Đừng kỳ vọng thế giới trở nên tươi sáng nếu bạn thích đeo chiếc kính mát màu trà.
Charles William Eliot
Chủ tịch tại vị lâu năm nhất của Đại học Harvard
Chúng ta không nhìn thế giới như chính nó, mà như chúng ta muốn – hoặc như chúng ta bị buộc phải nhìn thấy nó như thế.
Stephen R. Covey
Vào những lúc khác nhau hay hoàn cảnh khác nhau trong cuộc đời mình, hầu hết chúng ta có khuynh hướng xem xét các mối quan hệ cá nhân, đội nhóm, tổ chức và chính phủ của mình qua một trong hai cặp kính sau đây: niềm tin mù quáng (ngây ngô) hoặc sự mất niềm tin (hoài nghi). Đôi khi, chúng ta dao động giữa hai loại kính này, vốn được hợp thành bởi nhiều yếu tố, bao gồm cách cha mẹ và ông bà chúng ta đã từng nhìn nhận thế giới (hoặc sự đáp ứng của chúng ta đối với họ và nhận thức của họ), những trải nghiệm chúng ta có trong cuộc sống cá nhân và nghề nghiệp, những người chúng ta tương tác, những thứ chúng ta đọc, những vật chúng ta quan sát và những lời chúng ta từng nghe.
Tuy nhiên, hầu hết chúng ta đều không nhận ra rằng mình đang đeo những cặp kính ấy. Chúng ta nghĩ mình đang nhìn thế giới như nó vốn dĩ là thế chứ không phải là những hình ảnh phản chiếu qua cặp kính chúng ta đang đeo. Và chúng ta không bao giờ tháo bỏ những cặp kính này để thực sự thấy được tác động (sai lệch) mà chúng gây ra cho chúng ta – hoặc nhìn thế giới dưới góc nhìn khác để thấy nó khác biệt ra sao.
Trong các buổi hội thảo của mình, chúng tôi thường chia sẻ một trải nghiệm mà Stephen đã kinh qua trong kỳ nghỉ tại Montana năm nào.
Stephen:
Lần nọ, tôi thuê một hướng dẫn viên đưa tôi đi câu cá. Trong khi chúng tôi câu, anh ấy hỏi tôi: “Anh thấy gì?”.
“Tôi thấy một dòng sông tuyệt đẹp.”
“Anh có nhìn thấy con cá nào không?”
“Không.”
Sau đó, anh ấy bảo tôi đeo cặp kính mát phân cực.
Đột nhiên, mọi thứ trông khác hẳn. Tôi có thể nhìn xuyên qua làn nước và thấy cá – rất nhiều cá. Bỗng nhiên, tôi nhìn thấy những cơ hội to lớn mà tôi chưa từng thấy trước đó. Lũ cá nằm ngay dưới đó, nhưng trước khi đeo cặp kính ấy vào, tôi chẳng thấy chúng ở đâu.
Trong Chương 3, chúng ta sẽ cùng nhau xem xét một cặp kính khác, tương tự như cặp kính mát phân cực, để chúng ta nhìn thấy nhiều cơ hội to lớn từng lẩn trốn khỏi tầm nhìn của chúng ta nhưng rồi sẽ hiện ra rõ mồn một. Tuy nhiên, trong chương này, chúng tôi chỉ đề nghị bạn dừng lại và xem xét bất kỳ cặp kính nào bạn đang đeo, và tự hỏi:
• Tôi đang đeo loại kính nào?
• Tôi có được chúng ở đâu?
• Chúng có tạo ra những kết quả tôi mong muốn trong đời không?
• Chúng có giúp tôi nhìn thấy nhiều cơ hội đang hiện hữu để tạo ra sự thịnh vượng, năng lượng và niềm vui không?
Chỉ khi chúng ta hiểu mình hiện đang nhìn thấy thế giới ra sao – và tác động của nó lên chất lượng của cuộc sống của chúng ta như thế nào – thì chúng ta mới thực sự hiểu rõ sự khác biệt mà một cặp kính có thể tạo ra.
Cặp Kính “Niềm Tin Mù Quáng”
Cực đoan mà nói, niềm tin mù quáng là niềm tin ngây ngô, cả tin, huyễn hoặc, lạc quan thái quá vào hầu như mọi người và mọi thứ. Đeo cặp kính “niềm tin mù quáng” đôi khi rất dễ dàng với nhiều người vì chúng ta không cần nhiều nỗ lực hoặc suy nghĩ. Theo Eric Uslaner từ Đại học Maryland, dễ dàng là vì “chúng ta có khuynh hướng đặt niềm tin vào người khác từ rất sớm trong cuộc đời mình”. Thực ra, hầu hết trẻ con đều có khuynh hướng tin tưởng cao vào người khác, nhất là cha mẹ chúng.
