Kể từ thời nhà Hán (cả Tây Hán lẫn Đông Hán) bị diệt vong, đất nước Trung Hoa trải qua một thời kỳ hết sức hỗn loạn. Sau thời kỳ Tam quốc là thời Nam Bắc triều, trải dài từ năm 220 đến năm 618 mới được hưởng thái bình dưới thời nhà Đường, một triều đại khá huy hoàng nhờ ở sự anh minh của gia tộc họ Lý mà khởi đầu là Lý Uyên. Thế nhưng triều đại nhà Đường cũng gặp không ít hỗn loạn bởi sự thao túng của người đàn bà nổi tiếng, đó là Võ Tắc Thiên. Sau khi Võ Tắc Thiên mất, đất nước vẫn chưa phục hồi lại được thịnh trị như trước, qua các đời Đường Trung tông, Huệ tông, đến đời Đường Huyền tông mới xuất hiện một vị tướng soái tài danh, xứng đáng được ghi danh vào sử sách. Vị tướng soái ấy tên là Quách Tử Nghi.
Quách Tử Nghi sinh vào năm 697 tức vẫn còn trong thời gian Võ hậu Võ Tắc Thiên cai trị với quốc hiệu là Chu. Ông cũng là vị tướng soái có số tuổi xếp vào loại thọ nhất, trải qua bốn đời vua từ Huyền tông, Túc tông, Đại tông rồi đến đời Đường Đức tông mới mất, vào năm 781.
Quách Tử Nghi là người huyện Trịnh thuộc Hoa châu, được trời đất ban cho thân hình cao lớn, diện mạo oai phong đầy đặn. Khi lớn lên, người ta lại nhận thấy tính tình của ông cũng can đảm khác người, trung trực dám nói dám làm, không hề cúi đầu trước cường quyền. Thân phụ của ông là Quách Kính Chi, từng giữ chức Thứ sử ở triều Huyền tông nên có hoàn cảnh khá tốt để học hành đầy đủ. Thế nhưng ngay lúc còn nhỏ, ngoài sách vở Thư, Thi, ông lại tỏ ra ham thích các sách viết về binh pháp, hay cùng chúng bạn luyện tập võ nghệ.
Đến lúc trưởng thành, Quách Tử Nghi vừa làu thông binh pháp vừa giỏi về văn chương nên về sau rất ý hợp tâm đầu với nhà thơ nổi tiếng Lý Bạch. Thời gian mà Quách Tử Nghi khôn lớn rơi vào đúng đời Đường Huyền tông, được gọi là “Khai Nguyên chi trị”. Khi ấy đất nước giàu mạnh yên ổn, nhân dân an hưởng thái bình nhưng Quách Tử Nghi vẫn nhìn ra được những hiểm họa từ phương bắc đưa tới đe dọa nền an ninh của đất nước, trong tâm đã hình thành ý tưởng muốn đem hết tài năng của mình ra bảo vệ biên cương.
Vì vậy khi vừa đủ tuổi, Quách Tử Nghi liền xin gia nhập quân ngũ. Với xuất thân quyền quý, ông được đưa vào đội cấm quân của Hoàng đế, giữ chức Tả vệ Trưởng sử. Được thỏa chí, ông dựa vào môi trường này lập nhiều chiến công khiến triều đình phải chú ý và muốn thăng cấp cho ông nhưng không có cơ hội bởi vì đất nước rất yên bình, hầu như không có nội loạn, tức không có công trạng thì làm sao có thể thăng cấp bừa bãi. Vì vậy nhân có tin đồn người dân tộc phương bắc đang có ý định quấy rồi biên cương, Quách Tử Nghi liền được điều động lên phía bắc giữ chức Thái thú Cửu Nguyên.
Nắm được binh quyền rồi, Quách Tử Nghi bắt đầu tổ chức thao luyện quân sĩ, củng cố thành trì suốt dọc theo biên giới, rất chú trọng đến những động thái của các dân tộc Nội Mông Cổ. Trong số các dân tộc thiểu số ấy, một dân tộc có tên gọi là Hồi Hột xuất hiện một thủ lĩnh đầy tài ba là Cốt Lực Bùi La. Ông này sau khi thống nhất được các bộ tộc liền sai sứ thần đến triều Đường xin đặt cơ quan hành chính cai trị. Đường Huyền tông Lý Long Cơ bằng lòng, phong cho Cốt Lực Bùi La làm Hoài Nhân Khả Hãn, chia đất Hồi Hột ra làm 6 phủ.
Cốt Lực Bùi La là người có chí lớn nhưng không tàn ác tham lam, ra sức kết hợp giữa hai quốc gia, thúc đẩy sự giao thương nên chẳng bao lâu đã trở thành một quốc gia khá cường thịnh nơi phương bắc. Đồng thời sự giao thiệp giữa hai nựớc Hồi Hột và Đường cũng rất tốt đẹp, đời Đường Túc tông còn đem Công chúa Văn Thành gả cho vị Khả Hãn để biểu lộ sự hảo hữu. Thế nhưng đồng thời với sự giao thương, vị Hoàng đế anh minh Lý Long Cơ vẫn không quên việc đề phòng ngoại xâm, lập ra các trấn dọc theo biên giới, dùng chính người dân tộc thiểu số cai trị để làm phên dậu.
Khi ấy có một tướng của Thổ Phiên nhưng gốc gác lại là người Đột Quyết tên là An Lộc Sơn được triều đình rất tín nhiệm. An Lộc Sơn vừa có sức mạnh muôn người không địch, lại khéo kết hợp được các bộ tộc về theo mình nên dần dần trở thành một lực lượng đáng kể. Để vỗ về An Lộc Sơn, triều Đường nhiều lần đến phủ dụ và hắn tỏ ra bằng lòng qui thuận nên được phong làm Phiên tướng một trấn. Từ đấy trở đi An Lộc Sơn ra sức mua chuộc quan lại triều đình, bày tỏ lòng trung thành bằng nhiều lễ vật quý hiếm, lại ra sức tiễu trừ bọn thổ phỉ suốt vùng phía bắc nên chẳng bao lâu Đường Huyền tông thăng lên làm Tiết Độ sứ nắm giữ cả 3 phiên trấn, gồm có Bình Lư, Phạm Dương và Hà Đông.
