Có một quan niệm được mặc định ở hầu hết các phụ nữ, đó là, đã đàn ông thì phải chăm chỉ lao động. Vì chỉ có lao động thì mới tạo ra được sản phẩm. Và đã là sản phẩm thì đương nhiên, hoặc phải dùng được hoặc phải dễ dàng bán được. Với khá đông những phụ nữ thích quy ra thóc, phẩm chất cao quý nhất của lao động là kiếm cho được thật nhiều tiền. Từ điển tiếng Việt được một nhóm học giả không rõ giới tính giải thích. “Lao động: Hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội. Ví dụ, lao động chân tay, lao động nghệ thuật” (Nxb Từ điển Bách Khoa - 2010, trang 703). Thậm chí thuyết tiến hóa của ông Darwin (không phải bà), sau khi được một số triết gia duy vật giới tính nam update, rất thời thượng ở thế kỷ 19 lẫn 20 còn cho rằng, lao động đã tạo ra con người.
Những hình minh họa cho cái thuyết này luôn vẽ đám đàn ông cởi truồng, nguyên thủy bắt đầu lông lá giống như con đười ươi vụng về hái lượm, rồi lúc biết cầm công cụ lần hồi kiếm ăn thì bỗng thăng hoa đẹp đẽ cả về trí óc lẫn hình thể, nhang nhác hoàn hảo như nam diễn viên có tên Ngoan.
Lao động lợi hại như thế nên không những các quý bà quý cô, mà ngay cả đám đàn ông cũng yêu nó vô cùng. Nhiều năm gần đây báo chí luôn viết bài tuyên dương về đàn ông ở Nhật. Đây là những đàn ông yêu công việc còn hơn Kim Trọng yêu Thuý Kiều, còn hơn cựu hoa hậu yêu đọc sách hay nữ ca sĩ yêu trung thực. Tuy nhiên, do suốt ngày cặm cụi “hoạt động có mục đích nhằm tạo ra các loại sản phẩm” nên bọn họ thường lơ là ái tình. Vài nữ khảo cứu gia xã hội học đã hoảng hốt cảnh báo, chỉ số “make love” của đàn ông Nhật là thấp nhất thiên hạ.
Tận tụy lao động lành mạnh không những ảnh hưởng tới hôn nhân hoặc tình yêu mà hình như còn có tác hại nhất định tới nghệ thuật. Ở khía cạnh nào đấy, cụm từ “lao động nghệ thuật” là những chữ viết sai. Bởi đích thực nghệ thuật thì chẳng hẳn dính dáng đến lao động. Viết một quyển tiểu thuyết (hay), vẽ một bức tranh (hay), soạn một bản nhạc (hay) thường là sự dồn nén từ đau đớn phẫn nộ, từ chới với lạc quan, từ hy vọng bi quan rồi chợt tới một khoảnh khắc cảm động bất ngờ bỗng dưng ứa ra. Những cái “ứa” đấy thường đẫm đầy nước mắt, thỉnh thoảng có cả máu chứ mồ hôi thì kể làm gì. Và đương nhiên, rất nhiều
cái “ứa” sẽ chẳng hề bán được. Tác phẩm vĩnh viễn không bao giờ là sản phẩm, kể cả khi được mỹ miều mạ thành sản phẩm nghệ thuật. Còn đôi khi tại sao nó được bán đắt thế, đơn giản, vì nó là vô giá.
Đám nghệ sĩ đàn ông đang loay hoay đóng vai artist luôn thích nhắc cái câu mà bọn họ cho là xuất xứ từ mồm của một thiên tài nghệ thuật. “Tác phẩm vĩ đại là tích tụ từ 99% của lao động và 1% của tài năng”. Khi gặp các quý bà hoặc quý cô mang vẻ ngây thơ, bọn họ thường mệt mỏi vung tay khoe nách đang lõng bõng mồ hôi. Khi trả lời phỏng vấn truyền thông, bọn họ nghẹn ngào “Để hoàn thành cho xong cái trường ca đó, (hoặc cái vẽ đó cái nhạc đó), tôi bị sụt mất gần năm ký”. Chúa ơi, nghệ thuật mà được hay là nhờ tụt cân thì tại sao không đi ăn bậy thức ăn ngoài đường phố không rõ nguồn gốc để rồi bị Tào Tháo đuổi. Việc quái gì phải vất vả hốc hác ngồi nghiến răng nặn chữ nặn hình nặn nốt. Nghệ thuật không bao giờ đến từ sự chăm chỉ.
