12 Tướng Soái Trung Hoa

Lượt đọc: 54 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2 PHẠM LÃI - DANH TƯỚNG ĐA TÌNH

❊ ❊ ❊

Sau khi Hạp Lư chết vì trọng thương trong chiến trận với nước Việt, mối thù hằn giữa hai nước Ngô, Việt càng thêm sâu đậm. Người kế vị Hạp Lư không phải là con trai mà là đứa cháu tên Phù Sai. Ông là người có chí khí cao ngạo, sức mạnh hơn người, phong thái uy dũng ngang tàng, vì vậy quyết chí phải tiêu diệt nước Việt báo thù cho ông. Để đừng bao giờ quên mối thù này, Phù Sai bắt nội thị thay nhau đứng ở sân cung cấm, mỗi khi thấy mình đi qua thì liền quát lớn:

– Phù Sai, ngươi còn nhớ mối thù nước Việt giết tổ phụ của ngươi không?

Phù Sai vừa khóc vừa cúi đầu cung kính đáp lại:

– Phù Sai này chẳng bao giờ dám quên mối thù ấy.

Với ý chí dũng mãnh nên chỉ vào năm sau đã ban lệnh xuất quân tiến đánh nước Việt qua con đường Thái hồ. Câu Tiễn là vị vương gia nhiều tài năng, lại có hai hiền tài kiệt xuất theo hầu cận, đó là Văn Chủng chuyên về triều chính, còn Phạm Lãi là danh tướng chuyên về quân sự. Khi nghe tin quân Ngô rất đông đảo và hùng dũng, Câu Tiễn không hề lo sợ, hỏi ý kiến thì Phạm Lãi xin nên cố thủ, còn Văn Chủng thì đề nghị nhà vua tìm cách cầu hòa chờ bao giờ lực lượng hùng mạnh ngang sức thì hãy giao chiến. Câu Tiễn không nghe theo hai lời đề nghị này, tự mình xuất quân giao chiến ở Tiêu sơn, cuối cùng thất trận, hối hận đã không nghe lời Phạm Lãi thì đã muộn mất rồi, coi như cái chết sắp đến gần.

Cũng may Văn Chủng vẫn bí mật tiến hành việc cầu hòa, dùng một số vàng ngọc lớn mua chuộc tên gian thần Bá Hi, nhờ hắn nói giúp với Phù Sai. Câu Tiễn đành phải chấp nhận những điều kiện nghiệt ngã làm tôi đòi cho Phù Sai, dâng hết đất đai, bao nhiêu của cải đều đưa về nước Ngô bằng hết. Nhờ vậy Phù Sai mới bằng lòng, mặc cho Ngũ Viên hết lời khuyên can. Sau đó Phù Sai cho phép Câu Tiễn trở về nước Việt từ biệt quần thần trước khi cùng với gia đình sang nước Ngô chịu nhục nhã. Câu Tiễn buồn bã hỏi các quan:

– Ta vì không nghe lời hiền thần nên mới đến nông nỗi này. Mốì thù này không thể không trả nhưng hiện giờ ai là người có thể giữ nước, ai là người đủ tài trí theo ta sang đất Ngô mà tùy cơ ứng biến trợ giúp cho ta?

Văn Chủng thẳng thắn tâu bày:

– Về mặt quốc chính an nước trị dân, phát triển kế hoạch báo thù thì Phạm Lãi tướng quân không thể bằng tôi được; còn như tùy cơ ứng biến thì tôi không bằng Phạm tướng quân, vì vậy xin để Phạm tướng quân đi theo Đại vương vậy.

Nếu tính ra địa vị của Phạm Lãi và Văn Chủng gần tương nhau, mỗi người chuyên trách một mặt, Văn Chủng nói thẳng như vậy mà Phạm Lãi không hề tức giận, lại còn khen Văn Chủng nói đúng, xin được cùng với Câu Tiễn qua đất Ngô mặc dù tự biết con đường trước mặt vô cùng nguy nan, chỉ sơ sẩy một chút là cả vua lẫn bầy tôi đều có thể mất mạng hoặc là không bao giờ còn đường trở về cố quốc nữa. Lòng trung trinh và sự can đảm của Phạm Lãi khiến người đời sau hết sức ca tụng.

Ông không những là danh tướng của nước Việt mà còn được biết đến nhờ vào “cuộc tình Tây Thi” - một trong “Tứ đại mỹ nhân” Trung Hoa thời xưa - một cuộc tình đầy éo le nhưng cũng đầy cảm động, không vì chữ tình mà quên bỏ đại sự quốc gia.

Phạm Lãi tên tự là Thiếu Bá, sinh trưởng ở Tam Hộ ấp thuộc vùng Uyển của nước Sở. Phạm Lãi có thân hình dong dỏng cao nhưng rất giỏi võ nghệ, lại chuyên tâm học hành thi thư binh pháp nên ngay lúc thiếu thời đã nổi danh là người anh hùng văn võ toàn tài. Ông cũng nổi danh là người đa tình - đã có người vợ rất xinh đẹp - mặc dù vẫn mang hoài bão lớn muốn "trị quốc bình thiên hạ”. Lúc đó Văn Chủng đang làm Huyện lệnh đất Uyển, nghe danh tiếng của Phạm Lãi liền sai người mời đến đàm đạo. Thế nhưng nhiều lần mà Phạm Lãi vẫn từ chối, lấy cớ có bệnh không chịu đến huyện đường. Người thân cận của Văn Chủng rất khó chịu, cho rằng không nên quen biết với một kẻ ngông cuồng và lắm bệnh như vậy nhưng riêng Văn Chủng có mắt tinh đời, thản nhiên bảo với người nhà:

– Những người có tâm huyết với nước nhà không dễ gì một lời mà xuất đầu lộ diện. Gia dĩ ngày nay nước Sở chính trị suy đồi, vua quan hèn kém, không xứng đáng để nhân tài ra tay giúp nước thì Phạm Lãi từ chối là đúng lắm.

Sau đó tự thân Văn Chủng đánh xe đến xin gặp mặt nhưng vẫn bị Phạm Lãi từ chối. Nhiều lần như vậy, Phạm Lãi nhận ra Văn Chủng là người thành tâm, quyết định gặp gỡ và hai người trở thành bạn thân thiết.

Một thời gian sau, Phạm Lãi bàn với Vản Chủng sang nước Việt tìm công danh bởi lúc ấy Ngô và Việt là hai nước đang thời kỳ phát triển rất mạnh, đúng là thời cơ để họ thi thố tài năng. Tuy đang là Huyện lệnh nhưng Văn Chủng cũng biết cái chức vụ nho nhỏ ấy không phải là chỗ mình dung thân nên vui vẻ nghe lời Phạm Lãi, quả nhiên cả hai đều được Việt vương Câu Tiễn trọng dụng, sau đó đều giữ chức Đại phu, tức ngang hàng với các đại thần cao trọng nhất ở các triều đại sau này.

Trong thời kỳ Ngô Việt phân tranh, nhiều lần Phạm Lãi đã cầm quân chiến thắng lẫy lừng nhưng cuối cùng ông vẫn nhận ra hùng tâm tráng chí của Phù Sai, khuyên Câu Tiễn nên tìm cách cầu hòa, tạo cơ hội xây dựng binh mã hùng hậu rồi mới tính đến việc đấu tranh. Tiếc rằng Câu Tiễn quá kiêu ngạo tự phụ, không nghe lời nên cuối cùng mới thất bại phải chịu làm thân tôi đòi cho Phù Sai. Phạm Lãi không vì thế mà bỏ rơi chủ nhân, trung theo hầu, hy vọng nhờ tài quyền biến của mình sẽ giúp cho Câu Tiễn nhẫn nhục qua thời điểm nhục nhã nhất của một vị Vương hầu.

