Saito, ông dường như vẫn uy nghi và chủ động như mọi khi. Dầu chúng tôi chưa bao giờ được chính thức giới thiệu với nhau trước đêm hôm đó, tiến sĩ Saito và tôi thực tế đã quen nhau nhiều năm, vẫn chào nhau trên phố xuất phát từ sự công nhận danh tiếng của người này với người kia. Vợ ông, một phụ nữ xinh đẹp đang độ ngũ tuần, tôi cũng đã từng chào hỏi bà, nhưng chỉ dừng ở đó mà thôi; tôi có thể thấy bà ấy, giống như chồng bà, là người đĩnh đạc, tự tin xử lý bất kỳ tình huống khó xử nào phát sinh. Thành viên duy nhất trong gia đình Saito không làm tôi ấn tượng là cậu út – Mitsuo – mà tôi đoán mới ngoài hai mươi.
Giờ ngẫm lại buổi tối hôm ấy, tôi khá chắc những ngờ vực của tôi về cậu trẻ Mitsuo nảy sinh ngay khi tôi thấy cậu ta. Tôi vẫn không chắc điều gì đã khiến tôi cảnh giác – có lẽ là vì cậu ta làm tôi nhớ đến Enchi, người tôi đã gặp trong căn hộ Kuroda. Dù sao đi nữa, khi chúng tôi bắt đầu ăn, tôi thấy những ngờ vực này ngày càng được xác nhận. Dù ở thời điểm này, Mitsuo cư xử hoàn toàn đúng mực, thế nhưng vẫn có điều gì đó mỗi khi tôi bắt gặp cậu ta nhìn mình, hoặc khi cậu ta chuyển bát cho tôi từ phía bên kia bàn, khiến tôi cảm nhận được sự thù nghịch và thái độ buộc tội của cậu ta.
Và rồi, sau khi chúng tôi bắt đầu dùng bữa được vài phút, một suy nghĩ đột ngột xảy đến với tôi; ấy là thái độ của Mitsuo thực ra chẳng khác gì thái độ của những người còn lại trong gia đình – đơn giản là bởi cậu ta không khéo che giấu thôi. Từ lúc ấy trở đi, tôi cứ liếc nhìn Mitsuo, như thể cậu ta là chỉ dấu rõ ràng nhất cho những gì mà người nhà Saito thực sự nghĩ. Tuy nhiên, bởi vì cậu ta ngồi tận phía bên kia bàn, và bởi ông Kyo, cạnh cậu ta, dường như cứ kéo cậu ta vào cuộc trò chuyện triền miên, tôi chẳng trao đổi được lời nào đáng kể với Mitsuo ở quãng ấy của buổi lễ.
“Chúng tôi nghe nói cháu thích chơi dương cầm, phải không Noriko,” tôi nhớ phu nhân Saito nói lúc đó.
Noriko khẽ cười, đoạn nói: “Cháu không tập thường xuyên lắm ạ.”
“Hồi trẻ ta cũng từng chơi đàn,” bà Saito nói. “Nhưng giờ ta cũng chẳng tập được mấy. Phụ nữ chúng ta có quá ít thời gian cho những thú vui như thế, cháu có nghĩ vậy không?”
“Quả vậy,” con gái tôi nói, giọng khá lo lắng.
“Anh lại cảm thụ âm nhạc rất kém,” Taro Saito xen vào, nhìn Noriko không chút nao núng. “Thực ra, mẹ anh luôn bảo anh là đứa điếc tông. Kết quả là, anh không tự tin về gu của mình lắm, toàn phải hỏi ý kiến bà xem nên ngưỡng mộ nhà soạn nhạc nào.”
“Vớ vẩn nào,” phu nhân Saito nói.
“Em biết không, Noriko,” Taro nói tiếp, “xưa anh từng kiếm được một tập các bản ghi âm một concerto dành cho piano của Bach. Anh rất thích nó, nhưng mẹ anh cứ chê bai suốt và chì chiết về gu thưởng thức kém cỏi của anh. Hiển nhiên quan điểm của anh làm gì có cơ đấu lại được ý kiến của mẹ. Hệ quả là giờ anh hiếm khi nghe Bach. Nhưng có lẽ em sẽ là người giải cứu anh chăng, Noriko? Em không thích Bach à?”