Tất nhiên, nghệ thuật cũng chẳng bao giờ đến từ triền miên ngồi nhậu. Nhan nhản ác tít đờ men đột ngột được giời ị vào đầu may mắn “cướp cò” thăng hoa lóe sáng chút ít câu thơ hoặc vài ba đoạn nhạc, thì luôn say sưa vỗ ngực cao đạo “nghệ thuật là trò chơi, và tôi là kẻ rong chơi cuối cùng ở cõi đời này”. Vì bản chất là người tủn mủn lao động nên bọn họ ra sức khinh rẻ sự tần tảo lao động. Bọn họ thường phiêu linh đít cưỡi xe Air Blade còn mồm thì
nồng nhiệt “chém gió”. Phong độ sống của bọn họ cực kỳ độc đáo khác thường, tóc đuôi trâu râu quai nón, nhưng những cái họ tiếp tục làm lại tầm thường y hệt giống nhau. Ngay cả cái gọi là sản phẩm nghệ thuật ở họ cũng vô cùng tệ, vì đến mấy giọt mồ hôi thật cũng không thấy có. Nhìn đống chữ ế, đống phim ế bọn họ trịch thượng nức nở những là “sinh nhầm thế kỷ” những là “độc giả chẳng hiểu mình”. Nhưng có một điều lạ, bất cứ giải thưởng văn phim họa nhạc nào cũng lồ lộ thấy mặt. Bọn họ dung tục đinh ninh rằng, nghệ thuật thì phải là đỉnh cao và đỉnh cao đó mang tên là “giải thưởng”.
Thiền thoại của nhà chùa có kể. Một ông đang tập làm sư, trong trắng khát khao muốn tu thành chính quả nên tận tụy ngồi thiền ngày này qua ngày khác. Có bậc tổ sư đi ngang, nhác thấy căn cơ tử tế của ông ta thì động lòng thương, bèn ngồi cạnh rồi nhặt một viên gạch chân thành mài. Ông đang tập làm sư thoạt đầu chẳng thèm để ý, kiểu như mấy nghệ sĩ huênh hoang hay vào vai giám khảo tuyên bố “không thèm quan tâm đến dư luận”. Mãi sau thì cũng tò mò, hỏi, “ông mài gạch để làm gì”. Đáp, “mài gạch để thành kim cương”. Lại cáu kỉnh hỏi, “ông dở hơi à, có mài gạch cả đời cũng chẳng thành kim cương”. Bình thản đáp, “thế ông cứ tưởng chăm chỉ ngồi thiền là thành Phật à”. Ông tập làm sư đột nhiên thoát ngộ. Và về sau, lịch sử Thiền Tông đã trân trọng chép tên ông là Mã Tổ Đạo Nhất (709-788), một trong những thiền sư vĩ đại của Phật giáo Trung Hoa.
Dòng Thiền của Mã Tổ còn đăng truyền tới Việt Nam với đệ tử lỗi lạc là Nguyên Thiều. Dòng Thiền này coi trọng sự lóe sáng khoảnh khắc của “Ngộ Tính” (một cảnh giới tối cao mà mọi nghệ thuật đều nỗ lực vươn tới), nhưng cũng cực kỳ yêu sự bền bỉ của lao động cần cù. Họ có hẳn một bản nội quy ca ngợi lao động, đó là bản Bách Trượng thanh quy lừng danh.
Có thể nói, nghệ thuật thì không sinh ra từ lao động, nhưng muốn nghệ thuật thành thì bắt buộc phải lao động. Có điều, những đàn ông đang hăm hở “lao động nghệ thuật” thì xin đừng là những cục gạch.