Có những bí mật chứa đựng những sự thật đau đớn. Tuy nhiên, việc che giấu đi sự thật không phải là một cách làm đúng đắn. Trái lại, nó dẫn đến những hệ lụy mà sau cùng chỉ có những người trong cuộc tự mang lấy cho riêng mình những tổn thương.
~ ✽ ~
Tôi đến Circle K vào lúc 10 giờ tối. Lúc này An đang đứng ở quầy. Nhìn vào đôi mắt An, lòng tôi lại dấy lên một cảm giác xót xa và đau đớn. Với đôi mắt đó, tôi thực sự hoang mang và lo sợ. Liệu rằng nếu tôi chìm trong màn đêm đặc quánh của đôi mắt ấy, tôi có đủ can đảm để tiếp tục quãng đời còn lại của mình hay không? Khi nghĩ đến đó, tôi có cảm giác như có hàng ngàn mũi tên đâm vào tim, đau nhói.
Sự thật là, An không còn nhìn thấy ánh sáng được nữa.
Tôi thường đến tìm An khi anh ấy có ca làm tại đây. Đa phần lịch làm việc của An đều rơi vào buổi tối. Lúc đó, rất ít người đến cửa hàng tiện lợi để mua sắm. Nơi làm việc khá nhỏ, thành ra cũng không quá khó khăn để quán xuyến mọi thứ, nhưng với An công việc vẫn khá chật vật.
– Nghe dì Mai nói em vừa đỗ thủ khoa một trường lớn thì phải? – An khẽ bắt chuyện, sau khi đã đặt ngay ngắn những chai nước ngọt lên kệ.
– Cũng không lớn lắm đâu – Tôi nói với giọng đứt quãng.
– Ở thành phố đúng không?
– Dạ.
– Tại sao em không theo học?
– Chắc tại thích thị trấn, sống ở đây quen rồi.
– Nghe có vẻ không đúng lắm.
– Biết sao được, tại em muốn vậy thôi.
Tôi đang ngồi yên vị ở góc bàn dành cho thực khách tại cửa hàng, trên bàn là ly cà phê đang tan đá. Nhìn ra phía cửa kính, mặc dù là thị trấn nhưng nơi đây khá sầm uất với những công trình đô thị mọc lên san sát, hơn nữa nơi đây gần biển, lúc nào cũng có khách du lịch ghé thăm. Ngoài cửa kính, thị trấn neo mình trong gió như một kẻ bộ hành. Tôi thực sự thích nhìn cảnh thị trấn ban đêm, giống như việc người ta quý trọng từng ánh sáng được thắp lên bởi những ngọn đèn đường cao áp vàng rực.
Với An, không có khái niệm về màu sắc. Bù lại, An có thể phân biệt mùi vị và có một đôi tai nhạy cảm tinh tế. Tôi đã từng thấy An chơi piano, những ngón tay lướt trên phím đàn rất chắc chắn, chính xác đến từng nốt. Với bóng tối, An phải tạo lập cho mình những vị trí bằng trực giác. Nó giống như người ta đã chơi đi chơi lại một bản nhạc và không cần nhìn bàn phím cũng có thể đánh nên một bản nhạc hoàn chỉnh vậy.
Thỉnh thoảng, An hát cho tôi nghe những giai điệu mà anh tự nghĩ. Đó là những giai điệu du dương, nhưng trầm buồn, buồn như thể cuộc sống của anh. Nếu là tôi, tôi cũng chẳng thể nào vui nổi. Và dù có lừa dối bản thân như thế nào đi nữa, tôi nghĩ rằng người ta sẽ lại chìm vào nỗi buồn cố hữu, bởi khi mở mắt hay nhắm mắt cũng chỉ nhìn thấy thứ màu sắc đặc trưng của bóng tối. Muốn quên nó đi là điều không thể.
Người ta thường làm mọi cách để dẹp bỏ hay phớt lờ nỗi buồn, nhưng với An, chiếc máy ghi âm là tất cả những gì anh có thể san sẻ. Những bản nhạc được viết ra để xua đi bóng tối, xua đi nỗi buồn hiện hữu. An từng nói muốn trở thành một người viết nhạc nổi tiếng, có thể dùng âm nhạc để xoa dịu những tâm hồn thương tổn. Đó không phải là câu nói để che đậy sự mặc cảm, mà đó là một ước muốn lớn lao và hoàn toàn nghiêm túc.