Khi Câu Tiễn và Phạm Lãi đến nước Ngô, Phù Sai liền sai Vương tôn Hùng dựng một cái nhà bằng đá bên cạnh mộ phần của Hạp Lư, cho vợ chồng Câu Tiễn cùng Phạm Lãi ở đó ngày ngày lo việc chăn ngựa và săn sóc mộ phần cho Hạp Lư. Tất cả đều phải mặc áo xấu, làm việc hèn hạ vất vả, thức ăn cũng không đầy đủ nhưng Phạm Lãi không hề lấy thân phận Đại tướng của mình mà kêu than, trái lại bình tĩnh kiên trì thuyết phục Câu Tiễn nên cố gắng làm vừa lòng Phù Sai mới hy vọng có ngày được về nước tìm cách báo thù.

Cũng nhờ Văn Chủng ở nước Việt hết lòng lo liệu, đút lót cho tên gian thần Bá Hi nên vua tôi cũng không đến nỗi chết đói. Mỗi khi Phù Sai đi đâu đều bắt Câu Tiễn đi chân đất, dắt ngựa đi trước để bêu xấu với dân chúng nước Ngô. Đây là cái nhục mà đến như người dân thường cũng khó chịu đựng được nhưng Câu Tiễn nghe lời của Phạm Lãi, cúi gầm mặt xuống, nghiến răng mà chịu đựng, mỗi khi Phù Sai kêu gọi đều tươi cười vâng dạ. Dần dần như vậy, tất nhiên Phù Sai đã có chút ít tin tưởng rằng Câu Tiễn đã hoàn toàn khuất phục mình.

Riêng Phạm Lãi là thân phận Đại phu nhưng sớm tối đều hầu hạ Câu Tiễn hết lòng, không lúc nào rời khỏi. Chính Phù Sai cũng rất khâm phục Phạm Lãi, nhiều lần gọi riêng vào cung khuyến dụ:

– Ta thấy ngươi là người tài năng tất phải biết thời thế. Hiện nay Câu Tiễn đã là tù nhân, ngươi vẫn đi theo thì chỉ làm phí tài năng của mình mà thôi. Nếu ngươi bằng lòng làm quan cho Ngô thì ta sẵn sàng ban chức tước lớn. Người anh hùng phải nhìn ra thời thế, đừng nên quá câu nệ chữ trung như vậy mới tuấn kiệt.

Phạm Lãi nhẹ nhàng tìm cớ từ chối khiến Phù Sai không khỏi tức giận, đập bàn quát lớn:

– Ngươi cứng đầu như vậy chỉ thiệt vào thân. Câu Tiễn còn ở nhà đá suốt đời, ngươi cũng không bao giờ có cơ hội thoát khỏi nơi đó đâu. Phạm Lãi cúi đầu nhận lỗi rồi lặng lẽ lui ra, biểu lộ một lòng kiên quyết không gì thay đổi.

Mấy năm sau, vợ chồng Câu Tiễn càng thêm tồi tàn, quần áo rách rưới, người toàn là mùi phân ngựa, cặm cụi từ sáng cho đến chiều tối lo việc kiếm củi cắt cỏ cho ngựa nhưng chưa bao giờ có một lời oán hận. Phù Sai đã ngầm cho người theo dõi rất sát mà không phát hiện ra điều gì sai trái của vua tôi nước Việt nên dần dần cũng không để ý đến nữa.

Thật sự, có lúc Phù Sai cũng đã muốn nghe lời của Ngũ Viên giết chết Câu Tiễn đề phòng hậu họa nhưng thấy cảnh cam chịu của vua tôi Câu Tiễn thì lại do dự, lại thêm Văn Chủng bỏ rất nhiều vàng bạc đút lót cho Bá Hi nên hễ có dịp là hắn luôn luôn nói tốt cho Câu Tiễn, còn tìm lời khôn khéo khuyên Phù Sai tha cho vua tôi nước Việt trở về cố quốc, dương cao lòng nhân ái để các chư hầu kính nể.

Một lần kia, Phù Sai ngồi trên đài Cô Tô tráng lệ nhìn xuống lăng mộ của Hạp Lư, thấy vợ chồng Câu Tiễn lúi húi dọn dẹp các đống phân ngựa, còn Phạm Lãi tuy quần áo còn tồi tàn hơn cả Câu Tiễn vẫn uy nghiêm cầm chổi đứng hầu thì cảm xúc than rằng:

– Phạm Lãi thân là quan lớn, thế mà lúc hoạn nạn nhất vẫn giữ được lễ vua tôi thì thật đáng kính trọng. Câu Tiễn làm nên tội thì phải đền không nói gì, riêng Phạm Lãi có thể tha cho về nước mới đúng.

Bá Hi đang hầu bên cạnh, nghe vậy liền mở lời xin cho vợ chồng Câu Tiễn về nước một thể. Thật ra trong lòng Phù Sai cũng đã vơi đi hận thù rất nhiều nhưng không thể quyết được, đành nói:

– Ta sẽ nhờ quan Thái sử bói một quẻ xem tốt xấu ra sao đã.

Phạm Lãi không chỉ là danh tướng kiệt xuất mà mặt kiến thức cũng hết sức rộng rãi, nghe tin này liền tự thân bói trước một quẻ rồi than với Câu Tiễn:

– Theo quẻ bói thì việc này có chút lợi nhưng vẫn còn nhiều trắc trở, chúa công đừng vội mừng mà hãy cố ẩn nhẫn thêm một thời gian nữa mới được.

Câu Tiễn rơi nước mắt xin nghe theo, ngày ngày vẫn chăm chỉ làm việc nhọc nhằn, tỏ ra không hề nghe chút tin tức gì. Riêng Ngũ Viên cũng nghe tin này, tức tốc vào yết kiến Phù Sai, hậm hực nói:

– Tôi nghe rằng trước vua Kiệt giam giữ Thang, Trụ vương giam giữ Văn vương mà không chịu giết đi, sau này Kiệt bị Thang đuổi, nhà Thương bị nhà Chu diệt. Tôi e rằng Đại vương nghe lời bọn nịnh thần thì cũng sẽ xảy ra sự việc y như vậy, nước mất nhà tan sắp xảy ra trước mắt mà Đại vương chưa tỉnh ngộ hay sao?

Thế nhưng Phù Sai vẫn chưa thể quyết định được. Cho đến một hôm Phù Sai bị phong hàn khá nặng, Ngũ Viên một lần nữa vào vấn an, nhắc lại việc cũ:

– Hiện tại Đại vương khó mà nói trước được, nếu như không may thất lộc thì Câu Tiễn chắc chắn sẽ tìm cách thoát về Việt, rồi sẽ tổ chức chống lại nước Ngô. Khi ấy tôi e rằng khó còn ai có thể giữ vững được cơ đồ. Giết Câu Tiễn vừa làm hả dạ tiên đế vừa diệt hẳn hậu họa, nhất cử lưỡng tiện, sao Đại vương còn chần chừ?

Lần này Phù Sai nghe theo lời Ngũ Viên, lập tức lấy cớ cần người dọn vệ sinh cho mình, triệu Câu Tiễn vào cung. Nghe tin, Câu Tiễn vô cùng kinh sợ vì biết rằng đó chỉ là cái cớ, chắc chắn lần này sẽ mất mạng. Một lần nữa Phạm Lãi phải gieo quẻ bói rồi cho biết:

– Mạng số của Phù Sai chưa hết mà số mệnh của chúa công cũng chưa tuyệt. Tuy nhiên có lẽ lần này phải bị một phen kinh sợ mà thôi.

