12 Tướng Soái Trung Hoa

Lượt đọc: 54 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8 CHU DU - ANH HÙNG LỠ VẬN

❊ ❊ ❊

Triều đại Nhà Hán quả thật huy hoàng và kéo dài chỉ kém nhà Tây Chu cổ đại. Triều Hán chỉ tạm dừng lúc Vương Mãng tiến quyền tự xưng Hoàng đế và lập ra triều Tân. Thế nhưng số mệnh của Vương Mãng chỉ làm Hoàng đế được 15 năm rồi các tông thất nhà Hán nổi lên, tiếp tục một giai đoạn mới gọi là Đông Hán. So ra thời Đông Hán không thịnh trị bằng thời Tây Hán vì có khá nhiều vị Hoàng đế u mê bạc nhược. Do đó đến năm 220 triều đại này suy tàn, đưa đất nước Trung Hoa rơi vào cảnh tương tàn hỗn loạn với nhiều tập đoàn quân phiệt thi nhau tranh giành quyền lực. Tuy cuối cùng chỉ còn lại 3 thế lực quân phiệt lớn nhất của Tôn Quyền, Lưu Bị và Tào Tháo - được sử gọi là thời Tam Quốc - nhưng các cuộc chiến vẫn diễn ra liên miên khiến người dân hết sức điêu linh. Thời loạn tất có anh hùng hào kiệt xuất hiện và các thế lực đều tranh nhau mời gọi các nhân tài ấy về phò tá cho mình.

Nhắc đến thời Tam Quốc thì không ai không nghĩ tới một nhân tài kiệt xuất, đó là Khổng Minh Gia Cát Lượng. Thế nhưng xét về mặt Tướng soái thì ông không phải, ông phải được xếp vào hàng các Mưu lược gia, Chiến lược gia, hoặc là Chính trị gia với chức vụ Thừa tướng triều Thục Hán. Sở dĩ Gia Cát Lượng phải kiêm nhiệm chức vụ Tướng soái trong những trận đại chiến kinh tâm động phách, đầy mưu trí khó lường là vì các tướng của Thục Hán chưa ai đủ tài năng làm Tướng Soái.

Quan Vũ có sức mạnh, lòng trung thành tuyệt đối nhưng lại không biết đến quyền biến nên cuối cùng mất mạng oan uổng ở đất Kinh châu; Trương Phi với tính thô bạo nóng nảy; Ngụy Diên võ nghệ cao cường; Triệu Vân oai hùng với trận Đương Dương Trường Bản khiến đối phương nghe tên đã khiếp vía bỏ chạy. Nhưng những tướng ấy hoàn toàn thiếu một bộ óc kết hợp giữa mưu lược với binh pháp, kết hợp giữa hoàn cảnh với sự quyền biến, không thể lãnh đạo được những đoàn quân lớn. Đến ngay như Nhai Đình là điểm rất trọng yếu, thế mà Gia Cát Lượng cũng đành phải sai Mã Tốc nắm giữ để rồi trở thành tội đồ cho cả chiến dịch. Sau này triều Thục Hán có được một Khương Duy văn võ toàn tài nhưng lại thiếu tư duy chiến thuật, vì vậy không thể vực dậy được toàn cảnh đã quá suy sụp khi Gia Cát Lượng mất.

Về thế lực Tôn Quyền ở Giang Đông tuy không nhiều danh tướng nhưng lại có một nhân tài hiếm có, đó là Chu Du. Ông không được các nhà sử học nhắc đến nhiều bởi vì ông chết quá trẻ, chết vì sinh không phùng thời, vì đúng thời điểm ấy đã có Gia Cát Lượng, đành phải ôm hận mà chết. Tuy thời gian hoạt động không lâu nhưng Chu Du cũng đã nắm được chức vụ Đại Đô đốc, tức là tướng soái nhưng thiên về thủy chiến nhiều hơn.

Chu Du tên thật là Chu Công Cẩn, ngay từ khi còn trẻ đã nổi tiếng có dung mạo tuấn tú, rất giỏi về thơ văn và âm luật, được người thời đó tặng cho biệt hiệu là ”Mỹ Chu lang”. Cuộc đời ông không gặp nhiều cuộc đại chiến nên chỉ nổi tiếng khi tham dự trận Xích Bích. Tuy trận này Gia Cát Lượng đưa ra kế hoạch, thật sự phải có sự trợ giúp của khá nhiều mưu sĩ tướng quân như Bàng Thống, Hoàng Cái, Cam Ninh, v.v... mới đạt được kết quả huy hoàng như vậy. Trong cuộc chiến đó, phần đánh thủy chiến đều do Chu Du chỉ huy và lập được công lớn cho triều Đông Ngô.

Chu Du sinh trưởng ở quận Thư quận Lư Giang, theo chính sử thì ông sinh năm 175 mất năm 210 tức mới vừa tuổi 35. Chu Du xuất thân từ gia đình quyền quý, các đời tổ tiên đều giữ chức quan lớn như Thái úy hay Lệnh doãn dưới triều Đông Hán. Thế nhưng triều đại này không ổn định, đến cuối triều đại thì lại càng hỗn loạn do việc các thế lực quân phiệt cát cứ gây ra.