Tôi có thể cảm nhận ý chí và sự quyết tâm sau câu nói đó. Ngay cả khi người ta đủ tin tưởng và để An làm việc tại cửa hàng tiện lợi này, đó đã là một sự ghi nhận đáng giá và chắc chắn về những gì An có thể làm được.
Những ca tối An làm tại cửa hàng, tôi luôn ngồi ngay đó với cốc cà phê đậm đặc trên tay. Điều đó dường như đã trở thành thói quen khó bỏ. Tôi có thể ngồi nói chuyện với An đến rạng sáng, chờ anh đổi ca và cùng nhau đi ăn một thứ gì đó và rồi trở về nhà, nằm mệt nhoài trên chiếc giường quen thuộc và rơi vào giấc ngủ.
Với tôi, giấc mơ có thể nhiều màu sắc, sau khi những hình ảnh đã thu nhặt và chất đầy nơi đáy mắt để tái hiện cơn mơ. Còn An, tôi tự hỏi giấc mơ của anh có màu gì, liệu nó có phải chỉ là một màu đen bao phủ?
2.
Thức dậy sau khi mặt trời lên đến đỉnh, tôi cảm thấy buồn khi nghĩ về những giấc mơ của An. Tôi chưa từng hỏi An giấc mơ của anh có màu gì, và dù cho không còn nhìn thấy ánh sáng, nhưng tôi vẫn mong giấc mơ ấy sẽ đủ đầy sắc màu.
An không nằm trong số những người kém may mắn rơi vào bóng tối bẩm sinh. Tôi biết, An vẫn lưu trữ đâu đó trong ký ức của mình những mảng màu mà anh đã từng nhìn thấy. Và dù cho điều đó đã từng là quá khứ đi nữa, tôi vẫn mong những giấc mơ sẽ không chơi trò keo bẩn mà giấu nhẹm đi những mảng màu cuộc sống vốn hữu.
Nghĩ đến đây, tâm trạng tôi bỗng chùng xuống, như thể mình đang ở trong một cái giếng hoang và người ta đang lấp đầy nó bằng cách đổ xuống những xô cát. Kèm theo đó là nỗi mặc cảm và sự ân hận bắt đầu len lỏi.
Tôi nhớ lại mùa hè năm tôi mười tuổi, đó là một mùa hè đỏ lửa và tàn tạ -cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Năm ấy, tôi vẫn còn là một cô nhóc nghịch ngợm và thích thả đèn trời. Những ngọn đèn trời bay cao vút, rực sáng cả trời đêm khiến tôi thích thú. Lúc nào cũng vậy, đợi đến nửa đêm, tôi lẻn ra ngoài hiên, thả lên trời những ngọn đèn nho nhỏ do mình tự làm. Tôi ước rằng, sau này lớn lên, mình có thể bay cao như vậy, đến những vùng đất mới, những thành phố mới, thậm chí là những chân trời mới.
Ước mơ đó được tôi ấp ủ mỗi đêm, và để cho những cơn gió thổi bay đến những chân trời xa lạ. Đêm gió chướng, tôi nhìn thấy ngọn đèn trời của mình bay về phía nhà An, và sau đó là hình ảnh của một trận lửa cao ngút, sáng rực cả bầu trời đen tối. Tôi đứng chết trân, khi nhìn thấy toàn bộ căn nhà đang chìm trong biển lửa, hình ảnh đó mãi mãi ăn sâu vào trong tâm trí tôi vào tuổi lên mười và mãi mãi không bao giờ có thể xóa bỏ.
Sau trận hỏa hoạn, ba mẹ An đều mất, chỉ còn lại An với đôi mắt không còn nhìn thấy ánh sáng. Ngọn đèn trời năm ấy là bi kịch, tất cả đều do lỗi của tôi. Nỗi ám ảnh nặng nề ấy kéo dài suốt một năm trời khiến tôi bỏ học và giam hãm mình trong phòng, mặc cho ba mẹ ra sức thuyết phục. Không một ai biết được sự thật ấy, ngoại trừ tôi. Khi mọi thứ dần nguôi ngoai, tôi tự nhủ mình sẽ phải ở bên cạnh An bằng tất cả phần đời còn lại, như thể đó là cách tốt nhất để tôi chuộc lại lỗi lầm ngày nhỏ.
