12 Tướng Soái Trung Hoa

Lượt đọc: 61 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7 VỆ THANH - GIỮ VỮNG BIÊN CƯƠNG

❊ ❊ ❊

Sau khi đánh bại Sở vương Hạng Võ, Lưu Bang lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Hán Cao đế, bắt đầu xây dựng một triều đại khá huy hoàng và kéo dài nhiều trăm năm. Thế nhưng ngay lúc Lưu Bang còn sống cũng không được yên ổn bởi sự quấy phá của một dân tộc phương bắc, đó là Hung Nô. Chính Hán Cao đế cũng đã có lần phải thân chinh đi đánh dẹp và trúng kế “Thỉnh quân nhập ủng” (Mời ông vào rọ) của một Thiền Vu Hung Nô là Mạo Đốn, suýt nữa đã bỏ mạng nếu không nhờ Trần Bình siêu việt nghĩ ra kế ly gián. Khi thoát khỏi Bạch Đăng thành rồi, Lưu Bang chắc chắn hết cả hồn vía và chỉ mấy năm sau thì băng, không còn trận nào đọ sức với Hung Nô nữa. Khi Hán Văn đế lên ngôi, nhờ vào chính sách “ôhòahân” của tiên đế, đất nước được thành bình một thời gian khá dài.

Thế nhưng, cuối cùng người Hung Nô vẫn ôm ấp mộng xâm chiếm dải đất Trung nguyên màu mỡ và nhiều lần tiến quân quấy phá dò xét xem thực lực triều Hán mạnh yếu ra sao. Nhờ có danh tướng Lý Quảng, biệt hiệu Phi Tướng quân, nhiều phen làm cho quân Hung Nô phải thất đảm kinh hồn. Ông là lão tướng trải qua ba đời Hán đế, đến khi Hán Vũ đế lên ngôi với chủ trương dùng quân sự tiêu diệt Hung Nô tận gốc thì ông mới qua đời trong một cuộc tiến binh bất lợi.

Lý Quảng gia nhập quân đội Hán triều ngay khi còn nhỏ tuổi, hầu như ít khi về triều mà suốt đời ở nơi biên cương để chống với quân Hung Nô. Lý Quảng là người có sức mạnh nhưng được người ta khen ngợi hơn cả là tài dùng binh thần tốc khiến quân Hung Nô không kịp trở tay. Hán Văn đế hết sức khen ngợi Lý Quảng, đang toan tính thăng chức và cho ông nắm trọng trách chỉ huy nơi biên cương thì qua đời. Do vậy khi Hán Cảnh đế (156 - 140 trước Công nguyên) lên nối ngôi chỉ phong cho ông làm Kỵ Lang tướng, giữ trọng trách bảo vệ Hoàng đế.

Khi Ngô vương và Sở vương liên kết với nhau nổi dậy lật đổ triều Hán, Lý Quảng được giữ chức Đô úy cùng đi theo với Thái úy Á Phu dẫn quân dẹp loạn. Nhờ chiến công hiển hách đánh tan loạn quân, sau khi xong việc Lý Quảng được điều đi giữ chức Thái thú miền tây bắc với nhiệm vụ đề phòng quân Hung Nô quấy nhiễu.

Một lần kia, Cảnh đế muốn tìm hiểu tình hình biên cương, sai một đại quan thân cận cùng với mấy tên võ sĩ tùy tùng đến quân doanh của Lý Quảng. Thấy phong cảnh biên cương rộng rãi bao la, rừng xanh thâm u rất đẹp, viên cận thần hứng thú cùng với đám tùy tùng cưỡi ngựa dạo chơi. Bỗng nhiên có ba tên quân Hung Nô như trên trời rơi xuống, phi ngựa nhanh như gió đến nơi, đồng thời bắn tên ra như mưa. Mấy tên tùy tùy đều trúng tên chết, chỉ riêng viên quan chỉ bị thương nhẹ, cố sức phóng ngựa bỏ chạy. Lý Quảng lập tức dẫn kỵ binh ra cứu ứng.

