12 Tướng Soái Trung Hoa

Lượt đọc: 54 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1TÔN VÕ - CON RỒNG THẦN BÍ

❊ ❊ ❊

Xuân Thu Chiến quốc là thời kỳ hết sức hỗn loạn bởi chính sách phong điền lập ấp của nhà Chu bởi kể từ khi Thiên tử nhà Chu không còn nắm được đại quyền chi phối các nước chư hầu như trước kia nữa thì các chư hầu bắt đầu nhen nhóm tham vọng. Vì muốn mở rộng thế lực nên các chư hầu luôn luôn nhòm ngó lẫn nhau, chỉ cần một chút sơ hở như là triều đình một nước nào đó suy yếu liền lập tức tiến hành chiến tranh xâm chiếm, mở rộng biên cương. Do tình hình này mà suốt thời kỳ Chiến quốc có nước hùng mạnh một thời gian rồi suy tàn, một nước khác lại nổi lên với tham vọng muốn làm bá chủ cả một phương, thậm chí còn ngấm ngầm mang ý muôn khuynh đảo cả Thiên tử nhà Chu nữa. Cuộc diện biến đổi làm cho người dân thời kỳ này vô cùng điêu linh lầm than nhưng riêng các Vương Hầu vẫn không bao giờ từ bỏ tham vọng của mình.

Vào năm 585 trước Công nguyên, một chư hầu nhỏ là nước Ngô đã bị nước Việt hùng mạnh hơn tiêu diệt. Nước Ngô phải chịu đựng nhục nhã suốt mấy chục năm, mãi đến khi Ngô vương Hạp Lư (tức Công tử Quang) lên ngôi đất nước mới thịnh trị và mở ra cơ hội báo thù cái nhục trước kia. Ngô vương Hạp Lư canh cánh bên lòng mối thù mất nước, vì vậy âm thầm chiêu mộ nhân tài, trọng dụng các tướng lãnh để hy vọng một ngày nào đó sẽ tấn công nước Việt báo thù. Sau này Hạp Lư thu nhận được một nhân tài là Ngũ Viên, thường được gọi là Ngũ Tử Tư người nước Sở.

Hạp Lư rất kính phục tài năng và ý chí của Ngũ Viên nên phong làm Tướng, giao cho Ngũ Viên nhiệm vụ xây dựng thành Cô Tô, chia làm 8 cửa rồi bắt đầu tiến hành việc tuyển mộ quân mã, sau đó huấn luyện cho họ về binh pháp, tích trữ lương thảo thật đầy đủ. Để đề phòng nước Việt biết tin tấn công trước, Ngũ Viên lại cho xây dựng một tòa thành nữa hết sức kiên cố ở Phượng Hoàng sơn, gọi là Nam Vũ thành.

Với mối thù không đội trời chung bị Sở Bình vương giết cha và anh, Ngũ Viên tận lực phát triển quân đội, mở rộng việc rèn đúc vũ khí và binh giáp, chẳng bao lâu đã hình thành một đội quân vừa tinh nhuệ vừa hùng hậu. Tuy nhiên mãi đến khi Ngũ Viên dùng kế lừa dối, sai Yêu Ly giết chết Công tử Khánh Kỵ một cách hèn hạ thì địa vị của Hạp Lư mới bước sang thời điểm mới vững chắc hơn, không còn lo lắng đến nội loạn mà dồn sức cho việc báo thù.

Trong đám tang của Công tử Khánh Kỵ, Ngũ Viên chợt ôm mặt khóc nức nở khiến Hạp Lư vô cùng kinh ngạc, hỏi thì Ngũ Viên nghẹn ngào đáp:

– Thù nhà của Đại vương đã trả xong, chỉ riêng tôi chưa thể báo thù cho cha anh nên quá xúc động mà không sao cầm được nước mắt. Xin Đại vương tha tội.

Hạp Lư nghe vậy cũng rất cảm động, lập tức hội quần thần lại bàn việc tiến đánh nước Sở. Hạp Lư phân vân nói với quần thần:

– Việc ra quân lần này vô cùng hệ trọng bởi nếu thất bại thì giấc mộng đánh Việt sẽ tiêu tan. Vì vậy cần phải có một danh tướng vô địch đứng ra cầm quân thì ta mới yên tâm được.

Ngũ Viên đứng ra nói:

– Việc này Đại vương lo lắng rất đúng. Tuy nhiên ngay tại nước Ngô này có một nhân tài kiệt xuất mà Đại vương chưa biết đến đó thôi, đó là Tôn Võ. Chỉ cần ông ta chấp nhận cầm quân thì chẳng sá gì nước Sở mà cả Trung nguyên này cũng có thể bỏ vào túi dễ như bỡn.

Tuy Hạp Lư chưa tin lời tiến cử của Ngũ Viên hẳn nhưng nghe nói đó là người nước Ngô lập tức bằng lòng ngay, sai Ngũ Viên mang trọng lễ đến đất La Phù triệu Tôn Võ về kinh để trọng dụng.