Đến đời Hán Linh đế, nhà vua càng làm cho triều chính suy đồi hơn với việc sủng ái bọn Thập Thường thị (tức bọn 10 tên hoạn quan mà đứng đầu là tên Trương Nhượng). Hán Linh đế dung túng cho bọn này tha hồ tác oai tác quái, mãi đến lúc sắp chết mới tỉnh ngộ, vội triệu Đại tướng quân Hà Tiến vào trăn trối nhờ chấn chỉnh triều đình. Thế nhưng Hà Tiến chỉ là một tên đồ tể mổ thịt bán ngoài chợ, dựa vào quyền người em gái được nạp vào làm Phi tần trong cung mà lên tới chức vụ cao trọng. Hà Tiến liền cùng Viên Thiệu bàn soạn kế hoạch diệt trừ Thập thường thị nhưng kế sách chẳng ra gì, đành phải phát hịch gọi các trấn đem quân về cứu giá. Nhân cơ hội này Đổng Trác đang giữ chức Tiền Tướng quân, tước Ngao Hương hầu kiêm Thứ sử Tây Lương nắm được thời cơ, lũng đoạn triều chính càng làm cho quốc gia thêm nát bét. Khi Đổng Trác chuyên quyền đưa Trần Lưu vương lên làm Hán đế thì hầu hết các triều thần đều tức giận, bắt đầu cho sự hình thành các thế lực quân phiệt.

Viên Thiệu, Tôn Kiên rồi đến Tào Tháo sau khi âm mưu giết Đổng Trác không thành đều chạy khỏi kinh đô và chiêu mộ quân binh, lập nên các thế lực độc lập. Riêng Tôn Kiên có sự tích khác lạ hơn người, đó là khi thế lực Viên Thiệu đang giao tranh cùng với Tào Tháo. Lúc ấy Tôn Kiên ở trong thành lạc Dương, xem thiên văn thấy sao Tử Vi mờ tối thì than thầm trong bụng, không biết rồi đây ai sẽ là chân chúa xứng đáng để mình theo phò tá. Đột nhiên Tôn Kiên thấy có luồng hào quang ngũ sắc từ dưới cái giếng nước bỏ hoang bốc lên sáng chói.

Tôn Kiên liền sai quân đốt đuốc rồi bắt trèo xuống xem có gì dưới đó. Tên quân này đưa lên một thi thể phụ nữ đã chết nhưng hình hài không bị tan rữa, có đeo một cái túi gấm trước ngực. Tôn Kiên liền thò vào túi gấm lấy ra cái hộp gỗ, trong đó đựng chiếc ấn bằng ngọc. Tay cầm chạm khắc năm con rồng uốn lượn, mặt ấn khắc tám chữ: “Thụ mệnh vu thiên, ký thọ vĩnh xương”. Tôn Kiên là tướng nên hoàn toàn không biết ngọc ấn ấy ra sao, bèn đi hỏi Trình Phổ, được cho biết:

– Đó là viên ngọc tỷ truyền quốc của Văn vương nước Sở, làm bằng viên ngọc họ Hòa. Năm thứ 26, Tần vương chiếm được cho làm ấn quốc bảo, chính tay Lý Tư viết tám chữ ấy. Đến năm thứ 28, Thủy Hoàng đế tuần du Động Đình hồ, thấy có gió dữ bèn ném xuống và yểm trấn. Thế nhưng đến năm 38 bất ngờ có người đem trả lại. Viên ngọc ấn này truyền đời từ Hán Cao đế Lưu Bang đến Vương Mãng, Hiếu Nguyên đế rồi sau vào tay Quang Võ đến Lưu Tú. Đến lúc bọn Thập Thường thị làm loạn triều đình thì tự nhiên ngọc ấn mất tích.

Nay ông được ngọc ấy thì là trời ban cho giang sơn, hãy về Giang Đông mà lập quốc.

Thế nhưng Viên Thiệu biết chuyện này và do vậy xảy ra cuộc đánh nhau giữa ông ta và Tôn Kiên. Sau đó Tôn Kiên trốn về Giang Đông, Viên Thiệu cũng kéo quân đến Quan Đông cát cứ. Từ đấy triều đình Giang Đông được thành lập và truyền lại cho Tôn Quyền. Cha ông của Chu Du đi theo Tôn Kiên, trở thành công thần của triều đình Giang Đông.

Chu Du được thừa hưởng tập ấm của cha ông, rất hâm mộ danh tướng Tôn Sách và Mã Viện đời Hán. Khi Tôn Sách nắm binh quyền thì liền mời Chu Du ra phụ tá, phong làm Kiến Uy Trung lang tướng, chỉ huy một đoàn quân. Có thể nói, ngay từ lúc còn nhỏ tuổi, mới vừa 24, Chu Du đã đặc biệt được đảm nhận chức tướng, do vậy có nhiều kinh nghiệm trong việc điều động ba quân. Mẹ của Tôn Sách là Tái phu nhân lúc ấy nắm quyền triều chính cũng rất mến mộ Chu Du, thường hay nói với con là Tôn Quyền phải trọng dụng Chu Du làm trụ cột cho quốc gia.

Trong số các công thần có Trình Phổ là người già dặn kinh nghiệm, tuổi cao đức trọng nhưng lại rất hay xung khắc với Chu Du, cho ông là non người trẻ dạ chưa thể làm nên việc lớn. Chu Du không vì vậy mà tức giận, vẫn một lòng đối đãi kính cẩn, trải qua một thời gian đến ngay Trình Phổ cũng phải khâm phục và kết giao với ông, coi như bạn vong niên.