“Bach ư?” Trong giây lát, con gái tôi trông hoang mang không biết đáp sao. Đoạn nó mỉm cười và nói: “Có chứ, quả vậy. Rất thích nữa kìa.”
“A,” Taro Saito nói đắc thắng, “giờ thì mẹ phải xem lại đi nhé.”
“Con trai bác đang nói linh tinh đấy, Noriko ạ. Ta chưa bao giờ phê phán toàn bộ tác phẩm của Bach cả. Nhưng cháu nói xem, cháu có đồng ý là cứ chơi trên dương cầm thì Chopin sẽ hùng hồn hơn không?”
“Quả vậy ạ,” Noriko nói.
Những lời đáp thiếu tự nhiên như thế là điển hình cho màn thể hiện của con gái tôi ở phần đầu buổi tối hôm đó. Điều này, tôi có thể nói, hoàn toàn không có gì bất ngờ. Khi ở trong gia đình, hay khi bên cạnh bạn bè thân, Noriko có thói quen tỏ ra suồng sã, thường có được một sự dí dỏm và hoạt ngôn nhất định; nhưng cứ trong những cảnh nghiêm túc, tôi thường thấy con bé chật vật tìm một giọng điệu phù hợp, bởi vậy người ta dễ tưởng con bé là một thiếu nữ rụt rè, nhút nhát. Cái thảm cảnh ấy cứ xảy ra vào đúng dịp như thế này chứ chẳng phải dịp nào khác, và đấy là lý do làm tôi lo ngại; vì tôi thấy rõ ràng là – lối cư xử tự nhiên của bà Saito dường như khẳng định điều này – nhà Saito không phải là một gia đình nệ cổ ưa những phụ nữ ít nói và nhu mì. Thực ra tôi đã dự đoán được điều này, và trong quá trình chuẩn bị cho buổi miai, tôi đã nhấn mạnh quan điểm của mình là, trong chừng mực phù hợp, Noriko nên thể hiện rõ phẩm chất thông minh, linh lợi của nó. Con gái tôi hoàn toàn đồng ý với một đối sách như vậy, và quả thật đã tuyên bố rất quyết liệt ý định hành xử thẳng thắn và tự nhiên, đến mức tôi thậm chí còn e sợ rằng con bé sẽ trở nên thái quá và làm tổn hại đến tình hình. Vì vậy, khi tôi quan sát con bé đánh vật để đưa ra những câu trả lời đơn giản, phục tùng trước những lời gợi chuyện của người nhà Saito, ánh mắt con bé hiếm khi rời khỏi bát ăn, tôi có thể hình dung được nỗi thất vọng mà Noriko đang trải qua.
Tuy nhiên, ngoài vấn đề của Noriko ra thì cuộc trò chuyện diễn ra quanh bàn khá suôn sẻ. Tiến sĩ Saito tỏ ra đặc biệt khéo léo trong việc tạo nên một bầu không khí thoải mái, mà giả như tôi không ý thức được ánh nhìn của cậu Mitsuo, hẳn tôi đã quên khuấy sự hệ trọng của sự kiện đó và bớt đi thái độ cảnh giác. Một lúc nào đó giữa buổi tiệc, tôi nhớ tiến sĩ Saito thoải mái dựa người vào ghế và nói:
“Hình như dạo này ở trung tâm thành phố ngày càng có nhiều cuộc biểu tình. Ông biết không, thưa ông Ono, chiều nay lúc tôi đang ở trên tàu điện, một người ở đàn ông bước lên tàu, trán anh ta có vết bầm lớn. Anh ta ngồi cạnh tôi, nên hiển nhiên tôi hỏi anh ta có ổn không và khuyên anh ta đến phòng khám. Nhưng ông biết không, té ra anh ta vừa mới đi khám bác sĩ xong, và giờ anh ta quyết tâm hòa vào cuộc tuần hành cùng những đồng bạn của mình. Ông nghĩ sao về chuyện này, ông Ono?”
Tiến sĩ Saito nói một cách bình thản, nhưng tôi có lúc ấn tượng rằng mọi người ở bàn – gồm cả Noriko – đã ngừng ăn để nghe câu trả lời của tôi. Dĩ nhiên, rất có thể đấy chỉ là do tôi tưởng tượng ra mà thôi; nhưng tôi nhớ khá rõ rằng khi tôi liếc về phía cậu út Mitsuo, cậu ta nhìn tôi với vẻ chăm chú khác thường.