Nghe vậy Câu Tiễn mới gắng gượng theo bọn thị vệ vào cung cấm. Quả nhiên luôn mấy ngày không hề thấy bóng dáng Câu Tiễn bước ra, ai cũng lo sợ rằng có lẽ Câu Tiễn đã bị giết chết rồi. Riêng Phạm Lãi vẫn cung kính đứng chờ ở cửa cung, mặc cho sương nắng, sẵn sàng đón chủ nhân trở về. Thái độ nghiêm cẩn của ông khiến Phù Sai nghe biết lại đâm ra phân vân, không sao quyết định được là nên giết Câu Tiễn hay tha về. Đồng thời vợ của Câu Tiễn cũng lén đút lót cho bọn quân canh báo cho Bá Hi biết tin dữ.

Bá Hi liền lấy cớ vấn an, vào cung thăm hỏi bệnh tình Phù Sai xong liền nói:

– Bệnh của Đại vương hết sức thất thường, khi nhẹ khi nặng. Nếu như Đại vương tha cho Câu Tiễn về nhà đá như trước, biết đâu ân đức ấy làm động lòng trời mà mau chóng khỏi bệnh chăng? Câu Tiễn hiện như con cá trong giỏ muốn bắt giết lúc nào chẳng được, cần gì phải giam giữ hay giết chóc trong cung làm tổn hại âm đức của Đại vương đi?

Phù Sai nghe vậy liền ban lệnh cho Câu Tiễn được trở về gian nhà đá như cũ. Tuy nhiên bệnh tình của Phù Sai vẫn là mối lo của Câu Tiễn, ông nhờ Phạm Lãi bói thêm một quẻ nữa xem tình hình ra sao. Phạm Lãi bói xong liền cho biết:

– Theo quẻ bói thì số của Phù Sai còn làm vua được mấy năm nữa. Bệnh này đến ngày Kỷ Tị thì bớt chút ít, đến ngày Nhâm Thân thì khỏi hoàn toàn. Nhân cơ hội này chúa công nên xin vào vấn an, chịu nhục nếm phân mà đoán bệnh theo quẻ bói. Nếu Phù Sai qua khỏi thì sẽ hết sức cảm động mà tha tội cho chúa công vậy.

Câu Tiễn ứa nước mắt, khóc mà nói:

– Dù sao ta cũng là vua một nước, bây giờ có chịu nhục đến đâu cũng được nhưng việc này quá sức, làm sao ta có thể thi hành được?

Phạm Lãi cũng khóc theo, cố thuyết phục:

– Trước kia Trung vương giam giữ Văn vương ở Dũ Lý rồi giết con là Bá Ấp Khảo đem làm mắm. Thế mà Văn vương cũng chịu được đau đớn nhục nhã ăn thịt của con. Việc này tuy nhơ bẩn nhưng nếu quyết tâm tìm sự sống để quật cường trở lại thì tôi nghĩ chúa công có thể nghiến răng mà làm được, xin đừng câu nệ tiểu tiết mà hỏng hết đại sự.

Câu Tiễn phân vân suy nghĩ mãi mới chấp nhận lời khuyên của Phạm Lãi, xin Bá Hi tiến dẫn cho mình được vào vấn an Phù Sai. Lúc ấy Phù Sai nằm bệnh lâu ngày cũng hơi buồn chán, nghe Bá Hi xin thì liền bằng lòng ngay, vả chăng cũng muôn thử xem thái độ của Câu Tiễn ra sao. Câu Tiễn vấn an xong liền nói:

– Trước kia tôi có học một y sư ở Đông Hải biết cách xem bệnh tình bằng cách nếm phân. Có thể Đại vương không tin nhưng cứ cho tôi thử một lần.

Phù Sai vô cùng kinh ngạc nhưng lại tò mò nên bằng lòng. Mọi người đều bịt mũi đứng ra xa, riêng Câu Tiễn giữ bộ mặt nghiêm nghị, nếm xong đứng lên vái lạy chúc mừng:

– Theo tôi thì đến ngày Kỷ Tị thì thuyên giảm, đến ngày Nhâm Thân sẽ khỏi hẳn.

Phù Sai nửa kinh ngạc nửa buồn cười, hỏi:

– Ta chưa hề thấy cách xem bệnh như vậy bao giờ. Ngươi dựa vào đâu mà dám đoán mò, không sợ tội khi quân hay sao?

Câu Tiễn thản nhiên đáp:

– Tôi thật chẳng dám đoán mò. Theo y lý thì phân là cốc vị nên thuận theo thời khí thì người sống mà trái với thời khí thì người chết. Nay tôi thấy vị đắng mà chua, rất hợp với tiết xuân hạ nên đưa ra lời suy đoán mà thôi. Nếu sai xin Đại vương dung thứ.

Phù Sai vẫn chưa hết cười nhưng tinh thần đã thư thái đôi chút, vẫy tay gọi Bá Hi lại hỏi rằng có thể nếm thử hay không. Bá Hi vội vàng cúi đầu tạ tội, lấy cớ rằng mình chưa được học về y lý nên cũng chưa dám nếm thử như vậy. Qua ngày hôm sau bệnh tình của Phù Sai chỉ bớt rất ít nhưng tinh thần sảng khoái hơn trước lập tức xuống lệnh cho vua tôi Câu Tiễn rời khỏi nhà đá, đến một căn nhà khác sạch sẽ hơn, đồng thời cũng ban cho một số thực phẩm đầy đủ.

Chẳng biết Phạm Lãi tài tình hay số mệnh của Câu Tiễn đã đến lúc vinh quang, ngày Nhâm Thân quả nhiên Phù Sai khỏi hẳn bệnh. Nhà vua mừng rỡ sai mở yến tiệc khánh hạ, cho phép Câu Tiễn đến dự. Câu Tiễn theo lời của Phạm Lãi giả như không biết, vẫn mặc quần áo tù nhân rách rưới bẩn thỉu mà vào cung.

Phù Sai vừa nhìn thấy lập tức quát bảo nội thị đưa Câu Tiễn vào phía sau tắm rửa, thay quần áo mới cho xứng đáng với địa vị của vua một nước. Triều thần thấy vậy đều tung hô khen ngợi Phù Sai khoan dung độ lượng khiến ông ta rất đắc chí, nhân lúc ngà say liền tuyên bố sẽ cho Câu Tiễn về nước. Ngũ Viên bị bất ngờ không sao phản ứng kịp bởi vì lời của nhà vua đã ban ra, nếu đứng ra chống lại thì mang tội khi quân nên hầm hầm bỏ ra khỏi tiệc, không nói lời nào. Bá Hi nhân cơ hội ấy bèn nói móc:

– Đại vương là bậc đại nhân mà Câu Tiễn là bậc đại hiền, vì vậy Tướng quốc không dám ngồi chung là phải lắm! Ha ha!

Câu nói này rất lọt tai nên Phù Sai hài lòng, không thèm để ý đến Ngũ Viên nữa, mấy hôm sau mở tiệc ở Sà Môn để tiễn Câu Tiễn về nước. Thật sự Câu Tiễn cũng không thể tin mình được tha dễ dàng như vậy, trong lòng hồi hộp không yên mãi khi đoàn xe về đến Tích giang, nhìn thấy triều thần do Văn Chủng dẫn đầu đứng chờ đón thì mới biết mình không nằm mơ. Lần trước Câu Tiễn đại bại ở Cối Kê nên về nước rồi quyết định xây dựng lại thành trì ở đó để mãi mãi nhớ đến sự nhục nhã, đồng thời trao hết toan tính cho Văn Chủng và Phạm Lãi.

Phạm Lãi được trao toàn quyền về binh bị, lập tức huy động dân chúng xây dựng thành Cối Kê, ba mặt đều hết sức chắc chắn, chỉ riêng mặt phía tây bỏ trống, nói với mọi người rằng như thế để tiện cho việc triều cống nước Ngô, đồng thời cũng biểu thị ý là không hề đề phòng quân Ngô. Thật sự, Phạm Lãi cố ý để trống là sau này dễ dàng tiến quân mà không ai nghi ngờ gì được. Nhờ Văn Chủng chấn chỉnh quốc chính, Phạm Lãi ra sức chiêu binh mãi mã, huấn luyện cực kỳ tinh mật mà chẳng bao lâu nước Việt đã hùng mạnh lên thấy rõ nhưng bề ngoài vẫn tỏ ra nghèo đói, không để lộ chút tin tức gì cho Phù Sai hay biết.