Hiển nhiên là trẻ con cả tin hơn, vì vậy, chúng sáng tạo hơn. Nhưng tôi e rằng khi bước vào tuổi thiếu niên, điều đó sẽ thay đổi.
Charles Green Nhà sáng lập, Trusted Advisor Associates
Thậm chí đối với người lớn – bất kể chúng ta từng có kinh nghiệm tồi tệ vì niềm tin mù quáng – tận sâu đáy lòng mình, hầu hết chúng ta thực sự muốn tin. Chúng ta muốn tin rằng bằng cách này hay cách khác, các chính khách của chúng ta sẽ thực sự làm những gì họ đã hứa… rằng đồng nghiệp của chúng ta thực sự đặt lợi ích của chúng ta trong trái tim họ… rằng một cơ hội đầu tư nào đó thực sự sinh lợi lớn mà rủi ro rất ít… rằng vợ/chồng mình thực sự có lời giải thích thỏa đáng về hành vi không đáng tin cậy của họ… rằng một e-mail đến từ một quý ông/bà giàu có ở một quốc gia xa xôi nào đó bỗng nhiên đề nghị tặng ta một gia tài khổng lồ và đáp lại ta chỉ cần đưa cho họ số tài khoản của mình mà không mất gì ngoài việc thừa hưởng cái gia tài ấy là sự thật, v.v...
Và vì chúng ta rất muốn những thứ như thế, cho nên chúng ta thường phớt lờ các rủi ro hay chứng cứ. Có câu nói rằng: “Cái gì ta hết sức muốn, ta tin một cách dễ dàng”. Và cái giá phải trả có thể là rất lớn. Khi chúng ta nhìn thế giới thông qua cặp kính “niềm tin mù quáng”, chúng ta trở thành con mồi béo bở cho phường trộm cắp, ma mãnh, và những kẻ lợi dụng sự cả tin của chúng ta. Nói cách khác, họ là những kẻ rất giỏi tạo niềm tin với chúng ta, và liền sau đó là “lột” sạch sẽ mọi thứ có giá trị của chúng ta.
Cái gì trông tốt đến mức không thể là thật, thì nó không phải là thật.
Mark Twain
Niềm tin mù quáng là cái tạo điều kiện cho Bernie Madoff lừa gạt các nhà đầu tư hàng tỷ đô-la, cướp đi của hàng ngàn người những khoản tiền tiết kiệm cả đời họ, và hủy hoại lòng bác ái của con người. Sau khi nhận tội lường gạt, Madoff nói rằng vấn đề nằm ở các quan chức tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC – Securities and Exchange Commision), vì ông ta “quá đáng tin cậy đối với họ” và các giám sát viên của SEC chưa từng yêu cầu ông ta nộp bất kỳ báo cáo hay tài liệu gì làm chứng mỗi khi phê duyệt các giao dịch của ông ta. “Họ không bao giờ có thể tưởng tượng ra được đó là trò Ponzi lừa đảo”, ông ta nói. Ngoài ra, nhân viên kế toán của Madoff cũng không kiểm toán đúng nghĩa hoạt động kinh doanh của Madoff hay xác nhận rằng số lượng chứng khoán ấy thực sự tồn tại.
Nhiều nhà quan sát tin rằng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra là do người ta đặt niềm tin quá lớn vào tín dụng thế chấp ở Hoa Kỳ mà không có sự giám sát thỏa đáng, từ đó biến nó thành niềm tin mù quáng và cuối cùng bị lạm dụng đến mức làm vỡ bong bóng bất động sản, khơi mào cuộc khủng hoảng. Những người khác thì cho rằng niềm tin gần như mù quáng được đặt vào các nhà môi giới tài chính như Nick Leeson, kẻ được Ngân hàng Barings, một ngân hàng đầu tư lâu đời nhất ở Vương Quốc Anh, tin cậy, trao quyền hoạt động dưới cả hai danh nghĩa giám đốc sàn giao dịch và người ký hoàn tất các giao dịch (là hai vị trí phải được nắm giữ bởi hai người khác nhau với mục đích kiểm tra và khớp lệnh). Leeson thực hiện các giao dịch nội gián bất hợp pháp và chính điều đó làm ngân hàng Barings sụp đổ.