Thật sự thân thế của Tôn Võ cũng chưa chính xác, theo sử ghi lại thì Tôn Võ tên tự là Trường Khanh, hoàn toàn không hề biết năm sinh và năm mất của con rồng thần này. Cũng theo chính sử thì Tôn Võ là hậu duệ của công tử Điền Hoàn nước Tần. Vào năm 672 trước Công nguyên, nước Tần xảy ra loạn lạc nên gia đình Công tử Hoàn mới chạy sang Tề, đổi thành họ Điền. Đời thứ năm của Điền Hoàn là Điền Thư làm Đại Phu cho nước Tề, do có công chinh phạt nước Cử nên được Tề Cảnh công ban cho họ Tôn. Con trai Tôn Thư là Tôn Phùng, làm tới chức Khanh ở triều Tề, đó là thân phụ của Tôn Võ. Khi còn thiếu niên, Tôn Võ đã tỏ ra là người say mê binh pháp nhưng không có ý định xuất hiện giúp đời tìm công danh. Lúc trốn chạy đến nước Ngô, Ngũ Viên đã có một thời gian gặp gỡ Tôn Võ, nhận biết đó là nhân tài về quân sự nên hai người đã kết giao làm bằng hữu.

Cũng có sách ghi chép mặc dù Ngũ Viên hết sức tiến cử, đến mức trong một ngày nhắc 7 lần nhưng cuối cùng Ngô vương Hạp Lư cũng chấp thuận cho ông ta đem lễ vật đi mời về kinh chứ không hề hứa hẹn sẽ trọng dụng. Cho đến khi diện kiến, Ngô vương Hạp Lư hỏi về binh pháp, hỏi đến đâu Tôn Võ trả lời như suối chảy, thật rành rọt và có nhiều ý kiến độc đáo về thuật hành binh thì Hạp Lư mới tin dùng.

Theo sử chép thì đối đáp giữa Hạp Lư và Tôn Võ được ghi lại trong phần Bình quyền mưu của bộ Hán thư nhưng hiện này đã mất. Do vậy một số lời chất vấn giữa hai người được ghi lại đều không hoàn toàn chính xác, vì thế chúng tôi chỉ trích sơ lược mà thôi:

“Ngô vương Hạp Lư hỏi:

– Địch bao vây thành, cướp đồng ruộng, đốt hoa màu rồi chận hết các đường giao thông quan trọng, đợi đến khi lương thảo trong thành đã cạn kiệt, sau đó mới tấn công chớp nhoáng thì chúng ta phải làm thế nào?

Tôn Võ trả lời:

– Địch tiến sâu vào đất chúng ta, rời xa quê hương mình. Tướng sĩ đều coi quân đội là nhà, chuyên tâm chiến đấu. Quân ta ở trong nước, dựa vào đất để chống lại, ý chí chiến đấu không kiên quyết bằng, lại không quen ra khỏi thành chiến đấu ở bên ngoài, nhưng nếu ta tích trữ đủ lương thảo, tập hợp quần chúng cố thủ, đồng thời cho những đội quân tinh nhuệ tập kích cắt đứt đường vận chuyển lương thảo của địch. Đợi đến khi địch cạn kiệt quân lương bởi tiếp tế khó khăn, lại bị chúng ta dùng kỳ binh đánh phá, lúc đó đồng ruộng cũng không còn thì có thể tiến ra khiêu chiến địch được.

Ngô Vương Hạp Lư lại hỏi:

– Ngược lại nếu như chúng ta tiến sâu vào đất địch, tướng sĩ xa nhà tinh thần lo lắng chỉ muốn quay về, phía trước lại có địch, tình thế khó tiến mà dễ lui, lại không có nơi nào hiểm trở để cố thủ, ba quân có phần hoảng sợ, tướng soái muốn tiến lên, nhưng quân sĩ lại muốn lui về, trên dưới không cùng một lòng, còn kẻ địch thì lại đang cố thủ trong thành lũy, chiến xa và quân kỵ của địch rất tề chỉnh. Địch có thể đánh ta từ phía trước hoặc tập kích ta từ phía sau, như vậy ta phải đối phó ra sao?

Tôn Võ đáp:

– Quân vào nước địch, nhiệm vụ chính là thọc sâu. Không nên chú trọng tới việc đánh nhau. Khi tiến vào nước địch không nên tiếp cận những đô thành lớn, không nên đi theo những con đường lớn. Sau khi đã vào đến đất địch, giả vờ rút quân, nhưng ngầm cho quân khinh kỵ đột nhập, cướp đi trâu ngựa gia súc của họ. Quân lính trông thấy những thứ cướp được, tinh thần yên ổn vì biết không thiếu lương thực thì sẽ vui vẻ mà tiến lên chứ không sợ gì nữa. Lúc ấy ta sẽ phái tướng giỏi và quân tinh nhuệ, rồi sau đó khiêu chiến dụ địch. Khi quân địch tiến vào chỗ quân chúng ta mai phục thì ta có thể đánh tiêu diệt chúng. Nếu kẻ địch không chịu ra chiến đấu mà rút lui ta cũng đã được lợi rồi.

Ngô Vương Hạp Lư lại hỏi:

– Quân của đôi bên cùng tranh nhau chiếm đất, mà quân kẻ địch lại đến trước, kiên trì cố thủ, luyện tập quân sĩ, hoặc cho quân ra tập kích chúng ta, hoặc phòng thủ bằng kỵ binh thì chúng ta phải làm thế nào?