Từ khi về nước, Câu Tiễn không ngày nào quên mối thù nhục nhã, hạ lệnh cho treo một trái mật ngay nơi làm việc, lâu lâu lại nếm một ít để vị đắng nhắc nhở mối thù. Khi ngủ, Câu Tiễn sai người tìm một số cây gai trải làm nệm, nằm trên đó mặc cho đau đớn, luôn miệng nhắc hai chữ “Cối Kê” để hun đúc thêm lòng căm thù nước Ngô. Vì vậy sau này để biểu thị sự nhẫn nại chịu đau khổ để nhằm mục đích nào đó, người ta hay dùng bốn chữ “nằm gai nếm mật”, lại dần trở thành điển tích.

Lúc đó nước Ngô hoàn toàn vô sự, lại được nước Việt triều cống rất nhiều của cải nên sung túc hẳn lên, Phù Sai lại tự biết mình không thể sống lâu nên bắt đầu muốn ăn chơi xa xỉ hưởng lạc. Văn Chủng và Phạm Lãi đã toan tính với nhau từ trước, tung tiền bạc ra mua chuộc không ít cận thần nước Ngô nên khi nghe tin Phù Sai định mở rộng Cô Tô đài cao hơn ngàn trượng, chứa được hơn ngàn cung nữ nên vào xin với Câu Tiễn nhanh chóng ban lệnh sai người dân Việt vào rừng sâu tìm đủ loại gỗ tốt và thật lớn để dâng cho Phù Sai.

Đương nhiên Câu Tiễn biết dây là một trong 7 sách lược làm suy yếu nước Ngô mà trước đây Văn Chủng đã dâng lên, bằng lòng ngay, tuyên bố ai tìm được loại gỗ quý và to nhất sẽ trọng thưởng ngàn vàng. Bảy sách lược của Văn Chủng gồm có:

– Sẵn sàng chịu hao tốn để vua tôi nước Ngô ăn chơi hưởng lạc bỏ bê triều chính.

– Bỏ nhiều tiền ra mua lương thảo nước Ngô để đến khi cần gấp sẽ bị thiếu hụt.

– Dùng “Mỹ nhân kế” để chia rẽ vua tôi nước Ngô, làm cho người dân bất mãn không đồng lòng chiến đấu.

– Khuyến khích Phù Sai xây dựng cung thất nguy nga tráng lệ để ngân khố bị tổn hại đến mức trống rỗng, không còn kinh phí cho quân mã nữa.

– Đút lót cho các quan tham làm lũng đoạn triều chính.

– Đồng thời ra sức tích trữ lương thảo, luyện tập quân binh thuần thục, tăng cường nhuệ khí cho quân binh để khi cần sẽ xuất phát như sấm nổ vang trời. Việc này hoàn toàn giao cho Phạm Lãi đảm trách.

Nhờ vào sự ban trưởng trọng hậu này mà có đến mấy ngàn người hăng hái đi tận vào rừng sâu tìm kiếm, quả nhiên tìm được hai cây gỗ hết sức chắc chắn, lại có nhiều vân đẹp. Hai cây này không ai biết tên là gì, mọc ở phía nam nên được đặt tên là gỗ Nam. Câu Tiễn cả mừng, thân hành đến nơi xem thử, làm lễ tạ ơn trời đất rồi sai nhiều nhân công ra sức chạm trổ cực kỳ hoa lệ, sau đó chính Văn Chủng đích thân dẫn đoàn người vận tải hai cây gỗ quý ấy đến triều Ngô dâng lên. Phù Sai đang lo lắng không có vật liệu xây dựng một cái đài cao như ý định, nay được tiến cống thì vô cùng mừng rỡ, mở tiệc lớn khoản đãi Văn Chủng, đồng thời hết lời khen ngợi Câu Tiễn là tôi thần trung hiếu.

Dù đã có gỗ lớn, vậy mà cũng phải mất đến 5 năm mới xây dựng xong Cô Tô đài cao hơn 300 trượng, hao tổn ngân khố kể đến hàng triệu, phu dịch lao khổ chết nhiều như rạ khiến nhân dân nước Ngô vô cùng oán thán. Không hề nhìn ra sự oán thán của người dân, Phù Sai còn bắt lao dịch phải làm một con đường cong 9 khúc đi từ chân núi lên tới Cô Tô đài làm cho người dân càng căm phẫn.

Đồng thời lúc ấy Ván Chủng cũng sai Phạm Lãi phụ trách cả việc tìm kiếm mỹ nhân, vì vậy ngay khi Cô Tô đài chưa xong đã có dâng lên cho Câu Tiễn danh sách hơn 2000 mỹ nhân, trong đó đặc biệt nhất là Tây Thi và Trịnh Đán. Đây là một “kỳ công” nhờ vào sự gắng sức của Phạm Lãi và cũng là một cuộc tình hết sức diễm lệ theo như tương truyền.

Trong suốt thời gian tìm kiếm mỹ nhân, Phạm Lãi và đoàn tùy tùng gặp hàng ngàn cô gái sắc nước hương trời nhưng cuối, cùng vẫn chưa có ai toàn vẹn, đạt được yêu cầu là phải làm cho Phù Sai mê đắm đến điên cuồng, đồng thời có đủ tài trí khôn ngoan làm nghiêng đổ triều đình nước Ngô. Khi đã gần hết thời gian hạn định, Phạm Lãi vô cùng lo buồn, quyết định đi đến ngọn núi Trữ La ở tận cùng biên cương phía bắc. Nơi đây phong cảnh hết sức hữu tình, non xanh nước biếc, không khí trong lành u tịnh nên Phạm Lãi hy vọng sẽ là nơi sản sinh ra người đẹp nhất thế gian. Quả nhiên không ngoài mong ước của ông, khi vừa đến Trữ La thôn nằm nhỏ bé dưới chân núi, Phạm Lãi đã được nghe đồn đến sắc đẹp tuyệt thế của Tây Thi, lập tức tìm đến.

Tây Thi vốn không phải là tên thật, nàng chỉ là một cô gái dân dã mộc mạc nhưng nhờ vào thiên nhiên hun đúc, sắc đẹp không ai sánh nổi. Ở làng bên phía Đông cũng có không ít mỹ nhân nhưng thật sự vẫn không ai có thể sánh bằng, mặc dù thôn Đông rất tự hào về một người con gái tên là Trịnh Đán. Phạm Lãi không muốn kinh động người dân, giả như một Nho sinh nhàn du tìm đến Trữ La thôn, đúng vào lúc cả một đoàn con gái vui cười tíu tít kéo nhau ra bờ suối giặt quần áo.

Chỉ cần thoáng nhìn qua, Phạm Lãi đã nhận ra ngay Tây Thi bởi từ vóc dáng đến dung nhan và tư cách của nàng nổi bật trong đám đông, không thể nào lẫn lộn được, giống như chim thiên nga đi cùng với bầy vịt trời. Qua lần đầu trò chuyện, Phạm Lãi lại càng sửng sốt bởi trí tuệ thông minh tuyệt vời của nàng, mặc dù không hề được học hành thi thư. Chỉ một lần nói sơ lược việc sẽ bị tiến cống qua đất Ngô, lập tức Tây Thi đã hiểu ngay đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn nhưng vẫn can đảm nhận lời, buồn bã từ biệt người thân để cùng với phái đoàn tìm kiếm về triều đình nước Việt.