An Lộc Sơn bề ngoài hết sức cung kính với Huyền tông, thường biểu lộ lòng trung thành mỗi khi có mặt ở triều đình nhưng thật sự hắn có dã tâm rất lớn, lợi dụng chức vụ Tiết Độ sứ được toàn quyền nắm binh mã 3 trấn mà ra sức chiêu mộ quân binh, bí mật huấn luyện thật tinh thục. Để che giấu tai mắt triều đình, An Lộc Sơn thường lấy cớ về Trường An dâng tặng Huyền tông những thứ quý hiếm, thực sự là có ý muốn thông đồng với các đại quan làm tay chân và dò xét tình hình triều chính ra sao, nếu có cơ hội sẽ tiến hành tranh đoạt giang sơn. Tiếc rằng lúc ấy Đường Huyền tông Lý Long Cơ quá thỏa mãn về đại nghiệp của mình nên hoàn toàn không để ý đến những dấu hiệu nguy hiểm ấy. Ông lại là vị Hoàng đế rất đa tình, tuy có nhiều Phi tần xinh đẹp tuyệt thế như Mai phi, Quắc phu nhân nhưng vẫn mê luyến một mỹ nhân tên là Dương Ngọc Hoàn. Mỹ nhân họ Dương vốn là con dâu của Huyền tông, tức vợ của Thọ vương Lý Mạo, thế mà chỉ một lần gặp mặt vị Hoàng đế anh minh kiêu hùng ngày nào trở thành u mê, quyết định cướp vợ của con với sự giúp đỡ tận tình của tên gian thần Cao Lực Sĩ.
Khi đã cướp được mỹ nhân rồi, Huyền tông lập tức phong cho nàng là Quý phi, từ đấy thường bê trễ triều chính, suốt ngày đêm thưởng hoa vịnh nguyệt với người đẹp trong cung cấm. Để vừa lòng mỹ nhân, Huyền tông còn không tiếc tiền bạc triệu mời một danh sĩ nổi tiếng là Lý Bạch về cung, chế tác những bài hát cung đình phục vụ thâu đêm suốt sáng.
Có thể nói, vì mê đắm nữ sắc mà bắt đầu Đường Huyền tông, thường được ca tụng sự sáng suốt bằng tên Đường Minh hoàng - bắt đầu trở thành một vị Hoàng đế mê muội nhất thời nhà Đường. Chẳng những Huyền tông bỏ bê triều chính mà còn nghe lời ỏn thót của mỹ nhân, đưa một người anh họ hàng tên là Dương Khâm lên làm Tể tướng. Lúc đó lại có tên gian thần Lý Lâm Phủ hết sức thâm hiểm, đối chọi tranh giành quyền lực với Dương Khâm, làm cho triều chính càng ngày càng hủ bại.
Nhờ vào việc xu nịnh, Dương Khâm được Huyền tông khen ngợi và đổi tên là Dương Quốc Trung. Hắn tuy ít học hành nhưng là người sắc bén, xuyên qua các sự việc liền nhận ra dã tâm của An Lộc Sơn, nhiều lần dâng tấu xin Huyền tông hãy tước bớt binh quyền hoặc triệu hắn về kinh trao cho chức vụ gì đó, gọi là thăng cấp nhưng thật sự giam chân hắn ở kinh thành để dễ bề đề phòng. Tiếc rằng Huyền tông quá tin tưởng An Lộc Sơn, bao nhiêu sớ tấu của Dương Quốc Trung đều vất bỏ, còn nói:
– An Lộc Sơn là danh tướng trụ cột của triều đình, lại nhận ta là nghĩa phụ thì đời nào phản bội. Việc huy động quân mã nơi biên cương chẳng qua chỉ muốn tăng cường để trấn áp bọn người Hồ mà thôi.
Thật sự khi ấy quân đội của triều Đường quá nhàn nhã nên hết sức bạc nhược, chỉ còn một số quân binh ngoài biên trấn do các tướng có tài như Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật nắm giữ là được huấn luyện kỹ càng. Thế nhưng cũng có lần Quách Tử Nghi về triều, dâng tấu thư xin Huyền tông xem lại tư cách của An Lộc Sơn bởi có tin đồn rất khả nghi. Thế nhưng tấu thư này bị Lý Lâm Phủ giấu nhẹm. Sau khi Lý Lâm Phủ chết rồi, Dương Quốc Trung mới biết việc này nên mới tâu xin với Huyền tông như vậy.
Dương Quốc Trung vẫn cố nài xin, bất đắc dĩ Huyền tông phải sai một cận thần đi dò xét nhưng tên này nhận tiền bạc đút lót của An Lộc Sơn, khi về triều tâu những điều tốt cho hắn. Dương Quốc Trung bị trách mắng nên rất tức giận, quyết định một ván bài then chốt. Đó là không hề tâu trước với Huyền tông mà đột ngột đem quân bao vây phủ đệ của An Lộc Sơn ở kinh đô, xông vào tra xét tìm giấy tờ liên quan đến ý đồ phản bội triều đình.
Bọn quân trung thành với An Lộc Sơn quyết chống trả đến cùng, không cho Dương Quốc Trung làm việc phi pháp, vì vậy xảy ra xung đột dữ dội; và tất cả quân của An Lộc Sơn đều bị Dương Quốc Trung giết sạch. Tuy vậy, kết quả Dương Quốc Trung cũng tìm được một số bằng chứng, vui mừng mang về dâng cho Huyền tông để chứng minh rằng mình không sai. Nghe tin này, An Lộc Sơn cả sợ, còn chưa biết toan tính ứng phó ra sao thì một bộ tướng là Sử Tư Minh liền hiến kế sách lấy danh nghĩa “trừ gian thần” tức Dương Quốc Trung, ép quân về triều rồi tùy cơ ứng biến, nếu có thể thì chiếm luôn ngai vàng.