Kiểu vay nợ kim tự tháp ngược, các trò gian lận tài chính hay lập báo cáo giả dối – tất cả đều làm gia tăng chi phí, ước tính lên tới 2,9 ngàn tỷ đô-la mỗi năm trên toàn cầu, với 88% các công ty từng bị ảnh hưởng bởi ít nhất một loại gian lận trong năm qua. Các trò gian lận càng dễ nhận ra hơn vào lúc tình hình kinh tế khó khăn, vì thủ phạm khó giấu mặt hơn đằng sau cái chu kỳ thu hút và lừa gạt các nạn nhân mới. Theo lời của Warren Buffett thì: “Chỉ khi thủy triều rút, bạn mới biết kẻ nào đang trần truồng”. Cũng như thế, vào những lúc khó khăn, khi con người hết lòng tin tưởng những gì họ nghe thấy, họ thường mở rộng niềm tin một cách mù quáng.
Tuy nhiên, cũng có lúc niềm tin mù quáng lại là điều tốt. Vào tháng 8 năm 2010, tờ New York Post kể câu chuyện về một nhà điều hành quảng cáo bị một người vô gia cư tiếp cận bên ngoài nhà hàng SoHo và xin ít tiền lẻ để mua chai nước uống có bổ sung vitamin. Cô ấy trả lời rằng mình không có tiền lẻ, tất cả những gì cô có là một chiếc thẻ tín dụng. Nghe thế, người đàn ông hỏi liệu ông ta có thể mượn thẻ của cô để mua một vài món trong siêu thị không. Cô hỏi lại: “Tôi có thể tin ông được không?”. “Tôi là người trung thực”, ông ấy đáp. Thế là cô ấy đưa cho ông ta thẻ American Express của mình. Những người chứng kiến cuộc nói chuyện này nghĩ cô ấy mất trí và bảo cô ấy rằng ông ta sẽ không quay lại đâu. Nhưng chỉ hơn mười phút sau, ông ấy làm tất cả mọi người ngạc nhiên khi quay về và trả lại cô ấy chiếc thẻ tín dụng. Ông ấy đã mua một chai khử mùi cơ thể, một chai sữa tắm, một gói thuốc lá, và chai nước vitamin, tổng cộng khoảng 25 đô-la. Khi đưa lại cô ấy chiếc thẻ, ông ấy nói: “Xin cảm ơn vì đã tin tôi”.
Sự mở rộng niềm tin mù quáng này là một trải nghiệm tốt đẹp cho cả người cho lẫn người nhận, và có lẽ có một số bài học cần được rút ra. Tuy nhiên, đặt niềm tin mù quáng ẩn chứa rất nhiều rủi ro, và không phải là cách hành xử thông minh nhất trong thế giới có niềm tin thấp.

Cặp Kính “Mất Niềm Tin”
Còn thường xuyên hơn cả niềm tin mù quáng, chúng ta có khuynh hướng đeo cặp kính “mất niềm tin”. Chúng ta nhìn thế giới này qua những chiếc kính “hoài nghi” – và qua những gì chúng ta cảm nhận là hợp lý. Chúng ta bị dội bom hằng ngày bằng những tiêu đề lặp đi lặp lại các chứng cứ của cuộc khủng hoảng niềm tin hiện nay từ mọi góc độ. Ngoài ra, chính trải nghiệm của chúng ta lại xác nhận cho điều đó.
Stephen:
Tôi nhớ vào một lần nọ nhiều năm về trước khi tôi đi du lịch cùng cha mẹ tôi. Chúng tôi đến thăm một nước kém phát triển và có tiếng tham nhũng. Chúng tôi thuê một tài xế trông có vẻ đáng tin cậy để đưa chúng tôi đi thăm thú đó đây. Chúng tôi gửi lại cốp xe (có khóa) vài hộp đồng hồ và hộp quà tặng khác (tất cả được cho vào các túi xách của chúng tôi) trong khi chúng tôi đi tham quan. Khi quay lại, chúng tôi kiểm tra bên trong các túi xách để đảm bảo những chiếc hộp vẫn còn đó. Quả thật chúng vẫn còn nguyên đấy. Nhưng khi chúng tôi về đến Mỹ và mở ra, tất cả chỉ là những chiếc hộp rỗng!
Greg:
Cách đây nhiều năm, vợ tôi, Annie, và tôi hùn một khoản tiền khá lớn để thu mua gỗ được tháo dỡ từ những tòa nhà cao tầng cũ. Chúng tôi không bao giờ soi từng chi tiết các khoản thu chi trong vụ đầu tư này vì đối tác là người hàng xóm của chúng tôi. Anh ta đảm bảo với chúng tôi về sự chắc chắn của vụ hùn hạp đầu tư này và lặp đi lặp lại rằng chúng tôi có thể hoàn toàn tin anh ta. Hãy hình dung cú sốc của chúng tôi khi, vào một tối nọ, chúng tôi xem tivi và thấy vụ bắt giữ người hàng xóm này trên bản tin thời sự địa phương. Chúng tôi vỡ lẽ rằng anh ta bán đi bán lại số hàng ấy cho nhiều nhà đầu tư khác nhau, trong đó có chúng tôi!