Bí mật này theo tôi đến tận lúc trưởng thành, khi hiện giờ tôi đã từ chối việc học tại trường Đại học lớn trên thành phố dù đã đỗ thủ khoa. Ba mẹ luôn sợ tôi suy nghĩ sai lệch mà đánh mất đi cơ hội của mình. Nhưng trước, họ luôn tôn trọng các quyết định của tôi, dù cho đó là một quyết định khiến họ cảm thấy lo lắng đi chăng nữa. Từ sau mùa hè năm ấy, tôi trở nên chín chắn hơn so với độ tuổi của mình khiến ba mẹ bất ngờ. Tôi không dành thời gian để chơi bời như những đứa con gái cùng lứa. Thay vào đó, lịch học của tôi dày đặc hơn, thời gian tôi lén qua nhà An cũng nhiều hơn, giúp An vài công việc lặt vặt và đọc sách cho An nghe.
Hiện tại An đang sống cùng người dì ruột. Chính dì đã cưu mang An từ ngày anh mất đi ánh sáng. Cũng từ giây phút đó, tôi tự nhủ, cuộc đời tôi sẽ gắn bó với An như hai con người cùng chung một số mệnh. Tôi sẽ là nguồn ánh sáng duy nhất để An nương tựa, còn niềm vui của An sẽ là liều thuốc quý giá để tôi xoa dịu nỗi ám ảnh về lỗi lầm ngày bé của mình.
Vậy nên, với cái ước mơ được đặt chân đến những vùng đất mới, những thành phố mới, tôi đành tạm gác lại một bên. Dẫu rằng tận trong tâm trí, cái khao khát được đặt chân đến nơi một vùng đất mới luôn thôi thúc tôi một cách mãnh liệt. Nhưng dù sao đi nữa, tôi cũng không thể rời khỏi thị trấn này. Nếu có thể, tôi muốn được đi cùng An, kể cho An tất cả những gì tôi nhìn thấy và cùng An hít thở không khí của một vùng đất mới.
Cuộc sống này, tôi đã tự hứa sẽ dành trọn cho An. Mãi mãi là như vậy. Không thay đổi.
3.
An đứng chờ tôi trước cổng, sau khi đã chuẩn bị sẵn sàng với cây gậy dẫn đường trên tay. Chúng tôi cùng nhau đi bộ đến Lặng. Thị trấn khá nhỏ, các quán xá cũng không cách nhà chúng tôi bao xa. Chúng tôi cứ bước đi thong thả trên phố, nghe hương ngọc lan quyện vào mũi tê tái. Cả tôi và An đều thích ngọc lan, nên thay vì bước đi thật nhanh đến Lặng, chúng tôi chọn cách đi chậm, và hít căng lồng ngực mùi hương hoa ngạt ngào. Tôi biết, thay vì trải nghiệm bằng hình ảnh, đó là cách để An tiếp cận cuộc sống không may mắn của mình. Một sự trải nghiệm bằng mùi hương.
Tối nay An có buổi biểu diễn ở Lặng. Lúc chúng tôi bước vào, khách khứa đã chật kín các lối đi. Một chàng trai như An chơi piano, thật sự khiến người ta khâm phục và thích thú. Những buổi tối tại Lặng là niềm vui ít ỏi còn sót lại mà cuộc sống tặng cho An, dẫu không phải là điều dễ dàng gì.
Tôi thích nhìn các ngón tay An lướt trên phím đàn piano cổ kính đen tuyền. Những ngón tay khéo léo và mềm mại, từng ngón từng ngón lướt trên mặt phím uyển chuyển. Tối nay An chơi những bản nhạc của Bach. Tôi không am hiểu về âm nhạc, chỉ nghe An nói như thế.
Khi những âm thanh đầu tiên được phát ra, mọi người đều im lặng, tập trung thưởng thức từng nốt nhạc tròn đầy và du dương. Đó là những giai điệu mà người ta phải nhắm mắt lại và tận hưởng, không chỉ là sự ngưỡng mộ về kỹ thuật của người nhạc công chơi đàn.
Tôi thích chất nghệ sĩ trong An, cách An chơi một bản nhạc hay tự hát một ca khúc nào đó, nó luôn chứa đựng một thứ gì đó rất riêng, không hòa lẫn. Tôi nghĩ, giá mà An có thể nhìn thấy được, thì sẽ không phải chật vật khi sống ở thị trấn nhỏ này và ước mơ trở thành một người sáng tác nổi tiếng chỉ còn là điều sớm muộn.