An Lộc Sơn liền nghe theo, điểm 15 vạn quân mã nhưng phô trương lên thành 20 vạn đang đóng ở Phạm Dương kéo rốc xuống phía nam. Vì quân tướng nhà Đường không hề ngờ tới mà cũng chẳng có phòng thủ chút nào nên An Lộc Sơn tiến nhanh như vũ bão, chẳng bao lâu đã vượt sông Hoàng hà.
Thế nhưng sau những thất bại liên tiếp ấy, các tướng trấn giữ ở Hà Bắc bắt đầu hoàn hồn, thu nhặt quân mã chuẩn bị chống đỡ. Ngay lúc ấy lại nghe được tin Huyền tông phong cho Quách Tử Nghi làm Đại tướng, có quyền điều động toàn bộ quân đội thì ai nấy đều vui mừng bởi danh tiếng của ông đã được nhiều người nghe biết. Địa đầu tiến vào Trường An là Đồng Quan do lão tướng Ca Thư Hàn chỉ huy, cũng phấn khởi với tin này nên khi An Lộc Sơn đánh phá thì hết lòng chống đỡ, quả nhiên cầm chân được loạn quân. Trong khi ấy Quách Tử Nghi cũng điều động quân đội của mình lên phía bắc, tức là An Lôc Sơn bị lâm vào thế hai đầu thụ địch, đành phải đóng lại ở Lạc Dương, tự xưng là Hoàng đế, lấy tên nước là Đại Yên.
Trường An lại yên vui như trước và Huyền tông lại cùng Dương Quý phi ngày ngày ca xướng điệu Nghê thường. Thế nhưng Huyền tông lại vấp phải sai lầm chết người, đó là khi Ca Thư Hàn báo tin về cho biết đã chiêu mộ được hơn 20 vạn quân. Huyền tông cả mừng, lập tức xuống lệnh cho viên lão tướng này tiến đánh, chiếm lại Lạc Dương. Đây là sai lầm chết người là vì quả thực dưới tay Ca Thư Hàn có 20 vạn quân nhưng chưa hề được huấn luyện, thêm vào đó Ca Thư Hàn đã quá già yếu bệnh tật, lên tới chức Tướng chỉ nhờ vào ở trong quân ngũ lâu năm, hiền lành không làm mất lòng triều thần mà thôi.
Nhận được chiếu thư, Ca Thư Hàn tự biết mình không phải là đối thủ của An Lộc Sơn, trước khi động binh quay mặt về hướng Trường An, quỳ xuống khóc lạy vĩnh biệt Hoàng đế. Quả nhiên, quân đội của An Lộc Sơn vốn tinh nhuệ, lại hầu hết là người dân tộc Mông Cổ rất thiện chiến nên chỉ sau mấy trận đã đánh bại đại quân của Ca Thư Hàn ở Đồng Quan, bắt sống vị lão tướng này. Đúng ra An Lộc Sơn đã tạm hài lòng với danh vị Hoàng đế Đại Yên, nhân dịp chỉnh đốn binh mã rồi mới tính tiếp đến việc tiêu diệt nhà Đường. Nhưng vì việc Ca Thư Hàn tiến đánh, hắn nổi giận, quyết định kéo hết đại quân tiến về Trường An với khí thế hết sức hung hãn.
Nghe tin Ca Thư Hàn đại bại, chẳng bao lâu loạn quân sẽ tiến về kinh thành, toàn bộ từ Hoàng đế cho tới người dân Trường An rơi vào hỗn loạn, vương tôn quý tộc cùng với kẻ bình dân đua nhau gom góp tài vật, lên xe ngựa tháo chạy. Quân tướng nhà Đường đóng ở Trường An cũng bị tình hình làm tiêu tan ý chí chiến đấu, bỏ hàng ngũ khá nhiều. Dương Quốc Trung không còn cách nào khác, đành phải vào tâu xin Đường Huyền tông tạm thời lui về đất Ba Thục, hội họp quân tướng xong sẽ tái chiếm sau.
Bất đắc dĩ Huyền tông phải nghe theo. Ngày 12 tháng 6 năm Thiên Bảo thứ 15, Huyền tông thiết triều tuyên bố việc bỏ chạy, để kinh thành cho Thái tử Lý Hanh trấn thủ. Gia tộc họ Dương cũng thu xếp chạy theo, họp với đoàn xe hoàng gia thành một dãy dài, lục tục kéo về hướng vùng đất cằn cỗi, lởm chởm núi đá của Ba Thục. Thế nhưng khi đoàn xe đi đến dịch trạm Mã Ngôi thì toàn quân triều đình nổi lên làm loạn, đòi Hoàng đế phải giết Dương Quý phi và Dương Quốc Trung mới đồng lòng ra sức đánh đuổi quân thù. Vị Hoàng đế triều Đường năm ấy đã 60 tuổi, đau khổ sai Cao Lực Sĩ mang tấm lụa ban cho mỹ nhân họ Dương, sau đó rơi nước mắt mà đi đến Ba Thục.
Sau khi An Lộc Sơn chiếm được Trường An, tên này bỏ mặc quân tướng dưới quyền hoành hành, chém giết nhân dân, cướp đoạt tài sản, đốt phá đình miếu nhà cửa khiến chính những người dân không võ khí cũng phải căm tức mà tự đứng lên tổ chức chống lại. Kết hợp với lòng dân, một số quan tướng vùng Hà Bắc tuy đã thất thủ nhưng vẫn rút lui kịp thời, kêu gọi mọi người gia nhập quân ngũ để chờ thời cơ tiêu diệt loạn quân. Đáng kể nhất là viên Thái thú tên Nhan Cảo Khanh đã dùng lực lượng của riêng mình chống trả rất quyết liệt và còn thu hồi được một số thành trì đã bị mất. Thế nhưng vì không có tiếp viện, cuối cùng Nhan Cảo Khanh bị An Lộc Sơn dồn hết lực lượng bao vây và bắt giết được ông.
