12 Tướng Soái Trung Hoa

Lượt đọc: 54 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
6 HÀN TÍN - BÁCH CHIẾN BÁCH THẮNG

❊ ❊ ❊

Trong suốt chiều dài lịch sử Trung Hoa, có rất nhiều danh tướng được gọi là “trăm trận không thua”, thí dụ như Mã Viện, Nhạc Phi, v.v... Thế nhưng trong cuộc đời của các danh tướng ấy vẫn có ít nhiều trận bị bại, tuy rằng với kinh nghiệm của mình họ đã không để tổn thất quá nặng hoặc bắt buộc phải rút lui vì tình thế bất lợi. Riêng một danh tướng mà hầu như hậu thế đều biết danh, đó là Hàn Tín thì không hề có chiến bại, rất xứng đáng được gọi bằng “trăm trận trăm thắng”.

Hàn Tín là người Hoài Âm, từ nhỏ ông đã tỏ ra là người ham thích võ nghệ, rất thích đọc binh pháp mặc dù thân thể không cường tráng cao lớn. Vì xuất thân từ gia đình nghèo nên khi thiếu thời Hàn Tín phải làm nhiều việc khó nhọc vất vả mưu sinh qua ngày. Có lúc ông phải làm nghề đồ tể, mổ lợn đem bán ngoài chợ kiếm lời, cũng có lúc phải đi câu cá qua ngày.

Vốn bản chất khá phóng khoáng, lại lăn lộn nơi chốn giang hồ nên tính tình của Hàn Tín không câu nệ vào những chuyện vụn vặt, cho rằng đã có chí lớn thì phải nhịn nhục vượt qua được những khó khăn nho nhỏ. Nếu không vượt nổi chuyện nhỏ thì làm sao thành công việc lớn. Do vậy trong thời gian nghèo khổ, Hàn Tín vẫn cố gắng tụ tập học hỏi về binh pháp, không chấp nhất những lời chê bai đàm tiếu của những người chung quanh. Khi mẹ qua đời, Hàn Tín không có tiền để lo việc tang, ông đành phải chọn một chỗ cao rộng rãi, bên cạnh có một khoảng đất hoang làm nơi chôn cất cho mẹ.

Quan điểm nhịn nhục việc nhỏ để mưu cầu việc lớn được Hàn Tín coi trọng, suốt đời lấy đó làm châm ngôn xử thế. Kể cả khi đã bị Lưu Bang u mê bắt giam lỏng ở Hàm Dương, Hàn Tín vẫn cố nhẫn nại, hy vọng Lưu Bang hồi tâm chuyển ý nhớ lại những công lao ngày trước. Cũng vì vậy mà Hàn Tín rơi vào cái bẫy đơn giản của Lã hậu. Quan điểm này đã được Trương Lương nhìn ra và âm thầm khuyên dụ ông về với Lưu Bang. Đó là lần Bá vương Hạng Võ đã vào Hàm Dương tranh công với Lưu Bang. Hạng Võ muốn dời đô về Bành Thành, cùng các quan bàn soạn nhưng bị quan Gián nghị là Hàn Sinh đứng lên ngăn cản khiến Hạng Võ đâm tức, quát tháo:

– Hiện ta đã xưng Vương, thích đóng đô ở đâu là tùy ý ta, có can gì mà người cứ lải nhải mãi thế?

Hàn Sinh vẫn không sợ, dùng lời của Phạm Tăng ra cãi lại rồi ra trước cửa ngửa mặt lên trời than lớn:

– Người ta thường nói “người nước Sở thật giống khỉ, khi tắm vẫn còn đội mũ”. Bây giờ ta mới nhận ra câu nói ấy quả thật không sai.

Hạng Võ nghe được, nổi giận lôi đình sai Hàn Tín khi ấy là Chấp Kích lang bắt Hàn Sinh bỏ vào vạc dầu trị tội. Thấy Hàn Sinh vẫn lớn tiếng chê bai, Hàn Tín liền nói:

– Theo tôi thì ông đáng chết trăm lần. Ông làm chức Gián nghị sao khi Bá vương giết Tống Nghĩa ông không can gián? Khi Bá vương chôn sống 20 vạn hàng binh Tần sao không can? Khi Bá vương giết Doanh Tử Anh, bốc mộ Tần Thủy hoàng, đốt cháy cung A Phòng, toàn những việc tày trời sao chẳng thấy mặt mũi ông đâu. Chính ông tự làm cho Bá vương quen tính ngông cuồng, bây giờ chỉ vì chuyện nhỏ mà gân cổ lên cãi bằng được thì chết là đáng lắm rồi.

Lúc ấy Trương Lương đứng gần nên nghe được lời đối đáp này, giật mình, nhận ra Hàn Tín đúng là nhân tài mà Lưu Bang đang cần.

Thời gian ngắn mà Hàn Tín làm nghề mổ lợn đem ra chợ bán có đụng chạm mối lái với bọn đồ tể, vì vậy bọn chúng rất tức giận, cho là Hàn Tín cố ý cướp miếng cơm. Bọn này biết Hàn Tín có võ nghệ, đi đâu vẫn kè kè thanh kiếm thì không dám gây sự, hùn tiền nhờ một tên côn đồ khét tiếng ở đấy ra tay giùm.

Một lần kia, khi Hàn Tín vừa mới ra chợ thì tên côn đồ tên là Đỗ Trung giả vờ để cho Hàn Tín đụng phải rồi lớn tiếng mắng chửi, sau đó lại nhục mạ rất nặng. Thoạt đầu Hàn Tín cũng đã nổi giận nhưng suy nghĩ một chút thì thấy hình như trong chuyện này có điều gì khuất tất, dùng lời nhẹ nhàng giải hòa. Thế nhưng Hàn Tín cố nhịn bao nhiêu thì tên Đỗ Trung càng hung hăng vô lối bấy nhiêu, cuối cùng dùng cách sỉ nhục tồi tệ nhất là đứng dạng hai chân ra, cười vào mặt Hàn Tín rồi nói:

– Hàn Tín, ngươi là thân trai tráng mà kiếm không đủ cơm ăn thì thật là hèn hạ, đã thế còn dám cầm kiếm để khoe khoang nữa sao? Ngươi có gan giết người không? Nếu có thì hãy rút kiếm ra đâm chết ta thử xem nào, bằng không thì hãy vất kiếm đi mà bò qua háng của ta đây. Ta sẽ tha mạng cho ngươi.

Hàn Tín nghe vậy tức giận đỏ bừng cả mặt nhưng suy nghĩ một lúc thì chẳng hiểu sao lẳng lặng cúi người bò qua háng tên hàng thịt ấy. Cả chợ nhìn thấy đều cười chê Hàn Tín là người hèn nhát. Duy nhất chỉ có một người tên là Hứa Phủ vốn giỏi nghề xem tướng, kéo Hàn Tín ra một chỗ vắng nói:

– Tráng sĩ có tướng vương hầu, tuy bây giờ khổ cực nhưng khi gặp thời cơ thì có thể phú quý tột bậc đấy, bây giờ bất cứ chuyện gì cũng nên nhẫn nhục là hơn.