Tôn Võ trả lời:

– Đánh chiếm đất đai là để cho kẻ địch những cái chúng có thể lấy được và giành lấy những cái kẻ địch có thể mất. Khi kẻ địch đã chiếm được một khoảnh đất nào đó thì chúng ta không nên khinh suất mà đánh chiếm lại, mà phải dùng kế sách “hư trương thanh thế” rồi nhắm vào chỗ yếu kém nhất của địch. Sau đó ngầm chia quân tinh nhuệ ra mai phục. Địch sẽ sợ mất vùng đất hiểm yếu, tất đưa quân đến cứu và rơi vào chỗ phục binh, như vậy mới có thể giành được chiến thắng. Nếu chúng ta đến trước mà kẻ địch lại dùng phương pháp này thì chúng ta có thể chọn quân tinh nhuệ cố thủ mảnh đất đó, rồi phái quân truy kích quân địch và chia quân ra mai phục. Đợi đến khi kẻ địch mang quân trở về ta đổ quân ra đánh, đó là đạo dùng binh chắc thắng.

Ngô Vương hỏi tiếp:

– Chỗ vùng ranh giới giữa kẻ địch và ta, thì phải xây dựng những công trình phòng thủ ở những chỗ hiểm yếu. Nhưng nếu ta chưa kịp hoàn thành địch đã nhân thời cơ ấy mà tấn công, quân đôi bên lại ngang sức nhau, vậy thì ta cần phải làm thế nào để chống đỡ?

Tôn Võ trả lời:

– Ta đã không thể tiến công, mà kẻ địch đến xâm phạm thì ta có thể chia quân ra mà mai phục, số còn lại biểu lộ sự yếu kém để dụ địch đánh thẳng vào đó, rơi vào vòng mai phục thì chắc chắn sẽ đại thắng.

Ngô Vương lại hỏi:

– Chỗ đường hành quân quan trọng, ta cần phải chiếm lấy trước tiên. Nhưng nếu phía ta, đường xa lại xuất phát chậm hơn quân kẻ địch, cho nên dù ngựa có phóng nước đại cũng không thể đến trước được thì ta phải làm thế nào?

Tôn Võ trả lời:

– Các nước chư hầu đều có ranh giới tiếp giáp với nhau, ta có thể phái sứ giả tới, mang theo tiền bạc lễ vật hậu để liên minh với các nước xung quanh. Quân kẻ địch tuy đến trước nhưng chúng ta lại được các nước giúp đỡ. Chúng ta có thể tuyển chọn, huấn luyện quân tinh nhuệ, chiếm cứ các địa thế có lợi ởcác nước xung quanh, đồng thời chuẩn bị cho lương thực đầy đủ, quân ta thường xuyên cho người đi do thám, xác định rõ thời cơ tấn công kẻ địch. Ta được các nước giúp, nổi trống trợ chiến khi ta tấn công, làm cho kẻ địch hoang mang, thấy bốn phía đều có kẻ địch, không biết đánh cách nào, như vậy thì chúng ta chỉ đánh một trận là chiến thắng.

Ngô Vương hỏi tiếp:

– Quân ta ra khỏi ranh giới đóng trên quân địch. Quân địch kéo đến khá đông bao vây chúng ta vòng trong vòng ngoài. Quân ta muốn phá vây, mà tứ phía đều không có lối ra. Muốn khích lệ quân sĩ để họ liều chết phá vây xông ra thì phải dùng biện pháp gì?

Tôn Võ trả lời:

– Phải đào hào sâu đắp lũy cao, tăng cường phòng thủ. Phải giữ thật yên lặng, để che giấu thực lực của quân ta. Thông báo cho toàn quân biết tình hình nguy cấp đó, sau đó giết bò đốt xe, cho quân sĩ ăn no, đốt sạch lương thực, lấp giếng phá bếp, cắt tóc vứt mũ, để tỏ ý liều chết. Tiếp đó, động viên quân sĩ một lòng quyết chiến một trận với quân thù. Có thể một mặt, có thể tấn công hai bên, đánh trống vang trời dậy đất là thanh thế. Như vậy sẽ làm cho kẻ địch hoảng sợ không biết nên chống chọi thế nào. Đó chính là con đường rơi vào chỗ chết mà tìm đường sống. Bởi vậy mới nói: “Khốn mà không có mưu thì cùng, giỏi mưu thiện chiến thì ở vào chỗ chết nhưng cuối cùng vẫn sống”.

Ngô Vương hỏi:

– Nếu gặp trường hợp ngược lại, ta đang bao vây quân địch như vậy, thì cần làm thế nào?

Tôn Võ trả lời:

– Địch cố thủ trong núi cao khe sâu hiểm trở, ta khó vượt qua, như vậy là quân kẻ địch cùng đường. Phương pháp đánh hay nhất là dùng quân tinh nhuệ mai phục, đồng thời cố ý để một đường thoát cho địch, khi ấy địch sẽ không còn tinh thấn liều chết mà cố sức tìm sự sống bằng cách theo đó mà thoát ra. Binh pháp có nói: “Nếu kẻ địch ở vào tử địa, mà quân lính lại dũng cảm thì tốt nhất là phải để cho chúng một con đường sống, tuyệt đối không nên dồn họ vào chỗ chết, càng phải ngầm mai phục quân tinh nhuệ, đồng thời cắt đứt đường tiếp tế lương thực của chúng, đợi tới khi chúng lọt vào ổ phục kích của quân ta, ta bất ngờ xông ra đánh thì mới đạt được thắng lợi”.