“Quả thực là đáng tiếc,” tôi nói, “khi có nhiều người bị thương. Chắc hẳn quần chúng đang hết sức bức xúc.”
“Tôi nghĩ ông nói đúng, thưa ông Ono,” phu nhân Saito nói xen vào. “Người ta hoàn toàn được phép bức xúc, nhưng có vẻ lúc này quần chúng đang đi quá xa. Có quá nhiều người bị thương. Nhưng nhà tôi đây lại bảo rằng cái đó cũng tốt. Tôi thực sự không hiểu ý ông ấy là gì nữa.”
Tôi cứ ngỡ ông Saito sẽ đáp trả câu ấy, nhưng thay vì vậy, chỉ thêm một khoảng lặng nữa, và khi đó mọi sự chú ý lại hướng vào tôi.
“Đúng như phu nhân nói,” tôi nhận xét, “thật hết sức đáng tiếc, vì quá nhiều người đã bị thương.”
“Vợ tôi lại hiểu sai ý tôi như mọi khi rồi, ông Ono à,” tiến sĩ Saito nói. “Tôi chưa bao giờ bảo rằng tất cả những trò đánh đấm này là một điều tốt đẹp. Nhưng tôi đang cố thuyết phục bà nhà tôi rằng còn nhiều vấn đề khác nữa ngoài cái sự người ta bị thương. Dĩ nhiên, chẳng ai muốn thấy người khác bị đau cả. Nhưng tinh thần đằng sau nó – rằng mọi người cảm thấy cần phải bày tỏ quan điểm của mình một cách công khai và mạnh mẽ – đó là một điều lành mạnh, ông có nghĩ vậy không, ông Ono?”
Có lẽ tôi lưỡng lự một thoáng; dù sao đi nữa, Taro Saito nói trước khi tôi kịp trả lời.
“Nhưng, cha à, chắc chắn là mọi việc đang vượt ra ngoài tầm kiểm soát rồi. Dân chủ cũng tốt, nhưng nó không có nghĩa công dân có quyền bạo loạn mỗi khi họ bất bình với thứ gì đó. Ở khía cạnh này, người Nhật chúng ta hành xử như đám trẻ con. Chúng ta vẫn chưa hiểu được vấn đề trách nhiệm của dân chủ.”
“Trường hợp này mới lạ lùng làm sao,” tiến sĩ Saito bật cười, nói. “Dường như, ít nhất là trong chuyện này, chính ông bố lại cởi mở hơn người con. Có thể Taro nói đúng. Vào thời điểm này, đất nước chúng ta giống như một cậu bé con đang học đi học chạy. Nhưng tôi muốn nói cái tinh thần ẩn bên dưới bề ngoài ấy là lành mạnh. Giống như thể ta đang quan sát một cậu bé đang lớn tập chạy và trầy xước đầu gối. Ta sẽ không muốn ngăn cậu bé ấy lại và nhốt nó trong nhà. Ông có nghĩ vậy không, ông Ono? Hay là tôi cởi mở quá, như vợ con tôi cứ khăng khăng bảo vậy?”
Có lẽ là tôi lại nhầm lẫn – vì như tôi nói, tôi uống hơi nhanh hơn so với dự định – nhưng tôi thấy dường như giữa những quan điểm khác biệt của người nhà Saito, lạ lùng sao, lại chẳng hề có một vẻ đối nghịch nào. Trong khi đó, cậu út Mitsuo, tôi nhận thấy, lại một lần nữa quan sát tôi.
“Quả vậy,” tôi nói. “Tôi hy vọng sẽ không còn ai bị thương nữa.”
Tôi tin vào lúc này Taro Saito đã đổi chủ đề bằng cách hỏi ý kiến Noriko về một trong những cửa hàng mua sắm mới khai trương gần đây trong thành phố, và trong một lát cuộc trò chuyện chuyển sang những chủ đề vặt vãnh hơn.