Nhưng tôi đã dập tắt ước mơ đó từ trận lửa năm tôi mười tuổi. Ngọn đèn trời năm ấy, vĩnh viễn là một cơn ác mộng mà tôi luôn che giấu.
Tiếng vỗ tay kéo dài sau khi An hoàn thành bản nhạc thứ năm của Bach. Đó là một phần thưởng xứng đáng mà An nhận được cho chính sự nỗ lực của mình. Tôi hiểu, người ta không chỉ đến để nghe anh chơi nhạc, mà còn để đón nhận cảm hứng từ nghị lực mà anh mang lại. Cái thứ nghị lực được rèn luyện từ bóng tối, và tạo nên sức mạnh để hòa nhập với cuộc sống không may mắn của An.
Kết thúc buổi biểu diễn, chúng tôi đi ăn tối cùng nhau, sau khi nhận phong bì tiền biểu diễn từ chủ quán Lặng. Tôi và An ghé vào một quán ăn Nhật. Luôn luôn là vậy, An thích những món ăn Nhật, và mỗi buổi tối rời khỏi Lặng, chúng tôi thường chọn ghé Tokyo Deli.
Tokyo Deli có phong cách Nhật nhất trong số các cửa hàng Nhật ở thị trấn, giống như người ta đã tham khảo rất kỹ lưỡng từ hình dáng đến việc chế biến các món ăn của xứ sở hoa anh đào. Tôi thích những dãy đèn lồng trước cửa hiệu khi bước chân vào quán, nhưng rồi khi nhớ lại ngọn đèn trời tôi thả năm lên mười tuổi, sự thích thú dần dần trở nên ám ảnh và khơi gợi quá khứ khiến tôi nghẹt thở.
Vậy nên, tôi cảm thấy không tự nhiên lắm khi cùng An ghé Tokyo Deli. Nhưng ở bên cạnh An, tôi cố gắng che giấu điều đó. Và vì An không nhìn thấy biểu cảm khuôn mặt của tôi, nên tôi may mắn không bị phát hiện ra.
– Em có thích ở thị trấn thật không, Nhiên? – Yên vừa ăn sushi vừa hỏi.
– Thật – Tôi đáp.
– Anh không cảm nhận được.
– Tại sao?
– Chẳng sao cả, anh cảm thấy đó chỉ là một cách che dấu khi em bắt buộc phải trả lời câu hỏi thôi. Em không cần phải ở bên cạnh và đi cùng anh, anh có thể tự mình làm việc và đi lại khắp thị trấn này mà. Dẫu sao thì anh cũng thuộc lòng đường phố ở đây rồi.
– Sống ở đây là do em lựa chọn và quyết định thôi. Anh đừng nghĩ ngợi nhiều quá. Em thích sống ở đây mà, thật đấy.
– Nếu vậy thì anh không hỏi nữa.
Tôi và An tiếp tục ăn sushi và bánh xèo Nhật Bản. Mùi mù tạt xộc lên mũi khiến tôi chảy nước mắt. Tôi ước gì mình có thể nói sự thật cho An biết. Nhưng mặc cảm tội lỗi năm ấy khiến tôi không dám đối diện, và biết đâu chừng, An sẽ coi tôi như kẻ thù và dần chuyển sang xa lánh. Và rồi, tôi sẽ sống phần đời còn lại của mình một cách vô nghĩa và dằn vặt. Đó là điều tôi thực sự không muốn một chút nào.
Và có lẽ, tôi sẽ che giấu bí mật về ngọn đèn trời này mãi mãi. Với tôi, được ở bên cạnh An là thứ ánh sáng duy nhất khiến con tim tôi được sưởi ấm và ủi an nỗi mặc cảm. Ước muốn đặt chân lên một nơi chốn mới, đã tắt lịm và hoang tàn như khi tôi nhìn thấy ngôi nhà của An bị thiêu rụi. Đó không còn là một ước muốn đẹp đẽ khi đã lỡ nhuốm mùi tội lỗi mà tôi gây ra.
Với tôi giờ này, điều làm tôi cảm thấy đáng để sống nốt quãng đời còn lại là được chăm sóc và ở bên canh An. Chỉ như vậy thôi.
4.