Vào năm 200, Tôn Sách bị thích khách giết. Chu Du nhận được tin liền dẫn quân từ Ba Kỳ tới đất Ngô chịu tang, thấy tướng mạo của Tôn Quyền oai hùng, miệng lớn cằm vuông, mắt biếc râu tía, ánh mắt sáng như điện, nên biết người này có thể làm nên đại nghiệp, quyết định ở lại phò tá cho Tôn Quyền. Lúc đó, do Tôn Sách vừa mới chết, địa vị của Tôn Quyền không ổn định nên khi được gặp Chu Du rất mừng, liền hỏi về kế sách giữ gìn cơ nghiệp. Chu Du liền nói:

– Xưa tới nay bất cứ minh chủ nào tài giỏi đến đâu mà không có nhân tài phò tá thì đều thất bại. Vì vậy điều trước tiên là phải biết chiêu dụng hiền tài thì giang sơn mới bền vững. Tôn Quyền cả mừng, xin Chu Du giúp cho mình. Chu Du liền tiến cử một mưu sĩ tên là Lỗ Túc. Nguyên Lỗ Túc tên tự là Tử Kính, người Đông Xuyên, tính tình hết sức thẳng thắn và hiếu lễ với cha mẹ. Sau khi đàm đạo với Lỗ Túc, Tôn Quyền càng mừng thêm vì quả thật ông ta là người có kiến văn cao thâm, lại nhờ Lỗ Túc tiến cử một người khác là Gia Cát Cẩn làm mưu sĩ.

Chính Gia Cát Cẩn là người vạch ra kế hoạch cho Tôn Quyền tuyệt giao với Viên Thiệu, tạm thời hòa hoãn với Tào Tháo để đủ thời gian xây dựng giang sơn. Tôn Quyền nghe theo nên được Tào Tháo xin với Hiến đế phong cho làm Thái thú Cối Kê, tạm thời chưa bị ai nhòm ngó tới. Với chủ trương chiêu mộ nhân tài nên ngoài Chu Du ra, Tôn Quyền còn kết nạp được một số mưu sĩ danh tướng như Trương sử Trương Chiêu, Cố Ưng, Hoàng Cái, Lã Mông, v.v...

Kết hợp với những nhân tài này, Chu Du ra sức chỉnh đốn triều chính, luyện tập quân mã nên chẳng bao lâu đất Giang Đông đã phát triển, nhân dân no ấm.

Lúc ấy là vào năm 202, Viên Thiệu dẫn đại quân hơn 80 vạn nhưng phô trương thanh thế lên đến 100 vạn tiến đánh Tào Tháo. Với quân binh ít hơn nhưng Tào Tháo là người kiêu hùng lắm mưu trí, dùng ít đánh nhiều và cuối cùng nổi tiếng với trận Quan Độ, đánh tan 80 bạn quân của Viên Thiệu. Nhân thắng lợi này, Tào Tháo liền nhân danh Thiên tử nhà Hán, bắt ép các thế lực cát cứ phải thần phục, nhất là đất Giang Đông màu mỡ. Nhận được chiếu thư của Tào Tháo, Tôn Quyền hết sức lo lắng, hội quần thần lại bàn soạn kế sách đối phó. Quần thần Đông Ngô vì sợ hãi sức mạnh của Tào Tháo, lại vẫn mong muốn được “chính danh” là tôi thần nhà Hán nên nhiều người khuyên Tôn Quyền nên phục tùng Tào Tháo. Riêng Chu Du nhất quyết không chịu, đứng ra bài bác:

– Tướng quân được kế thừa cơ nghiệp của huynh trưởng (Tôn Sách), đất có sáu quận, quân đông lương nhiều, tướng lĩnh tài năng cũng không thiếu. Hiện nay đất Gang Đông sản vật đầy đủ, có thể tự túc tự cường được, sao lại chịu cúi đầu với người. Theo tôi thì Tướng quân nên khước từ việc này, chấn chỉnh binh mã sẵn sàng đối đầu. Dù sao đi nữa làm vua một phương vẫn hơn là làm tôi tớ cho họ Tào.

Lời nói của Chu Du rất kiên cường nên cuối cùng Tôn Quyền nghe theo, từ chối việc đưa người về Hứa Đô làm con tin, càng ra sức xây dựng đất Giang Đông vững mạnh hơn. Việc này khiến Tào Tháo hết sức tức giận nhưng khi ấy ông ta còn phải đối đầu với các thế lực quân phiệt khác nên tạm thời để yên. Đến năm 208 Tào Tháo cơ bản đã bình định được khu vực phương bắc, bắt đầu quay qua nhìn tới phương nam.

Lấy cớ Lưu Biểu không phục tùng triều đình, Tào Tháo dẫn 20 vạn quân tiến đánh Kinh châu, toan tính sau khi hoàn tất sẽ thừa thế đánh luôn Đông Ngô. Xuống phía đông tiêu diệt Tôn Quyền. Tin này khiến cả triều đình Đông Ngô đều hoảng loạn, đa số đều sợ hãi muốn đầu hàng Tào Tháo cho yên thân. Riêng Lỗ Túc chủ trương liên kết với Lưu Bị để chống với Tào Tháo, được Chu Du tán thưởng.

Chu Du phân tích tình hình cho Tôn Quyền hiểu được đại thể, đó là thật sự phương bắc chưa hoàn toàn quy phục Tào Tháo, Mã Siêu và Hàn Toại tuy không phải là thế lực mạnh nhưng vẫn còn ung dung đóng quân ở Quan Tây thì là uy hiếp rất lớn đối với Tào Tháo. Nếu như hai thế lực này nhân cuộc chiến giằng dai ở Giang Đông và thừa cơ đánh úp Hứa Xương thì Tào Tháo sẽ hai đầu thọ địch. Đó là điều bất lợi Tào Tháo không muốn nói ra, thật sự chưa chắc đã dám tiến quá sâu vào đất Giang Đông.