Những kinh nghiệm như thế ảnh hưởng đến chúng ta ở cấp độ cá nhân. Hơn thế nữa, những kinh nghiệm đau thương – như phát hiện ra ai đó đã nói dối chúng ta, phát hiện vợ/chồng lừa dối mình, trải qua cuộc ly hôn khó khăn (với tư cách là vợ/chồng hoặc con), phát hiện bạn thân nói xấu sau lưng, tìm thấy ma túy trong phòng con mình, bị trộm ví tiền, phát hiện con mình bị ngược đãi ở nhà trẻ, hoặc có một đối tác kinh doanh thường xuyên thất hứa với mình – có thể làm bạn dễ dàng chuyển xu hướng tin rằng mọi người đều tốt sang khuynh hướng chẳng tin ai cả.
Cũng giống như niềm tin mù quáng, đôi khi chúng ta rất dễ đeo vào cặp kính “mất niềm tin”. Trên thực tế, nếu chúng ta bắt đầu đeo cặp kính “niềm tin mù quáng” và bị tổn hại nghiêm trọng, chúng ta thường đong đưa sang cực bên kia và đổi một cặp kính dày cộp của sự mất niềm tin và hoài nghi. Dường như đây là kiểu phản ứng tự nhiên trong thế giới có niềm tin thấp. Nó tạo cảm giác an toàn hơn, ít rủi ro hơn và chúng ta kiểm soát tốt hơn. Nó còn giúp chúng ta cẩn thận hơn và thông minh hơn. Nó dường như thiết thực hơn trong một thế giới nghiện sự khẩn cấp, nơi sự tập trung chỉ dựa trên những lợi ích ngắn hạn thay vì sự bền vững dài hạn. Nhanh chóng chuyển sang mất niềm tin và hoài nghi là kiểu phản ứng phổ biến của xã hội đối với bất kỳ sự vi phạm niềm tin nào vì đó là chiếc đòn bẩy dễ dàng nhất để kéo, cho ta vỏ bọc phòng vệ và pháp lý tốt nhất. Hai ví dụ mà ai cũng có thể thấy là an ninh sân bay ngày càng gia tăng đến mức khó tin sau vụ 11 tháng 9, và đạo luật Sarbanes-Oxley theo sau vụ bê bối Enron và WorldCom vào đầu thập niên 2000. Cả hai biện pháp này rõ ràng đã đáp ứng cho mục đích của chúng, nhưng phí tổn vận hành chúng cũng rất đắt.
Đeo cặp kính “mất niềm tin” là chuyện dễ còn là vì nhiều người trong chúng ta được “lập trình” để không tin. Thậm chí ý nghĩa như chương trình Stranger Danger – một chương trình hữu ích được thiết kế để giúp trẻ em tự bảo vệ bản thân trước những “con thú săn mồi” – còn tạo điều kiện cho chúng ta trở thành những kẻ ngờ vực từ khi còn rất nhỏ, rồi lớn lên thành những người quá cẩn trọng và hoài nghi, đặc biệt khi chúng ta không bao giờ dừng lại để xem lại những “dòng lệnh” trước kia từ quan điểm của người trưởng thành.
Một số ví dụ về các quy tắc hành xử trước mối nguy hiểm từ người lạ
• Đừng bao giờ nói chuyện với người lạ.
• Không bao giờ nhận kẹo hay quà từ người lạ.
• Không bao giờ đi đâu với người lạ.
• Không bao giờ đến gần hoặc vào trong xe của người lạ.
• Không bao giờ cho phép một người đang gọi cửa hoặc đang nghe điện thoại biết con đang ở nhà một mình.
• Nên đi cùng một người bạn hoặc một người lớn tuổi.
• Nếu một người lạ mặt chộp lấy tay con, hãy la càng to càng tốt để kêu gọi trợ giúp.
Dù chúng ta rất giỏi trong việc nhận biết cái giá của sự tin tưởng quá nhiều, nhưng chúng ta không giỏi nhận biết cái giá của niềm tin không đúng mức. Thực ra, chúng ta hiếm khi, nếu không muốn nói là không bao giờ, cân nhắc điều này, và hầu hết chúng ta không biết cách đo lường cái giá phải trả nếu chúng ta đặt niềm tin không đầy đủ. Dù chúng ta nghĩ mình khôn ngoan trong việc có những cách phòng ngừa để tự bảo vệ trước mọi thứ có thể xảy ra trong thế giới niềm tin thấp ngày nay, nhưng cái giá của lối tư duy này có thể cực kỳ cao, nhất là trên phương diện sự thịnh vượng, năng lượng và niềm tin. Bất cứ khi nào có sự mất niềm tin trong một mối quan hệ, một nhóm, một tổ chức, hoặc một cộng đồng, thì một khoản tiền thuế đôi khi rất khủng sẽ phải được trả một cách hết sức vô ích. Bạn có thể nhận ra ít nhất một trong bảy thứ “thuế niềm tin thấp” phổ biến ở nhiều tổ chức: sự dư thừa nhân lực, tệ quan liêu hành chính, bè phái, không gắn kết, tỷ lệ nghỉ việc cao, bất ổn và gian lận.