Lúc đó Thái tử Lý Hanh cũng đã bỏ Trường An chạy về Ninh Vũ. Để có danh chính ngôn thuận, triều đình khuyên Thái tử lên ngôi Hoàng đế, xưng hiệu là Đường Túc tông. Với danh nghĩa này, Túc tông hạ lệnh cho Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật cùng kết hợp với nhau chống giặc.
Nguyên trước kia Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật đều là Phó tướng của An Tử Thuận nhưng tính tình hai người rất xung khắc, nhiều lúc cùng ngồi một xe, ăn uống chung một tiệc mà vẫn như cừu địch, không bao giờ nói chuyện với nhau. Khi Túc tông phong cho Quách Tử Nghi làm Đại tướng thay thế An Tử Thuận thì Lý Quang Bật rất lo lắng ông sẽ dùng chức vụ ấy mà hãm hại mình, thẳng thắn đến gặp Quách Tử Nghi rồi nói:
– Tôi dù sống chết cũng không quan tâm, chỉ xin ông rộng lượng đừng hại đến vợ con tôi, là những người vô tội mà thôi.
Quách Tử Nghi liền bước xuống cầm tay Lý Quang Bật, rơi nước mắt mà nói:
– Tôi đâu có dám vì thù riêng mà hại ông, đừng nói đến vợ con. Hiện giờ đất nước loạn lạc, vua tôi cùng nhau lo lắng để đừng bị mang tiếng nhục nhã với đời sau. Nếu không có ông giúp cho một tay thì sao tôi có thể gánh vác được việc thiên hạ?
Lý Quang Bật thấy vậy cũng khóc theo, từ đó hai người xóa bỏ những hận thù trước kia, chung lưng kết hợp chống với loạn quân khiến An Lộc Sơn không sao chống lại nổi. về sau cũng chính Quách Tử Nghi đề bạt cho Lý Quang Bật giữ chức Tiết Độ sứ.
Khi đã hiểu nhau rồi, Quách Tử Nghi sai Lý Quang Bật dẫn trung quân tiến thẳng đến chiếm lại thành Thường Sơn, riêng mình thì bí mật theo đường nhỏ đánh bọc hậu. Lúc ấy Sử Tư Minh đang trấn giữ Thường Sơn, tuy quân số rất hùng hậu nhưng bị khí thế của hai tướng triều đình làm cho nhụt chí, chỉ sau mấy trận đánh đã hoảng hốt bỏ chạy về Hoàn Dương.
Trận đánh ở Hoàn Dương cũng diễn tiến gần giống như vậy, với cách hành binh thần tốc và bí mật của Quách Tử Nghi, quân phiến loạn không thể nào ngờ được. Một lần nữa Sử Tư Minh đành phải cúi đầu bỏ chạy về Phạm Dương, quân binh tử trận hơn phân nửa. An Lộc Sơn nghe tin này rất tức giận, lập tức gom góp toàn bộ kỵ binh tinh nhuệ, lên tới 20 vạn, tiến đánh chiếm lại Hoàn Dương.
Quách Tử Nghi cùng Lý Quang Bật xem xét tình hình, biết rằng về mặt kỵ binh thì bọn loạn quân đa số là người thiểu số phương bắc thiện nghệ hơn, không nên dùng sở đoản của mình đánh với sở trường của bọn chúng. Đối phương lại phải điều động từ xa đến tất mệt mỏi, do vậy có thể dùng kế sách cố thủ, làm cho tinh thần quân giặc suy yếu, cùng lúc đó sử dụng du kích mà đánh phá, khi đã có thời cơ mới nên đối chiến đạt thắng lợi.
Đó chính là tư tưởng mưu lược của họ Quách, vận dụng một cách linh hoạt, khi thế giặc hùng mạnh thì cố thủ, khi giặc lơi lỏng thì đánh úp, ban ngày nghỉ ngơi, ban đêm thừa cơ tùy chỗ mà đánh phá. Riêng trong hoàn cảnh chống với An Lộc Sơn, kế sách này của Quách Tử Nghi tỏ ra rất hiệu dụng, chẳng bao lâu lòng quân của hắn đã loạn xạ, không còn tinh thần chiến đấu nữa.
Khi ấy Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật mới quyết định dồn sức tiến đánh. Quả nhiên liệu định của hai tướng đều chính xác, qua mấy trận đại thắng đã đẩy lùi quân của An Lộc Sơn đến Bác Lăng, Hà Bắc. Thành Bác Lăng được xây dựng rất kiên cố nên Quách Tử Nghi không tham đánh mà hao tổn quân sĩ, cũng lui về trấn giữ Hoàn Dương, tạo thế kềm hãm không để cho An Lộc Sơn có dịp tung hoành.
Đồng thời ông vẫn cho quân dùng du kích chiến đánh phá khiến quân phản loạn hết sức mệt mỏi. Dưới sự lãnh đạo của Quách Tử Nghi, dân chúng khắp nơi nô nức đến xin tham gia, chẳng mấy chốc đã được thêm mấy vạn quân. Thấy thời cơ đã tới, Quách Tử Nghi bèn hiệu triệu quân tướng rồi mở màn cho trận đánh Bác Lăng nổi tiếng. Trong trận này Sử Tư Minh bị trọng thương, quân sĩ bị tiêu diệt gần hết nên tiếng đồn vang xa, các châu huyện nơi Hà Bắc cũng đồng thanh nổi dậy đánh phá, giết bọn cầm đầu làm cho tình hình của An Lộc Sơn suy yếu hẳn.