Hàn Tín cười nhạt, đáp:

– Tôi tài hèn sức mọn, đã không kiếm đủ miếng ăn nuôi thân, giờ lại còn bị người khác nhục mạ thì nói đến chuyện phú quý làm gì.

Hứa Phủ cố khuyên giải, cho rằng nên nhẫn nhịn, chờ thời cơ thì tất sẽ có ngày nên danh phận, đừng vì những việc nhỏ mà hại đến thân vô ích. Hàn Tín không nói gì nhưng lúc về nhà suy nghĩ về lời nói của Hứa Phủ rất nhiều.

Không phải ai cũng ghét bỏ Hàn Tín, ở gần đó có một người đàn bà làm nghề giặt thuê (Phiếu mẫu), thấy Hàn Tín thường hay bị đói thì thỉnh thoảng lại dẫn về nhà cho cơm ăn. Hàn Tín rất cảm ân nghĩa của Phiếu mẫu, có lần nói:

– Nếu sau này tôi làm nên sự nghiệp thì sẽ đền ơn bà gấp trăm lần như thế này.

Phiếu mẫu mắng ngay:

– Ngươi sức vóc trượng phu mà không nuôi nổi thân mình thì là kẻ bất tài. Ta thương tình cho ăn chứ có mong gì đến sự đền ơn?

Hàn Tín nghe vậy rất buồn nhưng cũng không dám cãi lại Phiếu mẫu. Hàn Tín cứ thế sống một cuộc đời vất vả nhưng không bao giờ từ bỏ hoài bão của mình, càng ra sức đi mượn các sách viết về binh pháp để học hỏi thêm. Vì quá hăng hái luyện tập kiếm pháp và võ nghệ, thực phẩm không đủ bồi bổ nên từ một thân thể trai trẻ cường tráng, sau mấy năm miệt mài rèn luyện Hàn Tín chỉ còn lại bộ dạng gầy ốm, quần áo cũng không được lành lặn. May sao đang lúc tuyệt vọng thì Hàn Tín nghe tin Hạng Lương kéo đại binh đến đóng ở sông Tứ Thủy, được các nhân sĩ và trai tráng thi nhau ra quy phục rất nhiều. Khi ấy Hạng Lương kiểm điểm lại nhân mã, thân chỉ huy một đạo đóng ở bờ sông Tứ Thủy làm thế ỷ giốc còn Hoài vương đóng đô ở Vu Thai, quần thần đông đảo, quân sĩ kiêu hùng, lại được hào kiệt nhân sĩ bốn phương kéo đến đầu phục nên thanh thế lẫy lừng một phương trời.

Hàn Tín cho rằng đây chính là thời cơ của mình, tìm một bộ quần áo tốt nhất rồi đeo kiếm đến xin yết kiến Hạng Lương. Nhìn thấy bộ dạng nghèo đói của Hàn Tín, Hạng Lương trong lòng đã không muốn thu dụng nhưng may sao quân sư Phạm Tăng đứng gần đó liền nói:

– Người này chỉ vì sa cơ nên mới tàn tạ như thế, thật ra tiềm ẩn rất nhiều thao lược, chớ nên bỏ qua. Vả lại bây giờ đang là lúc chúng ta chiêu hiền đãi sĩ, nếu không thu nhận thì tất hào kiệt bốn phương sẽ e ngại mà không chịu đến nữa đâu.

Hạng Lương nghe vậy bất đắc dĩ phải nghe theo, cho Hàn Tín làm Chấp Kích lang sai khiến dưới trướng rồi sau này cũng vẫn giữ chức ấy phục vụ cho Hạng Võ. Thực tế Chấp Kích lang chỉ là một quân nhân cầm kích đứng hầu giống như một vệ sĩ, lương bổng không có bao nhiêu và cũng chẳng quyền hành gì hết. Hàn Tín rất bất mãn, cho rằng họ Hạng đã không trọng đãi mình nên chỉ làm tròn nhiệm vụ mà thôi, hầu như không bao giờ có ý kiến về vấn đề chính trị. Chỉ riêng lúc đưa Hàn Sinh ra xử tử thì mới bức xúc bộc lộ những suy nghĩ của mình từ những việc đã được chứng kiến khi theo hầu dưới trướng họ Hạng.

Kịp đến khi Lưu Bang vào Hàm Dương trước nhưng bị Hạng Võ dùng sức mạnh chiếm công, lại bắt Lưu Bang phải đến phó hội Hồng Môn với ý định giết chết tại chỗ. Lúc ấy Hàn Tín mới có dịp nhìn kỹ Lưu Bang và cho rằng đây mới chính là “chân chủ” mà mình đã tìm kiếm bao nhiêu năm nay. Thế nhưng ông đang là quan chức của Hạng Võ, đành phải bí mật giúp đỡ Lưu Bang thoát khỏi hang hùm. Hành động này của Hàn Tín không qua mắt được Trương Lương và ông quyết định tự tìm gặp Hàn Tín thuyết phục, sau đó trao cho bức thư tiến cử.

Đây là cơ hội tiến thân nên Hàn Tín nhận thư rồi quyết định rời bỏ Hạng Võ ngay nhưng ông cũng còn đôi chút băn khoăn nên ghé ngang qua chỗ của Trần Bình trò chuyện. Chưa kịp nói câu gì, Trần Bình đã tươi cười nói ngay:

– Hôm nay ông đến nhà tôi thì là chuyện lạ. Chắc là đã chọn được chân chủ rồi phải không?

Hàn Tín giật bắn cả người nhưng cũng biết Trần Bình không hài lòng với Hạng Võ, bèn nói thật ý mình. Trần Bình liền giúp Hàn Tín bằng cách lén cấp cho giấy thông quan, nhờ vậy mới ra khỏi Hàm Dương dễ dàng. Khi Hạng Võ ra lệnh cho Chung Ly Muội đuổi theo thì Hàn Tín đã vượt An Bình quan vào đất Tam Tần. Tuy đã có chỉ dẫn, thế mà Hàn Tín cũng phải biết bao vất vả mới tìm đến được Bao Trung, một nơi hoang vu hiểm trở vốn là nơi chốn lưu đày của các tù nhân của triều Tần trước kia.

Vào Bao Trung rồi, Hàn Tín lập tức đến “Chiêu Hiền quán” xin gặp mặt Hạ Hầu Anh, thường được gọi là Đằng công. Hàn Tín không vội đưa thư tiến cử của Trương Lương ra nhưng Hạ hầu Anh nghe tên đã biết ngay đây là người anh hùng mà Lưu Bang rất cần tới. Tuy vậy Hạ Hầu Anh vẫn thử thách tài nghệ Hàn Tín theo 13 đề mục treo trước cửa “Chiêu Hiền quán”. Hàn Tín biểu lộ tài năng hơn người ở chỗ ngay lập tức ông đáp lại bằng 14 đề mục, đề mục thứ 14 gọi là “Đạo của người làm tướng”. Hạ Hầu Anh nghe xong hết sức khâm phục, lập tức tiến dẫn Hàn Tín đến chỗ Tiêu Hà rồi hai người đồng loạt đưa Hàn Tín yết kiến Lưu Bang. Chẳng ngờ Lưu Bang cười mà nói:

– Ta đã nghe chuyện một dũng sĩ tên là Hàn Tín ở Hoài Âm, phải chịu luồn háng tên côn đồ. Có phải là người này chăng?