Chu Du rất giỏi về thủy chiến, trong khi ấy đất Giang Đông lại nhiều sông rạch chằng chịt, việc tiến quân bằng kỵ binh của Tào Tháo sẽ bất lợi. Ngay cả thủy thổ đất Giang Đông ẩm thấp nhiều chướng khí cũng là điều không lợi cho quân của Tào Tháo. Vì vậy Chu Du cương quyết chống trả bằng sức mạnh quân sự và bằng tài năng của mình để Tào Tháo nể mặt.

Kế hoạch của Chu Du rất thuyết phục nên sau cùng Tôn Quyền nghe theo, phong cho ông và Trình Phổ làm Tả Hữu Đô đốc, Lỗ Túc làm Tham quân hiệu úy, đồng thời cấp cho Chu Du 3 vạn quân để đến Kinh châu hội cùng Lưu Bị sửa soạn chống trả với Tào Tháo. Đó là thời điểm bắt đầu cho trận đánh Xích Bích nổi tiếng đi vào lịch sử quân sự mà Chu Du có công lớn nhất.

Đồng thời lúc đó Lưu Bị cũng muốn chống lại quân Tào nên sai Khổng Minh đến Đông Ngô bàn việc liên minh. Chiều hôm ấy Khổng Minh theo Lỗ Túc đến chỗ Chu Du, nóng ruột hỏi ngay xem Chu Du toan tính ra sao? Chu Du hững hờ đáp là phải đầu hàng thôi khiến Lỗ Túc vô cùng ngạc nhiên, hầm hầm đứng dậy nói:

– Cơ nghiệp Giang Đông đã trải qua 3 đời rồi, chẳng lẽ đến nay không có ai tài cán phó giúp, để giang sơn rơi vào tay kẻ khác hay sao? Ai cũng trông chờ vào tài của Đô đốc, hóa ra Đô đốc cũng là kẻ hèn kém chẳng khác gì đàn bà.

Đây là câu sỉ mạ khá nặng nhưng Chu Du tỏ ra thản nhiên, lấy lý lẽ là quân Tào quá mạnh, không thể chống lại nổi. Hai người tranh cãi kịch liệt thế mà Khổng Minh cứ ngồi mà cười, chẳng nói lời nào. Chu Du thấy vậy hỏi ý kiến thì Khổng Minh cũng cho là hàng tốt hơn. Chu Du liền cười ngất, hùa theo tán thưởng khiến Lỗ Túc nổi giận, đỏ mặt phừng phừng mà mắng Khổng Minh tiếp tay cho giặc. Khổng Minh cũng không hề giận, bình thản nói:

– Tào Tháo quân đông tướng mạnh, dụng binh như thần nên chính chúa công của tôi cũng phải chạy dài. Nay Chu Đô đốc muốn về hàng để vợ con được vinh thân phì gia là phải lắm rồi.

Thấy Lỗ Túc càng thêm giận, lớn tiếng mắng chửi, Khổng Minh dùng kế khích tướng, nói:

– Thôi thế thì không phải đầu hàng, cũng không phải ra quân. Chỉ cần dâng Nhị Kiều ra là Tào Tháo rút lui ngay.

Lần này Chu Du trúng kế, tức giận đến đỏ bừng cả mặt, nghiến răng nói lớn:

– Giặc Tào thật láo xược.

Rồi sau đó Chu Du cùng với Khổng Minh bàn việc hợp binh. Nhân cơ hội ấy Khổng Minh lại dùng kế khích tướng, cho là Chu Du chỉ giỏi đánh thủy chứ đánh bộ không thể bằng Tào Tháo. Chu Du cả giận, nói luôn:

– Được rồi, ngày mai ta sẽ đem quân đi cướp lương thảo của Tào Tháo, xem đánh bộ ai giỏi hơn.

Khổng Minh điềm tĩnh đáp:

– Đánh thủy thì chắc chắn Tào Tháo không bằng Đô đốc. Hắn lại là tay chuyên đi cướp lương thảo của đối phương với nhiều mưu kế tài tình. Vì vậy chắc chắn đã đề phòng đối phương sẽ cướp lương thảo, ra quân lần này chắc chắn ông sẽ thất bại.

Tuy Chu Du nổi tiếng là người nóng nảy nhưng rất có trí tuệ, nghe vậy liền giật mình khen Khổng Minh nói đúng. Vừa lúc ấy Tào Tháo sai sứ giả mang chiếu thư đến, phía ngoài có ghi mấy chữ rất láo xược: “Đại Thừa tướng Hán triều lệnh cho Chu Đô đốc phải xem thư này”. Chu Du nổi nóng lên, chẳng cần biết trong thư nói gì, lập tức xé tan làm trăm mảnh rồi sai quân đem sứ giả ra chém đầu ngay.

Chém sứ giả xong, Chu Du sai Cam Ninh làm tiên phong, Hàn Đương và Tưởng Khâm dẫn hai cánh quân đi hai bên, còn mình ở trung quân tiếp ứng. Dĩ nhiên khi Tào Tháo nghe tin Chu Du chém sứ giả thì nổi giận đùng đùng, lập tức sai hai hàng tướng ở Kinh châu là Sái Mạo và Trương Doãn mang quân đi tiên phong, còn chính mình đốc thúc chiến thuyền kéo thẳng đến cửa Tam Giang dàn trận.