Trong khi Quách Tử Nghi đối đầu với Sử Tư Minh thì Túc tông cũng sai một tướng khác là Phòng Quản tái chiếm Trường An. Thế nhưng Phòng Quản là một người bất tài vô tướng, tính tình kiêu ngạo làm cho nhận xét về địch quân sai lầm, dùng “chiến xa” do trâu kéo để đối phó với kỵ binh người Hồ. An Lộc Sơn cũng rất tinh thông binh pháp, lập tức sử dụng hỏa công khiến những con bò hoảng loạn, quay ngược lại đạp giẫm lên quân sĩ nhà Đường, chết vô số.
Trước tình hình như vậy, cuối cùng Túc tông đành phải cấp tốc triệu Quách Tử Nghi đến Linh Vũ giao cho chức Đại tướng, nắm toàn bộ binh quyền để tái chiếm lại hai kinh thành Tây Kinh Trường An và Đông Kinh Lạc Dương. Để hoàn thành nhiệm vụ này, Quách Tử Nghi khôn ngoan cho quân đánh chiếm Đồng Quan trước, thế là cắt đứt đường liên kết và rút lui của bọn phản loạn. Thừa thế đang thắng, Túc Tông lại giao cho Quách Tử Nghi 15 vạn quân, giữ chức Tổng Binh Nguyên soái, cho Lý Tự Nghiệp làm Phó tướng, đại quân rầm rộ tiến thẳng đến Trường An với mục tiêu là phải lấy lại kinh đô làm bàn đạp tái chiếm Lạc Dương.
Trận đánh dữ dội xảy ra ngoài thành Trường An, đôi bên ngang ngửa nhưng quân nhà Đường có khí thế hơn nên cuối cùng đại thắng mấy trận, buộc bọn chúng phải vào thành cố thủ. Thế nhưng để chiếm được Trường An là vấn đề khá hóc búa và phải có thời gian lâu dài. Quách Tử Nghi và Lý Tự Nghiệp bèn bàn soạn một kế sách, vẫn đưa quân đánh phá nhưng cùng lúc sai một số quân lo về lương thực, tính kế lâu dài. May sao lúc đó trong nội bộ bọn phản loạn xảy ra biến cố, An Lộc Sơn bị chính con trai của mình là An Khánh Tự giết chết, toàn quân tướng của hắn trở nên đại loạn.
Nghe tin này, Quách Tử Nghi nắm lấy thời cơ, lập tức cho quân đánh thật rát khiến quân phản loạn hết sức kinh sợ, cuối cùng tự bỏ khỏi giáp mà chạy trốn. Tái chiếm Trường An thành công là một bước ngoặt lớn trong đời Quách Tử Nghi, ông trở thành người nổi tiếng mà tất cả triều đình đều đăt hy vọng vào ông.
Lúc Túc tông dời về Trường An thì An Khánh Tự cũng đã chạy đến Lạc Dương cố thủ. Túc tông quyết định không để quân giặc có thời gian hồi phục, xuống lệnh cho Quách Tử Nghi tiếp tục kéo đại quân thẳng tới Lạc Dương. Lần này An Khánh Tự đã sợ hãi nên bố trí rất nghiêm mật, sai quân dựa lưng vào núi để cố thủ. Thế nhưng Quách Tử Nghi còn quyền biến hơn nhiều, ông mau chóng nghĩ ra kế sách đánh bại quân địch, đó là nhờ dựa vào số 5000 quân Hồi Hột đã mượn được của Khả Hãn. Quân Hồi Hột rất thiện về việc leo trèo núi cao nên cùng lúc tấn công chính diện, Quách Tử Nghi cho quân Hồi Hột lẻn ra phía sau, đi đường núi đánh úp phía lưng bọn chúng.
Bị bất ngờ, quân của viên tướng Nghiêm Trang đều hoảng hốt, thi nhau bỏ chạy, bị quân triều đình truy đuổi chém chết rất nhiều. Khi chạy về đến Lạc Dương, Nghiêm Trang không còn hột máu hổn hển thúc hối An Khánh Tự mau mau bỏ chạy. Thế là tên gian ác giết cha này cũng hoảng hốt theo, vội vàng ra lệnh rút binh khỏi Lạc Dương, chạy trối chết qua Hoàng hà để về Tương châu.
Hai chiến thắng liên tiếp khiến Túc tông vô cùng xúc động, tự thân đến Bá Thượng khen ngợi và ban thưởng cho Quách Tử Nghi. Sau khi chỉnh đốn hai kinh thành yên ổn, Túc tông mới sai người đến Ba Thục đón Huyền tông trở về, tôn lên làm Thái Thượng hoàng.
Từ đó danh tiếng của Quách Tử Nghi có uy lực chấn động cả phương bắc, những bộ tộc theo phe An Lộc Sơn trước kia đều xin rút lui khiến lực lượng của con trai hắn càng lúc càng lụn bại mặc dù vẫn còn mấy huyện ở Nghiệp quận và Sử Tư Minh bị trọng thương nhưng không chết, vẫn cố thủ ở Phạm Dương. Hai tên này sau khi hồi sức thì vẫn còn tham vọng, một lần nữa hợp binh kéo đến uy hiếp Lạc Dương.
Lần này Túc tông cũng u mê chẳng khác Thái thượng hoàng Huyền tông, rất sủng ái một tên hoạn quan là Ngư Triều Ân, giao cho hắn chức thống lãnh 9 đoàn quân của 9 Tiết Độ sứ, trong đó có cả quân của Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật. Với lo lắng chức vụ Tiết Độ sứ đã quyền hạn lớn rồi, Túc tông không hề phong cho ai làm Nguyên soái, để mặc tình Ngư Triều Ân chỉ huy. Vì vậy quân triều đình tuy đông gấp bội quân địch, lại có những tướng lãnh tài ba nhưng vẫn không sao kết hợp nhau được, mấy trận đều thất bại.