Ngô Vương lại hỏi:

– Nếu kẻ địch kiêu căng dũng cảm, quân của chúng đông và mạnh, thì ta phải làm thế nào để đánh bại chúng?

Tôn Võ trả lời:

– Chúng ta cần phải cố ý để lộ cho kẻ địch tưởng là ta yếu, từ đó mà làm cho chúng thêm kiêu ngạo, lười nhác việc phòng thủ, tiếp đó ta nhân lúc chúng chuyển quân mà bố trí quân mai phục, khi kẻ địch đã lọt vào ổ phục kích, đầu đuôi không thể hỗ trợ được cho nhau thì ta bất ngờ đánh chia cắt chúng ra thành từng khúc, kẻ địch tuy đông, nhưng ta có thể đánh bại chúng, cần nhớ cách đánh kiêu binh trong binh pháp là không được đánh trực diện”.

Nói chung, chắc chắn Ngô vương Hạp Lư hỏi Tôn Võ rất nhiều về binh pháp và được trả lời trôi chảy nên cuối cùng mới hài lòng, phong cho ông làm Nguyên soái. Tôn Võ cảm kích vì sự đối đãi trọng hậu của Ngô vương, tự tay viết một cuốn binh pháp gồm 13 thiên, gọi là “Tôn Tử binh pháp” mà ngày nay vẫn còn lưu truyền. Tuy ngắn gọn chỉ có 13 chương nhưng “Tôn Tử binh pháp” hết sức súc tích, có thể làm căn bản chiến đấu cho tất cả các thời đại, kể cả ngày nay với nhiều loại vũ khí tối tân.

Tuy nhiên, theo giả thuyết khác thì Tôn Võ chính là cháu mấy đời của Tôn Tẫn thời trước làm tướng ở nước Tề, dùng mưu lược thần sầu đánh bại người em đồng môn là Bàng Quyên. Sau đó Tôn Tẫn chán nản tình đời, lặng lẽ quy ẩn và viết sách về binh pháp truyền lại cho con cháu, vì vậy mà Tôn Võ không hề theo học bất cứ vị sư phụ nào cũng rất tinh thông binh pháp. Chính ông sau khi đại phá quân Sở cũng từ biệt Ngô vương Hạo Lư đi vào núi mất biệt, giống như một con rồng bí ẩn thấy đầu mà chẳng thấy đuôi. Tại sao Tôn Võ có gia đình quyến thuộc, được Ngũ Viên chính thức đón mời về triều, lập đại công rồi lại không trở về quê quán xum họp gia đình mà lại vào núi mai danh ẩn tích? Điều này khiến giả thuyết ông là con cháu của Tôn Tẫn được nhiều người tin tưởng hơn bởi tính cách của ông hoàn toàn giống với cha ông tể phụ và chỉ có binh pháp của thần nhân Quỷ Cốc Tử mới có thể giúp cho Tôn Võ lập công lớn lao như vậy.

Sau khi nghe Tôn Võ trình bày, Ngô vương Hạp Lư hết sức khâm phục nhưng chợt có vẻ trầm ngâm, hỏi:

– Ta biết ông là bậc đại sư về binh pháp rồi. Thế nhưng hiện tại quân Ngô quá ít so với quân Sở, e rằng khó mà thực hiện được cuộc chiến tranh quan trọng này.

Tôn Võ nghe vậy liền tâu:

– Theo binh pháp thì chỉ cốt quân tinh nhuệ chứ không không cần đông. Ngay cả phụ nữ chân yếu tay mềm nếu được huấn luyện binh pháp thuần thục thì vẫn có sức mạnh bằng mười lần quân địch ô hợp. Đông mà không tinh thì chỉ tạo ra sự hoảng loạn mà thôi.

Ngô vương Hạp Lư cười ngất, hỏi lại:

– Thế những cung nữ ẻo lả trong cung cấm của ta có thể huấn luyện thành tinh binh được không?

Tôn Võ nghiêm mặt trả lời:

– Rất được.

Ngô vương Hạp Lư tưởng như câu nói đùa của mình sẽ làm Tôn Võ ngỡ ngàng, nghe vậy thì cả cười, nói:

– Ta sẽ giao cho ông 300 cung nữ phi tần xinh đẹp nhất, nếu như ông huấn luyện họ thành chiến binh thuần thục thì ta mới tin.

Tôn Vũ liền nhận lời, ngay sáng hôm sau tập trung tất cả cung nữ ở giáo trường, lại xin Hạp Lư cho mình hai nàng phi được sủng ái nhất để làm đội trưởng, chia 300 cung nữ ra làm hai đội gọi là Tả Cơ và Hữu Cơ. Sau đó Tôn Võ ban bố quân lệnh, trong ấy nhấn mạnh hai điều quan trọng: Đó là tuyệt đối phải tuân theo mệnh lệnh và không được nói cười, bất cứ ai vi phạm đều bị tội nặng.