Cuộc sống của tôi lẽ ra sẽ tiếp tục trôi qua một cách bình lặng như vậy, cùng An, nếu như không có sự xuất hiện của Mali. Sau lần thấy An trình diễn các ca khúc tự sáng tác ở Lặng, Mali chủ động bắt chuyện với anh. Điều đó làm tôi hết sức ngạc nhiên. Mali là nữ ca sĩ khá nổi tiếng trong giới underground. Trong lúc đến thị trấn để biểu diễn, đó cũng là lần tình cờ Mali đặt chân đến Lặng.
Nhưng điều khiến tôi thắc mắc là tại sao cô ấy lại chủ động kết thân với An? Đó có phải là sự quý mến tài năng của anh hay vì điều gì khác? Chỉ biết là An có vẻ khá vui vẻ và phấn khởi với mối quan hệ mới này. Và tôi bỗng dưng trở thành một kẻ thừa thãi bởi lúc nào cũng hiện diện trong cuộc gặp gỡ giữa hai người họ.
Dần dần, Mali trở thành người thay thế cho sự xuất hiện của tôi. Cô có mặt ở những nơi tôi thường lui tới, từ cửa hàng tiện lợi, đến việc đưa anh đến Lặng, cùng anh lang thang trên những con đường thoảng hương ngọc lan mà chúng tôi vẫn thường đi, hay cùng nhau thưởng thức sushi ở Tokyo Deli sau khi An trình diễn xong những bản piano độc tấu.
Điều đó làm cho ước muốn được ở bên An suốt quãng đời còn lại của tôi lung lay. Và tôi nghĩ, nếu anh đã tìm được một người bạn đồng hành thì việc tôi có ở bên cạnh cũng chỉ là một hành động cản trở cho mối quan hệ mà anh đang có. Hoặc đây chính là thời điểm để tôi có thể thổi bùng ước mơ được đặt chân đến những vùng đất mới và thỏa mãn cái sở thích được khám phá những nơi xa lạ mà bấy lâu nay tôi cố tình dập tắt.
Đó có phải là sự giải thoát cho cả tôi và An hay không?
Nhưng rồi, một bí mật khác được mở ra. Tôi phát hiện ra Mali chỉ lợi dụng tài năng của An để làm bàn đạp cho sự thăng tiến sự nghiệp của cô ấy. Những bản nhạc mà An viết ròng rã suốt mấy năm trời, đã được cô ta sử dụng lại với tên riêng của mình. Khi tôi đến gặp An, tôi có thể cảm nhận sự buồn bã và thất vọng trên gương mặt anh. Hóa ra mối quan hệ đó, chỉ dựa trên sự giả dối không hơn không kém. Và nó sẽ để lại hậu quả như thế nào, cho An, với chút ánh sáng niềm tin đã vội tắt?
- Em sẽ kiện cô ấy tới cùng.
- Không cần đâu.
- Tại sao không chứ? An im lặng.
Có lẽ việc làm cho ra lẽ mọi chuyện chỉ khiến nỗi đau của An được nhân lên nhiều lần. Và hơn hết, tôi có thể cảm nhận được tình cảm mà anh dành cho cô ấy. Rõ ràng, trong trường hợp này, tôi như một kẻ rơi vào vực thẳm. Vừa muốn đòi lại công bằng cho An, vừa không muốn anh tổn thương thêm một lần nào nữa.
Những ngày sau đó, An tránh gặp mặt tôi. An nghỉ việc ở cửa hàng tiện lợi và thường tìm đến một nơi nào đó mà tôi không hề biết, và trở về nhà khi trời đã chập choạng tối. Điều đó khiến tôi rất lo lắng, và bất an.
- Tại sao lại tránh mặt em? - Tôi nói, sau khi chờ anh ròng rã suốt cả buổi tối.
- Em không cần phải ở bên cạnh anh mọi lúc như vậy, anh không phải một đứa trẻ. Và anh có cuộc sống riêng của mình, anh muốn tự quyết định nó. Em có hiểu không?