Hai bên giao chiến được mấy hiệp thì Sái Huân bị Cam Ninh chém chết, Hàn Đương và Tưởng Khâm thừa thế xua quân xông lên đánh giết quân Tào một trận tơi bời. Thế nhưng Chu Du cũng tự biết khó có thể truy kích Tào Tháo, đành cho thu quân trở về.

Sau trận thua này, Sái Mạo và Trương Doãn xin Tào Tháo cấp cho một số quân, lập một thủy trại lớn ở luyện tập quân sĩ thủy chiến, quyết đánh báo thù. Thủy trại này chia làm 24 cửa, canh phòng rất nghiêm mật, khi trời tối đèn đuốc sáng rực cả một góc trời.

Chu Du ở bên này sông, nhìn thấy cảnh tượng ấy cũng hơi kinh sợ, cùng với vài viên tướng bơi thuyền nhỏ đến quan sát tình hình, thầm khen tài của Sái Mạo và Trương Doãn, trong lòng đã có dự tính trước khi xuất quân đánh Tào thì cần phải diệt trừ hai tướng này trước. Lúc ấy Tào Tháo đã cho thuyền ra bắt thám thính của địch nhưng Chu Du dùng thuyền nhẹ nên chạy khỏi dễ dàng.

Tào Tháo thấy vậy rất lo về mặt thủy quân, bàn với các tướng việc đối phó. Một viên tướng tên là Tưởng Cán bước ra nói:

– Trước kia tôi và Chu Du giao thiệp rất thân mật, bây giờ nếu Thừa tướng bằng lòng thì tôi xin qua trại địch mà thuyết phục dụ hàng một phen.

Tào Tháo mừng lắm, lập tức ra lệnh cho Tưởng Cán đi ngay. Tưởng Cán mặc áo vải, đầu đội khăn vải, phong trần dầu dãi qua mấy vất vả, cuối cùng mới được quân canh vào báo với Chu Du. Vừa nghe qua, Chu Du đã cười ngất, nói với các tướng:

– Ta đã hiểu việc này ra sao rồi. Vậy ngươi hãy chờ xem sắp có chuyện vui đây!

Khi gặp mặt, Chu Du hỏi ngay đây là việc quân hay là bạn bè đến chơi. Tưởng Cán mau mắm đáp chỉ là đến thăm bạn mà thôi. Chu Du liền cho mở “Quần Anh hội”, tiệc rượu bày ra tươm tất, sai Thái Sử Từ làm giám tửu rồi nói với mọi người:

– Tử Dực (Tưởng Cán) là bạn ngày trước, nay tuy là quân hai bên nhưng vẫn nhớ tới nhau đến thăm, không phải là thuyết khách. Vì vậy xin cứ vui say thật sảng khoái vào, đừng e dè gì hết.

Khi rượu đã mấy tuần, ai nấy đều ngà ngà say, Chu Du làm như quá cao hứng, nói với Tưởng Cán:

– Bằng hữu có muốn đi quanh một vòng quân doanh để xem tôi bố trí ra sao không?

Tưởng Cán cả mừng, chỉ đợi có thế liền nhận lời. Khi đi, Chu Du đã cho quân sĩ bố trí sẵn nên nơi đâu cũng gươm giáo sáng lòa, quân binh chỉnh tề, lương thảo chất cao như núi khiến Tưởng Cán không khỏi kinh hoảng trong lòng nhưng ngoài mặt vẫn giả như vui vẻ khen ngợi quân mã Giang Đông quả là không sai với lời đồn.

Sau khi đi một vòng, mọi người lại trở về bàn tiệc ăn uống tiếp tục, ai nấy đều say mèn, có người gục ngay xuống bàn mà ngủ. Chu Du giả say ân cần mời Tưởng Cán ở lại ngủ trong quân doanh của mình nhưng lại nôn ọe đầy ra khiến Tưởng Cán không sao ngủ được. Nằm trằn trọc đến canh hai, Tưởng Cán nhìn qua thấy Chu Du ngủ như chết thì liền nhè nhẹ bước tới gần án thư, đọc trộm các văn thư còn vất lung tung ở đó. Trong số thư từ, Tưởng Cán liếc thấy có tên Sái Mạo và Trương Doãn thì vội đọc kỹ. Thư viết rất ngắn, đại khái chỉ báo cho biết đã lừa được Tào Tháo, khi nào diệt được thì sẽ cùng nhau sum họp chè chén một bữa no say cho thỏa chí. Tưởng Cán liền giấu bức thư vào trong tay áo rồi trở về chỗ cũ giả vờ ngủ. Được một lúc, chợt có quân canh vào báo:

– Xin Đô đốc tỉnh rượu, có người ở Giang Bắc đến báo tin mật.

Chu Du cựa mình ngái ngủ nhưng vẫn gắt lên:

– Ngươi ra đi, có việc gì thì hãy đợi sau.

Sau đó Chu Du lén nhìn, thấy Tưởng Cán đang ngủ say mới bước ra nói chuyện với tên quân vừa vào báo tin. Tưởng Cán giả vờ ngủ nhưng lắng tai cố nghe xem chuyện bí mật ấy là gì. Thế nhưng hai người xì xào rất nhỏ, Tưởng Cán chỉ nghe được lõm bõm mấy tiếng như Sái Mạo, Trương Doãn mà thôi. Sau đó Chu Du lại trở vào và lần này lăn ra ngủ ngay. Tưởng Cán liền nhân dịp này lẻn ra ngoài, nói dối bọn quân canh:

– Ta đi có việc cần. Các ngươi cứ để Đô đốc ngủ yên, sáng mai báo là ta đã đi rồi là được.