Những dịp như vậy dĩ nhiên không dễ dàng gì đối với bất cứ cô dâu tương lai nào – dường như thật bất công khi bắt một thiếu nữ phải đưa ra những quyết định hết sức hệ trọng đến hạnh phúc tương lai của mình trong lúc bản thân đang bị săm soi như vậy – nhưng tôi phải thừa nhận là không ngờ khả năng chịu căng thẳng của Noriko lại kém như vậy. Theo thời gian, sự tự tin của con bé cứ lụi dần lụi dần đi, cho tới khi dường như nó không thể nói gì hơn ngoài “vâng” và “không”. Tôi có thể thấy Taro Saito đang cố gắng hết sức để giúp Noriko thư giãn, nhưng buổi ra mắt này đòi hỏi anh ta không nên tỏ ra dai dẳng thái quá, và hết lần này đến lần khác, mỗi khi anh ta cố gắng nói một câu gì đó hài hước thì kết quả chỉ là sự im lặng khó xử. Khi tôi quan sát cơn bĩ cực của con gái, tôi lại nhận thấy rõ sự tương phản với buổi miai năm trước. Setsuko, lúc đấy về thăm nhà, đã đến dự để ủng hộ em gái, nhưng Noriko dường như không cần sự ủng hộ ấy lắm vào tối hôm đó. Kỳ thực, tôi có thể nhớ mình đã bực bội về cái lối Noriko và Jiro Miyake cứ liên tục nhìn nhau ranh mãnh, như thể chúng chế giễu vẻ nghiêm trang của sự kiện này.
“Ông nhớ không, ông Ono,” tiến sĩ Saito nói, “lần trước chúng ta gặp nhau, tôi đã phát hiện ta có một người quen chung. Là ông Kuroda.”
Lúc này bữa ăn tối đã gần xong.
“À vâng, quả vậy,” tôi nói.
“Con trai tôi đây,” – tiến sĩ Saito chỉ đến cậu út Mitsuo, mà tới lúc bấy giờ tôi chưa trao đổi lấy một lời – “hiện đang học ở trường Cao đẳng Uemachi, chính là nơi ông Kuroda đang giảng dạy.”
“Vậy ư?” tôi quay sang chàng trai. “Vậy là cậu biết rõ Kuroda?”
“Cũng không hẳn,” chàng trai nói. “Đáng tiếc, cháu không có năng khiếu hội họa, và cháu không có nhiều dịp tiếp xúc với các giáo sư hội họa.”
“Nhưng ông Kuroda là người được đánh giá rất cao, đúng không Mitsuo?” tiến sĩ Saito nói xen vào.
“Quả là như vậy.”
“Ông Ono đây có thời từng rất thân thiết với ông Kuroda. Con biết không?”
“Vâng, con có nghe nói,” Mitsuo nói.
Và lúc này, Taro Saito lại đổi chủ đề:
“Em biết không, Noriko, anh luôn có một giả thiết lý giải cho cái tai nghe nhạc kém cỏi của anh. Hồi anh còn bé, cha mẹ anh không bao giờ lên lại dây đàn. Mỗi ngày, trong suốt những năm đi học, Noriko ạ, anh buộc phải nghe mẹ anh tập trên chiếc đàn dương cầm lạc tông. Em có nghĩ đây chính là lời giải thích cho toàn bộ những rắc rối của anh không?”
“Vâng,” Noriko nói, rồi lại nhìn xuống bát ăn.
“Đấy. Anh cứ luôn cho rằng đó là lỗi của mẹ anh. Còn mẹ anh thì liên tục quở trách anh suốt bao năm qua vì cái tội tai trâu. Anh đã bị đối xử không thể nào bất công hơn được nữa, em có thấy vậy không Noriko?”
Noriko mỉm cười, nhưng không nói gì.
Đến đây, rõ ràng, ông Kyo, người cho tới lúc này vẫn làm nền cho bữa tối, bắt đầu kể một mẩu chuyện khôi hài. Ít nhất là theo những gì Noriko thuật lại, ông ta đang kể dở câu chuyện thì tôi ngắt lời và quay sang cậu út Mitsuo Saito, nói:
“Ông Kuroda chắc chắn đã kể với cậu về tôi.”
Mitsuo ngước lên, vẻ mặt bối rối.
“Nói về bác ư?” cậu ta dè dặt nói. “Cháu chắc là thầy ấy thường nhắc đến bác, nhưng cháu e là cháu không quá thân với thầy Kuroda và hệ quả là...” Cậu ta ngừng lời, và nhìn về phía cha mẹ mình cầu cứu.