Dù Tiêu Hà và Hạ Hầu Anh hết sức tiến cử nhưng cuối cùng Lưu Bang chỉ cho Hàn Tín giữ chức Liên Ngao, tức là người coi kho tàng cho quân binh. Hàn Tín tạ ơn rồi lui ra, sắc mặt bình tĩnh như thường, không hề lộ chút gì bất mãn. Tiêu Hà rất lo lắng, một lần nữa khuyên can nên Lưu Bang bất đắc dĩ phải phong cho Hàn Tín làm Đô úy. Lần này Hàn Tín cũng thản nhiên nhận chức, làm việc hết sức phân minh nên được nhiều người ca tụng.

Luôn mấy tháng như vậy, Hàn Tín biết nếu có đưa thư tiến cử của Trương Lương ra cũng chẳng ích gì nên một đêm lẳng lặng cưỡi ngựa bỏ đi. Tiêu Hà nghe tin, chưa kịp ăn uống, cũng một thân một ngựa đuổi theo, khi đến Hàn Khê thì đuổi kịp. Hai người chưa nói được câu nào thì Hạ Hầu Anh cũng vừa tới nơi, ra sức khuyên nhủ Hàn Tín nên cố nhẫn nhục một thời gian nữa. Hàn Tín rất xúc động vì chân tình của Tiêu Hà và Hạ Hầu Anh, lại nghĩ đến chữ “nhẫn” mà mình đã theo đuổi bấy lâu này nên cuối cùng bằng lòng trở về. Lần này thấy Tiêu Hà và Hạ Hầu Anh hết lòng thuyết phục Lưu Bang, Hàn Tín mới đưa lá thư của Trương Lương ra và cuối cùng được Lưu Bang phong làm Phá Sở Đại Nguyên soái, được toàn quyền điều động ba quân.

Biết Lưu Bang nóng lòng sốt ruột muốn thoát ra khỏi đất Bao Trung tranh cường tranh thắng với Hạng Võ, Hàn Tín liền phân tích:

– Hạng Võ tuy hung mãnh, sức địch vạn người nhưng lại không biết sử dụng tướng tài, Đại vương không cần phải nóng vội. Còn việc thoát ra khỏi đây thì tôi có một kế sách rất thần diệu, miễn sao phải được toàn quyền, không ai có quyền hỏi han hay chống lại thì cơ mưu mới không bị tiết lộ.

Lưu Bang chấp thuận lời yêu cầu này và Hàn Tín bắt đầu tiến hành một mưu kế hết sức tinh vi đánh lừa sự canh phòng của các tướng dưới quyền Hạng Võ ở Tam Tần. Đó là mưu kế mà người đời sau gọi là “Minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương” (Công khai sửa con đường sạn đạo xuyên qua núi nhưng âm thầm chiếm lấy đất Trần Thương).

Đầu tiên Hàn Tín chém đầu Ân Cái vì tội bê trễ trong lúc thao luyện ba quân, sau lại lấy cớ trừng phạt Phàn Khoái, một đại tướng đắc lực và thân thiết nhất của Lưu Bang. Hai người này đều là thân tín của Lưu Bang, từ trước đến nay ai cũng kính nể, thế mà vừa nắm binh quyền Hàn Tín đã dám trừng trị bọn họ khiến các tướng sĩ Thục Hán kinh hồn bạt vía, nghe theo lệnh răm rắp giống như Tôn Vũ ngày xưa truyền lệnh xử chém hai phi tần của Ngô vương Hạp Lư vậy. Quân lệnh phải tuyệt đối chấp hành, đó là yếu tố thứ nhất để người làm tướng có thể chỉ huy được quân binh.

Để Phàn Khoái chuộc tội, Hàn Tín sai dẫn một vạn dân phu đi sửa sang sạn đạo. Đây là một công việc hết sức khó khăn, cần đến mấy vạn dân phu và phải mất vài năm trời mới xong, thế mà Hàn Tín hạ lệnh cho Phàn Khoái phải hoàn tất trong một tháng khiến ai nấy đều ngạc nhiên và bất mãn.

Phàn Khoái mấy lần vào cầu xin nhưng Lưu Bang giữ lời hứa không tiết lộ cơ mật, chỉ thở dài nói:

– Ngươi đã đắc tội với Hàn Nguyên soái thì cố gắng chịu đựng đi, nếu có công lao, lúc ấy ta mới nói giùm vài câu được, bằng không thì... đành vậy. Đó là lỗi tại ngươi chứ không phải tại ta !

Bất đắc dĩ Phàn Khoái phải tuân lệnh nhưng trong lòng hết sức bất mãn, tin tức truyền ra cả đến Tam Tần. Danh tướng nhà Tần là Chương Hàm đã về đầu Sở, được phong làm Ung vương, nghe tin này thì rất khinh thường, không hề phòng bị gì cả.

Khi ấy một số dân phu không sao chịu nổi sự khổ cực trong việc sửa sang sạn đạo, nghe lời hai Tổng giáp là Diêu Long, Ngân Vũ rủ nhau bỏ việc trốn ra ải Đại Tản Quan đầu hàng Chương Bình (thật sự đó là sự xếp đặt khéo léo của Hàn Tín). Chương Bình dò xét kỹ càng, thấy hai tướng này quả thật vì bị Hàn Tín thù riêng với Phàn Khoái mà bỏ nhà Hán nên rất trọng dụng, cho làm thuộc tướng thân cận với mình.

Biết tính Phàn Khoái rất chân thật, khó mà giữ kín sự bất mãn được lâu, Hàn Tín khéo léo sai tướng Chu Bột mật báo cho Phàn Khoái biết việc sửa sang sạn đạo chỉ là giả trá, một vạn dân phu ấy chính là những tinh binh thiện chiến đã được tuyển lựa kỹ càng, chờ đúng thời điểm xuất quân. Nhờ vậy Phàn Khoái mới yên tâm tiến hành sửa sang sạn đạo. Còn Diêu Long và Ngân Vũ chính là Chu Bột và Trần Vũ giả dạng dân phu đi trá hàng mà thôi.

Trong khi Chương Hàm chú ý đề phòng mặt sạn đạo thì Hàn Tín theo đường tắt vượt núi tiến quân đến Trần Thương rất mau, thẳng tới uy hiếp Đại Tản Quan. Nhờ có Chu Bột và Trần Vũ làm nội ứng, kết quả quân Hán chiếm được ải rất dễ dàng, bắt sống Chương Bình. Tính ra từ ngày Hàn Tín làm lễ xuất quân cho đến khi hạ được Đại Tản Quan chỉ mất có mười ngày, là một chiến công lẫy lừng, phối hợp nhiều mặt nên đoạt thắng lợi chớp nhoáng.

Chiến thắng này mang ý nghĩa rất lớn lao, là đệ nhất kỳ công mở đường cho Lưu Bang chiếm Tam Tần và tiến ra Trung nguyên, để sau đó nhiều năm chinh chiến dưới sự phò giúp đỡ của Trần Bình, Trương Lương, Tiêu Hà. Lưu Bang lập nên triều đại nhà Hán huy hoàng kéo dài hơn 400 năm.