Bọn quân canh không thấy Tưởng Cán mang theo thứ gì nên để cho ông ta đi qua dễ dàng, về đến quân doanh, Tưởng Cán lập tức đem mọi chuyện báo cho Tào Tháo biết. Tào Tháo nghe xong nổi giận, sai quân gọi Sái Mạo và Trương Doãn đến hạch hỏi:

– Các ngươi lập thủy trại huấn luyện quân binh tới đâu rồi? Bao giờ mới tiến binh được?

Hai tướng vô tình đáp:

– Việc huấn luyện còn chưa hoàn tất, xin Thừa tướng đừng nôn nóng. Bao giờ xong chúng tôi sẽ báo lại.

Tào Tháo nghe vậy càng tin chắc Sái Mạo và Trương Doãn cố tình trì hoãn, lớn tiếng mắng một hồi rồi không cho biện giải gì hết, lập tức đem ra ngoài chém đầu. Thế nhưng Tào Tháo là người đa mưu túc trí, khi giết xong Sái Mạo và Trương Doãn thì giật mình nói lớn:

– Thôi rồi! Ta đã mắc kế ly gián của Chu Du mất rồi.

Tuy vậy Tào Tháo không nói ra điều này, phao tin là Sái Mạo và Trương Doãn bê trễ việc quân nên phải bị trừng trị. Các bộ tướng của Tào Tháo nghe vậy hết sức kinh sợ, ai nấy răm rắp lo việc của mình cho nghiêm chỉnh.

Riêng Chu Du nghe tin Sái Mạo và Trương Doãn đã bị chém đầu thì cười lớn:

– Trừ xong hai tên này thì ta chẳng còn lo lắng gì nữa, có thể tiến binh được rồi.

Thế nhưng lúc Lỗ Túc đến thăm Khổng Minh thì ông nói ngay:

– Tôi xin chúc mừng về việc diệt trừ được đối thủ khó chịu. Nhưng cái trò ly gián này Tào Tháo sẽ biết ngay. Đừng nói gì với Chu Du mà tôi nguy mất.

Lỗ Túc hết sức kinh hãi, vội chạy đến kể lại cho Chu Du nghe mọi việc. Chu Du liền nói:

– Kình địch nguy hiểm nhất chính là Khổng Minh chứ không phải là Tào Tháo. Bây giờ phải tìm cách trị tội Khổng Minh, giết đi thì ta mới yên tâm.

Ngày hôm sau Chu Du cho gọi Khổng Minh đến, ban lệnh:

– Ngày xuất quân sắp tới mà tên của chúng ta còn thiếu rất nhiều. Ta giao cho ông việc cung cấp tên, hạn trong 10 ngày là phải có đủ. Nếu sai thì cứ theo quân pháp mà trừng trị.

Trong ý Chu Du dự định thể nào Khổng Minh cũng nài xin thêm ngày, ông ta sẽ cho nhiều lắm là 5 ngày nữa. Chẳng ngờ Khổng Minh cười nói:

– Việc ra quân rất gấp, nếu để 10 ngày thì bê trễ hết còn gì. Tôi xin đảm nhệm việc này, chỉ trong 3 ngày là có đủ!

Chu Du cả mừng, nghĩ thầm trong bụng: “Đó là ngươi tự tìm lấy cái chết chứ không phải ta ép uổng”. Xong rồi Chu Du liền gọi các tướng vào làm chứng, bắt Khổng Minh phải viết giấy cam đoan rõ ràng. Khi ra về, Khổng Minh liền tìm Lỗ Túc trách cứ:

– Tôi đã nói là không nên tiết lộ cho Chu Du biết. Nay ông đã hại tôi rồi thì phải cố giúp mới xong. Lỗ Túc cũng rất ân hận về việc này, xin Khổng Minh cần gì thì mình quyết cung ứng ngay. Khổng Minh liền mượn 20 chiếc thuyền, cho căng màn chung quanh, lấy cỏ khô bó lại thành hình người chất đầy quanh mạn thuyền. Khi xong việc Khổng Minh ung dung uống rượu ngâm thơ chẳng đả động gì tới khiến Lỗ Túc hết sức ngạc nhiên. Đến ngày thứ 3, khi Lỗ Túc đang định đi ngủ thì Khổng Minh sai người đến nói hãy đi lấy tên với mình.

Đêm hôm ấy có sương mù dày đặc mờ mịt cả dòng sông, đứng sát nhau cũng khó thấy mặt. Khổng Minh liền lệnh cho 20 chiếc thuyền buộc chặt với nhau rồi cứ thế mà lầm lũi đi đến thủy trại của Tào Tháo. Khi đến gần bờ, Khổng Minh sai quân nổi trống và reo hò ầm ĩ làm cho quân Tào hầu như thức dậy một lượt. Lỗ Túc hết sức kinh sợ, vội ngăn cản nhưng Khổng Minh đoan quyết:

– Sương mù như thế này, là người cẩn trọng, chắc chắn Tào Tháo không xuất quân đâu, ông đừng lo. Đi chơi với tôi một vòng rồi về là đủ số tên ngay.