“Tôi dám chắc,” tiến sĩ Saito nói, với một giọng điệu mà tôi cảm giác là có chủ ý, “ông Kuroda nhớ ông Ono khá là rõ.”
“Tôi không nghĩ,” tôi nói, nhìn vào cậu Mitsuo, “rằng ông Kuroda có ý kiến tốt đẹp gì về tôi.”
Chàng thanh niên khó xử quay sang nhìn cha mẹ mình lần nữa. Lần này, phu nhân Saito nói:
“Ngược lại đằng khác, tôi dám chắc ông ấy hẳn chỉ nói những điều rất tốt đẹp về ông, ông Ono.”
“Phu nhân Saito ạ, có một số người,” tôi nói, có lẽ lớn tiếng một chút, “họ tin rằng sự nghiệp của tôi có ảnh hưởng tiêu cực. Một ảnh hưởng giờ đây tốt nhất ta nên xóa bỏ và lãng quên. Tôi không phải là không biết đến quan điểm này. Ông Kuroda, tôi trộm nghĩ, là một người có quan điểm như vậy.”
“Vậy ư?” Có lẽ chỉ là tôi suy diễn, nhưng tôi nghĩ tiến sĩ Saito đang nhìn tôi như thể một ông giáo đang đợi cậu học trò đọc tiếp bài học mà cậu ta đã thuộc lòng. “Quả có vậy. Và với cá nhân tôi, tôi khá sẵn sàng chấp nhận rằng quan điểm như thế là hợp lý.”
“Cháu chắc là bác đang quá hà khắc với bản thân, bác Ono ạ,” Taro Saito bắt đầu nói, nhưng tôi nhanh chóng nói tiếp:
“Có một số người nói rằng những người như tôi phải chịu trách nhiệm đối với những điều khủng khiếp xảy ra với tổ quốc chúng ta. Về phía mình, tôi không ngại ngần thừa nhận là tôi đã phạm nhiều sai lầm. Tôi chấp nhận rằng nhiều điều tôi đã làm rốt cuộc lại gây hại cho dân tộc chúng ta, rằng ảnh hưởng của tôi đã góp phần dẫn đến nỗi đau khổ khôn xiết của nhân dân chúng ta. Tôi thừa nhận điều này. Ông thấy đấy, tiến sĩ Saito, tôi đã sẵn sàng thừa nhận.”
Tiến sĩ Saito rướn người tới trước, vẻ mặt bối rối hiện lên.
“Xin thứ lỗi, ông Ono,” ông ấy nói. “Ông bảo rằng ông hối tiếc về công việc ông đã làm ư? Về những bức tranh của ông ư?”
“Những bức tranh của tôi. Những giáo huấn của tôi. Ông thấy đấy, tiến sĩ Saito, tôi sẵn sàng thừa nhận điều này. Tôi chỉ có thể nói rằng lúc bấy giờ tôi đã hành động với thiện ý. Tôi tuyệt đối thành thực tin rằng mình đang mang lại điều tốt đẹp cho đồng bào. Nhưng như ông thấy đấy, giờ tôi không ngần ngại thừa nhận rằng tôi đã phạm sai lầm.”
“Cháu tin chắc là bác quá hà khắc với bản thân, bác Ono ạ,” Taro Saito nói đầy thân thiện. Rồi quay sang Noriko, anh ta nói: “Em nói xem, Noriko, có phải cha em lúc nào cũng nghiêm khắc với bản thân như vậy không?”
Noriko, tôi nhận ra, đang nhìn tôi đầy kinh ngạc. Có lẽ vì thế mà câu hỏi đột ngột của Taro khiến nó, và thói liến láu quen thuộc của con bé xuất hiện lần đầu tiên trong buổi tối hôm ấy.
“Cha em không hề nghiêm khắc đâu. Chính em mới phải nghiêm khắc với ông ấy. Nếu không thì ông ấy không bao giờ dậy ăn sáng mất.”
“Vậy ư?” Taro Saito nói, sung sướng vì đã cạy được từ Noriko một câu trả lời bớt nghiêm nghị. “Cha anh cũng khoái ngủ nướng. Người ta bảo người già ngủ ít hơn thanh niên chúng ta, nhưng từ kinh nghiệm của bọn mình thì điều này dường như không được đúng lắm.”