Tôi như muốn gào lên. An không biết tôi sẽ hoảng sợ đến mức nếu như anh gặp chuyện gì không hay. Bằng tất cả lý trí, tôi quyết định kể cho anh về ngọn đèn trời năm tôi mười tuổi, về lỗi lầm ngày xưa cũ khiến anh chìm vào bóng tối. Khi nói xong những lời đó, tôi cảm thấy có phần thanh thản. Bí mật đó như thể được niêm phong bởi nhiều lớp xích dày cộm, đè nặng lên tâm trí tôi suốt năm dài tháng rộng. Và giờ, tôi đối mặt với tội lỗi của mình bằng chính thái độ mà An chuẩn bị dành cho tôi.
Nhưng không có sự phán xét nào cả. Anh khẽ với lấy bàn tay tôi, và bắt đầu kể cho tôi bằng chất giọng trầm dày ấm áp, pha vào đó là chút run rẩy. Anh nói rằng chính tôi đã tự huyễn hoặc bản thân mình, rằng tôi không có lỗi gì trong trận hỏa hoạn năm ấy. Chính anh là kẻ đã gây ra trận hỏa hoạn khốc liệt của mùa hè năm ấy, khi vô tình nghịch ngợm bếp điện và khiến cho sự việc trở nên tang thương như vậy.
Và An khóc. An nói, anh đã lừa dối tôi suốt ngần ấy thời gian. Anh biết được rằng tôi đang cưu mang một bí mật sai lệch về trận hỏa hoạn năm ấy trong một lần tôi mơ sảng khi ngủ lại nhà anh. Nhưng rồi, nỗi cô đơn và mong muốn có một ai đó kề cạnh đã khiến An trở nên ích kỷ. Anh che giấu điều đó, cho đến khi Mali đến bắt chuyện với anh. Anh ước gì đó sẽ là một sự khởi đầu mới, cũng là cách để tôi có thể rời xa anh. Nhưng cuối cùng, sự lừa dối đó đã được đánh đổi bằng một sự lừa dối khác, đó là luật nhân quả ứng nghiệm lên cuộc đời anh khi Mali đến, anh nói. Và anh cảm thấy tội lỗi và xấu hổ khi chứng kiến tôi cứ lo lắng cho anh nhiều đến như vậy.
Tôi dường như không tin vào tai mình. Lỗi lầm đó, không phải do tôi? Đó là sự thật sao? Nhưng rồi, tôi lại nghĩ, nếu tôi bỏ mặc An, liệu rằng cuộc sống của anh có thật sự ổn? Nghĩ đến đó, tôi những tưởng mình là một kẻ mắc kẹt cuối đường hầm, đang mong mỏi tìm kiếm chút ánh sáng cho những suy nghĩ đan xen không hồi kết.
5.
Tôi và An ngủ cùng nhau một giấc dài, như thể chúng tôi vừa bước ra khỏi thế giới mộng du. Sự thật đêm qua vẫn khiến tôi chưa hết bàng hoàng. Tôi đã quen với việc có An bên cạnh. Với tôi, đó không hẳn là trách nhiệm, mà còn là một niềm vui. Ở bên An, tôi có cảm giác như mình được tiếp thêm nhiều nghị lực và sự lạc quan trong cuộc sống. Và trên hết, tôi yêu cuộc sống luôn có An kề bên.
Vậy nên, tôi nói với An rằng, tôi sẽ không bỏ đi đâu cả. Tôi vẫn sẽ ở bên cạnh anh như chúng tôi đã từng như thế. Làm sao tôi có thể yên tâm khi để anh lại thị trấn một mình và theo đuổi đam mê từng bỏ dở chứ?
Chúng tôi, những kẻ mang trong lòng nhiều bí mật. Những bí mật được che đậy một cách khéo léo và kỹ càng. Nhưng rốt cuộc chẳng mang đến bất cứ an yên nào cả. Trái lại, nó khiến chúng tôi rơi vào trạng thái của sự mặc cảm, tội lỗi và dằn vặt. Chúng tôi bỗng dưng trở thành những con người tội nghiệp lên phần đời của nhau.
Ngày nắng, tôi nắm tay An chạy về phía biển. Dù cho sự thật năm ấy đã được sáng tỏ, nhưng đồng thời cũng mở ra một sự thật mới. Tôi nhận ra rằng, An là một phần quan trọng mà cuộc sống của tôi mang lại. Đó không còn là một trách nhiệm ràng buộc nào đó mà tôi vẫn hay lầm tưởng nữa.
Những ngày mùa hè khi tôi mười tám tuổi, chúng tôi cùng nhau thả những ngọn đèn trời, nhưng với một niềm tin đã khác trước.