Về mặt sắc đẹp, Trịnh Đán cũng không thua gì Tây Thi nhưng xét theo trí tuệ thì không sao bằng được nên dù vẫn được kết nạp nhưng chỉ xếp vào hạng thứ hai. Hai nàng sau khi về tới kinh đô nước Việt, được Câu Tiễn hết sức tán tụng và cho người chăm sóc Tây Thi, Trịnh Đán một cách đặc biệt, không những được mặc những loại quần áo lụa là gấm góc sang trọng mà còn được nhiều danh sư về múa hát dạy dỗ tận tình, lại cấp riêng nơi ở bí mật ở Thổ thành để tin tức không bị tiết lộ. Cho đến khi Cô Tô đài hoàn thành thì cũng đúng lúc Tây Thi và Trịnh Đán đã “lột xác” trở thành hai mỹ nhân tuyệt thế, cầm kỳ thi họa, ca múa không ai sánh bằng.

Câu Tiễn thấy đã đúng thời cơ, sai Phạm Lãi dẫn đầu đoàn sứ giả đưa Tây Thi và Trịnh Đán cùng một số mỹ nhân khác làm thị tì sang đất Ngô tiến cống. Sở dĩ Phạm Lãi được đặc trách việc này là do Văn Chủng còn rất nhiều chuyện phải lo toan và trải qua mấy năm tù đày cùng Câu Tiễn nơi đất khách quê người, Phạm Lãi thông thạo đường lối và quen biết khá nhiều quan lại triều Ngô, rất thuận tiện cho sứ mệnh.

Sử sách không ghi lại chi tiết nhưng theo truyền thuyết thì trong thời gian Phạm Lãi hộ tống Tây Thi sang Ngô chính là thời gian mối tình nảy nở giữa hai người. Thế nhưng, cả hai cũng đều biết đây là nhiệm vụ quan trọng của quốc gia, tuy yêu nhau say đắm vẫn ý thức được phải làm những gì. Họ cùng nhau thề nguyền nếu sau này hoàn thành nhiệm vụ sẽ cùng nhau se tơ kết tóc mãi mãi.

Quả nhiên, khi Phù Sai vừa nhìn thấy Tây Thi là đã mê mẩn hồn phách, dù Ngũ Viên không biết bao nhiêu lần cảnh tỉnh vẫn như kẻ mộng du, bỏ hết những lời can gián ngoài tai. Lúc đó Phù Sai đã có Hoàng hậu và rất nhiều phi tần, ông không hề phong chức cho Tây Thi nhưng lại đặc biệt cho nàng được ở Cô Tô đài, cung ứng đầy đủ thức ngon vật lạ còn hơn cả Hoàng hậu. Riêng Trịnh Đán tuy cũng được Phù Sai sủng ái nhưng để lại cung cấm, chịu nhiều đau khổ vì sự ganh tị của các phi tần triều Ngô nên đâm ra buồn rầu thành bệnh, một năm sau khi tiến cống thì mất. Phù Sai cũng không phải vô tình, sai người an táng Trịnh Đán theo lễ phi tần rất trọng hậu ở Hoàng Mao sơn, rồi lập cả miếu thờ để an ủi vong linh cửa nàng phần nào.

Phạm Lãi chọn không nhầm người, khi đã được Phù Sai sủng ái, Tây Thi ra sức thi hành những kế sách làm lũng đoạn cả về kinh tế lẫn chính trị triều Ngô. Nàng đòi hỏi hầu như không biết đâu là đủ nhưng Phù Sai vẫn u mê nghe theo lời, dù những yêu cầu đó tốn kém ngân khố và sức người không ít. Tây Thi có ý thích được sống trên các ngọn núi cao, giống như tiên nữ tách biệt riêng với trần gian, Phù Sai lập tức chiều theo, cho xây dựng Quán Khuê cung trên núi Linh Nham rồi sau đó là Ngoạn Hoa trì (Hồ thưởng hoa), Ngoạn Nguyệt trì (hồ thưởng trăng), Thái Liên hình, Tiên Hạ Loan, Cẩm Phàm hình, v.v... Những cung điện này nhiều không kể xiết nhưng Phù Sai vẫn sợ rằng Tây Thi chưa vừa lòng, đặc biệt cho xây dựng Tây Thi động, phải đào sâu vào trong núi đá, tạo lập một cảnh sắc riêng biệt giống như tiên cảnh, vì vậy vô cùng khó nhọc và tổn phí không sao tính nổi.

Từ khi có Tây Thi, hầu như Phù Sai vắng mặt ở triều đình, không ở Tây Thi động thì cũng Cô Tô đài, chỉ đặc biệt cho Bá Hi vào vấn an còn lại bất cứ đại thần nào từ Ngũ Viên trở xuống đều từ chối không tiếp. Triều chính nước Ngô bắt đầu suy sụp hôn ám, bọn tham quan lợi dụng cơ hội này ra sức vơ vét của cải khiến người dân đã quá lao đao vì phải phục dịch cho Phù Sai nay còn bị bóc lột đến mức đói khổ điêu linh, cả nước vang lên tiếng kêu oán than mà Phù Sai làm sao nghe được?

Phạm Lãi từ giã triều Ngô về nước, để lại một số tay chân thân tín làm gián điệp dò la tin tức, đồng thời mau chóng báo về nên bao nhiêu việc tồi tệ ở triều Ngô đều nắm rõ, bàn với Văn Chủng tiến hành kế sách tiếp theo. Văn Chủng liền cho người sang Ngô xin mượn một vạn thạch thóc, hứa rằng đúng ngày này năm tới sẽ trả lại. Ngũ Viên cực lực phản đối việc này, liên tiếp dâng hàng chục tấu thư nhưng Phù Sai không hề để mắt tới, vui vẻ chấp thuận yêu cầu của Văn Chủng.

Năm sau nước Ngô bị mất mùa, Phù Sai chưa kịp hỏi thì nước Việt đã mau chóng mang số thóc mượn đến trả, số lượng lên đến hai vạn chứ không phải một vạn làm cho Phù Sai càng thêm tin tưởng rằng nước Việt luôn luôn trung thành với mình. Thật sự số thóc ấy Văn Chủng đã ngầm cho người nấu lên, nóng đến một mức độ nhất định, nhìn bề ngoài không hề thấy khác lạ nhưng hoàn toàn đã chín rồi. Do vậy khi người dân Ngô dùng số thóc ấy gieo trồng thì chỉ tốn công vô ích, nạn đói càng thêm hoành hành.

Tin tức này lọt đến tai Phù Sai, thế nhưng nhà vua đã quá u mê, cho rằng việc thóc giống không thành cây lúa là vì phong thổ khác nhau chứ không phải nước Việt dụng tâm xấu. Đến khi Ngũ Viên tâu về việc nước Việt tăng cường huấn luyện quân binh thì Phù Sai vẫn không thèm để ý, ung dung phán bảo:

– Nước nào mà chẳng cần tới quân binh giữ gìn? Việc huấn luyện quân mã thì có gì lạ lắm đâu mà Tướng quốc phải quan tâm?

Ngũ Viên nhiều lần mang nỗi tức về nhà nên đã khôn khéo hơn, nghe vậy cố nuốt giận mà tâu:

– Nếu Đại vương tin tưởng nước Việt trung thành thì cứ thử một lần đem quân giả như sắp tiến đánh thì sẽ biết ngay hư thật. Nếu không đúng thì đó cũng là thái độ thị uy với nước Việt vậy.