Cái giá của niềm tin đôi khi thật kinh khủng, nhưng cái giá của sự mất niềm tin còn ghê gớm hơn nhiều.
Fernando Flores Cựu Bộ trưởng Tài chính Chi-lê
Các thứ thuế “niềm tin thấp” không chỉ bắt nguồn từ cách chúng ta nhìn nhận xung quanh mà còn từ cách chúng ta được nhìn thấy – nói cách khác, không chỉ trong sự không tin cậy của chúng ta đối với người khác mà còn trong việc chúng ta bị xem là không đáng tin cậy. Hãy xem phí tổn kinh tế mà các quốc gia được xem là không đáng tin cậy phải gánh chịu. Biểu đồ ở Chương 1 chỉ ra sự tương quan trực tiếp giữa sự thịnh vượng của các quốc gia khác nhau với sự đáng tin cậy của họ. Như trong nghiên cứu của Zak và Knack được trích dẫn ở phần trước, chúng ta thấy rằng “đầu tư và tăng trưởng kinh tế tăng lên cùng với niềm tin”.
Hơn nữa, một vài công ty từ những quốc gia không được xem là đáng tin cậy phải chịu một thứ “thuế quốc gia” (country tax) khi họ nỗ lực kinh doanh ở tầm thế giới, thứ thuế làm tăng chi phí và giảm tốc độ kinh doanh. Ngược lại, các công ty có trụ sở tại các quốc gia được xem là đáng tin cậy – chẳng hạn như Thụy Điển – được hưởng khoản “cổ tức quốc gia” (country dividend) vốn làm giảm chi phí và gia tăng tốc độ kinh doanh.
Một dẫn chứng cụ thể hơn nữa, bạn còn nhớ tác động mà Haiti phải gánh chịu khi giải quyết hậu quả của trận động đất kinh hoàng vào năm 2010 không? Một cựu lãnh đạo của quốc gia này khi được phỏng vấn và được hỏi liệu có bất kỳ tổ chức nào đáng tin cậy của Haiti để làm đầu mối nhận hàng cứu trợ quốc tế không. Ông ấy đáp rằng thật không may là không có tổ chức địa phương nào của Haiti đáng tin cậy để làm điều đó cả, ngoại trừ các tổ chức quốc tế tại Haiti.
Cũng như các nước phải chịu “thuế quốc gia”, nói một cách ẩn dụ, các ngành nghề không được xem là đáng tin cậy phải trả một thứ thuế gọi là “thuế ngành” (industry tax). Ví dụ, từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào năm 2008, mức độ tin cậy đối với ngành dịch vụ tài chính thế giới đột nhiên giảm sút ghê gớm bởi sự thiếu niềm tin vào các nhà kinh doanh tài chính “biết làm điều đúng”. Kết quả là ở một mức độ nào đó, hầu như các công ty trong ngành này phải vật lộn với chi phí tăng lên và tốc độ kinh doanh giảm xuống. Dù có thể phá vỡ và chuyển hóa các thứ thuế quốc gia và thuế ngành, nhưng nỗ lực này rõ ràng giống như bơi ngược dòng vậy.
Ngoài các thứ “thuế quốc gia” hoặc “thuế ngành” mà nhiều công ty phải chịu, các công ty khác phải gánh những thứ thuế khổng lồ từ các hành vi bất tín ngay bên trong tổ chức của họ. Có một công ty bán kính mát, khi công ty này đổi chủ, người chủ mới phát hiện ra rắc rối lớn nhất là sự hao hụt bất thường hàng tồn kho, điều này làm ông ấy thiệt hại 2% doanh thu và ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận cuối kỳ. Các kiểm tra sau đó chỉ ra là do trộm cắp. Vì thế, ông ấy nghĩ: “Nếu loại trừ được hao hụt này, chúng ta sẽ có khoản lợi nhuận tăng đáng kể”. Ông ấy xem xét sự hao hụt này qua lăng kính mất niềm tin. “Ai đó đã lừa gạt mình, hoặc là khách hàng hoặc là nhân viên, và có thể cả hai. Vì vậy, chúng ta không thể tin cả hai”. Thế rồi ông ấy thiết lập một cơ chế kiểm soát để giải quyết vấn đề này. Ông cho cột dây vào từng chiếc gọng kính được trưng bày sao cho nó không bị lấy đi. Như vậy, không ai có thể ra khỏi cửa hàng với một chiếc gọng kính chưa được trả tiền. Nhưng vấn đề mới phát sinh là giờ đây khách hàng cũng không thể lấy gọng ra khỏi kệ để đeo thử. Cho nên, mặc dù mức hao hụt giảm xuống mười lần từ 2% nay chỉ còn 0,2%, nhưng doanh thu của họ giảm tới 50%. Không thể đeo thử để xem chiếc kính có hợp với khuôn mặt mình hay không, người ta không muốn mua nó.