Sau này, khi Hàn Tín chuẩn bị đi đánh đất Triệu, trong tay chỉ có vài chục vạn quân, thật sự còn chưa đủ thì lại nghe tin Lưu Bang thua mấy trận liên tiếp, quân binh hao tổn gần hết, rất cần đến quân cứu viện. Bắt buộc Hàn Tín phải điều động một bộ phận lớn quân binh tiếp trợ cho Lưu Bang. Bất ngờ, lúc ấy quân Triệu cũng được mật báo, cùng nhau thương nghị rồi mở một cuộc tiến công dữ dội, hy vọng tiêu diệt được Hàn Tín chỉ trong một trận.

Đây là cơ hội để Hàn Tín biểu lộ tài năng làm tướng của mình, ông nhìn được lợi thế quân Triệu là đang sung mãn nhưng chính vì sự sung mãn ấy tất khinh địch nên táo bạo cho quân tiến tới đóng trại chỉ cách quân Triệu 30 dặm, thần tốc đánh úp đại doanh quân Triệu, triệt hạ tất cả các cờ của quân Triệu thay cờ của quân Hán vào. Đồng thời Hàn Tín phái một bộ phận quân binh đóng quân quay lưng về phía bờ sông khiến cho các tướng bên Triệu đều chê cười là người ngu dốt.

Việc bày trận như thế ngược hẳn với binh pháp từ xưa tới nay nên các tướng Triệu đều cho Hàn Tín chỉ ”hữu danh vô thực” nên càng thêm khinh địch, chẳng cần vạch kế sách đối phó với các chuyển biến bất ngờ. Hôm sau trời vừa mờ sáng, Hàn Tín đã hăm hở mang quân ra khiêu chiến nhưng giao tranh chưa được bao lâu thì đã hạ lệnh cho lui quân về trận thế dựa bên sông.

Danh tướng bên Triệu là Trần Dư thấy quân Hán thất trận thì vô cùng phấn chấn, xua quân tiếp tục tấn công. Quân Hán rơi vào thế tử địa, trước mặt bị tấn công, sau lưng là sông lớn nên chẳng cần động viên, ai ai cũng cố sức chống cự, chiến đấu thật ngoan cường với chút hy vọng “tìm sống trong cái chết”. Tuy nhiên, vì quân Triệu đông hơn gấp bội nên dù khí thế vô cùng, quân Hán cũng không sao thắng nổi, hai bên quần thảo nhau từ sáng đến chiều tối mà chưa ngã ngũ.

Trần Dư thấy quân sĩ đã mệt mỏi đói khát, lại cho rằng trước sau gì cũng tiêu diệt được quân Hán nên hạ lệnh rút quân về doanh trại, chẳng ngờ khi ấy trên nóc doanh trại đã treo toàn là cờ Hán khiến chỉ phút chốc quân Triệu biến thành hoảng loạn, chưa đánh đã mất tinh thần.

Ngay lúc đó Hàn Tín cho quân thừa thế từ bờ sông đánh ào ạt, hai mặt ép lại khiến quân Triệu càng thêm hoảng hốt. Quân Triệu dù đông nhưng mất hết tinh thần, tranh nhau chạy trốn nên trong thời gian ngắn đã đại bại. Quân nhà Hán do Hàn Tín chỉ huy thừa thế tiến lên, bắt sống được Triệu vương là Yết, còn Trần Dư vì cố sức chống cự nên chết ngay trong trận.

Sau trận đánh ấy vẫn có nhiều tướng sĩ thắc mắc, hỏi Hàn Tín:

– Tướng quân bày trận dựa lưng vào sông là điều rất cấm kỵ trong binh pháp, nếu quân Triệu quyết một lòng chiến đấu thì có phải tự mình đưa vào tử địa không. Tướng quần có chắc chắn chiến thắng được đối phương không?

Hàn Tín đáp:

– Điều này có gì trái với binh pháp? Trong binh pháp có câu: “Bị hãm vào tử địa sẽ tìm ra đất sống, bị đẩy vào chỗ mất sẽ tìm ra được chỗ còn”. Ta thấy đội ngũ của quân Hán đã ít mà lại chưa được huấn luyện tinh thục, nếu đưa vào trận địa đánh trực diện thì có khác gì “trứng chọi đá”, thế tất phải thua. Chỉ còn cách dồn quân sĩ vào nơi tử địa mới kích thích được dũng khí của toàn quân, lấy khí thế làm sức mạnh để đánh thắng địch. Lý lẽ là thế nhưng dù sao vẫn có chút may mắn là Trần Dư không vội cố sức đánh tới cùng, nếu không ta cũng chưa thật chắc chắn lắm.

Các tướng sĩ nghe giải thích mới vỡ lẽ ra, tất cả đều khâm phục Hàn Tín nắm rõ tâm lý và vận dụng binh pháp hết sức thần kỳ. Đây là trận đánh đầu tiên của Hàn Tín khi bắt đầu cầm quân, trở thành điển tích trong lịch sử quân đội Trung Hoa mà rất nhiều nước trên thế giới đều biết đến. Mưu kế “Minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương” sau này cũng được đưa vào “Tam thập lục kế” kinh điển.

Đó là chuyện về sau, ngay khi tiến ra Tam Tần, Hàn Tín - khi ấy đã được Lưu Bang hết sức tin tưởng - bèn hiến kế sách để mau chóng chiếm hết Tam tần làm bàn đạp tiến vào Trung nguyên đối đầu với Hạng Võ. Hàn Tín phân tích rất rõ ràng:

– Ba Tần Vương được Hạng Võ phong chức cho là Ung Vương Chương Hàm, đóng quân ở Phế Khâu, Địch Vương Đổng Ế đóng quân ở Lịch Dương, Tái Vương Tư Mã Hân đóng quân ở Cao Nô. Họ trước đây vốn là những tướng lĩnh của triều Tần đánh nhau với Hạng Võ, sau khi bại trận đã giấu quân đội của họ, về đầu hàng Hạng Võ, kết quả là hơn hai mươi vạn quân Tần đã bị Hạng Võ chôn sống, bọn họ ba người chẳng những không bị giết mà còn được Hạng Võ phong Vương, vì vậy người dân Tần đều căm ghét đến thấu xương. Còn Đại vương sau khi vào Quan Trung thì không tơ hào mảy may lấy một thứ gì, đã bãi bỏ luật pháp của nhà Tần, đồng thời công bố ước pháp Tam Chương cho nhân dân, bởi vậy nhân dân nước Tần không ai là không mong Đại vương làm vua nước Tần. Theo sự hẹn ước của Sở Hoài vương ban đầu với chư hầu, lẽ ra thì Đại vương cần phải làm vua ở Quan Trung. Bây giờ nếu Đại vương đưa quân tiến về phía đông thì Tam Tần lấy dễ như trở bàn tay.

Lưu Bang nghe xong hết sức hài lòng, lập tức tập hợp toàn quân tiến về phía đông. Thế nhưng không hề dễ dàng chút nào bởi các danh tướng nhà Tần trước kia đều rất lão luyện, nếu không nhờ tài ba của Hàn Tín thì Lưu Bang chắc chắn không đạt được ý định của mình. Đầu tiên là việc đối phó với Chương Hàm.