Ngư Triều Ân chỉ huy đại quân thất bại, thế mà vẫn được Túc tông khen ngợi, thành ra hắn càng thêm kiêu ngạo, trong ý muốn trừ diệt Quách Tử Nghi để không còn ai cản trở sự thao túng của hắn nữa. Hắn liền đổ hết tội lên đầu họ Quách, giáng chức không cho nắm binh quyền nữa.
Nội bộ của triều Đường rối loạn nhưng của đối phương cũng không yên ổn. Khi ấy Sử Tư Minh bất mãn An Khánh Tự, lén giết chết ông ta rồi tự lên ngôi Đại Yên Hoàng đế. Hắn chiêu mộ thêm binh mã rồi đến năm 759 kéo quân đến Lạc Dương đánh phá. Khi ấy không còn vị Tiết Độ sứ nào có tài năng trấn giữ, chẳng bao lâu Lạc Dương đã thất thủ. Sử Tư Minh chiếm được lạc Dương không lâu thì nội bộ lại phát sinh cố, đứa con trai của hắn là Sử Triều Nghĩa theo gương An Khánh Tự giết chết cha mình chiếm ngôi.
Trong tình thế ấy bắt buộc Túc tông phải gọi Quách Tử Nghi ra cầm quân nhưng vẫn không hề tin tưởng mà giao cho Ung vương Lý Thích làm Nguyên soái, Quách Tử Nghi chỉ được làm Phó tướng. Thế nhưng Quách Tử Nghi tự biết số quân triều đình không thể nào tiêu diệt được bọn Sử Triều Nghĩa, tự thân ông đi vận động và mượn được 10 vạn quân Hồi Hột. Nhờ vậy Sử Triều Nghĩa đại bại, phải chạy về Mạc châu ẩn trốn.
Hắn cũng không được yên thân bởi qua năm sau mấy tên bộ tướng như Điền Thừa Tự, Lý Hoài Tiên, v.v... liên tiếp nhau về đầu hàng triều đình. Sử Triều Nghĩa không còn bao nhiêu quân tướng trong tay, cùng đường tắc lối nên tự vẫn mà chết. Thế là cuộc chiến loạn An Lộc Sơn - Sử Tư Minh hoàn toàn bị Quách Tử Nghi dẹp tan, phải mất đến hơn 7 năm khiến toàn đất nước lâm vào cảnh đói khổ điêu linh. Từ đó triều nhà Đường bắt đầu tiến trình lụn bại và kéo dài cho đến khi đất nước hình thành các triều đình nho nhỏ gọi là thời Ngũ Đại.
Khi Quách Tử Nghi vừa mới đem quân ra khỏi kinh thành mấy ngày thì Túc tông chết, lên nối ngôi là Thái tử Lý Dự, xưng hiệu là Đường Đại tông. Triều Đường cũng chưa phải là được yên ổn, vì bao nhiêu quân tướng trấn giữ biên cương phía tây bắc đã điều động đi đánh dẹp “An Lộc Sơn chi loạn” nên biên cương hầu như bỏ trống, nhân cơ hội đó thế lực quân phiệt của người Thổ Phiên liền tấn công và chiếm được Phụng Thiên.
Một lần nữa Đại tông phải nhờ đến tài ba của Quách Tử Nghi, sai ông mau chóng điều quân đi đánh dẹp. Thấy số quân của mình quá ít, Quách Tử Nghi nhiều lần tâu xin thêm nhưng tất cả đều bị tên gian thần Trình Nguyên Chấn giấu đi, vì vậy Quách Tử Nghi không sao chống đỡ nổi, phải từng bước rút lui. Cuối cùng quân Thổ Phiên kéo đến Trường An uy hiếp. Bất đắc dĩ Đại tông phải cùng quần thần chạy về Lạc Dương châu lánh nạn. Các lộ quân triều Đường đóng ở Trường An và Thương châu nghe tin này đều tự động bỏ hàng ngũ.
Khi Quách Tử Nghi tới kịp, ông ra sức kêu gọi và tụ tập các quân tướng đào ngũ để lập lại trật tự. Đã nghe danh tiếng Quách Tử Nghi từ lâu, nay nghe ông kêu gọi lập tức các đào binh đều trở về. Nắm được sốquân ấy, Quách Tử Nghi quyết định sử dụng một kế sách thần diệu, gọi là “Thanh đông kích tây”. Ông sai tướng Trưởng tôn Toàn Tự dẫn quân đến Lam Điền khiêu khích, mở cờ đánh trống dữ dội, thật sự quân chủ lực của Quách Tử Nghi đi vòng ra phía tây bất ngờ đánh thẳng vào thành. Quân Thổ Phiên trở tay không kịp, đại bại thi nhau chạy trốn và Lam Điền được giải tỏa mở đường cho toàn quân nhà Đường tái chiếm lại Trường An. Tuy nhiên Đại tông không về kinh thành mà nghe lời xúi bẩy của Trình Nguyên Chấn, đóng đô luôn ở Lạc Dương.
Quách Tử Nghi sáng suốt biết ngay đó là mưu kế của Trình Nguyên Chấn muốn loại bỏ mình nên lập tức dâng tấu thư thẳng thắn vạch ra sai lầm nếu như đóng đô ở Trường An. Dù đang sủng ái Trình Nguyên Chấn nhưng Đại tông vẫn nhận ra những lý lẽ của ông hoàn toàn đúng đắn, vào năm 764 quyết định dời triều đình về Trường An.