Với tài thần tiễn, Lý Quảng mau lẹ bắn chết hai tên Hung Nô, bắt sống được một tên. Chẳng ngờ đó chỉ là mấy tên quân tiền tiêu, ngay khi ấy đại quân Hung Nô xuất hiện dày đặc trên các gò đất cao, hò hét xung phong định báo thù cho đồng bọn. Quân sĩ dưới quyền Lý Quảng đều kinh sợ, ai nấy bàn nhau phải bỏ chạy cho thật mau. Thế nhưng Lý Quảng bình tĩnh nói với bọn chúng:

– Chúng ta bỏ chạy tức là làm bia cho bọn chúng bắn, đều chết hết. Cứ hãy đứng im, địch sẽ tưởng chúng ta đang bày thế dẫn dụ, sẽ chùn bước mà không dám tấn công nữa.

Bọn quân sĩ nghe lời, quả nhiên khi thấy đối phương hoàn toàn không sợ hãi thì quân Hung Nô đâm ra nghi ngại, sai một tên kỵ binh đến gần xem sao. Lý Quảng trổ tài thần tiễn bắn chết tên này khiến cả một đạo quân hung hãn đều khiếp sợ, đứng im cho ông ung dung cưỡi ngựa ra về. Thái độ của Lý Quảng quá thản nhiên khiến quân Hung Nô lại càng nghi ngờ, ngay đêm hôm đó rút ra xa để đề phòng. Sự bình tĩnh và quyền biến của Lý Quảng nổi danh từ lúc ấy, vì vậy khi Hán Võ đế lên nối ngôi thì cho ông giữ chức Vệ úy trấn giữ Nhạn Môn quan.

Vào năm 140 trước Công nguyên, Lưu Triệt lên ngôi, xưng hiệu là Hán Võ đế. Ông là người hùng tâm tráng chí, cương quyết đến độ tàn nhẫn, điển hình nhất là việc tướng Lý Lăng dẫn quân đi đánh Hung Nô, vì quá ít quân, lại bị bao vây tứ phía nên đành phải đầu hàng. Thế mà Hán Võ đế bắt tội cả nhà họ Lý đem giết hết. Sử quan là Tư Mã Thiên chỉ nói vài lời tỏ vẻ bênh vực, cho rằng Lý Lăng lâm vào tình trạng bất đắc dĩ mà thôi, liền bị Hán Võ đế khép vào tội bị “cung hình” (tức bị hoạn), suốt đời mang mối ô nhục ấy cho đến nhắm mắt.

Với hùng tâm này, Hán Võ đế quyết định mở một chiến dịch lớn lao, huy động toàn quốc vào cuộc chiến tranh với Hung Nô. Ông chủ trương phải đánh đến tận sào huyệt của Hung Nô ở mãi trong sa mạc hoang vu để diệt tận gốc. Do vậy Hán Võ đế huy động gần hết số trai tráng trong nước, chi phí cho chiến dịch này hết sức tốn kém, làm cho ngân khố suy giảm thậm tệ. Tuy sau cùng chiến dịch thành công nhưng đó là bước đầu làm cho nhà Hán suy sụp dần dần, đến khi Hán Chiêu đế Lưu Phất Lăng lên nối ngôi thì hầu như ngân khố đã trống rỗng, kéo theo tình trạng nhân dân đói khổ.

Hán Võ đế lên ngôi rồi vẫn trọng dụng Lý Quảng cùng với các danh tướng khác như Lý Lăng, Hoắc Khứ Bệnh, Vệ Thanh. Lúc đó quân Hung Nô phát triển rất mạnh, vừa đông đảo vừa giỏi về kỵ binh nên tiến lui như chớp nhoáng, thường hay tập hợp số đông tấn công một điểm nào đó rồi nhanh chóng rút lui ngay, quân triều đình muốn truy kích cũng không được.