Quả nhiên lúc ấy Mao Giới và Vu Cấm đã vào báo cho Tào Tháo biết nhưng đúng với suy đoán của Khổng Minh, Tào Tháo chỉ lệnh cho quân sĩ cứ nhắm vào chỗ có tiếng trống mà bắn tên ra. Tiếng trống càng rầm rộ bao nhiêu thì tên càng bắn ra như mưa. Khổng Minh cho thuyền chạy tới chạy lui mấy vòng rồi mới sai quân sĩ đồng thanh hô to: “Tạ ơn Thừa tướng ban cho tên”, sau đó 20 chiến thuyền vun vút chạy về doanh trại. Khi ấy Tào Tháo mới biết mình lại trúng kế của Khổng Minh lần nữa, rất tức giận mà không làm gì được.

Việc “mượn tên” này diễn tả trong cuốn Tam quốc diễn nghĩa, là một cuốn tiểu thuyết dựa vào lịch sử và có đôi chút phóng đại. Vì vậy việc “mượn tên” của Khổng Minh theo các nhà nghiên cứu chỉ là làm giảm uy danh của Chu Du, đồng thời khen tặng Khổng Minh. Thật sự, khi thủy chiến, dù ban ngày hay ban đêm quân sĩ đôi bên thường dùng tên lửa bắn ra để đốt cháy chiến thuyền địch. Nếu như Khổng Minh dùng thuyền lấy tên thì chỉ cần vài ba mũi tên có tẩm dầu là chiếc thuyền đã thành tro tàn mất rồi. Trong giới nghiên cứu lịch sử, có người còn cho rằng La Quán Trung, người viết cuốn Tam quốc diễn nghĩa chắc chưa bao giờ ra trận nên mới chế ra việc “mượn tên” hoang đường như trên.

Có thể nói, việc liên minh giữa Lưu Bị và Tôn Quyền là thật nhưng không phải nhờ vào Khổng Minh mà quân Đông Ngô mới có tên để dùng. Chắc chắn với một chiến dịch lớn lao như vậy, Chu Du là Đại tướng phải chuẩn bị đâu đó sẵn sàng rồi.

Riêng việc Chu Du dùng kế phản gián giết hai tướng Sái Mạo và Trương Doãn đủ nói lên mưu trí của ông rất sắc sảo. Vả chăng Chu Du là người kiêu ngạo, đâu cần nhờ tới mưu kế của Khổng Minh mới thắng được Tào Tháo trong trận Xích Bích. Tào Tháo giỏi dùng kỵ binh với cách đánh kỳ trận, còn thủy binh rất yếu kém nên mới chấp nhận sự đầu hàng của Sái Mạo và Trương Doãn, nay trúng kế của Chu Du thì đã thất bại tới nửa phần, còn lại là do tài điều binh của Chu Du.

Sự phán đoán này hoàn toàn có cơ sở bởi vì sau đó quân tướng của Tào Tháo khi xuống thuyền đều bị say sóng, nôn mửa mất sức, làm sao huấn luyện thành thạo được, lại là một yếu kém để Chu Du hình thành kế “liên hoàn thuyền”, giúp cho kế hỏa công đại thắng lợi. Ngay trong Tam quốc diễn nghĩa, đoạn viết về Chu Du cùng Khổng Minh bàn cách đánh bại Tào Tháo cũng đủ chứng tỏ tài trí của ông không hề thua kém Khổng Minh.

Khi ấy Chu Du nói với Khổng Minh:

– Tôi đã có kế sách đánh bại Tào Tháo dễ dàng.

Khổng Minh liền nói luôn:

– Tôi cũng có kế đánh bại được Tào Tháo. Bây giờ mỗi người viết kế sách đó vào tay rồi so xem kế của ai hay hơn.

Kết quả Chu Du và Khổng Minh đều viết vào lòng bàn tay một chữ duy nhất “ôhỏa” hai người nhìn nhau mà cười. Rõ ràng về mặt mưu kế Chu Du cũng rất nhạy bén, khi Tào Tháo sai hai em của sái Mạo là Sái Trung và Sái Hòa lẻn sang đầu hàng thì Chu Du cũng biết ngay đó là kế trá hàng, cốt dò xét xem quân Đông Ngô còn mưu kế gì khác nữa không.

Một bộ tướng của Chu Du là Hoàng Cái cũng có mưu trí không kém, thấy chủ tướng không có ý định gì thì nhân đêm khuya bí mật vào quân doanh khuyên Chu Du nên dùng hỏa công để đánh Tào Tháo. Chu Du liền nói thật rồi nhân việc Sái Trung và Sái Hòa trá hàng liền sai Hoàng Cái qua quân Tào trá hàng, giúp cho việc đánh hỏa thành công.

Hoàng Cái nhận lời, dùng “khổ nhục kế” giả vờ chống đối với Chu Du, bị đánh đòn tới mức máu đổ thịt rơi rồi nhân dịp chạy qua đầu hàng Tào Tháo. Lại có một mưu sĩ tên Hám Trạch trợ giúp nên cuối cùng mới lừa được Tào Tháo, là người hết sức đa nghi. Lúc ấy Tào Tháo mang tiếng chuyên quyền nên rất nhiều nhân sĩ không bằng lòng, vì vậy sau này lại có một nhân tài sánh ngang với Khổng Minh là Bàng Thống đến hiến kế cho Tào Tháo huấn luyện quân sĩ thủy chiến. Bàng Thống nói:

– Thừa tướng huấn luyện quân sĩ thủy chiến thật đúng phép nhưng chưa hoàn toàn nên người không quen sóng gió dễ bị bệnh. Nếu như Thừa tướng đem khoảng 30 đến 50 chiếc thuyền kết thành một nhóm, dùng đai sắt ghép cứng lại rồi trải gỗ lên trên làm sàn thì có thể đi lại dễ dàng như trên đất bằng vậy. Chẳng còn lo gì sóng gió nữa.