Thế nhưng sự bình yên vẫn chưa đến, lúc đó một viên Tiết Độ sứ vùng Lũng Hữu là Phốc Cố Hoài Ân nhân cơ hội triều đình nhà Đường đang rối loạn thì nổi lên tham vọng muốn làm vua một cõi. Hắn khôn khéo mượn quân của Thổ Phiên và Hồi Hột để đánh phá, chẳng bao lâu lại uy hiếp Trường An. Tuy Quách Tử Nghi bị bọn gian thần sợ hãi gièm pha rất nhiều nhưng Đại tông vẫn không còn cách nào khác là phải giao toàn bộ binh quyền cho ông, phong làm Nguyên soái dẫn quân đi đánh dẹp loạn Phốc Cố Hoài Ân.
Nhiều năm trấn thủ biên cương, Quách Tử Nghi có mối giao tình rất hậu với người Hồi Hột nên nhân cơ hội này thuyết phục bọn họ không giúp cho Phốc Cố Hoài Ân nữa. Thế là hắn sức tàn lực kiệt, sợ hãi chạy trốn về Linh châu, quân của Quách Tử Nghi không cần đánh cũng dẹp tan được nội loạn.
Bề ngoài thấy sự việc có thể dễ dàng, thật sự nếu như danh tiếng và đức độ của Quách Tử Nghi không vang dội khắp nơi và được người Hồi Hột kính nể thì không dễ gì vài ba lời nói mà thuyết phục được bọn chúng. Điều này có thể chứng tỏ vào lần thứ hai khi Phốc Cố Hoài Ân đem mấy chục vạn quân Hồi Hột tiến đánh Kinh Dương. Giữa đường hành quân thì tên phản bội này đột nhiên bị bệnh chết, đại quân Hồi Hột không có người chỉ huy cứ gặp đâu đánh phá đến đấy. Lúc ấy quân của Quách Tử Nghi đang bị kẹt ở Kinh Dương, tình thế không thể cùng lúc hai đầu chống trả nên Quách Tử Nghi quyết định dùng một kế sách khá mạo hiểm, đó là một mình một ngựa đến doanh trại quân Hồi Hột, lấy uy danh của mình ra thuyết phục bọn chúng rút lui.
Đầu tiên, ông cho người đến quân doanh Hồi Hột thuyết phục bằng đạo lý, lấy ân đức để phủ dụ. Thủ lãnh Hồi Hột là Thược Cát La nghe lời sứ giả lộ vẻ hoài nghi vì đã lâu lắm rồi không nghe nhắc đến tên tuổi của họ Quách, chỉ bằng lòng rút quân nếu thấy mặt thực sự như vậy.
Sứ giả về báo lại, Quách Tử Nghi lập tức nhảy lên lưng ngựa, dẫn theo chưa đến mười kỵ mã và không hề đem theo khí giới, chạy thẳng đến quân doanh Hồi Hột. Con trai Quách Tử Nghi cùng chư tướng đều lo lắng vì sự mạo hiểm này, hết lời khuyên can nhưng Quách Tử Nghi bình tĩnh nói: “Hiện tại chúng ta không còn cách nào khác hơn, một là mạo hiểm để cứu vãn tình thế, hai là hy sinh tính mạng báo đền cho quốc gia”.
Khi tới quân doanh Hồi Hột, Quách Tử Nghi ngẩng cao đầu hiên ngang bước vào, nét mặt không hề tỏ ra bối rối hay lo sợ khiến bọn quân sĩ Hồi Hột tự nhiên khiếp đảm, bỏ hết võ khí xuống. Lúc ấy, thủ lĩnh Hồi Hột là Thược Cát La đã nhìn thấy rõ ràng đúng là Quách Tử Nghi. Trước kia, một số dân Hồi Hột theo dưới trướng họ Quách đi chiến trận, chiến tích dẹp tan loạn An Lộc Sơn - Sử Tư Minh vẫn còn như mới hôm qua còn ghi trong trí nhớ. Quân tướng Hồi Hột liền đồng loạt quỳ xuống bái chào. Đôi bên nhìn lại nhau, nhớ lại tình cũ, ai nấy đều cảm động vô cùng vì đã bao nhiêu năm mới có dịp tương phùng.
Quách Tử Nghi đỡ mọi người đứng lên rồi kéo tay Thược Cát La, ân cần phủ dụ:
– Triều Đường đối xử tốt đẹp với các vị, giao tình riêng của chúng ta cũng sâu đậm, nay các vị bị người khác khích động xúi giục nên mới xảy ra tình trạng cùng nhau đối mặt trên chiến trường. Nếu các vị nghĩ lại đúng sai thì hãy cùng nhau bàn bạc việc rút quân, bằng không xử trí ta ra sao tùy ý.
Thược Cát La vội đáp :
– Xin Quách công chớ nói vậy, khi trước Phác Cố Hoài Ân nói ngài đã chết, nếu không chúng tôi nào dám chống lại? Hiện tại Hoài Ân đã chết mà chúng ta được tương phùng thì đâu còn là kẻ thù nữa?
Quách Tử Nghi cảm tạ mọi người rồi theo Thược Cát La vào quân trướng tiệc tùng. Nhân cơ hội ấy, Quách Tử Nghi thuyết phục được quân Hồi Hột tự nguyện trở giáo cùng đánh lui Thổ Phồn để chuộc lỗi lầm. Riêng Thổ Phồn vốn đóng trại cách đó không xa, nghe được tin này, lo sợ bị quân Đường và quân Hồi Hột đánh kẹp hai bên nên âm thầm lui quân ngay đêm hôm ấy. Lập tức Quách Tử Nghi hạ lệnh truy kích, Thổ Phồn đại bại, tử thương hơn năm vạn quân, bị bắt sống hơn một vạn. Mối lo biên cương do một mình một ngựa Quách Tử Nghi đã chấm dứt.
Kế sách của Quách Tử Nghi thể hiện trong tình huống một người một ngựa đánh lui quân Thổ Phồn, thu phục quân Hồi Hột là tổng hợp rất nhiều mưu trí, vừa ân vừa uy, vừa đại trí đại dũng, dùng lẽ phải khuất phục đối tượng, vào chỗ chết tìm lẽ sống, dùng uy vũ phục người, dùng hư đãi thực, nhờ vậy mới có kết quả tốt đẹp như vậy. Câu chuyện này điển hình cho mưu trí bỏ công sức ít mà đạt được thành công lớn lao.