Vì vậy có một lần Lý Quảng bị quân Hung Nô bất ngờ bao vây. Vì quân ít hơn nhiều nên Lý Quảng cố sức phá vòng vây mà không xong, tưởng đâu đã mất mạng. May sao trước đó Thiền Vu Hung Nô rất hâm mộ oai danh của ông, đã ra lệnh phải bắt sống nên cuối cùng ông không chết, bị bắt sống dẫn đi. Giữa đường nhân lúc tên quân canh sơ hở, Lý Quảng bứt đứt dây trói, phóng sang cướp ngựa của tên quân bên cạnh cùng với cung tên của hắn. Lý Quảng vừa chạy vừa bắn trả khiến quân Hung Nô chết khá nhiều, rùn bước để ông chạy thoát về quân doanh. Từ đó trở đi Hung Nô gọi ông bằng danh hiệu là “Phi tướng quân” chứ không gọi bằng tên tục.

Thế nhưng việc để quân địch bắt sống đối với Hán Võ đế là trọng tội, đáng lẽ đem xử tử làm gương. Hán Võ đế xét ông có nhiều công trạng, chỉ cách chức giáng xuống làm thường dân. Thiếu vắng Lý Quảng trấn thủ biên cương, người Hung Nô lại càng hung hăng lộng hành, tiến quân giết chết viên Thái thú ở Liêu Tây rồi đánh bại luôn đại quân của Hàn An Quốc. Bất đắc dĩ Hán Võ đế phải trọng dụng Lý Quảng lại, cho ông làm Thái thú Bắc Bình. Quân Hung Nô nghe tin này, luôn mấy năm đánh phá ở đâu thì được chứ Bắc Bình thì hoàn toàn yên tĩnh.

Năm 120 trước Công nguyên, Lý Quảng cùng với tướng Trương Khuyên dẫn 4000 quân đi đánh vào danh trại Hung Nô nhưng giữa đường lọt vào ổ phục kích của Tả Hiền vương Hung Nô. Quân số hai bên chênh lệch gấp 10 lần. Quân Hán dưới sự chỉ huy của Lý Quảng ra sức chiến đấu, thế nhưng chẳng bao lâu đã hết sạch tên. Lý Quảng nhanh trí sai quân sĩ cứ giương cung như sắp bắn, thật sự chẳng còn mũi tên nào làm cho quân Hung Nô vô cùng sợ hãi, tạm thời không dám xông lên nữa. Nhờ được quân tiếp viện đánh thọc vào vòng vây, Lý Quảng mới thoát chết trở về.

Thấy cuộc chiến vẫn giằng dai không sao tiêu diệt hẳn Hung Nô, vào năm 119, Hán Võ đế lại tổ chức một cuộc tấn công đại qui mô với mục tiêu là đánh lên tới tận sa mạc Mạc Bắc. Hán Võ đế phong cho Vệ Thanh làm Nguyên soái, cùng với danh tướng Hoắc Khứ Bệnh dẫn 5 vạn kỵ binh và 10 vạn bộ binh, chia làm hai đường tấn công, lệnh ban ra là phải tiêu diệt hoàn toàn Hung Nô mới được trở về. Lúc đó Lý Quảng đã là lão tướng hơn 60 tuổi nhưng vẫn xin với Hán Võ đế cho mình theo quân. Khi Vệ Thanh điều tra bọn tù binh, biết được nơi ẩn trốn của Thiền Vu Hung Nô thì liền sai Lý Quảng làm Tiên phong đánh về phía đông, còn mình kéo đại quân đánh thẳng vào nơi Thiền Vu Hung Nô đang đóng quân.