Tào Tháo cả mừng, lập tức sai quân làm theo như vậy, gọi là “Liên hoàn thuyền”. Chẳng mấy chốc mọi việc đã hoàn tất, Thủy quân Đô đốc Mao Giới và Vu Cấm đến thưa rằng có thể xuất quân được rồi, Tào Tháo liền truyền cho toàn bộ chiến thuyền lần lượt tiến ra thủy trại, đông đến nỗi chật cả một khúc sông dài, khí thế rất hào hùng. Hai mưu sĩ dưới quyền của Tào Tháo là Trình Dục và Tuân Du có suy nghĩ sâu xa hơn, nói với Tào Tháo:

– Thuyền kết thành nhóm thì quả rất lợi. Thế nhưng lỡ đối phương dùng hỏa công thì thật khó xoay trở.

Tào Tháo đang lúc hứng khởi, gạt đi không nghe lời của hai người, ung dung sai quân ra khiêu chiến. Chu Du cũng xuất quân nghinh địch, hai bên đánh mấy trận bất phân thắng bại. Chu Du đứng nhìn qua quân doanh của Tào Tháo, chợt thấy có một lá cờ bị gió to cuốn gẫy thì rất mừng bởi vì đó là điềm xấu, chắc chắn Tào Tháo sẽ thất bại về tay mình. Thế nhưng đột nhiên Chu Du nhớ lại một việc, kêu to một tiếng rồi hộc máu tươi ra, ngã xuống thuyền mê man bất tỉnh.

Thật sự Chu Du chỉ giả vờ vậy để cho quân Tào càng thêm kiêu ngạo, ông ngầm bàn với Khổng Minh lập đàn cầu đảo để có gió đông nam rồi một mặt sai Cam Ninh cùng với Sái Trung đem quân đến Ô Lâm cướp phá lương thảo; Thái Sử Từ chặn đường, Lã Mông tiếp ứng; Lăng Thống đến Di Lăng; Đông Dương đánh trại của Tào Tháo; Phan Chương thì ra Hán Dương tiếp ứng cho Đổng Tập.

Một loạt điều động quân binh rất nghiêm chỉnh, chứng tỏ Chu Du rất tinh thông binh pháp, sắp đặt xong 6 hộ quân, Chu Du thống lãnh thủy quân chia làm 4 đội tiến đánh quân Tào. Trận chiến xảy ra kinh hoàng, Tào Tháo cũng bị trúng tên vào tay, bao nhiêu chiến thuyền không làm sao cởi ra kịp đều bị hỏa công của quân Đông Ngô thiêu rụi. Quân Tào hoảng hốt bỏ chạy lên bờ cũng bị các hộ quân Đông Ngô phục sẵn xông ra đánh giết tơi bời. Tào Tháo nhìn quanh thấy chỗ nào cũng có lửa cháy thì kinh hoảng rụng rời, đành phải theo Trương Liêu lên một chiếc thuyền nhỏ bỏ chạy. Lúc đó Hoàng Cái đuổi theo rất rát, thế mà Tào Tháo vẫn còn oai phong giương cung bắn trúng vào vai Hoàng Cái một mũi tên, ngã lộn xuống sông.

Trận này Tào Tháo đại bại, thu thập quân tướng cùng mình chạy về Nam quận. Khi qua Hoa Dung đạo lại bị Quan Vũ chận đường, tưởng đâu lần này nắm chắc cái chết. May sao Tào Tháo khôn ngoan nhắc lại tình nghĩa lúc trước đã tặng áo cẩm bào, ngựa Xích Thố cho Quan Vũ mới thoát được. Lúc gần đến Nam quận, Tào Tháo được quân của Tào Nhân hộ tống mới vào thành bình yên.

Đại thắng Xích Bích không những biểu lộ tài năng chỉ huy ba quân của Chu Du mà còn mở ra một bước ngoặt mới khiến Tào Tháo mất đất Kinh châu đã nắm chắc trong tay. Cũng nhờ vậy mà hai thế lực của Tôn Quyền và Lưu Bị có thời gian phát triển thế lực, từ đó hình thành cục diện Tam quốc, tức là thành thế chân vạc Ngụy, Thục, Ngô để giằng co với nhau. Thua trận Xích Bích, Tào Tháo phải mất nhiều tâm huyết, nhiều năm sau mới phục hồi lại được sức mạnh quân sự, cũng là một bài học kinh điển về hỏa công mà người sau thường lấy để minh họa cho lý thuyết binh pháp.

Tiếc rằng khi tiến đánh Nam quận, Chu Du bị trúng tên trọng thương. Tào Nhân biết việc này liền đem quân ra khỏi thành truy kích nhưng Chu Du dù đang rất đau đớn vẫn chỉ huy ba quân đánh bại quấn Tào, rút lui yên ổn. Mũi tên mà Chu Du trúng phải là tên có bôi chất độc, vì vậy sau đó chạy chữa tận tình vẫn không sao khỏi được và ông mất khi mới vừa 36 tuổi.

Người đời sau rất ít khi nhắc đến Chu Du bởi vì cuộc sống của ông quá ngắn ngủi, nếu như có may mắn sống đến 90 tuổi như danh tướng Vương Tiễn đời Tần thì chắc chắn ông sẽ còn cống hiến cho đời nhiều trận đánh tài tình chứ không riêng gì trận Xích Bích.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Huyền Cơ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.