Khi ban bố quân lệnh xong, Tôn Võ lấy hai lá cờ vàng làm hiệu lệnh, truyền đánh trống để các cung nữ theo hàng ngũ tiến lên lui xuống theo binh pháp. Thế nhưng dù đã mấy lần nghiêm lệnh mà các cung nữ vẫn không sao giữ được đội hình, lên xuống hết sức loạn xạ. Tôn Võ cả giận, truyền tất cả im lặng để ban bố quân lệnh lần nữa, đoán chắc nếu lần này không theo hiệu lệnh thì sẽ trừng trị thẳng tay. Tiếc rằng dù vậy mà khi tiếng trống nổi lên, hầu hết các cung nữ đều xem đó là trò vui, cười nói nghiêng ngả, xô đẩy nhau không ra thể thống gì.

Tôn Võ liền tự mình đứng ra đánh trống, nhưng cuối cùng tình hình vẫn không hề vãn hồi được. Ông bèn gọi viên chấp pháp đến hỏi:

– Không theo quân lệnh thì phải trị tội ra sao?

Viên quan chấp pháp thưa rằng trong bất cứ quân đội nào nặng nhất là việc trái quân lệnh, phải bị tội chết. Tôn Võ lập tức sai người đem hai đội trưởng là Tả Cơ và Hữu Cơ ra chém đầu làm gương. Đây là hai người thiếp mà Hạp Lư sủng ái nhất nên vội lên tiếng năn nỉ Tôn Võ nhẹ tay cho. Thế nhưng Tôn Võ nhất quyết thi hành theo quân pháp khiến tất cả cung nữ còn lại đều sợ đến mất mật, run như cầy sấy. Tôn Võ nói:

– Đại vương mất hai người thiếp thì còn cả trăm cả ngàn mỹ nhân có thể thay thế được. Nếu như lần này tha thứ cho họ thì tôi e rằng mất cả đại nghiệp, việc nào hại hơn? Vả chăng nếu tôi tuân theo sự yêu cầu của Đại vương thì ai ai cũng sẽ cho rằng tôi bất tài mà Đại vương là người tham sắc không nghĩ đến việc lớn, không biết trọng dụng hiền tài thì lại càng nguy hại cho tiền đồ hơn.

Ngô vương Hạp Lư nghe vậy rơi nước mắt để Tôn Võ thi hành. Sau khi Tôn Võ chọn hai người khác làm đội trưởng, bắt đầu hàng ngũ tiến lui đã có thứ tự, tiến lui theo trận pháp hết sức nhịp nhàng. Chỉ cần 3 ngày, đội quân yểu điệu ấy đã có tiến bộ rõ rệt khiến Ngô vương Hạp Lư hết sức khâm phục. Tuy nhiên Hạp Lư vẫn thương tiếc hai nàng ái cơ, sai an táng ở Hoàng sơn rồi lập miếu thờ gọi là Ai Cơ từ.

Sau sự cố này, Ngô vương Hạp Lư tỏ ra bất mãn, rất lạnh nhạt với Tôn Võ, hình như không muốn sử dụng nữa khiến Ngũ Viên vô cùng lo lắng phải nhiều lần thuyết phục, cuối cùng Hạp Lư mới gắng gượng phong cho Tôn Võ làm Thượng tướng, toàn quyền điều động quân mã đi đánh nước Sở. Để yên nội bộ, Tôn Võ lại xin Hạp Lư trừ khử cả Yểm Dư và Chúc Dung thì mới yên tâm mà đem đại quân rời khỏi kinh thành. Ngô vương Hạp Lư nghe theo, thế nhưng khi ấy hai người này đang lẩn trốn ở nước Từ và nước Chung Ngô, vua hai nước lại không nghe lệnh của Hạp Lư để cho họ trốn sang Sở đầu quân chống lại Ngô. Vì vậy Hạp Lư cả giận, trước tiên sai Tôn Võ đem quân trừng trị nước Từ và nước Chung Ngô.

Tôn Võ không hề biện thuyết bằng miệng mà thực hành hết sức thần tốc, không những tiêu diệt cả hai nước mà còn nhân cơ hội lén đánh đất Thư Thành của Sở, giết chết cả Yểm Dư và Chúc Dung rồi mới chịu rút quân về. Trận đánh đầu tiên của Tôn Võ đã làm chấn động các chư hầu bởi hầu như không hề gặp trở ngại, lại tiến vào đất Sở rất thần tốc, giết tội phạm xong lập tức rút lui cũng nhanh chóng giống như lúc tiến binh, làm cho quân dân nước Sở đều ngỡ ngàng, khi biết tin Yểm Dư và Chúc Dung chết rồi thì quân Ngô đã lui về nước an toàn.

Sở vương vô cùng tức giận, đã toan huy động đại quân đánh báo thù nhưng Tôn Võ khôn ngoan chia quân ra làm 3 đạo, cứ 2 đạo lo việc cày cấy lấy lương thực thì đạo kia dùng kỳ binh quấy phá biên cương nước Sở, 3 đạo thay phiên nhau hoạt động nên không hề bị mệt mỏi mà vẫn chu toàn được vấn đề quân lương. Trong khi đó quân tướng nước Sở không thể biết quân Ngô sẽ tiến đánh chỗ nào, chăm chăm lo phòng bị thì còn tâm trí đâu nghĩ đến việc báo thù?