Vì chưa lần nào tiến sâu như vậy, Lý Quảng bị mất phương hướng, dẫn quân đi loanh quanh rất lâu chưa tìm được đường ra. Trong khi ấy Vệ Thanh tiến đến nơi Thiền Vu Hung Nô nhưng không kịp bao vây nên đành để ông ta trốn thoát. Khi trở về, Vệ Thanh mới gặp Lý Quảng, cùng nhau hội quân. Thế nhưng lúc về triều, Hán Võ đế tức giận hạch tội hai tướng đã hành quân ra sao mà xổng mất Thiền Vu Hung Nô. Vệ Thanh liền đổ tội cho Lý Quảng không phối hợp tốt. Tuy không bị Hán Võ đế trách phạt nhưng Lý Quảng tức tối dùng kiếm tự sát để minh oan. Đây là cái chết rất oan uổng của người lão tướng dưới triều Hán.

Vệ Thanh nguyên là người họ Trịnh, sinh trưởng ở Bình Dương. Thân phụ của ông là Trịnh Quý, chỉ làm một viên tiểu lại nho nhỏ dưới quyền của Bình Dương hầu Tào Thọ. Trịnh Quý có lần thông dâm với người thiếp của Tào Thọ là Vệ Ôn, vì vậy sau khi đẻ con liền cho đứa bé lấy họ mẹ, đặt tên là Thanh. Vì là con của thiếp nên Tào Thọ không nuôi dưỡng, cho về quê của cha ruột. Gia đình Trịnh Quý nghèo khó nên thuở thiếu thời Vệ Thanh rất cơ cực, có lúc phải đi chăn bò cừu cho kẻ giàu lấy bát cơm ăn.

Khi lớn lên, nhờ có thân hình to lớn, sức vóc mạnh mẽ nên Vệ Thanh được Tào Thọ cho làm kỵ binh, chuyên việc canh phòng cho phủ Bình Dương hầu. Cuộc đời Vệ Thanh tưởng như mãi mãi ở nơi xa xôi ấy với chức vụ quèn. May sao vào năm 139 trước Công nguyên, người chị của Vệ Thanh là Vệ Tử Phu có sắc đẹp hơn người, được tiến vào cung và được Hán Võ đế sủng ái, phong làm Phi tử.

Lúc đó Hoàng hậu không có con nối dõi nên khi Vệ Quý phi hoài thai thì Hán Võ đế lại càng cưng chiều, nghe nói đến Vệ Thanh liền phong cho chức Đại phu. Rốt cuộc Vệ Thanh từ một người tầm thường, dựa vào sự sủng ái của người chị mà leo lên làm đại thần trong triều. Vệ Thanh có thân hình cao lớn, tướng tá oai phong, lại giỏi về võ nghệ nên khi Hán Võ đế tính đến việc chinh phạt Hung Nô liền giao cho trọng trách chỉ huy toàn quân. Lúc đó triều Hán hầu như không còn tướng tài, Hàn An Quốc và Lý Quảng đều đã cao tuổi, khó có thể đảm đương được một chiến dịch lớn lao như vậy.

Trong thời gian mở chiến dịch tiến đánh Hung Nô, Vệ Thanh được sự trợ giúp của một viên tướng trẻ tên là Hoắc Khứ Bệnh. Nhờ họ Hoắc, nhiều lần đại quân Hán đã đánh bại Hung Nô, đưa họ vào tình cảnh không còn hoạt động quấy nhiễu như trước được nữa.

Hoắc Khứ Bệnh là người ở Sơn Tây, ngay từ nhỏ đã tỏ ra là người có tài năng về quân sự, lại có họ hàng xa với Vệ Thanh. Do vậy khi Hán Võ đế quyết định tiến đánh Hung Nô, trong triều không còn danh tướng nào nữa, đành phải giao cho Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh, mặc dù khi đó ông còn rất nhỏ, mới được 17 tuổi. Thế nhưng Hoắc Khứ Bệnh rất được lòng tướng sĩ, phong cách khoáng đạt, thân mật với quân sĩ như là anh em, làm cho họ đồng một lòng chiến đấu. Tương truyền khi Hán Võ đế ban cho Hoắc Khứ Bệnh một vò ngự tửu, ông không muốn uống một mình, bèn đổ cả bình ngự tửu xuống một cái ao nhỏ rồi tất cả cùng uống nước trong ao, biểu lộ tình cảm gắn bó quân tướng.