Một công ty bảo hiểm ở châu Âu mà chúng tôi được mời tới làm việc từng bị khốn đốn bởi một số khách hàng gian lận trong việc đòi bồi thường. Đáp lại, công ty này đưa ra một quy trình chứng thực và xác nhận tính hợp lệ rất gắt gao, thậm chí rất phiền hà, bất kỳ người nào nộp đơn đòi bồi thường cũng hiểu tâm thế của công ty là: “Chúng tôi cho rằng bạn là một kẻ gian lận và bạn đang cố lừa dối chúng tôi trừ khi bạn có thể chứng minh điều ngược lại”. Với chiến lược này, họ không còn bị gian lận nữa, vì khách hàng của họ bỏ đi hàng loạt. Họ không thích bị đối xử bằng sự hoài nghi và mất niềm tin. Họ tìm đến những công ty mang lại cho họ cảm giác được tin tưởng.
Cái giá của sự mất niềm tin đối với các công ty không chỉ ảnh hưởng đến những mối quan hệ với khách hàng, nó còn ảnh hưởng đến sự thịnh vượng, năng lượng, niềm vui bên trong và giữa các công ty với nhau. Những quy định gắt gao quá đáng trên phương diện quản trị hành chính cũng tạo ra những cái giá đắt. Ví dụ, mặc dù đạo luật Sarbanes-Oxley nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm của các công ty Mỹ và khôi phục niềm tin cho các thị trường, nhưng hầu như bất kỳ ai liên quan đến việc thực hiện đạo luật này đều nói với bạn rằng lượng thời gian, tiền bạc và năng lượng để tuân thủ nó là vô cùng lớn. Với công ty cỡ trung bình, cái giá của sự tuân thủ là hơn 2,3 triệu đô-la mỗi năm. Đối với các công ty nhỏ hơn, gánh nặng tuân thủ cao hơn bảy lần gánh nặng của các công ty lớn trên phương diện tài sản. Những quy định về tuân thủ trở thành một bộ phận gắn thêm để củng cố hoặc gia tăng niềm tin – nhưng đi cùng với nó là sự chậm chạp, là cạn kiệt năng lượng, và chi phí tăng lên!
Cái giá của việc mất niềm tin là rất đắt.
Ralph Waldo Emerson
Tương tự, cũng có một cái giá đắt cho các tổ chức trong vấn đề thu hút và giữ chân người tài. Đa số người đi làm, cả cấp quản lý lẫn nhân viên, đều muốn được tin tưởng và được làm việc trong môi trường có niềm tin cao. Khi không được tin cậy, họ không tham gia gì cả, nghĩa là họ làm như không làm, hoặc họ ra đi, đặc biệt là những người xuất sắc nhất. Tỷ lệ nghỉ việc trong môi trường có niềm tin thấp cao hơn nhiều so với trong môi trường có niềm tin cao. Ví dụ, hãy so sánh tỷ lệ biến động nhân sự trung bình ở các đại siêu thị (47%) so với con số 3% ở chuỗi cửa hàng Wegmans có niềm tin cao. Hoặc, 25 trong số “100 công ty tốt nhất đáng để làm việc” theo Fortune năm 2011 – trong đó 2/3 tiêu chí là về niềm tin – có tỷ lệ biến động nhân sự là 3% hoặc ít hơn! Cái giá của sự biến động nhân sự đối với một công ty có thể rất lớn, từ 25% đến 250% tổng quỹ lương.
Ngược lại, cũng có một cái giá từ sự hợp tác và cộng tác, cả bên trong lẫn bên ngoài với những công ty khác. Theo một khảo sát của Viện Gallup, các mối quan hệ hợp tác tốt nhất gần như đều mang những đặc điểm của sự tin cậy lẫn nhau; trong khi đó, trong những mối quan hệ hợp tác kém, chưa đến 3% người được hỏi đồng tình mạnh mẽ rằng họ tin cậy nhau. Và, trong hầu hết các trường hợp, lợi ích đôi bên không thể bù đắp nổi cái giá phải trả vì sự mất niềm tin lẫn nhau.