Lúc ấy Chương Hàm đã trúng tên phải chạy về Phế Khâu nhưng bố trí cố thủ rất chắc chắn. Thêm vào đó, thành Phế Khâu được xây dựng từ đời nhà Chu, chung quanh có núi non cao ngất, chỉ có mặt tiếp giáp với dòng Bạch thủy là trống trải nhưng lại bị ngăn cản bằng một bức tường thành vô cùng kiên cố, muốn tấn công hướng nào cũng không xong. Hai tướng chỉ huy mặt trận này là Thúc Tôn Thông và Chương Thương hết sức lo lắng, chỉ riêng Hàn Tín ung dung cho biết:

– Chỉ nội trong ba ngày nữa chúng ta sẽ chiếm được Phế Khâu.

Quả nhiên Hàn Tín không nói đùa, ông sai Tào Tham dẫn quân ngăn dòng sông để cho nước tràn vào thành khiến Chương Hàm đành phải bỏ chạy trối chết, chưa đến ba ngày quân Thục Hán đã chiếm được Phế Khâu. Khi đã xong, Hàn Tín đón Hán vương Lưu Bang vào Phế Khâu để ổn định triều đình, tiếp tục đánh chiếm nốt Tam Tần, trước tiên là tiến tới Lịch Dương tấn công quân của Địch vương Đổng Ế.

Hàn Tín dùng lối đánh hai đầu tiến công nên Đổng Ế cùng số quân sĩ không bao nhiêu khó mà chống lại, sau khi giao chiến được mấy trận thì đành đầu hàng. Tuy thắng trận nhưng Hàn Tín không kiêu ngạo, đối đãi với Đổng Ế ngang hàng khiến ông ta vô cùng xúc động, không những chịu đầu hàng mà còn viết thư gởi cho Tái vương Tư Mã Hân thuyết phục cùng về với Hán vương.

Đầu tiên Tư Mã Hân nhất quyết không chịu hàng nhưng Hàn Tín bày mưu kế rất lạ để cho Phàn Khoái bắt sống được hắn, cuối cùng cũng phải quy phục trước mặt Hàn Tín. Thế là Tam Tần mau chóng lọt vào tay Hán vương Lưu Bang, con đường tiến vào Trung nguyên đã rộng mở. Đó là vào năm 206 trước Công nguyên, một kỷ nguyên mới bắt đầu mở ra trong lịch sử, gọi là thời “Hán Sở tranh hùng”, mà tài năng của Hàn Tín được cơ hội bộc lộ làm cho ai nấy đều khâm phục.

Năm sau, Lưu Bang lại nhân lúc Hạng Võ đang bận chiến đấu ở Tề liền mang quân tiếp tục tiến về phía đông. Hà Nam Vương Thân Dương đóng đô ở Dương Địch, Tây Ngụy Vương Ngụy Báo đóng đô ở Bình Dương đều lần lượt đầu hàng. Lưu Bang dọc đường lấy thêm quân, nên quân số nhanh chóng tăng lên tới 50 vạn người, đánh thẳng vào Bành Thành - kinh đô của Hạng Võ. Việc này đã được Hàn Tín báo trước là không nên nôn nóng, phân tích với Lưu Bang:

– Phép dùng binh phải căn cứ vào Thiên thời, Địa lợi và Nhân hòa. Nay Đại vương đã được nhân dân dân huởng ứng thì là Nhân hòa, chiếm được Quan Trung là địa lợi, nhưng về mặt Thiên thời thì còn thiếu bởi Bá vương hiện giờ quân tướng còn rất hùng hậu, chưa nên ra quân vội. Đại vương nên chờ cho hai nước Tề và Lương nổi dậy làm giảm bớt sức mạnh của Bá vương đi thì xuất quân mới nắm chắc phần thắng.

Lưu Bang vốn cố chấp, nhất quyết làm theo ý mình, sai Hàn Tín về trấn thủ Tây Tần để tiếp ứng, còn mình điểm toàn bộ binh mã vượt Hoàng Hà tiến qua đất Sở. Khi ba quân đến Hiệp hà tranh nhau vượt sông không có chút thứ tự nào bởi lúc đó Hàn Tín đã trả lại ấn Nguyên soái, Lưu Bang đành phải phong cho Ngụy Báo nắm quyền điều động đại quân.

Hạng Võ nghe tin vội vàng liền đem 3 vạn tinh binh về cứu Bành Thành. Lưu Bang đang say sưa với thắng lợi nên trở tay không kịp, thua to phải bỏ chạy, chỉ còn mang theo được mấy chục kỵ binh lui về đến thành Huỳnh Dương.

Trận Bành Thành bị thua to, cuộc diện giữa Sở và Hán cũng thay đổi theo, hai tướng là Tái Vương Tư Mã Hân và Địch Vương Đổng Ế bất ngờ phản lại, đầu hàng Hạng Võ khiến cán cân lực lượng nghiêng phần thua kém về phía Lưu Bang. Không những vậy Tây Ngụy Vương Ngụy Báo kiếm cớ trở về đất được phong của mình, rồi cũng đoạn giao với nhà Hán theo về với Sở.

Trong tình hình nguy cấp ấy không còn ai có thể lật ngược được thế cờ ngoài Hàn Tín. Thế nhưng Hàn Tín rất giận việc Lưu Bang không nghe lời khuyên của mình, lại phong cho Ngụy Báo làm Nguyên soái nên nhất quyết không ra tay. Tiêu Hà và Trương Lương phải dùng một kế mọn, khích tướng Hàn Tín mới thành công. Khi được Lưu Bang cho làm Nguyên soái, Hàn Tín liền chế tạo mấy trăm chiếc chiến xa, mỗi chiếc do một con trâu kéo có binh sĩ cầm cung nỏ ở trên xe bắn ra. Khi cần các chiến xa này lại có thể dùng để chuyển vận lương thực, đóng quân lại thì làm đồn lũy.

Khi đã sửa soạn xong, chế tác thêm mấy ngàn chiến xa nữa, Hàn Tín liền dùng thư khích tướng khiến Hạng Võ đùng đùng nổi giận, gạt qua lời khuyên của Phạm Tăng, dẫn 30 vạn quân kéo thẳng đến thành Huỳnh Dương quyết chiến. Trong trận này Hàn Tín đưa ra một loạt mưu kế khiến quân Sở tiêu hao khá nhiều, sau cùng lại bị đoàn chiến xa lạ lùng vây hãm, suýt nữa Bá vương Hạng Võ đã lâm nguy nếu không nhờ Chung Ly Muội và Quý Bố đến kịp.

Kết cuộc quân Sở chết quá nửa, Hạng Võ phải chạy xuống bờ ruộng ẩn nấp mới thoát khỏi sự truy kích của quân Thục Hán. Tình thế nhờ vậy trở lại ngang bằng, bước vào thời kỳ giằng co không bên nào lấn lướt bên nào. Kết quả này hoàn toàn nhờ vào tài năng của Hàn Tín, ông chỉ cần một trận cũng đã lật lại được thế thua kém, thật sự trong các danh tướng từ cổ chí kim chưa có ai sánh bằng. Tuy nhiên xét về thực lực thì sức mạnh quân Sở vẫn còn, chỉ nhất thời tiêu hao chút ít nên Tiêu Hà lập tức lợi dụng thời gian này chiêu mộ thêm quân binh, chờ những trận đánh kế tiếp.