Noriko bật cười và nói: “Em nghĩ các ông bố là như vậy đấy. Cháu chắc chắn bác gái Saito đây không khó khăn gì với việc thức dậy buổi sáng.”
“Hay hớm nhỉ,” tiến sĩ Saito nhận xét với tôi. “Bọn trẻ đang lôi chúng ta ra làm trò đùa ngay cả khi chúng ta còn chưa rời phòng.”
Tôi không muốn nói rằng toàn bộ cuộc mai mối đã ở trong tình trạng bấp bênh cho tới thời điểm đó, nhưng tôi chắc chắn cảm thấy đấy là thời điểm bước ngoặt khi buổi miai chuyển từ một buổi tối lúng túng, tiềm tàng thảm họa, thành một bữa tối thành công. Chúng tôi tiếp tục trò chuyện và uống sake một lúc lâu sau bữa ăn, và đến khi đã gọi taxi, thì vẫn có một cảm giác rõ ràng rằng chúng tôi rất hợp nhau. Điều quan trọng hơn cả là, dù chúng tôi vẫn giữ một khoảng cách phù hợp, thì Taro và Noriko đã ra chiều quý mến lẫn nhau.
Dĩ nhiên, tôi không vờ như một vài khoảnh khắc nhất định trong bữa tối hôm đó không gây đau đớn cho tôi; cũng như tôi không cho rằng mình có thể dễ dàng tuyên bố như thế về những điều mình làm trong quá khứ nếu hoàn cảnh không khiến tôi cảm thấy làm vậy là khôn ngoan. Đã nói ra như thế, tôi phải nói rằng tôi thấy khó hiểu làm sao có ai đó coi trọng sự tự tôn lại muốn trốn tránh trách nhiệm về việc làm của mình trong quá khứ; có thể nhận trách nhiệm không phải bao giờ cũng dễ dàng, nhưng chắc chắn ta sẽ cảm thấy một niềm thỏa mãn và cảm giác tự trọng khi thừa nhận những sai lầm ta mắc phải trong quãng đời quá khứ. Dù sao đi nữa, chắc chắn nỗi hổ thẹn sẽ chẳng quá ghê gớm nếu như sai lầm mắc phải đó xuất phát từ thiện ý. Chắc chắn ta sẽ thấy hổ thẹn hơn nhiều nếu không thể hoặc không muốn thừa nhận sai lầm đó.
Xét đến Shintaro chẳng hạn – nhân tiện, anh ta đã có được vị trí giảng dạy mà anh ta rất thèm muốn. Theo tôi, Shintaro sẽ hạnh phúc hơn nếu anh ta có can đảm và trung thực thừa nhận điều anh ta đã làm trong quá khứ. Tôi cho là cũng có khả năng cái phản ứng lạnh lùng anh ta nhận được từ tôi buổi chiều hôm ấy, ngay sau ngày Tân niên, đã thuyết phục anh ta thay đổi chiến thuật trước ban tuyển dụng về vấn đề áp phích khủng hoảng Trung Hoa. Nhưng tôi đoán là Shintaro vẫn bám víu những thứ đạo đức giả nhỏ mọn để đạt được mục đích của mình. Quả thực, giờ đây tôi tin rằng luôn có một khía cạnh xảo trá, nham hiểm trong bản chất Shintaro mà tôi thực sự không nhận ra trong quá khứ.
“Này bà chủ, cô biết không,” tôi nói với cô Kawakami khi tôi tới chỗ cô vào một buổi tối cách đây không lâu, “tôi đồ rằng Shintaro chưa bao giờ là con người chất phác như chúng ta nghĩ. Đấy chỉ là cách để cậu ta lợi dụng mọi người và đạt được mọi việc theo ý muốn của cậu ta. Những người như Shintaro, nếu họ không muốn gì đó, thì họ giả vờ như mình hoang mang bất lực, và thế là người ta tha thứ hết cho họ.”
“Thật tình, thầy à.” Cô Kawakami nhìn tôi vẻ phật lòng, tỏ ra một sự dè dặt có thể hiểu được, không muốn nghĩ xấu về một người bao lâu nay là khách hàng thân thiết của cô.
“Ví dụ nhé, bà chủ,” tôi nói tiếp, “cứ nghĩ xem cậu ta đã khéo léo tránh được cuộc chiến như thế nào. Trong khi những người khác mất mát không kể xiết, Shintaro vẫn tới làm việc tại xưởng vẽ của mình cứ như thể không có chuyện gì xảy ra.”