Tiếc rằng Hoắc Khứ Bệnh mất quá sớm, khi mới vừa tuổi 24, trong lúc đang hành quân tiến đánh Hung Nô, tức đã được 7 năm cầm quân đánh giặc. Người ta cho rằng Hoắc Khứ Bệnh bị bệnh do không thích hợp với thổ nghi nóng và ẩm của đất Hung Nô. Cũng có người tin vào giả thuyết quân Hung Nô quá kinh sợ tài chiến đấu của Hoắc Khứ Bệnh, sau khi giả vờ rút lui liền đổ chất độc vào giếng nước, ông uống phải loại nước này nên chết không thể cứu chữa được.

Chiến công oai hùng nhất của Hoắc Khứ Bệnh là khi mới được Hán Võ đế tin dùng, trao cho một cánh quân độc lập, phối hợp với quân của Vệ Thanh. Nhận thấy đường sá nơi đất Hung Nô khó khăn hiểm trở, nếu đưa đại quân tiến lên rất dễ bị lộ, quân Hung Nô hoặc sẽ tập họp đánh trả, hoặc sẽ lẩn trốn rất khó tìm ra. Hoắc Khứ Bệnh nhân lúc quân Hung Nô dồn hết ra đánh với Vệ Thanh liền can đảm cùng với mấy trăm kỵ binh luồn theo đường núi đánh bọc hậu, kết quả Hoắc Khứ Bệnh giết được hơn 2000 quân Hung Nô, đồng thời bắt sống một lúc mấy viên đại thần Hung Nô, trong đó có nghĩa phụ của Thiền Vu Hung Nô, giết chết hơn phân nửa, còn lại đều đầu hàng.

Hán Võ đế hết sức tán thưởng chiến công này, ban cho ông tước Quán Quân hầu. Sau đó với nhiều chiến công hiển hách khác, Hoắc Khứ Bệnh còn được thăng lên tới chức Đại Tư mã, tức là nắm toàn bộ binh quyền trong tay, kể cả Vệ Thanh. Khi Hoắc Khứ Bệnh chết rồi Vệ Thanh mới có cơ hội thăng quan tiến chức.

Nói về chiến dịch Mạc Mắc do Hán Võ đế tổ chức, khi Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh chia quân làm hai đường thì mỗi người có cách đánh riêng. Vệ Thanh chỉ huy quân đội rất nghiêm nhưng vẫn hài hòa thân thiết nên quân tướng một lòng chiến đấu. Mỗi khi đụng trận, Vệ Thanh thường hay đi đầu, tả xung hữu đột đánh phá khiến quân Hung Nô khó mà chống nổi.

Hoắc Khứ Bệnh thì hay dùng kỳ binh, lấy số quân ít mà đánh vào những điểm trọng yếu hay bất ngờ nhất làm cho quân địch hoang mang bỏ chạy. Sau nhiều cuộc chiến khốc liệt, quân Hung Nô đã phải lùi sâu vào nội địa, thế nhưng Hoắc Khứ Bệnh vẫn truy kích đến cùng. Có lần ông chỉ dùng một đội kỵ binh nhỏ nhưng lựa chọn toàn là người thiện chiến, tiến về phía Lũng Tây. Toán quân của ông đi xuyên qua 5 bộ tộc Hung Nô mà không gặp phải sức kháng cự nào mạnh mẽ, đến đâu đều chiến thắng đến đó. Lối đánh này chẳng khác gì quân Hung Nô thường dùng để kỳ tập các đồn biên giới. Nay bọn chúng bị Hoắc Khứ Bệnh áp dụng đúng như thế, đêm nào cũng nơm nớp lo sợ không biết bị đánh úp lúc nào, dần dần mất hết nhuệ khí. Chẳng bao lâu Hoắc Khứ Bệnh đã dồn tàn quân Hung Nô phải chạy về tới tận miền bắc Mạc Bắc, đến tận địa giới núi Lang Cư Tư.