Tháng 11 năm thứ hai đời Hán, để trừng trị việc Ngụy Báo đầu hàng Bá vương, Lưu Bang phong cho Hàn Tín làm Nguyên soái, để Vương Lăng ở lại giữ thành Huỳnh Dương, còn các tướng như là Quán Anh và Tào Tham đều theo đoàn quân đi chinh phục nước Ngụy. Đại quân của Hàn Tín đến sông Bồ Bản thì phải dừng lại bởi quân Ngụy phòng thủ rất nghiêm mật bên kia bờ sông. Hàn Tín quan sát tình hình xong liền bí mật sai làm rất nhiều cái thùng gỗ, tức dùng thân cây khoét ở giữa, kết lại thành bè. Khi đã xong, Hàn Tín sai Quán Anh đến bên bờ sông sửa soạn thuyền, làm như sắp sửa vượt sông tiến đánh. Thực sự Hàn Tín đã lén sai Tào Tham xuống bến Hạ Dương, dùng số thùng gỗ ấy mà qua sông đánh úp phía sau quân Ngụy.

Ngụy Báo làm sao chống nổi với những loại mưu kế tài tình ấy của Hàn Tín, rốt cuộc đại bại, để mặc quân Hán chiếm đóng toàn bộ nước Ngụy gồm năm 52 quận huyện.

Sau khi đánh xong Tây Ngụy, Hàn Tín lại dâng kế sách từng bước tiêu diệt Hạng Võ, giành lấy thiên hạ. Theo kế sách này thì Lưu Bang cứ cố giữ lấy Huỳnh Dương để giữ chân Hạng Võ, đồng thời tăng viện thêm cho ông 3 vạn quân để tiêu diệt Yên và Triệu. Sau khi đã có hậu phương vững vàng thì mới bắt đầu tiến đánh nước Tề. Đây cũng là kế sách trước kia Tần Thủy hoàng dùng để thôn tính các nước, thu phục thiên hạ.

Lưu Bang rất tán thưởng kế hoạch của Hàn Tín, lập tức tăng thêm cho ông 3 vạn quân theo như yêu cầu. Nhờ vậy Hàn Tín bình định được đất Đại, đến năm sau thì đem quân đánh Triệu. Thế nhưng cùng lúc ấy Hạng Võ tiến đánh Huỳnh Dương khiến Lưu Bang hao tổn khá nhiều quân tướng, cấp tốc gọi về cứu nguy. Trong tình hình nước Triệu có địa thế rất hiểm trở, lại được Triệu vương là Yết sát cánh cùng Thành An quân Trần Dư và Lý Tả Xa quyết chống dữ, Hàn Tín không còn cách nào khác là phải “tốc chiến tốc thắng”. Riêng Lý Tả Xa cũng là một danh tướng giỏi về “binh quyền mưu” không kém Hàn Tín, là một chướng ngại rất lớn nếu chỉ đưa ra những loại mưu kế tầm thường.

Trong tình thế bất lợi như vậy mới thấy rõ tài cầm quân của Hàn Tín là vượt bậc, ông dùng một loạt mưu kế, đưa quân dựa sông để khích động tinh thần quân sĩ rồi chiến đấu một trận nổi tiếng, đánh tan quân nước Triệu như đã trình bày ở trên. Khi Triệu vương Yết và Lý Tả Xa bị bắt sống, Trần Dư tử trận, cuộc chiến hoàn toàn thắng lợi, các tướng dưới quyền của Hàn Tín vô cùng khâm phục, cho rằng trên đời này chưa có ai dám bày “tuyệt trận Thủy Bôi” như ông.

Danh tướng biết trọng đãi danh tướng, Hàn Tín đối xử với Lý Tả Xa rất trọng vọng. Sau vài câu khách sáo, Hàn Tín hỏi luôn:

– Tôi muốn tiến quân về phía bắc đánh nước Yên, tiến về phía đông đánh nước Tề, không biết làm thế nào để thành công?

Lý Tả Xa khiêm tốn nói:

– Tôi nghe người ta nói: tướng đã bại trận thì không còn đủ tư cách để bàn về vấn đề mưu lược nữa; một thần tử đã mất nước thì không xứng đáng được dự bàn kế sách cai trị đất nước bình yên lâu dài. Tôi hiện nay là một tướng bại trận, là tù binh của một đất nước đã bị diệt vong, đâu dám được dự bàn việc đại sự với ngài.

Hàn Tín nói:

– Tôi cũng có nghe người ta nói, Bách Lý Hề làm quan ở nước Ngu bị diệt vong thì ông ta lại sang nước Tần làm Tướng quốc, giúp cho nước Tần làm Bá chủ thiên hạ. Điều này không phải là Bách Lý Hề ở nước Ngu thì xuẩn ngốc và khi đến nước Tần thì thông minh, mà chính là bởi chính vì hiền tài không được các vương hầu trọng dụng và nghe theo. Trước mắt có thể thấy rõ nếu như Thành An quân (Trần Dư) nghe theo kế sách của ông thì Hàn Tín này làm gì thắng nổi? Thế nhưng tôi sẵn sàng nghe lời chỉ bảo của ông, đó là hai việc hoàn toàn khác hẳn.

Lý Tả Xa thấy Hàn Tín xem trọng mình thì liền nói:

– Người tinh khôn đến ngàn việc thì vẫn có việc sẽ lầm lẫn, kẻ ngu tính ngàn việc thì tất cũng sẽ có một việc đúng. Nguyên soái quả là anh hùng tuyệt thế, hành quân thần tốc bắt Ngụy Báo, giết Hạ Duyệt rồi bây giờ được tôi và Thành An quân, đưa Triệu vương vào chỗ chết thì khắp thiên hạ ai nghe danh mà chẳng kinh sợ? Thế nhưng hiện nay quân Hán đang mệt mỏi, nếu sang đánh với Yên đang nhàn nhã khỏe mạnh thì là điều bất lợi, chỉ cần như vậy là Nguyên soái đã hiểu tôi muốn như thế nào rồi.

Hàn Tín liền theo lời khuyên của Lý Tả Xa, dùng cách thuyết phục Yên vương đầu hàng. Danh tướng của nước Yên là Khoái Văn Thông nhìn rõ tình hình này, cho rằng quân Hán đã quá mỏi mệt nên mới dùng phương pháp chiêu hàng, tự thân đi sang Triệu yết kiến Hàn Tín thuyết phục ông bãi binh, chẳng ngờ khi gặp mặt Lý Tả Xa, bị ông ta trình bày rõ lợi hại, lập tức về khuyên Yên vương nên về đầu nhà Hán. Thế là Hàn Tín chẳng tốn một tên quân cũng bình định được nước Yên. Điều này càng chứng tỏ người làm tướng không nhất thiết phải ỷ vào sức mạnh mà tùy theo hoàn cảnh, lúc nhu lúc cương, lúc cần tới cách đánh “tử chiến”, lúc lại nhu hòa chiêu dụ mới thật sự là tướng soái tài năng.