Không có niềm tin, chúng ta không thực sự cộng tác mà chỉ là những động tác phối hợp nhỏ, tạm thời. Chính niềm tin sẽ biến sự phối hợp thành sự cộng tác đích thực. Chính niềm tin giúp biến một nhóm (group) thành một đội (team).
Niềm tin là cốt lõi của sự hợp tác. Với niềm tin, hai người có thể tập trung vào phần trách nhiệm của mình trong khi tự tin rằng người kia sẽ hoàn thành phần trách nhiệm của họ. Không có niềm tin, bạn nên làm việc một mình, vì khi đó không thể có sự hợp tác.
Rodd Wagner & Gale Muller Tác giả & nhà lãnh đạo Viện Gallup
Hãy thử tưởng tượng một cuộc họp đội nhóm tiêu biểu trong môi trường có niềm tin thấp. Bạn bước vào phòng họp, và khả năng cao là bạn nhìn thấy những quy tắc cuộc họp được dán đầy trên tường. Chúng trông giống như nội quy nhà trẻ: “Hãy tử tế”. “Hãy phát biểu từng người một”. “Hãy chờ đến lượt”. Một đại diện thực tế hơn cho các quy tắc này có lẽ là các quyền Miranda: “Bạn có quyền giữ im lặng” (vì có lẽ bạn sẽ làm thế). “Bất kỳ điều gì bạn nói có thể/và sẽ được dùng để chống lại bạn” (vì thường là thế). Điều thú vị là cho dù Hoa Kỳ có một hệ thống mà trong đó một người được cho là “vô tội cho tới khi bị chứng minh là có tội”, thì những người bị cảnh sát bắt giữ vẫn bị xem là “kẻ tình nghi”.
Nhưng đau đớn nhất là cái giá phải trả cho sự mất niềm tin trong cuộc sống cá nhân. Một trong những trải nghiệm giàu có nhất của con người là tận hưởng các mối quan hệ rộng mở và quan tâm đến người khác. Khi nhìn thế giới này qua cặp kính “mất niềm tin”, chúng ta tự làm xa lạ chính mình. Chúng ta tự gạt mình ra khỏi sự trọn vẹn của những mối quan hệ sâu sắc mà lẽ ra chúng ta đang có với vợ/chồng, bạn trai/gái, con cái, đồng nghiệp, và bạn bè – thậm chí với chính mình.
Thỉnh thoảng bị lừa dối còn hạnh phúc hơn là không tin ai cả.
Samuel Smiles Tác giả & nhà cải cách người Scotland
Rõ ràng là, tin quá nhiều sẽ dễ gặp rủi ro, nhưng cũng lắm rủi ro nếu tin không đủ. Điều này tạo ra một thứ thuế – thường rất cao – lên mọi tương tác có thể tạo ra sự thịnh vượng, năng lượng và niềm vui.
Bạn Đang Đeo Loại Kính Nào?
Bạn có thể được tư vấn, dụ dỗ, và/hoặc từng trải nghiệm đeo một loại kính nào đó. Dù bạn đeo loại kính nào, nó có khuynh hướng phóng đại những chứng cứ cho phù hợp với mô thức tư duy của bạn và loại bỏ những chứng cứ không phù hợp, và nó ảnh hưởng rất lớn đến mức độ thịnh vượng, năng lượng và niềm vui trong cuộc đời bạn. Hãy nhớ rằng sự khác biệt không phải là tất cả hoặc không là gì cả, thực tế là thế. Bạn có thể đeo một loại kính nặng độ hoặc nhẹ độ. Bạn có thể đổi kính qua lại. Thậm chí bạn có thể đeo loại kính hai tròng để quan sát các mối quan hệ nghề nghiệp bằng sự mất niềm tin và quan sát những mối quan hệ cá nhân bằng niềm tin mù quáng, hoặc ngược lại. Hoặc bạn có thể nhìn gia đình mình bằng niềm tin mù quáng và những người hẹn hò với con gái mình bằng sự mất niềm tin. Vấn đề là dù bạn đeo loại kính nào vào bất kỳ lúc nào, nó đều tác động đến cách bạn nhìn nhận thế giới này – kết quả là ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bạn và khả năng tận hưởng các mối quan hệ với người khác, cũng như làm việc cùng họ để hoàn thành những mục tiêu có ý nghĩa của bạn.
Thế tại sao bây giờ bạn không dành chút thời gian để kiểm tra cặp kính của mình? Nên nhớ chúng chỉ là những lăng kính. Bạn có thể chọn đeo chúng, hoặc không đeo chúng. Như đã thảo luận ở Chương 3, thậm chí bạn có thể chọn đeo một cặp kính hoàn toàn khác.