Riêng Vệ Thanh nắm đại quân, tiến thẳng tới triều đình Hung Nô, chạm trán nhiều hơn và phải trải qua nhiều trận đánh khốc liệt. Vì trị quân rất nghiêm nên hầu như tất cả quân tướng đều lo sợ bị bắt tội, anh dũng chiến đấu, có thể lấy ít chọi nhiều nên rất ít khi thất trận. Có lần một bộ tướng của Vệ Thanh là Tô Kiến, dẫn 1000 đi tiễu trừ, bất ngờ gặp phải đại quân của bộ tộc Hung Nô do thủ lĩnh tên là Đan Vu. Tô Kiến huy động quân binh chống trả ác liệt, nhưng với số đông, quân Hung Nô đã tiêu diệt được 1000 quân Hán, chỉ còn lại mỗi mình Tô Kiến chạy thoát về quân doanh.

Theo quân lệnh, mỗi khi tướng để quân bị tiêu diệt thì phải xử chết theo. Vệ Thanh đã toan đem Tô Kiến ra xử tử thì các tướng dưới quyền kiến nghị, cho rằng đó là chiến thắng chứ không phải thất bại bởi Tô Kiến đã giết hơn 2000 quân địch. Nếu cứ theo quân lệnh cứng nhắc thì còn tướng nào dám chỉ huy ba quân nữa. Chắc chắn nếu thua một trận thôi - dù bất đắc dĩ – thì họ sẽ không dám trở về nữa mà đành đầu hàng như danh tướng Lý Lăng.

Vệ Thanh tiếp nhận ý kiến đó, tâu về với Hán Võ đế và được nhà vua xuống chiếu không bắt tội Tô Kiến. Cách hành xử đúng mực và không cố chấp của Vệ Thanh chính là võ khí chỉ huy ba quân rất hữu hiệu. Vì vậy nhiều lần Vệ Thanh đạt công trạng rất lớn, điển hình nhất là vào năm 128 trước Công nguyên, Vệ Thanh lại được lệnh dẫn đại quân đi tiêu diệt Hung Nô lần nữa, có cánh quân do Lý Tức và Trương Thứ tiếp trợ. Dưới quyền chỉ huy của Vệ Thanh, quân tướng hết lòng chiến đấu, tiến mau như chẻ tre, chẳng bao lâu thì đã vượt qua được bốn vòng trấn giữ của quân Hung Nô.

Lúc đó một đại tướng của Hung Nô, tước lên đến Hữu Hiền vương đóng ở trung quân, tưởng rằng quân Hán còn lâu mới có thể tiến sâu đến như vậy, không phòng bị nên bị đánh bất ngờ. Trận này Vệ Thanh suýt nữa giết được Hữu Hiền vương, hắn phải cùng quần thần bỏ chạy trối chết. Không có người chỉ huy, toàn bộ quân Hung Nô đều đầu hàng. Chiến thắng này cực kỳ vang dội nên Hán đế lập tức phong cho ông làm Đại tướng quân, các con của Vệ Thanh đều hưởng ơn cha, được phong tước Hầu, vô cùng vinh hiển.

Thế nhưng Vệ Thanh không bằng lòng, dâng tấu lên Hán đế, cho rằng chiến công đó là do tập thể các tướng hết lòng vì nước, nếu chỉ có gia đình ông hưởng ân mưa móc thì sau này rất khó khích lệ ba quân. Hán Võ đế tuy rất cố chấp nhưng vẫn nhận ra sự sai lầm của mình, lập tức cũng phong cho các tướng trong trận đánh này tước Hầu.

Khi Vệ Thanh cùng với Hoắc Khứ Bệnh đem 15 vạn quân tiến đánh Hung Nô là lần cuối cùng trong cuộc đời tướng lãnh của ông. Vì vậy Vệ Thanh mặc dù đã lớn tuổi vẫn đem hết sức mình ra chỉ huy ba quân chiến đấu và kết quả cuối cùng cũng đã tương đối làm cho Hung Nô không còn cơ hội phát triển được như trước nữa.