Sau một thời gian, vào năm 511 trước Công nguyên, Hạp Lư đột nhiên bị mất thanh kiếm báu Trạm Lư mà Sở Chiêu vương lại có nên hết sức giận, cho rằng đã có kẻ lấy cắp nên giết toàn bộ những cận thần thân tín vẫn thường hầu hạ bên mình, đồng thời quyết định sai Tôn Võ, Ngũ Viên và Bá Hi đem đại quân đi đánh Sở. Tôn Võ cho rằng chưa đến thời cơ, không thể tiến sâu vào đất Sở nếu như không có tiếp vận đầy đủ và kịp thời, xin được từ chối. Hạp Lư đành phải sai sứ giả đến nước Việt yêu cầu giúp sức việc lương thảo, lúc đó Tôn Võ mới bằng lòng dẫn quân đi.

Khi quân nước Ngô đã chiếm được đất Lục và đất Tiềm là hai địa đầu của nước Sở, đang tính tiến sâu hơn thì nghe tin nước Việt từ chối yểm trợ, đành phải rút về nước. Vì việc này Ngô vương Hạp Lư nổi cơn thịnh nộ, tự thân đem quân đi đánh Việt mặc dù Tôn Võ và Ngũ Viên hết sức khuyên can, cho rằng làm như vậy sẽ hao tổn quân tướng, lại gây thêm thù oán với nước Việt, không có lợi cho việc tiêu diệt Sở. Thế nhưng Hạp Lư không chịu nghe theo, hậm hực kéo quân tiến đánh nước Việt dữ dội, đánh tan đại quân Việt ở Huề Lý, cướp bóc vô số tài vật rồi mới chịu rút về.

Mối thù này làm sao nước Sở chịu được nên 3 năm sau, tức là năm 508 trước Công nguyên, Sở Chiêu vương tập trung được quân mã liền ra lệnh tổng tấn công nước Ngô, phong cho Đại tướng Nang Ngõa làm Nguyên soái, đóng quân ở Dự Chương. Tiếc thay Nang Ngõa chưa phải là tay đối địch với Tôn Võ và Ngũ Viên nên không chuyển biến kịp thời, bị Tôn Võ một mặt áp dụng chiến thuật kết hợp giữa tấn công và tập kích, một mặt điều động chiến thuyền đến Dự Chương đánh trực diện vào quân Sở; mặt khác ngầm tập trung quân ở đất Sào. Sau nhiều trận chiến dữ dội, quân Sở đại bại, Tôn Võ bắt sống được Công tử nước Sở tên là Phàn, áp giải về nước Ngô dâng cho Hạp Lư lấy công. Tuy nhiên Hạp Lư không hề bằng lòng, nói:

– Bắt được một người thì chẳng ích gì, ý muốn của ta là muốn chiếm cả Sính Đô (đô thành nước Sở) mới hả lòng.

Nhờ sự thuyết phục của Tôn Võ và Ngũ Viên, cho rằng thời cơ chưa thể chín mùi, không nên vội vã mở một chiến dịch lớn lao như vậy nên cuối cùng Hạp Lư mới bất đắc dĩ bỏ việc tiến quân. Thế nhưng chỉ hai năm sau, tức là vào năm 506 trước Công nguyên, Ngô Vương Hạp Lư lại nôn nóng nhắc đến chuyện cũ, rất muốn Tôn Võ và Ngũ Viên tiến hành ngay. Tôn Võ phải phân tích thời cuộc rồi lần lượt đến Ngũ Viên trình bày:

– Hạ thần mang mối thù không đội trời chung với nước Sở, còn nôn nóng hơn cả Đại vương. Thế nhưng đúng như lời Tôn Đại tướng nói thì chưa thể tiến hành cuộc chiến ngay lúc này, dễ chuốc lấy thất bại. Người ta thường nói: “Quân tử báo thù 10 năm cũng chưa muộn”, xin Đại vương nén lòng chờ đợi, khi nào đúng thời cơ thì không cần Đại vương phải nhắc nhở, chúng thần sẽ quyết tiêu diệt nước Sở thành bình địa mới thôi.

Tiếc rằng Ngô vương Hạp Lư nhất định không nghe theo, phán bảo:

– Dù ta biết quân Sở hùng hậu nhưng hiện nay đã có hai vị cầm quân thì còn e sợ gì nữa? Ta vẫn muốn thử một lần xem sao.

Bất đắc dĩ Tôn Võ và Ngũ Viên phải bàn bạc cùng nhau, đưa ra kế sách khác:

– Thật sự quân ta chưa đủ sức đánh thẳng đến Sính Đô, mà nếu được thì cũng không thể tiêu diệt Sở tận gốc ngọn. Nếu như Đại vương nôn nóng muốn tiến hành thì nay chỉ còn cách phải kết hợp với hai nước Đường và Sái thì mới mong thành công. Theo hạ thần thì hai nước này đều có mối thù với Sở, chắc chắn sẽ giúp chúng ta ngay.