Hãy nghĩ xem bạn nhìn nhận người khác như thế nào để có thể hiểu nhiều hơn rằng liệu bạn đang sở hữu một mô thức tư duy vượt trội có ảnh hưởng đến các kết quả bạn hướng tới trong đời mình hay không. Hãy xem xét các phát biểu trong bảng sau đây, đại diện cho những thái cực của niềm tin mù quáng và sự mất niềm tin. Bạn thấy mình ở thái cực nào? Bạn có khuynh hướng phản hồi khác đi trong những hoàn cảnh khác nhau không?
Bạn Có Khuynh Hướng Nhìn Người Khác Ra Sao?


Thực tế là người ta phải trả giá đắt cho niềm tin mù quáng lẫn sự mất niềm tin. Và dù bạn đang quan sát thế giới này chủ yếu qua lăng kính của niềm tin mù quáng hoặc sự mất niềm tin, không có cách tiếp cận nào là bền vững nếu xét trong dài hạn. Những ai sống bằng niềm tin mù quáng cuối cùng sẽ phải chịu hậu quả; những ai sống bằng sự mất niềm tin cuối cùng sẽ gánh lấy những tổn thất tài chính, xã hội và cảm xúc.
Thật sai lầm khi tin tất cả, và cũng thế nếu không tin ai cả.
Seneca Triết gia La Mã
Cặp Kính “Niềm Tin Thông Minh” Sẽ Làm Thay Đổi Thế Giới Của Bạn
Suy cho cùng, cách chúng ta nhìn nhận vấn đề mới chính là vấn đề. Điều đó rõ như ban ngày. Đấy không phải là niềm tin mù quáng đối chọi với sự mất niềm tin. Giải pháp là một lựa chọn tối ưu thứ ba – một cặp kính hoàn toàn mới, một cách nhìn nhận và ứng xử hoàn toàn khác mà chúng tôi gọi là “niềm tin thông minh” (smart trust).
Như chúng ta sẽ thấy ở chương sau, tương tự những chiếc kính phân cực làm hé lộ những khả năng to lớn bên dưới bề mặt của một con sông ở Montana, Hoa Kỳ, cặp kính “niềm tin thông minh” mở ra một thế giới mới với vô số cơ hội đạt đến sự thịnh vượng, năng lượng và niềm vui. Tin mừng là bạn có quyền lựa chọn giải pháp tối ưu thứ ba này. Cho dù bạn nhìn qua lăng kính “niềm tin mù quáng” hay bạn bị lập trình, bị thất vọng, bị phản bội, hoặc bị lạm dụng đến mức bạn nhìn thế giới bằng lăng kính “mất niềm tin”, bạn cũng không nhất thiết phải cho phép mô thức nào trong hai mô thức trên chiếm lĩnh tư duy của bạn để bạn dùng nó mà nhìn nhận phần đời còn lại của mình.
Trong Chương 1, chúng tôi đề nghị bạn tưởng tượng ra một thế giới không có niềm tin – một thế giới mà bạn tuyệt nhiên không có chút niềm tin nào đối với bất kỳ tài xế nào trên đường, phi công đang bay trên trời, bác sĩ, người yêu hay người bạn đời của mình. Xong, chúng tôi mời bạn tưởng tượng một thế giới giàu niềm tin – một thế giới trong đó bạn tự do tương tác và gắn kết với những người khác theo những cách thức rất sáng tạo, hiệu quả cao, và rất thú vị, không hề có chỗ cho những rủi ro từ niềm tin mù quáng hay những mối nghi ngờ và sợ hãi vô căn cứ.
Trong chương sau, chúng tôi mời bạn bỏ xuống bất kỳ cặp kính nào bạn đang đeo để mang vào cặp kính “niềm tin thông minh” để nhận biết những khả năng tuyệt vời nằm ngay bên dưới bề mặt của vạn vật. Và chúng tôi mời bạn xem xét tiềm năng của riêng mình nhằm gia tăng sự thịnh vượng, năng lượng và niềm vui trong cuộc sống cá nhân, đội nhóm, tổ chức của bạn và cả thế giới này.
Tin tưởng là chấp nhận rủi ro, nhưng rủi ro phải được chấp nhận một cách khôn ngoan. Tin tưởng còn mở ra những thế giới mới.
Fernando Flores Cựu Bộ trưởng Tài chính Chi-lê
Câu hỏi suy ngẫm
• Việc nhìn thế giới qua cặp kính “niềm tin mù quáng” và cặp kính “mất niềm tin” để lại cho bạn những kinh nghiệm/trải nghiệm nào? Kết quả là gì?
• Hành vi nào bạn quan sát được ở người khác cho thấy họ có khuynh hướng nghiêng về niềm tin mù quáng hoặc mất niềm tin?