Thế nhưng đổi lại chiến thắng, quân tướng nhà Hán cũng thiệt hại khá nặng nề do vì không hợp thủy thổ đất Hung Nô. Sau khi chiến dịch khép lại, triều đình Hán tính toán đã tiêu diệt được hơn nửa số quân thiện chiến của Hung Nô, ước khoảng gần 10 vạn nhưng quân Hán cũng chỉ còn khoảng 3, 4 vạn về trong số 15 vạn khi xuất phát. Với bản chất hiếu thắng và tàn nhẫn, Hán Võ đế chấp nhận số thương vong cao ngất ấy nhưng không biết rằng đó chính là một phần nguyên nhân làm cho triều đại Hán huy hoàng ngày nào trở thành suy yếu rồi sau cùng diệt vong dưới bàn tay lộng hành của Vương Mãng.

Trong chính sử ghi chép về đại chiến dịch này rất sơ lược, có vài điểm khác biệt, nhất là số thương vong của quân Hung Nô:

“Đây là trận chiến có quy mô rất lớn do Hán Võ đế huy động ba quân đánh lên Mạc Bắc (sa mạc vùng Nội Mông Cổ). Hán Võ đế sai hai Đại tướng là Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh dẫn 10 vạn kỵ binh và một số lớn quân tinh nhuệ, lên đến vài chục vạn. Nghe tin Thiền Vu Hung Nô đóng quân ở phía đông, Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh liền chia quân làm hai cánh tìm kiếm. Lúc đó Hoắc Khứ Bệnh mới là Phiêu kỵ Tướng quân, làm Phó tướng cho Vệ Thanh, đem quân từ Đại quận xuất phát tiến đánh quân Hung Nô. Vệ Thanh xuất phát từ Định Tương vượt biên giới khống chế mặt bên trái của quân Hung Nô. Sau khi dò biết đích xác nơi trú quân của Thiền Vu Hung Nô, Vệ Thanh liền đem đại quân tiến đánh, sai hai tướng là Lý Quảng và Triệu Thực đến địa điểm ngăn chặn đường rút lui của Hung Nô. Thế nhưng Lý Quảng và Triệu Thực đi lạc đường, không tới đúng điểm dự định, vì vậy Vệ Thanh bắt giết được Thiền Vu Hung Nô, làm cho cuộc chiến kéo dài hơn tính toán.

Khi Vệ Thanh đi xuyên qua sa mạc thì bị quân Hung Nô xuất hiện đánh chặn. Nơi sa mạc hoàn toàn không có công sự cố thủ nên Vệ Thanh sai quân dùng chiến xa xếp thành vòng tròn, từ đó các cung thủ bắn tên ra như mưa. Khi thấy quân địch đã loạn, Vệ Thanh liền sai 5000 kỵ binh xông ra đối chiến với hơn 1 vạn kỵ binh Hung Nô. Hai bên giao chiến đẫm máu đến mãi chiều tối, Vệ Thanh liền chia quân ra làm hai cánh cùng lúc đánh kẹp kỵ binh Hung Nô vào giữa, kết quả là đại thắng. Phía quân của Hoắc Khứ Bệnh cũng đụng độ với đại quân Hung Nô. Kết quả Hoắc Khứ Bệnh tiêu diệt hơn 7 vạn quân địch, làm cho triều đình Hung Nô rúng động.