Ngô vương có vẻ ngạc nhiên, hỏi lại thì Tôn Võ cho biết mối thù của Đường và Thái bắt nguồn từ câu chuyện xa xưa:

– Lúc ấy Nang Ngõa nắm quyền Lệnh doãn của nước Sở (tương đương với Tể tướng) nhưng lại là kẻ hết sức tham lam, thường bắt chư hầu hối lộ cho nên các chư hầu rất bất mãn. Hai năm trước, Sái Chiêu công nhân dịp Sở vương được thanh kiếm quý Trạm Lư thì liền đến triều bái nước Sở, có đem theo hai miếng ngọc bội trị giá liên thành. Sái Chiêu công dâng một miếng ngọc bội cho Sở Chiêu Vương, còn lại một miếng định gắn vào mão. Thế nhưng Nang Ngõa nhất định đòi lấy miếng ngọc bội ấy bằng được, không được vừa ý thì liền bắt giữ Sái Chiêu công, không cho ông ta về nước. Cùng thời gian đó, Đường Thành công cũng sang triều cống Sở, ông có hai con tuấn mã, một con tên là Túc, còn một con tên là Sương. Nang Ngõa muốn lấy cả hai con ngựa Túc Sương nhưng Đường Thành Công không chịu. Nang Ngõa cũng bắt luôn Đường Thành công giam giữ giống như Sái hầu. Gần 3 năm sau, dù bọn tả hữu hết lời khuyên can nên giữ lấy mạng sống nhưng Đường Thành công quá yêu ngựa nên dù chết vẫn không bằng lòng. Bất đắc dĩ bọn tả hữu phải phục rượu cho Đường Thành công uống thật say rồi đem hai con ngựa đến dâng cho Nang Ngõa. Nhờ vậy Nang Ngõa mới ra lệnh thả cho phái đoàn sứ thần nước Đường về quê hương. Dĩ nhiên Đường Thành công không trách tả hữu mà oán hận nước Sở đến thấu xương.

Bọn tùy tùng nước Sái nghe tin này liền bắt chước, khuyên Sái Chiêu công dâng tặng cả hai món bảo vật cho Nang Ngõa, quả nhiên cũng được tha cho về nước. Sái Chiêu Công sau khi về nước, muốn hả cái hận thù đó, đã từng đề nghị nước Tấn hợp quân với mình đi đánh nước Sở nhưng bị Tấn từ chối. Do vậy nếu có yêu cầu chắc chắn Đường và Sái sẽ giúp chúng ta đánh Sở ngay.”

Ngô Vương Hạp Lư nghe vậy cả mừng, lập tức sai sứ giả đến Đường và Sái bàn việc xuất quân. Đương nhiên việc thu xếp hoàn toàn thành công, Sái Chiêu công còn cho con là Thái tử Càn sang Ngô để biểu hiện sự đồng lòng kết hợp.

Ngô vương Hạp Lư rất mừng, không chờ đến năm sau mà ngay mùa đông năm ấy đã thân chính cùng với Tôn Võ và Ngũ Viên kéo đại quân 3 nước tiến đánh Sở dữ dội. Sở Chiêu vương liền sai Nang Ngõa làm Đại tướng dẫn toàn bộ binh hùng tướng mạnh đến Hán thủy bày trận chống đỡ. Nang Ngõa nóng lòng muốn lập chiến công, toan tính rằng phải đánh phủ đầu nên vừa mới đóng quân xong liền cho quân Sở vượt sông Hán thủy tiến đánh quân Ngô. Kết quả bị Tôn Võ liên tiếp đánh cho ba trận đại bại. Chưa cam chịu, quân Sở lại bày trận đối đầu với liên quân ba nước ở Bách Cử nhưng cuối cùng giao tranh 5 trận đều đại bại cả 5 vì tài cầm quân hết sức tài tình của Tôn Võ. Nang Ngõa phải cùng tàn quân chạy sang nước Trịnh. Nhân cơ hội này, Hạp Lư xua quân tiến thẳng tới Sính Đô khiến Sở Chiêu vương không kịp trở tay, phải cùng quân thần bỏ chạy đến đất Vân rồi cuối cùng phải chạy sang nước Tùy lánh nạn.

Ngô Vương Hạp Lư đem quân tiến thẳng vào Sính Đô, thỏa chí giấc mộng bá vương của mình. Tất cả đều nhờ vào tài năng của Tôn Võ và phần nào của Ngũ Viên. Thế nhưng, tiên đoán tình thế của Tôn Võ và Ngũ Viên hoàn toàn đúng với thực tế, nước Sở chưa thể bị tiêu diệt tận gốc.

Chỉ sau một thời gian, Đại phu nước Sở là Thân Bao Tư, sau khi chạy khỏi Sính Đô đến nước Tần cầu cứu, được Tần Ai công bằng lòng xuất quân đi lấy lại Sính Đô. Cùng thời gian đó, Việt vương là Doãn Thường liền nhân cơ hội Ngô bỏ trống, đem quân xâm phạm khiến quân Ngô lúng túng không biết nên giữ Sính Đô hay rút về bảo vệ đất nước. Thấy thế quân của Tần quá mạnh, Hạp Lư liền sai em mình là Công tử Phu Khái đem quân chống đỡ. Kết quả Phu Khái đại bại dưới tay Thân Bao Tư và quân nước Tần ở đất Nghi.