Phù Sai là người hùng tâm tráng chí, tuy đang lúc mê đắm nữ sắc vẫn còn mang hoài bão làm bá chủ một phương nên nghe lời của Ngũ Viên ngay, xuống lệnh cho quân binh chuẩn bị. Khi ấy quân nước Việt thừa sức đương cự nhờ vào tài huấn luyện của Phạm Lãi, lại có cơ may được một người con gái chẳng biết từ đâu tới, nói rằng mình rất giỏi về kiếm pháp Nam Lâm, sẽ dạy cho binh tướng. Khi dạy xong kiếm pháp này, đột nhiên người con gái ấy biến đâu mất, ai cũng tin rằng đó là thần nữ xuống giúp cho nước Việt nên hùng khí lên rất cao. Riêng Văn Chủng có mời một dũng sĩ tên là Trần Am, cực giỏi về bắn cung, đến dạy cho quân sĩ phép bắn ‘liên nỗ” (bắn nỏ liên tiếp ba phát), nếu toàn quân cùng lúc bắn ra thì tướng đối phương tài giỏi đến mấy cũng phải tử thương. Sau khi huấn luyện phép bắn xong, đột ngột Trần Am cũng mất, lại càng làm cho quân tướng nước Việt tin rằng đó là thần nhân được trời sai xuống.

Do vậy nếu như cuộc chiến Ngô-Việt có xảy ra thì chưa biết thắng bại ra sao. May thay lúc ấy nước Tề đang tiến quân định chiếm nước Lỗ. Cả triều đình nước Lỗ xáo động kinh hoàng phải nhờ tới Khổng Tử. Ông bèn sai Tử Cống đi du thuyết, dùng phương cách khích động nước Tề nên đánh Ngô rồi lại sang Ngô trình bày là nước Tề đánh Lỗ xong thể nào cũng xâm phạm đến Ngô. Phù Sai nghe vậy hết sức tức giận, bãi bỏ việc đánh Việt mà dồn quân đánh Tề để thị uy. Tử Công thành công rồi liền sang nước Việt hiến kế, Câu Tiễn nghe theo, xin Phù Sai cho quân Việt cùng kết hợp đánh Tề khiến bao nhiêu nghi ngờ của ông ta với nước Việt tan biến, gọi Ngũ Viên vào nặng lời trách móc.

Khi ấy quân binh của nước Ngô vẫn còn hùng mạnh như sự đánh giá của Phạm Lãi nên chỉ trong vài trận đã đại thắng quân Tề, danh tướng Triển Như bắt sống được Công tôn Hạ; Đại tướng Tư Môn Sào của Ngô giết chết Công tôn Huy; riêng Phù Sai cũng bắn chết Tôn Lâu của Tề, bắt sống được Lư Khâu Minh. Nhờ trận đại thắng này, Phù Sai vô cùng thỏa mãn, quên hẳn việc phải đề phòng hay thị uy với nước Việt.

Thế nhưng Ngũ Viên đã không chúc mừng chiến thắng của Phù Sai mà còn nhiều lời chê trách khiến Phù Sai không sao chịu được nữa, ban cho ông ta thanh kiếm Chúc Lâu để tự xử. Ngũ Viên đường hoàng tự đâm cổ mà chết. Sau khi Ngũ Viên chết rồi, lại đến lượt Thế tử Hữu cả gan đưa ra lời cảnh tỉnh, rốt cuộc cũng bị Phù Sai nổi giận trách phạt. Từ đó trở đi triều thần nước giống như câm điếc, để mặc cho Phù Sai tha hồ thi hành những chuyện hại dân hại nước như bắt hàng vạn dân phu đào kênh dẫn nước sông Giang, sông Hoài chảy vào sông Nghi, thông sang nước Tề để mai này tiện việc tiến quân.

Chưa được một năm, thế nước càng lúc càng suy yếu mà Phù Sai vẫn không nhìn ra, lại muốn cùng nước Tấn tranh giành ngôi bá chủ nên ban bố ước thư hẹn các chư hầu phải đến Hoàng Trì hội họp. Để phô trương thanh thế, Phù Sai kiểm điểm hầu như toàn bộ quân tướng, tiền hô hậu ủng, cờ xí rợp trời, xe ngựa kéo dài hàng trăm dặm không dứt, ầm ầm tiến đến Hoàng Trì. Đây là lần đầu tiên Phù Sai phát binh đi xa nhất, vào sâu nước Tề với toàn bộ quân tướng nên hầu như nước Ngô bị bỏ trống.

Trước đó đã khá nhiều lần Câu Tiễn thúc giục Văn Chủng và Phạm Lãi tiến quân đánh báo thù nhưng cả hai đều đồng ý kiến là quân Ngô còn rất mạnh, không thể khinh suất. Trải qua nhiều biến loạn nơi triều đình Ngô, từ việc quá phung phí ngân khố cho Phù Sai ăn chơi hưởng lạc cho đến cái chết oan ức của Ngũ Viên, bây giờ tới cơ hội Phù Sai dẫn toàn quân đi xa thì không còn dịp may nào lớn hơn. Do vậy khi Câu Tiễn hỏi Phạm Lãi:

– Ta thường nghe khanh nói: “Khi đã có thời cơ thì phải hành động nhanh như vũ bão”. Bây giờ đã đúng thời cơ chưa.

Lần này Phạm Lãi không phản đối nữa mà tươi cười đáp lời:

– Đã đến lúc Đại vương báo thù trả hận rồi.

Câu Tiễn cả mừng, ngay hôm đó xuống lệnh cho ba quân sửa soạn tề chỉnh rồi hôm sau đồng loạt xuất phát đi qua con đường phía tây đã bỏ trống từ lâu. Đó là vào năm 476 trước Công nguyên, toàn quân nước Việt chia làm hai đường tiến đánh nước Ngô, một do Câu Tiễn đích thân chỉ huy, một do Phạm Lãi thống suất. Phạm Lãi còn vạch ra kế hoạch bao vây, cho một cánh quân đi thuyền lớn vượt biển vào đất Hoài, cắt đứt đường về của quân Ngô. Đại quân nước Việt thì theo đường bộ tiến lên phía bắc thẳng tới Cô Tô.

Bao nhiêu oán hờn nhục nhã tích chứa từ lâu nay, bây giờ phát lộ bằng khí thế ngất trời, trong khi đó quân tướng nước Ngô theo gương chủ nhân hết sức chểnh mảng trong phòng bị, ngay lúc nhìn thấy quân Việt tiến công thì đã mất hết tinh thần, hoảng loạn tranh nhau chạy trốn. Nhờ vậy quân nước Việt tiến nhanh như chẻ tre, chưa đầy một tháng đã công phá kinh thành Cô Tô, mau chóng giết chết tướng giữ thành là Công tôn Dung Dị. Riêng Thế tử Hữu là người rất can trường, tuy biết quân mình ít hơn đối phương nhiều lần cũng liều chết lên mặt thành hô hào chiến đấu, cuối cùng bị trúng luôn mấy mũi tên do phép bắn “liên nỗ” quá lợi hại. Thế tử Hữu biết rằng mình khó sống, lại không muôn bị nhục nên tự kết liễu đời mình.

Tuy nhiên lúc ấy Công tử Địa vẫn can đảm chống giữ thành rất vững, đồng thời sai người cấp tốc đến Hoàng Trì cấp báo với Phù Sai. Câu Tiễn chiếm được ngoại thành rồi, truyền lệnh nổi lửa đốt cháy Cô Tô đài nhưng không giết các cung nữ phi tần của Phù Sai. Trong số ấy, Tây Thi là người được Phạm Lãi đón về trước nhất bởi nàng không những đã “thề non hẹn biển” với mình mà còn là một công thần xứng đáng được nêu danh. Cô Tô đài quả nhiên danh bất hư truyền, bị cháy đến hơn một tháng mà lửa vẫn chưa tắt hẳn, khói đen mù mịt cả một vùng lớn, bao nhiêu tài vật cùng các chiến thuyền của nước Ngô đều được Câu Tiễn thu thập đem về Thái hồ, rảnh tay chờ đợi một cuộc kịch chiến nếu như Phù Sai đem quân về kịp.