Một ghi chép khác về danh tướng Hoắc Khứ Bệnh cho rằng ông không phải mất trên đất Hung Nô mà về bị bệnh nặng, khi về tới Trường An mới mất. Theo ghi chép này thì Hoắc Khứ Bệnh tổng cộng tiêu diệt đến hơn 10 vạn quân Hung Nô, so với con số của triều đình nhà Hán đưa ra chỉ là khoảng 10 vạn cộng cả chiến công của Vệ Thanh thì có khoảng cách khá xa. Điều này không được nhiều người khảo cứu bởi mục đích cuối cùng là tiêu diệt Hung Nô đã thành công, mà thành công nào không phải trả giá bằng xương máu tướng sĩ, thiệt hại là lẽ dĩ nhiên, thậm chí còn có thể cao hơn nữa do vì thời tiết và thủy thổ Hung Nô hết sức khắc nghiệt. Số quân thật sự chết vì chiến trận có lẽ còn ít hơn số quân bị chết do bệnh tật.

Cơ bản sau trận chiến Mạc Bắc người Hung Nô đã bị chia rẽ và mỗi Thiền Vu có chủ trương khác nhau, do vậy không thể đồng lòng nhất trí để tập hợp các bộ tộc thành một lực lượng đủ mạnh tấn công Trung nguyên nữa.

Sau khi phần lớn số quân Hung Nô bị đại quân của Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh tiêu diệt, số tàn quân còn lại theo chân Thiền Vu Y Trí Da phải chạy mãi lên tới miền bắc sa mạc Gôbi trú ẩn ở đó. Đến đời Hán Tuyên đế, vào năm 73 trước Công nguyên kết hợp cùng với quân của bộ tộc Ô Hoàn một lần nữa đánh đuổi người Hung Nô nhưng không tiêu diệt được hết mà chỉ làm cho họ chia rẽ thành nhiều nhóm bộ tộc khác nhau, thế lực suy yếu thấy rõ.

Đến năm 51 trước Công nguyên, một Thiền Vu của Hung Nô có chủ trương ôn hòa hơn tên là Hô Hàn Da, quyết định đưa con trai của mình đến triều Hán làm con tin đổi lấy hòa hiếu. Đó là vào thời Hán Tuyên đế. Đến khi Hán Nguyên đế lên ngôi, nhân dịp Tết Nguyên Đán, đích thân Hô Hàn Da đến Trường An chúc thọ và xin được cưới Công chúa. Hán Nguyên đế bằng lòng, phong cho một phi tần là Vương Chiêu Quân làm Công chúa rồi gả cho Hô Hàn Da.

Câu chuyện Vương Chiêu Quân cống Hồ (Hung Nô) trở thành một câu chuyện diễm tình bởi sự thao túng của họa sĩ Mao Diên Thọ. Trong chuyện này Hán Nguyên đế hết sức tức giận, giết cả nhà Mao Diên Thọ và rất tiếc rẻ mỹ nhân Vương Chiêu Quân.

Thế nhưng theo một ghi chép khác thì khi Hán Nguyên đế thấy mặt Vương Chiêu Quân thì lập tức say mê, bí mật thương thuyết với Hô Hàn Da đánh đổi bằng 5 phi tần khác. Hô Hàn Da bằng lòng và vẫn giữ tình hữu nghị giữa hai nước như trước.

Những kết quả chính trị của Hô Hàn Da thúc đẩy các Thiền Vu bộ tộc khác theo gương. Một Thiền Vu khác tên là Chí Chi cũng gởi con trai đến triều Hán xin nghị hòa hiếu nhưng sau cùng bị quân Hán phối hợp cùng với quân Tây Vực giết chết, việc hiếu hòa tạm thời bị đứt đoạn và ít nhiều người Hung Nô trở lại quấy nhiễu. Khi Vương Mãng soán ngôi nhà Hán, thành lập triều Tân cũng phải nhiều lần đem quân đi đánh dẹp, chứng tỏ biên cương Trung nguyên giáp giới với các dân tộc du mục phía bắc như Mông Cổ, Khiết Đan, Nữ Chân, Tây Vực, v.v... không khi nào được bình yên lâu dài. Và các tướng soái Trung Hoa vẫn luôn luôn xuất hiện mỗi khi có biến động để bảo vệ biên cương.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Huyền Cơ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.