Lúc ấy Bá vương Hạng Võ cũng đã nghe tin, kinh hoảng triệu các tướng lại bàn kế sách đối phó. Các tướng đồng lòng cho rằng nếu tiêu diệt được Lưu Bang thì trước sau gì cũng triệt hạ được Hàn Tín. Hiện Hàn Tín không có mặt ở Quan Trung là cơ hội tốt nhất. Hạng Võ nghe theo, truyền lệnh kiểm điểm 10 vạn quân mã tiến đánh thành Huỳnh Dương rất gấp.

Lưu Bang cả kinh nhưng nhờ vào Trần Bình lập mưu kế ly gián khiến Hạng Võ đuổi Phạm Tăng về quê. Đến khi Hạng Võ biết mình trúng kế thì lại càng tức giận, xua quân đánh rất rát. Một lần nữa Trương Lương lại bày kế “Kim thiền thoát xác” (ve sầu lột xác) dùng một người giống hệt diện mạo của Lưu Bang là Kỷ Tín chết thay mới thoát về tới Thành Cao.

Thế nhưng Hạng Võ truy đuổi ráo riết, bao vây Thành Cao chặt chẽ, túng cùng Hán vương Lưu Bang phải sai người gọi quân của Hàn Tín từ nước Triệu về cứu nguy. Tiếc rằng tình hình diễn biến quá nhanh, cuối cùng Lưu Bang phải bỏ Thành Cao cùng quần thần chạy đến nước Triệu, tự mình dẫn mấy kỵ binh vào thẳng quân doanh của Hàn Tín. Đêm hôm qua Hàn Tín và Trương Nhĩ uống rượu quá nhiều nên vẫn còn ngủ say, bị Lưu Bang lấy mất ấn tín rồi hạch tội đã không mau chóng cứu viện Thành Cao.

Thật ra tội này rất đáng mất chức nhưng khi ấy Lưu Bang còn cần Hàn Tín nên chỉ trách mắng vài lời rồi cho quân đóng ở Tu Vũ, sai Hàn Tín mau chóng đi đánh nước Tề, cho Trương Nhĩ làm Triệu vương.

Tháng giêng năm thứ tư đời Hán, Hàn Tín tiến đánh nước Tề, chẳng bao lâu đã đánh đến Lâm Tri. Tề vương Điền Quảng không còn cách nào khác là phải cầu cứu Hạng Võ. Chính ông ta cũng biết nếu nước Tề mất thì mình sẽ hai đầu thọ địch nên nhanh chóng sai Đại tướng Long Thư và Chu Lan mang 3 vạn quân đến phối hợp với quân Tề đón đánh quân của Hàn Tín ở Duy thủy. Quân Hán và liên quân Sở - Tề bày trận ở hai bờ Duy thủy.

Long Thư rất khinh bỉ Hàn Tín cho rằng đã là anh hùng thì chết thì thôi chứ không đời nào hèn hạ luồn háng tên côn đồ giữa chợ, lại phải nhờ đến chén cơm của Phiếu mẫu mới sống sót. Mặc cho Phó tướng Chu Lan khuyên giải, ngay hôm sau Long Thư đã viết chiến thư thách thức Hàn Tín giao chiến. Ngày hôm sau Long Thư cho quân tướng ăn uống sớm, khi xong lập tức kéo quân ra bày trận. Hàn Tín cũng đã sửa soạn sẵn sàng, đôi bên gườm nhau chực chờ cuộc chiến tàn khốc xảy ra.

Chẳng ngờ Hàn Tín đánh với Long Thư được mấy hiệp thì đã đuối tay, quát ngựa bỏ chạy. Long Thư cả cười, mắng lớn:

– Ta đoán không lầm, ngươi chỉ có hư danh mà thôi.

Các tướng dưới quyền thấy Long Thư định đuổi theo, xúm lại khuyên đừng nên mắc mưu của Hàn Tín, cuối cùng Long Thư phải nghe theo nhưng trong lòng đã kiêu ngạo coi thường Hàn Tín lắm rồi. Đến chiều tối, Hàn Tín đột nhiên bày trận gọi Long Thư ra quyết đấu, cũng theo lối cũ mà bỏ chạy. Lần này Long Thư quyết đuổi cho đến cùng. Khi đến bờ Duy thủy, Hàn Tín dễ dàng cho ngựa vượt qua bởi cát mênh mông, nước chỉ đến chân ngựa là cùng. Long Thư đuổi tới nơi, cũng rất kinh ngạc bởi dù nước cạn đến mấy cũng không lộ cát ra như vậy. Các tướng dưới quyền Long Thư cũng khuyên nên đề phòng Hàn Tín đã chặn nước ở thượng nguồn, chờ lúc quân ta qua sông sẽ dùng thủy kế đánh giết.

Thế nhưng Long Thư không nghe, dẫn đầu đoàn quân Sở vượt sông đuổi theo. Khi đến giữa sông thì trời đã tối đen, Long Thư chợt thấy có ngọn sào treo một cái đèn lồng, đến gần thì lại có treo tấm bảng: “Thắp đèn sáng giết Long Thư”.

Tình thế rất mơ hồ nên quân tướng của Sở bàn tán xôn xao, mỗi người một ý khác nhau. Có tướng cho rằng đây chỉ là kế hoãn binh, làm đối phương sợ hãi mà không dám đuổi theo. Riêng Chu Lan thì cho rằng ngọn đèn chính là để chỉ rõ địa điểm quân Sở đang đứng, nếu tắt đi thì quân Hán không biết đường nào mà tiến đánh nữa. Long Thư nghe theo Chu Lan, vung dao chém tắt ngọn đèn.

Không ngờ đó chính là hiệu lệnh cho quân Hán tháo nước trên thượng nguồn, quân Sở ôm nhau kêu khóc vang trời, đành chịu cho thác nước dữ dội cuốn như cỏ rác. Hóa ra Hàn Tín đưa ra một loạt kế sách liên hoàn để quân Sở chui đầu vào bẫy. Long Thư nhờ có con Long câu nên nhảy thoát khỏi dòng nước nhưng cuối cùng cũng không thoát được cái chết bởi Hàn Tín đã cho Tào Tham và Hạ Hầu Anh mai phục ở bên bờ sông từ lâu.

Khi đã chiếm xong 70 thành của nước Tề, Hàn Tín nhìn phong cảnh kinh đô Lâm Tri huy hoàng chẳng khác gì Hàm Dương thì ít nhiều trong bụng đã phát sinh lòng tham muốn. Lại có một mưu sĩ đất Tề tên là Khoái Kiệt đến hầu, nói:

– Chẳng lẽ Nguyên soái công trạng lớn như vậy mà cứ cam tâm dưới người hay sao? Nguyên soái không biết rằng “Chim muông hết thì chó săn bị đem ra làm thịt” hay sao. Nhân lúc này Hán và Sở đều kiệt quệ, Nguyên soái tự lập cơ nghiệp, chia thiên hạ thành thế chân vạc thì chẳng bao giờ còn lo lắng gì nữa, có phải hay hơn không?