“Nhưng thầy à, Shintaro bị đau chân...”
“Đau chân hay không thì tất cả đều nhận được giấy triệu tập cơ mà. Dĩ nhiên, rốt cuộc họ cũng tìm thấy anh ta, nhưng lúc đó chiến tranh chỉ còn vài ngày là kết thúc. Cô biết đấy, Shintaro có lần bảo tôi cậu ta mất hai tuần làm việc vì chiến tranh. Chiến tranh gây tổn thất cho Shintaro chỉ có vậy. Hãy tin tôi, bà chủ ạ, người bạn cũ của chúng ta còn giấu nhiều thứ lắm bên dưới cái bề ngoài con trẻ ấy.”
“Ồ, dù sao thì,” cô Kawakami nói mỏi mệt, “cứ như thể anh ta sẽ không bao giờ quay lại nơi này nữa.”
“Quả vậy, bà chủ à. Dường như cô mất cậu ta vĩnh viễn rồi.”
Cô Kawakami, tay cầm điếu thuốc đang cháy, rướn người qua mép quầy và nhìn khắp quán rượu bé nhỏ của mình. Như thường lệ, chỉ có chúng tôi ở đây. Ánh chiều tà xuyên qua lớp lưới chống muỗi trên các cửa sổ, khiến căn phòng trông như bụi bặm thêm và cũ kỹ hơn so với lúc nó được thắp sáng bởi những ngọn đèn của cô Kawakami khi trời tối. Bên ngoài, công nhân vẫn làm việc. Suốt một tiếng qua, tiếng quai búa từ đâu đó vọng lại, và một chiếc xe tải nổ máy hay tiếng máy khoan sẽ khiến cả khu vực này rung chuyển. Và khi tôi dõi theo ánh mắt của cô Kawakami nhìn quanh căn phòng buổi tối mùa hè hôm ấy, tôi chợt nhận ra cái quán rượu của cô mới nhỏ bé, tồi tàn và lỗi thời làm sao giữa những tòa nhà bê tông đồ sộ mà công ty phát triển đô thị dựng lên chung quanh. Rồi tôi nói với cô Kawakami:
“Cô biết đấy, cô thực sự phải nghĩ nghiêm túc về việc chấp nhận khoản tiền và chuyển đi nơi khác. Đó là một cơ hội lớn.”
“Nhưng tôi đã ở đây quá lâu rồi,” cô nói, và khua tay xua làn khói tỏa ra từ điếu thuốc.
“Cô có thể mở một quán mới tươm tất hơn. Trong quận Kitabashi, hay thậm chí ở Honcho. Cô yên tâm là tôi sẽ ghé vào mỗi khi đi qua.”
Cô Kawakami im lặng một lát, như thể lắng nghe điều gì đó giữa những thanh âm vọng vào từ chỗ các công nhân ngoài kia. Rồi một nụ cười hiện lên trên khuôn mặt cô, đoạn cô nói: “Nơi đây từng một thời rất huy hoàng. Thầy nhớ chứ, thưa thầy?”
Tôi cười đáp lại nhưng không nói gì. Dĩ nhiên, khu phố cũ từng là một chốn đẹp đẽ. Chúng tôi đã tận hưởng và tinh thần ấy đã lan tỏa trong những cuộc chuyện trò và những cuộc tranh luận chưa bao giờ có thể gọi kém chân thành. Nhưng có lẽ cái tinh thần ấy không phải bao giờ cũng đem lại kết quả tốt đẹp. Như nhiều thứ khác ngày nay, có lẽ việc thế giới nhỏ bé ấy đã trôi qua và không bao giờ trở lại nữa cũng là điều tốt. Tôi những muốn nói vậy với cô Kawakami tối hôm ấy, nhưng quyết rằng làm thế là bất nhã. Vì rõ ràng, khu phố cũ rất thân thương đối với cô – phần lớn cuộc đời và sinh lực của cô đã dồn vào đấy – và người ta chắc chắn có thể hiểu được nỗi lưỡng lự của cô, không muốn chấp nhận rằng nó đã tan biến mãi mãi.
[1] Tức lễ gặp mặt, được tổ chức giữa hai gia đình đang tìm hiểu nhau.