Khi ấy ở Hoàng Trì, Phù Sai và Tấn Định công còn mải lo tranh chấp chức vị Bá chủ nên không hề nghe tin tức gì, mãi đến khi người của Công tử Địa chạy đến mới rụng rời cả tay chân. Bá Hi là tên gian thần xu nịnh nhưng vào thời điểm này quyết đoán cũng khá khôn ngoan, lập tức rút kiếm chém chết người đưa tin để không còn ai hay biết. Phù Sai liền cùng Bá Hi bàn cách rút quân sao cho thật kín đáo, nếu không các chư hầu - nhất là quân Tấn - tất sẽ nhân dịp này truy sát thì không còn đất sống. Dựa vào kế sách của Bá Hi, Phù Sai đột ngột kéo toàn bộ quân mã đến đàn thề, nổi trống vang trời rồi thúc giục các chư hầu nội trong ngày phải ưng chịu tôn xưng nước Ngô làm bá chủ.

Sứ giả của nước Tấn là Đổng Cát rất tinh đời, quan sát sự việc thì nghi rằng nội bộ nước Ngô đã xảy ra biến sự nhưng vẫn còn sợ bị Phù Sai liều lĩnh tiêu diệt nên bàn với Tấn Định công vẫn ưng chịu xưng Ngô là bá chủ nhưng không được xưng Vương. Dĩ nhiên Phù Sai chấp nhận ngay rồi sau đó lập tức rút quân về Việt. Phù Sai cho rằng Bá Hi có nhiều quan hệ với nước Việt nên cử ông ta làm sứ giả xin cầu hòa. Thật sự Bá Hi không có tài biện thuyết, tất cả là do Phạm Lãi nhận định nước Ngô đã quá suy yếu, không cần dồn đối phương vào đường cùng cũng tự tan rã nên xin với Câu Tiễn chấp nhận lời cầu hòa, quân Việt ca khúc khải hoàn rút về nước.

Thế nhưng tình hình đúng như sự tiên liệu của Phạm Lãi, dù Phù Sai cố hết sức chấn chỉnh triều đình nhưng lực bất tòng tâm, càng lúc càng suy bại. Vì vậy 3 năm sau, tức là vào năm 473, Câu Tiễn một lần nữa lại kéo đại quân tiến đánh. Lần này tự thân Phù Sai thống lãnh chống trả nhưng thế cùng lực kiệt, đại bại không còn manh giáp, các Đại tướng như Tào Cô, Tư Môn Sào đều tử trận. Phù Sai rút vào thành cố thủ, bất đắc dĩ phải sai Công Tôn Lạc làm sứ giả sang quân doanh nước Việt cầu hòa lần nữa.

Lời lẽ của Công Tôn Lạc rất nhũn nhặn, chịu hết những điều kiện sỉ nhục khiến Câu Tiễn nghĩ đến lúc sa cơ của mình trước kia cũng xúc động, đã toan bằng lòng thì Phạm Lãi bước ra ngăn cản, nói:

– Không được, thần đã từng chủ trương thời cơ chỉ đến một lần, cần lợi dụng thời cơ ấy để tiêu diệt tận gốc ngọn. Nay nếu chúa công chấp nhận cầu hòa thì thần e rằng chỉ trong vòng 5 năm, mối nhục Cối Kê sẽ tái diễn.

Nghe đến tên Cối Kê, bao nhiêu oán hờn bừng dậy, Câu Tiễn liền cự tuyệt đề nghị giảng hòa của Phù Sai. Thế nhưng Phù Sai không còn cách nào khác, một mặt cố chống đỡ, một mặt vẫn sai sứ giả đến thuyết phục xin cầu hòa, đi lại đến 7 lần vẫn không sao lung lạc được Câu Tiễn, Công Tôn Lạc phải vừa bưng mặt khóc vừa cùng phái đoàn sứ giả trở về thành. Tuy nhiên, thành Cô Tô vẫn còn rất vững chắc, nhiều lần quân Việt không tấn công mà sao phá nổi khiến Phạm Lãi vô cùng lo lắng.

Chợt một đêm Phạm Lãi và Văn Chủng cùng mơ một giấc mộng giống hết như nhau, đó là Ngũ Viên mũ áo chỉnh tề như lúc còn sống, đến nói rằng: “Nước Ngô đã hết mệnh, ta tuy là trung thần của Ngô nhưng vẫn không sao cãi được số trời. Các ông cứ dẫn quân theo Đông môn thì sẽ đoạt được thắng lợi”. Nói xong hồn của Ngũ Viên biến mất. Sáng hôm sau Văn Chủng và Phạm Lãi kể lại cho nhau nghe, hết sức kinh ngạc nhưng vẫn tiến hành theo lời chỉ dẫn của Ngũ Viên.

Chẳng biết tại sao hay là quả do trời định mà Đông môn lúc ấy không hề có quân nước Ngô canh giữ, đại quân của Phạm Lãi tràn vào hết sức dễ dàng. Cuộc tiến công này bất ngờ đến mức lúc ấy Phù Sai chưa kịp ăn cơm, đành để bụng đói cùng một số quân tướng quần thần chạy đến Dương sơn. Bá Hi không chạy theo vị vua sắp mất nước mà mau lẹ đầu hàng quân Việt để bảo toàn tính mạng.

Khi ấy quân Việt đã vây chặt Dương sơn, Phù Sai không còn cách nào khác đành phải buộc thư xin đầu hàng vào đầu mũi tên bắn ra ngoài thành. Lần này Câu Tiễn cũng toan chấp nhận nhưng Phạm Lãi cương quyết phản đối, đáp lại bằng một bức thư khác hạch ra 6 tội lớn của Phù Sai, mà trong đó tội thứ 6 là “quên kẻ thù của tiên vương, tức tội bất hiếu không thể tha thứ”. Phù Sai đọc xong thư của Phạm Lãi, quá hổ thẹn, tự đâm cổ mà chết. Trước đó Phù Sai cũng nhớ tới Ngũ Viên, phải lấy lụa che mặt để khi chết không dám nhìn Ngũ Viên nơi chốn suối vàng nữa.

Đây chính là kế sách khích động của Phạm Lãi khiến Phù Sai phải tự xử, Câu Tiễn không phải xuống tay giết chóc mà mang tiếng với chư hầu. Sau khi Phù Sai chết rồi, quân tướng dưới quyền đương nhiên tan rã, quân Việt không tốn xương máu vẫn ung dung chiếm được toàn bộ nước Ngô. Câu Tiễn làm lễ an táng Phù Sai rất trọng hậu, theo lễ nghi vương hầu ở ngay Dương sơn, nơi mà trước kia Phù Sai rất thích đến đó hưởng lạc. Riêng Bá Hi là tên gian thần đáng khinh, Câu Tiễn liền xuống lệnh giết toàn bộ gia tộc của hắn để làm gương cho các tôi thần.

Nhờ chiến công lừng lẫy này, Câu Tiễn được các chư hầu nể sợ mà tôn lên làm Bá chủ, đồng thời cũng được Thiên tử nhà Chu mời về triệu kiến. Công thành danh toại xong, Câu Tiễn cũng giống như các vị Vương hầu khác, bắt đầu cho xây dựng nhiều cung điện lâu đài, tráng lệ nhất là Hạ đài ở ngay Cối Kê.