Sự việc vẫn chưa kết thúc, khi Công tử Phu Khái bỏ chạy về Ngô đã nhân cơ hội ngai vàng bỏ trống, phao tin lên là Hạp Lư đã mất tích tự lập lên làm vua, sai con là Công tử Phù Tang đem quân chặn ở Hoài thủy không cho Hạp Lư có đường về nước. Hạp Lư nghe tin nổi cơn thịnh nộ, cùng Tôn Võ và Ngũ Viên dẫn đại quân mau chóng về nước, ngay trận đầu đã đánh tan quân của Công tử Phù Tang, hắn phải chạy đến Cốc Dương. Phu Khái cả sợ, tự mình dẫn quân chống đối nhưng không làm sao sánh với tài cầm quân của Tôn Võ, cuối cùng cũng phải thua chạy đến Cốc Dương rồi cùng Phù Tang trốn qua Tống lánh nạn. Ngô vương Hạp Lư chấn chỉnh triều đình xong dự định phong cho Tôn Võ chức tướng lớn nhưng ông từ chối, xin được về ở ẩn.

Lúc ấy Hạp Lư không còn nghĩ đến việc đánh Sở nữa mà căm hận nước Việt phản bội, tiến đánh mình bất ngờ nên dồn hết lực lượng để trả thù. Tuy nhiên vì không có Tôn Võ và Ngũ Viên theo cố vấn nên cuối cùng Hạp Lư đại bại ở trận chiến Túy Lý, bị thương khá nặng khi về tới đất Ngô chẳng bao lâu thì mất.

Theo giả thuyết này thì Tôn Võ cũng qua đời sau năm đó, không hề thi thố tài năng một lần nào nữa. Trong cuôn sách Việt Tuyệt thư viết: “Ở nơi cách Vũ Môn của Ngô huyện khoảng mười dặm, có một ngôi mộ lớn của Tôn Võ”. Nếu tài liệu này là có thể tin được thì có thể suy đoán được là Tôn Võ qua đời vào khoảng năm 473 trước Công nguyên, tức là trước khi Việt diệt Ngô. Bởi vì nếu Tôn Võ còn sống đến sau khi Ngô diệt vong thì sẽ không cố người nào lại đi xây một ngôi mộ to như thế cho một quan chức vong quốc. Tuy nhiên theo hầu hết các tư liệu thì sau khi giúp Hạp Lư hoàn thành mộng ước được vào đến Sính Đô, đồng thời giúp cho Ngũ Viên đạt được việc báo thù trả hận thì Tôn Võ lập tức từ quan, xin về qui ẩn. Hạp Lư rất thương tiếc, nhiều lần cố nài nỉ ở lại nhưng ông nhất quyết từ chối. Theo tư liệu này thì lúc đó Tôn Võ mới trao tặng cuốn binh pháp 13 chương cho Hạp Lư chứ không phải đưa ngay từ đầu.

Bất đắc dĩ Ngô vương Hạp Lư phải chuẩn tấu, ban cho ông mấy xe gấm lụa và một số lớn châu ngọc. Thế nhưng khi đi dọc đường, Tôn Võ phân phát toàn bộ tài vật ấy cho dân nghèo rồi một mình vào núi, từ đó không còn ai biết tung tích của ông ra sao. Tính cách thần thoại như “con rồng thấy đầu mà chẳng thấy đuôi” của Tôn Võ có lẽ phù hợp với giả thuyết này hơn. Nếu như ông chỉ có một trận đánh nước Sở thì sao có thể được người sau xưng tụng như bậc tổ sư về binh pháp, nổi tiếng là danh tướng cao trọng hơn bất cứ người nào khác?

Dù theo giả thuyết nào, cuối cùng Tôn Võ đã để lại cho người đời sau một bộ sách bất hủ, đó là bộ Tôn Tử binh pháp 13 thiên nổi tiếng khắp nơi, thường được gọi là “Tôn Tử binh pháp”, được liệt vào hàng đầu trong Võ kinh thất thư (7 cuốn binh thư quan trọng nhất gồm Tôn Tử binh pháp, Ngô Tử binh pháp, Tư Mã pháp, Úy Liễu Tử, Lý Vệ công vấn đối, Tam lộ và Lục thao). So sánh thì “Tôn Tử binh pháp” vẫn thực dụng hơn 6 cuốn binh pháp kia nên được xếp hạng thứ nhất.

Có thể nói, ngoài là một vị tôn sư về binh pháp, Tôn Võ còn chứng tỏ là một tướng soái kiệt xuất, chưa trận nào thất bại. Tuy rằng thời kỳ rút khỏi Sính Đô vì phần lớn quân mã đã giao cho Hạp Lư nên một lần Tôn Võ và Ngũ Viên thất bại ở đất Ung Thệ nhưng tổn thất không đáng kể và rất mau lẹ rút lui để bảo toàn lực lược. Qua việc này người đời sau càng kính trọng Tôn Võ hơn nữa bởi tính cách quyền biến của ông, không xem trọng thắng thua trong một vài trận mà có chiến lược lâu dài hơn bất cứ danh tướng nào khác.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Huyền Cơ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.