Tuy nhiên người Thổ Phiên đã được vào đất Trung nguyên, nhìn thấy sản vật sung túc, đất đai màu mỡ, lắm vàng bạc châu báu thì không sao cầm được lòng tham, sau đó rất nhiều lần kéo binh xâm phạm. Tất cả đều bị Quách Tử Nghi đánh bại, đem lại bình yên suốt một vùng Quan Trung rộng lớn. Công lao của ông người dân nào cũng đều biết đến và hết lời ca tụng, chỉ riêng triều đình thối nát nhà Đường làm như không biết đến, không hề thăng chức hay ban thưởng, vẫn để ông phải vất vả lo toan ở biên cương. Quách Tử Nghi không vì vậy mà tỏ ra bực bội, vẫn một lòng trung thành, đem hết sức mình ra giúp dân giúp nước.
Khi Quách Tử Nghi đã vào khoảng 77 tuổi, tức là vào năm 774 thì triều đình mới phong cho ông tước Mân vương Quận vương, mãi đến khi Đại tông mất, con là Lý Thích lên nối ngôi, xưng hiệu Đức tông mới trao quyền Thái úy cho ông. Danh tiếng của Quách Tử Nghi khi ấy lẫy lừng cả trong và ngoài nước, hễ ông đi tới đâu thì nơi đó được bình yên. Thế nhưng ông cũng tự biết chức càng cao càng nhiều ghen ghét, nhiều lần từ chối đặc ân của triều đình, làm gương sáng thanh bạch cho thuộc hạ.
Vì vậy mà sau này chính sử cũng đã ghi nhận: “Ông (Quách Tử Nghi) là người có công lao trùm thiên hạ thế mà làm quan thanh liêm trung trực tới mức vua không dám nghi ngờ điều gì, địa vị cao trọng tột bậc mà không ai ganh ghét”. Suốt cuộc đời Quách Tử Nghi lấy phương châm trung thành và chính trực, không sợ cường quyền, không thiên vị bất cứ ai, cứ theo vương pháp mà xét xử nên chưa hề phạm một lỗi lầm gì dể cho bọn gian thần có cớ gièm pha. Ngay chính người con trai của ông phạm quân pháp cũng bị xử đúng với luật lệ.
Có thể nói, cả cuộc đời của vị danh tướng này đều là những vất vả nơi chiến trường, chỉ trừ một thời gian ngắn khi đã già yếu làm việc ở triều đình. Từ khi tham gia quân đội, Quách Tử Nghi đã là một vị tướng nhiều tài năng, chỉ đến khi cuộc biến loạn An Lộc Sơn nổ ra, tài năng của ông mới được bộc lộ, lấy thân mình và sự tận tụy suốt 30 năm gánh gồng cho triều đình nhà Đường thoát qua biết bao nhiêu cơn nguy cấp.
Với trí mưu quyền biến kết hợp với đức độ của mình, không ít lần Quách Tử Nghi đã không phải tốn sức vẫn dẹp yên được nội loạn. Đó là lý do tại sao tên tuổi của ông rất ít khi được hậu thế nhắc đến ngoài cuộc binh biến An Lộc Sơn. Thật sự Quách Tử Nghi là nhà quân sự rất thông thạo binh pháp nên trước tiên vận dụng các yếu quyết trong binh pháp để giải quyết vấn đề, cuối cùng không sao được mới phải dùng tới sức mạnh quân sự. Trong các trận chiến, người ta có thể thấy ông tùy hoàn cảnh mà sử dụng kế sách theo binh pháp hết sức linh hoạt, có lúc lấy nhàn nhã đánh mệt mỏi, có khi dùng kế “Dương đông kích tây”, có lúc lại đánh bất ngờ làm cho quân địch trở tay không kịp. Hầu như các chiến thắng của ông đều lấy ít đánh nhiều, đó là chiến lược tài tình nhất của người cầm quân, không nhất thiết quân số phải nổi trội hơn đối phương mới thắng trận.
Vị Hoàng đế hôn ám Đường Đại tông đến khi chết mới nhận ra tài năng và đức độ cùng với tấm lòng trung thành của ông và di chiếu để lại nhờ ông phò tá cho con mình lên ngôi. Quả nhiên di chiếu này đã được Quách Tử Nghi tiến hành rất nghiêm túc, tang lễ Đại tông tiến hành suôn sẻ dưới sự giám sát của Quách Tử Nghi, không hề có sự cố gì xảy ra. Do vậy khi Đức tông lên ngôi rồi cũng phải công nhận ông xứng đáng là nguyên lão bốn triều, tôn xưng ông làm Thượng phu, cho giữ chức Trung Thư lệnh, tức ngang hàng với Thừa tướng, được quyết định những điều quan trọng nhất của triều đình.
Với chức vị này, Quách Tử Nghi vẫn không hề kiêu ngạo, đối xử với triều thần rất khiêm tốn, ai ai cũng kính phục, ông cũng đem hết sức mình ra vực dậy một triều đại đã có dấu hiệu suy tàn nhưng không sao cãi được số mệnh. Đến năm 781, Quách Tử Nghi mất. Thọ 85 tuổi, được Đức tông truy phong làm Thái sư. Đây là vinh dự chưa một tướng soái nào các triều đại được ban hưởng như vậy. Ông mất đi hoàn toàn thanh thản, để lại một gia đình rất nhiều con cháu, đều được làm quan, mang tài năng ra giúp dân giúp nước. Lương tâm ông không hề hối tiếc điều gì bởi đã cống hiến toàn bộ tài sức của mình cho quốc gia, xứng đáng là vị tướng soái mẫu mực để hậu thế noi theo.