Còn đang do dự thì Hàn lại tiếp được lệnh phải kéo hết binh mã về hợp sức đánh Sở, ông liền theo lời của Khoái Kiệt yêu cầu phải được phong làm Tề vương. Đây là nguyên nhân quan trọng để Lưu Bang ghi nhớ thù hận và diệt trừ Hàn Tín sau này. Lúc đó ở Huỳnh Dương, Lưu Bang thua luôn mấy trận, tuy rất tức tối nhưng vẫn phải phong cho Hàn Tín làm Tề vương.

Với tài năng quân sự lừng lẫy của Hàn Tín, chẳng bao lâu Hạng Võ phải chấp nhận chia đôi thiên hạ, lấy ranh giới Hồng Câu làm phân định. Thật sự hiệp ước này không hề được hai bên tôn trọng, vì vậy lâu lâu lại xảy ra chiến tranh, cuối cùng sức mạnh của Hạng Võ suy yếu dần vì mất hết tay chân tài giỏi ở bên mình.

Đến năm 201 trước Công nguyên thì Hạng Võ thân cô thế yếu đành phải cùng với 10 vạn quân ở Cai Hạ. Hàn Tín chỉ huy trận đánh này, cho hai cánh quân mai phục hai bên rồi tự mình ra khiêu chiến, giả vờ rút lui dụ Hạng Võ vào bẫy, đánh cho quân Sở một trận tan tác. Hạng Võ chạy đến bến Ô Giang tự biết rằng không còn đường sống, phải rút kiếm ngắn ra tự sát.

Thế là cuộc chiến tranh Hán Sở đã thật sự kết thúc, Hán vương Lưu Bang lên ngôi Hoàng đế, xưng hiệu là Hán Cao đế. Hán đế luận công ban thưởng cho rằng Hàn Tín có công lao lớn nhất, xứng đáng được ban thưởng nhiều nhất. Thế nhưng ông lại nghĩ đất Tề quá rộng rãi, người đông sản vật nhiều, nếu một mai Hàn Tín làm phản thì rất khó lòng đánh dẹp nên cuối cùng chỉ phong cho Hàn Tín làm Lỗ vương, làm vua một mảnh đất nhỏ hẹp ở một góc Kinh Nam.

Đó chỉ là phương cách tạm thời để Lưu Bang ổn định thiên hạ, sau khi triều chính đã vững vàng, lập tức Lưu Bang nghĩ đến việc “tính sổ” Hàn Tín với nhiều lý do:

– Thứ nhất Hàn Tín đã không chịu đem quân từ nước Triệu về cứu viện khiến chút nữa mình đã phải vong mạng nơi Huỳnh Thành.

– Lần thứ hai ở Tề, Hàn Tín không tuân lệnh hợp binh đánh Sở, lại còn đòi làm Tề vương. Sự bức bách này đối với Lưu Bang quả là nhục nhã.

– Thứ ba, khi đã đại thành công, trong khi vui vẻ luận bàn về công trạng, Hàn Tín vẫn cho rằng mình giỏi hơn Lưu Bang nhiều lần, đủ sức nắm cả 100 vạn quân vẫn điều khiển đâu ra đấy.

Với những lý do ấy, Lưu Bang đã toan tính việc trừ diệt vị Tướng soái đã bỏ bao nhiêu tâm huyết giúp mình đoạt được ngai vàng. Thật sự Lưu Bang đã có ý định đem quân đi giết Hàn Tín nhưng cũng tự biết không thể nào thắng nổi nên mới dàn dựng vở kịch du ngoạn đầm Vân Mộng, dùng hạ kế bắt giữ Hàn Tín ở kinh đô, giáng xuống làm Hoài Dương hầu Lúc ấy Lưu Bang đã có thể tha hồ giết chóc bởi Hàn Tín không còn binh quyền nhưng triều Hán mới thành lập, nếu phóng tay ắt thiên hạ chê cười nên Lưu Bang đành nén lòng chờ cơ hội khác.

Cơ hội ấy đến khi Hàn Tín cùng với Trần Hy là Tướng quốc nước Đại, toan tính mưu phản. Lần này Lưu Bang không ra tay mà kéo quân đi đánh Trần Hy, để cho Lã hậu theo kế của Tiêu Hà triệu Hàn Tín vào cung rồi bắt giết, tru di cả ba họ. Trước khi chết, Hàn Tín ứa nước mắt ngửa mặt lên trời than dài:

– Ta thật hối hận đã không nghe lời của Khoái Kiệt để bây giờ mắc kế của một mụ đàn bà, việc này chẳng lẽ là ý trời hay sao?

Theo sự ghi chép của Hán Thư, Nghệ Văn chí, sau khi chết đi Hàn Tín đã để lại 3 thiên binh thư cho riêng mình chuyên về “Binh quyền mưu” và cùng với Trương Lương tuyển chọn trong binh thư của 182 binh gia, lấy những điều cốt yếu nhất viết thành cuốn binh thư khác rất tuyệt tác nhưng hiện nay đã thất truyền.

Việc các công thần bị giết hại hầu như đời nào cũng có, thế nhưng đối với một danh tướng nhiều công lao hãn mã như Hàn Tín mà Lưu Bang vẫn không nương tay khiến người đời sau phản xúc động. Sau này có nhà nghiên cứu cho rằng vụ việc Hàn Tín âm mưu với Trần Hy hoàn toàn giả trá, đều do bàn tay của Lưu Bang và Lã hậu xếp đặt bởi dù Lưu Bang hết sức đố kỵ tài năng nhưng ông không bao giờ có ý nghĩ phản bội. Bằng chứng là đã nhiều lần, từ lúc Sở vương Hạng Võ sai người thuyết phục ông theo về rồi sau đó là Khoái Kiệt. Những lúc ấy Hàn Tín không trở cờ thì lúc đã mất hết binh quyền, bị giam lỏng trong thành Hàm Dương lại nghĩ đến việc phản bội? Ông là người rất mưu trí, một khi chưa đủ điều kiện thì tất sẽ chưa bao giờ toan tính việc lớn lao như vậy.

Như trong lần khuyên Lưu Bang đừng tiến quân sang phía đông tranh chiến với Sở, Hàn Tín đã vạch rõ bất cứ việc gì cũng phải hội đủ ba điều kiện: Thiên thời, Địa lợi và Nhân hòa. Khi Lưu Bang vu cho Hàn Tín âm mưu làm phản, ông không hề có Thiên thời bởi không có chút quyền hành trong tay, cũng không có Địa lợi vì đang bị giam lỏng, còn Nhân hòa thì lúc ấy ông chỉ có vài chục tên gia nhân trong tay, triều Hán đã thành công, mấy ai dám theo một vị tướng đã sa cơ như thế. Do đó việc Hàn Tín bị giết hoàn toàn là do Lưu Bang quá đố kỵ, bởi một nước không có hai vua mà cũng không thể có hai anh hùng.

Có thể kết luận: Hàn Tín chết là vì có tài năng quá lớn. Trong sách Sử ký chí nghi của Lương Ngọc Thắng thì khẳng định như đinh đóng cột: Hàn Tín chết oan với nhiều lý lẽ chắc chắn. Thế nhưng dù sao đây cũng chỉ là nghi án lịch sử, xin ghi lại để hậu thế suy xét.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Huyền Cơ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.