Phạm Lãi có công lớn nên được phong làm Đại tướng, nắm hết binh quyền trong tay. Thế nhưng ông là người minh trí, tự biết “thỏ chết thì ná cũng dẹp bỏ” nên tự ý từ chức, cáo quan về quê tĩnh dưỡng tuổi già. Câu Tiễn đời nào để mất một danh tướng như Phạm Lãi, vả chăng nếu so ra thì ông vẫn còn tráng kiện khỏe mạnh, đâu đến nỗi phải dưỡng già nên nhất quyết không chấp nhận việc từ quan. Phạm Lãi mấy lần thỉnh cầu không được, một đêm đột ngột cùng gia quyến đi một chiếc thuyền nhỏ qua ngã Tề Nữ môn, thẳng đến Ngũ hồ. Câu Tiễn toan mang quân đuổi theo nhưng Văn Chủng can gián, nói rằng:

– Phạm tướng quân là người đa mưu túc trí, một khi đã bỏ đi như vậy tất đã bố trí sẵn sàng nhiều phương án nghi binh. Đại vương muốn truy đuổi cũng vô ích mà thôi.

Câu Tiễn nghe hữu lý, thở dài, bãi bỏ việc này. Sau khi Phạm Lãi đi rồi, Văn Chủng nhận được một bức thư của ông khuyên nên ưu thời mẫn thế, biết rút lui đúng lúc. Văn Chủng đọc xong chỉ biết thở dài, mãi đến khi Câu Tiễn ngỏ ý nghi ngờ, nói:

– Ta nghe Tướng quốc có đến 7 kế sách để diệt nước Ngô, nay mới dùng có 3 đã thành công hoàn toàn. Vậy 4 kế sách còn lại là gì? Phải chăng để đối phó với ta? Ta nghĩ rằng Tướng quốc nên đem 4 kế sách ấy xuống tuyền đài mà sử dụng.

Nói xong, Câu Tiễn để lại thanh bảo kiếm rồi ra về. Văn Chủng ngửa mặt lên trời than thở:

– Ta không nghe lời Phạm tướng quân, nay chết là đáng lắm rồi.

Sau đó Văn Chủng tự đâm cổ mà chết. Riêng tung tích của Phạm Lãi có nhiều giả thuyết khác nhau, người thì quả quyết đã nhìn thấy ông cùng với Tây Thi rong chơi Ngũ hồ, đôi trai tài gái sắc thực hiện lại lời thề năm nào trước khi đến nước Ngô. Cũng có giả thuyết cho rằng Phạm Lãi đem Tây Thi về ở chung, ngày ngày mê đắm khiến Phu nhân nổi cơn ghen, bí mật sai thị tì bắt Tây Thị buộc đá ném xuống sông dìm chết. Vì vậy Phạm Lãi mới chán nản từ quan, đi tìm niềm vui nơi sông nước để quên đi mối tình dang dở với mỹ nhân.

Theo một giả thuyết khác thì Phạm Lãi đến đất Tề, đổi tên thành Chi Di Tử Bì và làm quan tới chức Thượng khanh, sau một thời gian mới qui ẩn ở Đào sơn, xưng là Đào Chu công, chuyên viết sách mà nay còn truyền tụng một cuốn của ông tên là “Trí phú kỳ thứ’. Theo giả thuyết này thì cuối đời ông mất ở đất Đào nhưng không ai biết rõ ngày tháng.

Trong bộ Sử ký của danh gia Tư Mã Thiên có một đoạn viết về Phạm Lãi, cho rằng: “Ông là vị danh tướng kiêm thông văn võ, biết thời thế, ba lần dời chỗ ở mà vẫn thành công, làm đến Thượng khanh rồi sau đó nổi danh buôn bán thịnh vượng”. Như vậy Phạm Lãi xứng đáng là một Đại danh tướng không ai bì kịp bởi lối sống rất hài hòa giữa danh và lợi; làm việc và vui chơi; sắt đá nghiêm minh nhưng đồng thời lại đa tình, biết thương hoa tiếc ngọc.

Tương truyền có một câu chuyện có thể biểu hiện trí tuệ của ông phi phàm khác người. Đó là lúc Phạm Lãi ở nước Sở, lấy tên Đào Chu công, gia sản nhờ buôn bán lên tới hàng triệu, giàu có khắp chư hầu không ai sánh bằng. Thế nhưng người con thứ của ông vô tình phạm tội giết người, bị xử phải đền mạng.

Phạm Lãi vốn quen biết với Tướng quốc nước Sở là Trang Sinh, nghĩ rằng ông ta có thể cứu vãn được nên định sai người con út đem số vàng cực lớn là 1000 dật (tức khoảng 24.000 lượng) để chuộc tội chết cho con. Thế nhưng người vợ nhất định sai người con trưởng đi làm việc này. Bất đắc dĩ Phạm Lãi phải nghe theo. Người con trưởng đem vàng đút lót cho Trang Sinh, ông này liền lấy cớ nước Sở xuất hiện quá nhiều điềm xấu nên đề nghị Sở vương ban lệnh đại xá. Sở vương nghe theo, hạ lệnh tha hết các tù nhân, kể cả người bị tội chết.

Tiếc rằng người con trưởng của Phạm Lãi quá thiển cận, khi nghe tin Sở vương đại xá thì nghĩ rằng Trang Sinh chẳng có công lao gì, lập tức quay lại đòi vàng. Thật ra Trang Sinh không tức giận vì mất số vàng mà hổ thẹn vì nghĩ rằng đã bị đứa trẻ lừa gạt, lập tức vào triều tâu lại:

– Tôi nghe đồn rằng hiện có người con của Đào Chu công đem số vàng lớn đến đây để đút lót cho Đại vương ban lệnh đại xá thiên hạ. Như vậy chính họ Đào được phúc chứ không phải Đại vương. Lệnh đại xá đã được ban ra, làm vua không nói đùa, bây giờ Đại vương cứ cho thi hành, chỉ riêng người nhà họ Đào không tha thứ, tất thiên hạ sẽ biết ai là người nhân đức ngay.

Sở vương liền nghe theo, sai tiếp tục thi hành lệnh đại xá nhưng riêng người con thứ của Phạm Lãi thì đem ra chém không tha. Khi người con trưởng đem thi hài em về nhà, người mẹ khóc ngất không thôi. Phạm Lãi thong thả nói:

– Sở dĩ tôi muốn sai đứa út đi là vì nó sinh ra lúc nhà giàu sang, như vậy sẽ không tiếc rẻ số vàng quá lớn. Còn đứa lớn sinh ra lúc còn khó khăn, tất có tính tiết kiệm, vì thế chắc chắn sẽ tiếc rẻ mà đòi lại số vàng đó. Nó đem xác đứa em về là đúng lắm rồi.

Có nhiều người đọc câu chuyện này chê trách là Phạm Lãi “có thể phục hưng được cả nước Việt mà không đủ khôn ngoan cứu con mình”. Thật ra câu chuyện chưa chắc đã là thật sự, chỉ nói lên một điều: “Phạm Lãi không những là danh tướng nhiều mưu trí mà còn là một người minh trí, biết xét đoán mọi việc rất rõ ràng, đến ngay cả Văn Chủng cũng phải nể nang khen ngợi. Ông cũng đã bố trí kế sách thoát khỏi sự truy bắt của Câu Tiễn hết sức tài tình thì tại sao lại để cho vợ mình giết chết Tây Thi, người mà ông vẫn hằng yêu mến, thề non hẹn biển từ khi chưa hiến thân cho Phù Sai?

Có lẽ câu chuyện Tây Thi bị người vợ cả ghen dìm chết dưới sông cũng là do Phạm Lãi tung tin ra chăng? Một khi Tây Thi đã chết thì sẽ không còn ai chú ý tới và ông sẽ cùng giai nhân vui hưởng hạnh phúc suốt đời? Dù là giả thuyết nào đi nữa, suốt chiều dài lịch sử phong kiến cổ đại Trung Hoa chưa hề có vị danh tướng nào vừa đạt chiến công vang dội vừa biết tìm hạnh phúc cho mình hài hòa như Phạm Lãi. Hậu thế phải nghiêng mình kính phục tài trí quân sự của ông, đồng thời cũng ngưỡng mộ cách sống của một người quân tử Trung Hoa đúng nghĩa.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Huyền Cơ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.